Người đàn ông đến từ sông Neva nói với anh: “Nếu anh không còn gì để nói nữa, chúng ta sẽ ra sân.”
Cuối cùng Rouletabille cũng hiểu ra rằng việc hành quyết anh ngay trong căn phòng vừa tuyên án là điều bất khả thi, bởi sự cuồng nộ của tử tù vừa bị xử tử đã làm hư hại cả căn phòng. Không chỉ sợi dây thừng và chiếc vòng sắt bị giật đứt, mà một phần xà nhà cũng đã nứt toác.
“Tôi không còn gì để nói nữa,” Rouletabille đáp.
Anh đã nhầm. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu anh, đột ngột đến mức mặt anh tái mét đi như tờ giấy, và anh buộc phải bấu lấy tay người đàn ông bên sông Neva để có thể đi theo ông ta.
Cánh cửa mở ra. Tất cả những kẻ đã bỏ phiếu kết tội anh lần lượt bước ra trong bầu không khí im lặng nặng nề. Người đàn ông đến từ sông Neva, người có vẻ chịu trách nhiệm về những thủ tục cuối cùng cho tử tù, nhẹ nhàng đẩy anh ra sân.
Sân rất rộng, được bao quanh bởi một bức tường ván cao; bên phải và bên trái là vài tòa nhà nhỏ với những cánh cửa đóng kín. Một chiếc ống khói cao, đã bị phá hủy một phần, mọc lên từ một góc sân. Rouletabille phỏng đoán toàn bộ khu vực này vốn là một xưởng xay bột cũ đã bỏ hoang. Phía trên đầu anh, bầu trời nhợt nhạt như một tấm vải liệm. Tiếng động cơ gầm rú, ngắt quãng và có nhịp điệu báo cho anh biết rằng nơi này cách biển không xa.
Anh có thừa thời gian để quan sát tất cả những điều đó, bởi họ đã tạm dừng bước đường hành quyết và bắt anh ngồi xuống một chiếc thùng gỗ cũ giữa khoảng sân trống. Cách đó vài bước chân, dưới mái hiên nơi anh chắc chắn sẽ bị treo cổ, một người đàn ông trèo lên một chiếc ghế đẩu (chiếc ghế đẩu mà lát nữa sẽ dùng cho Rouletabille) với cánh tay giơ cao, dùng búa nện vài nhát để đóng một chiếc vòng sắt lớn vào thanh xà phía trên đầu.
Ánh mắt của người phóng viên, vốn chưa bỏ được thói quen quan sát mọi thứ, lại dừng lại trên một chiếc bao tải thô nằm trên mặt đất. Chàng trai trẻ khẽ rùng mình khi nhanh chóng nhận ra chiếc bao tải ấy đang bọc lấy một hình hài con người. Anh quay đầu đi, nhưng chỉ để đối mặt với một chiếc bao tải trống khác được chuẩn bị sẵn cho mình. Rồi anh nhắm mắt lại. Âm thanh của âm nhạc vọng đến từ đâu đó bên ngoài, những nốt đàn balalaika. Anh tự nhủ: “À, chắc chắn là chúng ta đang ở Phần Lan rồi”; bởi anh biết rằng, nếu đàn guzla là của người Nga thì đàn balalaika đích thị là của người Phần Lan. Đó là một thứ đàn tương tự đàn phong cầm mà những người nông dân thường gảy đầy vẻ ai oán bên ngưỡng cửa những ngôi nhà touba của họ. Anh đã từng nhìn thấy và lắng nghe họ vào buổi chiều hôm anh đến Pergalovo, và cả xa hơn một chút trên tuyến đường sắt Viborg. Anh hình dung ra cấu trúc đổ nát nơi anh đang bị giam cầm cùng tòa án cách mạng, trong mắt những người qua lại bên ngoài; nó trông bình yên, giống như bao ngôi nhà khác gần đó, che chở dưới mái nhà mục nát vài gia đình lao động khiêm nhường, đang nghỉ ngơi và gảy đàn balalaika trước ngưỡng cửa khi một ngày lao động đã khép lại.
Và bất chợt, giữa sự yên bình khôn tả của buổi chiều tà cuối cùng, khi tiếng đàn balalaika vang lên những cung bậc sầu muộn và người đàn ông phía trên đang kiểm tra độ chắc chắn của chiếc vòng sắt, một giọng nói từ bên ngoài, trầm ấm và sâu lắng của Annouchka, cất lên hát cho chàng trai Pháp nghe:
“Giờ ai kết vòng hoa thắm,
Tử đinh hương, hồng, húng tây?
Khi tay em buông chùng thảm,
Ai mang vòng hoa cẩm thảm
Tử đinh hương, hồng, húng tây?
Ôi ước gì ai trong các bạn nghe thấy,
Và đến đây, nắm bàn tay cô quạnh của em,
Và rơi giọt lệ thân tình—
Bởi giờ đây em đứng lại một mình.
Giờ ai còn mang vòng hoa thắm
Tử đinh hương, hồng, húng tây?”
Rouletabille lắng nghe giọng hát lịm dần theo tiếng nấc cuối cùng của tiếng đàn balalaika. “Buồn quá,” anh nói và đứng dậy. “Chúng ta đi thôi,” rồi anh hơi lảo đảo bước đi.
Họ tiến lại để khám người anh. Mọi thứ trên gác đã chuẩn bị xong xuôi. Họ nhẹ nhàng đẩy anh về phía mái hiên. Khi anh đã đứng dưới vòng chiếc vòng sắt, cạnh chiếc ghế đẩu, họ bắt anh quay người lại và đọc cho anh nghe một văn bản bằng tiếng Nga, chắc là để cho những kẻ có mặt ở đó không hiểu tiếng Pháp chứ không phải cho anh. Rouletabille phải cố gắng hết sức mới đứng vững được.
Người đàn ông đến từ sông Neva nói thêm với anh:
“Thưa ông, giờ chúng tôi đọc cho ông nghe bản án chung thẩm. Nó yêu cầu ông cho biết trước khi chết, ông có muốn bổ sung điều gì vào những gì chúng tôi đã biết liên quan đến bản án đã tuyên đối với ông hay không.”
Rouletabille nghĩ rằng cổ họng khô khốc lúc đó, thứ mà anh phải chật vật lắm mới nuốt nổi một ngụm nước bọt, sẽ chẳng cho phép anh thốt nên lời. Nhưng sự khinh bỉ đối với một sự yếu đuối như thế, khi anh nhớ lại sự điềm tĩnh của biết bao tử tù lừng lẫy trong những phút giây cuối đời, đã tiếp cho anh chút sức lực cuối cùng để giữ gìn danh tiếng của mình.
“Sao cơ,” anh nói, “bản án này lập ra không có gì sai cả. Tôi chỉ trách nó quá vắn tắt mà thôi. Tại sao lại không đả động gì đến tội ác mà tôi đã gây ra khi dàn dựng cái chết bi thảm của tội nhân khốn khổ Michael Korsakoff chứ?”
“Michael Korsakoff là một tên khốn,” giọng đầy căm hận của chàng trai trẻ từng chủ toạ phiên tòa vang lên, lúc này, vào kho khắc tối quan trọng đó, đang đối mặt trực diện với Rouletabille. “Cảnh sát của Koupriane, khi tiêu diệt kẻ đó, đã giải thoát cho chúng ta khỏi một tên phản bội.”
Rouletabille thốt lên một tiếng kêu, một tiếng kêu đầy sung sướng, và dù anh có lý do để tin rằng tại thời điểm này của cuộc đời quá ngắn ngủi của mình, chỉ có bất hạnh mới giáng xuống đầu anh, thế nhưng giờ đây định mệnh, với ơn huệ vô biên, lại mang đến cho anh trước lúc lâm niềm an ủi khôn tả này: sự chắc chắn rằng anh đã không hề nhầm lẫn.
“Xin lỗi, xin lỗi,” anh thì thầm, trong niềm vui sướng tột độ gần như làm anh nghẹt thở chẳng kém gì sợi dây thừng khốn kiếp mà họ đang chuẩn bị sẵn phía sau lưng. “Xin lỗi. Thêm một giây nữa thôi, một giây ngắn ngủi thôi. Vậy, thưa các ông, vậy là chúng ta đồng ý ở điểm đó phải không? Michael này, Michael Nikolaievitch chính là kẻ phản bội cuối cùng.”
“Là tên đầu tiên,” giọng trầm vang lên.
“Cũng thế cả thôi, thưa ông kính mến. Một tên phản bội, một tên phản bội khốn nạn,” Rouletabille tiếp lời.
“Một kẻ đầu độc,” giọng nói kia đáp lại.
“Một kẻ đầu độc tầm thường! Chẳng phải thế sao? Nhưng, hãy nói cho tôi nghe xem—một kẻ đầu độc tầm thường, kẻ nấp dưới bóng chủ nghĩa Nihilism, đã hành động vì tư lợi nhỏ nhem của bản thân, phục vụ cho chính mình và phản bội tất cả các người!”
Giờ đây giọng của Rouletabille cất cao vang dội như tiếng kèn đồng.
“Hắn đã không lừa gạt được chúng ta lâu đâu; chính kẻ thù của chúng ta đã đứng ra trừng phạt hắn.”
“Chính là tôi,” Rouletabille kêu lên, gương mặt rạng rỡ trở lại. “Chính tôi là kẻ đã chấm dứt cuộc đời hắn. Tôi nói cho các người biết việc đó đã được xử lý ổn thỏa. Chính tôi đã giải thoát các người khỏi hắn. À, tôi thừa biết mà, thưa các người, tận sâu thẳm trái tim mình, tôi biết mình không thể nhầm lẫn được. Hai với hai là bốn, đúng không nào? Và Rouletabille vẫn mãi là Rouletabille. Thưa các ông, xét cho cùng thì mọi chuyện đều ổn cả.”
Nhưng có lẽ mọi chuyện lại chẳng ổn chút nào, bởi người đàn ông đến từ sông Neva tiến lại gần anh, tay cầm nón và nói:
“Thưa ông, giờ thì ông đã biết tại sao các nhân chứng tại phiên tòa của ông lại không nêu ra một chi tiết hoàn toàn có lợi cho ông rồi đấy. Giờ đây, chúng tôi chỉ còn việc thi hành bản án vốn đã hoàn toàn có cơ sở chính đáng từ những góc độ khác.”
“Ơ, nhưng mà—khoan đã nào. Quỷ thật! Giờ thì tôi đã chắc chắn rằng mình không hề nhầm lẫn và rằng tôi vẫn chính là tôi, Rouletabille, từ trước đến nay, tôi bỗng thấy luyến tiếc cuộc sống này một chút—à không, rất nhiều là đằng khác!”
Một tiếng xì xào mang sắc thái thù địch cho thấy sự kiên nhẫn của các vị thẩm phán đang dần cạn kiệt.
“Thưa ông,” vị chủ tọa lên tiếng can thiệp, “chúng tôi biết ông không theo chính giáo; tuy nhiên, chúng tôi sẽ cho gọi một vị linh mục nếu ông muốn.”
“Vâng, vâng, đúng thế, hãy đi mời linh mục đi,” Rouletabille kêu lên.
Và anh thầm nghĩ: “Thế là câu giờ được thêm bao nhiêu là thời gian.”
Một trong những thành viên cách mạng bước đi về phía căn chòi nhỏ đã được cải tạo thành nhà nguyện, trong khi những người còn lại nhìn người phóng viên với ánh mắt bớt thiện cảm hơn hẳn trước đó. Nếu sự ngạo mần của anh từng gây ấn tượng tốt trong phòng xử án, thì giờ đây họ bắt đầu cảm thấy khó chịu trước những tiếng kêu la, sự phản kháng và tất cả những chiêu trò mà anh đang dùng một cách rõ mười mươi nhằm kéo dài thời gian sống của mình.
Nhưng bất thình lình, Rouletabille nhảy tót lên chiếc ghế đẩu tử hình. Họ tưởng rằng anh đã quyết định chấm dứt trò hề này để chết cho ra dáng một cách đường hoàng; thế nhưng anh trèo lên đó chỉ để diễn thuyết một bài.
“Thưa các ông, xin hãy hiểu cho tôi lúc này. Nếu đúng là các người thủ tiêu tôi không phải để báo thù cho Michael Nikolaievitch, thì tại sao các người lại treo cổ tôi? Tại sao các người lại giáng hình phạt gớm ghiếc này lên người tôi? Chỉ vì các người buộc tội tôi gây ra vụ bắt giữ Natacha Feodorovna ư? Quả thật tôi đã có phần vụng về. Về chuyện đó, và chỉ chuyện đó mà thôi, tôi tự nhận tội.”
“Chính ông, bằng khẩu súng lục của mình, đã ra hiệu lệnh cho đám tay chân của Koupriane! Ông đã làm thứ việc bẩn thỉu thay cho cảnh sát.”
Rouletabille cố gắng phản đối trong vô vọng, tìm cách giải thích rằng phát súng lục của anh, trái lại, đã cứu giúp những người cách mạng. Nhưng chẳng một ai thèm lắng nghe và cũng chẳng ai tin anh.
“Linh mục đây rồi, thưa ông,” người đàn ông đến từ sông Neva nói.
“Khoan đã một giây! Đây là những lời trăng trối cuối cùng của tôi, và tôi thề với các người rằng sau chuyện này tôi sẽ tự quàng dây thừng vào cổ mình! Nhưng hãy lắng nghe tôi! Hãy lắng nghe cho thật kỹ! Natacha Feodorovna là tân binh quý giá nhất mà các người có được, đúng không nào?”
“Một báu vật thực sự,” vị chủ tọa tuyên bố, giọng ngày càng thiếu kiên nhẫn.
“Vậy thì đó là một đòn giáng khủng khiếp,” người phóng viên tiếp lời, “một đòn chí mạng cho các người, vụ bắt giữ ấy?”
“Khủng khiếp chứ,” vài kẻ lẩm bẩm.
“Đừng ngắt lời tôi! Tốt lắm, vậy thì tôi sẽ nói điều này cho các người nghe: ‘Nếu tôi hóa giải được đòn giáng đó—nếu, sau khi vô tình trở thành nguyên nhân khiến Natacha bị bắt, tôi đưa được con gái của tướng Trebassof trở về trong trạng thái tự do, và điều đó diễn ra trong vòng hai mươi bốn giờ tới,—các người nói sao? Các người còn muốn treo cổ tôi nữa chứ?’”
Vị chủ tọa, người mang nét mặt tựa Chúa Jesus, cất lời:
“Thưa các ông, Natacha Feodorovna đã sa chân trở thành nạn nhân của những âm mưu khủng khiếp mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể dò thấu bí ẩn. Nó bị buộc tội mưu sát cha và mẹ kế, và trong những hoàn cảnh mà lý trí con người dường như không thể đưa ra chứng cứ ngược lại. Bản thân Natacha Feodorovna, bị đè bẹp bởi biến cố bi thảm ấy, đã hoàn toàn không thể trả lời trước những lời cáo buộc, và sự im lặng của nó đã bị coi là lời nhận tội. Thưa các ông, Natacha Feodorovna sẽ bị đày sang Siberia vào ngày mai. Chúng ta chẳng thể làm gì cho nó nữa. Natacha Feodorovna đã mất đi đối với chúng ta rồi.”
Rồi, với một cử chỉ hướng về những kẻ đang vây quanh Rouletabille:
“Làm tròn bổn phận đi, hỡi các đồng chí.”
“Khoan đã, xin hãy khoan. Nhưng nếu tôi chứng minh được sự vô tội của Natacha thì sao? Hãy chờ đã, thưa các ông. Chỉ có một mình tôi mới có thể chứng minh được sự vô tội ấy! Các người sẽ mất Natacha nếu giết tôi đấy!”
“Nếu ông đã có khả năng chứng minh sự vô tội đó, thưa ông, thì mọi chuyện đã được giải quyết xong xuôi rồi. Ông đã chẳng phải chờ đến lúc này.”
“Khoan đã, xin chớ vội. Chỉ đến khoảnh khắc này tôi mới có khả năng làm điều đó.”
“Sao lại thế được?”
“Đó là vì tôi đã bị ốm, các người thấy đấy—bị ốm rất nặng. Vụ án của Michael Nikolaievitch và thứ độc dược vẫn tiếp tục phát tác ngay cả khi hắn đã chết đã tước đi của tôi mọi sức lực. Giờ đây khi tôi đã chắc chắn rằng mình không phải là nguyên nhân sát hại một người vô tội—tôi đã lại là Rouletabille rồi! Không thể nào có chuyện tôi lại không tìm ra lối thoát, không thể nào tôi lại không nhìn thấu bí ẩn này cho được.”
Giọng nói lạnh lùng đến rợn người của nhân vật có khuôn mặt tựa Chúa cất lên đều đều:
“Hãy làm tròn bổn phận đi, thưa các ông.”
“Xin hãy khoan. Chuyện này vô cùng quan trọng đối với các người—và bằng chứng là các người vẫn chưa treo cổ tôi đấy thôi. Các người đâu có chần chừ với người tiền nhiệm của tôi như vậy, phải không? Các người đã lắng nghe tôi bởi vì các người vẫn còn hy vọng! Thôi được, hãy để tôi suy nghĩ, hãy để tôi cân nhắc. Ồ, quỷ thật! Chính bản thân tôi đã có mặt trong bữa trưa định mệnh ấy, và tôi là kẻ hiểu rõ hơn ai hết mọi chuyện đã xảy ra ở đó. Năm phút! Tôi xin các người năm phút; chẳng đáng là bao đâu. Năm phút ngắn ngủi thôi!”
Những lời cuối cùng của người tử tù dường như có sức ảnh hưởng kỳ lạ đối với những kẻ cách mạng. Bọn họ lặng lẽ nhìn nhau.
Rồi vị chủ tọa lấy đồng hồ ra và nói:
“Năm phút. Chúng tôi cho ông thời gian đó.”
“Hãy đặt chiếc đồng hồ của ông lên đây. Lên chiếc đinh này này. Bây giờ là bảy giờ kém năm phút, phải không? Các người sẽ cho tôi thời gian đến đúng bảy giờ chứ?”
“Được, đến đúng bảy giờ. Bản thân chiếc đồng hồ sẽ điểm chuông khi giờ đó đến.”
“Ồ, nó điểm chuông cơ à! Giống hệt chiếc đồng hồ của vị tướng quân kia nhỉ. Tốt lắm, chúng ta bắt đầu.”
Và rồi một cảnh tượng kỳ lạ diễn ra: Rouletabille đứng sững trên chiếc ghế đẩu của kẻ hành quyết, sợi dây thừng định mệnh vắt vẻo ngay trên đầu, hai chân bắt chéo, khuỷu tay tỳ lên đầu gối theo tư thế bất hủ mà nghệ thuật muôn đời vẫn gán cho tư duy con người, hai nắm đìu tỳ dưới cằm, ánh mắt đăm đăm hướng về phía trước—xung quanh anh, tất cả những thanh niên ấy đều chăm chú dõi theo sự im lặng của anh, không mảy may động đậy một cơ bắp nào, hóa thân thành những bức tượng để không làm phiền đến bức tượng đang tư duy và suy ngẫm.