Bí Mật Đêm Đen

Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Cha Alexis

❊ ❊ ❊

Koupriane nhảy lên xe và hối hả phóng về phía Saint-Petersburg. Trên đường đi, ông trò chuyện với ba đặc vụ mà chỉ mình ông biết là được bố trí quanh vùng Eliaguine. Họ cho ông biết lộ trình mà Rouletabille đã đi qua. Phóng viên chắc chắn đã quay lại thành phố. Ông vội vã tiến về cầu Troitski. Ngay tại góc đường Naberjnaia, Koupriane nhìn thấy viên phóng viên trên một chiếc xe thuê. Rouletabille đang đấm vào lưng người đánh xe theo kiểu Nga để giục đi nhanh hơn, miệng gào thét hết sức một trong số ít từ hiếm hoi mà anh kịp học được: "Naleva, naleva" (sang trái). Người đánh xe cuối cùng cũng buộc phải hiểu, vì ngoài rẽ trái thì chẳng còn hướng nào khác để đi. Nếu rẽ phải (naprava), thế nào xe cũng lao xuống sông. Chiếc xe lộc cộc lăn bánh trên những viên đá cuội lởm chởm của một khu phố dẫn tới con ngõ nhỏ Aptiekarski-Pereoulok, nằm ngay góc kênh Katharine. "Con hẻm của những dược sĩ" này thực ra chẳng có hiệu thuốc nào cả, nhưng lại có tấm biển kỳ lạ của một cửa hiệu bán thảo dược, và Rouletabille đã bảo người đánh xe dừng lại ở đó. Khi chiếc xe trờ qua vòm cổng, Rouletabille nhận ra Koupriane. Không chần chừ, anh gọi giật giọng: "Á, anh đây rồi. Tốt lắm; theo tôi." Trong tay anh vẫn cầm chiếc bình nhỏ và mấy cái ly.

Koupriane không khỏi ngạc nhiên trước vẻ kỳ lạ của anh. Anh dẫn ông qua một khoảng sân rồi bước vào một cửa hàng tồi tàn.

"Cái gì," Koupriane thốt lên, "anh biết cha Alexis ư?"

Họ đang đứng giữa một đống đồ đạc ngổn ngang đến kỳ quái. Những chùm thảo mộc khô treo lủng lẳng từ trên trần nhà, xen lẫn giữa chúng là những đôi bốt cũ kỹ, tấm da thuộc nhăn nheo, những chiếc chảo móp méo, sắt vụn, da cừu, áo touloupes vô tích sự, còn trên sàn nhà là quần áo cũ mốc meo, đồ lông thú bị mọt ăn, cùng những chiếc áo khoác da cừu mà ngay cả một tên nông phu vùng đầm lầy cũng chẳng thèm ngó ngàng. Rải rác khắp nơi là những chiếc răng giả, xiêm y rách rưới, mũ mão xập xệ và những vại thảo dược lạ lẫm được xếp trên mấy chiếc kệ ọp ẹp. Giữa một bên là chiếc cân trên quầy hàng và một đống mẩu gỗ nhỏ dùng để tính toán sổ sách cho công việc kinh doanh kỳ dị này là những bức thánh icon chưa mạ vàng, những cây thánh giá bằng bạc bị oxy hóa, và các bức tranh Byzantine khắc họa cảnh trong Cựu Ước lẫn Tân Ước. Những vại rượu ngâm thứ gì đó trông giống như bộ xương ếch bơi lội bên trong đã chiếm trọn không gian còn lại. Ở một góc của căn phòng rộng lớn và u tối này, dưới mái vòm bằng đá phủ đầy rêu, một bàn thờ nhỏ được dựng lên và ánh đèn thắp trong chiếc cốc dầu treo lơ lửng trước các thánh tượng. Có một người đang cầu nguyện trước bàn thờ. Ông mặc trang phục của nước Nga cổ, chiếc áo ca-ftan bằng vải dạ xanh, cài khuy ở vai và thắt lưng bằng một dải đai nhỏ. Ông có bộ râu rậm rạp và mái tóc thả dài tới vai. Khi dứt lời cầu nguyện, ông đứng dậy, nhận ra Rouletabille liền bước tới nắm lấy tay anh. Ông nói tiếng Pháp với người phóng viên:

"Ồ, lại là cậu đấy à, chàng trai trẻ. Hôm nay cậu lại mang độc dược đến nữa sao? Việc này rồi sẽ có ngày bị bại lộ, và cảnh sát..."

Đúng lúc đó, ông nhận ra bóng dáng Koupriane trong bóng râm, bèn bước lại gần để nhìn cho rõ mặt, và ngã quỵ xuống gối khi nhận ra đó là ai. Rouletabille cố đỡ ông đứng lên, nhưng ông nhất quyết phủ phục dưới đất. Ông đinh ninh rằng viên Cảnh sát trưởng đã đến nhà để treo cổ mình. Cuối cùng, những lời khẳng định chắc nịch của Rouletabille và tiếng cười sảng khoái của vị đại thủ lĩnh mới trấn an được ông. Viên Cảnh sát trưởng muốn biết tại sao chàng thanh niên lại quen biết với "gã giả kim" của sở cảnh sát. Rouletabille liền kể lại ngọn ngành chỉ trong vài lời.

Thời trẻ, cha Alexis từng đi bộ sang Pháp để học ngành dược, bởi ông có niềm đam mê mãnh liệt với hóa học. Nhưng bản tính nhà quê, đậm chất nông dân Nga và cái chất gã gấu bán khai phương Đông cứ ngấm sâu vào máu, nên ông chẳng thể lấy được bằng cấp. Ông cũng thi đậu vài chứng chỉ, nhưng các kỳ thi quá sức chịu đựng đối với ông. Suốt năm mươi năm, ông sống cảnh nghèo túng làm phụ tá dược sĩ ở tít phía sau một hiệu thuốc tai tiếng khu hồ sơ Notre Dame. Chủ nhân hiệu thuốc ấy dính líu đến vụ án thỏi vàng đình đám từng làm nên tên tuổi của Rouletabille, và bị bắt cùng với trợ lý của hắn là Alexis. Chính Rouletabille đã chứng minh rõ như ban ngày rằng tội nghiệp Alexis hoàn toàn vô tội, rằng ông chưa hề hay biết về những thủ đoạn đen tối của chủ, bởi ông mãi chìm đắm trong tận cùng phòng thí nghiệm để mày mò một thứ thuật giả kim ngây thơ vốn đã bị giới hóa học bỏ lại từ hàng thế kỷ trước. Tại tòa, Alexis được tha bổng, nhưng lại thân cô thế cô giữa dòng đời. Ông đem những giọt nước mắt cạn kiệt cuối cùng trong cơ thể nhỏ lên vai vị phóng viên, hứa hẹn sẽ cầu cho anh được lên thiên đàng nếu giúp ông trở về quê hương, vì tâm nguyện duy nhất còn lại trong đời là được nhìn thấy quê cha đất tổ trước khi nhắm mắt xuôi tay. Rouletabille đã ứng trước chi phí cần thiết và tống ông về Saint-Petersburg. Tại đây, chỉ hai ngày sau, ông bị cảnh sát bắt giữ trong một sòng bạc nhỏ và ném vào tù, nơi ông nhanh chóng có cơ hội trổ tài. Ông chữa khỏi bệnh cho một số bạn tù khổ sai, thậm chí cho cả lính canh. Một tên lính canh bị thương ở chân mà họ đã tuyệt vọng chẳng còn hy vọng chữa trị thì lại được Alexis cứu chữa. Thế là chẳng còn lời buộc tội nào áp dụng cho ông nữa. Họ trả tự do cho ông, hơn thế nữa, họ còn quan tâm đến ông. Họ tìm cho ông một công việc lao động khiêm tốn tại Stchoukine-dvor, một khu chợ trời khổng lồ bình dân. Ông tích cóp được vài đồng rúp và tự lập nghiệp ở căn phòng phía sau khu sân trong ngõ Aptiekarski-Pereoulok, nơi ông dần chất đống những món đồ cũ kỹ vụn vặt chẳng ai thèm ngó ngàng ngay cả ở Stchoukine-dvor. Nhưng ông rất hạnh phúc, bởi đằng sau cửa hàng, ông đã lắp đặt một phòng thí nghiệm nhỏ để tiếp tục những thí nghiệm giả kim thuật và nghiên cứu thực vật nhằm thỏa niềm vui thích. Ông vẫn dự định viết một cuốn sách từng bàn với Rouletabille bên đất Pháp, nhằm chứng minh sự thật về "Phương pháp điều trị bằng thảo dược kinh nghiệm, khoa học giả kim thuật và những thí nghiệm cổ xưa về ma thuật". Thời gian rảnh, ông tiếp tục chữa bệnh cho bất cứ ai tìm đến mình, đặc biệt là cảnh sát. Lính canh sở cảnh sát bảo vệ và tận dụng khả năng của ông. Ông có những miếng cao dán tuyệt vời dành cho họ sau vụ "bạo loạn", theo cách họ gọi cuộc nổi dậy tháng Mười. Thế nên, khi các bác sĩ trong khu vực cố gắng kiện ông hành nghề y trái phép, một phái đoàn cảnh sát đã đến tìm Koupriane, và ông đã đứng ra gánh vác trách nhiệm, đình chỉ mọi thủ tục tố tụng chống lại Alexis. Họ coi ông như được các vị thánh phù hộ, và chẳng mấy chốc bản thân Alexis cũng được xem như một vị thánh sống. Vào mỗi dịp Giáng sinh và Phục sinh, ông không bao giờ quên gửi những bức thánh icon đẹp nhất của mình cho Rouletabille, chúc anh vạn sự hanh thông và nói rằng nếu có dịp đến Saint-Petersburg, ông rất hân hạnh được đón tiếp anh tại Aptiekarski-Pereoulok, nơi ông đang sống bằng lao động lương thiện. Cha Alexis, giống như mọi vị thánh chân chính, là một người vô cùng khiêm nhường.

Khi Alexis đã bình tâm lại đôi chút sau cơn xúc động, Rouletabille liền nói với ông:

"Cha Alexis, con lại mang độc dược đến đây thật đấy, nhưng cha chẳng phải sợ gì đâu, vì Ngài Đại biểu Cảnh sát trưởng đang ở cùng con. Đây là việc tụi con muốn nhờ cha. Cha hãy cho tụi con biết bốn chiếc ly này từng chứa loại độc gì, và thứ chất độc nào vẫn còn đọng lại trong bình này cùng chiếc lọ nhỏ kia."

"Đó là chiếc lọ gì thế?" Koupriane gặng hỏi khi thấy Rouletabille rút một chiếc lọ nhỏ có nút đậy ra khỏi túi.

Viện phóng viên đáp: "Con đã cho vào chiếc lọ này phần rượu vodka được rót vào ly của Natacha, ly của con và chúng ta mới chỉ nhấp môi một chút."

"Có kẻ định đầu độc các cậu ư!" cha Alexis thốt lên kinh hãi.

"Không, không phải con," Rouletabille đáp với vẻ chán nản. "Đừng bận tâm chuyện đó. Cứ làm theo điều con dấy đi. Sau đó, hãy phân tích cả hai chiếc khăn ăn này nữa."

Và anh rút từ trong áo ra hai chiếc khăn ăn bẩn thỉu.

"Chà," Koupriane nói, "cậu chu đáo thật đấy, nghĩ được đến mọi thứ."

"Chúng là những chiếc khăn mà vị tướng quân và phu nhân đã dùng."

"Ừ, ừ, tôi hiểu rồi," viên Cảnh sát trưởng nói.

"Còn cha, thưa cha Alexis, cha có hiểu không?" phóng viên hỏi. "Khi nào thì chúng con có kết quả phân tích của cha?"

"Chậm nhất là trong một tiếng nữa."

"Rất tốt," Koupriane nói. "Giờ thì tôi khỏi cần dặn cha phải giữ kín miệng nhé. Tôi sẽ để lại một người của tôi ở đây. Cha sẽ viết một mảnh giấy, niêm phong lại, và anh ta sẽ mang về tổng hành dinh. Chắc cha hiểu chứ? Trong một tiếng nữa?"

"Trong một tiếng nữa, thưa Ngài."

Họ bước ra ngoài, và Alexis lẽo đẽo theo sau, cúi gập người sát đất. Koupriane kéo Rouletabille lên xe. Chàng thanh niên ngoan ngoãn làm theo lời. Trông anh cứ như kẻ mất hồn, chẳng biết mình đang ở đâu hay đang làm gì. Anh chẳng đáp lại bất kỳ câu hỏi nào của viên cảnh sát trưởng.

"Gã Alexander này," Koupriane tiếp lời, "thật là một nhân vật kỳ thú, đúng là một cá tính độc đáo. Và tôi dám cá hắn cũng hơi mưu mô một chút. Hắn thấy cha xứ John ở Cronstadt thành công ra sao, liền tự nhủ: 'Đã có thủy thủ có cha xứ John ở Cronstadt, thì sao đám lính canh cảnh sát lại không thể có cha Alexis ở Aptiekarski-Pereoulok chứ?'"

Nhưng Rouletabille hoàn toàn im lặng, và cuối cùng Koupriane đành phải gặng hỏi rốt cuộc anh đang bị làm sao.

"Vấn đề là," Rouletabille đáp, không thể giấu nổi sự dằn vặt lâu hơn nữa, "chất độc vẫn tiếp tục xuất hiện."

"Điều đó làm cậu ngạc nhiên sao?" Koupriane vặn lại. "Tôi thì không."

Rouletabille nhìn ông rồi lắc đầu. Môi anh run run khi cất lời: "Tôi biết ngài đang nghĩ gì. Thật kinh khủng. Nhưng việc tôi đã làm chắc chắn còn kinh khủng hơn gấp bội."

"Vậy rốt cuộc cậu đã làm gì, ngài Rouletabille?"

"Có lẽ tôi đã gây ra cái chết cho một người vô tội."

"Chừng nào chưa chắc chắn điều đó, tốt hơn hết là cậu đừng nên bứt rứt, bạn tôi ạ."

"Chỉ riêng việc hoài nghi nảy sinh thôi," viên phóng viên nói, "cũng đủ làm tôi chết đi sống lại rồi;" và anh thở dài não nề đến mức vị quan chức đáng kính Koupriane phải cảm động trước chàng trai trẻ. Ông vỗ nhẹ vào đầu gối anh.

"Thôi nào, thôi nào chàng trai, đến lúc này cậu phải hiểu một điều chứ — 'muốn làm ức-ghê thì phải đập bể trứng', người ta hay nói thế ở Paris thì phải."

Rouletabille quay mặt đi với nỗi kinh hoàng bóp nghẹt tâm can. Lỡ như còn một kẻ khác, một kẻ nào đó ngoài Michael! Lỡ như bàn tay xuất hiện trước mắt Matrena và anh trong đêm tối huyền bí ấy không phải của hắn! Lỡ như Michael Nikolaievitch hoàn sự vô tội! Vậy thì, anh sẽ tự sát, chỉ thế thôi. Và những lời lẽ kinh hoàng mà anh đã trao đổi với Natacha lại hiện về trong ký ức, vang lên bên tai như muốn làm anh điếc đặc.

"Cô còn nghi ngờ nữa không?" anh từng hỏi cô, "rằng Michael đã định đầu độc cha cô?"

Và Natacha đã đáp: "Tôi muốn tin là như vậy! Tôi muốn tin điều đó, vì lợi ích của anh, chàng trai tội nghiệp của tôi ạ." Rồi anh nhớ lại những lời khác của cô, giờ đây càng trở nên khủng khiếp hơn! "Liệu có ai đó đã định đầu độc cha tôi mà không phải đi lối cửa sổ hay sao?" Hồi đó anh từng đối mặt với giả thuyết ấy một cách đầy quả quyết - nhưng giờ đây, giờ khi chất độc vẫn tiếp tục hoành hành, vẫn tiếp tục lẩn khuất trong ngôi nhà mà anh từng đinh ninh mình đã kiểm soát mọi con người và sự việc - tiếp tục hoành hành ngay cả khi Michael Nikolaievitch đã chết - ồ, rốt cuộc nó từ đâu tới, thứ độc dược này? - và nó là gì? Cha Alexis chắc sẽ phải đẩy nhanh quá trình phân tích nếu ông còn chút thương xót cho Rouletabille khốn khổ.

Đối với Rouletabille, việc phải hoài nghi, lại thêm trong một vụ án mà đã có một mạng người phải bỏ mạng vì tác động của anh, đó là sự tra tấn còn đau đớn hơn cái chết.

Khi họ vừa đến tổng hành dinh cảnh sát, Rouletabille liền nhảy tót khỏi xe của Koupriane và chẳng nói một lời, vẫy ngay một chiếc xe ngựa isvotchick trống đang chạy qua. Anh bắt tài xế chở mình quay lại chỗ cha Alexis. Sự hoài nghi đã bóp nghẹt ý chí; anh không tài nào chịu đựng nổi việc phải chờ đợi ở nơi khác. Dưới vòm cổng Aptiekarski-Pereoulok, anh lại nhìn thấy người đặc vụ mà Koupriane đã bố trí ở đó cùng mệnh lệnh mang thông điệp của Alexis tới. Gã nhìn anh ngạc nhiên. Rouletabille bước qua sân và một lần nữa đẩy cửa bước vào căn phòng cũ kỹ tồi tàn. Đương nhiên cha Alexis không có ở đó, bận bịu giam mình trong phòng thí nghiệm. Nhưng một bóng người mà thoạt đầu anh không nhận ra bỗng thu hút sự chú ý của viên phóng viên. Trong ánh sáng mờ ảo của cửa hàng, một cái bóng ủ rũ đang cúi người bên những bức thánh icon trên quầy. Chỉ đến khi người đó đứng thẳng dậy, thở dài sườn sượt, và một chút ánh sáng yếu ớt, ngả vàng do xuyên qua những ô cửa sổ chưa từng được lau chùi từ ngày lắp đặt rọi hắt lên khuôn mặt, Rouletabille mới bàng hoàng nhận ra mình đang giáp mặt với Boris Mourazoff. Quả chính là hắn, cựu sĩ quan hào hoa từng làm viên phóng viên phải trầm trồ ngưỡng mộ trước vẻ lịch lãm và duyên dáng khi thấy hắn quỳ gối dưới chân nàng Natacha xinh đẹp tại căn biệt thự ở Eliaguine. Giờ đây, không còn khoác chiếc áo quân phục nữa, hắn vắt hờ hững trên đôi vai còng một chiếc áo khoác rách rưới, hai tay áo buông thõng vô hồn dọc theo sườn, hệt như tâm trạng chán chường tuyệt vọng của hắn, chiếc mũ phớt cụp vành che khuất phần nào nỗi đau khổ hằn trên khuôn mặt trong mấy ngày ngắn ngủi này, những giờ phút ngắn ngủi ấy, vậy mà hắn đã đổi thay nhường nào! Dù vậy, sự hiện diện của hắn vẫn khiến Rouletabille phải bận tâm. Hắn đang làm gì ở đây? Chẳng lẽ hắn không định đi đâu đó sao? Hắn vừa nhặt một bức thánh icon trên quầy lên và mang ra bên cửa sổ để ngắm nghía lớp bạc bị oxy hóa, chăm chú đến mức viên phóng viên hy vọng mình có thể lẻn tới cánh cửa phòng thí nghiệm mà không bị phát hiện. Tay anh đã đặt sẵn lên nắm đấm cửa khuất sau quầy hàng thì chợt nghe thấy tiếng gọi tên mình.

"Chính là anh, thưa ngài Rouletabille," giọng Boris vang lên trầm buồn. "Điều gì đã đưa anh đến đây thế này?"

"Ồ, chà, chẳng phải ngài Boris Mourazoff đó sao? Nếu tôi không nhầm. Thú thực tôi chẳng ngờ lại gặp ngài ở tiệm của cha Alexis đấy."

"Sao lại không thể, thưa ngài Rouletabille? Người ta có thể tìm thấy bất cứ thứ gì trong kho của cha Alexis mà. Nhìn kìa; đây là hai bức thánh icon cổ bằng gỗ chạm khắc tinh xảo, được chuyển thẳng từ tu viện Athos về đấy, đảm bảo chẳng nơi nào sánh kịp, kể cả ở Gastini-Dvor hay thậm chí Stchoukine-Dvor đâu."

"Đúng, đúng, có thể lắm chứ," Rouletabilleốt lên vẻ sốt ruột. "Ngài là người sành sỏi những thứ này cơ à?" anh nói thêm cốt để khỏa lấp.

"Ồ, cũng như bất kỳ ai khác thôi. Nhưng tôi định nói với anh điều này, thưa ngài Rouletabille, tôi đã từ nhiệm rồi. Tôi quyết định rút lui khỏi cõi đời này; tôi sắp sửa đi một chuyến xa." (Rouletabille thầm nghĩ: 'Sao không đi quách cho rồi?') "Và trước khi đi, tôi ghé qua đây để sắm ít món quà nhỏ mang tặng những người bạn mà tôi thực sự quan tâm, dẫu cho giờ đây, thưa ngài Rouletabille kính mến, tôi chẳng còn thiết tha gì nữa."

"Trông ngài có vẻ tiều tụy quá đấy, thưa ngài."

Boris thở dài như một đứa trẻ.

"Làm sao khác được chứ?" hắn nói. "Tôi đã yêu và đinh ninh rằng mình cũng được yêu. Nhưng hóa ra tất cả chỉ là con số không, hỡi ôi!"

"Đôi khi người ta chỉ tự tưởng tượng ra thế thôi," Rouletabille nói, tay vẫn giữ chặt trên nắm cửa.

"Ồ, phải," kẻ kia đáp, giọng ngày càng ảm đạm. "Thế nên con người ta mới phải đau khổ. Hắn tự tra tấn chính mình; tự tay giăng ra cỗ máy nhục hình rồi tự trói buộc bản thân lên đó hệt như một kẻ đao phủ."

"Đâu cần thiết phải thế, thưa ngài; chẳng cần thiết đâu," viên phóng viên khuyên nhủ.

Boris khẩn khoản van nài với giọng nghẹn ngào như chực khóc: "Hãy nghe tôi. Anh vẫn còn trẻ con lắm, nhưng ít ra anh cũng nhìn rõ sự việc. Anh có tin là Natacha yêu tôi không?"

"Tôi dám chắc điều đó, thưa ngài Boris; tôi chắc chắn."

"Tôi cũng tin là vậy. Nhưng giờ thì tôi chẳng biết phải nghĩ sao nữa. Cô ấy đã để mặc tôi ra đi, chẳng buồn níu kéo lấy một lời, chẳng một lời hy vọng."

"Và ngài định đi đâu với tâm trạng thế này?"

"Tôi sẽ quay lại vùng Orel, nơi tôi gặp cô ấy lần đầu."

"Tốt lắm, rất tốt, thưa ngài Boris. Ít ra ở đó ngài còn chắc chắn được gặp lại cô ấy. Năm nào cô ấy cũng về đó thăm gia đình vài tuần. Chắc chi tiết đó ngài chẳng bỏ sót đâu nhỉ."

"Dĩ nhiên là không rồi. Tôi nói cho anh hay, chính viễn cảnh đó đã quyết định nơi chốn ẩn dật của tôi."

"Thế thì rõ rồi!"

"Chúa chẳng ban cho tôi thứ gì, nhưng Ngài mở rộng kho báu của mình, và ai nấy đều nhặt nhạnh những gì có thể."

"Vâng, vâng; còn tiểu thư Natacha, cô ấy có biết ngài quyết định lui về Orel không?"

"Tôi chẳng có lý do gì phải giấu cô ấy cả, thưa ngài Rouletabille."

"Thế thì tốt. Ngài chẳng việc gì phải ủ rũ đến thế đâu, thưa ngài Boris thân mến. Mọi chuyện chưa phải đã mất hết. Tôi thậm chí còn thấy trước một tương lai đầy hy vọng đang chờ ngài."

"Ái chà, nếu anh thực sự nói điều đó bằng cả tấm lòng, thì tôi quả thật vô cùng hạnh phúc vì đã gặp anh. Tôi sẽ không bao giờ quên chiếc phao cứu sinh mà anh đã quăng cho tôi khi tưởng chừng mọi dòng nước sắp dập vùi trên đầu. 'Vậy theo anh tôi nên làm gì bây giờ?'"

"Tôi khuyên ngài hãy đến Orel, thưa ngài, và đi càng nhanh càng tốt."

"Được thôi. Chắc anh phải có lý do khi nói vậy. Tôi vâng lời anh, thưa ngài, tôi sẽ đi."

Ngay khi Boris quay người bước về phía vòm cổng, Rouletabille lách mình vào phòng thí nghiệm. Lão Alexis đang còng lưng bên những chiếc bình cất. Ngọn đèn tồi tàn hầu như chẳng đủ soi rọi công việc mờ ám của lão. Lão quay lại trước tiếng động do viên phóng viên gây ra.

"À! - cậu đấy à, chàng trai!"

"Sao rồi?"

"Ồ, đâu thể nhanh thế được. Dù sao thì tôi cũng đã phân tích xong hai chiếc khăn ăn rồi đấy, biết chưa."

"Thật á? Những vết bẩn ấy ư? Nói ơn Chúa, mau nói cho con nghe đi!"

"À, này cậu bé, lại là asenat natri rồi."

Rouletabille như bị ai bóp nghẹt trái tim, thốt lên một tiếng nghẹn ngào và vạn vật xung quanh như quay cuồng đảo lộn. Cha Alexis giữa muôn vàn dụng cụ phòng thí nghiệm kỳ dị bỗng hóa thành quỷ Satan đích thực, và anh hất phăng cánh tay tốt bụng đang vươn ra đỡ lấy mình; trong màn u tối, nơi những ngọn lửa xanh leo lét bập bùng từ các vại nung sinh động như những chiếc lưỡi dao dao động, anh ngỡ như nhìn thấy hồn ma của Michael Nikolaievitch hiện về gào thét: "Asenat natri vẫn tiếp diễn, và tôi đã chết." Anh ngã nhào vào cánh cửa đang mở toang, lăn cù tới tận quầy hàng và đập mặt vào đó. Cú va chạm suýt chết ấy đã lôi anh ra khỏi cơn ác mộng kinh hoàng và giúp anh lập tức tỉnh táo trở lại. Anh vùng đứng dậy, nhảy qua đống bốt và đồ lỉnh kỉnh, lao ra sân. Ngay lập tức Boris chộp lấy cổ áo anh. Rouletabille quay lại, gầm lên giận dữ:

"Anh muốn gì hả? Sao chưa chịu đi Orel đi?"

"Thưa ngài, tôi sắp đi đây, nhưng tôi sẽ vô cùng biết ơn nếu ngài tự tay mang những thứ này đến—đến chỗ Natacha." Hắn đưa ra, vẫn với vẻ mặt tuyệt vọng, hai bức thánh icon từ ngọn núi Athos, và Rouletabille giật lấy chúng từ tay hắn, nhét vào túi rồi hối hả bước đi, miệng lẩm bẩm: "Tôi hiểu rồi."

Bên ngoài, Rouletabille cố gắng trấn tĩnh bản thân, lấy lại chút bình tĩnh. Lẽ nào anh đã mắc một sai lầm chết người ư? Hỡi ôi, hỡi ôi, sao anh có thể hoài nghi điều đó lúc này được nữa! Asenat natri vẫn tiếp diễn. Anh nỗ lực một cách siêu phàm để gạt phăng nỗi kinh hoàng ấy ra khỏi đầu, dẫu chỉ là khoảnh khắc — cái chết của Michael Nikolaievitch vô tội — và chẳng nghĩ ngợi gì đến những hậu quả nhãn tiền, những thứ cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng nếu anh muốn tránh khỏi một thảm họa mới. Chà, kẻ sát nhân chẳng hề nhụt chí. Và lần này, quả là một thủ đoạn tày trời! Thật là một cuộc thảm sát nếu hắn thành công! Vị tướng quân, Matrena Petrovna, Natacha và chính Rouletabille (kẻ suýt hối hận vì bản thân mình sao lại không thành công) — cùng Koupriane! Koupriane, người đáng lẽ phải có mặt ở đó ăn trưa. Thật là một mẻ cá lớn cho nhóm Nghĩ-hữu! Đúng thế, chính là thế. Giờ thì Rouletabille đã hiểu tại sao chúng không hề do dự khi đầu độc tất cả mọi người cùng một lúc: Koupriane có mặt trong số đó.

Lúc ấy thì Michael Nikolaievitch đã được rửa sạch nỗi oan rồi!

Mưu đồ lần này đã thất bại, nhưng giờ thì người ta còn có thể trông chờ gì nữa đây! Kể từ khoảnh khắc anh tin rằng Michael Nikolaievitch không còn có tội như mình từng tưởng tượng, Rouletabille rơi tõm xuống một vực thẳm không đáy.

Nên đi đâu đây? Sau vài phút, anh đi vòng quanh tòa Rotunda, nơi đóng vai trò là khu chợ của khu phố này và là kỳ quan đẹp nhất của ngõ Aptiekarski-Pereoulok. Anh cứ đi vòng tròn mà chẳng hề ý thức được, chẳng dừng lại vì bất cứ điều gì, chẳng nhìn thấy hay hiểu được bất kỳ thứ gì. Hệt như một con ngựa già hết hơi cặm cụi quay cối xay, anh cứ lê bước với ý nghĩ rằng mình cũng đang lạc lối trong một vòng xoay chẳng dẫn đến đâu cả. Rouletabille giờ đây không còn là Rouletabille nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.