Biến Hóa Của Ovid, Tập I-vii

Lượt đọc: 131 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quyển Thứ Bảy.

❊ ❊ ❊

Jason, sau khi trải qua nhiều phen phiêu lưu, cùng các tráng sĩ đoàn Argonaut cập bến Colchis và đòi bộ lông cừu vàng. Medea đem lòng yêu Jason, nhờ phép thuật của mình đã giúp chàng vượt qua những hiểm nguy trùng trùng khi đi tìm báu vật. Chàng đoạt được chiến lợi phẩm, cướp lấy Medea và khải hoàn trở về Thessaly.

Bấy giờ, đoàn Minyæ đang rẽ sóng trên con tàu Pagasæ. Phineus, kẻ đang kéo dài tuổi già khốn khổ trong đêm tối vĩnh hằng, đã được họ đến thăm; và những người con trai trẻ tuổi của Thần Gió Bắc đã đuổi được lũ chim có gương mặt thiếu nữ khỏi miệng vị lão ông khốn cùng ấy. Sau khi chịu đựng bao phen sóng gió dưới sự dẫn dắt của Jason lừng danh, cuối cùng họ cũng đặt chân đến dòng nước xiết của con sông Phasis đầy bùn.

Và khi họ diện kiến nhà vua để đòi tấm da cừu từng thuộc về Phryxus, những điều kiện được đưa ra thật hãi hùng với vô vàn lao nhọc quá sức; trong lúc ấy, con gái của Æetes liền mang ngọn lửa tình cuồng nhiệt trong lòng. Dù đấu tranh giằng xé suốt một thời gian dài, nhưng khi không còn dùng lý trí để khuất phục được cơn cuồng phong trong tâm can, nàng tự nhủ: "Hỡi Medea, ngươi cưỡng lại cũng bằng thừa; có một vị thần nào đó mà ta chẳng hay biết đang chống lại ngươi. Lại thật kỳ lạ nếu đây không phải là thứ, hoặc ít nhất là điều gì đó tựa như thứ, vẫn được gọi là 'tình yêu'. Vì cớ gì mà những mệnh lệnh của phụ thân lại có vẻ quá khắc nghiệt đối với ta? Mà quả thật chúng quá khắc nghiệt. Vì sao ta phải lo sợ kẻ mà ta chỉ mới gặp chưa lâu sẽ phải bỏ mạng? Nguyên nhân nào khiến nỗi kinh hoàng ấy lớn lao đến thế? Hãy dập tắt ngọn lửa đang nảy nở trong lồng ngực trinh trắng của ngươi, nếu ngươi có thể, hỡi kẻ bất hạnh. Nếu có thể, ta đã là người lý trí hơn. Nhưng một sức mạnh mới mẻ đang lôi kéo ta đi, trái với ý nguyện; Cupid khuyên nhủ điều này, còn lý trí lại bảo điều khác. Ta thấy rõ con đường nào thích đáng hơn và ta tán thành nó, dẫu vẫn bước theo nẻo đường sai lầm. Hỡi vương nữ, sao ngươi lại cháy bỏng vì một kẻ xa lạ, sao lại khát khao mối lương duyên với một xứ sở tha hương? Mảnh đất này cũng có thể ban cho ngươi điều gì đó để yêu thương. Chàng sống hay chết, điều đó do chư thần định đoạt. Dẫu vậy, chàng có thể sống sót; và ta có thể cầu nguyện cho điều đó ngay cả khi không có tình yêu. Jason đã phạm lỗi gì chứ? Trừ kẻ dạ sắt lòng son, ai lại không động lòng trước tuổi trẻ của Jason? Cả dòng dõi lẫn lòng dũng cảm của chàng nữa? Kể cả khi những điều ấy không có, liệu nhan sắc của chàng có thể không làm rung động lòng người? Ít nhất, chàng đã làm rung động lồng ngực ta. Nhưng nếu ta không cứu giúp, chàng sẽ bị những cái miệng phun lửa của loài bò mộng thiêu đốt; chàng sẽ đương đầu với những luống cày của chính thân tộc, một kẻ thù mọc lên từ lòng đất; hoặc chàng sẽ bị đem làm mồi ngon tàn nhẫn cho con rồng hung ác. Nếu ta dung túng chuyện này, thì ta đành thú nhận mình sinh ra từ loài báo cái; rồi ta cũng phải nhận rằng mình mang thép và đá trong tim. Sao ta không đành lòng nhìn chàng bỏ mạng? Sao không làm uế trơ đôi mắt này bằng cách chứng kiến cảnh ấy? Sao ta không xúi giục loài bò mộng chống lại chàng, cả những đứa con hung hãn của đất mẹ, và con rồng thức giấc ngàn thu? Cầu xin chư thần ban phó những điều tốt đẹp hơn. Dẫu vậy, những chuyện này không thể chỉ ngồi cầu xin, mà phải do chính tay ta thực hiện.

Vậy ta có nên phản bội vương quốc của cha mình? Và nhờ sự trợ giúp của ta, một kẻ tha lạ nào đó mà ta chẳng rõ danh tính sẽ được cứu sống; để rồi khi được giải thoát nhờ tay ta, chàng sẽ giương buồm ra khơi mà không có ta, trở thành phu quân của người khác, còn ta, Medea, sẽ bị bỏ lại để chịu hình phạt? Nếu chàng có thể làm thế, và nếu chàng nhẫn tâm phớt lờ ta để chọn người khác, thì kẻ vong ân ấy đáng phải bỏ mạng. Nhưng gương mặt kia không phải thế, sự cao quý trong tâm hồn ấy không phải thế, nét duyên dáng nơi vóc hình ấy không phải thế, để ta phải lo sợ sự phản bội và quên đi những gì ta đáng được hưởng. Hơn nữa, trước tiên chàng phải thề tín huyết, và ta sẽ bắt chư thần làm chứng cho giao ước của đôi ta. Thế thì ngươi còn e sợ điều gì, khi mọi sự đã chắc chắn? Mau lên nào, hãy dẹp bỏ mọi chần chừ. Jason sẽ mãi mang ơn cứu mạng của ngươi; chàng sẽ kết duyên vợ chồng với ngươi, và khắp các đô thành xứ Pelasgia, ngươi sẽ được muôn người ca tụng như vị cứu tinh cho những người con trai của họ. Nhưng rồi liệu ta có nên cuốn theo chiều gió, bỏ lại người chị và người em, bỏ lại cha ta, các vị thần của ta, và cả mảnh đất chôn nhau cắt rốn? Cha ta vốn tàn nhẫn; xứ sở của ta cũng dã man; em ta vẫn còn là đứa trẻ thơ; ước nguyện của chị ta lại đứng về phía ta. Vị thần vĩ đại nhất đang ngự trị trong tâm hồn ta. Ta sẽ chẳng từ bỏ điều gì to lớn cả; ta đang theo đuổi những điều lớn lao: niềm kiêu hãnh vì đã cứu được tuổi trẻ của Hy Lạp, cơ hội làm quen với một xứ sở tốt đẹp hơn, những đô thành với thanh danh vẫn đang rực rỡ ngay cả chốn này, sự tao nhã và nghệ thuật của cư dân nơi ấy; cùng người con trai của Æson, kẻ mà ta sẵn sàng đánh đổi lấy mọi vật trên cõi đời này; làm vợ chàng, ta sẽ vừa được chư thần xem trọng, vừa ngẩng đầu vươn tới các vì sao. Cần chi phải nhắc đến những ngọn núi nào được đồn đại là mọc lên giữa muôn trùng sóng dữ, rằng Charybdis – kẻ thù của tàu bè – lúc thì hút nước biển vào, khi lại phun trào ra sao; và cả Scylla, vây quanh bởi bầy chó dữ, đang gầm thét trong vực sâu xứ Sicilia thế nào? Thế nhưng, được ôm lấy người ta yêu, được nép mình vào lồng ngực Jason, ta sẽ vượt qua muôn trùng biển rộng; được ôm ấp chàng, ta chẳng sợ hãi điều gì; hoặc nếu có sợ hãi bất cứ điều gì, ta chỉ sợ cho phu quân của mình mà thôi. Hỡi Medea, ngươi gọi đây là hôn nhân, và ngươi đang dùng một cái tên êm tai để che đậy tội ác của mình ư? Hãy suy ngẫm cho kỹ xem ngươi đang ấp ủ tội lỗi tày trời nhường nào, và khi còn có thể, hãy trốn chạy khỏi tội ác ấy."

Nàng vừa dứt lời thì trước mắt nàng xuất hiện Đức hạnh, Tình mẫu tử và Sự đoan trang; và giờ đây Cupid đành quay lưng thối lui. Nàng đang rảo bước đến những đền thờ cổ kính của Hecate – người con gái của Perses – nơi được che khuất bởi một lùm cây râm mát và chốn thâm sơn cùng cốc. Bấy giờ nàng đã định thần, ngọn lửa đam mê kìm nén đã lắng xuống; nhưng khi nàng trông thấy người con trai của Æson, ngọn lửa đã tắt ấy lại bùng cháy trở lại. Đôi gò má nàng đỏ bừng, và toàn bộ gương mặt bừng lên một thứ ánh rực rỡ. Tựa như một đốm than hồng thường nhận thêm sức sống từ những cơn gió – dẫu nhỏ bé khi ẩn mình dưới lớp tro tàn phủ lên trên, nó vẫn lớn dần lên, và khi được khơi bùng, lại trỗi dậy với sức mạnh ban đầu – tình yêu của nàng, vốn đang lụi tàn mà người ta ngỡ đã nguội lạnh, nay khi trông thấy bóng hình chàng trước mắt, đã được thắp sáng lại bằng xương bằng thịt. Và thật tình cờ, vào ngày hôm đó, người con trai của Æson trông tuấn tú hơn mọi ngày. Ngươi có thể tha thứ cho việc nàng đem lòng yêu chàng. Nàng đăm đăm chiêm ngưỡng, giữ chặt ánh mắt trên gương mặt chàng cứ như thể chỉ mới vừa trông thấy lần đầu; trong cơn cuồng si, nàng ngỡ mình không phải đang ngắm nhìn dung nhan của một phàm nhân, và nàng chẳng thể rời mắt khỏi chàng. Nhưng khi người khách lạ cất lời, siết chặt bàn tay phải của nàng, dùng giọng điệu khiêm nhường khẩn cầu sự giúp đỡ và hứa hẹn chuyện trăm năm, nàng nghẹn ngào tuôn rơi nước mắt: "Ta hiểu mình phải làm gì; và dẫn dắt ta không phải là sự vô tri, mà chính là tình yêu. Nhờ tay ta, chàng sẽ được cứu; khi đã được cứu, hãy ban những gì chàng đã hứa."

Chàng thề dưới các nghi lễ của Nữ thần tam diện, vị Thần ngự trị trong lùm cây ấy, vị cha sinh mẹ đẻ của bố vợ tương lai – đấng thấu suốt vạn vật – cùng những cuộc phiêu lưu của chính mình và những hiểm nguy vô bờ bến. Tin lời chàng, nàng lập tức trao cho chàng một số loại thảo mộc phù phép, dạy cho chàng cặn kẽ cách sử dụng, rồi chàng ra về trong lòng khát khao hân hoan. Ban mai hôm sau đã xua tan những vì sao lấp lánh, khi bãi đất linh thiêng của thần Mavors tụ hội đông đúc người dân và họ xếp hàng dài trên các ngọn đồi. Ngồi giữa hội đồng chính là nhà vua, khoác áo tía, tay cầm vương trượng ngà voi đầy uy quyền. Kìa! Những chú bò mộng móng đồng đang phun ra ngọn lửa từ đôi lò mũi bằng kim cương; và thảm cỏ chạm phải hơi nóng ấy liền bén lửa. Tựa như những lò rung rực lửa bỗng gầm thét, hay khi những hòn đá lửa tan chảy trong lò gạch nung đỏ rực được tưới dòng nước chảy qua; lồng ngực cuồn cuộn sức nóng ngầm cùng cổ họng cháy xém của chúng cũng phát ra âm thanh vang dội như thế.

Thế nhưng người con trai của Æson vẫn bước ra đối đầu. Bầy bò dữ quay phắt những đường nét đáng sợ cùng cặp sừng nhọn bọc sắt về phía gương mặt chàng đang tiến đến, dùng đôi móng chẻ cào cấu mặt đất bụi mù, lấp đầy không gian bằng những tiếng rống thả ra từng đám khói mịt mờ. Đoàn Minyæ đông cứng vì khiếp hãi. Chàng bước tới, hoàn toàn không hề cảm thấy ngọn lửa do chúng phun ra, sức mạnh của bùa phép thật lớn lao làm sao. Chàng thậm chí còn vuốt ve phần da cổ buông thõng của chúng bằng bàn tay phải đầy can đảm, ép chúng vào ách, buộc chúng phải kéo nặng nhọc chiếc cày và dùng lưỡi cày xới tung vùng đồng bằng vốn xưa nay chưa từng được canh tác.

Người xứ Colchis sửng sốt; đoàn Minyæ lấp đầy không gian bằng những tiếng reo hò, tiếp thêm can đảm cho chàng. Đoạn, trong chiếc mũ chiến bằng đồng, chàng nhặt lấy những chiếc răng rồng rồi vãi chúng khắp những thửa ruộng vừa cày. Mảnh đất đã được tẩm sẵn thứ dược chất cường lực liền làm mềm hạt giống; những chiếc răng được gieo xuống nảy mầm và biến thành những thân thể mới. Và tựa như một hài nhi tiếp nhận hình hài con người trong tử cung người mẹ, được định hình trọn vẹn từng bộ phận ở đó, và chỉ bước ra ánh sáng thế gian khi đã trưởng thành trọn vẹn, thì khi hình thù con người chín muồi trong lòng đất mẹ mang thai, chúng trỗi dậy trên cánh đồng màu mỡ; và điều còn kinh ngạc hơn nữa là chúng khua khoắng cả binh khí xuất hiện cùng lúc ấy. Khi những người xứ Pelasgia trông thấy chúng chuẩn bị phóng những ngọn giáo sắc nhọn vào đầu vị tráng sĩ xứ Hæmonia, họ cúi gầm mặt và rụt cổ, run lẩy bẩy vì sợ hãi. Nàng cũng hoảng hốt, người đã ban cho chàng sự an toàn; và khi trông thấy chàng tráng sĩ đơn độc bị bao nhiêu kẻ thù tấn công, nàng tái mặt, đột ngột lạnh cót vì sợ hãi, ngồi chết trân không còn chút máu trên mặt. Và để loại thảo mộc do chính tay nàng trao tặng không mang lại ít ỏi công hiệu, nàng lặp lại một lời chú phụ trợ, triệu hồi những nghệ thuật thầm kín của mình để cứu trợ. Chàng phóng một hòn đá nặng vào giữa đám đông kẻ thù, xoay chuyển cục diện chiến trận vốn đang nhắm vào mình, hướng thẳng chúng vào nhau. Những huynh đệ sinh ra từ lòng đất tự tàn sát lẫn nhau bằng những vết thương chí mạng, ngã quỵ trong cuộc nội chiến. Người Hy Lạp chúc mừng chàng, vuốt ve người chiến thắng và ôm chầm lấy chàng trong niềm hân hoan khôn tả. Và nàng nữa, thiếu nữ xứ man rợ, hẳn cũng muốn ôm chìm lấy chàng; chỉ vì sự đoan trang ngăn trở ý định đó; bằng không nàng đã ôm lấy chàng rồi; nhưng danh dự đã kiềm chế nàng không làm thế. Dẫu vậy, những gì có thể làm, nàng đều đã làm; nàng hoan hỉ trong thầm kín, gửi lời tạ ơn đến bùa phép của mình cùng các vị thần – những đấng tác thành nên chúng.

Công việc vẫn còn lại là ru ngủ con rồng canh gác bằng bùa thảo mộc – kẻ nổi bật với chiếc mào, chiếc lưỡi ba nhánh và hàm răng móc đáng sợ, đang làm nhiệm vụ bảo vệ Bộ lông cừu vàng. Sau khi nàng rắc lên mình nó loại thảo mộc mang dòng nước Lethæ và ba lần lặp lại những câu chú mang đến giấc ngủ bình yên – thứ có thể làm dịu cả đại dương bão táp và chặn đứng những dòng sông chảy xiết – giấc ngủ liền bò lên đôi mắt vốn xa lạ với nó, và người anh hùng, người con trai của Æson, đoạt lấy tấm vàng; kiêu hãnh vì chiến lợi phẩm và mang theo cả kẻ đã ban phát báu vật như một chiến lợi phẩm thứ hai, chàng khải hoàn cùng người vợ đặt chân đến hải cảng Iolcos.

Để thấu hiểu câu chuyện này – một trong những tích truyện nổi tiếng nhất trong lịch sử thuở sơ khai của Hy Lạp – chúng ta phải ngược dòng thời gian về với nguồn cội của nó và khảo sát những huyền thoại mà các nhà thơ đã đan xen vào lịch sử của cuộc viễn chinh đoàn Argonaut, một trong những sự kiện đáng chú ý bậc nhất của thời kỳ huyền thoại.

Athamas, con trai của Æolus, cháu nội của Hellen và chắt nội của Deucalion, sau khi kết hôn với Ino – con gái của Cadmus – đã buộc phải ly hôn vì cơn điên loạn ập đến bà. Sau đó ông kết hôn với Nephele, sinh hạ được một trai một gái là Phryxus và Helle; nhưng khi tái hợp với người vợ đầu, bà sinh cho ông hai người con trai là Learchus và Melicerta. Ino căm ghét những đứa con của Nephele nên tìm cách sát hại chúng. Khi hay tin, Phryxus ra lệnh bí mật chuẩn bị một con tàu; mang theo kho báu của cha, ông cùng em gái Helle giương buồm tìm chốn dung thân tại triều đình của Æetes, một người họ hàng của ông. Helle qua đời trong chuyến hải trình, nhưng Phryxus đã đến được Colchis, nơi ông dâng mũi tàu của mình cho thần Neptune hoặc thần Jupiter. Tại đây ông kết hôn với Chalciope và sinh được bốn người con trai là Argos, Phrontes, Molas và Cylindus. Vài năm sau, Æetes sai sát hại ông; và các con trai của ông trốn đến triều đình của ông nội là Athamas, nhưng lại bị đắm tàu trên một hòn đảo và ở lại đó cho đến khi được Jason tìm thấy, đưa trở về với mẹ. Từng khóc thương chúng như đã chết, nay bà vỡ oà trong niềm vui sướng khi tìm lại được con, và dốc toàn lực giúp Jason tiến tới với Medea. Sau cái chết của Phryxus, Æetes đã chiếm đoạt kho báu của Athamas, khiến người Hy Lạp chuẩn bị một cuộc viễn chinh để đòi lại chúng và trả thù cho cái chết của ông. Pelias – kẻ đã truất phái người em trai Æson khỏi ngai vàng Iolcos – muốn tống khứ Jason ra xa nên đã nhân cơ hội này lôi kéo chàng vào một sứ mệnh hứa hẹn mang lại cả vinh quang, lợi lộc lẫn vô số nhọc nhằn cá nhân. Sự bất an của Pelias xuất phát từ lời sấm truyền rằng hắn sẽ bị giết bởi một vương tử thuộc dòng dõi Æolus, đồng thời cảnh báo hắn phải đề phòng một kẻ chỉ mang một chiếc giày. Đúng vào thời điểm ấy, Jason trên đường trở về từ lớp học của Chiron đã đánh rơi một chiếc giày khi qua sông. Nhân cơ hội này, người chú muốn hãm hại chàng; nhưng không dám làm công khai, hắn phỉnh gạt chàng lên đường cùng đoàn Argonaut, hy vọng chàng sẽ bỏ mạng trong một hành trình vô cùng hiểm trở. Rất nhiều nhà quý tộc trẻ tuổi của Hy Lạp đã đổ về triều đình Iolcos, tham gia vào cuộc hành trình này, tôn Jason làm thủ lĩnh và giương buồm trên một con tàu mang tên Argo, từ đó những nhà thám hiểm được gọi là đoàn Argonaut.

Diodorus Siculus cho rằng con tàu được đặt tên như vậy vì tốc độ của nó; trong khi những người khác nói rằng nó được đặt theo tên Argus – người đóng tàu, hoặc theo tên người dân xứ Argos, hay những người Hy Lạp trên tàu. Tuy nhiên, Bochart lại cho rằng cái tên này bắt nguồn từ từ ‘arco’ trong tiếng Phên-ni, có nghĩa là ‘dài’, và gợi ý rằng trước thời điểm đó, người Hy Lạp thường đi những con tàu có hình dáng tròn trịa hơn, còn Jason là người đầu tiên giương buồm trên một con tàu được đóng theo hình dáng thuyền chiến. Sau nhiều phen phiêu lưu, khi cập đảo Lemnos, họ phát hiện ra những người phụ nữ nơi đây vì ghen tuông đã sát hại các phu quân của họ, khiến các tráng sĩ đoàn Argonaut phải lấy vợ trong số họ, và Jason nhận Hypsipyle – con gái của Thoas – làm bạn đời. Lại giương buồm ra khơi, họ bị bạt đến bờ biển Bithynia, nơi họ cứu Phineus – vị vua xứ này – khỏi sự bức hại của loài Harpy, những kẻ có thói quen cướp đoạt thức ăn trên bàn tiệc của ông. Những con quái vật gớm ghiếc với mỏ và móng vuốt quắp, đôi cánh khổng lồ cùng gương mặt phụ nữ ấy đã bị đoàn Argonaut, đặc biệt là Calais và Zethes, truy đuổi tận những hòn đảo mang tên Strophades ngoài biển Ionia; tại đây nữ thần Iris xuất hiện, truyền lệnh không được truy đuổi loài Harpy nữa và hứa rằng Phineus sẽ không còn bị chúng bức hại. Để giải thích câu chuyện này, một số người cho rằng loài Harpy thực chất là những người con gái của Phineus, những kẻ với thói ăn chơi sa đọa đã đẩy ông vào cảnh khánh kiệt lúc tuổi già, từ đó sinh ra lời đồn đại rằng chúng cướp lấy thức ăn ngay từ miệng ông. Le Clerc lại cho rằng lũ Harpy thực chất là những đàn châu chấu khổng lồ tàn phá toàn bộ xứ Paphlagonia và gây ra nạn đói trên lãnh địa của Phineus; từ ‘arbati’ – gốc gác của từ ‘Harpy’ – có nghĩa là ‘châu chấu’; và việc gió Bắc thổi chúng ra biển Ionia đã làm dấy lên giai thoại rằng những người con trai của Boreas đã truy đuổi chúng đến tận nơi. Diodorus Siculus không nhắc đến loài Harpy, dù ông có kể về sự xuất hiện của đoàn Argonaut tại triều đình Phineus.

Sau một vài cuộc phiêu lưu khác, đoàn Argonaut đã đến Colchis. Vua Æetes hay Æeta, do từng được thần sấm cảnh báo rằng một kẻ tha lạ sẽ tước đoạt ngai vàng và mạng sống của mình, đã lập ra tục lệ tế thần tất cả những người lạ mặt đặt chân lên lãnh địa. Nàng công chúa Medea đem lòng yêu Jason, hứa giúp chàng vượt qua những hiểm nguy trước mắt với điều kiện chàng phải kết hôn với mình. Sau khi đính ước, nàng dẫn chàng vào ban đêm đến cung điện hoàng gia, trao cho chiếc chìa khóa giả giúp chàng tìm ra kho báu hoàng gia, để rồi chàng cướp lấy chúng và giương buồm cùng Medea cùng các chiến hữu. Để giải thích phần thần thoại kỳ ảo của câu chuyện, có lẽ chúng ta không sai khi cho rằng tường thuật gốc ban đầu được viết bằng tiếng Phên-ni; và vì không hiểu thấu đáo, người Hy Lạp đã thêu dệt nên huyền thoại về Tấm lông cừu vàng, Con rồng và Bầy bò mộng phun lửa. Bochart và Le Clerc từng nhận xét rằng từ ‘gaza’ trong tiếng Syriac có nghĩa là ‘kho báu’ hoặc ‘lông cừu’. ‘Saur’ có nghĩa là ‘tường thành’ cũng có nghĩa là ‘bò mộng’; và trong cùng ngôn ngữ ấy, từ ‘nachas’ chỉ cả ‘đồng’, ‘sắt’ lẫn ‘rồng’. Do đó, thay vì một ghi chép giản dị rằng Jason nhờ sự giúp đỡ của Medea đã cướp đi kho báu mà Æetes cất giữ sau những bức tường với chốt khóa bằng kim loại, thứ mà Phryxus từng mang đến Colchis trên một con tàu mang hình đầu cừu ở mũi, người ta đã loan truyền và thêu dệt qua miệng những kẻ vô minh rằng các vị thần, để cứu Phryxus khỏi mẹ kế, đã cử đến một con cừu mang bộ lông cừu vàng chở ông đến Colchis; rằng bộ lông cừu ấy trở thành đối tượng khao khát của những nhân vật chóp bu Hy Lạp; và bất kỳ ai muốn mang nó đi đều phải đương đầu với bò mộng và rồng thiêng. Một vài nhà sử học, nhằm lý giải câu chuyện, khẳng định rằng kẻ canh giữ kho báu có tên là ‘Draco’ hoặc ‘Rồng’, và đội quân phòng thủ thành lũy của Æetes được đưa đến từ bán đảo ‘Tauric’. Họ cũng nói rằng bộ lông cừu thực chất là tấm da của con cừu mà Phryxus từng tế dâng Neptune và cho mạ vàng. Tuy nhiên, một vật phẩm tầm thường như thế khó lòng khơi gợi lòng tham của người Hy Lạp và khiến họ dấn thân vào một cuộc viễn chinh lắm hiểm nguy đến vậy. Những chiếc răng rồng rất có thể ám chỉ một lực lượng ngoại bang nào đó mà Jason, bằng cách thức tương tự như Cadmus từng làm, đã tìm cách ly gián khỏi Æetes và lôi kéo về phe mình. Homer chỉ đề cập rất thoáng qua đến những cuộc phiêu lưu của đoàn Argonaut.

Jason sau khi trở về quê nhà đã khẩn khoản xin Medea cải lão hoàn đồng cho người cha Æson, và nàng đã làm được điều đó; đoạn, tiến vào triều đình Pelias, nàng trả thù những tổn hại mà hắn từng gây ra cho gia tộc Jason bằng cách biến hắn thành nạn nhân của chính sự cả tin từ những người con gái của hắn – những người vì nghe theo lòng tôn kính giả tạo mà nàng bịa ra đã đâm chết cha mình. Hoàn thành kế hoạch, Medea tẩu thoát trên cỗ xe của mình.

Các bà mẹ và những bậc phụ lão xứ Hæmonia mang lễ vật đến chào đón những đứa con trai trở về bình an; trầm hương bốc khói nghi ngút trên đài tế, và con vật hiến sinh gục ngã với cặp sừng được dát vàng. Nhưng Æson không có mặt trong số những người chúc mừng ấy, bởi ngài nay đã gần đất xa trời, cạn kiệt sinh lực vì tuổi già sức yếu; bấy giờ người con trai của Æson cất lời thưa với Medea rằng: "Hỡi người vợ thân yêu, ta thú nhận rằng mình mang ơn cứu mạng nàng, dẫu nàng đã ban cho ta tất cả và tổng ân huệ của nàng vượt xa mọi sức tưởng tượng; thế nhưng, nếu phép thuật của nàng có thể làm được điều này (và phép thuật nào mà không thể?), xin hãy bớt đi những năm tháng của chính đời ta, rồi chuyển phần năm tháng ấy sang cho cha ta."

Vừa nói, chàng vừa chẳng thể kìm được giọt nước mắt. Nàng xúc động trước tấm lòng hiếu thảo của người cầu xin; và hình ảnh người cha Æetes bị bỏ lại bỗng dội về trong tâm trí nàng – một người chẳng giống với Jason chút nào; dẫu vậy nàng chẳng hề thổ lộ những cảm xúc ấy. "Hỡi phu quân," nàng đáp, "thứ ngôn từ ái mộ nào vừa thốt ra khỏi đôi môi chàng thế? Lẽ nào ta lại có vẻ đủ khả năng chuyển dịch một phần sinh mạng của chàng sang cho người khác? Nguyện xin Hecate đừng dung thứ chuyện này; và điều chàng cầu xin vốn không hợp lẽ thường; thế nhưng, hỡi Jason, ta sẽ cố gắng ban cho chàng một đặc ân còn lớn lao hơn cả điều chàng đang nài nỉ. Bằng pháp thuật của mình, chúng ta sẽ cố gắng mang trở lại những năm tháng dài rộng cho cha chồng, chứ không bằng chính tuổi thọ của chàng; nếu Nữ thần tam diện chịu phò trợ và độ trì cho một sứ mệnh vĩ đại nhường ấy." Thiếu đúng ba đêm nữa là vầng trăng tròn vành vạnh để tròn trĩnh một vầng quỹ đạo. Khi trăng tỏa sáng rực rỡ và nhìn xuống trần gian với chiếc đĩa tròn trặn, Medea bước ra khỏi nhà trong bộ y phục buông thả, đôi chân trần, mái tóc buông xõa tự nhiên trên đôi vai không trang sức, lặng lẽ một mình hướng bước chân lang thang qua màn đêm tĩnh mịch. Giấc ngủ say giờ đây đã buông lỏng gân cốt của cả con người, loài chim lẫn muông thú; những hàng rào và tán lá bất động chìm trong tĩnh lặng, chẳng một tiếng động, bầu không khí đẫm sương cũng yên bình; chỉ có những vì sao lấp lánh; hướng về phía chúng, nàng giơ cao đôi tay, ba lần quay người, ba lần vẩy dòng nước lấy từ dòng sông lên mái tóc; ba lần cất tiếng hú mở rộng vòm miệng, rồi quỳ gối xuống nền đất cứng, nàng cất lời: "Hỡi Đêm tối, kẻ trung thành nhất với những bí thuật của ta, và hỡi những vì sao bằng vàng cùng với vầng trăng tiếp nối ánh hỏa châu ban ngày, hỡi Hecate ba mặt – đấng thấu suốt tâm can ta, hỡi những bùa chú và nghệ thuật của giới phù thủy, cùng ngươi, hỡi Đất Mẹ – đấng ban tặng những thảo mộc cường lực cho người hành nghề phép thuật; hỡi những luồng gió và cơn bão, núi non, sông ngòi, hồ nước, và hỡi tất cả các vị thần nơi lùm cây, tất cả các vị thần bóng tối, hãy tề tựu nơi đây! Nhờ sự phò trợ của các ngươi, bất cứ khi nào ta muốn, những dòng sông sẽ đảo dòng chảy ngược từ đôi bờ kinh ngạc về lại nguồn cội; bằng bùa chú, ta làm bình lặng biển khơi cuồng nộ và khơi dậy nó khi yên ả; ta xua tan mây mù và kéo mây che phủ mặt đất; ta vừa dập tắt gió vừa thổi bùng giông bão; ta bẻ gãy hàm những loài mãng xà bằng lời ca và câu chú của mình; ta dịch chuyển cả những tảng đá khổng lồ, nhổ bật cả những cội sồi từ lòng đất mẹ, cùng toàn bộ rừng rậm. Ta ra lệnh cho núi non rúng động, mặt đất rên siết, và những linh hồn trỗi dậy từ mồ mả. Cả người nữa, hỡi Mặt Trăng, ta cũng kéo ng xuống, dẫu cho thanh đồng Temesæan có xoa dịu những cơn đau quặn thắt của ngươi. Bằng bùa phép của ta, cỗ xe của ông nội ta đâm ra tái nhợt; nàng Aurora cũng nhợt nhạt trước phép thuật của ta. Vì ta mà các ngươi đã làm lu mờ ngọn lửa của loài bò mộng, ép những chiếc cổ chưa từng mang ách phải cúi đầu dưới lưỡi cày uốn cong. Các ngươi đã khơi mào một cuộc chiến tàn nhẫn cho những kẻ sinh ra từ răng rồng để chúng tự tàn sát lẫn nhau, ru ngủ kẻ canh giữ bộ lông cừu vàng chưa từng biết đến giấc ngủ; và rồi đánh lừa người gác cổng, đưa báu vật đến các đô thành Hy Lạp. Giờ đây, ta cần đến những dòng nhựa cây có thể khiến tuổi già được tái sinh, trở lại với độ xuân sắc của cuộc đời và phục hồi những năm tháng tuổi trẻ; và các ngươi sẽ ban cho ta điều đó; bởi những vì sao vừa chớp sáng kia không hề vô ích; cỗ xe được kéo bởi cổ của loài rồng có cánh cũng chẳng đến trong vô ích."

Một cỗ xe từ thiên đàng hạ giới đã đến; ngay khi leo lên, vỗ về phần cổ được tròng ách của loài rồng và khẽ buông dây cương nhẹ nhàng trong tay, nàng bay vút lên cao, nhìn xuống thung lũng Thessalian Tempe phía dưới, điều khiển những con rồng hướng về những vùng đất trắng phấn; và quan sát những loài thảo mộc mà Ossa, ngọn Pelion sừng sững, Othrys, Pindus, và đỉnh Olympus còn cao hơn cả Pindus sinh sôi; một phần nàng nhổ bật cả rễ qua những thao tác nhẹ nhàng, phần khác nàng cắt đứt bằng lưỡi liềm bằng đồng cong vút. Rất nhiều thảo dược mọc ven bờ Apidanus làm nàng vừa ý; vô số loài bên bờ Amphrysus; và ngươi nữa, hỡi Enipeus, cũng chẳng thể thoát khỏi. Dòng nước Peneian và cả dòng Spercheian cũng cống hiến phần mình, cùng những bãi bờ ngập sậy của Bœbe. Nàng cũng ngắt những loài thảo mộc tràn trề sinh lực tại Anthedon xứ Eubœa – nơi vẫn chưa quen thuộc với sự biến đổi thân xác của Glaucus. Và giờ đây, ngày thứ chín cùng đêm thứ chín đã chứng kiến nàng rảo khắp các cánh đồng trên cỗ xe và đôi cánh của loài rồng khi trở về; những con rồng ấy thậm chí chẳng được cho ăn thứ gì ngoài hương thơm của các loài thực vật: thế nhưng chúng vẫn lột bỏ lớp da cừu già nua đầy năm tháng. Đến nơi, nàng đứng ngoài thung lũng và cánh cổng, chỉ có vòm trời che chở, tránh né sự chạm mặt của phu quân, rồi dựng lên hai bệ thờ bằng cỏ dẻo: bên phải dâng thần Hecate, bên trái dâng vị thần Tuổi Trẻ. Sau khi kết quanh chúng những vòng hoa cỏ roi ngựa và cành cây rừng, nàng đào đất từ hai rãnh cạn không xa rồi tiến hành nghi lễ, cắm con dao vào cổ một con cừu đực lông đen, vẩy máu đẫm khắp những chiếc rãnh rộng. Đoạn, nàng tưới lên đó những vò rượu tuôn trào cùng những vò bằng đồng đựng đầy sữa ấm; đồng thời cất lời khấn vái, kêu gọi các vị thần của mặt đất, van xin vị vua của cõi âm cùng người vợ bị cướp đoạt của ngài chớ vội vàng tước đoạt sự sống khỏi đôi chân già cua. Khi đã khiến họ nguôi giận bằng cả lời cầu nguyện lẫn những câu lẩm nhẩm kéo dài, nàng ra lệnh khiêng thân xác kiệt quệ của Æson ra các bệ thờ, đặt ngài nằm trên lớp thảo mộc trải sẵn, chìm vào giấc ngủ sâu do bùa phép tạo nên và trông hệt như một người đã chết.

Nàng ra lệnh cho người con trai của Æson bước ra xa, cả đám gia nhân cũng phải lui thật xa; đồng thời cảnh báo họ tránh xa ánh mắt phàm tục khỏi những bí thuật của nàng. Theo lệnh, họ rút lui. Medea với mái tóc rũ rượi bước vòng quanh những bệ thờ bùng cháy hệt như một tín nữ của thần Bacchus, nhúng những ngọn đuốc chẻ làm nhiều nhánh của mình xuống chiếc rãnh đẫm máu đen, rồi châm lửa cho chúng từ hai bệ thờ. Và ba lần nàng dùng ngọn lửa tẩy uế cho vị lão ông, ba lần bằng nước, và ba lần bằng lưu huỳnh. Trong lúc ấy, hỗn hợp dược chất cường lực đang sôi sùng sục và dâng trào trong chiếc vạc đồng đặt trên ngọn lửa, trắng xóa những bọt nổi bồng bềnh. Tại đó, nàng nấu nhừ những chiếc rễ cây được thái nhỏ từ các thung lũng xứ Hæmonia, cùng hạt giống, hoa cỏ và những thứ nước ép cay nồng. Nàng cho thêm những hòn đá mang về từ phương Đông xa xôi nhất, và cả lớp cát được rửa sạch bởi dòng nước triều rút của đại dương. Nàng cũng thêm vào đó lớp sương giá thu lượm ban đêm dưới ánh trăng, đôi cánh điềm gở của một con cú mèo cùng phần thịt của nó; và bộ lòng của một con sói lưỡng tính từng có thói quen biến đổi hình hài từ thú dữ thành con người. Nơi ấy cũng không thể thiếu lớp vảy bong tróc mỏng manh của loài rắn nước Cinyphian cùng lá gan của con hươu trường thọ; ngoài ra, nàng còn bỏ thêm cái mỏ và cái đầu của một con quạ từng trải qua chín kiếp tồn tại. Khi vị công chúa xứ man rợ đã hoàn tất phần dược liệu dành cho thể xác phàm trần bằng những thứ đó cùng hàng ngàn nguyên liệu không tên khác, nàng dùng một cành ô liu hòa bình đã khô héo từ lâu để khuấy đều tất cả, hòa lẫn những tầng thảo dược sâu nhất với phần nổi phía trên. Kìa! Cành cây cũ xoay tròn trong chiếc vạc đang đun nóng, thoạt đầu hóa xanh; chẳng bao lâu sau bắt đầu trổ lá và bỗng chốc oằn mình trĩu nặng những quả ô liu. Thêm vào đó, bất cứ nơi nào ngọn lửa bắn bọt nước từ chiếc vạc trũng ra ngoài và những giọt nước sôi rơi xuống mặt đất, mặt đất liền hóa xanh tươi, hoa lá cùng thảm cỏ mềm mượt vươn mình trỗi dậy.

Ngay khi Medea nhìn thấy điều đó, nàng rạch cổ vị lão ông bằng thanh gươm tuốt trần; và để dòng máu cũ tuôn ra, nàng đổ đầy các mạch máu của ngài bằng thứ nước ép kỳ diệu. Ngay khi Æson nuốt chúng vào, dù qua miệng hay qua vết thương, râu và tóc ngài liền rũ bỏ vẻ bạc phơ để khoác lên sắc đen tuyền. Sự còm cõi biến mất, bị tống khứ; nước da xanh xao và vẻ tiều tụy chẳng còn tăm tích. Những mạch máu hóp lại nay được bổ sung thêm lượng máu dồi dào, các chi tràn trề sức sống. Æson sửng sốt, hồi tưởng lại rằng bản thân mình của bốn mươi năm về trước cũng y hệt thế này.

Thần Liber từ trên cao đã chứng kiến những phép màu của kỳ tích vĩ đại ấy; và nhận ra rằng tuổi trẻ có thể được trao trả cho các vú nuôi của mình, ngài bèn cầu xin món quà này từ người con gái của Æetes.

Và để những phép thuật của mình không ngơi nghỉ, nàng công chúa xứ Phasis giả vờ gây gổ với phu quân, trốn chạy như kẻ cầu xin đến thung lũng Pelias; và (vì bản thân lão ta đang cằn cỗi vì tuổi già) những người con gái của Pelias đã tiếp đón nàng; chẳng bao lâu sau, mưu sĩ xứ Colchis đã khiến họ gắn kết với mình qua vỏ bọc của tình bạn giả tạo. Và khi kể về những chiến tích vĩ đại nhất của mình, rằng những bệnh tật tuổi già của Æson đã được chữa trị ra sao, đồng thời xoáy sâu vào khía cạnh đó của câu chuyện, nàng khơi gợi niềm hy vọng nơi những nàng công chúa – những người con gái của Pelias – rằng với thuật pháp tương tự, cha của họ cũng có thể trẻ lại; họ khẩn khoản thỉnh cầu nàng và liên tục nài nỉ nàng ra giá bao nhiêu tùy ý. Nàng giữ im lặng một lát, ra vẻ ngập ngừng và giữ tâm trí họ trong hồi hộp với vẻ mặt đăm chiêu cố ý.

Sau đó, khi đã hứa hẹn với họ, nàng cất lời: "Để các vị thêm phần vững tin vào tài nghệ này của ta, thủ lĩnh của đàn cừu nhà các vị, kẻ đã già nua nhất, sẽ biến thành một chú cừu non nhờ thứ hỗn hợp này." Lập tức, một chú cừu đực già nua với bộ lông dày cộm, suy kiệt vì vô số năm tháng, cặp sừng uốn cong quanh thái dương trũng sâu được dẫn đến; khi nàng dùng con dao xứ Hæmonia rạch cổ họng héo mòn của nó, làm vấy bẩn lưỡi thép bằng chút máu ít ỏi, nữ phù thủy liền thả các chi của con cừu cùng dược chất cường lực vào chiếc vạc đồng trũng. Các chi trên cơ thể nó thu nhỏ lại, nó rũ bỏ cặp sừng cùng tuổi tác đi kèm với cặp sừng ấy; và từ giữa lòng chiếc vạc vang lên tiếng kêu be bé. Và chẳng chần chừ gì, trong lúc họ đang kinh ngạc trước tiếng kêu ấy, một chú cừu non nhảy vọt ra, tung tăng chạy nhảy và tìm kiếm bầu vú mẹ. Những người con gái của Pelias vô cùng kinh ngạc; và sau khi những lời hứa của nàng đã giành được lòng tin tuyệt đối, họ càng giục giã nàng mạnh mẽ hơn nữa. Thần Phœbus đã ba lần tháo ách cho những con ngựa của mình đang chìm dần vào biển Iberia; và vào đêm thứ tư, các vì sao rạng rỡ đang lấp lánh, người con gái xảo trá của Æetes đặt dòng nước tinh khiết lên ngọn lửa bùng cháy cùng những thứ thảo mộc chẳng có chút công hiệu nào. Và giờ đây giấc ngủ tựa cái chết, khi thân xác họ đã rũ rượi, đã bao trùm lấy nhà vua cùng lực lượng cận vệ dưới quyền – thứ do bùa chú và ma lực từ chiếc lưỡi phù thủy của nàng gây ra. Những người con gái của nhà vua, theo đúng lệnh, đã bước qua thung lũng cùng nữ nhân xứ Colchis và vây quanh chiếc giường: "Sao các người còn chần chừ trong sự lười nhác ấy? Hãy tuốt gươm ra," nàng nói, "và rút cạn dòng máu cổ xưa, để ta có thể làm đầy những mạch máu trống rỗng của ông ấy bằng dòng máu trẻ trung. Sinh mạng và tuổi trẻ của cha các người nay nằm trong tay các người. Nếu các người có chút hiếu thảo và không ôm ấp những hy vọng hão huyền, hãy làm tròn bổn phận với cha mình, dùng vũ khí xua tan tuổi già, và đâm lưỡi thép vào để xả sạch dòng máu đục ngầu."

Trước lời giục giã ấy, lòng hiếu thảo của mỗi nàng biến thành sự bất hiếu tột cùng, và để chứng minh mình không tàn nhẫn, họ lại làm điều tàn nhẫn. Thế nhưng chẳng một ai dám nhìn cú ra đòn của chính mình; họ quay mặt đi, né tránh ánh nhìn và tung ra những nhát dao vô định bằng bàn tay phải tàn nhẫn. Ngài, đẫm máu tươi, vẫn rướn người chống lên khuỷu tay, nửa thân mình đứt lìa đang cố gồng mình chồm dậy từ chiếc giường; giữa vô số lưỡi gươm, ngài chìa đôi cánh tay tái nhợt ra và cất lời: "Hỡi các con gái của ta, các ngươi đang làm gì vậy? Thứ vũ khí nào xói mòn các ngươi chống lại sinh mạng của đấng sinh thành?" Can đảm và đôi bàn tay họ bỗng bủn rủn. Khi ngài còn định nói thêm, nữ nhân xứ Colchis liền cắt ngang cổ ngài cùng những lời chưa dứt, rồi nhấn chìm thân thể tơi tả ấy vào chiếc vạc đang sôi sục.

Những tác giả từng nỗ lực giải mã ý nghĩa thực sự cùng nguồn gốc của giai thoại hồi xuân cho Æson có nhiều quan điểm rất khác biệt. Một số cho rằng nó ẩn dụ cho bí thuật hồi sinh những kẻ già nua cằn cỗi bằng cách truyền máu trẻ. Dù vậy, không loại trừ khả năng Medea chỉ nổi danh là phù thủy nhờ được mẹ truyền dạy công dụng của các loài thực vật khác nhau, và nàng đã cho Æson uống một thứ thần dược giúp ngài có thêm sinh lực cùng sức mạnh.

Những người con gái của Pelias vì muốn cầu được ân huệ tương tự từ Medea cho cha mình, nên để trả thù những tai ương mà lão từng giáng xuống chồng nàng cùng gia tộc, nàng có thể đã pha trộn một số thảo mộc độc hại vào thức uống khiến lão tử vong tức khắc.

Medea sau khi sát hại Pelias đã bôn ba qua nhiều vùng đất đến Corinth, nơi khi hay tin Jason trong thời gian nàng vắng mặt đã kết hôn cùng con gái vua Creon, nàng liền phóng hỏa cung điện khiến công chúa cùng cha nàng bị thiêu ra tro. Sau đó, nàng nhẫn tâm sát hại hai đứa con do mình sinh ra với Jason ngay trước mặt chàng, rồi tẩu thoát.

Và nếu không cưỡi cỗ xe gắn rồng bay vút lên không trung, nàng đã chẳng thể tránh khỏi sự trừng phạt; nàng bay lượn trên cao, vượt qua cả ngọn Pelion râm mát – nơi ở sừng sững của người con trai thuộc dòng Phillyra – vượt qua Othrys và những vùng đất nổi tiếng bởi số phận của vị lão nhân Cerambus xưa kia. Nhờ sự trợ giúp của các Nymph, lão được nâng bổng bằng đôi cánh lên bầu trời khi mặt đất trĩu nặng bị biển cả nhấn chìm, nhờ đó thoát khỏi trận đại hồng thủy của Deucalion mà không bị cuốn trôi. Về phía bên trái, nàng lướt qua Pitane xứ Æolis và tượng đài Long Dragon bằng đá, cùng khu rừng ở Ida – nơi Bacchus từng giấu chú bê bị đánh cắp dưới vỏ bọc một con hươu giả; cả chốn chôn cất người cha của Corythus dưới lớp cát mỏng, và những cánh đồng từng khiến Mæra hoảng sợ bởi tiếng sủa khác thường.

Cả thành phố của Eurypylus – nơi các phụ nữ Coan từng mọc sừng vào thời điểm bầy gia súc của Hercules rời khỏi chốn ấy; đảo Rhodes của thần Phœbus và những thợ rèn Telchines ở Ialysus với đôi mắt vấy bẩn vạn vật chỉ bằng một cái nhìn, bị thần Jupiter căm ghét tột độ mà đẩy xuống đáy biển của người anh em ngài. Nàng cũng bay qua những bức tường Carthæa của xứ Cea cổ đại, nơi người cha Alcidamas từng kinh ngạc khi thấy một chú bồ câu hiền hòa bay ra từ thi thể con gái mình.

Sau đó, nàng chiêm ngưỡng các hồ nước ở Hyrie và thung lũng Cycneian Tempe – nơi loài thiên nga từng hóa thân thường lui tới. Bởi tại đó, Phyllius từng dâng cho cậu thiếu niên loài chim theo thỉnh cầu cùng một con sư tử hung dữ đã được thuần hóa; khi được ra lệnh khuất phục một con bò mộng, cậu đã làm được; và vì giận dữ trước việc cậu phớt lờ tình cảm của mình quá nhiều lần, hắn đã từ chối khi cậu nài xin con bò mộng làm phần thưởng cuối cùng. Kẻ kia phẫn nộ thốt lên: "Ngươi sẽ phải hối hận vì đã không trao nó!" rồi lao mình từ vách đá cao. Ai nấy đều đinh ninh cậu đã rơi xuống thiệt mạng; nhưng hóa thân thành thiên nga, cậu lượn lờ giữa không trung trên đôi cánh trắng như tuyết. Còn người mẹ Hyrie, chẳng hay biết con mình đã được cứu, đã tan chảy trong nước mắt và tạo nên một hồ nước mang tên chính mình.

Lân cận những nơi này là Pleuron, nơi Combe – con gái của Ophis – đã thoát khỏi những nhát kiếm của các con trai bằng đôi cánh run rẩy. Sau đó, nàng nhìn thấy những cánh đồng Calaurea linh thiêng dâng hiến cho Latona, nơi chứng kiến sự biến đổi của nhà vua và hoàng hậu thành loài chim. Ngọn Cyllene hiện ra bên phải, nơi sau này Menephron từng hoan lạc với mẹ mình theo lối sống của loài thú hoang dã. Xa xa phía dưới, nàng trông thấy sông Cephisus đang khóc thương số phận người cháu trai bị Apollo biến thành một con bê biển béo múp; cùng gia thất của Eumelus đang sầu muộn vì đứa con trai trên không trung.

Cuối cùng, cưỡi trên đôi cánh của loài rồng, nàng đã đến được Ephyre xứ Pirenian. Tại đây, người xưa từng truyền tụng rằng vào thời hồng hoang, thân thể phàm nhân sinh ra từ những chiếc nấm mọc lên sau những trận mưa. Nhưng sau khi cô dâu mới bị thiêu rụi bởi dược chất của nàng công chúa Colchis, và cả hai vùng biển đều chứng kiến hoàng cung chìm trong biển lửa, thanh gươm tội ác của nàng đã đẫm máu những đứa con; và người mẹ, sau khi trả thù một cách tàn độc như thế, đã trốn chạy khỏi vòng tay của Jason.

Được đưa đi bởi những con rồng xứ Titan, nàng tiến vào đô thành của Pallas – nơi từng chứng kiến ngươi, hỡi Phineus chí công vô tư, và ngươi, lão Periphas cùng bay lượn, cùng cháu gái của Polypemon đang nghỉ ngơi trên đôi cánh mới mọc.

Jason sau khi hòa giải với những người con của Pelias đã trao vương miện cho con trai hắn là Acastus. Chán ngấy Medea, chàng kết hôn cùng Glauce hay Creüsa – con gái của Creon, vua thành Corinth. Medea tất tả kéo đến đó, để hai đứa con trai lại trong đền thờ nữ thần Juno rồi phóng hỏa cung điện của Creon khiến ông và con gái bị thiêu thành tro bụi, sau đó nàng sát hại chính các con mình. Euripides trong vở kịch bi thương Medea đã để dàn đồng ca phụ nữ Corinth kể rằng chính người dân Corinth đã nhúng tay vào vụ mưu sát và các vị thần đã giáng dịch lệ xuống thành phố như một hình phạt cho hành vi ấy. Pausanias cũng thuật lại rằng lăng mộ của những đứa con Medea – những kẻ bị người Corinth ném đá đến chết – vẫn còn đó vào thời của ông; và người dân Corinth hằng năm vẫn dâng tế vật tại đây để xoa dịu vong linh chúng theo lệnh của sấm truyền.

Apollodorus lại kể câu chuyện này theo một chiều hướng khác. Ông nói rằng Medea đã gửi cho tình địch một chiếc mão được nhúng trong một loại nhựa cây có khả năng bắt lửa; và khi Glauce đội nó lên đầu, chiếc mão bùng cháy dữ dội đến mức vị công chúa trẻ tuổi bỏ mạng trong sự đau đớn cùng cực. Medea sau đó lui về Thebes, nơi Hercules hứa giúp đỡ nàng chống lại Jason, nhưng lời hứa ấy không được thực hiện. Từ đó nàng đi đến Athens và kết hôn với Ægeus.

Giai thoại về những con rồng có cánh của nàng rất có thể bắt nguồn từ thực tế rằng chiến thuyền của nàng mang tên ‘Con Rồng’. Khi thuật lại chi tiết về cuộc trốn chạy của nàng, Ovid đã bóng gió nhắc đến nhiều tích truyện dọc đường mà phần lớn chúng ta hoàn toàn mù tịt. Liên quan đến những huyền thoại này, có lẽ không thừa khi lưu ý rằng chúng cung cấp chìa khóa để giải mã nhiều tích truyện: khi một người thoát khỏi hiểm nguy cận kề, người ta loan tin rằng họ đã biến thành chim; nếu để tránh sự truy đuổi mà trốn vào hang, người ta nói kẻ ấy biến thành rắn; nếu họ tuôn trào nước mắt vì quá đỗi đau buồn, họ được đồn là hóa thành suối nguồn; còn nếu một thiếu nữ lạc trong rừng, nàng sẽ trở thành Nymph hoặc Dryad. Sự tương đồng về tên gọi cũng làm dấy lên nhiều giai thoại: chẳng hạn Alopis hóa thành cáo; Cygnus hóa thành thiên nga; Coronis thành quạ; và Cerambus thành bọ sừng. Do một vài câu chuyện được Ovid ẩn dụ ở đây đề cập đến các sự kiện lịch sử, người ta cho rằng giai thoại về những phụ nữ xứ Cos hóa thành bò thực chất xuất phát từ hành vi tàn nhẫn của các chiến hữu Hercules khi đem một số người trong số họ tế dâng chư thần bản địa. Cư dân đảo Rhodes được đồn là hóa thành đá vì họ thiệt mạng trong trận hồng thủy nhấn chìm một phần hòn đảo ấy, đặc biệt là thị trấn Ialysus. Sự màu mỡ của con gái Alcidamas khiến người ta thêu dệt rằng nàng hóa thành chim bồ câu. Cơn thịnh nộ của Mæra thể hiện qua việc nàng biến thành chó cái; còn Arne hóa thành quạ vì khi bán rẻ quê hương, lòng tham của ả được khắc họa qua loài chim vốn nổi tiếng trong dân gian là mê tiền bạc. Phillyra – mẹ của nhân mã Chiron – được cho là hóa thành cây đoạn, có lẽ vì bà trùng tên với loài cây ấy, trong tiếng Hy Lạp gọi là φιλύρα.

Hercules xiềng xích chó Cerberus – kẻ canh giữ cổng Địa Ngục. Theseus sau những chiến công tại Corinth đã đến Athens, nơi Medea chuẩn bị sẵn một chén độc dược cho chàng. Tuy nhiên, nhà vua vừa nhìn thấy con trai ngay trước khi chàng uống liền giật phăng chén nước khỏi tay chàng, trong khi Medea tẩu thoát trên cỗ xe của mình. Ægeus sau đó mở tiệc lớn ăn mừng sự kiện Theseus đến nơi và bình an vô sự. Trong khi ấy, Minos – vua xứ Crete – kêu gọi các vương tử hỗ trợ mình gây chiến với Athens để báo thù cho cái chết của người con trai Androgeus bị ám sát tại đó.

Ægeus, dẫu đáng trách vì tội lỗi ấy, vẫn che chở cho nàng; và lòng hiếu khách chưa đủ, ông còn kết tình phu thê với nàng. Bấy giờ Theseus, người con trai của ông, đã đặt chân đến Athens trong sự ngỡ ngàng của người cha, người nhờ lòng dũng cảm đã vãn hồi hòa bình tại eo biển giữa hai vùng biển. Để hãm hại chàng, Medea pha chế thứ cỏ sói mà nàng từng mang theo từ bờ biển Scythia. Người ta kể rằng loài này mọc lên từ răng của con chó Echidna. Nơi ấy có một hang động u ám với lối vào tối tăm, dẫn xuống một con đường sâu thẳm nơi vị anh hùng xứ Tiryns từng lôi cổ con chó Cerberus đang chống cự dữ dội, quay ngoắt mắt tránh xa ánh dương và những tia sáng mặt trời, bị xiềng bằng những chiếc xích làm bằng kim cương; nó ngập tràn cơn cuồng nộ điên cuồng, xé toạc không gian bằng tiếng sủa ba nhánh đồng thời vẩy ra những bọt trắng đập xuống thảm cỏ xanh tươi. Người ta cho rằng thứ đó đông đặc lại, hấp thụ dưỡng chất từ mảnh đất màu mỡ để rồi mang trong mình độc tính chết người. Vì vươn lên đầy sức sống trên những vách đá cứng cỏi, dân gian gọi nó là cỏ ô đầu.

Thứ này, qua sự sắp đặt của người vợ, chính tay nhà vua Ægeus đã dâng cho con trai mình như thể dâng cho một kẻ thù. Theseus vừa đón lấy chiếc chén dâng lên bằng bàn tay hoàn toàn vô tư lự, thì cha chàng chợt nhận ra trên chuôi gươm ngà voi những tín vật dòng tộc của mình, liền hất văng ngụốc độc uế tạp ra khỏi miệng chàng. Nàng tẩu thoát khỏi cái chết bằng cách triệu hồi mây mù thông qua bùa phép.

Nhưng người cha, dẫu vui mừng khôn xiết vì con trai bình an vô sự, vẫn sửng sốt trước tội ác tày trời suýt cướp đi mạng sống con mình trong gang tấc, bèn nung nóng các bệ thờ bằng lửa và dâng lên chư thần vô vàn lễ vật; những chiếc rìu đập mạnh vào chiếc cổ lực lưỡng của những chú bò mộng được thắt vòng hoa trên sừng. Không một ngày nào trong lịch sử người dân Erectheus từng rực rỡ hơn thế – các nguyên lão và dân chúng cùng duy trì lễ hội; họ cất cao những khúc ca, hòa quyện cùng men rượu nồng đượm. "Hỡi Theseus vĩ đại," họ ca tụng, "xứ Marathon từng ngưỡng mộ chàng vì đã đổ máu con bò mộng xứ Crete; và việc người nông dân cày bừa trên cánh đồng Cromyon bình yên vô sự trước loài heo rừng chính là nhờ công lao và hành động của chàng. Nhờ đôi tay chàng mà xứ Epidaurus đã chứng kiến kẻ mang chùy – con trai của Vulcan – ngã gục; và đôi bờ sông Cephisus đã chứng kiến Procrustes hung ác gục ngã dưới tay chàng. Xứ Eleusis linh thiêng của nữ thần Ceres đã chứng kiến cái chết của Cercyon. Sinnis cũng ngã quỵ, kẻ từng lạm dụng sức mạnh vĩ đại của mình; kẻ từng uốn cong những thân dầm khổng lồ và kéo những cội thông từ trên cao xuống đất, chuyên vung vãi thân xác con người đi muôn nơi. Con đường dẫn đến Alcathoë – đô thành của người Lele – nay đã an toàn rộng mở sau khi Scyron gục ngã trong cái chết; và mặt đất hay dòng nước đều từ chối cho xương cốt của tên cướp bị phân thây được yên nghỉ; chúng trôi dạt đằng đẵng cho đến khi thời gian tôi luyện thành đá. Cái tên Scyron gắn liền với những mỏm đá ấy. Nếu chúng ta kể lể hết những chiến công hiển hách cùng số năm tháng của chàng, hành động của chàng sẽ vượt xa số tuổi về mặt con số. Hỡi người anh hùng dũng cảm, chúng ta dâng lên chàng những lời thề nguyền công khai: vì vinh quang của chàng mà chúng ta cạn chén rượu nồng." Cung điện vang rền tiếng hò reo của quần chúng cùng những lời cầu nguyện tán dương; chẳng còn chốn nào vương vấn sầu muộn trong toàn đô thành.

Thế nhưng (bởi niềm vui của con người chẳng bao giờ trọn vẹn và luôn có những âu lo chen chân vào giữa những phút giây hoan hỉ), Ægeus vẫn không thể tận hưởng niềm vui trọn vẹn khi nhận lại con. Minos chuẩn bị cho chiến tranh; dẫu hùng mạnh về binh lính, hùng mạnh về tàu thuyền, hắn vẫn mạnh mẽ nhất ở lòng thù hận của một người cha, dùng vũ khí báo thù để rửa hận cho cái chết của con trai Androgeus. Dẫu vậy, trước khi khai chiến, hắn chiêu mộ thêm lực lượng hỗ trợ, vượt biển bằng một hạm đội tốc độ cao mà hắn tự hào là hùng mạnh. Một mặt, hắn sáp nhập Anaphe và lãnh địa Astypale vào vương triều mình; Anaphe bằng ngoại giao, Astypale bằng chinh phạt; mặt khác là đảo Myconos thấp trũng, những vùng đất phấn trắng của Cimolus, đảo Cythnos trù phú, Scyros, và Seriphos phẳng lì; cả Paros dồi dầm đá cẩm thạch, cùng hòn đảo nơi ả phản trúng Sithonian từng phản bội thành trì để đổi lấy số vàng ả thèm thuồng cất lời đòi hỏi. Ả đã bị biến thành một loài chim đến nay vẫn mang niềm đam mê với vàng, chính là con ác là với đôi bàn chân đen và bộ lông đen tuyền.

Nếu đúng như nhiều nhà khảo cổ học phỏng đoán rằng phần lớn thần thoại Hy Lạp bắt nguồn từ Ai Cập, thì hệ thống Vườn Địa Đàng Elysium và Cõi Âm của họ chắc chắn được kế thừa từ quan niệm của người Ai Cập về kiếp sau của con người. Câu chuyện về Cerberus cũng có lẽ dựa trên tập tục của người Ai Cập khi dùng chó để canh giữ các cánh đồng hoặc hang động cất giữ xác ướp của họ.

Tuy nhiên, rất có thể truyền thuyết về Cerberus xuất phát từ một sự kiện có thật, hoặc thứ được tin là có thật. Từng có một con mãng xà hoành hành trong hang động Tænarus ở Laconia, tàn phá các vùng đất lân cận mỏm đất ấy. Hang động này vốn được xem là một trong những cửa ngõ dẫn đến vương quốc Pluto, từ đó các nhà thơ thêu dệt nên giai thoại rằng con mãng xà này chính là kẻ canh giữ các cổng thành của nó. Pausanias nhận xét rằng Homer là người đầu tiên gọi Cerberus là chó; dẫu trên thực tế nó là một con rắn, cái tên của nó trong tiếng Hy Lạp mang nghĩa 'kẻ nuốt chửng thịt'. Giai thoại kể rằng Cerberus với thứ bọt mép của nó đã làm nhiễm độc các loài thảo mộc mọc ở Thessaly, khiến ô đầu và những thực vật độc hại khác từ đó trở nên phổ biến ở đây, có lẽ bắt nguồn từ thực tế đơn giản là những loại thảo mộc ấy mọc rất nhiều ở vùng đất đó.

Phụ nữ khi sử dụng những loài thảo mộc này trong các nghi lễ phù phép giả tạo đã tạo cơ sở cho các giai thoại về phù thủy xứ Thessaly cùng khả năng kéo mặt trăng xuống đất thông qua bùa chú và phép thuật; quan niệm sau này có lẽ xuất phát từ tình huống những người phụ nữ ấy thường triệu hồi Đêm Tối và Mặt Trăng làm chứng cho các hoạt động ma thuật của họ.

Minos sau khi lôi kéo được một số thế lực về phe mình và bị những kẻ khác từ chối đã đến đảo Ægina – nơi Æacus trị vì – để tìm kiếm liên minh với vị vương công ấy, nhưng không thành công. Ngay khi hắn vừa rời đi, Cephalus đến nơi với tư cách sứ thần từ Athens, giành được sự viện trợ từ nhà vua; vị vua liền kể cho ông nghe về thảm họa dịch bệnh từng tàn phá quê hương mình cùng cách thức kỳ diệu mà nó được tái sinh cư dân.

Song Oliaros, Didyme, Tenos, Andros, Gyaros, và Peparethos nổi tiếng với ô liu nhẵn bóng lại không hề hỗ trợ cho các chiến thuyền Gnossian. Minos bèn tiến thẳng đến Œnopia – vương quốc của Æacus nằm bên phía tay trái. Người xưa gọi nơi đó là Œnopia, nhưng chính Æacus lại gọi nó là Ægina theo tên người mẹ của mình. Quần chúng đổ xô ra đường, vô cùng khao khát được diện kiến một nhân vật nổi tiếng nhường ấy. Cả Telamon, Peleus nhỏ tuổi hơn Telamon, lẫn Phocus – người con trai thứ ba của nhà vua – đều ra đón tiếp. Bản thân Æacus dẫu chậm chạp vì tuổi già sức yếu cũng bước ra, hỏi thăm lý do hắn đến đây. Vị vua cai trị trăm đô thành, khi được gợi nhắc về nỗi đau người cha mất con, liền thở dài và đáp lại rằng: "Ta khẩn cầu ngươi hỗ trợ binh đạn được dấy lên vì con trai ta, và hãy cùng tham gia vào một cuộc chiến của tình mẫu tử. Ta đòi lại công lý cho linh hồn nó." Đứa cháu nội của Asopus đáp lời ngài: "Ngươi cầu xin vô ích và đó là điều đô thành ta không thể thực hiện; bởi thực tế, chẳng có vùng đất nào gắn kết khăng khít hơn với thần dân xứ Cecropia. Đó là điều khoản trong hiệp ước của chúng ta." Minos bỏ đi trong buồn bã và cất lời: "Hiệp ước này của ngươi sẽ phải trả giá đắt"; hắn nhận ra việc đe dọa chiến tranh khôn ngoan hơn là thực sự khai chiến và sớm làm hao mòn lực lượng tại nơi đây.

Hạm đội Lyctian vẫn còn có thể được nhìn thấy từ tường thành Œnopia khi một chiến thuyền xứ Attic rẽ sóng toàn lực xuất hiện, tiến vào hải cảng thân thiện, mang theo Cephalus cùng sứ mệnh từ quê hương ngài. Những người con trai trẻ tuổi của Æacus nhận ra Cephalus dù đã xa cách lâu ngày, họ bắt tay và dẫn ngài vào dinh thự của cha mình. Vị anh hùng tuấn tú, dẫu vẫn phảng phất những nét đẹp thuở xưa, bước vào; tay cầm cành ô liu quê hương, với tư cách là người lớn tuổi, ngài đi giữa hai người trẻ tuổi hơn ở hai bên phải trái là Clytus và Butes – những người con của Pallas. Sau khi những lời chào hỏi ban đầu hoàn tất, Cephalus thuật lại thỉnh nguyện của thần dân xứ Cecrops, khẩn cầu sự viện trợ và nhắc lại những hiệp ước giao hảo từ thời tổ tiên; ngài bổ sung rằng mục tiêu cuối cùng là thôn tính toàn bộ Achaia. Sau khi sự hùng biện của Cephalus đã thúc đẩy sứ mệnh được giao phó, Æacus tỳ tay trái lên cán vương trượng và cất lời—

"Đừng cầu xin sự viện trợ, hỡi Athens, mà hãy đón lấy nó, và hãy xem nguồn lực mà hòn đảo này sở hữu chính là của riêng các ngươi, hãy để toàn bộ lực lượng trong vương quốc ta đồng hành cùng các ngươi. Sức mạnh không hề thiếu. Ta có đủ binh lính cho cả việc phòng thủ lẫn đối đầu kẻ thù. Tạ ơn chư thần; đây là thời điểm thịnh vượng, và là lúc chẳng thể đưa ra bất kỳ lời từ chối nào." "Vâng, và hãy cứ như thế," Cephalus đáp: "và ta cầu nguyện cho vương quyền của ngài ngày càng lớn mạnh cùng thần dân. Quả thật, khi vừa đặt chân đến đây lúc nãy, ta đã vô cùng hoan hỉ khi thấy biết bao tráng sĩ tuấn tú và trạc tuổi nhau ra chào đón ta. Thế nhưng ta lại thiếu vắng nhiều người trong số họ, những người mà ta từng gặp gỡ khi được tiếp đón tại đô thành này trong quá khứ." Æacus thở dài và cất lên giọng điệu sầu thảm: "Một vận mệnh tốt đẹp hơn sẽ theo sau khởi đầu đầy bi kịch; ta chỉ ước gì mình có thể kể cho các ngươi nghe điều đó. Giờ ta sẽ kể mà chẳng theo trật tự nào, để không làm mất thời gian của các ngươi với những lời mở đầu dài dòng. Chúng giờ đây chỉ là xương tàn cốt rải, những kẻ mà ngươi đang bồi hồi nhắc đến với ký ức bền bỉ. Và chúng đã từng là một phần tài nguyên vĩ đại nhường nào khi ngã xuống! Một trận dịch bệnh kinh hoàng giáng xuống thần dân ta do cơn thịnh nộ của nữ thần Juno căm ghét một xứ sở mang tên người tình của bà. Trong khi tai họa còn mang vẻ tự nhiên và nguyên nhân gây ra sự hủy diệt vĩ đại ấy vẫn còn là ẩn số, chúng ta đã chống lại bằng mọi nguồn lực y tế. Nhưng sự tàn phá vượt quá mọi cứu trợ, vốn lúc này đã hoàn toàn bất lực. Thoạt đầu, bầu trời bao bọc trái đất bằng màn sương dày đặc, giam hãm trong các đám mây thứ hơi ấm lờ đờ. Và khi vầng trăng bốn lần tròn vành vạnh nối liền các đỉnh sừng, rồi bốn lần suy giảm, thu hẹp chiếc đĩa đầy đặn của mình, những cơn gió Nam oi bức bắt đầu thổi với luồng hơi thở chết chóc. Người ta tận mắt thấy mầm bệnh lan đến cả các suối nguồn lẫn hồ nước, hàng ngàn con rắn lang thang khắp những cánh đồng hoang vu, làm vấy bẩn các dòng sông bằng nọc độc của chúng. Sự mãnh liệt của căn cội bệnh tật bất ngờ này lần đầu tiên được phát hiện qua sự diệt vong của chó, chim chóc, cừu, bò mộng và cả muông thú hoang dã.

"Người nông dân bất hạnh ngỡ ngàng khi thấy những chú bò khỏe mạnh gục ngã ngay khi đang cày bạt mạng, nằm xoài giữa luống cày. Trong khi những đàn cừu mang lông cất lên những tiếng kêu yếu ớt, bộ lông của chúng tự động rụng sạch và thân thể còm cõi héo mòn. Ngựa chiến từng hăng hái, nổi danh trên đường đua nay thoái hóa khả năng chiến thắng; quên đi những vinh quang xưa, nó rên rỉ bên máng cỏ, đối mặt với cái chết bởi căn bệnh nhục nhã. Heo rừng quên mất bản tính giận dữ, hươu cái quên mất niềm tin vào tốc độ, loài gấu chẳng còn dũng khí lao vào những bầy gia súc hùng mạnh.

"Sự kiệt sức bao trùm mọi loài động vật; trong rừng rậm, ngoài đồng hoang lẫn trên đường cái, những cái xác hôi thối nằm ngổn ngang. Bầu không khí bị vấy bẩn bởi mùi hôi thối của chúng. Ta đang kể lại những sự kiện kỳ lạ. Chó, chim chóc háu ăn lẫn bói cá xám xịt chẳng màng động đến; chúng rữa nát, tiêu hủy dần và qua hơi thở phả ra, tạo ra những hậu quả tai hại, lan tỏa mầm bệnh đi muôn nơi. Với sự hủy diệt khủng khiếp hơn, dịch bệnh tấn công những người nông dân khốn khổ, hoành hành trong các bức tường thành của đô thành rộng lớn. Thoạt đầu, nội tạng bị thiêu đốt, sắc đỏ xuất hiện cùng hơi thở khó nhọc là dấu hiệu của ngọn lửa âm ỉ. Chiếc lưỡi trở nên thô ráp, sưng phồng; cái miệng khô khốc há hốc với những mạch máu giật nảy; không khí độc hại cũng bị hít vào qua hơi thở. Những kẻ nhiễm bệnh chẳng thể chịu nổi giường chiếu hay bất kỳ tấm chăn nào; họ áp ngực trần xuống nền đất, nhưng cơ thể chẳng hề được làm mát bởi đất, ngược lại mặt đất bị nung nóng bởi thân xác họ. Chẳng có y bác sĩ nào ở bên; căn bệnh tàn độc bùng phát ngay cả với những kẻ cứu chữa; bản thân nghệ thuật của họ trở thành tai họa cho chính chủ nhân. Càng ở gần ai và càng chăm sóc người bệnh tận tụy bao nhiêu, kẻ đó càng sớm chuốc lấy phần tai ương bấy nhiêu. Và khi hy vọng phục hồi đã vụt tắt, khi họ chỉ thấy cái chết là điểm dừng duy nhất của bệnh tật, họ buông thả cảm xúc, chẳng màng đến chuyện gì có lợi cho mình nữa; bởi thực tế, chẳng có gì cứu vãn được họ. Mọi sự e thẹn bị vứt bỏ, họ nằm la liệt cạnh suối nguồn, sông ngòi cùng những giếng sâu; và cơn khát chẳng thể được dập tắt bằng việc uống nước trước khi sinh mạng vụt tắt. Nhiều kẻ bị căn bệnh quật ngã, chẳng thể gượng dậy nổi, chết ngay giữa dòng nước; thế nhưng có kẻ khác lại uống chính nguồn nước ấy. Sự chán chường của những sinh linh khốn khổ đối với chiếc giường đáng ghét lớn đến mức họ chồm dậy, hoặc nếu sức lực không cho phép đứng vững, họ lăn lộn thân xác trên mặt đất, ai nấy đều trốn chạy khỏi chính ngôi nhà của mình; ngôi nhà nào cũng mang lại cảm giác tử khí; và vì nguyên nhân tai họa là ẩn số, nơi chốn quen thuộc bỗng bị nguyền rủa. Ngươi có thể thấy những kẻ hấp hối lang thang trên đường cái chừng nào còn đủ sức đứng vững; kẻ khác khóc lóc nằm la liệt dưới đất, đảo đôi mắt mệt mỏi theo nhịp chuyển động hấp hối. Họ cũng giơ những chi về phía các vì sao trên bầu trời, trút hơi thở tàn nơi này nơi khác, bất cứ nơi nào tử thần bắt kịp họ.

"Cảm xúc của ta lúc đó thế nào? Lẽ nào chẳng phải là sự căm ghét cuộc sống và mong muốn được chia sẻ số phận với thần dân? Dù hướng mắt về đâu, ta cũng thấy xác người nằm rải rác trên đất, hệt như những quả táo thối rữa rơi từ cành cây rung chuyển, hay những hạt dẻ từ thân sồi bị lắc mạnh. Ngươi nhìn thấy ngôi điện cao ngất đối diện kia, được tôn cao bởi những bậc thềm dài: đó là của thần Jupiter. Ai lại không dâng trầm hương lên những bệ thờ ấy trong vô vọng? Biết bao lần người chồng khi đang cất lời cầu khẩn cho vợ, hay người cha cầu cho con trai, đã kết thúc sinh mạng ngay trước bệ thờ mà chẳng được toại nguyện! Thậm chí một phần trầm hương vẫn chưa cháy hết nằm gọn trong tay họ! Biết bao lần những chú bò mộng được đưa đến đền thờ, khi tư tế đang khẩn nguyện và tưới dòng rượu tinh khiết giữa cặp sừng của chúng, lại gục ngã mà chẳng chờ đến nhát dao! Trong lúc chính ta đang dâng tế vật lên Jupiter cho bản thân, cho đất nước và cho ba người con trai của mình, con vật hiến sinh cất lên những tiếng rống thê lương, bỗng đột ngột ngã quỵ chẳng vì một nhát đâm nào, làm vấy máu những con dao cắm vào nó bằng dòng máu ít ỏi; nội tạng bệnh tật cũng mất sạch mọi dấu hiệu chân thực cùng những lời cảnh báo từ chư thần. Mầm bệnh độc hại đã thấu tận nội tạng. Ta từng thấy những cái xác vứt lăn lóc trước cửa điện thiêng; ngay cả trước các bệ thờ, để cái chết trở nên ghê tởm hơn đối với chư thần. Kẻ thì kết liễu đời mình bằng dây thừng, dùng cái chết xua tan nỗi sợ cái chết, tự nguyện mời gọi định mệnh đang đến gần. Thể xác người chết chẳng được đưa tiễn theo bất kỳ nghi thức tang ma thông thường nào; bởi cổng thành chẳng thể dung chứa đám đông đưa tang. Hoặc họ nằm bất động lộ thiên trên mặt đất, hoặc được đặt lên những giàn thiêu cao không kèm theo nghi thức danh dự nào. Và giờ đây chẳng còn sự phân biệt nữa, họ tranh giành các giàn thiêu; họ bị thiêu trên những ngọn lửa vốn của kẻ khác. Thiếu vắng những kẻ lẽ ra phải khóc thương; linh hồn của những người con, người chồng, của người già lẫn kẻ trẻ lang thang trong sự tiếc thương vô vọng: chẳng đủ không gian cho mồ mả, cũng chẳng đủ củi lửa cho các giàn thiêu."

Minos (rất có thể là vị vương công thứ hai mang tên ấy) sau khi lên ngôi kế vị sau cái chết của người cha Lycastus đã thực hiện nhiều cuộc chinh phạt tại các hòn đảo lân cận Crete – nơi ông trị vì – và cuối cùng thống trị những vùng biển ấy. Sức mạnh hạm đội của ông được Thucydides, Apollodorus và Diodorus Siculus đặc biệt ghi nhận.

Khi lễ hội Panathenæa được tổ chức tại Athens, Minos đã cử con trai Androgeus đến tham dự, người tham gia tranh tài trong các trò chơi và đủ tài nghệ để giành lấy mọi giải thưởng. Vinh quang thu về cùng phong cách tao nhã đã mang lại cho ông tình bạn với những người con của Pallas – em trai Ægeus. Hoàn cảnh này khiến Ægeus nảy sinh tâm lý ghen tuông, nhất là khi ông biết các cháu mình đang âm mưu chống lại ông. Khi hay tin Androgeus sắp thực hiện chuyến hành trình đến Thebes, ông đã sai sát hại chàng gần Œnoë – một thị trấn ven biên giới Attica. Apollodorus thực tế cho rằng chàng bị con bò mộng xứ Marathon – khi ấy đang tàn phá Hy Lạp – sát hại; nhưng rất có thể người Athens đã thúc đẩy niềm tin này nhằm che đậy cho nhà vua khỏi sự tai tiếng của một hành động vô nhân đạo và bất công như thế. Diodorus Siculus và Plutarch đều đồng tình khi khẳng định chính tay Ægeus đã sát hại Androgeus.

Nghe tin con trai thiệt mạng, Minos quyết tâm trả thù. Ông ra lệnh trang bị một hạm đội hùng mạnh, thân chinh đến nhiều triều đình để ký kết liên minh và lôi kéo các thế lực khác hỗ trợ; điều này, cùng lịch sử dịch bệnh tại Ægina, hình thành nên chủ đề của tường thuật hiện tại.

Thần Jupiter theo lời khẩn cầu của người con trai Æacus đã hóa những chú kiến trong hốc cây sồi cổ thành con người; những kẻ này, dựa theo tên tiếng Hy Lạp của loài côn trùng ấy, được gọi là Myrmidons.

"Sững sờ trước luồng bi kịch bùng nổ tột độ, ta cất lời: 'Hỡi Jupiter! Nếu những giai thoại không nói sai rằng ngài từng bước vào vòng tay của Ægina – con gái của Asopus, và ngài chẳng hề hổ thẹn, hỡi Phụ thân vĩ đại, khi làm đấng sinh thành của ta; hoặc hãy trả lại thần dân cho ta, hoặc chôn vùi luôn cả ta vào nấm mồ.' Ngài phát đi tín hiệu bằng những tia chớp và những tiếng sấm sét phò trợ. Ta đón nhận điềm báo và cất lời: 'Ta cầu mong đây là những dấu hiệu hạnh phúc từ ý ngài: điềm báo ngài ban tặng, ta xin đón nhận như một tín vật.' Tình cờ ngay cạnh đó có một cây sồi linh thiêng dâng hiến cho Jupiter, mọc từ hạt giống xứ Dodona, thưa thớt những cành lá xòe rộng. Tại đây chúng ta thấy những chú kiến, những kẻ gom hạt bắp đang di chuyển theo hàng dài, mang theo gánh nặng trĩu trong cái miệng nhỏ bé và giữ chặt lối đi trên lớp vỏ sần sùi. Trong lúc ta đang kinh ngạc trước số lượng của chúng, ta cất lời: 'Xin ngài, hỡi Phụ thân nhân từ, hãy ban cho ta số lượng thần dân đông đảo nhường ấy và làm đầy những bức tường trống rỗng của ta.' Cây sồi sừng sững rung chuyển, phát ra tiếng động ở các cành cây, chuyển động mà chẳng cần ngọn gió nào. Tứ chi ta run bắn lên vì sợ hãi, tóc gáy dựng đứng; thế nhưng ta vẫn đặt nụ hôn xuống mặt đất và thân cây sồi, dẫu chẳng thổ lộ rằng mình ôm ấp hy vọng nào; thế nhưng ta vẫn hy vọng, và ấp ủ những ước nguyện trong tâm trí. Đêm buông xuống, giấc ngủ bao trùm thân thể ta kiệt quệ vì lo âu. Trước mắt ta, chính cây sồi ấy hiện diện, mang ngần ấy cành lá, ngần ấy sinh linh trên các cành, rung chuyển với chuyển động tương tự và rải rác đoàn quân mang hạt giống xuống các cánh đồng phía dưới. Chúng bỗng lớn vụt lên, có vẻ ngày càng to lớn hơn, vươn mình khỏi mặt đất, đứng thẳng người; rũ bỏ sự còm cõi, số lượng chân ban đầu cùng sắc đen tuyền, và khoác lên các chi hình hài con người.

'Giấc ngủ tan biến. Khi đã tỉnh dậy, ta quở trách điềm chiêm bao ấy và than phiền rằng chẳng có sự giúp đỡ nào dành cho ta từ các vị thần trên cao. Nhưng bên trong cung điện có tiếng xôn xao lớn, và ta ngỡ mình đang nghe thấy tiếng nói của con người, thứ mà ta đã trở nên xa lạ từ lâu. Trong lúc ta đinh ninh rằng những âm thanh ấy cũng chỉ là một phần trong giấc mơ, kìa! Telamon hớt hải chạy vào, mở toang cửa và thưa: 'Cha ơi, cha sẽ thấy những điều vượt ngoài cả hy vọng hay kỳ vọng. Xin hãy ra ngoài.' Ta đã bước ra, ta tận mắt chứng kiến và nhận ra từng con người y hệt như những gì ta vừa thấy trong giấc mộng. Họ tiến lại gần, cúi đầu chào ta làm vua. Ta dâng lễ vật lên Jupiter, chia cắt đô thành và những vùng đất hoang vu không còn người cày cấy cho cộng đồng người mới hình thành này, ta gọi họ là Myrmidons, và không tước đoạt khỏi tên gọi của họ dấu ấn từ nguồn cội. Ngươi đã tận mắt thấy con người họ. Đến tận bây giờ họ vẫn giữ nguyên bản tính thuở xưa; họ là một chủng tộc tằn tiện, chịu thương chịu khó, kiên quyết với những gì mình đạt được và cất giữ chúng cẩn thận. Bọn họ, đồng đều cả về tuổi tác lẫn can đảm, sẽ tháp tùng ngươi ra trận ngay khi ngọn gió Đông đưa ngươi đến đây một cách thuận buồm xuôi gió (bởi ngọn gió Đông đã đưa ngài đến), chuyển hướng thành gió Nam."

Huyền thoại này có lẽ chẳng có cơ sở nào khác ngoài việc thần dân của Æacus rút lui vào rừng sâu và hang động, rồi trở về khi dịch bệnh tàn phá quê hương họ chấm dứt và khi ngài đã gần như mất hết hy vọng gặp lại họ. Có khả năng những người lớn tuổi đã bị dịch bệnh quét sạch, trong khi thanh niên với sức vóc cường tráng hơn đã chống chọi lại sức mạnh của nó, điều hoàn toàn lý giải cho lối sống năng động của phần thần dân còn lại dưới quyền Æacus. Tuy nhiên, một số nhà văn cho rằng người Myrmidons vốn là một tộc người man rợ nhưng cần cù xứ Thessaly, thường sinh sống trong các hang động và được Æacus đưa về để tái thiết dân cư cho hòn đảo vốn bị tàn phá bởi đại dịch. Sự tương đồng giữa tên gọi của họ với từ 'μύρμηξ' trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là 'con kiến', rất có thể đã làm dấy lên lời đồn đại rằng thần Jupiter đã biến kiến thành người.

Cephalus, sau khi khước từ sự theo đuổi của Aurora – nữ thần đem lòng yêu mến ngài khi đang săn bắn – đã cải trang trở về với người vợ Procris để kiểm tra xem tình cảm của nàng dành cho mình có thực lòng hay không. Phát hiện sự hoài nghi của chồng, nàng trốn vào rừng rậm và trở thành một nữ thợ săn với quyết tâm không bao giờ gặp lại ngài nữa. Sau đó, khi đã hòa giải với ngài, nàng trao tặng ngài một con chó và một mũi lao từng được nữ thần Diana ban cho. Con chó hóa thành đá trong lúc đang săn đuổi một con dã thú do thần Themis phái đến tàn phá lãnh địa Thebes sau khi câu đố của Nhân sư bị Œdipus giải mã.

Họ dành trọn ngày hôm ấy qua lại trong những câu chuyện này và nhiều tích truyện khác. Phần cuối ngày trôi qua trong tiệc tùng và đêm đến chìm trong giấc ngủ. Vầng thái dương bằng vàng vừa rọi những tia nắng khi ngọn gió Đông vẫn đang thổi và cầm chân những cánh buồm chuẩn bị khởi hành. Những người con của Pallas tìm đến Cephalus đang tuổi già sức yếu. Cephalus cùng các con của Pallas đi cùng đến gặp nhà vua; nhưng một giấc ngủ sâu vẫn đang bao trùm vị quân vương. Phocus – con trai Æacus – đón tiếp họ ngay thung lũng; bởi Telamon và em trai đang bận chiêu mộ binh lính cho chiến tranh. Phocus dẫn dắt thần dân xứ Cecrops vào một căn phòng bên trong, một gian phòng lịch sự. Ngay khi ngồi xuống cùng họ, ngài nhận thấy người cháu nội của Æolus đang cầm trên tay một ngọn giáo làm từ một loại gỗ vô danh, với mũi lao bằng vàng.

Sau khi trao đổi vài lời bâng quơ qua lại, ngài cất lời: "Ta rất ưa thích những khu rừng và hoạt động săn bắn dã thú; tuy nhiên, thứ gỗ làm nên cán ngọn giáo mà ngươi đang cầm là loại gì, ta đã băn khoăn từ lâu; chắc chắn nếu đó là gỗ tần bì hoang dã, nó phải có màu nâu; nếu là gỗ thù du, ắt phải có những mắt gỗ. Nó xuất phát từ đâu ta chẳng hề hay biết, nhưng đôi mắt ta chưa từng chứng kiến một thứ vũ khí dùng làm giáo nào đẹp đẽ đến thế." Một trong những người anh em xứ Athens đáp lại: "Ở nó, ngươi sẽ còn thán phục tính hữu dụng của nó hơn cả vẻ đẹp. Bất cứ thứ gì nó hướng tới, nó đều đánh trúng; sự ngẫu nhiên chẳng dẫn đường cho nó khi được phóng đi, và nó tự bay trở về trong tình trạng vấy máu mà chẳng cần ai ném ngược lại." Bấy giờ, người thanh niên con trai của Nereus mới gặng hỏi mọi chi tiết, tại sao nó được ban tặng và nó xuất phát từ đâu? Ai là tác giả của món quà giá trị nhường ấy? Những gì được hỏi, Cephalus đều kể lại; nhưng điều ngài cảm thấy hổ thẹn khi kể và những điều kiện khi nhận nó thì ngài giữ kín; và bị chạm đến nỗi đau mất vợ, ngài cất lời với những giọt nước mắt tuôn trào: "Hỡi người con của Nữ thần, thứ vũ khí này (ai mà tin được chứ?) khiến ta rơi lệ, và sẽ còn khiến ta khóc dài dài nếu các Định mệnh ban cho ta sống thọ. Chính thứ này đã mang lại sự hủy diệt cho ta và người vợ thân yêu. Ước gì ta chưa từng có món quà này! Procris vốn là (nếu tình cờ danh tiếng của Orithyïa lọt vào tai ngươi một cách chính xác hơn) người chị của Orithyïa – nạn nhân của bạo lực. Nếu ngươi muốn so sánh dung nhan và phong thái của cả hai, nàng mới là người xứng đáng được cướp đi hơn. Phụ thân Erectheus đã gả nàng cho ta; tình yêu cũng gắn kết nàng với ta. Ta từng được tuyên bố là hạnh phúc, và quả thực ta đã như thế. Chẳng đời nào chư thần lại thấy điều đó là tốt đẹp; hoặc ngay lúc này, có lẽ ta vẫn còn hạnh phúc. Tháng thứ hai sau nghi lễ hôn nhân vừa trôi qua, khi ánh rạng đông màu nghệ tây xua tan bóng tối vào buổi sớm đã nhìn thấy ta, lúc đang giăng lưới bắt loài hươu có sừng trên đỉnh cao nhất của ngọn Hymettus nở hoa vĩnh cửu, đã cất giấu và cướp đi ta trái với ý nguyện. Được sự cho phép của Nữ thần, hãy để ta kể lại sự thật; dẫu nàng rạng ngời với gương mặt hồng hào, dẫu nàng sở hữu cả cõi sáng lẫn cõi tối, dẫu nàng được nuôi dưỡng bằng những dòng mật hoa, ta vẫn yêu Procris; Procris luôn hiện diện trong tâm tưởng ta, Procris luôn ở trên đôi môi ta. Ta viện dẫn những mối liên kết linh thiêng của hôn nhân, những cái ôm ấp mới mẻ cùng sự gắn kết gần đây, và cả những cam kết trước đó trên chiếc giường bị bỏ rơi. Nữ thần nổi giận và cất lời: 'Hãy chấm dứt những lời phàn nàn, hỡi kẻ vô ơn; cứ giữ lấy Procris của ngươi; nhưng nếu tâm trí ta có khả năng tiên tri, ngươi sẽ sớm ước gì mình chưa từng sở hữu nàng;' và cứ thế trong cơn thịnh nộ, nàng ném ta trở lại với vợ."

"Trong lúc ta đang quay về và ngẫm nghĩ về những lời của Nữ thần trong tâm trí, những mối bận tâm bắt đầu nảy sinh rằng liệu vợ ta có tuân thủ đúng những luật lệ hôn nhân hay không. Cả nhan sắc lẫn tuổi tác của nàng đều giục giã ta hoài nghi sự chung thủy; thế nhưng đức hạnh của nàng lại cấm ta tin điều đó. Dù vậy, ta đã vắng nhà; hơn nữa, kẻ mà ta vừa rời xa chính là minh chứng cho một tội lỗi tương tự; nhưng những kẻ yêu nhau thường lo sợ mọi bất trắc. Ta bấy giờ nỗ lực tìm kiếm thứ khiến ta phải đau đớn, dùng của cải để thử thách sự trinh bạch của nàng. Aurora khích lệ nỗi sợ ấy và thay đổi hình hài của ta, theo như ta tưởng tượng lúc bấy giờ. Ta bước vào Athens – đô thành của Pallas – trong sự vô danh với tất cả, và tiến thẳng vào ngôi nhà của chính mình. Bản thân ngôi nhà chẳng hề có tì vết, mang những dấu hiệu của sự trinh bạch và đang lo lắng cho việc chủ nhân bị cướp đi.

"Sau khi vất vả dọn đường đến gặp người con gái của Erectheus thông qua hàng ngàn mưu chước, ngay khi trông thấy nàng, ta ngỡ ngàng và suýt từ bỏ kế hoạch thử thách sự chung thủy; ta chật vật lắm mới kìm nén bản thân không thốt ra sự thật, khó khăn lắm mới kìm lòng không trao cho nàng những nụ hôn đáng lẽ ta phải trao. Nàng đang chìm trong u sầu; thế nhưng chẳng ai có thể xinh đẹp hơn nàng, ngay cả trong nỗi buồn; và nàng đang héo mòn vì tiếc nuối người chồng bị tẻ tách khỏi mình. Hãy thử nghĩ xem, hỡi Phocus, nhan sắc của nàng vĩ đại nhường nào khi ngay cả nỗi buồn cũng tôn lên vẻ đẹp ấy. Cần chi phải kể lại việc những lề thói trinh bạch của nàng đã từ chối mọi sự cám dỗ của ta bao nhiêu lần? Biết bao lần nàng thốt lên: 'Ta chỉ dành trọn cho một người, bất kể chàng ở đâu; cho người duy nhất ấy ta giữ gìn niềm vui của mình.' Với một kẻ có cái đầu tỉnh táo, cuộc thử thách độ chung thủy ấy há chẳng đủ lớn lao rồi sao? Thế nhưng ta vẫn chưa mãn nguyện; và ta cố gắng tự làm tổn thương chính mình khi hứa hẹn những khoản tiền khổng lồ chỉ cho một đêm, cuối cùng ép nàng phải lung lay bằng cách nâng mức thưởng lên. Bấy giờ ta thét lên: 'Kìa! Ta – kẻ lãng tử trá hình mang lại nỗi buồn, kẻ vung tay hứa hẹn mang đến sự khốn khổ, chính là người chồng thực sự của nàng; hỡi người phụ nữ phản bội! Ngươi đã bị bắt quả tang, và ta là nhân chứng.' Nàng hoàn toàn chết lặng: chỉ chìm trong nỗi hổ thẹn âm thầm, nàng bỏ trốn khỏi ngôi nhà phản bội cùng người chồng độc ác; và vì sự căm phẫn dành cho ta, căm ghét toàn bộ giống đực, nàng lang thang khắp các ngọn núi, vùi đầu vào các cuộc săn bắn của Diana. Bấy giờ, một ngọn lửa cuồng nộ hơn bủa vây xương cốt ta giờ đã bị bỏ rơi. Ta cầu xin sự tha thứ, nhận lỗi về mình; và rằng bản thân ta cũng có thể gục ngã trước một lỗi lầm tương tự nếu những món quà lớn lao nhường ấy được trưng bày. Sau khi ta thú nhận điều đó, nàng rửa sạch sự đoan trang bị tổn thương của mình rồi quay về bên ta, cùng ta trải qua những năm tháng êm đềm hòa hợp. Nàng còn ban tặng cho ta – như thể đó chỉ là món quà nhỏ nhặt từ chính bản thân nàng – một con chó mà Cynthia từng trao tặng, kèm theo lời khẳng định: 'Nó sẽ vượt trội hơn mọi loài chó về tốc độ chạy.' Nàng cũng trao cho ta một ngọn lao, thứ mà như ngươi thấy, ta đang cầm trên tay."

"Ngươi hỏi vận mệnh của món quà kia thế nào – hãy lắng nghe đây. Ngươi sẽ phải kinh ngạc trước sự mới lạ của kỳ tích ấy. Người con trai của Laius đã giải mã những câu thơ vượt quá trí tuệ của những kẻ khác trước chàng; và kẻ đặt ra câu đố bí ẩn ấy đã gieo mình xuống vực sâu, quên bẵng câu đố của ả. Nhưng thần Themis nhân từ chắc chắn không bỏ qua những chuyện như thế mà không trả thù. Lập tức một tai họa khác được thả xuống Thebes xứ Aonia; và vô số nông dân đã nuôi dưỡng con quái vật dã man ấy bằng cả sự tiêu diệt gia súc lẫn chính sinh mạng họ. Chúng ta, những thanh niên hàng xóm, tụ họp lại và vây kín những cánh đồng bạt ngàn bằng lưới bẫy. Với một bước nhảy nhẹ nhàng, nó vượt qua lưới bẫy, lướt qua những rào chắn cao nhất của hệ thống bẫy được thiết lập. Dây buộc được tháo khỏi những con chó, từ đó khi chúng bám theo, nó trốn chạy và luồn lách chẳng khác nào một chú chim có cánh. Bản thân ta cũng được khẩn khoản đòi hỏi chú chó Lælaps [Bão Tố] của mình; đó là tên món quà của vợ ta. Từ lâu nó đã chật vật tìm cách thoát khỏi dây buộc, căng cứng cổ khi chúng giữ chặt nó. Chàng trai ấy vừa được thả tự do; và thế nhưng chúng ta chẳng thể biết nó đang ở đâu; lớp bụi ấm áp hằn những dấu chân nó, nhưng bản thân nó đã bị tước đoạt khỏi tầm mắt chúng ta. Một mũi lao bay đi cũng chẳng nhanh bằng nó, hay những viên đạn chì được văng từ chiếc ná xoắn, hay mũi tên nhẹ từ cây cung xứ Gortynia. Đỉnh của một ngọn đồi sừng sững ở giữa nhìn xuống những đồng bằng phía dưới. Ta leo lên đó, tận hưởng cảnh tượng một cuộc săn bắn bất thường; nơi con dã thú lúc thì ngỡ như bị bắt, lúc lại né trúng cú táp của nó; và nó không chạy theo đường thẳng, mà lừa gạt cái mõm của kẻ đang đuổi theo, quay vòng tròn để kẻ thù không thể lao thẳng vào nó với tốc độ tối đa. Nó bám sát và truy đuổi, một đối thủ cân tài cân sức; và dù tưởng như đã bắt được, nó vẫn hụt mất và đớp hụt vào không trung. Ta bấy giờ xoay sở tìm đến ngọn lao; trong lúc tay phải đang giơ cao cân bằng nó và ta đang cố luồn các ngón tay vào dây quấn, ta quay mặt đi; và khi hướng mắt trở lại điểm cũ, điều kỳ diệu nhất là ta nhìn thấy hai bức tượng cẩm thạch giữa đồng bằng; ngươi sẽ ngỡ một kẻ đang bay, kẻ kia đang gầm thét đuổi theo. Chắc chắn một vị thần nào đó, nếu thực sự có vị thần nào quan tâm đến họ, đã muốn cả hai bất bại trong cuộc đua tốc độ này."

Có hai vương công mang tên Cephalus; một là con trai của Mercury và Herse – con gái của Cecrops; người kia là con trai của Deïoneus – vua xứ Phocis, và Diomeda – con gái của Xuthus. Người đầu tiên bị Aurora cướp đi và đến sống cùng nàng ở Syria; người thứ hai kết hôn với Procris – con gái của Erectheus, vua Athens. Mặc dù Apollodorus thoạt đầu dường như tuân theo phả hệ này, nhưng trong quyển thứ ba của mình, ông lại nhầm lẫn hành động của hai vị vương công ấy. Ovid và các tác giả khác chỉ nhắc đến người con của Deïoneus – kẻ bị Aurora cướp đi và sau khi rời bỏ nàng, theo họ, đã quay về với Procris.

Procris vì ghen tuông với Cephalus nên cũng tìm đến khu rừng mà nàng đinh ninh là bối cảnh ngoại tình của chồng nhằm bắt quả tang. Nghe thấy tiếng sột soạt do nàng gây ra trong lùm cây nơi nàng nấp, chàng đinh ninh đó là dã thú, bèn phóng ngọn lao mà nàng từng tặng cho mình từ trước, vô tình tước đi sinh mạng nàng.

Đến đó ngài ngừng lời và chìm trong im lặng. "Nhưng," Phocus cất lời, "ngọn lao ấy có lỗi lầm gì?" nhân đó ngài thuật lại những khiếm khuyết của ngọn giáo. "Hỡi Phocus, hãy để niềm vui của ta là phần đầu tiên trong câu chuyện sầu thảm này. Ta sẽ kể chúng trước tiên. Hỡi người con của Æacus, ta rất đỗi thích thú khi nhớ lại khoảng thời gian hạnh phúc, khi trong những năm đầu sau hôn nhân, ta hoàn toàn có được phước lành nơi người vợ và nàng cũng hạnh phúc bên người chồng. Sự ân cần và tình yêu xã hội gắn kết cả đôi bên. Nàng sẽ chẳng đời nào đổi chiếc giường của Jupiter lấy tình yêu của ta; cũng chẳng có người phụ nữ nào có thể làm ta say đắm, kể cả khi Venus đích thân xuất hiện. Những ngọn lửa tương đương thiêu đốt lồng ngực cả hai. Mặt trời rọi những tia nắng sớm lên đỉnh núi, ta thường mang theo sự hăng hái tuổi trẻ vào rừng săn bắn; nhưng ta chẳng để gia nhân, ngựa chiến hay bầy chó đánh hơi nhanh nhạy đi cùng, lưới bẫy gút gằn cũng không theo chân; ta an toàn với ngọn lao của mình. Nhưng khi bàn tay phải đã thỏa mãn với việc tàn sát dã thú, ta tự tìm đến những chốn mát mẻ, bóng râm và luồng gió thổi ra từ những thung lũng lạnh lẽo. Gió nhẹ là thứ ta tìm kiếm giữa cái oi bức. Ta chờ đợi ngọn gió; đó là sự sảng khoái sau những nhọc nhằn: 'Hỡi gió,' ta thường ca tụng, vì ta nhớ rõ điều đó, 'và ơn nghĩa nhất, hãy làm mát cơ thể ta, bước vào lồng ngực ta; và như thường lệ, xin hãy xua tan cái nóng đang thiêu đốt ta.' Có lẽ ta đã nói thêm (bởi định mệnh xui khiến ta) vô số lời ái mộ, và ta từng quen thuộc với câu: 'Ngươi là niềm vui lớn lao của ta; ngươi làm mát và nâng niu ta; ngươi khiến ta yêu thích rừng rậm cùng những chốn thâm sơn, và hơi thở của ngươi luôn được gương mặt ta khao khát.' Ta không hề hay biết có kẻ đang lắng nghe, bị đánh lừa bởi những từ ngữ mập mờ ấy; và đinh ninh cái tên ngọn gió thường được ta kêu gọi thực chất là một Nymph, hắn tin rằng ta đang yêu một Nymph nào đó.

"Kẻ chỉ điểm vội vàng mang tội ác tưởng tượng ấy đến tai Procris, dùng cái lưỡi rỉ tai kể lại những gì hắn nghe được. Tình yêu vốn là thứ dễ tin. Khi nghe kể, nàng ngất lịm vì đau đớn bất thợng; và sau một hồi tỉnh lại, nàng tuyên bố mình khốn khổ, sinh ra dưới định mệnh tàn nhẫn; nàng than vãn về sự chung thủy của ta. Bị kích động bởi một lời buộc tội vô căn cứ, nàng lo sợ điều vốn chẳng có thật; hoảng hốt trước một cái tên chẳng có thân xác; và trong sự khốn khổ, nàng đau buồn hệt như đang đối mặt với một tình địch bằng xương bằng thịt. Dù vậy, nàng vẫn thường hoài nghi, và trong tận cùng khốn khổ, nàng hy vọng mình bị lừa dối, từ chối tin vào thông tin ấy; và trừ khi tận mắt chứng kiến, nàng sẽ chẳng đưa ra phán quyết về tội ác của chồng. Ánh sáng mai hôm sau xua tan màn đêm khi ta xuất phát, tìm đến khu rừng; và đắc thắng trên các cánh đồng, ta cất lời: 'Hỡi gió, hãy đến xoa dịu nỗi đau của ta;' và đột nhiên ta tưởng chừng nghe thấy tiếng rên rỉ vô định giữa những lời mình nói; thế nhưng ta vẫn cất lời: 'Hãy đến đây, ngọn gió đáng yêu nhất.' Một lần nữa, những chiếc lá rụng tạo ra âm thanh nhẹ nhàng, ta đinh ninh đó là dã thú và tung ra vũ khí bay. Đó chính là Procris; nhận vết thương ngay giữa ngực, nàng thét lên: 'Ôi, ta thật khốn khổ!' Khi giọng nói của người vợ thương yêu vang lên, trong sự cuồng loạn và đần độn, ta chạy về hướng giọng nói ấy. Ta tìm thấy nàng đang hấp hối, nhuốm đỏ y phục rách tơi bởi máu, tự tay rút món quà của chính mình (ôi, ta thật khốn khổ!) ra khỏi vết thương; ta ôm bổng thân xác nàng – thứ còn quý giá hơn sinh mạng ta – vào vòng tay tội lỗi của mình, băng bó những vết thương tàn nhẫn ấy bằng những mảnh vải xé từ ngực áo; ta nỗ lực cầm máu và khẩn khoản van xin nàng chớ bỏ rơi ta – kẻ đầy tội lỗi – bằng cái chết của chính mình. Nàng kiệt sức, giờ đang thở hắt ra, cố gắng thốt lên vài từ ngắn ngủi:

"'Ta thiết tha khẩn cầu chàng, nhân mối lương duyên đôi ta, nhân chư thần trên cao cùng chư thần của ta, và nếu ta từng mang lại điều gì tốt đẹp cho chàng, nhân điều đó, cùng nguyên nhân dẫn đến cái chết của ta, tình yêu vẫn trường tồn ngay cả khi ta đang lìa đời, xin đừng để nữ thần Aura [Gió] chia sẻ mối lương duyên với chàng.' Nàng cất lời như thế; và rồi cuối cùng, ta cũng nhận ra sự nhầm lẫn về tên gọi và giải thích cho nàng hiểu. Nhưng việc giải thích thì ích gì? Nàng lịm dần; sức lực cạn kiệt cùng dòng máu. Và chừng nào còn có thể nhìn ngắm vạn vật, nàng đăm đăm nhìn ta, trút hơi thở cuối cùng lên gương mặt ta – hơi thở của cuộc đời bất hạnh; nhưng nàng dường như ra đi trong sự nhẹ nhõm, với nét mặt mãn nguyện hơn."

Trong nước mắt, người anh hùng đang thuật lại những điều này với họ khi họ cũng đang đẫm lệ, và, kìa! Æacus bước vào cùng hai người con trai cùng lực lượng quân đội mới được chiêu mộ; được Cephalus đón nhận, trang bị đầy đủ vũ khí uy dũng.

Tình yêu mà Cephalus – con trai của Deïoneus – dành cho việc săn bắn, khiến ngài thường xuyên dậy sớm vào buổi sáng để tận hưởng thể thao, chính là nguồn gốc của giai thoại về tình yêu mà Aurora dành cho ngài. Người vợ của ngài là Procris, theo Apollodorus kể lại, từng có mối tình lén lút với Pteleon, và có lẽ đã phao tin đồn ấy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý khỏi chính vụ mương thầm kín của nàng. Cephalus hoài nghi sự chung thủy của vợ, khiến nàng trốn đến triều đình của Minos thứ hai – vua xứ Crete, người đã đem lòng yêu nàng. Do đó chuốc lấy sự phẫn nộ từ Pasiphaë – kẻ áp dụng nhiều biện pháp để tiêu diệt tình địch, trong đó có việc rải thuốc độc lên giường nàng, nàng rời Crete và trở về Thoricus – nơi cư ngụ trước kia, nơi nàng hòa giải với Cephalus và trao tặng ngài con chó cùng ngọn lao nổi tiếng do Ovid nhắc đến.

Các nhà thơ kể rằng con chó này do Vulcan chế tạo và dâng lên Jupiter, sau đó ngài trao nó cho Europa; khi rơi vào tay con trai bà là Minos, hắn đã tặng nó cho Procris. Dã thú tàn phá vùng đất, bị con chó của Procris truy đuổi và theo một số nhà văn miêu tả là một con cáo quái dị, rất có thể là một tên cướp biển hoặc kẻ cướp biển khơi; và có lẽ khi bị truy đuổi bởi một sĩ quan xứ Crete của Minos – kẻ hộ tống Procris trở về quê hương, trên những con thuyền bị đắm gần các mỏm đá, đã tạo cơ sở cho giai thoại rằng con chó và con quái vật đã hóa thành đá. Thực tế, Tzetzes khẳng định rõ ràng rằng con chó có tên Cyon, còn con quái vật hoặc cáo là Alopis; ông cũng nói rằng Cyon chính là viên thuyền trưởng đưa Procris trở về từ Crete. Do tin rằng sự oán hận đóng vai trò đẩy Procris đến cái chết, tòa án Areiopagus đã kết án Cephalus lưu đày vĩnh viễn. Hòn đảo Cephalenia mang tên ngài, sau khi được Amphitryon trao tặng, ngài lui về đó, nơi con trai ngài là Celeus sau này kế vị.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.