Bùi Kiến Thành Người Mở Khoá Lãng Du

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mầm mống của sự sụp đổ

❊ ❊ ❊

Những ngày cuối năm 2013, bác Thành không được khỏe. Đúng đợt gió mùa, ông di chuyển nặng nề hơn vì bị thấp khớp, cộng thêm khó thở, đêm nằm không được, cứ phải ngồi, mà ngồi lâu thì lại đau chân nên hầu như mất ngủ. Dẫu vậy, ông không nề hà với công việc hay với những cuộc trò chuyện cùng chúng tôi.

Vượt qua sự mệt mỏi của thân thể, ông tiếp tục quay lại quãng đời oanh liệt giữa sóng gió thời đại, giai đoạn mà Bùi Kiến Thành là một trong số doanh nhân thành đạt và ảnh hưởng nhất nhì Sài Gòn cho đến trước cuộc đảo chính năm 1963 khi anh em Ngô Đình Diệm bị giết. Hồi tưởng lại, giọng nói của ông đan xen nhiều cung bậc cảm xúc lẫn lộn.

“Theo bác thì những nguyên nhân nào dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm?” Tôi đề nghị ông đưa ra nhận định.

“Chà, để điểm lại một số yếu tố... Vấn đề trước nhất là ‘gia đình trị’. Nói đến chế độ Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu thì không thể không nhắc đến Trần Lệ Xuân. Bà Xuân là vợ ông Nhu nhưng vì ông Diệm không có vợ nên bả được xem như Đệ nhất phu nhân, sự kiện quan trọng nào cũng góp mặt. Người ta ghi chép về bả cũng nhiều, ở đây mình chỉ điểm lại một vài cái bác Thành tận mắt chứng kiến. Hồi năm 1954, bao nhiêu người di cư Thiên Chúa giáo biểu tình ủng hộ Diệm thì bị cảnh sát Bình Xuyên chặn lại. Một số người biểu tình hung hăng nên bị bắn chết. Giữa lúc ông Diệm, ông Nhu đang họp trong Dinh thì bà Xuân xô cửa vào quát nạt, hò hét: ‘Các anh hèn lắm. Chúng nó giết người mà các anh chẳng dám làm gì cả.’ Trước mặt bao nhiêu quan chức, tướng lĩnh mà bả nói rất xấc xược với chồng và anh chồng khi đó đang là Thủ tướng.

Ngày 26/10/1955 là ngày chính thức khai sinh ra chính thể Việt Nam Cộng hòa sau khi ông Diệm trưng cầu dân ý phế truất Bảo Đại và được bầu làm Tổng thống. Chiều hôm đó, bao nhiêu tướng tá đứng ở thềm Dinh Độc Lập chờ tuyên bố, ông Diệm chuẩn bị lên lầu còn bác Thành đang đứng nói chuyện với ông Nhu cùng mấy người Mĩ. Ông Nhu cầm điếu thuốc lá, mặc sơ mi cộc tay cổ hở. Bà Nhu mặc quần áo đẹp, mặt mày trang điểm rất kỹ, xuống thấy thế thì nạt ông Nhu: ‘Làm gì mà như cái thằng ăn mày vậy? Có biết hôm nay là ngày gì không mà còn đứng đây như thế kia?’ Ông Nhu thui thủi lên lầu thay đồ. Tội nghiệp ổng, may mà mấy người Mĩ họ không hiểu tiếng Việt, nhưng người Việt thì hiểu hết.”

“Sao bà ấy có thể không nể nang ai và bất chấp tất cả như vậy ạ?”

“Cha Trần Lệ Xuân là luật sư Trần Văn Chương nổi tiếng Hà Nội, cả nhà nói tiếng Pháp không à. Mẹ bả thuộc bên ‘thân trọng’, tức là họ hàng của phò mã. Bả thua ông Nhu 14 tuổi, hồi đó là nhiều lắm, bả được nuông chiều từ bé đến lớn. Từ chuyện đối xử với ông Nhu, ông Diệm hay sau này bả làm Dân biểu quốc hội nữa thì ngang ngược lắm, và trở thành vấn nạn cho chế độ. Bả cho rằng bả có quyền làm tất cả những gì mình muốn làm, ông Nhu ông Diệm nói gì bả cũng sẵn sàng bỏ ngoài tai. Người Mĩ có khái niệm rất hay: ‘unguided missle’. Bả như cái hỏa tiễn không điều khiển, không biết rơi ở đâu vậy, tác hại kinh khủng. Ngô Đình Luyện kể là hồi ông Nhu đưa bà Xuân về nhà thì bà mẹ đã không thích rồi, đứng dậy bỏ đi luôn. Bà Nhu có ảnh hưởng xấu đến chế độ của ông Diệm. Cả miền Nam 164 Bùi Kiến Thành - Người mở khóa lãng du hồi đấy trọng ông Diệm thế nào thì ghét bà Nhu như vậy. Bả lập ra Phong trào Phụ nữ liên đới mà người ta chả hiểu ‘liên đới’ cái gì nên toàn gọi là ‘Phụ nữ lên đái’ thôi. Có tụi nghịch ngợm chế ra là có phụ nữ tiếp xúc với nhân dân thì tiếp xúc đứng, có phụ nữ tiếp xúc ngồi và phụ nữ tiếp xúc nằm... Đa phần mọi người đều ác cảm với bả. Sự tham chính của bả là một phần của vấn đề ‘gia đình trị’ trong chính quyền Ngô Đình Diệm.”

“Cháu được biết vấn đề đó còn gây ra bởi Đức cha Ngô Đình Thục?”

“Đúng thế. Đức cha Ngô Đình Thục là anh của ông Ngô Đình Diệm, sau ông Ngô Đình Khôi, ổng nói gì ông Diệm thường nghe theo hết, không dám cãi. Đức cha là bên tôn giáo, là người lãnh đạo tinh thần. Gia đình xưa thì quyền huynh thế phụ, ông anh lớn có quyền với em như ông bố vậy. Ai muốn làm việc gì thì cứ tới gặp ông Đức cha, ông ấy mà đề đạt lên là được ngay, từ tỉnh trưởng, tướng lĩnh chỉ huy sư đoàn, trung đoàn này, tiểu đoàn kia, đến việc mở công ty này nọ. Ổng thì liêm khiết nhưng người ta lợi dụng ổng để làm kinh tế. Đức cha nói thì ông Nhu cũng không dám cãi lại. Vấn nạn ‘gia đình trị’ là những ảnh hưởng của Đức cha Thục, của cố vấn Ngô Đình Nhu và Madam Nhu bên cạnh Tổng thống, của cố vấn Ngô Đình Cẩn ở Trung phần...

Giai đoạn khó khăn lúc trước có rất nhiều người ủng hộ ông Diệm và ổng còn biết lắng nghe, đến khi bình định rồi, ông Diệm thiếu hệ thống tổ chức để đi tới quyết định mà hay quyết một mình và nghe theo những người gần mình. Tổng thống quyết định thì ai dám cản? Nhiều khi ông Nhu ổng không nói đâu, nhưng lắm kẻ cứ mượn bóng ông ấy để nói, không ai dám hỏi lại ông Nhu xem họ nói vậy có đúng không, ông Nhu hay ông Cẩn ủng hộ thì cứ để cho làm thôi. Gia đình trị không chỉ trong công quyền đơn thuần như vậy mà ngoài ông Nhu, Đức cha Thục, ông Cẩn ra còn các loại con cháu của mấy ông đấy nữa. Bà con thì vào gặp cậu, gặp chú dễ lắm, thành ra bộ chân rết. Dân chúng phản đối kinh lắm.

Người ta thấy có các nhóm lợi ích lấn át quyền lợi của nhà nước. Nhóm lợi ích quan hệ với cơ quan quyền lực tới đâu, có cái là thật, có cái chỉ là người ta tưởng thôi chứ nó cũng không hẳn là khống chế hết. Nhưng sự thật vẫn có dây chuyền quyền lợi trong đó, ví dụ công ty này của bà Nhu, công ty này của ông Đức cha…”

“Có phải việc thiên vị Thiên Chúa giáo thái quá dẫn đến đàn áp Phật giáo không bác?”

Trước câu hỏi này, Bùi Kiến Thành ngừng lại giây lát rồi mới trả lời:

“Có thể nói là như vậy, nhưng Chính phủ Ngô Đình Diệm không chủ trương đàn áp Phật giáo. Ở đây còn những cái không hiểu nhau... Dân chúng Việt Nam chủ yếu theo Phật giáo và thờ ông bà tổ tiên, đa phần các bộ trưởng trong nội các cũng không phải người Thiên Chúa giáo nên không có lí do để đàn áp Phật giáo. Hồi đó, Chính phủ có đưa ra qui định không treo cờ tôn giáo ngoài các cơ sở tôn giáo, nơi thờ tự như đền, chùa, nhà thờ... Qui định này là áp dụng cho mọi tôn giáo chứ không riêng gì Phật giáo, nhưng chưa được thực thi triệt để. Trước lễ Phật đản, người Thiên Chúa giáo treo cờ tràn lan trong dịp lễ Đức Mẹ Lavang khiến nhiều người ý kiến với Tổng thống, đề nghị thực hiện việc này chặt chẽ hơn. Chỉ thị của Chính phủ thắt chặt việc treo cờ tôn giáo được đưa ra ngay trước Phật đản, trong khi Phật tử lại treo cờ khắp nơi để thể hiện đối chọi với Thiên Chúa giáo. Chính phủ gỡ hết cờ lọng thì họ cảm thấy bị đàn áp nên đấu tranh dữ dội. Đỉnh điểm là vụ Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa ngã tư Sài Gòn đông đúc để phản đối chính quyền chấn động dư luận quốc tế ngày 11/6/1963.

Một phần nữa là những người Thiên Chúa giáo được ưu ái trọng dụng, đưa vào tràn ngập các cơ quan nhà nước, vì lúc đó phong trào tố Cộng ác liệt quá, thường thì người theo Thiên Chúa sẽ không theo Cộng sản vì Cộng sản là vô thần. Sự thật không phải thế, thiếu gì người đi theo Cộng sản mà dùng cái chiêu bài Thiên Chúa giáo để che mắt thiên hạ, kiểu như Phạm Ngọc Thảo chẳng hạn. Từ đó mình nói tiếp tới vấn đề tổ chức và sử dụng con người. Hồi đó ở các địa phương, toàn quân đội làm tỉnh trưởng. Quân đội nắm hành chính, quân đội nắm cả quân sự thành ra dân tình không được bình ổn, tình trạng chiến tranh tràn lan. Nhiều người được đẩy lên bởi nhãn đảng viên Cần lao trên đầu, hoặc cổ đeo thánh giá, đi tới đâu cũng đem mác Cần lao ra áp đảo mặc dù chưa thấy hoạt động Cần lao khi nào, rồi xưng người thân cận Đức cha.

Theo quan điểm của bác, quân đội dưới trướng ông Diệm là một đạo quân ô hợp. Một phần đội ngũ kế thừa tổ chức do Pháp để lại, mấy anh ngày trước theo Tây như Trần Văn Đôn, Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân... không dễ phục tùng những người có uy tín thời kì Nam Triều và cũng không ưa những người gốc ‘Bắc’ như ông Diệm. Ngoài Bắc, một quân nhân muốn thăng tiến buộc phải phát triển sự nghiệp đảng viên Đảng Cộng sản từ đoàn viên Đoàn Thanh niên đi lên. Còn trong Nam, lên đến tướng tá mà anh thì đảng viên Đảng Cần lao, anh thì đảng viên Đại Việt Quốc dân đảng, anh thì không, rồi thì người Thiên Chúa giáo, người không nên cũng chia rẽ. Ông Nhu không tạo được nền móng cho một tinh thần sống chết vì chế độ. Chuyện trả lương Mĩ lại nắm trong tay nên quá dễ xúi bẩy. Bất đồng chính kiến ở chỗ quân đội muốn Mĩ vào đem theo vũ khí, trang bị để đánh Việt Minh tới cùng...”

“Nhưng trước đó họ đã ủng hộ Ngô Đình Diệm dẹp Bình Xuyên, phế truất Bảo Đại và thành lập chính thể mới Việt Nam Cộng hòa ạ?”

“Chế độ nào người ta cũng phục vụ được, trước đó thì phục vụ chế độ của ông Bảo Đại với bao nhiêu ông Thủ tướng khác. Khi ông Diệm lên thì vì tình thế họ phải phục vụ thôi, không tâm huyết. Chuyện đề bạt, thăng chức chẳng biết có ảnh hưởng bởi quan hệ hay do công trạng mà có người nhảy chức rất nhanh, có người đì đẹt mãi, thế nên xảy ra bất mãn. Sau khi dẹp Bình Xuyên, có lần Huỳnh Văn Cao đem để lên bàn ông Diệm danh sách tên và cấp bậc quân lực Quốc gia Việt Nam. Hồi đó anh Cao mới là đại úy, mà đã quản việc chấm công và đề bạt cho các sĩ quan cấp tá.

Tướng hồi đó to lắm, chỉ có Nguyễn Văn Hinh là trung tướng, Lê Văn Tỵ với Nguyễn Văn Vỹ là thiếu tướng, còn lại toàn cấp tá, Dương Văn Minh cũng chỉ đang là đại tá. Cả miền Nam có bốn quân khu thôi: Quân khu 1 ở Quảng Trị, Quân khu 2, ở Tây Nguyên, Quân khu 3 ở Sài Gòn, Quân khu 4 ở lục tỉnh. Anh Cao từ đại úy một lèo lên cấp tá rồi lên thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 4. Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn cũng không tiến nhanh như vậy. Trong khi có người như Đại tá Mai Hữu Xuân có xuất phát điểm cao hơn và có công không nhỏ bảo vệ Đài Tiếng nói Quốc dân Đoàn kết, lại bị gạt tên khỏi danh sách đề bạt, sau cũng được lên thiếu tướng nhưng trễ hơn. Bác Thành không thuộc lí lịch các tướng lĩnh quân đội nên không dám khẳng định, nhưng có thể nó ảnh hưởng tới tinh thần của Mai Hữu Xuân đối với Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa. Sau này đảo chính, người ta vẫn còn tranh cãi ai là người ra lệnh cho Đại úy Nguyễn Văn Nhung giết anh em ông Diệm ông Nhu, Mai Hữu Xuân hay Dương Văn Minh...”

Chúng tôi đang ngồi trên văn phòng làm việc tại tòa nhà VIT trên đường Kim Mã, Bùi Kiến Thành nheo mắt nhìn xa xăm qua lớp cửa kính xuống con đường tấp nập bên dưới:

“Hai tổ chức tập hợp lực lượng hậu thuẫn cho ông Diệm từ khi mới về Sài Gòn nhậm chức năm 1954 là phong trào Cách mạng Quốc gia và Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng. Phong trào Cách mạng Quốc gia ban đầu do bác sĩ Tín phụ trách. Phong trào hoạt động mở, tự do mặc dù nhiều rủi ro vì dễ bị người của Bình Xuyên hay quân đội thủ tiêu. Rất nhiều nhân sĩ ở Bắc, Trung, Nam theo bác sĩ Tín. Họ hăng hái lắm. Họ công khai biểu tình ủng hộ Diệm. Một thời gian sau bác sĩ Tín rút lui, giao lại cho luật sư Trần Chánh Thành, khi xưa là Giám đốc Tư pháp rồi Giám đốc Kinh tế Liên khu 3 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh là người Thiên Chúa giáo và từng là Việt Minh, sau chống Cộng khủng khiếp lắm. Sau khi Thủ tướng Diệm giải quyết Bình Xuyên năm 1955, ảnh làm Bộ trưởng Bộ Thông tin và tổ chức phong trào Cách mạng Quốc gia thành phong trào chống Cộng.”

“Hoạt động chống Cộng diễn ra như thế nào ạ?”

“Trần Chánh Thành áp dụng những thủ thuật triệt tiêu đối phương mà ảnh đã được học khi còn là cán bộ Việt Minh, đó là xác lập và đảm bảo nền chuyên chính.”

“Trần Chánh Thành nói với ông Diệm lập ra Hội đồng tố Cộng, trong Bộ Thông tin, Tư pháp, Quốc phòng và Nội vụ, lật mặt những cán bộ Cộng sản nằm vùng len vào các cơ sở chính quyền từ trung ương đến địa phương. Hết cơ quan này tố Cộng đến cơ quan kia tố Cộng. Người này là Cộng sản, người kia có vẻ có bà con chú bác là Cộng sản... Điều tra từng người từng người. Hễ nhà nào có bà con đi kháng chiến thì bị lôi ra hỏi, mà thời kì đó thì làm gì có người nào không có bà con là Cộng sản hay đi kháng chiến. Bác sĩ Tín lúc trước chủ trương phong trào để củng cố chính quyền chứ đâu phải chống Cộng. Ổng nói, dù anh là Cộng sản hay không Cộng sản cũng đều được chấp nhận tham gia phong trào này, miễn anh làm cách mạng cho quốc gia, nên mới gọi là Phong trào Cách mạng Quốc gia.”

“Sao Ngô Đình Diệm lại để phong trào Cách mạng Quốc gia biến chất như vậy? Theo bác, như thế Hội đồng tố Cộng là một hướng đi sai lầm?”

“Ông Diệm không có nhân sự để kiểm soát, cản trở, ai nhận việc gì thì cứ thế mà làm, ai muốn làm gì cũng được. Đúng là sau hiệp định Genève có nhiều người là Cộng sản đã ở lại thâm nhập vào chính quyền quốc gia, tìm cách tiêu diệt chính quyền nên mục đích của Trần Chánh Thành không phải thiếu cơ sở. Nhưng cái độc hại của nó chính là lợi dụng phong trào tố Cộng để tố những người không phải Cộng sản, những người quốc gia chân chính có uy tín mà phe phái nào đó muốn triệt hạ để xây dựng một ảnh hưởng độc tôn trong chính quyền. Trần Chánh Thành trở thành một ông đại thần tiền trảm hậu tấu trong chính quyền Ngô Đình Diệm.

Việc làm của ổng tạo ra một không khí căng thẳng, gây phân tán lực lượng. Bao nhiêu người khi xưa theo ông Diệm trong phong trào Cách mạng Quốc gia của bác sĩ Tín hay những người từ bưng biền trở về ủng hộ ông Diệm đều bị Hội đồng tố Cộng của Trần Chánh Thành đưa ra đấu tố. Phong trào càng mạnh, thì nhân sĩ có tư cách càng bỏ đi nhiều. Người ta bỏ đi thì phải thay thế, thay thế vào toàn người Thiên Chúa giáo. Chế độ Việt Nam Cộng hòa từ năm 1956 yếu dần, mất sự ủng hộ của nhân dân. Những người thương yêu ông Diệm dần dần đi hết, chỉ còn lại một đám nịnh thần, phe phái với nhau thôi. Những anh Cộng sản nằm vùng ảnh hưởng cực kì lớn như Phạm Ngọc Thảo thì không ai lôi ra được, trớ trêu đó lại là người của Đức cha Thục, được Tổng thống Diệm tín nhiệm... Theo bác Thành nghĩ thì người phá đổ chế độ Ngô Đình Diệm là đám quân Trần Chánh Thành.”

Đại tá tình báo Phạm Ngọc Thảo là nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Thành Luân do diễn viên Nguyễn Chánh Tín thủ vai trong bộ phim “Ván bài lật ngửa” từ thập niên 80 của thế kỷ XX được rất nhiều người yêu thích. Tôi hỏi ý kiến đánh giá của bác Thành về vai trò của ông trong thực tế lịch sử. Bác Thành trả lời:

“Về Phạm Ngọc Thảo thì... đích thân Lê Duẩn chỉ thị cho ở lại miền Nam, không ra tập kết. Ảnh công khai hết quá khứ từng là bộ đội cụ Hồ để hoạt động. Thứ nhất, ảnh là người Thiên Chúa giáo, thứ nhì là gia đình quan hệ quen biết lâu đời với Đức cha Ngô Đình Thục. Đức cha dẫn ảnh lên giới thiệu với Tổng thống nên sau này được giao rất nhiều nhiệm vụ quan trọng. Có lẽ với sự sáng suốt của mình, Ngô Đình Nhu cũng hoài nghi Phạm Ngọc Thảo, nhưng tất cả những chuyện Đức cha cho ý kiến thì ông Nhu không can thiệp, cũng có thể ổng muốn tương kế tựu kế dùng Thảo bắn tin làm lệch hướng Cộng sản. Thảo, được chính Huỳnh Văn Lang, Bí thư Liên kì bộ Nam Bắc Việt, đưa vào Đảng Cần lao. Rồi ảnh làm thanh tra khu trù mật, có văn phòng ngay trong Dinh Độc Lập, ông Diệm ngồi tầng trên thì Thảo ngồi tầng dưới. Khu trù mật là kiểu nông thôn mới đó, ‘trù mật’ là phát triển tốt, xây dựng và thanh tra trên trục đường mà cộng sản chuyển quân. Nhiệm vụ đó mà lại được giao cho Thảo.” Bác Thành lại lắc đầu, cười.

“Mỗi lần bác Thành gặp ảnh ở Sài Gòn thấy ảnh dễ thương, nói chuyện rất thông minh mà không thể hiện gì hết. Một mình Thảo đã tạo ra sức mạnh không biết bằng bao nhiêu sư đoàn quân đội. Bao nhiêu bí mật, ngõ ngách Thảo nắm hết, hoàn toàn chính thức. Tổng thống giao quyền, thành ra ảnh cũng thoải mái lắm. Làm Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa, tức Bến Tre ngày nay, Phạm Ngọc Thảo móc nối với Nguyễn Thị Định tổ chức khởi nghĩa, sau này làm phong trào Đồng khởi. Thảo là Cộng sản nên về địa phương hoạt động rất thuận lợi, Kiến Hòa là một trong những tỉnh yên bình nhất vùng Hậu Giang lúc đó, nên được đánh giá cao lắm. Rồi ảnh nhúng tay cả vào bộ phận tình báo của bác sĩ Trần Kim Tuyến, làm đủ thứ chuyện... Mình ảnh mà đảo chính liên miên, hết lần này đến lần nọ. Ảnh là người rất có công với cách mạng miền Bắc.”

Tới đây, Bùi Kiến Thành đã kể một số vấn đề dẫn đến khủng hoảng của chính quyền Ngô Đình Diệm, từ bên trong và bên ngoài. Nhưng vẫn còn một nguyên nhân cốt tủy dẫn đến sự sụp đổ chế độ, đó là việc không tổ chức được một chính đảng đứng đầu, thống nhất về mặt tư tưởng, mà chúng tôi sẽ trao đổi ở phần tiếp theo.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.