Bùi Kiến Thành Người Mở Khoá Lãng Du

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tầm nhìn thế kỉ

❊ ❊ ❊

Trong thời gian bác Thành vào Nam, chúng tôi vẫn hẹn và liên lạc thường xuyên với bác qua Skype. Có những lần tôi chờ bác mỏi mòn đến 10 giờ tối, gọi điện thì bác nói chưa về đến Sài Gòn. Bác vừa đi miền Tây thương lượng việc xuất khẩu gạo. Bình thường, bác sẽ online vào khoảng tám giờ tối.

“Xin chào, bác đây.” Giọng bác cất lên ở đầu bên kia.

“Bác ạ, cháu nói thế này bác nghe rõ chưa ạ?”

“Bác nghe được rồi. Chúng ta bắt đầu luôn nha.”

Tôi chỉnh lại tai phone một lần nữa...

Ngày 11/11/1991, Chính phủ Hoa Kì chính thức cho phép khách du lịch, cựu chiến binh, nhà báo, doanh nhân Hoa Kì thăm Việt Nam. Ngày 14/12/1992, Tổng thống George Bush cho phép các công ty Hoa Kì có thể mở văn phòng đại diện tại Việt Nam và kí các hợp đồng sau khi lệnh cấm vận thương mại được bãi bỏ. Ngày 02/07/1993, Hoa Kì bỏ lệnh cấm các khoản vay song phương và đa phương dành cho Việt Nam, mở đường cho Việt Nam tiếp cận các khoản vay tài chính nước ngoài... Ngày 03/02/1994, Tổng thống Bill Clinton thông báo quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam, Thượng viện Hoa Kì đã thông qua quyết định trên một tuần trước đó. Ngày 28/1/1995, hai nước mở văn phòng liên lạc. Ngày 12/7/1995, Tổng thống Mĩ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao, gác lại quá khứ và mở ra một chương mới trong lịch sử hai nước. Đây là kết quả của một hành trình gian nan với bao nhiêu cố gắng, mồ hôi và công sức của nhiều người, trong đó có Bùi Kiến Thành.

Ngày 06/08/1995, Warren Christopher trở thành Ngoại trưởng Mĩ đầu tiên thăm Việt Nam thống nhất, chính thức khai trương Văn phòng Đại sứ quán Mĩ tại Hà Nội. Cùng ngày, Việt Nam khai trương Văn phòng Đại sứ quán Việt Nam tại Washington D.C. Đầu tháng 9 năm 1995, vợ chồng cựu Tổng thống Bush cha đến thăm Việt Nam, ngay sau đó là cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mĩ Robert McNamara.

Những đóng góp không ngừng của Bùi Kiến Thành được các cơ quan nhà nước ghi nhận. Nhân dịp xuân Kỷ Mão năm 1999, ông được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam mời tham gia buổi họp mặt “Mừng Xuân, mừng Đảng, mừng khối đại đoàn kết dân tộc”.

Ông tiếp tục tham gia vào nhiều dự án khác nhau của Chính phủ cũng như các doanh nghiệp tư nhân, trong đó phải kể tới dự án Cảng trung chuyển Quốc tế Vân Phong, chủ đề tôi đã được nghe ông nói vào lần tiếp xúc đầu tiên ở Hội thảo tại Khánh Hòa mùa hè năm 2011. Mọi chuyện khởi đầu từ đầu những năm 2000, Bùi Kiến Thành tiếp xúc với Chu Quang Thứ, bấy giờ là Cục trưởng Cục Hàng hải, Bộ Giao thông Vận tải. Chu Quang Thứ là người ôm ấp giấc mơ phát triển vịnh Vân Phong, Khánh Hòa thành khu kinh tế tổng hợp tầm vóc quốc tế.

Vịnh Vân Phong cách Nha Trang hơn 30 kilômét theo đường chim bay về phía bắc, 60 kilômét đường bộ và 40 hải lí theo đường biển. Ý tưởng đầu tiên về Cảng trung chuyển container Vân Phong được kĩ sư Doãn Mạnh Dũng - Tổng thư kí Hội Khoa học Kĩ thuật biển Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra trong “Hội thảo quy hoạch du lịch Vân Phong - Đại Lãnh” tại Nha Trang năm 1997. Sau khi Chu Quang Thứ lên làm Cục trưởng đã có lời mời ông Dũng theo đuổi giấc mơ Vân Phong của mình và ông đã chấp nhận xa gia đình, từ bỏ công việc thu nhập cao, cùng tham gia.

Từ cuối năm 2002, Bùi Kiến Thành tích cực kết nối trực tiếp Đại sứ quán Mĩ tại Việt Nam với Cục Hàng hải.

“Lúc ấy ông Thứ đang xoay sở tìm chiến lược, làm thế nào để lãnh đạo Nhà nước quan tâm. Quan hệ giữa Việt Nam và Mĩ mới được bảy năm, hãy còn sơ khai. Bác Thành ngồi bàn, rồi giúp ổng một việc, đưa ông Đại sứ Mĩ Raymond F. Burghardt xuống gặp Cục trưởng Cục Hàng hải bàn về vấn đề Mĩ có thể giúp gì cho Việt Nam phát triển lĩnh vực hàng hải, từ đó đề cập tới việc phát triển cảng Vân Phong. Ông Đại sứ đi cùng với bao nhiêu tham tán: tham tán chính trị, thương mại, kinh tế... Đưa ông Đại sứ, nhất là Đại sứ Mĩ, tới một cuộc họp như thế là không đơn giản, thường phải báo với Bộ Ngoại giao để chuẩn bị. Nhưng đằng này ông Đại sứ đi thẳng tới Cục Hàng hải thì Bộ Giao thông với Văn phòng Chính phủ đều giật mình. Chính phủ sửng sốt lắm.

Họp ở Cục Hàng hải ngày 8/4/2003 thì tới giữa tháng năm mình đặt lịch xuống Vân Phong. Bình thường Đại sứ Mĩ đi đâu thì phải thông qua Bộ Ngoại giao dàn xếp, Bộ Ngoại giao mới thông báo cho lãnh đạo của tỉnh sắp xếp để tiếp Đại sứ. Bác Thành bảo không cần, vì đây không phải xuống thăm tỉnh mà thăm vịnh Vân Phong, Cục Hàng Hải đứng ra mời ông Đại sứ, nhân tiện chào xã giao Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa Phạm Văn Chi, cháu của Phạm Văn Đồng. Vân Phong ở vĩ tuyến 16 nên đến thăm vừa có Đại sứ Mĩ Raymond F. Burghardt ở Hà Nội, vừa có Tổng lãnh sự Mĩ ở Sài Gòn là bà Emi Lynn Yamauchi, cùng các tham tán, và tùy viên hải quân. Ông Thứ phụ trách dẫn đoàn ra xem Vân Phong. Người ta nói nếu Mĩ quan tâm thế này thì hẳn là phải quan trọng lắm. Không bao lâu sau, Chính phủ bố trí một đoàn bao gồm cả Thủ tướng xuống Vân Phong quan sát.”

Năm 2002, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kí quyết định 302: Vịnh Vân Phong phát triển thành khu kinh tế tổng hợp lấy du lịch làm gốc...

Tôi nghe thấy một số tiếng xoẹt xoẹt trong tai phone, bèn tạm dừng và hỏi:

“Alo... Bác nghe cháu nói có bị lúc được lúc mất không bác?”

“Làm sao ấy... Hơi rè, nhưng vẫn nghe được.”

“Cháu nghĩ là đường truyền internet đang có vấn đề.” Tôi vỗ vỗ lên micro.

“Không sao. Mình cứ tiếp tục đi.”

“Vâng... Theo bác thì Vân Phong có tầm quan trọng như thế nào?”

“Cả thế giới đều quan tâm tới khu vực Cam Ranh. Từ thời Pháp thuộc. Cảng Cam Ranh phát triển thành căn cứ hải quân chứ không phải cảng hàng hải. Trong khi Vân Phong lớn gấp ba lần thì Pháp không có phương tiện để phát triển. Vân Phong phải là một trung tâm trung chuyển quốc tế. Trước đó trong năm 2002 và đầu năm 2003, Cục Hàng hải đã bố trí cho Vân Phong hoàn thành 10 đợt trung chuyển cho những tàu mẹ chở dầu từ Trung Đông qua các tàu nhỏ hơn tới các điểm đến ở Việt Nam và trong khu vực, thu được phí trung chuyển là 400 tỉ Việt Nam đồng. Song khi ấy Chính phủ cũng không quan tâm. Bà Rịa hay Hải Phòng không đủ tiêu chuẩn làm cảng trung chuyển, không đủ sâu và trái đường, trái tuyến. Vân Phong ở vùng cực đông bán đảo Đông Dương, là điểm gần nhất trên tuyến đường hàng hải quốc tế qua Việt Nam. Vân Phong có tầm cỡ như Singapore hay Hong Kong, thậm chí là lớn hơn nữa. Singapore nhỏ lắm, quá tải rồi. Hong Kong ở quá phía bắc, Singapore ở quá phía nam, những vùng từ Nhật Bản cho tới Thái Lan, Indonesia thì Việt Nam là trung tâm.”

Theo các tài liệu nghiên cứu, từ Vân Phong vượt Thái Bình Dương là quãng đường ngắn nhất so với đường qua Hong Kong và Singapore. Vân Phong có độ sâu tự nhiên tốt, trong tổng số 110 kilômét bờ biển có thể làm cảng thì có tới 60 kilômét bờ bán đảo Hòn Gốm và Hòn Lớn có độ sâu từ 15 - 22 mét. Luồng vào cảng ngắn có độ sâu trên 22 mét và ổn định do không có dòng sông lớn hay hải lưu chảy vào. Độ sâu này gấp hai lần độ sâu giới hạn của luồng vào cảng Sài Gòn (10 mét), và gấp hơn bốn lần của cảng Hải Phòng (7 mét). Chiều rộng luồng nơi hẹp nhất là trên 400 mét, cho phép tàu có thể lưu hành hai chiều thuận tiện và an toàn. Vân Phong có bán đảo Hòn Gốm che chắn phía Đông và phía Bắc nên tránh được sóng, và có độ kín gió tốt nhất trong tất cả các cảng của Việt Nam, an toàn cho tàu ra vào cảng. Khu vực mặt nước của cảng cũng khá lớn với trên 43.500 hécta, gấp ba lần vịnh Cam Ranh gần đó. Mặt đất bán đảo Hòn Gốm và Hòn Lớn rộng 13.800 hécta. Về tính ổn định của địa chất nền móng, nơi đây hoàn toàn không có núi lửa và động đất. Chân núi là đá granit, không có hang động, thuận lợi cho việc xây dựng các công trình vĩnh cửu.

“Người ta nói chuyện năm năm, 10 năm nhưng ở đây mình nói chuyện trăm năm. Sài Gòn hay Cái Mép Thị Vải chỉ tiếp nhận tàu từ 100 đến 150 nghìn tấn. Tàu dầu bây giờ thường có trọng tải 500 nghìn tấn. Hiện giờ những tàu container trên thế giới là 18 nghìn thùng, 20 nghìn thùng. Tàu chở container tới gần 6.000 thùng vào Cái Mép thì được, nhưng khó mà vào được cảng Hải Phòng. Hiện tại việc phát triển cảng trung chuyển ở Việt Nam toàn do các nhóm lợi ích phụ trách, trong khi chuyện đó cần một tầm nhìn thế kỷ, thậm chí trăm năm vẫn còn ngắn. Từ Sài Gòn vào cảng Cái Mép còn không có đường đi. Đường bộ thì không đi được, đường biển thì không đủ sâu, có nạo vét đâu mà vào. Xây dựng bao nhiêu cảng, cảng lớn cảng nhỏ rồi cạnh tranh với nhau, hạ giá nhưng vẫn không ai tới. Chưa ai đủ tầm cỡ để phát triển Vân Phong.”

Vì nhiều lí do khách quan lẫn chủ quan mà tới thời điểm hiện tại, dự án cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong vẫn đang gặp nhiều vướng mắc. Tuy thế, ông Chu Quang Thứ, nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải và Chủ tịch sáng lập Ngân hàng Hàng hải, vẫn nguyên vẹn nhiệt huyết khi tiếp đón chúng tôi tại văn phòng. Vân Phong có lẽ là câu chuyện mà ông có thể kể không bao giờ biết chán.

Trong những ngày này, chúng tôi liên tục được tiếp xúc với những người từng làm việc với Bùi Kiến Thành suốt thời gian ông làm cố vấn cho Chính phủ Việt Nam sau khi về nước. Một trong những người thú vị đó là Nguyễn Văn Thuộc. Ông là người của Bộ Ngoại giao, sát cánh cùng Bùi Kiến Thành trong những ngày đầu tiên về Việt Nam. Ông nhiệt tình kể lại:

“Tôi là bí thư thứ hai của Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, nhiệm kì từ năm năm 1987 đến 1990, phụ trách lãnh sự, kí visa cho người nước ngoài, thương gia người nước ngoài. Cuối năm 1989 tôi cùng các đồng nghiệp đi từ Đại sứ quán ra cách thủ đô Paris 40 cây số tới nhà bạn của bác Thành để gặp bác nhằm thuyết phục bác tham gia ủng hộ đất nước. Đến khi bác Thành về nước, tôi là nhân viên Vụ Châu Âu 2 - Bộ Ngoại giao, được giao nhiệm vụ đi theo tháp tùng, hỗ trợ bác Thành gặp gỡ các cơ quan ban ngành, rồi báo cáo lại những ý kiến của bác Thành lên cấp trên.

Có những cái 10 năm, 20 năm sau Chính phủ mới hành động, giá sớm hơn thì hay biết bao. Như việc bác Thành thu xếp để ngành đóng tàu Việt Nam liên doanh với Mĩ đóng tàu biển các loại, nếu làm từ cuối những năm 1990, thì bây giờ Việt Nam đã làm chủ công nghệ về đóng tàu hiện đại.

Bác Thành là người trực tiếp khai thông vấn đề bình thường hóa quan hệ Mĩ - Việt. Bình thường hóa quan hệ với Mĩ là một bước chủ động chiến lược của Việt Nam, chứ bây giờ Bắc Triều Tiên hay nhiều nước khác muốn bình thường hóa cũng khó, bị kẹt cứng trong quan hệ với Mĩ. Tôi đi dự hội nghị an ninh đối ngoại Asian tại Phnompenh thì trưởng đoàn của Myanma hẹn gặp trưởng đoàn Việt Nam và hỏi: ‘Tôi được giao nhiệm vụ gặp ông để hỏi là các ông bình thường hóa quan hệ với Mĩ thì các ông được gì?’ Tôi bảo: ‘Chúng tôi được nhiều lắm. Đơn cử một việc, khi muốn hiện đại hóa đội máy bay của Vietnam Airlines, kí hợp đồng mua bốn máy bay Airbus của Pháp rồi mà không mua nổi, vì trên máy bay đấy có hai cái động cơ General Electric của Mĩ. Phải bình thường hóa quan hệ mới mua được.’

Ngay việc bình thường hóa quan hệ với Mĩ cũng thể hiện trí tuệ Việt Nam, sự cố gắng của từng con người Việt Nam, trong đó có bác Thành đây, cá nhân tôi, tôi cũng thấy tự hào. Bác Thành giữ trong lòng nỗi niềm cá nhân nhiều lắm, tài sản gia đình bác mất hết, nhưng bác đã vượt qua cái đó để giúp đất nước, vì yêu nước mà vượt lên trên tất cả. Nhưng công việc của tôi với bác Thành không phải cứ làm đến đâu công khai đến đấy được, mà chỉ thầm lặng hướng tới kết quả thôi. Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương khi còn là Phó Thủ tướng đã đánh giá các ý kiến đóng góp của bác Thành có giá trị ngang tầm một viện nghiên cứu. Ví dụ như khi khai thác dầu khí ở biển Đông, nếu mình khai thác ở ngoài xa trước, ở gần sau thì giảm được việc bị Trung Quốc tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa như hiện giờ, nhưng mình lại chọn khai thác gần trước.”

“Việc phối hợp giữa chú và bác Thành diễn ra thế nào?”

“Chúng tôi làm việc trực tiếp với nhau là từ năm 1991, 1992 trở đi. Còn trước đó thì tôi đã là người xử lí các thông tin của bác Thành gửi. Tôi viết báo cáo nhanh và phải biết đi con đường nào, tiếp cận ai. Chúng tôi đi làm việc là đi ô tô của cơ quan, hồi đó có cái xe Lada đi mãi không thay, bác Thành đùa bảo cái xe này tốt thật. Cơ quan chỉ có thế thôi. Bây giờ mà bác đi thì đã có Camry. Tôi tháp tùng bác Thành đi nhiều nơi, nhiều tỉnh thành. Tôi được dự các buổi làm việc của bác Thành với lãnh đạo, ghi chép lại và viết thành báo cáo.”

“Thái độ tiếp nhận của những nơi mà bác Thành tới có tích cực không ạ?”

“Có nơi người ta tiếp nhận được, có nơi người ta không tiếp nhận được. Có những ý kiến khác nhau. Những người cấp bộ và có hiểu biết, hay những người nghiên cứu chiến lược như chúng tôi thì đánh giá rất cao. Nhưng có những người ở các ngành có phe nhóm, thì người ta thấy hay nhưng không muốn làm theo vì sợ mất lợi ích. Việc thiết lập quan hệ chiến lược với Mĩ thì cơ quan chúng tôi là người ủng hộ. Hay việc phát hiện Vân Phong của bác Thành, chúng tôi báo cáo rất sớm, nhưng triển khai rất chậm. Bên quân đội cũng muốn có một dịch vụ ở Cam Ranh và cũng có triển khai, nhưng chậm. Nếu nhà nước táo bạo giao cho bác Thành chủ trì việc đó thì đã kí được một hợp đồng với hải quân Mĩ, đưa tiền trước cho mình xây cảng chẳng hạn.

Bác Thành đưa ra ý tưởng đóng tàu liên doanh Mĩ với Việt Nam, đóng ở Việt Nam rồi hoàn thiện tại Mĩ, hoặc đóng tại Mĩ rồi hoàn thiện tại Việt Nam. Nếu đóng tàu trong nước giá thành chỉ khoảng 16 triệu đô, đóng theo Mĩ thì phải 21 triệu đô. Giá thành có thể cao, nhưng nếu đi theo hướng đó thì chắc là không có vụ Vinashin. Mà chúng ta lại chỉ thích giá thành rẻ, những người trong Vinashin vì lợi ích nhóm đã không thấy được điều đó hoặc thấy được nhưng không muốn theo nên thành ra lỡ cơ hội. Thực ra nếu làm được cái đó là ta đã tiếp cận được công nghệ đóng tàu của Mĩ, thì ta đã đóng được tàu cho ngành ngư chính và cảnh sát biển Việt Nam từ lâu rồi, chứ đâu phải đến bây giờ. Công nghệ tàu chiến của Mĩ làm sao Trung Quốc theo kịp được. Chúng ta đã quá chậm. Thật đáng tiếc, vì có nhiều lực lượng, ý kiến khác nhau.

Hay ở địa phương, ví dụ như Thái Bình, bác Thành đề xuất tổ chức huấn luyện cho ngành kế hoạch đầu tư nhưng người ta chưa thấy tiền bạc gì thì người ta không nhiệt tình. Người ta cần có tiền ngay. Lúc đó, Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Thái Bình không tiếp cận được với tư tưởng của bác Thành.”

“Những dự án hiệu quả nhất mà chú làm chung với bác Thành là...”

“Bình thường hóa quan hệ Mĩ - Việt là công trình đầu tiên và có ý nghĩa to lớn. Trước kia người Mĩ nghĩ Việt Nam gắn bó với Trung Quốc lắm. Mĩ đâu có chấp nhận Việt Nam. Trước nhất là di sản quá khứ từ cuộc chiến tranh, có thể các nhà chính trị chiến lược đã muốn khép lại, nhưng còn lực lượng cựu chiến binh Mĩ, nhiều người hi sinh mất mát, và cựu chiến binh Việt Nam... Khó lắm chứ, đâu phải xóa nhòa được. Bác Thành đi vận động thả hết hơn 14 nghìn viên chức chế độ cũ, rồi cho khôi phục nghĩa trang Biên Hòa của sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa. Thậm chí bác Thành đưa ra những ý kiến tuy không thực hiện được, nhưng nếu thực hiện được thì sẽ rất tuyệt vời, là tìm cách trả lại tài sản cho những người Việt đã chạy đi. Có thể số tiền phải trả là 2,5 tỉ đô la nhưng người thân của những người Việt ra đi vẫn còn trong nước, do đó họ vẫn gửi tiền từ nước ngoài về, số tiền đó cũng không phải là nhỏ. Thế nhưng Chính phủ Việt Nam không làm được, nền kinh tế Việt Nam chưa đủ mạnh. Hơn nữa, làm như vậy cũng gây xáo trộn trong nước.

Sau đó, Đình Vũ là theo chủ trương bác Thành đưa các tập đoàn kinh tế lớn vào Việt Nam. Bác Thành làm rất nhiều việc. Đầu tiên, muốn bảo vệ lãnh hải Việt Nam thì phải đưa ba văn phòng luật sư lớn của Mĩ là Baker & McKenzie, Sullivan & Cromwell và Covington & Burling vào phỏng vấn. Chính phủ Việt Nam chọn Covington & Burling. Chúng ta chi chỉ mất khoảng 100.000 đô la thôi, Covington & Burling giúp xây dựng một lập luận về chủ quyền Việt Nam ở biển Đông. Lập luận này đã được trình bày tại Hội nghị Luật biển quốc tế tại Oklahoma, Mĩ, trước sự thán phục của giới luật gia Mĩ. Họ không ngờ Việt Nam có lập luận chặt chẽ như vậy. Và lập luận đó đã được đăng trên tạp chí Luật pháp quốc tế về luật biển, các nước muốn thăm dò, khai thác ở khu vực biển Đông là phải tham khảo lập luận đó của Việt Nam. Những lập luận đó bây giờ vẫn đang phát triển, Việt Nam vẫn tiếp tục củng cố chứng cứ pháp lí để đưa hồ sơ về Hoàng Sa lên Tòa án Luật biển quốc tế chứ không phải dừng lại. Mình muốn tham khảo tài liệu đó thì tới Ủy ban Biên giới Quốc gia, ở phố Nguyễn Du đó.”

Mạch chuyện vẫn chưa ngừng lại:

“Đấy là về luật pháp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, còn về kinh tế thì bác Thành đưa tập đoàn AIG vào đầu tư nên mới có Đình Vũ. Thời buổi đó kinh tế khó khăn, Việt Nam chưa có gì, AIG vào rất sớm. AIG vào rồi sau đó các tập đoàn khác cũng vào theo. Ý kiến của bác Thành về Vân Phong tôi cho là mang tầm chiến lược. Giá làm được từ năm 2002 thì không chừng đất nước chúng ta đã có một ngành công nghiệp đóng tàu, đã có đủ tàu để đi bảo vệ chủ quyền ở biển Đông, ngăn chặn tàu thuyền Trung Quốc. Bác Thành phát biểu thế này: Vịnh Cam Ranh trước giờ rất nhạy cảm, trước đây cho Mĩ, sau này Nga thuê, giờ không cho nước nào thuê cả, Việt Nam sử dụng thôi, làm cảng thương mại, nhưng như thế thì không đáp ứng được yêu cầu của Mĩ. Trong khi đó hải quân Mĩ rất cần một cơ sở hậu cần tại bờ biển Việt Nam. Singapore thấy được ý đồ của Mĩ, họ bảo chúng tôi sẽ xây dựng cảng Changi thứ hai để phục vụ hải quân Mĩ. Nhưng Mĩ bảo tại Singapore chúng tôi không cần, chúng tôi cần ở Việt Nam. Nếu Việt Nam nắm được điều này thì Việt Nam phải xây dựng cảng lưỡng dụng dân dụng - quân dụng để làm công tác hậu cần cho tàu chiến Mĩ. Khi đó, tàu chiến Mĩ sẽ ra vào cảng Việt Nam thường xuyên và quốc tế hóa cảng biển Việt Nam, nên Trung Quốc hay nước nào có ý đồ sử dụng quân sự tấn công Việt Nam thì bom rơi đạn lạc vào Mĩ là đối mặt với quân đội Mĩ rồi, không thể được. Trước đây mỗi năm Việt Nam chỉ cho tàu chiến Mĩ cập cảng nước mình hai lần. Chúng tôi đã kiến nghị phải quốc tế hóa các cảng biển Việt Nam. Phải làm sao để tàu chiến Mĩ một năm phải cập cảng Việt Nam nhiều lần như ở Malaysia. Chúng tôi đã kiến nghị với cấp trên như thế. Bây giờ số lần càng ngày sẽ tăng lên. Điều Trung Quốc sợ nhất là sự quay trở lại của quân đội Mĩ.”

Bùi Kiến Thành bổ sung:

“Khi đó nếu không muốn cho Mĩ có căn cứ trên lãnh thổ của mình thì mình vẫn có thể tổ chức cơ sở sửa chữa tàu, bảo dưỡng tàu, hợp đồng có thể lên tới hàng tỉ đô la. Như thế tàu Mĩ, bao gồm cả tàu chiến, tàu sân bay, có thể chạy ra, chạy vào. Trung Quốc không cần biết mình làm gì, cứ thấy tàu Mĩ ra vào thì cũng phải nể nang. Hồi đó mình đề xuất Chính phủ không cần phải bỏ ra một đồng nào cả. Kí hợp đồng với Chính phủ Mĩ thì mình dùng hợp đồng đó làm tài sản thế chấp để xây dựng cảng cho mình.”

Nguyễn Văn Thuộc tiếp lời:

“Nói thế để các cháu biết công việc của bác Thành là bao trùm tất cả mọi vấn đề, kinh tế, tài chính, đối ngoại, ngoại giao, giáo dục, an ninh lãnh thổ, đủ cả… Ngày xưa tôi gặp bác Thành thì bác Thành còn trẻ trung quyến rũ lắm. Còn chuyện lãng mạn trên đường công tác thì của ai người nấy giữ. Phải nói rằng, tôi đã gặp được một người trí thức của Việt Nam. Bác Thành lại là kết tinh của những nhà văn hóa Việt, một bộ óc chiến lược đi trước thời đại.”

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.