Bùi Kiến Thành Người Mở Khoá Lãng Du

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cây lớn bắt rễ sâu

❊ ❊ ❊

Trong số hơn 200 dòng họ ở Việt Nam, suốt chiều dài lịch sử từ thời Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh, họ Bùi là một trong những dòng họ lớn sản sinh ra nhiều người con ưu tú. Đó là những danh tướng, danh sĩ, nhà văn hóa, nhà khoa học, nhà yêu nước... đã cống hiến tài năng, trí tuệ và sinh mệnh cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo chân Bùi Kiến Thành, chúng tôi may mắn được tham dự một buổi họp Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam.

Bùi Kiến Thành nói: “Các bác ấy làm rất tốt. Buổi họp mặt lần trước của họ Bùi phía nam được tổ chức trong Dinh Độc Lập có đến 2.500 đại biểu tham gia.” Thật đáng ngưỡng mộ cho nỗ lực kết nối để phát triển của những con người họ Bùi hiện nay, điều mà không phải dòng họ nào cũng thực hiện được.

Văn phòng liên lạc họ Bùi Việt Nam nằm tại phố Tạ Quang Bửu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Các thành viên của Ban liên lạc có mặt lúc này đều là những người họ Bùi uy tín đã có những cống hiến được ghi nhận cho đất nước ở lĩnh vực của họ. Khoảng hơn 10 con người ngồi quanh bàn họp lúc ấy đa số đều tóc bạc da mồi, nhưng vẫn nhiệt huyết với công việc chung. Cuộc họp kéo dài từ tám rưỡi sáng đến khoảng hai giờ chiều. Trong lúc bụng chúng tôi réo vang thì các bác vẫn tập trung, không ai than phiền hay đả động đến cơm nước.

Cuối buổi, Giáo sư Thiếu tướng Bùi Phan Kỳ, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu Đường lối Học thức Quân sự Viện Chiến lược - Bộ Quốc phòng, nay là Chủ tịch Ban Chấp hành Cộng đồng họ Bùi Việt Nam khóa I, nắm tay tôi, cười: “Việc họ tộc mệt mỏi như thế đấy, chứ không đơn giản như bạn bè mình chơi với nhau.” Quả thực chúng tôi có hơi ái ngại khi chứng kiến các vấn đề hoạt động cũng như hành chính được đưa ra mổ xẻ thẳng thắn, nhiều lúc gay gắt đến mức chúng tôi ngồi phía sau phải nín thở nắm chặt tách trà.

Rời đi, chúng tôi được tặng một tập san Họ Bùi Việt Nam số đặc biệt và một cuốn sách Họ Bùi Việt Nam trong quá trình phát triển của lịch sử dày hơn 600 trang do tác giả Bùi Văn An sưu tầm và biên soạn. Sách ghi chú về họ Bùi Việt Nam từ những dấu tích truyền thuyết xa xưa, về Quốc Mẫu Bùi Thị Dung, mẹ của Thánh Gióng đời Hùng Vương thứ sáu, khoảng năm 1760 trước Công nguyên, đến những danh nhân rất gần thời đại chúng ta như thi sĩ Bùi Giáng, họa sĩ Bùi Xuân Phái... Chương XXI Họ Bùi Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 có nhắc đến hai nhân vật là Bùi Biên và Bùi Kiến Tín, chính là ông nội và thân sinh của Bùi Kiến Thành.

Vài hôm sau, vào một buổi sáng thứ bảy yên ả trong một quán cà phê nhỏ trên đường Đặng Dung, Bùi Kiến Thành chậm rãi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện của họ tộc mình:

“Họ Bùi nhà bác ở làng Vĩnh Trinh, phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam...”

Xưa, đất Quảng Nam vốn của người Chiêm Thành. Khi Huyền Trân Công chúa được gả cho Chế Bồng Nga, họ mới hồi môn lại cho nước Việt hai châu Ô, Lí, từ Quảng Bình tới Phú Yên.

Hai châu Ô, Lí vuông ngàn dặm

Một gái Huyền Trân của mấy mươi.[1]

Sau đời nhà Trần, đời nhà Lê lên, tiếp tục khai phá, đưa quân, đưa dân đi mở mang bờ cõi, đi đến đâu thì đóng đồn lại. Lính phải biến những đất đai chung quanh đồn thành nơi khai khẩn trồng trọt được. Thường sau ba năm, những người lính đó được ở lại trên mảnh đất mới để làm ăn sinh sống, trở thành dân cư. “Cư” là “ở”. Vậy nên học trò sáu, bảy tuổi mới hay đọc bài thơ:

Ba năm trấn thủ lưu đồn

Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan

Chém tre đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai

Miệng ăn măng trúc, măng mai

Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng

Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng.

“Đây là một trong số những bài thơ mà bác Thành được học khi mới có sáu, bảy tuổi, nằm trong Quốc văn Giáo khoa thư - bộ sách giáo khoa đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ do ông Trần Trọng Kim cùng một số văn hào trong Bộ Giáo dục của Nam Triều biên soạn. Cho nên, phải nói là giáo dục khi xưa của Việt Nam mình hay lắm. Những chyện bác Thành đọc từ hồi đấy mà bây giờ nhớ hết. Người ta vừa được dạy văn học, vừa được dạy công dân giáo dục, là dạy ở đời phải như thế nào, nhiều thứ nhiều thứ lắm.

Nói tiếp câu chuyện... Ngoài việc cho quân đi lập đồn, triều đình còn cho phép những người có tiền bạc, gọi là phú hộ đi lập điền. Ví dụ như ông Bùi Đại Lang, xin với triều đình đưa người đi mở mang bờ cõi ở vùng đất Quảng Nam, khi đó, vua mới lệnh cho được đưa bao nhiêu tráng đinh, tức là thanh niên mạnh khỏe, đi vào đó để mà khai khẩn. Không phải lập đồn mà là lập điền, đồn là quân sự còn điền là dân sự mở mang bờ cõi. Ổng vào đó rồi phát quang rừng rậm, phân chỗ nào đồi cao đồi thấp, chỗ nào ruộng cao ruộng thấp rồi dẫn thủy nhập điền đủ thứ kiểu hết.”

Đồn điền hoạt động đến khi có đủ tiêu chí thì dân lập sớ dâng lên, vua duyệt rồi ra chiếu chỉ lập nên làng. Dân cử ra hội đồng làng. Hội đồng làng bầu ra ông hương chỉ, người đứng đầu làng đó, giống như chủ tịch Hội đồng Nhân dân bây giờ. Hội đồng làng lại cử ra Lí trưởng, giữ triện vua ban, giống như Ủy ban Nhân dân bây giờ, quản vấn đề hành chính. Ông này chỉ có quyền đại diện thôi, mỗi lần lên gặp có việc trình báo triều đình thì phải qua ông tri huyện. Trên tri huyện có tri phủ. Tri huyện là người của triều đình cử ra để quản lí một số làng. Có làng rồi mới có tổng, có huyện.

“Cho nên trước khi đi gặp cấp trên thì lí trưởng xin ý kiến của hội đồng làng xem lên huyện trình chuyện gì chuyện gì. Thí dụ, mỗi năm việc quan trọng nhất của làng là nộp thuế. Hội đồng làng nói với lí trưởng là năm nay làng làm ăn mất mùa lắm, cho nên làng xin nộp cho quan huyện 100 ang lúa. Lí trưởng giống như ông đại sứ đặc biệt gửi lên huyện, thương lượng với tri huyện. Ông huyện đập bàn, làm sao mà lại mất mùa, tao lên kiểm tra lại đàng hoàng năm nay làng làm ăn tốt sao gọi là mất mùa, 100 ang là không được, phải nộp 150 ang. Lúc ấy ông lí trưởng xin với quan huyện về trình lại với làng và hội đồng làng, chứ ổng không có quyền quyết định. Khéo léo là ở chỗ này. Hội đồng làng mới hội lại: Thôi thì ông lí trưởng lên trình lại rằng thật sự làng cũng mất mùa nên xin nộp huyện 120 ang.”

Qua lời ông kể, tôi thấy tổ chức hành chính khi xưa đã có quy tắc rất rõ ràng.

Ông giải thích rành rẽ cho chúng tôi các loại đất đai quy định ngày xưa. Theo luật Hồng Đức[2] thì làng phải có điền và thổ, đo bằng “sào”. Đủ số sào quy định, triều đình mới ra chiếu công nhận đó là làng đúng chuẩn. Điền là đất trồng cây, trồng lúa, trồng màu, thổ là đất để làm nhà. Không được làm nhà trên điền, nơi để sản xuất ra thức ăn, chỉ được làm nhà trên thổ mà thôi. Đặc biệt làng còn có công điền, công thổ, là đất chia cho tất cả người dân trong làng. Chẳng hạn, làng có 100 dân cư, làng đó có 10 mẫu công điền thì 100 dân cư kia mỗi người được hưởng 1/10 mẫu, được một miếng đất trên công thổ làm nhà ở.

“Anh phải là dân cư, tức là người có gốc gác, có công khai khẩn ra cái làng đó, còn không phải dân cư thì gọi là dân ngụ. Bây giờ gọi người thường trú là dân cư còn tạm trú là dân ngụ đó. Dân ngụ không được hưởng quyền lợi trên công điền. Một người luôn được thừa hưởng đất đai mà cha ông mình khai phá, dù họ không có tiền mua. Vậy nên, người dân Việt Nam theo luật Hồng Đức, không có người nào là vô gia cư, vô sự nghiệp, người nào cũng có nhà ở, người nào cũng có miếng ăn. Người có công thành lập, khai phá làng được gọi là thành hoàng. Người dân sẽ lập đền thờ thành hoàng. Linh thiêng lắm đó.

Khi ổng chết, mọi người tôn ổng lên, lập một đền thờ thành hoàng làng lớn lắm...”

Tiền hiền[3] của họ Bùi ở Vĩnh Trinh là cụ Bùi Đại Lang, từ đất Hoan-Châu, tức tỉnh Nghệ An bây giờ, cùng đoàn quân Nam tiến của triều Lê Trung Hưng khoảng thế kỷ XV, theo hệ dân sự, vào thiết lập tại Thăng Ba Phủ, Ba Châu Thuộc, tức là vùng hai phủ Điện Bàn và Duy Xuyên ngày nay. Cụ Bùi Đại Lang cùng với vị Tổ đầu tiên của tộc họ Đào đã lập ra làng Vĩnh Trinh. Theo phổ hệ Bùi tộc ghi lại, từ ngài Đệ tứ thế tổ đến ngài Đệ cửu thế tổ, bị thất lạc chưa tìm được danh tính mồ mả vì trải qua nhiều biến cố, giờ tới Bùi Kiến Thành là thế thứ 18.

Ông Bá Huynh

Ông cố của Bùi Kiến Thành là Bùi Túc, tục gọi là Bá Huynh vì có hàm cửu phẩm bá hộ. Thời nhà Nguyễn và bảo hộ của Pháp, triều đình đặt ra phẩm hàm gồm chín phẩm, tức cửu phẩm. Nhất phẩm là phẩm cao nhất dành riêng cho các quan lớn. Các phẩm ở dưới như bát phẩm, cửu phẩm thì dân chúng ai có tiền là có thể mua được, gọi là “quyên hàm” trong các dịp chính quyền cần tiền cho công quỹ. Phụ nữ không được quyên hàm nhưng được gọi theo hàm của chồng. Phẩm hàm cũng có thể được thưởng cho một số cựu công chức, quân nhân hoặc những người có công. Hàm thất, bát, cửu được dùng để xưng hô suốt đời. Bùi Túc là trưởng nam của Bùi Thân, tục gọi là ông Quản Nghi hay ông Thị, vì giữ chức Thị giảng Đại học sĩ, là người giàu có nổi tiếng ở Duy Xuyên. Dân gian lúc ấy vẫn lưu truyền câu “Tiền Hương Đạo, gạo Quản Nghi”.

Ông Quản Nghi

Ông nội của Bùi Kiến Thành là Bùi Biên, hay còn gọi là ông Cửu Thứ, sinh năm 1891. Đến lúc ngoài hai mươi tuổi, đã có vợ con, ông được cụ Bá Huynh gọi lên bảo: “Bây giờ cấp cho con mấy mẫu đất ở làng Trung Phước trên Quế Sơn, cách Duy Xuyên khoảng hơn một ngày đường hoặc một ngày đi ghe thuyền ngược dòng. Con lên trên đó khai phá thêm mà làm ăn.” Bấy giờ Trung Phước là vùng rừng thiêng nước độc, bồng con dại ngược dòng lên nguồn định cư là mạo hiểm lắm. Cụ Bá Huynh cấp cho con gạo đủ ăn trong sáu tháng cùng hai con trâu tơ lực lưỡng, mỗi con mua tới 50 đồng, giá cao nhất đương thời, con trâu Xe và con trâu Pháo. “Sau này đến khi có bác thì ông nội nhiều trâu lắm rồi. Có một con tên là con trâu Nuôi mà ông nội hay trỏ vào đùa, bảo con trâu của thằng cu Thành đó.” Bùi Kiến Thành khoe.

Chàng thanh niên Bùi Biên chiêu mộ trai bạn cùng đi khai phá vùng đất mới. “Trai bạn” là người đàn ông giúp việc khỏe mạnh, nhưng là bạn chứ không phải đầy tớ. Vợ chồng đi bộ. Bùi Biên bấy giờ mới làm lễ thôi nôi người con trưởng tên Bùi Thứ, chính là bố của Bùi Kiến Thành, bỏ trong cái thúng đằng sau gánh đi.

“Tại sao cụ Bùi Biên lại được gọi là ông Cửu Thứ hả bác?” Tôi thắc mắc.

Ông Cửu Thứ

“Ở Quảng Nam và trong Nam, người ta hay lấy tên con đầu lòng để gọi cha mẹ, dẫu đứa con ấy có thể đã mất sớm. Vì phép lịch sự, như vậy khỏi phải gọi đến tên của người lớn khi họ đã lập gia đình. Ông nội bác có con trai đầu lòng tên Thứ nên được gọi là Cửu Thứ.”

Khoảng thời gian từ năm 1915 đến năm 1920, vùng Trung Phước hoang vu, dân cư thưa thớt lắm. Cũng như các anh em khác, khi ra biệt cư, ông Cửu Thứ được phụ thân tạo lập cho một sở nhà nằm bên bờ sông Thu Bồn, một nơi hùng vĩ, uy nghi. Sở nhà gồm: Một nhà chứa lúa năm căn hai chái, dài 30 thước[4], rộng 20 thước; một nhà trên để ở, ba căn hai chái, dài 15 thước, rộng 10 thước; một nhà bếp dài sáu thước rộng năm thước. Các nhà này đều bằng gỗ mít, tường xây đá thước, tô vôi, lợp ngói. Ngoài ra là một nhà trại cột gỗ mái tre lợp tranh. Tất cả xây cất giữa một sở vườn rộng bốn mẫu ta, tức 20.000 thước vuông[5]. Nhà xây tựa lưng vào sông, mặt tiền nhìn về hướng đông, đằng xa có bức bình phong sừng sững là Hòn Quắp, hay còn gọi là Hòn Núi Chúa. Dãy núi Hòn Ngang ôm mặt bắc và Hòn Cà Tang ôm mặt nam. Cụ Bá Huynh từng du ngoạn qua đây, tự xem xét phương hướng, địa lí kĩ lưỡng. Theo sách vở thì khung cảnh sơn thủy hùng vĩ này chỉ dành cho người nào hưởng được phúc đức của ông bà và có thể thành đại phú đại quý.[6]

Ông Cửu Thứ điều khiển trai bạn canh tác theo phương pháp nhà nông “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Sau những năm khó khăn đầu tiên, nhờ có được lòng trung thành của nhà làm rẽ và mưa thuận gió hòa, được mùa liên tiếp, lúa bắp đầy vựa, giá lại cao, nên khoảng năm 1922, ông đã bắt kịp những con cháu có sản nghiệp đồ sộ nhất của cụ Quản Nghi. Nghe tiếng giàu có, nhân một đêm tối trời ăn cướp đến bừa cửa mặt tiền nhà trên nhưng chưa kịp lấy của thì dân làng đã đánh mõ đốt đuốc đến tiếp cứu. Bấy giờ trong làng có vè rằng:

Chiều chiều ra giữa Đồng Quan

Ngó vô trong xóm giàu sang bộn bề.

Một mình ông Cửu Thứ phủ phê,

Bà Hương thiếu đủ chẳng hề vay ai.

Có ông Bát Quế thậm tài

Ở nhà đôi ba tháng quan đòi xuống nha...

Năm 1923, ông Cửu Thứ khởi công xây cất một sở nhà mới, là “nhà lúa” ở phía nam vườn sau, sát hàng rào vườn bà Thủ Tuấn. Nhà này toàn bằng gỗ mít, mua lại nhà cũ ở ngõ Sông Con, giá 1.000 đồng. Tường xây đá tô vôi, mái ngói, dài năm căn hai chái, 30 thước, rộng ba căn hai chái, 20 thước, tổng cộng 600 thước vuông. Việc xây cất tốn thêm 2.000 đồng nữa. Theo thời giá năm 1975 thì nhà này khoảng 40 triệu đồng Việt Nam. Nhà lúa có sẵn cũng lớn như vậy, được rời xuống hướng bắc, sát hàng rào nhà bà Hương Nhị.

Năm 1924, ông Cửu Thứ khởi công xây dựng một sở nhà lầu ở khoảng đất trống giữa hai nhà lúa. Công trình kiến trúc này được xem là rất to lớn lúc đương thời. Ở nơi thôn quê hẻo lánh, người ta chưa biết đúc bê tông cốt thép nên công tác xây dựng trải qua nhiều khó khăn. Nền nhà lầu cao hai thước, đóng móng, lóng cát, bọc đá thước, tô xi măng. Tường cột tầng dưới xây gạch vòng cuốn đội tầng trên. Cột kèo trên lầu toàn bằng gỗ kiền kiền. Nhà lầu dài năm căn, khoảng 20 thước tây. Cả ba dãy nhà nhìn thông suốt với nhau qua hành lang nhà lầu nên rất tiện cho việc trông coi hoạt động hai nhà lúa. Ba sở nhà sắp hàng chữ nhật nối liền, dài khoảng 90 thước, chạy dài theo mặt tiền là một cái sân dùng để phơi lúa bắp. Theo thời giá năm 1975, toàn sở nhà ước tính trị giá 140 triệu đồng Việt Nam. Giữa núi rừng trùng điệp, nhìn cái nhà lầu mà biết chí lớn của ông Cửu Thứ. Từ tầng lầu nhìn ra thấy ruộng vườn xanh tốt với con sông Thu Bồn uốn khúc lững lờ trôi. Cảnh vật ngoạn mục nên có người đề thơ tặng:

Khen ai tô điểm vẽ nên tranh

Phong cảnh trêu ngươi thú hữu tình

Phía trước non cao, cao ngất ngất

Đằng sau sông uốn, uốn quanh quanh

Trong vườn quế phượng chen nhau chuối

Bên chái tùng thông lẫn quýt chanh

Trên gác xa trông trời bảng lảng

Vầng mây trắng xóa núi xanh xanh.

Từ mấy mẫu đất cụ Bá Huynh cho đó, ông Cửu Thứ khai khẩn, đến năm 1952 khi ông mất thì cũng được mấy chục hécta.

Lật xem tập hình xưa cũ đã phai màu, hai cộng sự của tôi không ngớt trầm trồ về dung mạo tuấn tú thời thanh xuân của cụ thân sinh ra Bùi Kiến Thành.

“Bác ơi, chúng cháu được biết cụ thân sinh ra bác là bác sĩ Bùi Kiến Tín, nhưng vừa rồi bác lại kể là Bùi Thứ. Phải chăng ông cụ có hai tên ạ?”

“Thật ra là có việc đổi tên các cháu ạ. Chuyện của ông papa[7] thú vị lắm... Năm 1912, bà nội sinh con đầu lòng ở bên ngoại, Bảo An, đặt tên là Bùi Thứ. Năm 1917, ông papa học chữ Nho với một thầy đồ. Sau đó, ông bà nội gửi ông papa xuống nhà ông bà ngoại đi học Quốc ngữ tại trường làng Bảo An. Sau Tết năm 1919, ổng bắt đầu học chữ Pháp với cậu là ông giáo Hồ, anh cả của bà nội, làm hương sư ở làng Văn Cù, tỉnh Thừa Thiên. Hồi đó, ở Trung Phước chưa có trường học, muốn học cấp hai phải xuống trường ở Hội An.”

Năm 1925, Hai Thứ được vào lớp đệ nhất niên trường Quốc học Huế. Đó là một trong những trường tư thục đầu tiên của Việt Nam dưới triều đình Huế, do Ngô Đình Khả, bố của Ngô Đình Diệm lập ra. Hai Thứ học chung trường với Võ Nguyên Giáp. Cũng năm ấy, cụ Phan Bội Châu bị Pháp bắt tại Thượng Hải giải về nước xử án chung thân. Học sinh sinh viên cả trường nhộn nhạo cả lên, phản đối đủ kiểu. Nhờ sự đấu tranh của nhân dân cả nước, thực dân Pháp chỉ giam lỏng ông ở Huế. Một hôm, Hai Thứ ngồi trong lớp nghe dạy về sử kí thì bà giáo người Pháp tên Lambert giảng rằng: “Tổ tiên chúng ta là người Gô-loa”. Hai Thứ giơ tay nói: “Xin lỗi, madam. Tổ tiên chúng tôi không phải người Gô-loa” làm cả lớp cười rộ lên.

Đến Tết năm 1926, Hai Thứ bị đuổi học. Ông Cửu Thứ bỏ việc nhà cấp tốc ra Huế tìm cách xin cho con học lại nhưng không được, vì Hai Thứ đã có tên trong sổ đen mật thám Pháp do thường lui tới chỗ cụ Phan Bội Châu ở gần chùa Từ Đàm. Cụ Phan hay ý nhị kể cho đám thanh niên những chuyện quốc gia hưng vong. Cùng năm ấy, cụ Phan Châu Trinh mất. Cả trường đi đưa đám, chính quyền Pháp không hài lòng nên đàn áp. Phong trào bãi khóa của học sinh trường Quốc học lan rộng đến các trường khác ở Huế.

“Ông papa bác Thành bị đuổi học, vậy thì...”

“Ước mơ của ông nội sụp đổ. Ngày xưa làm dân đen mà đi chiều lí trưởng đã mệt, ông tri huyện thì ‘to’ như ông trời. Ông tri phủ thì thôi còn ghê gớm hơn nữa. Mấy ông làm huyện làm phủ đó thường đã kinh qua thi cử quan trường rồi. Ông nào đỗ cử nhân mới được làm tri huyện, ông nào đỗ tiến sĩ mới được bổ nhiệm làm tri phủ, lớn hơn nữa thì có ông tổng đốc. Ở trong một tỉnh thì người ta chỉ biết ông tổng đốc thôi chứ chưa biết chức nào cao hơn.

Mỗi lần có việc gì đi xuống huyện, ông nội cũng trịnh trọng ghê lắm. Hồi đó vào hầu quan huyện thường chỉ là vấn đề đi kiện thôi, kiện tụng về đất đai. Ví dụ như là bị người ta chiếm đất đai, mình mua đất nhưng người ta cắm cọc không đúng chẳng hạn. Một người dân xuống huyện là phải coi ông tri huyện như ông trời vậy đó, đem theo mấy con gà con vịt, xách một giỏ đủ thứ làm quà. Tới nơi chỉ được ngồi ngoài nhà khách. Có anh lính lệ, mặc đồ lính, chân thì đi đất, đứng ngoài canh giữ, khi nào tri huyện gọi thì mới cho vào. Ông nội đi từ trên rừng trên quê xuống, thả ghe đi suốt một ngày, có khi phải ngủ ở ngoài quán, sáng vào hầu quan huyện. Thế nên ông tức lắm. ‘Được rồi. Tưởng tri huyện mà ghê hả? Tao đẻ ra thằng Phủ thằng Huyện cũng được.’ Ông nội dồn hết phương tiện cho con trưởng học Luật là để sau này ra làm quan huyện. Giờ mới tới lớp chín, Hai Thứ đã bị đuổi học, ước mơ của ông gần như tiêu tan. Nhưng ông nội không thối chí. ‘Ta phải cho con ta học trường tốt nhất Việt Nam luôn.’

Ông nội vác cây dù, đi đôi giày loẹt xoẹt từ Quảng Nam ra ngoài bắc, không rõ quan hệ thế nào nhưng mang theo một đống tiền, xin cho con học trường Lycée Albert Sarraut. Đó là trường Pháp lập ra dành riêng cho con em của quan Pháp, thương gia Pháp với con của một số quan lớn trong triều đình Việt Nam theo học. Ban đầu trường nằm trên quảng trường Ba Đình ngày nay, đối diện với Phủ Chủ tịch, giờ là trụ sở Bộ Chính trị đó.” Sau này, trường rời địa điểm tới gần Nhà Hát Lớn và là tiền thân trường Trung học phổ thông Trần Phú hiện nay. “Đó là trường số một Việt Nam thời đó và chỉ dạy bằng tiếng Pháp thôi. Ông nội chạy ngược xuôi, đút tiền chỗ này chỗ nọ nhưng vẫn còn một vấn đề, tên của Hai Thứ đã được liệt vào danh sách chống lại Chính phủ Pháp nên mấy ông quan không dám nhận. Ông nội về mới nói: ‘Thôi được rồi, tôi sẽ làm giấy khai sinh khác, tôi đổi tên cho nó.’ Từ đây Bùi Thứ mới đổi thành Bùi Kiến Tín. Từ trường cũ đến trường mới, lúc nào ông cũng học rất giỏi, lớp nào cũng đứng đầu, tệ lắm thì đứng nhì chứ không khi nào đứng tới thứ ba.”

Từ năm 1923 đến năm 1930, giá lúa rất cao, ngoài việc lo cho cậu con trưởng ăn học ngoài Hà Nội rất tốn kém, ông Cửu Thứ mua thêm cả trăm mẫu đất tốt, cấy lúa hai mùa đều trúng, và mấy nà bắp phù sa. Mỗi mùa lúa bắp đổ vào vựa căng đầy thêm tới nóc.

“Ông papa ở xa thì ông nội cũng sợ bị cô nào bắt mất, thế là đi hỏi vợ, mà phải kiếm nhà nào môn đăng hộ đối. Các cháu có nhớ khi nãy bác kể chuyện ‘Tiền Hương Đạo, gạo Quản Nghi’ không?”

“Dạ, ông Quản Nghi là cụ Bùi Thân đó ạ?”

“Ừ. Cái ông Quản Nghi ấy có tiếng là ruộng nhiều lắm, ‘cò bay thẳng cánh, chó chạy ngay đuôi’ à. Còn ông Hương Đạo ở Đại Lộc, họ Nguyễn, là người sinh ra ông cố ngoại của bác Thành đấy. Ông cố ngoại, tức là bố của ông ngoại bác Thành là ông Hương Yên, rồi tới ông ngoại là ông Nghè Liệu, Nguyễn Liệu. Vậy là con cháu Quản Nghi từ Trung Phước xuống Đại Lộc tìm con gái nhà Hương Đạo. Ông ngoại ở làng Quảng Huế, nhưng làm quan ngoài Huế. Ở nhà có mấy người con. Cậu hai là cậu Nguyễn Lạng thì cũng đi học ngoài Huế. Bà má bác Thành là cô ba Nguyễn Thị Hòa. Năm 1930, lúc ông nội tới hỏi thì cô ba có 15 tuổi, mà ông papa Bùi Thứ - Bùi Kiến Tín là 18 tuổi. Ông nội lo ông papa thả ra Hà Nội lỡ cô nào bắt mất thì mệt, nên phải đẻ cháu nội ở nhà rồi mới cho đi, kiểu vậy.” Bác Thành vừa kể vừa cười.

Nhà ông Hương Yên, cố ngoại của Bê ròm tại Quảng Huế - Đại Lộc - Quảng Nam

Năm 1931, xứ mình chịu ảnh hưởng dây chuyền của nạn khủng hoảng kinh tế thế giới. Một ang lúa trước kia bán 40 xu nay chỉ còn tám xu, mà một đồng bạc là 100 xu. Ông Cửu Thứ vẫn can đảm cho con ở nội trú trường Tây, mỗi tháng trả 70 đồng, trị giá cỡ 700.000 Việt Nam đồng năm 1975, bằng lương tri huyện hoặc bằng giá 1.000 ang lúa. Một năm học chín tháng tốn hết số lúa của mùa gặt chính trong những năm được mùa. Nghe bà con kể lại, cả gia đình ở quê lắm khi chỉ ăn cơm trộn với khoai với bắp để dành tiền gửi ra cho Bùi Kiến Tín đi học.

“Năm đó bà má 16 tuổi sinh con đầu lòng, là thằng cháu đích tôn, ban đầu ông papa đặt tên là Bùi Kiến Trí. Đến lúc làm khai sinh để thằng nhóc vào học lớp một, khi đó ông papa đang ở bên Pháp, thì ông nội đổi lại tên là Bùi Kiến Thành. Có nhiều người không hiểu, tưởng ý cái tên mình là kiến tạo nên cái bức thành trì. Có người lại cho ‘thành’ là thành đạt, thành công, làm việc gì cũng đạt được thành công. Nhưng người nào thông hiểu đạo Phật thì mới biết. Tên bác do ông nội đặt. Hai chữ Kiến và Thành trích từ cụm ‘Kiến tánh thành Phật’ trong Kinh Pháp Bảo Đàn[8] của Lục Tổ Huệ Năng. ‘Kiến’ là thấy, ‘tánh’ là chân tâm Phật tánh. Mình thấy rõ được chân tâm Phật tánh của mình như thế nào thì kể như mình thành Phật rồi. Các vị sư nghe chữ ‘Kiến Thành’ người ta cũng ngạc nhiên lắm.”

“Như vậy, năm sinh chính xác của bác là 1931?”

“Đúng rồi. Các cháu đọc trên một số trang mạng, người ta viết bác Thành sinh năm 1932 là không đúng. Chiến tranh giặc giã bị mất mấy năm học rồi mới đi học lại, đã trễ mà lại còn mất hết giấy tờ nên mình cũng ngại, sợ quá tuổi thi nên đến năm 1945 làm lại thì mới khai là 1932.”

❀ ❀ ❀

[1] Thơ “Công chúa Huyền Trân” của Hoàng Cao Khải.

[2] Luật Hồng Đức: Tên gọi thông dụng của Bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ.

[3] Những người có công quy dân lập làng/ấp.

[4] Thước tức là mét.

[5] Tại miền Trung, 1 mẫu = 4.970 mét vuông. Ở đây theo cách tính ở miền Trung nên bốn mẫu gần bằng 20.000 mét vuông.

[6] Theo Bảo Phước lưu tập - Gia phả của ông bà Bùi Biên (ông Cửu Thứ).

[7] Bùi Kiến Thành thường gọi cha mình là ông papa.

[8] “Xét rõ, chỗ đắc pháp của đức Thích Ca Phật Tổ và chỗ ngài nói pháp huyền diệu, quyết chẳng ngoài phép Thiền Định và trí huệ (Bát Nhã) mà thoát khỏi khổ ách phiền não trần lao, đặng nhứt thiết chủng trí (Chơn Trí) chứng quả Vô Thượng Chánh Chơn Giác tức là Niết Bàn. Dù ngài có nói ra muôn vàn phương tiện pháp môn, cũng chú ý về pháp vi diệu ấy mà thôi. Thiền Định và Trí Huệ tức là con đường dẫn đến mục đích kiến tánh thành Phật vậy. Ấy là phép tu Tối Thượng Nhứt Thừa của các bực Thắng sĩ và các bực Bồ Tát.” (Trích Kinh Pháp Bảo Đàn - Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Trực)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.