Thỉnh thoảng tôi đi xe máy đến đón, bác Thành vất vả trèo lên yên xe. Yên xe hơi cao mà chân bác thì không còn khỏe. Lần nào leo lên xong, bác cũng bảo: “Xe này đúng là cho thanh niên” khiến tôi áy náy lắm. Chúng tôi lướt qua những con đường, lướt qua những dòng người, bao nhiêu gương mặt.
Tôi hỏi:
“Trong những nơi bác từng sống, bác thích nơi nào nhất?”
“Khó nói lắm, mỗi nơi có một nét riêng.”
“Thời gian này bác ở Hà Nội nhiều để làm việc ạ?”
“Ừ, bác ở đây tiện cho công việc hơn. Chứ ở Hà Nội có những thứ không thoải mái. Nhiều cái hư rồi, con người cũng hư rồi, bon chen, lộn xộn, không giống với Hà Nội thời 20 năm trước, càng khác xa với Hà Nội của lần đầu tiên bác đặt chân ra...”
“Bác ra Hà Nội lần đầu là khi nào ạ?”
“Đó là... sau một loạt biến cố gia đình...”
Năm 1935, bà nội Bùi Kiến Thành ốm rất nặng nên thân nhân khuyên nhủ, sắp xếp để ông nội cưới người em gái áp út của bà nội làm kế thất. Tháng 1 năm 1937, bà nội mất. Năm 1938, ông papa từ bên Pháp về. Một hôm, ông ngoại tổ chức đám cưới cho cậu Hai Nguyễn Lạng với con gái ông bà Bát Tiếu thì xảy ra sự cố. Một toán cướp vào nhà bắn ông ngoại chết, cậu Hai gãy chân. Bác Thành hơi cụp mắt xuống khi nhắc chuyện buồn.
“Ông Bùi Kiến Tín về nước có một năm thôi. Bác được gặp bố, dắt tay nhau đi, vui lắm, thích lắm! Anh em trong họ họp nhau lại, dẫn nhau đi chơi, thăm họ Bùi từ làng này, huyện nọ, huyện kia. Bên ông nội đẻ nhiều con lắm, Bùi Thứ đứng đầu, cô Ba mất sớm, chú Phú là thứ tư, chú Năm là chú Thạnh. Cô Sáu, cô Bảy thì cũng chết sớm. Tám là cô Tám này, rồi chú Chín, cô Mười, chú Mười Một, cô Mười Hai. Sau một thời gian, ông papa dẫn bác Thành cùng chú Năm, chú Chín, cô Mười, chú Mười Một ra ngoài Hà Nội để đi chơi và xin học. Bác được đăng kí vào trường École Saint-Pierre. Nhưng mà đâu học được nhiều, được mấy tháng ông lại dẫn đi Đà Lạt vì ông chú Năm Thạnh thích lên Đà Lạt học hơn Hà Nội.”

Ảnh gia đình Bê ròm chụp tại Hà Nội
“Hà Nội thời đó thế nào hả bác?”
“Ở Hà Nội có mấy tháng nhưng mình nhớ kĩ lắm. Đi học thì mặc đồ Tây, quần sọoc, mang vớ dài, đi giày bốt. Hồi đó mình ở cái nhà gần cổng xe lửa trên đường Nguyễn Thái Học bây giờ, số nhà 103 thì phải. Cách đây 20 năm, khi về Hà Nội thì cái nhà mình ở vẫn còn nguyên vẹn, bây giờ chỗ đó xây dựng thêm nhiều công trình khác. Kế bên là nhà một người bạn của ông papa, sau này cũng làm bác sĩ. Gia đình ông này có cái nhà in Trung Bắc Tân Văn, in sách rất nhiều. Hàng ngày bác chạy qua bên nhà in lục sách ra đọc. Nhiều sách lắm, ham lắm, sách gì cầm được cũng đọc. Trong đó, bác thấy cả chồng tạp chí Tứ Dân Văn Uyển có bao nhiêu thơ văn của các anh tài: Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh... Hồi đó mình đã bắt đầu thích thơ rồi. Ngâm thơ nhiều kiểu lắm, ngâm thơ của mình là tùy theo linh hồn bài thơ. Mỗi bài thơ phải có một âm thanh đặc biệt. Mình đọc những bài thơ mà đến bây giờ vẫn còn nhớ, ví dụ bài thơ ngụ ngôn ‘Gạch và ngói’ của Nam Hương nhé:
Gạch hỏi ngói: Đôi ta dù khác,
Mà giống nòi chất phác như nhau;
Cớ sao bất cứ đâu đâu,
Các cô cũng ở trên đầu chúng tôi?
Hay trần thế lắm người tây vị,
Khiến đôi mình kẻ quý người khinh.
Ngói rằng: Anh chửa thấu tình,
Hai ta mỗi đứa một hình trời cho.
Anh lực lưỡng, việc to gánh vác,
Xây bức tường nhà gác nguy nga.
Mong manh như thể đàn bà,
Che mưa đỡ nắng ấy là phận tôi.
Lại có truyện thơ hay, có hình ảnh lạ, chẳng hạn ‘Người săn phượng hoàng’:
Ngày xưa có bác đi săn
Leo lên núi đá định ăn phượng hoàng;
Đi vừa đến chỗ rừng hoang,
Tiếng chim sở ước kêu vang bên mình.
Anh ta nhìn khắp chung quanh,
Thấy con vật quý đỗ cành cây thông,
Đã toan lấy thế giương cung,
Thấy chim đang ngủ giấc nồng lại thôi
Chim kia mới nói ra lời:
Hỡi người tráng sĩ nghe tôi bảo này:
Xét trong tất cả đời nay,
Khó lòng gặp được một tay như chàng!
Thật là can đảm giỏi giang,
Mới không thèm bắt phượng hoàng ngủ quên!...
Chuyện còn dài lắm. Văn xuôi cũng có nhiều cái hay. Trong Quốc văn Giáo khoa thư có truyện tên là ‘Kẻ ở người đi’, mấy đứa nghe nha:
Cơm nước xong rồi, thầy mẹ tôi, anh em, chị em tôi, cả đến kẻ ăn người ở trong nhà, đều tiễn tôi ra tận bờ sông, chỗ thuyền đậu.
Vừa ra khỏi nhà, thì trong lòng tôi tự nhiên sinh ra buồn rầu vô cùng. Từ thuở bé đến giờ, chỉ quen vui thú ở nhà, nay tôi mới biết cái cảnh biệt ly là một! Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại: Từ cái mái nhà, cái thềm nhà, cái lối đi, cho đến bụi cây, đám cỏ, cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường!
Thuyền nhổ sào, ai nấy đều chúc cho tôi được thuận buồm xuôi gió, bình yên khỏe mạnh. Thuyền đi đã xa, mà tôi còn đứng nhìn trở lại, nhìn mãi cho đến lúc không trông thấy nhà nữa mới thôi. Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!”
Bùi Kiến Thành mỗi lần đọc thi ca thì ánh mắt long lanh, chữ nghĩa trong đầu tuôn như nước chảy, giọng diễn cảm như bay theo con chữ. Nhiều đoạn văn xuôi đến giờ ông vẫn còn đọc làu làu. Tôi có tra cứu lại văn bản ở thư viện và trên mạng thì thấy một vài điểm sai khác, có thể là nhầm lẫn trí nhớ sau khoảng thời gian dài hoặc các tác phẩm ấy có những dị bản khác nhau. Chúng tôi rất thích nhìn ông lúc ông đắm mình vào những con chữ, có cảm giác ông kéo mọi người bay theo.
Ngưng một lát, nhấp ngụm trà, ông kể tiếp. Vào Đà Lạt, ông papa đăng kí cho cả nhà học trường Lycée Yersin[1]. Ông Docteur Yersin chính là người khai phá, xây dựng nên thành phố Đà Lạt. Hồi đó ông ấy vẫn còn sống. Bùi Kiến Tín tìm ông ấy nói chuyện và gửi gắm mấy đứa nhỏ. Chú Năm Thạnh sinh năm 1917, lớn hơn Bùi Kiến Thành khá nhiều. Học một thời gian ở Đà Lạt thì chú lại chán, bỏ dở giữa chừng. Thế là Bùi Kiến Thành phải trở lại Quảng Nam. Tháng 2 năm 1939, ông papa trở lại Pháp trình luận án y khoa, ông nội bất kể phí tổn, lại cho chú Bùi Thạnh đi theo. Hai anh em mua vé tàu thủy hạng chót từ Sài Gòn đến Marseille. Tháng chín năm đó, chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra làm hai anh em kẹt lại Pháp. Năm 1940, Bùi Kiến Tín đậu bác sĩ. Sang năm 1941, ông hồi hương trên một chiếc tàu thủy nhỏ, từ Marseille đi vòng quanh Nam Phi mất 75 ngày mới về tới Sài Gòn. Bùi Thạnh ở lại Pháp mãi đến năm 1958. Kể từ lúc này, Bùi Kiến Tín được gọi là “Bác sĩ Tín”, hay “Đốc Tín” thay vì “Tú Tín”.
Trong thời gian papa chưa về, Bùi Kiến Thành đi học trên quê một thời gian rồi ông nội cho cậu bé Thành cùng các chú xuống Hội An ở trọ tại gia đình ông Tống Quyền. Ông này làm công chức của nhà nước Pháp, phòng của ông ấy gần như là công sứ của Pháp tại Hội An, còn em trai ông là Tống Khuyến làm giám học, như là hiệu trưởng một trường. Bà Khuyến cũng là giáo viên của một trường nữ sinh.
Bác sĩ Tín trở về, thưa với cha cho vào Quy Nhơn lập nghiệp, rồi dẫn theo cả Bùi Kiến Thành với chú Chín, cô Mười, chú Mười Một vào đó xin học. Ngay trong năm 1941, Bùi Kiến Thành học xong tiểu học ở Quy Nhơn rồi ra Huế học ở trường đạo Providence, do đức cha Ngô Đình Thục sáng lập, dạy tiếng Tây và tiếng Latinh chứ không dạy tiếng Việt. Nhưng cũng không được lâu, chưa đầy một năm, tới năm 1942 thì Mĩ đánh nhau với Nhật, cho máy bay thả bom. “Mỹ thả bom ở Đà Nẵng, học sinh người ở người về. Mình ở nội trú một mình buồn lắm, nhớ nhà, xin về ông papa không cho, bắt ở lại học nên mình trốn về thôi. Bác ở Quy Nhơn từ năm 1942 đến năm 1944 thì chuyển vào Chợ Lớn, ở Chợ Lớn đến năm 1945 thì đánh giặc, sơ tán vào trong quê, tới năm 1946 mới trở lại. Suốt thời kì giặc giã, bác hầu như không học gì nữa. Khi nào trong nhà thuốc có gì làm thì mình cũng xắn tay áo mình làm, dán nhãn thuốc rồi đóng hộp..., hay cần dùng cái gì, đi mua đinh, búa, đi làm những chuyện lặt vặt thôi chứ không có đi học.”
“Nhà thuốc này là của phòng khám bác sĩ Tín đúng không ạ?”
“Không. Ông ấy không mở phòng khám mà chỉ sản xuất thuốc.”
Điều này khiến tôi ngạc nhiên. Một người quyết tâm sang tận Pháp học ngành y, rồi sau khi khó khăn lặn lội về quê nhà với cái danh “bác sĩ Tín” lại không hành nghề bác sĩ ư? Vậy, nguyên do là vì đâu?
❀ ❀ ❀
[1] Nay là trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt. Đây là một trong những ngôi trường đẹp nhất Việt Nam, tiêu biểu cho kiến trúc cổ điển Pháp.