Ngày 15 tháng Mười một năm 1997, trong phòng nghỉ của phi hành đoàn cảng hàng không Ferihegy II, cơ trưởng phổ biến những số liệu thường lệ của chuyến bay, tình hình diễn biến thời tiết, số lượng hành khách, cũng như tình trạng air-cargo, sau đó thông báo tóm tắt rằng khả năng họ sẽ có một chuyến bay ổn định, không có sự cố, chiếc BOEING 767 lắp hai động cơ CF6-80C2, cự ly bay tối đa 12 700 km, chứa 91 378 lít nhiên liệu, sải cánh 47,57 m và nặng 175,5 tấn - mang số chuyến bay MA 090 - với 127 hành khách hạng thông thường và 12 khách VIP trên khoang đã khởi hành ra đường băng, sau thời gian lăn bánh trung bình đã cất cánh lúc 11 giờ 56 phút ở tốc độ 280 kmh: lúc 12 giờ 40 phút ở gần Graz nó sẽ đạt độ cao 9 800 m, và ở điều kiện không gian bình thường trong gió nhẹ hướng Tây-Tây Bắc ngược chiều, nó sẽ bay theo đường Stuttgart-Brussels-Belfast qua Đại Tây Dương, nơi nó sẽ vào vị trí tọa độ cho trước, trong 4 giờ 20 phút nó sẽ tới điểm kiểm tra Nam Greenland, từ đó trở đi, kém bốn phút đầy một tiếng trước khi tới đích, nó bắt đầu hạ độ cao, đầu tiên giảm 800 m so với độ cao hiện có, sau đó khi trung tâm New Founland tiếp nhận việc điều hành, nó tiếp tục giảm dần tốc độ từ 4.200 m, để cuối cùng theo chỉ dẫn của Air Control địa phận New York, theo đúng lịch trình bay, nó hạ cánh xuống Tân Thế giới trên đường băng 36 trái của phi trường John Fitzgerald đúng 14 giờ 25 phút giờ Hoa Kỳ.
2.
Oh, yes, yes, Korin thân thiện gật đầu với nhân viên người da đen của Immigration Office[1], câu hỏi được nhắc đi nhắc lại với vẻ mỗi lúc một khó chịu hơn, khi gã vô ích đưa trình các thứ giấy, rồi như gật gật đầu, rồi yes và yes, gã dang rộng hai tay, lắc lắc đầu nói: - Nekem te hiába beszélsz, én nem értek ebből egy szót sem[2], no understand.
3.
Căn phòng người ta dẫn gã tới qua một hành lang dài chật hẹp gợi nhớ đến một toa xe chở ngũ cốc hơn cả, các bức tường phủ một lớp thép màu xám, không có cửa sổ, cửa ra vào thì chỉ có thể mở từ bên ngoài, đúng là nó giống như một toa xe không chở gì, sau này Korin kể, vì có hai điều, gã nói, một thứ mùi gì đó không thể nhầm lẫn được và sự rung nhè nhẹ dưới sàn nhà, vì thế sau khi họ đóng cửa bỏ lại gã trong đó, đúng là gã cảm thấy mình rơi vào một cái toa xe khốn khổ, một toa hàng kiểu Mỹ, nhưng vẫn là toa hàng, vừa bước vào mùi ngũ cốc đã ập xuống gã, và gã cảm thấy ngay sàn nhà dưới chân gã rung lên, không thể lẫn cái mùi này với thứ gì khác, gã đã ngửi quá đủ trên đường đến Budapest, còn về sự rung thì gã cũng không thể nghĩ đó là ảo giác do ánh sáng đèn nê ông, vì nó không chỉ thoáng qua, mà thấy rõ dưới gót chân gã, thậm chí khi vô tình chạm vào tường gã cảm thấy ngay cả bức tường cũng rung, cứ thử tưởng tượng xem con người ta cảm thấy thế nào trong một cái buồng như thế, gã nói, và gã đã cảm thấy đúng như thế, gã chẳng hiểu cái cóc khô gì hết về chuyện xảy đến, họ muốn gì ở gã, họ hỏi gã điều gì, và xét cho cùng đây là cái trò gì vậy, gã lôi ra cuốn sổ nhỏ trong đó gã đã ghi những từ quan trọng nhất từ lúc còn ngồi trên máy bay, cuốn từ điển bỏ túi nằm trong túi gã không ổn, nó chẳng giúp được gì, nếu gã muốn nói chuyện với một ai đó, dùng nó quá bất tiện, quá chậm, quá rắc rối, phải lật giở để tìm từ quá nhiều, hơn nữa cuốn từ điển bỏ túi của gã mỗi lần gã dùng ngón tay để lật trang, ở ba bốn chỗ, bao giờ cũng bị lệch khỏi chỗ gã định tìm, hoặc là vì nó bị dính ở chỗ chữ cái cần tìm, và thế là tới luôn chữ cái tiếp theo, hoặc là vì trong lúc lật tìm, nghĩ rằng thể nào nó cũng chạy quá lên trước, gã cố gắng giảm tốc độ chạy của các trang giấy, dĩ nhiên là do chính sự thận trọng căng thẳng này mà gã đã nhảy qua chữ cái cần tìm, và phải bắt đầu lại từ đầu, khi đó phải cầm cuốn từ điển theo cách khác để lật tìm từng trang một, tóm lại cách làm như thế khiến công việc rất chậm, vì thế mà gã chuyển sang giải pháp cuốn sổ: viết tất cả những từ được cho là quan trọng nhất, tìm ra một quy tắc thuận lợi để tăng tốc độ lật giở các trang, và gã đã tìm ra, gã đã làm xong trong thời gian chuyến bay dài, lúc này gã lại phải lôi nó ra nếu gã không muốn bị lôi thôi, gã phải lôi nó ra vì một câu tiếng Anh, và phải nghĩ ra một điều gì đó, một giải pháp nào đó để sự hân hoan trong đầu gã không mất đi, vì gã đang ở đây, gã đã tới đây, như cách gã nói, gã đã làm được điều không thể, vì thế mà phải đẻ ra một câu tiếng Anh có thể hiểu được, để người ta hiểu rõ gã là ai và gã muốn gì, hơn nữa một câu chỉ nói về tương lai - gã quyết định thế, chỉ và chỉ nói về tương lai, gã tự nhủ, như sau này gã kể lại, gã phải loại bỏ mọi thứ có thể gây tác hại cho tâm trạng phấn khích, dù thế nào gã cũng không thể tự lừa dối bản thân: ngoài sự phấn khích đúng là gã có chút buồn, có điều khiến gã đau đớn, khi gã bước ra khỏi máy bay và thử nhìn về hướng Hungary, gã thấy nhói đau vì từ đây gã không nhìn thấy nước Hung nữa, vì dù gã đã tới đây, gã đang hiện diện ở đây, và lúc này không kẻ săn đuổi nào có thể tóm được gã nữa, và gã, một cái chấm nhỏ trong vũ trụ khổng lồ, một sử gia địa phương vô danh tiểu tốt từ xó xỉnh của một phòng lưu trữ bụi bặm cách Budapest hai trăm cây số: gã đang ở Nước-Mỹ! và không lâu nữa gã sẽ bắt đầu Kế Hoạch Vĩ Đại, tóm lại là ngoài cảm giác hân hoan sung sướng, khi cùng các hành khách khác bước xuống cầu thang máy bay, và - trong khi những người khác tranh nhau leo lên xe buýt - gã quay nhìn lại dải đường băng bê tông trong cơn gió thổi mạnh, thế là hết, với việc tới đích may mắn gã đã cắt đứt mọi sợi dây liên hệ, không còn quá khứ, không còn nước Hung nữa, thậm chí gã đã nói thành tiếng khi các nhân viên hàng không giục gã nhanh lên xe buýt, và lần cuối cùng gã nhìn về hướng mà gã nghĩ là hướng của nước Hung, đối với gã nước Hung đã mất vĩnh viễn.
4.
Thằng cha đó không có vấn đề gì đâu, nhân viên an ninh sân bay được giao phụ trách người nhập cư Đông Âu báo cáo với cấp trên, đơn giản chỉ là gã không mang theo hành lý, một chiếc cặp nhỏ cũng không, theo như lời khai của gã và sau khi người phiên dịch có xem xét thì chỉ có một cảo bản viết tay được khâu kín trong vạt áo khoác, và cũng ở chỗ đó có một chiếc phong bì đựng tiền, chứ không hề có một cái túi nhỏ, hay ba lô, hay bất cứ thứ gì hết, chính vì thế mà họ thấy băn khoăn, nói tiếp đi, Andrew, cấp trên của anh ta gật đầu, có thể gã có hành lý nhưng đã mất, vậy thì hiện tại nó ở đâu, nghĩa là cần phải kiểm tra xem, và họ cũng đã kiểm tra, hơn nữa rất cẩn thận đúng theo các quy định, với sự giúp đỡ của một phiên dịch tiếng Hung, nhưng không thấy gã có gì đáng ngờ, thằng cha thực chất là vô hại và có vẻ đúng là gã không mang theo hành lý, nên theo anh ta, nhân viên an ninh nói, có thể cho gã vào: gã có tiền, một khoản tiền mặt lớn, đối với người Đông Âu người ta không kiểm tra xem có thẻ tín dụng hay không, hộ chiếu, thị thực của gã đều hợp lệ, ngoài ra gã có danh thiếp một khách sạn ở New York City, nơi gã muốn đến ở, việc đó sẽ được kiểm tra trong vòng hai mươi bốn tiếng tới, và khi đó vụ việc có thể được khép lại, vì theo ý kiến cá nhân, cứ nói đi Andrew, sếp của anh ta khích lệ, thế là đủ, thằng cha ấy chắc chỉ là một người vô hại, bình thường, một nhà khoa học đãng trí, có thể khâu cái gì mà hắn ta muốn vào chỗ hắn ta muốn, ngay cả vào hậu môn hắn nữa, nhân viên an ninh cười khoe hàm răng trắng, nghĩa là anh ta đề nghị để cho gã yên, hãy cho gã vào, rồi muốn đi đâu mặc xác gã, OK Andrew, bớt một sự phiền hà, cấp trên của tay nhân viên an ninh nói, sau câu nói đó nửa tiếng Korin lại được tự do, dù thật ra tới lúc đó gã cũng chẳng bận tâm để ý là mình không tự do, vì gã không lưu tâm đến điều này, càng không phải vào lúc này, khi gã nhận ra tay phiên dịch bắt đầu để ý xem gã nói gì, mà gã muốn nói cho hết câu chuyện gã đã bắt đầu, để họ biết: có thể, sau này, vào một lúc nào đó, nếu gã đạt được mục đích, đến cả Hợp chúng quốc Hoa Kỳ có khi cũng sẽ tự hào về gã, vì Kế Hoạch Vĩ Đại đã biến thành hiện thực ở chính nơi đây - không, tay phiên dịch mỉm cười ngăn gã lại và vuốt dọc mái tóc rẽ ngôi giữa, trắng như tuyết dính trên hộp sọ của anh ta, anh ta bảo dù câu chuyện rất dễ thương, nhưng lúc này không có thời gian, Korin phải hiểu điều đó, nghe nói vậy Korin bảo, gã rất hiểu điều đó, và gã không làm mất thời gian của anh ta nữa, chỉ xin nói thêm rằng, một là, gã nói, trong trường hợp của gã, đây là một sự sắp đặt một điều gì đó cực kỳ đẹp đẽ vào cõi thiên thu, nghĩa là việc gã đến đây, gã biết diễn đạt thế nào nhỉ, còn vô hại hơn một con bướm bay qua thành phố, đấy là, gã nói thêm, nhìn theo khía cạnh đối với thành phố, và hai là, gã nói, xin cảm ơn, ít nhất hãy cho phép gã trong tình cảnh bấn loạn này cảm ơn sự giúp đỡ của người phiên dịch, và bây giờ thì gã không làm phiền anh ta thêm nữa, vì gã chỉ muốn có thế, cảm ơn và cảm ơn, hay như ở đây người ta nói, Korin liếc vào cuốn sổ, thanks, many thanks, mister.
5.
Hắn đã đưa danh thiếp của mình cho gã, sau này người phiên dịch bực mình kể lại, và giận dữ quay lưng lại với cô người tình đang lo sợ của hắn trên giường, nhưng chỉ với mục đích để tống khứ gã đi, vì không thể có cách nào khác, thằng cha ấy cứ huyên thuyên mãi, hắn thì nói với gã, được rồi, anh bạn, bây giờ đúng là không có thời gian đâu, số phone của tôi đây, khi nào đó hãy gọi cho tôi, hiểu chưa?! tất cả chỉ có thế, không có gì hơn, có chuyện gì đâu, hắn đã đưa cái danh thiếp cho gã, chỉ là một cử chỉ xã giao, một cái danh thiếp bẩn thỉu, người ta vung vãi như thế khắp nơi như người nông dân vãi hạt, thế thôi, người phiên dịch lắc đầu thất vọng, với hắn thế là hết, hỏng hết, chẳng được một việc gì hết, không có thời gian để làm một việc gì hết, sau gần bốn năm đến Mỹ, chỉ có đống cứt, cứt, cứt, cứt, cứt, cứt, cứt này thôi, hắn đấm chiếc gối, một chỗ làm cứt đái ở Immigration Office, và hắn lại còn phải mang ơn chúng đã nhận hắn vào làm hợp đồng, hắn phải biết ơn chúng nó vì cái cục cứt ấy, nhưng bây giờ thì đằng nào cũng vậy, chúng đã đuổi hắn chỉ trong tích tắc, trơn tru, nhẹ nhõm đến mức chỉ sau khi đã ra khỏi tòa nhà hắn mới ý thức được rằng, đúng ra chỉ vì một cái danh thiếp khốn nạn, nhưng kẻ nào rơi vào giữa bọn cớm là thế, làm thông ngôn cho một cơ quan bẩn thỉu như thế, giữa bọn đểu cáng và súc sinh, thì kết cục sẽ tương tự vậy thôi, bị đá đít trong một chớp mắt thối tha, vì chúng là bọn đểu cáng và đểu cáng, và súc sinh, đúng là đồ súc sinh tăm tối nhất, bọn súc sinh kiểm tra hộ chiếu, bọn hải quan, bọn an ninh và lũ chúng nó, tất cả đều là một lũ súc sinh, người phiên dịch bắt đầu gật gật đầu như phát cuồng, và tất cả đều đểu cáng, đểu cáng và bất lương; cảm ơn ông, Mister Sárváry, chúng nói, ông biết đấy, ở đây điều này là một vi phạm nghiêm trọng, chủ động kiến tạo hay chấp nhận quan hệ cá nhân, đó là quy định vv, vv... cục cứt! hắn nói gần như khóc vì tức giận, cái đồ súc sinh ấy gọi hắn là Sárváry, lúc nào nó cũng gọi hắn thế, dù nó biết chính xác tên hắn là Sharvary, con đĩ mẹ nó, đồ thú vật, hắn biết làm gì với một con vật, mọi chuyện sẽ không bao giờ kết thúc, hắn vùi đầu vào gối, đơn giản là hắn không thể quen với cường độ bẩn thỉu này, hắn là thi sĩ, hắn bất ngờ gào lên với người tình, hắn là một thi sĩ và nghệ sĩ video, chứ không phải là thông ngôn, có thể hiểu nổi không?! bọn chúng chỉ đáng chùi đít cho hắn, những đứa như cái thằng nigger bẩn thỉu này, bọn chúng là cái thá gì so với hắn, vì cô có nghĩ rằng, hắn cúi xuống mặt cô người tình, cô có nghĩ rằng liệu có, dù chỉ một đứa nào trong bọn chúng đoán biết được hắn là ai?! cô nghĩ thế thật ư?! nếu thế thì cô hãy lại gần một đứa như thế, và nhìn cho kỹ xem, cô sẽ thấy chúng đều là bọn súc sinh, hay đểu cáng, giọng hắn nghẹn đi, và hắn lại quay đi, hắn vật mình xuống gối, rồi hắn lại quay về phía cô tình nhân, hắn thì dĩ nhiên là đã đem hết khả năng của mình giúp cho con bò ấy, con bò đần độn ấy, vì hắn là một thằng ngốc, một thằng ngu xuẩn nhất trên cả cái lục địa nhơ nhuốc này, vì sao hắn phải giúp, ai yêu cầu hắn, có thằng chó đẻ nào trả hắn thêm một xu, vì gã đã thử giúp bọn súc sinh vô dụng ấy, chẳng hạn như giúp thằng cha bất hạnh kia, theo hắn có khi gã vẫn còn đứng đó, với tấm danh thiếp cứt đái trên tay, thay vì nhét nó vào hậu môn rồi lủi đi cho khuất mắt, hắn dám cược là gã kia vẫn đứng đó như trời trồng, hai chân gắn chặt xuống đất, với vẻ mặt ngây thộn như mặt bò cái, vì gã chẳng biết baggage là cái cóc khô gì, gã không biết, dù hắn đã giải thích cho gã, nhưng gã cứ đứng đó, hắn gần như nhìn thấy gã trước mặt mình, như một kẻ vừa bĩnh ra quần và không được ai chùi đít cho, đúng như thế, em đừng giận, tay phiên dịch hạ giọng, đừng giận vì anh đã để mất sự tự chủ và mất cả việc làm, mà vì cái gì chứ, em yêu, vì một thằng đểu cáng, cả bọn chúng đều thế, đúng thế, tất cả, tất tật, không trừ một thằng nào!
6.
Phải chú ý chữ Exit, Korin tự nhắc mình thành lời, chỉ chú ý nhìn Exit, đi về phía chỗ nào có chữ Exit, chỗ khác thì tránh, nếu không sẽ lạc, Exit, đây rồi, đi thẳng, gã không làm phiền ai, vì chẳng ma nào để ý xem gã tự nói với mình, mà ở đây có tới vài ngàn người cũng làm đúng như gã, cũng loạng choạng đi về phía này phía nọ, cũng dán mắt vào những tấm biển chỉ dẫn, rồi quay sang trái, rồi đứng lại, rồi quay lui, rồi quay phải, dừng và quay lại, cuối cùng là tiến và tiến về phía trước, rồi lại dừng, cũng đúng như Korin, nhìn chữ Exit và chỉ nhìn nó, lấy Exit làm chuẩn và không để mất nó, và chú ý, rất chú ý, không sao nhãng, vì trong dòng người kinh khủng này chỉ cần sao nhãng một tích tắc là xong, là hết, là kết thúc, không bao giờ còn có thể tìm được đúng đường, và không được lưỡng lự, gã tự nhủ, cứ đi theo các hành lang và các bậc cầu thang, và đừng để ý tới các cửa bên cạnh hành lang và bậc cầu thang, đừng cả nhìn vào chúng, nếu có nhìn thì cứ đi lướt qua những cửa ngách ấy, bỏ qua sự mời gọi của chữ Exit viết bằng kiểu chữ khác trên một vài cánh cửa, bỏ qua tất cả những thứ đó, không quan tâm tới các cửa ngách ở hai bên, đúng như gã đã bỏ qua và đi lướt qua bên chúng, đúng thế, sau này gã kể, như một mê lộ rối loạn, gã thấy thế, nhưng không chỉ như một mê lộ, mà còn là nhịp bước rối loạn, một ai đó đã khởi xướng một tốc độ ghê người cho đám đông, thế là phải quyết định nhanh, và đó là việc khó nhất, trong một khoảnh khắc phải lựa chọn giữa hai hướng đi có thể, vì trong khi đi dọc các hành lang và các bậc cầu thang thỉnh thoảng lại đến một điểm như vậy, nơi lẽ ra ta đi tiếp, nhưng một dấu hiệu gây lưỡng lự nào đó buộc ta phải dừng lại, một điều gì đó khiến ta phân vân, một dòng chữ mập mờ ở một nơi khiến ta lúng túng, và ở những chỗ này trong nháy mắt ta phải quyết định phải đi về đâu, đâu là cái hướng đúng khốn khổ mà ta phải đi, hướng này hay hướng kia, không thể biết liệu hướng đi đã thay đổi, nghĩa là phải quyết định trong thời gian eo hẹp, thúc bách, phải tìm và phải tiến phía trước, không dừng lại, thậm chí với ý thức chắc chắn về sự bất khả thi hoàn toàn của ý nghĩ là mình sẽ dừng lại, vì bằng cách nào đó sự dừng lại là khả năng có thể đã bị loại trừ tuyệt đối, như thể tất cả bọn họ đã được khắc ghi một điều rằng Cổng phía ngoài sắp đóng, phải gấp lên, phải lao nhanh hết sức, không dừng lại, đi và tìm và lao về phía Exit, đó là điểm thứ hai, Korin nói, đó chính là sự mù mờ toàn diện nhất, vì không thể biết phải hiểu ra phía ngoài nghĩa là thế nào, ví dụ như đối với gã ra ngoài là thoát khỏi tòa nhà ra ngoài trời, tới một chiếc xe buýt sẽ chở gã về thành phố, hoặc một chiếc taxi, nếu không quá đắt, rồi gã sẽ xét sau, nhưng liệu có phải tưởng tượng vụ ra ngoài như vậy không, ở bên ngoài và tự do, thì gã cũng chẳng có khái niệm gì hết, gã cứ đi tiếp mỗi lúc một phấp phỏng thêm, như sau này gã nói, phấp phỏng vì không chắc những hành lang và bậc cầu thang gã đang đi có đúng hướng hay không, và gã đã rất hốt hoảng, gã nói, khi bỗng nhận ra lối đi bắt đầu trượt khỏi bàn chân gã, và gã thoáng nghĩ có khi gã đã đi nhầm hướng từ lâu, khi đó gã hốt hoảng thực sự, đến nỗi không thể suy nghĩ được nữa, và gã cũng chẳng suy nghĩ gì hết, gã làm theo sự mách bảo của bản năng, gã đi theo đám đông, chấp nhận đó là hướng đi đúng, tự đi theo, cùng tốc độ với đám đông, và xô đẩy theo họ như một chiếc lá trong đám lá, hãy để gã diễn đạt theo cách nói lỗi thời, gã nói, như một chiếc lá trong dông bão, và gần như không nhìn thấy gì xung quanh, tất cả quanh gã diễn ra quá nhanh, quá náo nhiệt, quá hấp tấp và ồn ào và khó nhọc, và giữa chừng chỉ có một điều rõ ràng đối với gã: tất cả quá khác so với những gì gã đã mường tượng, và do đó một nỗi sợ hãi ghê gớm xâm chiếm gã, gã kể, nỗi sợ hãi trên mảnh đất tự do, sự kinh hoàng trong trạng thái hứng khởi, tất cả cùng đổ ập xuống gã, để gã hiểu ra, nhận thức ra, nhìn thấu được, và để gã thử đoán ra, nhưng chỉ có những hành lang và bậc cầu thang nối tiếp nhau mãi, còn gã, cùng với những người kia, cứ nhắc đi nhắc lại, trong mớ âm thanh hỗn độn của tiếng nói, tiếng khóc, tiếng la hét và tiếng cười hoang dã nào đó, và thỉnh thoảng trong tiếng ầm ầm như đợt sóng lướt qua, rằng Exit, đúng, về phía đằng kia, thẳng tiến.
7.
Trước lối vào mở rộng dần ra của phòng đón khách đến, ở bốn góc của một hình chữ nhật chừng hai nhân hai mét, bốn người lính gác có vẻ đã được huấn luyện cho những nhiệm vụ đặc biệt, đội mũ sắt, mặc đồng phục đen, trang bị vũ khí cầm tay, bình xịt gas, dùi cui cao su và ai mà biết còn gì gì nữa, đứng bất động, chỉ một người trong số họ cũng cùng lúc nhìn ra ba mươi hai hướng: bốn người lính gác oai vệ đứng hơi giạng chân và vòng dây đỏ quây quanh thành hình vuông khoảng bốn mét vuông ngăn không cho đám đông đến gần, đó là điều duy nhất có thể nhìn thấy của hệ thống an ninh tuyệt hảo tiếp đón dòng người cuồn cuộn đổ tới trong những giây phút đầu tiên, tất cả chỉ có thế, không thấy camera, không thấy các toán lính sẵn sàng ra tay nấp sau những bức tường gần nhất, không thấy cả những thiết bị, xe cộ đặc biệt ngoài bãi đỗ xe trước cửa vào sân bay, cũng như căn phòng chỉ huy kiểm tra tất cả 86 400 giây trong ngày, và điều này đúng là tuyệt hảo, không thể tưởng tượng nổi một hệ thống an ninh chỉ để người ta nhìn thấy bốn người lính gác và bốn sợi dây đỏ, vì cái họ cần bảo vệ và lý do để hằng hà sa số người đổ tới đây còn tuyệt hảo hơn: đổ về đây là dân đến từ các thành phố, khách vãng lai và những người xa lạ, các nhà bác học, các tài tử và các nhà sưu tầm, những kẻ nghiện ngập, bọn trộm cắp, đàn ông, đàn bà, trẻ con và người già, vì mọi người đều muốn tận mắt thấy, và ai cũng cố tiến lên trước để nhìn thấy chiếc bệ lớn được bảo vệ bởi bốn người lính gác và bốn sợi dây, phủ một lớp nhung đen và được chiếu sáng từ phía trên bởi những chấm sáng nhỏ, bên trên là một hộp chụp chế bằng kính chống đạn, vì mọi người đều muốn nhìn thấy diamonds, như người ta gọi một cách đơn giản thế, nhìn thấy một trong những bộ sưu tập kim cương giá trị nhất thế giới, như người ta quảng cáo, vì đúng là hai mươi mốt báu vật lấp lánh của trái đất đang nằm kia, sự hiện thân tuyệt vời của hai mươi mốt viên carbon tinh khiết, hai mươi mốt sự lộng lẫy vĩnh hằng kết thành đá quý độc nhất vô nhị nằm đó nhờ sự tổ chức của Gemological Institute[3], và nhờ sự hảo tâm của nhiều cơ quan cùng cá nhân khác, và dĩ nhiên lần này cũng như mọi khi, trên hành tinh này, nếu đã nói tới kim cương, thì đằng sau nó là sự bảo trợ không che đậy của De Beers Consolidated Mines[4], hai mươi mốt của hiếm đặc biệt, như các catalogue cho biết, trong trường hợp này điều đó không có gì quá đáng, bởi khi người ta tập hợp chúng theo bốn quan điểm kinh điển đánh giá kim cương là Colours, Clearness, Cut và Carat[5], ngoài các nhóm phân loại IF[6] và VVSI[7] ra không một nhóm kim cương thấp cấp hơn nào được sử dụng, khi đó người ta muốn đưa ra hình ảnh tổng hợp về thế giới khủng khiếp của bề mặt, độ tán sắc, vẻ rực rỡ và độ bóng, bằng hai mươi mốt ngôi sao, như trong lời giới thiệu, về toàn bộ vũ trụ, vì nó đặc biệt, họ viết, nên cả bản thân ý tưởng cũng đặc biệt, người ta không chỉ muốn chinh phục người xem bằng một hay hai vẻ đẹp tuyệt đối, mà muốn giới thiệu chính vẻ đẹp có một không hai qua hai mươi mốt hình hài riêng biệt và rất khác nhau, và đúng là trong bộ này có đủ cả những gì mà bạn có thể tưởng tượng nổi trong dải màu sắc River, Top Wesselton và Wesselton, hai mươi mốt tác phẩm hoàn mỹ theo cách xác định tỷ lệ tiêu chuẩn Tolkovsky, Scandinavian và Eppler, cả những viên được cắt trong Mazarin, Peruzi, Markiz và ngọc lục bảo, có hình Oval, hình Quả lê, Navette và Seminevette, đủ cả từ năm mươi lăm đến một trăm bốn hai carat, và tất nhiên là hai viên gây sửng sốt là ORLOV đặt trong vòng bạc và viên MẮT HỔ màu hổ phách sáu mươi carat, một thứ gì đó đúng là đặc biệt, rực rỡ đến kinh ngạc nằm dưới hộp chụp thủy tinh chống đạn, và tất cả những thứ đó nằm ở vị trí dễ tổn thương nhất trên một sân bay đông người qua lại nhất của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, ở nơi đương nhiên sự lộng lẫy đáng giá nhiều triệu kia khó bảo vệ nhất, nhưng người ta vẫn bảo vệ được nó, bằng bốn sợi dây màu đỏ và bốn người lính gác oai vệ đứng giạng chân hơi rộng.
8.
Korin bước vào hành lang cuối cùng, từ xa gã nhìn thấy khu sảnh lớn, và vừa nhìn thấy nó, như sau này gã nhớ lại trong một cuộc trò chuyện, gã biết ngay là mình đã đi đúng hướng, đúng hướng từ đầu, nghĩa là, gã tự nhủ, ơn Chúa, gã đã ra khỏi mê lộ, gã dấn bước nhanh hơn, và sau mỗi bước chân gã cảm thấy thoải mái hơn, càng lúc càng bớt lo lắng hơn, càng lúc càng trở lại gần hơn với trạng thái hân hoan trước đó, gã rảo bước đi nốt mấy trăm mét cuối cùng, khi được khoảng một phần ba đoạn đường đi về phía ánh sáng, sự huyên náo và an toàn của khu sảnh, trong dòng người đi ngược lại gã bỗng thấy một người, một thanh niên trẻ chừng hai mươi, hăm hai tuổi, thấp và gầy, mặc quần kẻ ca rô với kiểu đi lạ mắt nom như múa, cũng như anh chàng kia đã nhìn thấy gã, và khi còn cách nhau độ mười mét y bỗng nhiên nhìn gã, thậm chí mỉm cười với gã, mặt y tươi rói lên khi nhìn thấy Korin, và với sự ngạc nhiên của người bất chợt nhận ra người quen cũ, y dang tay như chào đón và bước mỗi lúc một nhanh hơn về phía gã, thấy vậy tất nhiên gã, Korin, gã nói, cũng đi chậm lại và bắt đầu lúng túng cười với y, và gã đợi giây phút hai người đến sát gần nhau với cái nhìn dò hỏi, nhưng khi điều đó xảy ra, và khi họ đến sát gần nhau, một điều gì đó không thể tin nổi đã xảy ra với Korin, vì thế trong một tích tắc gã cảm thấy trời đất tối sầm trước mắt gã, và gã phải co gập người lại, rồi gục xuống nền, vì cú đấm đúng vào môn vị gã, nghĩa là điều đó đã xảy ra, đúng, Korin kể, thằng kia, chỉ để tiêu khiển, đã ngẫu hứng chọn ra trong đám đông mới tới một người nào đó, và y tiến lại gần người đó với vẻ thân thiện, và chỉ thoi vào môn vị người ấy một quả, không nói một điều gì, một lời thân thiện hay vui vẻ, không có sự nhận ra nhau, không phải người quen cũ, chỉ bụp một phát cực mạnh, tối hôm ấy anh chàng Trinidad kia cũng kể cho người bồi bàn trong một quán bar, bụp một phát, y vung mạnh tay ra hiệu, đúng vào môn vị, một quả khiến gã kia gục xuống ngay, anh chàng Trinidad diễn lại cho người bồi bàn, gã kia ôm bụng gục xuống không một tiếng động, không kêu một lời gã ngã sóng soài trên nền nhà, anh chàng Trinidad cười phô hàm răng sứt, gã ngã gục như một bãi cứt tụt ra khỏi lỗ đít bò, hiểu chưa? y hỏi người bồi bàn, sau một cú đấm cực mạnh, thằng cha kia cũng chẳng thèm nói một lời, gã đã ngã gục, còn thằng kia, Korin kể, khi gã nhìn lên thì y đã mất hút vào đám đông, như thể đất đã nuốt mất y trong khoảnh khắc, y biến mất như thể chưa tồn tại, trong khi Korin cứ nhìn quanh, không hiểu ra sao, khi đã gượng đứng dậy được, gã hấp háy nhìn trước nhìn sau, vẻ kinh hoàng, gã chỉ nhìn mãi vào mặt hai, ba người vừa luồn tay vào nách đỡ gã dậy như cầu xin lời giải thích, nhưng mấy người kia, cũng như những người khác, không có lời giải thích nào cho gã, khi gã tiếp tục đi, thậm chí có vẻ như chẳng ai để ý đến sự việc vừa xảy ra, vì người ta không cả biết có sự hiện diện của gã ở chỗ đó, và cả sự thật là gã đã ở đó, hay gã đã từng ở vị trí khoảng một phần ba cái hành lang dẫn đến sảnh lớn của phi trường JFK.
9.
Gã vẫn còn rất đau, khi đến chỗ đặt các viên kim cương, có thể thấy rõ trên nét mặt, và khi gã bước vào căn phòng lớn, tiến lại gần đám đông chen chúc tới các hạt kim cương, gã đi qua bên cạnh họ mà không buông tay ôm bụng, chính xác hơn là, như sau này gã kể, gã không thể buông tay ra nổi, khi đến chỗ các hạt kim cương thì dạ dày gã, mạng sườn gã, phổi gã, gan gã, tất cả mọi bộ phận cho tới tế bào cuối cùng đều đau đớn bởi sự bất công, bởi sự độc ác và bởi sự vô lý của cú đánh lúc trước, vì vậy gã tự nhủ phải ra khỏi đây, không nhìn trái nhìn phải, cứ thế mà bước đi, và tiếp tục đi, về phía trước, gã lẩm bẩm trong khi đi tiếp, về phía trước, mà không hề nhận ra bàn tay làm dịu nỗi đau đặt trên bụng gã đã nhúc nhích, mang dáng điệu của sự cảnh báo và đề phòng đối với mọi hiểm nguy có thể đe dọa gã, dẫu sao thì, sau đó mấy ngày gã kể trong một quán ăn Tàu, sự việc đã diễn ra như thế, bàn tay hắn có dáng điệu ấy, và cuối cùng khi gã đi vượt được cái đám đông hỗn loạn trong căn phòng lớn, và ra được, dù chưa phải ra ngoài hẳn mà ra tới chỗ có các mái vòm bê tông, bằng tay trái gã cố giữ cho xa những người đi về phía gã, và cũng bằng cánh tay ấy gã cố ra hiệu cho mọi người lại gần gã biết, rằng gã rất hốt hoảng, và vì hốt hoảng gã đã chuẩn bị đối phó với mọi khả năng có thể xảy ra, nghĩa là mọi người chớ có lại gần gã, gã giơ tay ra hiệu, và gã đi quanh quẩn để tìm bến xe buýt, rồi khi gã nhận thấy ở chỗ gã đi tới dày đặc bến xe buýt, nhưng xe buýt thì một cái cũng không, gã chán nản nghĩ mình sẽ kẹt lại ở chỗ này mãi mãi, gã sang bến đậu taxi ở phía bên kia, rồi đứng vào cuối một hàng người xếp dài, đầu kia là một nhân viên điều phối cao lớn nom vẻ như một tay gác cửa khách sạn - và gã làm thế là rất đúng, như sau này gã kể, gã đã quyết định đứng vào hàng đối diện với các mái vòm bê tông, vì điều đó có nghĩa là trạng thái đi lảo đảo và vô dụng chấm dứt, vì điều đó nghĩa là gã đã tới một điểm trong bộ máy khổng lồ của sân bay, nơi gã không phải giải thích gã là ai và muốn gì, vì thấy rõ ngay gã là ai và muốn gì, từ cung cách gã đứng đó chờ đến lượt, tiến dần về phía tay nhân viên điều phối cao lớn kia, tóm lại là nhờ quyết định cay cú nhưng may mắn ấy mà giờ đây mọi việc đã ổn thỏa: gã đưa tấm danh thiếp nhận được từ cô tiếp viên ở Budapest, trên đó có tên một khách sạn rẻ tiền đã được thử thách và đáng tin cậy, sau khi xem xét mẩu giấy tay nhân viên điều phối bảo gã phải trả twenty-five đô la, loáng cái gã đã ngồi trong một chiếc taxi sơn vàng cỡ lớn, chiếc xe lượn như đánh võng giữa các làn đường lao về phía Manhattan, còn gã vẫn đặt nắm tay lên bụng, vẫn sẵn sàng tự vệ để chống trả lại cú đánh tiếp theo, nếu trong cái taxi màu vàng khổng lồ này bỗng nhiên tấm lưới ngăn cách gã và tay tài xế rơi sập xuống, hoặc ở một chỗ đèn đỏ ai đó ném vào qua cửa sổ một quả bom, hoặc giả dụ như tay tài xế sẽ ngoái lại, tay tài xế mới nhìn thoáng qua có vẻ như người Pakistan, Afganistan, Iran, Bengal hay Bangladesh, chính tay tài xế, chĩa súng vào gã và bảo: Money, Korin lúng túng nhìn vào cuốn sổ nhỏ, or Life![8]
10.
Xe cộ đông đến chóng mặt, Korin nói trong quán ăn Tàu, và vì cứ liên tục trông chờ sẽ bị tấn công, bằng cách nào đó tất cả những biển chỉ đường thoáng hiện ra đều lưu lại trong đầu gã: gã nhìn thấy Southern Parkway, Grand Central Expressway, Interborough Parkway và Atlantic Avenue, gã đọc thấy Long Island, Jamaica Bay, Queens, Bronx và Brooklyn, và tất cả lập tức khắc sâu vào tâm trí gã, vì trong đầu gã, gã kể, khi xe chạy mỗi lúc một sâu hơn vào thành phố, không phải là cái toàn thể không thể hiểu nổi, với nhịp điệu cuồng loạn và hãi hùng của nó cùng cây cầu Brooklyn và những nhà chọc trời ở Downtown mà gã có thể tưởng tượng được nhờ các cuốn sách hướng dẫn du lịch đã đọc đến nhàu nát từ ở nhà, mà là những điều vụn vặt, là vài chi tiết nhỏ trong cái tổng thể lớn, ví dụ như cái nắp đậy đường ống cống đầu tiên trên một vỉa hè, nơi hơi nước liên tục tuôn ra, chiếc xe Cadillac cũ đầu tiên, chiều ngang rộng đi lắc lư một cách lười biếng mà họ vượt qua ở gần một trạm xăng, chiếc xe cứu hỏa to kềnh bằng crôm-niken đầu tiên, và còn điều này nữa, gã hạ giọng, nhưng điều đó, có thể nói là, gã nói, đúng hơn là đã đốt cháy đầu óc gã, chứ không phải là chạm khắc vào đầu gã, số là, gã kể tiếp, chiếc xe taxi chở gã lướt nhẹ nhàng về phía trước như thể họ đang bơi trong bơ, và gã, dĩ nhiên là gã để tay trái phía trước để tự vệ, lúc gã nhìn qua cửa bên trái, lúc nhìn qua cửa bên phải, bỗng nhiên gã có cảm giác, rằng gã cần phải nhìn thấy một thứ gì đó, nhưng gã không thấy, rằng gã phải hiểu ra điều gì đó từ cái gã nhìn thấy, nhưng gã không hiểu, rằng thỉnh thoảng một cái gì đó rõ ràng ở phía trước gã, đập vào mắt gã, nhưng gã không biết đó là thứ gì, gã chỉ biết rằng thiếu điều đó, thiếu gì thì gã không thể hiểu nổi, và chừng nào chưa hiểu nổi, thì cho tới lúc đó gã chỉ nhắc đi nhắc lại, điều mà buổi chiều và tối hôm đó gã đã nhiều lần trịnh trọng nói, đó là: Lạy Chúa, đây đúng là trung tâm của thế giới, và gã, giờ thì không còn chút nghi ngờ gì nữa, đúng là đang ở trung tâm thế giới, nhưng buổi chiều hôm ấy gã không nghĩ thêm được gì nữa khi xe ngoặt từ Canal Street vào Bowery, và sau chốc lát dừng lại trước Suites Hotel, không thêm gì nữa, Korin nói, và từ đó đến giờ cũng thế, gã nói thêm, nghĩa là gã vẫn chưa có khái niệm gì về chuyện gã phải nhìn thấy thứ gì trong cái thành phố ghê gớm này, dù gã biết nó ở trước mặt gã, gã đã đi qua bên cạnh nó, gã đã đi trong nó, như khi gã đã trả hai mươi lăm đô cho tay tài xế ít nói, như khi gã xuống xe trước khách sạn, chiếc xe quay đầu, còn gã chỉ đứng nhìn, nhìn mãi hai chấm đèn đỏ khuất nhanh khi xe ngoặt vào chỗ rẽ, đi qua Bowery về phía trung tâm Chinatown.
11.
Gã xoay hai vòng chìa khóa, kiểm tra lại hai lần xem cái dây xích an toàn có cài cẩn thận không, rồi bước tới bên cửa sổ, nhìn con phố nhỏ vắng vẻ một lúc, gã cố đoán xem ở dưới kia có thể là cái gì, và chỉ khi đó, mấy ngày sau gã kể, cho tới khi đóng cửa, cài dây xích an toàn và nhìn xuống đường xong, gã mới tự nhủ mình đã có thể ngồi xuống giường và nhận ra: cả người gã đang run lên bần bật - nhưng khi đó gã chưa thể nghĩ đến chuyện phải ngừng run, hay phải bình tĩnh và suy nghĩ bất cứ điều gì, vì, gã nói, việc gã ngồi xuống và run đã là một tiến bộ rất lớn, và đúng là gã cứ ngồi và run như thế trong mấy phút, thậm chí chẳng có gì đáng hổ thẹn khi gã thú nhận, sau đó, sau mấy phút ngồi run gã đã khóc dễ đến nửa tiếng - gã hay khóc, gã nhận, và lúc này khi sự run rẩy trong người gã bớt dần, gã bắt đầu khóc, nức nở, nghẹn ngào, vai rung lên từng chập, cơn khóc khổ sở đến từ từ và khổ sở qua đi từ từ, nhưng khổ sở không phải là cơn run và cơn khóc, gã nói, mà là việc gã phải đối mặt với vô số trọng sự, với những rắc rối đủ loại và không thấu hiểu nổi, đến nỗi sau đó, sau khi đã ngừng nức nở, gã cảm thấy như mình vừa bước ra ngoài vũ trụ, gã cảm thấy mình hoàn toàn tê dại đi, và nhẹ bẫng, đầu óc, nói thế nào nhỉ, ong ong, gã muốn nuốt nước bọt, nhưng không thành, muốn ngả mình nằm xuống giường, nhưng không động đậy nổi, hơn nữa chỗ gáy gã bắt đầu đau, buốt đến nỗi thoạt tiên gã tưởng đầu mình sẽ rụng xuống, và cùng lúc hai mắt gã bắt đầu bỏng rát, và gã cảm thấy mệt mỏi ghê gớm, nhưng có lẽ, gã nói thêm, sự đau đớn, bỏng rát và mệt mỏi này đã có từ lâu, nhưng chỉ đến lúc này một chiếc công tắc trong đầu gã mới bật lên, và tất cả được khởi động, nào, thôi không sao, Korin nói, sau những thứ đó có thể tưởng tượng gã cảm thấy thế nào trong cái vũ trụ này, với nỗi đau đớn và mệt mỏi này, khi gã bắt đầu lần lượt xem xét và tìm cách hiểu các sự kiện đang chờ gã rà soát lại, gã ngồi, gã kể, gã còng lưng ngồi trên giường, gã ý thức được và chấp nhận gã đau ở chỗ nào, gã bỏng rát ở đâu và gã mệt mỏi toàn thân, nhưng gã bắt đầu rà soát lại các sự kiện, nếu có thể, gã tự nhủ, thì từ đầu trở đi, từ chỗ món tiền không có giấy phép mang ra đã lọt qua hải quan Hung dễ dàng thế nào, vì đúng là sự việc đã bắt đầu như thế, khi gã bán nhà, bán xe và những thứ gọi là động sản khác, tóm lại là khi gã biến mọi thứ thành tiền, khi có thể là gã đổi thành đô la ngoài chợ đen từng khoản nhỏ một, nhưng, lúc này gã giải thích, giấy phép mang tiền ra làm gì có, thế là gã khâu tất tật tiền vào vạt áo khoác, bên cạnh cảo bản, và đơn giản là gã đã ra khỏi đất nước, chẳng thằng chó nào hỏi, chẳng thằng chó nào kiểm tra, đơn giản là gã đã qua mặt hải quan, và bằng việc đó gã đã thoát khỏi gánh nặng đáng sợ nhất, và xét cho cùng nhờ thế mà gã có chuyến đi nhẹ nhàng qua đại dương, nói theo đúng nghĩa của từ này, gã không nhớ có chuyện gì trục trặc giữa chừng, khó chịu nhất là một cái mụn mọc ra bên cánh mũi, và gã cứ phải tìm cuốn hộ chiếu, tấm thẻ khách sạn, cuốn từ điển và cuốn sổ ghi chép luôn, xem chúng có còn không, kiểm tra lại xem có đúng là gã để chúng vào chỗ gã nghĩ không, tóm lại là không có chuyện gì, không có chuyện gì trong chuyến bay, chuyến bay đầu tiên trên không trung của gã, không sợ hãi, không thích thú, chỉ có sự nhẹ nhõm, nhưng sau khi máy bay hạ cánh, mọi vấn nạn mới bắt đầu, đầu tiên là, gã nói, cái Immigration Office, thằng cha đó, bến xe buýt và taxi, nhưng cái chính là ở trong này, gã chỉ vào đầu, một sự mắc kẹt hoàn toàn nào đó, ý gã là một trạng thái ngưng trệ hoàn toàn, gã cảm thấy và hiểu ra ở tầng một của khách sạn, và cùng với nó gã cũng hiểu ra rằng phải thay đổi ngay lập tức, t-h-a-y đ-ổ-i, gã quyết định, trước hết là phải buông tay trái xuống, sau đó nhìn chung gã phải trấn tĩnh lại, nghĩa là phải làm rõ con đường phía trước, vì cuối cùng gã đứng dậy khỏi giường và lại đến bên cửa sổ, xét cho cùng về cơ bản mọi việc đang đi theo chiều hướng tốt, chỉ có điều gã phải tự tìm ra cái gọi là sự thanh thản nội tâm, và gã phải quen với ý nghĩ gã đang ở đây và sẽ ở lại đây, rồi gã quay lại, tựa lưng vào cửa sổ, nhìn khắp lượt đồ đạc trong phòng, bàn, ghế, giường, vòi nước, bồn rửa đều đơn sơ, bình thường, gã nghĩ, từ nay mình sẽ sống và thực hiện Kế Hoạch Vĩ Đại ở đây, và khi đó, nhờ quyết định dứt khoát này, gã đứng vững trên đôi chân của mình, không ngã gục, nhờ đó mà gã cưỡng lại được sự suy sụp và cơn khóc ở New York, trên tầng một của Suites Hotel, lẽ ra đã ập đến, gã thật thà thú nhận.
12.
Nếu nhân bốn chục đô la một ngày với mười, thì thành bốn trăm đô la cho mười ngày, và điều này là phi lý, Korin nói với nàng tiên, sau một đêm thức trắng bởi lệch múi giờ cuối cùng đến lúc rạng sáng gã mới thiếp đi, rồi gã đợi mãi không nhận được câu trả lời, vì nàng tiên cứ đứng đó trân trân nhìn vào cái gì đó phía sau gã, Korin quay người sang bên kia, và nói tiếp thế này: Ta cũng đã nhìn rồi. Ở đó không có gì đâu.
13.
Suốt một ngày gã không ra khỏi khách sạn, thậm chí ở lì trong phòng, ra để làm gì, gã lắc lắc đầu, một ngày bỏ đi đâu có phải là tận thế, gã mỏi mệt, gã bao biện, đi chẳng nổi còn sức đâu, cố làm gì, hôm nay, ngày mai, hay ngày kia thì cũng vậy thôi, tóm lại là, mấy hôm sau gã kể, bằng cách nào đó sự việc đã bắt đầu như thế, chỉ thỉnh thoảng gã kiểm tra cái dây xích an toàn, vì một lần gã đã quầy quậy xua mấy cô dọn phòng ra, vì sau khi gõ cửa mãi không thấy gã trả lời họ đã dùng chìa khóa riêng định vào phòng, ngoại trừ mấy vụ đó ra gã ngủ gần như suốt ngày, như người bị đánh sắp chết, còn về đêm gã nhìn con phố nhỏ ở phía dưới, hay ít nhất là đoạn phố có thể thu vào tầm mắt, mê muội hàng giờ, từ góc phố này tới góc phố kia, gã rà suốt lượt từng mét, từng mét một, gã nhận diện các cửa hiệu, kia là cửa hàng bán gỗ tấm, gã nói, kia là hiệu bán sơn, và vì đang là đêm, ít người qua lại, nên lần nào gã cũng thấy chúng đúng như thế, lần nào cũng là trạng thái bất biến ấy của con phố, dần dần những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng ăn sâu vào tâm trí gã, thứ tự những chiếc xe đậu bên vỉa hè, những con chó vô chủ đánh hơi quanh các thùng rác, một người nào đó đi về nhà, hay những luồng ánh sáng như rây bột tỏa ra từ mấy ngọn đèn đường lắc lư trong gió, gã nhớ hết, đúng là không một điều gì mà gã không để mắt tới, kể cả việc gã ngồi đó, bên cạnh cửa sổ căn phòng tầng một, chỉ ngồi và nhìn xuống phía dưới, tự nhắc đi nhắc lại với bản thân gã rằng, hôm nay là ngày cần nghỉ ngơi, ngày hồi sức cả về tinh thần lẫn thể chất, bởi vì những gì gã đã trải qua đâu có phải chuyện bình thường, chỉ cần gã sắp đặt mọi việc theo thứ tự: cuộc săn đuổi ở nhà, sự việc xảy ra trên cầu vượt dành cho người đi bộ, việc gã quên xin thị thực, rồi sự chờ đợi, nỗi lo lắng khi qua hải quan, cuối cùng là cái sân bay, cú đánh và cảm giác căng thẳng trong taxi, vì tất cả cứ lao về phía trước một cách mù lòa, tất cả những điều đó chỉ một con người đã trải qua, gã tự bảo, một con người duy nhất, không có chỗ dựa và sự bảo vệ, thế nên việc bây giờ gã không muốn ra ngoài có gì là kỳ lạ, không có gì kỳ lạ hết, gã tự hỏi và nhắc đi nhắc lại mãi, và gã cứ ngồi đó nhìn xuống phía dưới, gã ngồi thẫn thờ và bất động bên cửa sổ, và nếu ngày đầu tiên sau khi đến đã thế, thì ngày hôm sau còn hơn thế, vì sau một giấc ngủ mê man thì đến tối thứ mấy nhỉ? tối thứ ba, gã lại nói đúng như một ngày trước đó, rằng hôm nay chưa, dứt khoát chưa, để ngày mai, ngày mai chắc chắn, rồi gã bắt đầu đi đi lại lại trong phòng, từ cửa sổ tới cửa ra vào, quanh đi quanh lại trong căn phòng nhỏ, và khó mà nói được, gã kể, là gã đã đi bao nhiêu ngàn vòng, đúng hơn là bao nhiêu vạn vòng vào cái đêm thứ ba ấy, như vậy nếu muốn đặc tả cả ngày thứ nhất gã sẽ nói: gã chỉ nhìn, về ngày thứ hai: gã chỉ đi, vì đúng là đã diễn ra như vậy, gã cứ đi và đi, thỉnh thoảng gã lại làm dịu cơn đói bằng một mẩu bánh gã bớt lại từ bữa ăn trên máy bay, gã cứ đi vòng quanh giữa cửa sổ và cửa ra vào, tới khi gần như gục xuống vì mệt mỏi, và đổ vật xuống giường mà không nghĩ rằng sẽ đến cả trọn ngày thứ ba, và gã sẽ làm gì.
14.
Gã đi trên Rivington Street, xuôi xuống bên phải về phía Đông là Christie Street, con đường dẫn tới một công viên dài lộng gió, lên phía trên về bên trái là Bowery, gã phải ghi nhớ điều này, sau bao nhiêu ngày ngủ và đêm thức gã không nhớ mình đã ở đây mấy ngày, đến khi cuối cùng gã cũng bước ra khỏi cổng của Suites Hotel, dù thế nào gã cũng đã ra ngoài, không thể kéo dài thêm nữa, không thể cứ nhắc đi nhắc lại rằng hôm nay chưa, để đến mai, hay để ngày kia, gã phải mò dậy, phải ra ngoài vì món bánh khô đã hết, dạ dày gã quặn đau vì đói, tóm lại là gã phải ăn thứ gì đó, sau đó thì ngay lập tức, đến lúc này, khi kể lại trong quán Tàu, Korin vẫn nhấn mạnh một cách dứt khoát: gã phải tìm chỗ ở mới ngay lập tức, bởi vì bốn chục đô la gã trả mỗi ngày ở đây không cho phép gã lưu lại đây quá mấy ngày, và mấy ngày ấy đã hết, sự trì hoãn mà gã tự cho phép mình đã chấm dứt, điều này có lẽ là sự rộng lượng đối với bản thân, gã tự nhủ, sau cơn hốt hoảng và kiệt sức ban đầu có lẽ còn chịu đựng được, nhưng lâu dài thì không thể tưởng tượng nổi, bốn trăm đô la cho mười ngày, ba lần bốn trăm là một ngàn hai trăm đô la một tháng, nói ra đã thấy nhiều, Korin nói, nào, không thể được, ta đâu có dư dả đến thế, gã nói, và để chắc chắn nhớ đường lúc nữa quay về, gã đi lại hai lần đoạn đường giữa Christie Street và Bowery, rồi bước vào khu Bowery thưa thớt người đi lại, và nhắm tới một cửa hiệu nom có vẻ thích hợp ở phía bên kia; gã nhắm cái cửa hiệu và điều này tỏ ra đúng đắn, nghĩa là không có vấn đề gì đối với cái đích gã đã nhắm, chỉ có vấn đề với lòng can đảm, sự can đảm này bay biến mất đúng lúc gã tới trước cửa hiệu, vì chợt lóe trong đầu gã, gã sẽ nói gì ở đây, đến câu mình đang đói gã cũng chẳng biết phải nói ra sao, trong đầu gã không có một từ tiếng Anh nào, cuốn sổ ghi từ thì, gã nắn nắn túi áo khoác, tất nhiên là gã đã bỏ trên khách sạn, bây giờ biết làm sao, gã bất lực hỏi, và gã bắt đầu đi đi lại lại trước cửa hiệu, rồi đến một lúc gã bỗng cả quyết bước vào cửa hiệu, lúng túng nhấc xuống món thực phẩm đầu tiên mà gã nhận ra trong các rổ đựng, hai nải chuối to, và cũng với vẻ mặt lúng túng như khi bước vào quầy, gã trả tiền cho người bán hàng có vẻ hơi hốt hoảng, và loáng cái gã đã ra ngoài, gã lao về phía trước, vừa đi vừa ngốn hết quả chuối này đến quả khác, đang như vậy thì bỗng nhiên gã nhận ra một cái gì đó cách chỗ gã hai dãy nhà ở bên kia đường về phía trên, một ngôi nhà lớn xây bằng gạch đỏ thẫm với biển quảng cáo khổng lồ, và dù không nói rằng, sau này gã kể, từ lúc nhìn thấy tất cả những thứ đó là mọi chuyện trở nên ổn thỏa, nhưng đúng là ít nhất gã đã hiểu ra rằng gã phải cố gắng, gã đứng sững lại trên vỉa hè, và cứ thế, với những quả chuối trên tay, gã đưa tay ôm đầu, và tự nói to với bản thân, rằng đúng là, gã đúng là một thằng ngốc, một thằng mất trí hay sao mà lại hành xử như vậy?! chẳng xứng đáng chút nào?! hãy bình tâm lại, gã đứng ôm đầu với những quả chuối trên Bowery, nếu không đánh mất lòng tự trọng và kiêu hãnh, tất cả sẽ ổn, sẽ ổn cả, gã nhắc lại, nếu ta giữ được lòng tự trọng và kiêu hãnh.
15.
Sunshine Hotel nằm ở đoạn Prince Street cắt với Bowery, nơi trên đó một chút mở ra Stanton Street, đứng ngay cạnh đó là ngôi nhà gạch đỏ thẫm lớn với biển quảng cáo khổng lồ, trên nó là một từ duy nhất màu đỏ tươi: SAVE, đập vào mắt Korin, gã nhìn thấy nó từ xa, chính nó đã làm gã hơi trấn tĩnh lại, vì khi vừa lao ra khỏi cái cửa hiệu vừa ngốn chuối, chữ SAVE có vẻ như do một bàn tay phúc đức nào đó viết riêng cho gã, tuy khi đến nơi gã hiểu ra và lẽ ra còn thất vọng vì sự chỉ dẫn của nó, gã nói thêm, nhưng đó là chuyện khác, vì đó không phải SAVE, mà là SALE, bên dưới đơn giản là chỗ cho thuê xe hay bán xe gì đó, lẽ ra gã còn thất vọng, đúng vậy, nhưng gã nhận thấy mình không hề thất vọng, vì phía bên trái ngôi nhà trên một tấm biển nhỏ có thể đọc được dòng chữ Sunshine Hotel 25 đô la, chỉ có vậy, không có hướng dẫn nào khác, để người ta có thể tìm xem cái Sunshine Hotel hai lăm đô ấy ở đâu, nhưng sô tiền cũng giống như trường hợp chữ SAVE lúc trước, gã cũng dịch ngay được chữ Sunshine, chúng khiến gã yên tâm và chú ý tới, bởi lúc trước gã có muốn gì khác hơn, có dự định nào khác hơn là nhanh chóng tìm một chỗ ở mới, hai mươi lăm đô, Korin nhấm nháp, hai mươi lăm, nghĩa là ba mươi lần hai mươi thành sáu trăm, với ba chục lần năm là trăm rưỡi, tổng cộng là bảy trăm rưỡi một tháng, không đến nỗi, gã nói, dẫu sao cũng hơn hẳn so với một ngàn hai trăm ở Rivington Street, gã bắt đầu tìm kiếm ngay lập tức xem lối vào ở đâu, nhưng bên cạnh ngôi nhà xây gạch đỏ thẫm chỉ có một ngôi nhà sáu tầng cũ nát, bẩn thỉu, không một tấm biển, không một chỉ dẫn nào, chỉ một cánh cửa màu nâu trên tường, rồi ta sẽ hỏi, gã quyết định, gã có thể nói được cái tên Sunshine Hotel, câu trả lời thì rồi gã sẽ suy diễn ra bằng cách nào đó, thế là gã mở cánh cửa, một cầu thang hẹp và rất dốc dẫn xuống phía dưới tòa nhà, nhưng bất chợt cầu thang dẫn tới một tấm lưới chắc, không phải một cánh cửa, một bậc thang hay chiếu nghỉ, mà là một tấm lưới sắt chắn ngang đường, dĩ nhiên, như sau này gã kể, cảm thấy sự chẳng lành gã đã định quay trở lại, thì từ bên kia tấm lưới sắt, nơi không được ngăn cách bằng tấm cửa nào nữa, hình như có tiếng người đập vào tai gã, gã rung tấm lưới sắt, gã quyết định ngay, có chuyện gì đáng sợ đâu, còn tấm lưới sắt ngăn cách, và đúng là gã rung tấm lưới, khi gã nhận ra bên cạnh tấm cửa lưới có một nút nhấn chuông thì đã muộn, vì nghe tiếng rung tấm lưới, phía bên trong có tiếng ai đó chửi tục, ít ra là, Korin kể, có vẻ như đó là tiếng chửi tục, và ngay tức khắc bên kia tấm lưới xuất hiện một người đầu trọc, thô kệch, lực lưỡng, hắn nhìn sát vào mặt gã, rồi không nói một lời, hắn quay vào chỗ từ đó hắn vừa đi ra, và gã đã nghe tiếng rít tạch tạch, và không kịp suy nghĩ, gã phải bước vào qua tấm cửa lưới vừa mở ra, gã bước vào và thấy mình đứng trong một chỗ giống như cái sảnh hẹp, trước một văn phòng được chắn bằng lưới và tường kính ở phía sau, nơi gã phải nói qua một lỗ hẹp, một người chỉ gã, gã nói Sunshine Hotel, người kia đáp, yeah, Sunshine Hotel, và chỉ cho gã sang bên cạnh, lại về phía một tấm cửa lưới nữa, Korin nhìn vào đó, nhưng gã hốt hoảng đến mức chỉ nhìn thấy họ trong tích tắc và không dám nhìn lại nữa, những hình nhân thật đáng sợ, Sunshine Hotel hả? một người nào đó phía bên kia cửa kính và lưới sắt hỏi gã với vẻ mặt nghi ngại, còn gã, gã kể tiếp, lúc đó gã biết nói gì, rằng đúng ư? rằng gã tìm cái khách sạn đó ư? hay là cảm ơn, không phải thế? nghĩa là gã không còn nhớ gã đã buột miệng nói ra điều gì, gã kể, chịu không nhớ là gã đã trả lời câu hỏi đó thế nào, có điều chắc chắn là mấy giây sau gã đã lại ở ngoài đường, và ý tưởng phải nhờ ngay một ai đó giúp đỡ đã hình thành dần dần trong đầu gã, gã chạy nhanh hết sức, quay lại, một giọng nói vang lên trong khi gã vội vã chạy về phía Rivington Street, quay lại Suites Hotel, gã nói theo nhịp bước chân, và gã không nhìn thấy gì khác cho tới khi về đến cổng khách sạn, ngoài vẻ cười cợt của đám người tăm tối kia, gã không nghe thấy gì khác, ngoài tiếng lạch xạch và tiếng ổ khóa sắc lạnh lặp đi lặp lại, và ở trong đó gã cảm thấy một thứ mùi là lạ thối rữa, đáng sợ nào đó đập vào mũi gã, cái mùi ấy đuổi theo gã từ khi ra khỏi Sunshine Hotel tới khi về đến Suites Hotel, để rồi gã không bao giờ quên được cái mùi thối rữa ấy kể từ buổi sáng đáng nhớ kia, khi lần đầu tiên gã bước vào, và nếu ông bạn cho phép, gã nói với người đối thoại với gã bên bàn ăn trong quán Tàu, khi lần đầu tiên gã bước vào cửa ngõ ghê gớm của New York.
16.
Y không thể làm khác, sự việc phải như thế, người nào lấy đi, người đó sẽ trả lại, vì điều đó đã xảy ra, lấy đi và trả lại, dĩ nhiên y không muốn bằng cách ấy khẳng định rằng mọi chuyện đều ổn, nhưng ít ra y sẽ nhận được sáu trăm một tháng trong một thời gian, số tiền này còn nhiều hơn số y nhận được từ trước tới nay, nhiều hơn, người phiên dịch ướt lướt thướt nói với anh tài xế taxi người Mexico chẳng hiểu chuyện gì, còn nhiều hơn số không, vậy mà nếu có điều gì y không tiên lượng được, y chỉ vào Korin đang ngủ há hốc mồm trên ghế sau, thì đó là gã này, đúng là y tiên lượng được nhiều thứ, tay phiên dịch lắc lắc đầu cười, nhưng chuyện này thì ngay cả trong giấc mơ cũng không, rằng gã ta lại còn dám mặt mũi nào gọi điện cho y, sau khi vì gã mà người ta đã đuổi việc y như vắt mũi bỏ đi, thế mà gã chẳng ngần ngại cóc khô gì hết, gã dám gọi cho y, gã tưởng chỉ vì y đã đưa cho gã cái danh thiếp khốn nạn ấy, có nghĩa là gã có thể gọi y, và gã đã gọi thật, và gã van nài y hãy gặp gã, hãy giúp gã, vì ở New York, như gã dở hơi này nói, người phiên dịch kể, gã còn chẳng biết đầu đuôi ra sao hết, anh có nghe không? y hỏi người Mexico, gã bảo gã đang hết hơi, gã xong đời rồi, thật hết chỗ nói, y đập đập lên đầu gối, như thể có ai đó quan tâm đến chuyện đó trong thành phố này, nơi mà mọi người đều hết hơi, y đã suýt ném cái ống nghe điện thoại xuống, gã hãy đùa với con đĩ mẹ gã chứ đừng đùa với y, thì gã kia phun ra rằng gã có ít tiền và gã cần có chỗ ở và cần có ai đó đứng bên cạnh gã thời gian đầu, cái gã ngốc này nói thế, đúng như thế, đứng bên cạnh gã, gã còn bảo gã trả được sáu trăm đô một tháng, hơn thì không, gã phân trần trên điện thoại, vì gã phải tính toán số tiền, gã nói, và đến chỗ này thì Korin không biết diễn đạt cho một người lạ, nguy to, ngài Sárváry ạ, gã hơi mệt mỏi vì chuyến đi, và gã, gã cố giải thích, gã không phải là một hành khách đơn giản, gã không đơn thuần chỉ đến New York, gã sẽ làm một việc gì đó ở đây, và đây là giây phút cuối cùng, gã cần được giúp đỡ, cần một ai đó hỗ trợ gã, tất nhiên gần như gã không muốn gì hết, chỉ đại loại là gã biết có thể nhờ cậy được ai, nếu gã bí điều gì đó, thực chất chỉ có thế, và nếu có thể, Korin nói với y, hãy đích thân đến đón gã, vì gã không biết mình phải làm gì nữa, hay có thể diễn đạt theo cách khác là gã không biết mình đang ở đâu, tại sao? gã hỏi y, ít ra thì gã biết tên cái khách sạn, nơi gã gọi điện, là gì chứ? điều này là y hỏi gã, và biết làm sao được, vì sáu trăm đô khốn nạn ấy mà y phải lao ngay xuống Little Italy, bởi gã đang ở đó, gã đợi ngày mai ở khu Bowery, sáu trăm đô la, người phiên dịch nói và nhìn người Mexico để tìm sự đồng tình, và vì thế mà y nhảy lên metro ngay, vì sáu trăm đồng bạc khốn nạn mà y phải nhảy dựng lên, y không tưởng tượng sự việc sẽ thế này, y kể tiếp, khi đến Mỹ y không hề nghĩ rằng cuối cùng thứ duy nhất mà y có thể coi là tài sản là một chỗ ở thuê trả tiền trước ba năm ở phố 159 khu West, và rằng chính nó sẽ cứu nguy cho y thì y càng không nghĩ tới, nhưng bây giờ điều đó đã diễn ra, vì khi gã kia đưa ra câu hỏi, trong óc y lóe lên ý nghĩ có thể để gã ở căn phòng phía sau, sáu trăm bạc thật nực cười, nhưng lúc này chừng ấy đối với y cũng quý, một tiếng nữa y sẽ tới đó, y nói vào điện thoại, một tiếng nữa hả? Korin reo lên sung sướng, gã thông báo, rằng y đã cứu sống gã, rồi gã xuống tiền sảnh, thanh toán tiền ở quầy tiếp đón, tất cả một trăm sáu mươi đô la, sau này gã cay đắng kể với y, trả tiền xong gã ra phố, ngồi xuống chân hàng rào cạnh cửa hiệu bán gỗ tấm đối diện với khách sạn, gã thầm biết ơn cái giây phút sau cuộc phiêu lưu nghiêm trọng ở Hotel Sunshine, khi gã thức tỉnh ra rằng ở đây không thể tiếp tục, không thể chần chừ, nếu như gã muốn tránh phá sản và thất bại hoàn toàn, thì gã phải gọi nhờ giúp đỡ ngay, chỉ anh ta mới có thể giúp được gã, gã bắt đầu lục túi tìm tấm danh thiếp, chỉ có anh ta, gã lôi tấm danh thiếp ra và đánh vần những chữ cái kiểu cách, anh ta, Mr. Joseph Sharvary, tel.: 212-611 19 37.
17.
Có thể đây là trường hợp đầu tiên như thế này ở USA, nhưng tôi đến không phải để bắt đầu cuộc sống mới, Korin nói ngay từ đầu, dù gã không biết chắc chắn người nói chuyện với gã, đau đầu do uống nhiều bia đã gục xuống bàn, có nghe được không, hay y đã ngủ, gã đặt cốc xuống, với qua bàn đặt tay lên vai y, rồi gã thận trọng nhìn quanh, hạ thấp giọng nói thêm: - Tôi muốn kết thúc cuộc sống cũ.
18.
Gã trả tiền hết, cả bữa ăn nóng ở quán Tàu, cả số bia kha khá mà họ đã uống, cả tiền thuốc lá cho y, cả tiền taxi đến Upper West Side, đúng là tất tật, mà lại vui vẻ và có vẻ nhẹ nhàng không thể tả nổi, vì như gã cứ nhắc đi nhắc lại mãi, gã đã tới nước không thấy ánh sáng ở cuối đường hầm, nghĩa là đất đã bắt đầu sụt lở dưới chân gã, khi người phiên dịch lại xuất hiện trong đời gã, gã nói mãi những điều tương tự như vậy, và gã cảm ơn, cảm ơn mãi đến vài phút, để rồi sự việc còn trở nên khó chịu hơn, vì, người phiên dịch kể trong nhà bếp, sau đó gã bắt đầu nói như bắn súng, gã kể lại từ đầu chí cuối, bắt đầu từ chỗ gã ra khỏi sân bay, gã kể chi tiết tới mức gần như tả lại từng bước đi của gã, rằng gã bước chân thế này hay thế kia, khủng khiếp, không nói quá đâu, y nói, đúng là gã đã nói hàng giờ liền, vì gã bắt đầu với việc có một thằng nào đó đã đấm gã ở trước khu sảnh lớn, rồi chuyện gã không tìm ra một chiếc xe buýt để vào thành phố, rồi gã bắt được một chiếc taxi, và tài xế là ai, rồi gã đã để tay thế nào trên đường về Manhattan, rồi một điều vớ vẩn nào đó mà lẽ ra gã đã phải nhìn thấy qua cửa xe trên đường về Manhattan, nhưng gã đã không nhìn thấy, đúng là từng mét một, tới khi đến tận Manhattan, cuối cùng cả về cái khách sạn của gã nữa, nói nghiêm túc đấy, gã đã mô tả cho y mọi trang thiết bị, rồi chuyện sau đó mấy ngày liền gã đã làm gì vì gã không dám ra khỏi phòng, rồi thế nào mà gã vẫn mò ra mua chuối, không nói đùa đâu, người phiên dịch tì khuỷu tay lên chiếc bàn bếp vừa cười hô hố vừa nói, điều này giống như y nói đùa, nhưng không phải y đùa, gã đó đúng là một người như thế, lại còn chuyện giữa chừng gã đã lạc vào một cái nhà tù nào đó, gã nói về những tấm lưới sắt nào đó, rồi gã nói gã trốn khỏi chỗ đó ngay, tóm lại là gã rất rối trí, đầu óc mụ mị, đôi mắt vô hồn, gã bị loạn ngôn tuyệt đối, hơn nữa gã còn nói đi nói lại một câu là gã đến đây để chết, và vì thế, gã nói, gã vô hại, điều này khiến y hơi ái ngại, vì cái câu nói về cái chết cuối cùng có thể dẫn đến chuyện thối tha, và xét cho cùng chuyện này không thể coi thường, chuyện này ngay cả đối với một gã có vẻ vô hại thế này cũng phải cẩn thận, nghĩa là y cũng phải thường xuyên để mắt tới gã, y nói với ả tình nhân ngồi bên kia bàn, điều đó hoàn toàn không có nghĩa là ta có bất cứ lý do gì để lo ngại, nếu có thì y đã không cho gã vào nhà, không, không có, thằng cha này, người phiên dịch nói, nếu cần, y có thể thề là gã chỉ nói bâng quơ vậy thôi, chứ không thể coi trọng bất cứ một từ nào của gã, nhưng con người ta cũng chẳng biết cẩn thận đến thế nào cho vừa, vẫn có một phần nghìn, và nếu cái một phần nghìn ấy xảy ra thì sẽ ra sao, và thằng cha này lại ở đây, đúng ở chỗ y, y không muốn điều đó xảy ra, nhưng y còn biết làm gì khác, ngay sáng nay thì việc đến tối kiếm được một trăm bạc cũng là vô vọng, còn bây giờ, chưa đến ba tiếng y đã có sáu trăm đô la, một bữa ăn cơm Tàu tử tế, chừng mười lăm cốc bia và một bao Marlboro, bấy nhiêu đâu đến nỗi tồi, sáng nay y còn có những ý nghĩ tăm tối, thế rồi thằng cha sáu trăm đô này bỗng đâu rách giời rơi xuống, cho y một túi tiền nho nhỏ, y cười, mỗi tháng sáu trăm đô, không, không thể để nó tuột khỏi tay, không thể bỏ qua món này, vì xét cho cùng để thằng cha ấy tá túc ở đây thì có sao đâu, y ngáp dài và ngả người ra sau ghế, sẽ ổn cả thôi, không, Korin sẽ không làm phiền hà gì đến y, vì xem ra gã chỉ có những nhu cầu tối thiểu, một cái bàn, một chiếc ghế để gã có thể làm việc, rồi một chiếc giường, một cái chậu rửa, vài thứ lặt vặt hằng ngày, thế thôi chứ gã không muốn gì hơn, và gã biết ở đây gã sẽ có đủ những thứ ấy, gã cũng không biết phải nói thế nào để diễn đạt sự biết ơn của gã và rằng gã trút được gánh nặng như thế nào, thôi đừng nói nữa, y bảo y không muốn nghe một lần nữa, và y bỏ Korin lại ở căn phòng phía sau, còn Korin thì ở đó một mình, gã nhìn quanh căn phòng, căn phòng của gã, gã nói to lên thành tiếng, nhưng không quá to, để người ngoài kia không nghe tiếng, ông Sárváry và bạn gái của ông ta, vì đúng là gã không muốn, và cũng sẽ không làm phiền họ, gã ngồi xuống giường, rồi đứng dậy bước lại gần cửa sổ, rồi gã lại ngồi xuống giường, sau đó lại đứng dậy, cứ như thế mấy phút liền, vì sự sung sướng cứ tràn dâng mãi như những đợt sóng nào đó, và gã cứ đứng lên ngồi xuống mãi, và cuối cùng để cho niềm hạnh phúc trọn vẹn, và không muốn quấy rầy người khác, gã thận trọng kéo chiếc bàn lại gần cửa sổ, xoay cho ánh sáng chiếu thẳng lên nó, rồi gã kéo chiếc ghế đến bên bàn, xê dịch cho nó nằm đúng chỗ, gã nhìn tất cả, có thể thấy gã nhìn mãi không chán, gã đã có chỗ ở, có bàn ghế, hơn nữa: có ông Sárváry, có căn hộ này ở trên tầng nhà cao nhất của nhà số 547 trên đường West 159, ngay cạnh lối lên tầng áp mái, không có biển ghi tên chủ hộ trên cánh cửa.
19.
Hồi nhỏ, Korin bắt đầu vào sáng sớm hôm sau trong nhà bếp, trong khi ả người tình của người phiên dịch đang nấu món gì đó trên chiếc bếp ga ở phía sau lưng gã, thực chất từ hồi còn trẻ con bao giờ gã cũng đứng về phía những đứa thua cuộc, hay không hẳn là thế, gã lắc lắc đầu, nói đúng hơn là cả thời thơ ấu của gã là vậy, gã chơi với bọn thua cuộc, và chỉ chơi với bọn chúng, chứ không thể chơi với bọn khác, chỉ với những đứa không may, thất bại, bị hành hạ và bị lợi dụng, gã chỉ tìm đến với chúng, chỉ cảm thấy gần gũi chúng, chỉ hiểu nỗi phiền muộn của chúng, và gã chỉ bắt chước chúng trong mọi việc, cả trong các cuốn sách giáo khoa, gã nhớ cậu bé Korin ngồi ghé trên chiếc ghế cạnh cửa, gã nhớ ngay cả trong các giờ học văn cũng chỉ các nhà thơ có số phận bi kịch là làm gã xúc động, thậm chí chỉ kết cục bi thảm của các nhà thơ, khi gã thấy họ suy sụp, cô đơn, bị hiểu biết tận cùng về bí mật của cuộc đời và cái chết giáng những đòn trí mạng và nhục nhã, trên những trang sách giáo khoa, một sự xa lạ bản thể với những kẻ chiến thắng, gã không khi nào biết dự phần vào niềm vui chiến thắng của bất cứ ai, gã không tài nào chịu nổi chuyện này, gã chỉ cảm thấy gần gũi với thất bại, ngay từ giây phút đầu tiên, ngay lập tức, với bất kỳ kẻ thua cuộc nào; tóm lại là thế, Korin nói, ngập ngừng đứng dậy, và điều đó, gã muốn nói với tấm lưng bất động của người đàn bà, có một vị ngọt ngào nào đó, trong nỗi đau đớn mà gã cảm thấy những lúc như vậy có một cái gì đó nóng ấm ngọt ngào chạy khắp người gã, khi gã đối diện với nó, cũng như với chiến thắng và những kẻ chiến thắng, là sự chối bỏ lạnh lùng không có ngoại lệ, gã cảm thấy vậy, cảm giác đó lan tỏa trong người gã, mặc dù gã không căm thù, không ghét bỏ, nhưng gã không hiểu chiến thắng và những kẻ thắng cuộc, sự hân hoan mà kẻ thắng cuộc cảm nhận được đối với gã không phải là niềm vui, còn sự tổn thất của kẻ chiến thắng không phải là thất bại, chỉ những kẻ bị đối xử bất công, bị săn đuổi tàn độc, nói thế nào nhỉ? gã chỉ yêu thương những kẻ cô độc và bị hắt hủi, vì thế nên chẳng có gì lạ là ngay từ thuở nhỏ gã đã bị gạt sang bên lề các sự kiện, gã khép mình, lùi lại phía sau và cảm thấy mình yếu đuối, cũng chẳng có gì lạ là khi đã trưởng thành do việc bị gạt ra ngoài các sự kiện, do sự khép kín, nhút nhát và yếu đuối đó mà bản thân gã trở thành một thất bại lớn, tuy nhiên, Korin bước một bước về phía cửa bếp, tuy nhiên đơn giản không chỉ là gã nhận ra mình trong những kẻ thất bại có số phận tương tự, mọi việc đã diễn ra như vậy với lý do ích kỷ và vô cùng phản cảm, vì số phận cá nhân của gã một mặt không thể nói là quá khó khăn, gã có bố, mẹ, gia đình, tuổi thơ, mặt khác sự quyến luyến của gã đối với những kẻ thất bại, căn nguyên sâu xa của sự quyến luyến này được xác quyết bởi một sức mạnh to lớn hoàn toàn độc lập với con người gã, một sự thật không thể lay chuyển, theo đó trạng thái tâm lý như của gã hồi bé bao gồm sự cảm thông, độ lượng và sự tin cậy vô điều kiện, là đúng tuyệt đối và hiển nhiên, dù, gã thở dài ở cửa và cố gây sự chú ý ở người đàn bà bằng tiếng thở dài, có thể đó chỉ là những giải thích áp đặt, những cố gắng vô ích để hiểu được nó, vì ở tận cùng của mọi thứ có khi chỉ là, nói một cách đơn giản, Korin nói, gã từng là một cậu bé u sầu, có những đứa bé vui và có những đứa bé buồn, và gã thuộc số những đứa sầu muộn, những đứa bị ám ảnh bởi một nỗi sầu muộn gặm nhấm dần trong suốt cuộc đời đúng như gã bị ám ảnh bởi một điều gì đó tương tự như thế, có lẽ chỉ có vậy thôi, ai mà biết được, dù thế nào đi nữa gã cũng không muốn tiếp tục trút phiền muộn lên người phụ nữ, gã ấn nhẹ tay nắm cửa, đã đến lúc gã phải về phòng mình, không biết vì sao gã lại muốn tâm sự về nỗi buồn và thất bại, gã cũng không hiểu tại sao, thật nực cười, nhưng gã hy vọng không làm phiền ả, ả cứ nấu nướng tiếp đi, giờ thì, gã nói lời chia tay sau lưng người đàn bà vẫn đứng yên lặng bên bếp ga, giờ gã đi đây, và xin... tạm biệt.
20.
Nếu không kể đến phòng vệ sinh cạnh cầu thang dẫn lên gác mái, căn hộ có ba phòng sát nhau, thêm bếp, buồng tắm và một phòng nhỏ chứa đồ ở phía sau, nghĩa là ba với một với một với một, tất cả là sáu phòng, nhưng Korin chỉ mở hé các cánh cửa liếc vào bên trong, khi những chủ nhân của căn hộ đi vắng vào buổi tối và gã có cơ hội để xem kỹ căn hộ hơn, xem gã đang tá túc ở nơi nào, gã chỉ dừng lại chốc lát nơi bậu cửa, phóng một cái nhìn thờ ơ vào các căn phòng, vì không, gã không quan tâm tới những thứ đồ đạc đơn sơ, đến các bức tường dán giấy đã bong tróc cũ nát, đến chiếc tủ trống không và bốn năm cái giá để đồ xiêu vẹo, đến chiếc va li cũ kê cạnh giường ngủ, đến cái vòi tắm han gỉ không có núm hoa sen, những bóng điện trần và chiếc khóa an toàn loại bốn tổ hợp trên cánh cửa, bởi thay vì để ý đến các kết luận có thể rút ra từ những thứ trên gã chỉ quan tâm tới việc làm sao mình lấy lại được can đảm để có thể đứng đối diện với chủ nhân của căn hộ này khi họ quay về, để nói rằng, thưa ngài Sárváry, tôi rất muốn ngày mai ngài dành cho tôi chút ít thời gian, rõ ràng gã đã đi đi lại lại trong nhà hàng tiếng đồng hồ vì gã chỉ muốn làm việc đó, gã chuẩn bị, tập dượt để làm điều đó, cho tới khi họ về nhà khoảng một giờ đêm, để gã bước tới trước mặt họ và đưa ra, như gã hứa, đúng là yêu cầu cuối cùng, ngài Sárváry ạ, gã thử nói thật to, như gã đã nói trong thực tế chừng một giờ đêm, thưa ngài Sárváry, gã bước tới đứng trước mặt họ khi họ bước vào nhà, gã tha thiết đề nghị, ngày mai ngài hãy đưa gã đến một cửa hiệu, ở đó gã, Korin, có thể mua được những dụng cụ cần thiết cho công việc của gã, vì gã, như các vị biết, không thạo tiếng Anh, và yêu cầu của gã, gã có thể sắp xếp trước trong đầu, nhưng cũng cái đầu ấy không hiểu được câu trả lời, gã muốn có một chiếc máy tính, gã nói, một máy tính đơn giản cho công việc của gã, gã nói với đôi mắt của kẻ bị săn đuổi, đối với ngài Sárváry hiển nhiên đây là chuyện vặt, nhưng đối với gã, Korin nắm lấy cánh tay người phiên dịch, trong khi người đàn bà cúi đầu xuống và bỏ hai người đứng đó, im lặng bước vào một căn phòng, đối với gã đó là một ân huệ không thể tưởng tượng nổi, bởi ở đây gã không chỉ gặp khó khăn thường xuyên với tiếng Anh, mà gã còn không biết, hoàn toàn không thạo máy tính, thấy thì gã có nhìn thấy chúng trong phòng lưu trữ, khi còn ở bên nhà, gã giải thích, nhưng chúng hoạt động thế nào thì gã mù tịt, do đó mà gã không biết mua cái nào, gã chỉ biết là gã muốn làm gì với chúng, vậy à, điều đó còn phụ thuộc vào, người phiên dịch xem chừng đã muốn đi nằm sốt ruột cắt ngang, vào cái gì? Korin hỏi, vào việc anh muốn làm gì với chúng, người kia đáp, gã muốn làm gì ấy à? Korin hỏi, gã dang tay, nếu ngài còn có thể dành cho tôi thêm một phút, tôi sẽ giải thích ngắn gọn, người kia miễn cưỡng gật đầu và nhìn về phía bếp, rồi bước vào phía trong, Korin liền bước theo y, gã ngồi xuống bên bàn ở phía đối diện, hắng giọng mấy lần nhưng không nói gì, rồi gã lại hắng giọng lần nữa, nhưng vẫn không nói gì, cuối cùng gã cứ ầm ừ mãi kéo dài có lẽ đến một phút, vì đơn giản là gã không thể bắt đầu, như gã mắc tóc, gã định nói nhưng không nói được, gã cứ định bắt đầu thì một cái gì đó lại ngăn gã lại, như người mắc kẹt không thấy lối ra, trong khi người kia, người phiên dịch, cứ ngồi đó, buồn ngủ và sốt ruột, mẹ kiếp sao không bắt đầu đi cho rồi, và trong khi chờ gã kia nói lúc lúc y lại đưa tay lên mái tóc bạc trắng như tuyết, dùng các ngón tay lần theo đường rẽ ngôi chạy từ đỉnh đầu xuống tới trán như muốn kiểm tra xem nó có còn thẳng hay không.
21.
Gã đứng giữa phòng lưu trữ, chính xác hơn là từ chỗ những cái giá phía sau gã bước ra chỗ sáng hơn, không còn ai ở lại, mọi người đã về cả, vì đã hơn bốn giờ chiều, có lẽ bốn giờ mười lăm hay gần bốn rưỡi, gã tiến lên trước, trên tay là tập hồ sơ gia đình, cụ thể là fasciculus[9] đã được vào sổ lưu với tư cách các giấy tờ của gia đình Wlassich, gã dừng lại dưới ngọn đèn lớn, để tập hồ sơ lên mặt bàn, và gã mở chúng ra, lục lọi, lật giở, xem hết lượt đống giấy tờ bày ra trước mắt gã, với chủ định sau mấy chục năm, giờ nếu tập hồ sơ đã ngẫu nhiên lọt vào tay gã, thì gã sẽ sắp xếp lại cho gọn, nếu cần, cho tới khi giữa đám nhật ký và thư từ, các bản kê tài sản và những bản sao chúc thư, văn bản và tài liệu gã giở đến một pallium[10] ký hiệu IV.3/10/1941-42, gã thấy ngay nó không ăn nhập gì với cách đánh dấu “hồ sơ gia đình”, vì nó không phải nhật ký và không phải thư từ, không phải bản kê tài sản và bản sao chúc thư, không phải văn bản hay tư liệu gia đình, mà là một cái gì đó khác, điều này đúng là gã nhận ra ngay khi vừa cầm những tờ giấy lên tay, gã thấy ngay từ phút đầu tiên, nhưng trước tiên gã lướt qua một lượt tất cả, lật giở ra một vài chỗ, tìm năm, tìm tên nhà chức trách, gã lật đi lật lại, để xem nó là gì rồi đưa ra đề nghị chỉnh sửa thích hợp, chuẩn bị cho việc xử lý, nghĩa là gã tìm một con số nào đó, một cái tên nào đó, hay bất cứ thứ gì có thể nhận dạng và phân loại nó, nhưng không thấy gì hết, đại thể, nhìn bằng mắt thường nó khoảng trăm rưỡi, trăm sáu trang đánh máy, không đánh số trang, không có gì ngoài bản thân nó, không tên, không ghi năm tháng, cũng chẳng có chỉ dẫn gì ở cuối văn bản, rằng ai viết, ở đâu hay một thứ gì đó, không gì hết, Korin nhăn trán bên chiếc bàn lớn trong phòng lưu trữ, vậy thì, đây là cái của khỉ gì vậy nhỉ, gã bắt đầu xem xét loại và chất lượng giấy, kiểu chữ và chất lượng đánh máy, kiểu và chất lượng trình bày, nhưng cái mà gã tìm được ở đây không ăn nhập gì với những thứ khác tìm được trong fasciculus, với những thứ có liên quan đến nhau, những pallium có vẻ phụ thuộc lẫn nhau, có thể thấy riêng tập giấy này không có họ hàng gì, nghĩa là độc lập với những thứ kia, bởi thế ở lần khảo sát sau gã đã chọn một phương pháp khác, gã bắt đầu đọc văn bản, gã cầm cả tập và bắt đầu đọc từ đầu, gã chậm rãi, cẩn thận ngồi xuống ghế - gã ngồi và đọc, chiếc đồng hồ treo trên cửa ra vào chỉ năm, sáu rồi bảy giờ, nhưng gã không nhìn lên, gã cứ đọc tiếp, tám, chín, mười, mười một giờ đã qua, nhưng gã vẫn ngồi đó, đúng như cũ và khi nhìn lên gã thấy đồng hồ chỉ mười một giờ bảy phút, gã còn nói thành tiếng, chết cha, đã mười một giờ bảy phút? và gã vội vàng thu dọn, gã xếp các thứ tài liệu khác rồi buộc lại, còn tập cảo bản không nhận dạng được và không thể xếp loại này thì gã bỏ vào một túi bìa khác có buộc dây, rồi gã cặp nó vào nách, và với tập tài liệu cắp nách, gã tắt điện, đóng cánh cửa kính ra vào, sau đó gã ra về, để khi về đến nhà gã lại ngồi xuống ngay, và bắt đầu đọc lại tất cả từ đầu.
22.
Ở bên nhà, Korin phá tan sự yên lặng trùm lên gã, ở nhà gã làm tại một phòng lưu trữ, và một hôm, có lẽ tầm bốn rưỡi hay trước bốn rưỡi, gã đã tìm thấy ở một trong những chiếc giá phía sau một tập tài liệu không ai ngó ngàng tới từ vài thập kỷ, gã đã lôi nó ra, đem ra chỗ sáng hơn, để nhìn cho rõ gã đã dừng lại dưới ngọn đèn lớn, bên dưới đặt chiếc bàn trung tâm của cả phòng lưu trữ, và gã đã mở tập giấy, đã lục tìm, đã lật mở hết các pallium trong đó, với ý đồ là, gã nói với người phiên dịch đã díp mắt vì buồn ngủ, sắp xếp lại chúng nếu cần, cho tới khi giữa đám nhật ký và thư từ, các bản kê tài sản và những bản sao chúc thư, văn bản và tài liệu của gia đình Wlassich, vì trong tập tài liệu là những thứ đó, gã bỗng thấy một pallium, đến giờ gã vẫn còn nhớ, mang ký hiệu IV.3/10/1941-42, pallium này không phù hợp với, gã thấy ngay là nó không phù hợp với cách đánh dấu hồ sơ gia đình, theo cách phân loại của phòng lưu trữ bằng số bốn La Mã, vì cái mà gã tìm thấy không phải là nhật ký, không phải bản kê tài sản, không phải thư từ và bản sao chúc thư, cũng không phải là văn bản hay tài liệu, mà là một cái gì đó hoàn toàn khác, điều đó thì gã, Korin, đúng là nhận ra ngay từ đầu, ngay khi cầm những tờ giấy trên tay, và gã bắt đầu xem xét chúng, gã lật đi lật lại để tìm mấu chốt của vấn đề, để xem nó là gì và đưa ra đề nghị chỉnh sửa thích hợp, nghĩa là, gã giải thích cho người phiên dịch, chuẩn bị cho việc xử lý tiếp tục, gã tìm một con số, một cái tên, hay bất kể thứ gì khác, để có thể định dạng những thứ kiểu này, nhưng không thấy, xấp giấy áng chừng độ một trăm ruổi, trăm sáu trang đánh máy, không đánh số trang, không có gì khác ngoài bản thân nó, không tên đề, niên đại, cũng chẳng có hướng dẫn gì ở cuối là ai viết, ở đâu, hay là thứ gì khác, không gì hết, gã lúng túng nhìn xấp giấy, lúc này Korin kể, rồi gã bắt đầu xem xét loại và chất lượng giấy, kiểu chữ và chất lượng đánh máy, kiểu và chất lượng trình bày, nhưng cái mà gã tìm được ở đây không ăn nhập gì với những thứ khác tìm được trong fasciculus, với những thứ có liên quan đến nhau, những pallium có vẻ phụ thuộc lẫn nhau, có thể thấy riêng tập giấy này, Korin nói với người phiên dịch đã thỉnh thoảng gà gật vì buồn ngủ, không có họ hàng gì, nghĩa là độc lập với những thứ khác, vì thế lần thứ hai gã đã sử dụng một phương pháp khác, gã nói, gã bắt đầu đọc văn bản, gã đọc từ đầu đến cuối, gã cứ ngồi và đọc, gã kể, hàng giờ trôi qua trong phòng lưu trữ, nhưng gã vẫn ngồi bất động, cho tới khi đọc đến hết, rồi gã tắt điện, đóng cửa, ra về, và lại tiếp tục đọc, vì gã cảm thấy phải đọc lại ngay một lần nữa, thứ đã ngẫu nhiên rơi vào tay gã, ngay lập tức, Korin nói trịnh trọng, vì chỉ mới đọc đến câu thứ ba trong văn bản này, gã đã biết rằng mình có trong tay một tư liệu khác thường, Korin nói, khác thường, thậm chí ngay lúc này gã có thể nói với ngài Sárváry rằng, gã đang sở hữu một tư liệu tầm thế giới, gây sửng sốt và chấn động, một tư liệu thiên tài, và gã cứ đọc hết câu này tới câu khác, và đến tảng sáng, lúc mặt trời chưa lên, trời còn tối, có lẽ khoảng sáu giờ, thì gã biết rằng gã phải làm một việc gì đó, trong đầu gã hình thành những ý tưởng lớn, và những quyết định lớn về cuộc đời gã, về cái chết của gã, và về việc gã sẽ không trả lại tài liệu này vào phòng lưu trữ, mà phải đưa nó lên phía trước, về cõi bất tử, là chỗ của nó, khi đó gã nhận thức được như thế, gã sẽ dành cả cuộc đời cho việc này, và ngài Sárváry có thể hiểu ý sau của gã đúng theo nghĩa đen của từ ngữ, vì vào tảng sáng hôm đó đúng là gã đã quyết định, rằng đằng nào nếu như gã cũng muốn chết, bởi đó là sự thực, thì theo đúng nghĩa của từ này gã sẽ hiến dâng cuộc đời cho sự bất tử này, sự việc đã diễn ra đúng như thế, gã nói, từ hôm đó trở đi gã bắt đầu nghiên cứu bí mật của cõi vĩnh hằng, cho phép gã diễn đạt như vậy, phải biết rằng cho tới nay trong lịch sử, một người nào đó đã có những phương cách nào để đưa một điều gì đó, một tin tức thần thánh, một tuyên bố thần thánh về phía cõi vĩnh hằng, gã đã khảo sát các khả năng và tiềm năng của sách, của pergamen[11], của phim, của phim micro, vv..., vv... tất cả đều có thể bị hủy diệt, như người ta đã hủy diệt, vậy cái gì không thể bị hủy diệt, gã tự hỏi, và sau mấy tháng, nhưng cũng có thể nói mấy tháng trước đây trong một quán ăn mà mỗi Chủ nhật gã vẫn hay ghé vào, gã đã nghe được một cuộc trò chuyện ở bàn bên cạnh, hai thanh niên, Korin nói, hai chàng trai trẻ tranh luận với nhau, gã mỉm cười đầy ẩn ý, cụ thể về cái gọi là Internet lần đầu tiên trong lịch sử tạo cho sự vĩnh hằng một khả năng tồn tại thực tế, trên thế giới đã có nhiều máy tính đến mức máy tính trong thực tiễn không thể bị hủy diệt, từ đó Korin suy ra một kết luận quan yếu đối với gã, cái gì không thể hủy diệt được, thì cái đó, nói theo cách khác là vĩnh cửu, gã đã bỏ đĩa thức ăn lại, chẳng cần phải nói là ngay lập tức, bây giờ gã không nhớ chính xác đó là món gì, có lẽ là món đậu nấu với sườn rán, gã bỏ đó, đứng dậy và ra về ngay để trấn tĩnh lại, rồi ngày hôm sau gã đã lục tìm trong thư viện mọi thứ có thể nghĩ tới, gã đã đọc hết nhiều cuốn sách, các công trình của vô số tác giả xuất sắc và kém xuất sắc trong lĩnh vực chuyên môn hoàn toàn xa lạ đối với gã, cho tới khi ý nghĩ phải làm điều này càng ngày càng mạnh hơn trong đầu gã, gã phải viết nó vào cái thiết bị nghe rất dị thường và hoàn toàn trí tuệ, bởi vì gã phải viết thi phẩm tuyệt vời mà gã tìm được vào Internet bất tử, chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng được lưu giữ bởi máy tính, gã phải viết vào đó, để bằng việc đó gã viết vào vĩnh cửu, vì nếu việc đó thành công, gã tự nhủ, thì gã chết không vô ích, dù đã sống vô ích, nếu thực hiện được điều đó, gã động viên mình khi còn ở nhà trong thời kỳ đầu, thì cái chết của gã sẽ có ý nghĩa, mặc dù - gã hạ giọng nói bên chiếc bàn ăn -, cuộc đời gã chẳng có ý nghĩa gì.
23.
Hãy đi lên ngang bên cạnh tôi, hôm sau người phiên dịch vẫy tay gọi Korin, gã cứ lẽo đẽo phía sau y khi họ đi trên phố, rồi dưới tàu điện ngầm, cuối cùng là bậc cầu thang dẫn lên phố 47, đừng đi phía sau thế, y nhắc, đi bên cạnh tôi đây, cứ đàng hoàng, nhưng vẫy và nhắc gã cũng vô ích, cứ sau một hai chục bước chân dù không cố ý, bằng cách nào đó gã lại tụt lùi phía sau người phiên dịch, thế là sau một thời gian y không nhắc nữa, kệ xác gã, như y kể lúc về nhà, nếu gã muốn lẽo đẽo phía sau thì mặc gã đi phía sau, đối với y gã đi ở đâu cũng mặc, cơ bản là, y quyết định và nói thẳng với Korin, rằng đây là chuyến phiêu lưu chung cuối cùng của hai người, vì y không rảnh, y rất bận, y chỉ lo cho gã việc này nữa thôi, sau đó từ nay trở đi Korin phải tự lo liệu lấy một mình, một mình, hiểu chưa?! y rít lên, vì có vẻ như Korin chẳng thèm quan tâm đến chuyện này, gã còn chẳng để ý đến nữa, gã cứ thũng thẵng phía sau, ít nhất gã phải chú ý chứ, y quát lên, dù Korin rất chú ý, chỉ có điều ngoài việc này ra gã còn phải cùng lúc để ý đến cả trăm, thậm chí cả ngàn, thậm chí cả trăm ngàn việc khác nữa, bởi vì kể từ khi gã tới đây và kể từ cuộc phiêu lưu kinh hoàng của gã tới Sunshine Hotel đến lúc này gã mới ở ngoài phố một cách bình thường, và lần đầu tiên gã có khả năng nhận ra những gì đang diễn ra quanh gã, chỉ có điều giữa chừng gã sợ, sáng hôm sau gã kể trong bếp, gã sợ và hôm nay vẫn còn sợ, gã thú nhận, vì gã không biết, cũng như gã đã không biết, phải sợ điều gì và không sợ điều gì, phải để ý tới cái gì và không để ý tới cái gì, vì thế mà ở những bước đi đầu tiên dĩ nhiên là gã cố gắng để ý đến tất cả mọi thứ, trong khi đi theo người phiên dịch, gã chú ý để không bị tụt lại, nhưng cũng đừng vội vàng quá, gã chú ý đút vé tàu điện ngầm vào đúng chỗ trên chiếc máy tự động, và giữ bộ mặt dửng dưng thế nào đó để đừng thu hút sự chú ý của mọi người, tóm lại là gã cố thích ứng với một điều gì đó, mà gã cũng không biết đó là điều gì, và như thế gã rất mệt mỏi đến cửa hiệu mang biển Photo trên phố 47 sau ngài Sárváry, đến nỗi gã gần như lết đi, khi bước vào cửa hiệu và phải lên tầng gác ngay, gã gần như không nhận thấy điều gì đang diễn ra, ngài Sárváry, gã kể với người đàn bà, đã hỏi một cô bán hàng người Hasidic Jew[12] đứng sau quầy, cô ta nói gì đó, và thế là họ phải chờ, quầy rất vắng khách, chỉ có một người đứng trước họ, nhưng ít nhất phải chờ hai mươi phút, tới khi cô gái Hasidic Jew bước ra từ quầy hàng và dẫn họ tới chỗ có một lô máy tính và cô bắt đầu giải thích, nhưng gã, Korin, gã kể, dĩ nhiên chẳng hiểu một từ nào hết, trừ đoạn cuối, khi ngài Sárváry thông báo với gã là đã có thiết bị tối ưu mà gã cần, và rằng gã có muốn làm home page hay không, khi thấy vẻ mặt lúng túng của gã y chỉ phẩy tay một cái, Korin kể lại vui vẻ, và ơn Chúa ngài Sárváry đã tự giải quyết hết, gã chỉ còn lại mỗi một việc là trả tiền, tổng cộng một ngàn hai trăm tám mươi chín đô la, gã đã trả đủ số tiền, thế là họ nhận được một gói nhỏ nhẹ tênh đem về, Korin cũng không dám hỏi điều gì nữa, một đằng là một ngàn hai trăm tám mươi chín đô la, đằng khác là cái gói nhẹ tênh kia khiến gã lo lắng, họ yên lặng quay trở lại bằng tàu điện ngầm, rồi chuyển sang một tàu khác và tiếp tục đi lặng lẽ về phía đường 159, chẳng nói năng một lời, rõ ràng ngài Sárváry cũng đã mệt vì đi nhiều, vì thế đúng là ngài không nói một lời; thỉnh thoảng người phiên dịch lại nhìn gã với vẻ hăm dọa, khi y cảm thấy gã định nói, vì chớ có để gã lại bắt đầu màn độc thoại ngu ngốc, hãy im lặng, ít ra cho tới khi họ về đến nhà, lúc ấy hẵng hay, người phiên dịch kể, khi đó y sẽ giảng giải cho gã xem gã phải làm gì, và sự việc đã diễn ra đúng như thế, y bật máy, và chỉ bảo cho gã ấn cái nút nào, lúc nào, tất cả có thế thôi, y nói, và đây là lần cuối cùng, y giảng giải nút nào có tác dụng gì, và muốn đánh dấu dài của tiếng Hung thì phải làm thế nào, sau đó y vay gã không phải là hai trăm như dự định ban đầu đêm qua, khi y đồng ý giúp gã vụ mua sắm này, mà là bốn trăm đô la, thằng cha này sẵn tiền, gã giấu dưới áo khoác, y cười với ả tình nhân ngồi bên bàn, em hãy tưởng tượng xem gã giữ cả gia sản trong cái túi khâu dưới vạt áo khoác, và gã lôi từ đó ra để trả, hãy tưởng tượng xem, thật hết chỗ nói, gã moi từ chỗ ấy ra như thể moi ra từ một cái túi đựng tiền, người phiên dịch cười hô hố, y đã ngoéo luôn bốn trăm đô, thế là tổng cộng đủ chẵn một ngàn, rồi y bỏ gã lại, y kể, khi bỏ gã lại đó y còn thành thật khuyên gã, rằng thưa ngài Korin, thế này thì ngài sẽ không trụ ở đây được lâu đâu, vì nếu ngài không lấy chỗ tiền trong vạt áo của ngài ra, chúng nó sẽ đánh hơi thấy mùi tiền, và lần tới khi ngài bước chân ra đường, ngài sẽ bị làm thịt bởi cái mùi ấy đấy.
24.
Phải hiểu là một computer bình thường, người phiên dịch giải thích, theo thông lệ bao gồm một màn hình, một bộ phận xử lý, một bàn phím, một con chuột, một modem và những software khác nhau, và cái của anh, y nói với Korin đang lơ ngơ gật gật đầu, có đủ mọi thứ, thậm chí anh có một chiếc, y chỉ chiếc laptop đã mở ra trên bàn, không chỉ có thể kết nối Internet ngay, điều đó là tất nhiên, mà còn có thể tạo home page nữa, thứ mà anh cần, vì anh đã có một provider, chúng ta đã đặt cọc hai trăm ba mươi đô la để đảm bảo được kết nối trong vài tháng, việc của anh bây giờ chỉ còn là - nhưng anh hãy đợi đấy, chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu, người phiên dịch thở dài khi thấy ánh mắt hốt hoảng của Korin: nếu nhấn nút này, y đặt ngón tay lên một cái nút phía sau computer, tức là anh đã mở máy, và khi đó các icon nhỏ có màu này sẽ hiện lên, thấy chưa? y chỉ vào các icon và hỏi, anh có thấy các biểu tượng này không? rồi y bắt đầu giải thích, đúng là bằng những từ ngữ và dữ liệu đơn giản nhất, vì khả năng tiếp thu của thằng cha đó thật thảm hại, y kể lại với ả tình nhân, chưa nói đến tốc độ phản ứng của gã, thôi không sao, y nói, y giảng giải lại từ đầu, từ chỗ nếu nhìn thấy cái gì trên màn hình thì phải làm gì, trước đó y còn giải thích chức năng và ý nghĩa của từng thứ, nhưng mau chóng thấy việc đó hoàn toàn vô ích, y chỉ dạy và luyện cho gã những phản ứng cơ học, vì xét cho cùng với gã chỉ có thể làm đến thế, y kể với người đàn bà, rằng sau khi chỉ dẫn mọi thứ, y đều luyện cho gã làm, và thế là thằng cha ấy, người phiên dịch nói, trong vòng ba tiếng cực nhọc, dù chẳng hiểu gì về những bí mật của cách tạo home page, nhưng bây giờ gã đã biết mở Word Office 97, để có thể đánh máy cái văn bản của gã, và đến cuối ngày, nếu muốn dùng lại, trước hết gã phải định dạng văn bản đã viết bằng hypertext, rồi lưu lại, cuối cùng là liên hệ với server, nhấn mã đăng nhập, mật lệnh, tên nhà cung cấp, tên gã, vv. và vv., đúng là tất tật từ các bước nhỏ nhất tới khi gã gửi được văn bản đến home page của gã, gã biết cho password cá nhân, để gã có thể kiểm tra được xem văn bản đã tới server chưa và các từ khóa nổi bật đã thực sự có thể tìm thấy đối với các trình duyệt tìm kiếm hay chưa, và tất cả những thứ đó, tất tật, người phiên dịch nói với vẻ vẫn còn chưa tin nổi, phải nhồi vào gã với cách thức thô sơ nhất có thể, vì cái đầu gã là lỗ hổng tuyệt đối, cái gì vào lại trôi tuột ra, nếu nghe thấy điều gì đó gã nhăn trán vì gắng sức, cả con người gã là một sự gắng sức, nhưng có thể thấy cái gì vào lại trôi tuột ra khỏi đầu gã, có thể thấy chẳng còn lại thứ gì trong đầu gã; và như thế có thể tưởng tượng được, hôm sau cả Korin cũng nói trong bếp, có thể tưởng tượng được là gã đã trải qua những gì cho tới khi gã học được tất cả mọi thứ, vì gã không chỉ công nhận rằng đầu óc gã không còn được như xưa, mà còn tuyên bố thẳng thừng, rằng đó là một bộ óc tồi, đã hư hỏng, hết thời, không dùng được vào việc gì nữa, và chỉ nhờ có khả năng sư phạm tuyệt vời, cùng với, Korin nói thêm với nụ cười gượng gạo, sự kiên nhẫn vô hạn của ngài Sárváry, mà một điều gì đó đã thành công, vì phải công nhận, chính gã là kẻ bất ngờ nhất, dưới bàn tay gã cái công cụ kỳ diệu không thể tưởng tượng nổi này, cái vật nhỏ nặng vài lạng này hoạt động, gã cũng gần như không thể tin nổi, nhưng đúng là thế, gã say sưa kể, tiểu thư thử tưởng tượng xem, gã ngồi trong phòng, trên bàn chiếc máy được đặt ở chính giữa, nó nằm đó, gã ngồi xuống và thế là xong, mọi việc thông đồng bén giọt cả, gã bỗng cười, nó chạy vì gã nhấn nút này hay nút kia, và điều mà ngài Sárváry tiên đoán cho gã đã diễn ra, rằng chỉ sau vài hôm thực hành, gã nói nhỏ với người đàn bà lúc đó cũng vẫn đứng bên bếp ga quay lưng về phía gã, và có lẽ gã sẽ bắt đầu, chỉ vài ngày nữa thôi, gã nói, là gã sẽ bắt tay vào, vì vài ngày luyện tập nghiêm túc nữa, là gã sẽ bắt tay vào việc, gã sẽ ngồi lì, sẽ ăn nằm bên chiếc máy, nghĩa là sẽ đến lúc gã ngồi xuống, và bắt đầu viết một thứ gì đó cho mai sau, cho vĩnh hằng, gã, Korin György, trên đỉnh ngôi nhà số 547 phố 159 ở New York, với cái giá tổng cộng là một ngàn hai trăm tám mươi chín đô la, trong đó tiền đặt cọc là hai trăm ba mươi.
25.
Gã tìm một chỗ an toàn nhất trong phòng, và nghe theo lời khuyên của người phiên dịch, gã lấy chỗ tiền còn lại trong vạt áo khoác cất vào đó, gã dùng một sợi dây buộc thật chặt, cố định vào chỗ giữa những chiếc lò xo giường nằm, gập tấm vỏ đệm lại rồi vuốt cho phẳng tấm ga trải giường, sau đó từ những điểm khác nhau của căn phòng gã kiểm tra xem liệu con mắt người lạ có thấy gì không, xong việc đó gã đã ở thế sẵn sàng khởi hành, vì gã quyết định sẽ lên đường, trong những giờ mà người phiên dịch đòi riêng cho mình, từ năm giờ chiều đến ba giờ sáng, khi đường điện thoại duy nhất không thể sử dụng cho máy tính, gã sẽ tìm hiểu thành phố, để dù sao gã cũng biết mình đang ở đâu, sống ở chỗ nào, gã đã rơi vào ngõ ngách nào, hay chính xác hơn là gã đã chọn gì khi đến New York để thực hiện kế hoạch của gã, nghĩa là gã đã chọn trung tâm của thế giới để tiếp cận sự vĩnh cửu và cho cái chết của cá nhân gã, gã sẽ khám phá thành phố, gã kể cho người đàn bà trong bếp về quyết định của gã, gã sẽ đi và tìm hiểu về thành phố, và gã đã làm như vậy ngay ngày hôm sau khi mua máy tính và sau khi gã bắt đầu thực hành, sau năm giờ một chút gã bước xuống cầu thang, đi ra khỏi nhà, bắt đầu hành trình trên phố, lúc đầu chỉ vài trăm mét về phía trước rồi quay lại, rồi gã đi lặp lại, vừa đi vừa ngoái lại sau để nhận rõ các ngôi nhà, cả theo chiều ngược lại, chừng hơn một tiếng sau gã đã dám mò tới bến tàu điện ngầm ở góc phố 159 và Washington Avenue, ở đó gã xem rất lâu tấm bản đồ hệ thống tàu điện ngầm treo trên một bức tường, nhưng lên tàu, mua vé, đi tiếp nữa thì hôm đó gã còn chưa dám, chỉ hôm sau gã mới đủ can đảm, khi đó gã mua vé, lên toa tàu đầu tiên và đi tới Time Square, vì cái tên nghe quen quen với lỗ nhĩ của gã, rồi từ đó gã bách bộ theo đường Broadway xuống phía dưới, cho tới khi rũ người ra vì mệt, và gã lặp lại thế mấy ngày liền, lần nào cũng quay về bằng xe buýt hay tàu điện ngầm theo lời khuyên của người phiên dịch, một tuần sau những chuyến đi như thế đã mang lại kết quả là gã bắt đầu học được cách sống trong thành phố, gã bắt đầu hết sợ hãi, nếu phải đi lại hay mua bán tại quầy hàng của một người Việt Nam ở góc phố, và kết cục là gã không còn sợ người nào đứng bên cạnh gã trên xe buýt hay đi ngược lại gã trên phố, đúng là gã đã học được cái đó, chỉ có điều sau một tuần cũng không thay đổi, đó là cảm giác bất an của gã, cảm giác bất an vì điều mà gã dần dần học được, nhưng không hiểu nổi, điều đó khiến cảm giác kia không giảm, và cái ấn tượng xâm chiếm gã ngay khi gã vừa tới đây trên chiếc taxi đáng nhớ ấy, là gã cần phải nhìn thấy một cái gì đó, giữa những tòa nhà to vật vưỡng này, nhưng gã cứ căng mắt nhìn mà không thấy, đúng là gã cảm thấy trong mọi khoảnh khắc từ Time Square tới East Village, từ Chelsea tới Lower East Side, trong Central Park, ở Downtown, trong Chinatown và Greenwich Village, ở chỗ nào gã cũng cảm thấy ở đây bất cứ cái gì gã nhìn thấy đều khiến gã nhớ khủng khiếp tới một điều gì đó, nhưng điều đó là gì thì gã không biết, gã không hề biết, gã nói với người đàn bà, nhưng thị vẫn đứng im bên chiếc bếp ga, quay lưng về phía Korin nấu một món gì đó trong một cái nồi màu xám, thế là Korin cứ kể với thị, chứ không dám gọi hay bắt thị chỉ một lần quay mặt lại và nói gì đó, điều đó thì gã không dám, và thế là gã không biết làm gì khác, hơn là kể cho thị nghe vào mỗi buổi trưa, nếu họ gặp nhau trong nhà bếp, gã kể cho thị nghe mọi chuyện chợt đến trong đầu, và gã thử đoán ra xem bằng cách nào gã có thể khiến thị lên tiếng, gã cố tìm hiểu xem tại sao thị không nói, vì theo bản năng gã gần gũi thị hơn mọi người sống trong nhà, có thể thấy điều đó qua những cố gắng vào buổi trưa của gã, có thể thấy gã muốn gây cảm tình với thị, thế là trưa nào gã cũng kể, gã kể cho thị nghe từ chuyện luyện sử dụng máy tính đến những ngôi nhà chọc trời, trong khi gã nhìn tấm lưng thị còng xuống cái bếp ga, nhìn những lọn tóc nhờn bẩn rủ xuống hai vai gầy guộc của thị, dải buộc chiếc tạp dề sợi màu xanh thõng xuống bên cạnh chiếc hông xương xẩu của thị, và sau đó thị lấy khăn lau đỡ hai bên quai nhấc cái nồi đang nóng xuống khỏi bếp lửa, rồi thị đi lướt qua gã về phòng, im lặng, mắt nhìn xuống, như người thường xuyên hốt hoảng vì cái gì đó.
26.
Ở Mỹ gã đã trở thành một con người khác, một hôm gã khẳng định với người đàn bà, một tuần trôi qua, và gã không còn là gã trước đây nữa, nhưng thị đừng có hiểu lầm, rằng một điều gì đó đã băng hoại hay tốt đẹp hơn, mà là những cái vụn vặt, đối với gã chúng không quá vụn vặt, ví như chứng quên của gã, gã chợt nhận ra trước đây một hay hai hôm trước, có thể nói gần như đã hết hẳn, nếu có thể nói rằng chứng quên đã hết, nhưng trong trường hợp của gã, Korin nói, sự thể là như thế, vì một hai hôm trước đây gã nhận ra rằng, đúng là gã không quên, rằng điều đã xảy ra với gã, gã vẫn nhớ trong đầu, gã không còn phải tìm kiếm chúng quanh mình, gã nói, rằng quanh gã hầu như chẳng còn gì, nhưng dẫu sao cái còn lại thì gã luôn tìm thấy, thậm chí không cần phải tìm kiếm, và những sự kiện đã xảy ra với gã, trước đây một ngày sau hắn không còn nhớ nữa, bây giờ gã nhớ hết và nhớ chính xác đến chân tơ kẽ tóc, rằng gã đi đâu, gã nhìn thấy gì, một gương mặt, hoặc một cái gì đó, một cửa hiệu, một ngôi nhà đều tuyệt đối lưu lại trong tâm trí gã, đó là gì, Korin hỏi, nếu không phải là nước Mỹ, ít ra thì gã cũng không thể giải thích theo cách nào khác, chỉ bằng cách này thôi, là do nước Mỹ, là do có lẽ ở đây không khí cũng khác, tất cả, nước cũng khác, gã làm sao biết được, nhưng có một cái gì đó khác tận gốc rễ, vì cả gã cũng đã khác, và cái cổ gã, vai gã cũng không còn gây ra những phiền toái như ở bên nhà trước đây, do vậy nỗi lo lắng thường trực trong gã rằng gã sẽ bị mất trí cũng nguôi đi, mọi thứ đúng là đều rất tốt, bởi nhờ thế mà con đường gã dự định đi trở nên tự do hơn, vì gã không biết gã đã nói với thị chưa, Korin hỏi trong bếp, rằng xét cho cùng toàn bộ vụ nước Mỹ này đã đến với gã vì gã quyết định kết liễu cuộc đời gã, chỉ có điều gã không biết là kết thúc bằng cách nào, gã biết, theo một cách dứt khoát nhất có thể, rằng gã muốn kết thúc, nhưng phải làm bằng cách nào thì gã không biết, gã có thể lặng lẽ biến khỏi thế giới, đầu tiên gã nghĩ, khi vụ đó hình thành trong đầu gã, đơn giản là gã sẽ chết, và thực ra đến hôm nay gã cũng chưa nghĩ khác, vì gã có mặt ở đây không phải để, bằng một cách thức xảo trá nào đó, chẳng hạn như quảng cáo bản thân như một nạn nhân vô tư để tạo danh cho mình trước kết cục, như ngày nay ta thường thấy, nhưng gã không thuộc số những kẻ đó, không, trường hợp của gã hoàn toàn không phải thế, trường hợp của gã khác hẳn, cụ thể là khi tất cả những điều này hình thành trong đầu gã, thì một đặc ân đáng sợ của số phận, nói thế nào nhỉ, gã nói, đã biến gã thành nhà sáng chế may mắn, và kể từ đó trở đi gã không còn là kẻ nhất quyết muốn chết, như cho tới khi đó gã có đủ lý do nghĩ như thế, mà là kẻ sáng chế may mắn, một dạng người giống như kẻ đã chết trong con tim, nhưng một hôm dọn dẹp, trồng cây, cuốc đất, nhổ cỏ trong vườn, và bỗng nhiên từ trong lòng đất ánh lên sắc vàng của một vật gì đó, nào, tiểu thư hãy tưởng tượng như thế, Korin nói, điều đã xảy ra với gã, vì kể từ đó trở đi cái vật vàng lóe kia sẽ quyết định số phận người cuốc vườn, và với gã điều đó đã diễn ra, dĩ nhiên là tương tự như thế, gã đã tìm thấy một thứ gì đó, nên biết rằng gã đã tìm thấy một tập tài liệu, trong phòng lưu trữ gã làm việc cho tới lúc đó, một cảo bản không có nguồn gốc, không ghi ngày tháng, cũng không có tên người viết, cũng không, và đặc biệt nhất là, Korin giơ một ngón tay lên cảnh báo, mục đích của nó không rõ ràng và cũng sẽ không bao giờ có, tìm thấy một cảo bản, nhưng gã đã không lao ngay đến chỗ giám đốc cũng là nhà lưu trữ trường, việc lẽ ra gã phải làm, mà gã đã làm một việc mà một nhân viên lưu trữ không bao giờ có thể làm: gã đã đem nó về, và kể từ giây phút đó trở đi, điều này thì gã biết rõ, gã không còn là một nhân viên lưu trữ thực thụ nữa, với hành động này nhân viên lưu trữ đã trở thành một tên kẻ cắp, tập tài liệu nói tới kia đã trở thành báu vật riêng của gã, một tài liệu quan trọng duy nhất đã lọt vào tay gã, nó cuốn hút gã tới mức gã nghĩ rằng gã cũng không thể giữ nó như một tên trộm, mà phải công bố với cả thế giới như một loại trộm khác, nhưng không phải với hôm nay, gã quyết định, thời vừa đánh mất tất cả danh dự cần thiết của nó đối với những sự việc như thế này, và cũng không phải với tương lai, thời sau này sẽ đánh mất nó, và cũng không phải với quá khứ, thời đã đánh mất nó từ lâu, mà phải công bố với vĩnh hằng, rằng trước tác bí ẩn này tồn tại, tức là, khi đó gã băn khoăn, lúc này gã nhớ lại, tức là gã phải tạo cho nó một hình thái, và ý tưởng đã đến bất chợt khi gã nghe một cuộc trò chuyện trong nhà hàng, đó là hình ảnh tạo nên bởi hàng tỷ chiếc computer, hình ảnh đó sẽ trở thành hòn đảo tức thời của sự vĩnh cửu với sự tàn lụi phổ quát của ký ức con người, và bây giờ thì tất cả điều này tồn tại với những chiếc máy tính đến bao giờ không quan trọng, cơ bản là, Korin giải thích với người đàn bà trong bếp, một lần nó đã sinh ra, và người ta đã liên kết số lượng máy tính khổng lồ này, đã sinh ra trong chúng, bởi chúng, giữa chúng một không gian trong tưởng tượng, điều không chứng tỏ quan hệ họ hàng với chỉ và chỉ với sự vĩnh cửu, gã đã cảm nhận và biết chắc điều này sau thời kỳ dài suy ngẫm, và gã cũng muốn viết vào đó cái mà gã tìm được, vì gã tin nếu gã đánh giá rằng cái vĩnh cửu phải được gìn giữ bằng vĩnh cửu là đúng đắn, sau đó có thể tới những thứ khác, bùn lầy và bóng tối, Korin hạ giọng, có thể tới một bờ kênh, hay một căn phòng trống rỗng, lạnh lẽo, đối với gã cái đó sẽ không còn quan trọng nữa, cũng như đã từ lâu không còn quan trọng là gã kết thúc như thế nào, bằng đạn hay thứ khác, cơ bản là gã hãy bắt đầu và kết thúc, ở nơi trung tâm của thế giới này, điều gã đã quyết định như thế, rằng gã trao cái đó, nếu có thể, tại điểm này gã hơi xúc động, cái mà gã đã nhận được, để đưa vào lục địa của trí tưởng tượng cái văn bản thót tim kia, về nó gã chỉ nói chừng nấy thôi, bởi vì đằng nào rồi gã cũng công bố cho mọi người thấy, nó nói về một cõi không còn có những thiên thần, và đúng là, Korin nói, nếu xong cái đó, bóng tối và bùn lầy đâu còn quan trọng đối với gã nữa.
27.
Gã ngồi trên giường với chiếc áo khoác trong lòng, gã đang tìm cách tháo chỗ miệng được khâu kín bằng những mũi khâu “phù thủy” của chỗ cất giấu tạm thời tập cảo bản bằng một chiếc kéo nhỏ mượn của chủ nhà, để lôi tập cảo bản ra, và trịnh trọng bắt đầu công việc, bỗng nhiên cánh cửa mở ra, nhẹ nhàng đến nỗi gần như không nghe thấy, và cô tình nhân của người phiên dịch đứng trên bậc cửa, trên tay thị là một cuốn tạp chí màu mở sẵn; thị cứ đứng trên bậu cửa nhìn vào trong, không nhìn thẳng vào mắt Korin, mà hướng về phía đó, thị cứ đứng đó một lúc, im lặng và hốt hoảng như cho tới khi đó thị luôn như vậy, và đã có vẻ như thị lại không nói gì cả, có vẻ như thị đã ân hận vì đã tới, tưởng thị sắp lùi lại và biến mất khỏi tầm mắt Korin, đến cuối cùng, có lẽ chính vì cả thị, cả Korin đều trở nên lúng túng vì sự xuất hiện của thị, thị chỉ vào một bức ảnh trong cuốn tạp chí đã mở, hỏi rất nhỏ, gần như không hiểu nổi: Did you see the diamonds? và khi thấy vì bất ngờ Korin ngồi im không động đậy, chứ chưa nói đến trả lời, gã cứ ngồi chết lặng, với chiếc áo khoác trong lòng, chiếc kéo nhỏ dừng lại trong tay gã, thì thị từ từ buông tờ tạp chí, thị cúi đầu, quay người lại trên bậu cửa, và cũng nhẹ nhàng như đã mở cửa lúc trước, thị đóng cánh cửa lại phía sau lưng.
28.
Sự vĩnh cửu chỉ đi cùng với sự vĩnh cửu, Korin nói to một mình, rồi vì ngồi lâu nên gã cảm thấy một bên sườn nặng trĩu, lúc này gã tựa nửa người bên kia lên bục cửa sổ, rồi gã cứ nhìn những lớp gạch màu đỏ như lửa của ngôi nhà đối diện, những tấm lợp phẳng phiu trên mái nhà và những đám mây bay trong gió tháng Mười một, gã nói thêm: - Sáng mai, ta không thể chờ thêm nữa.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Anh: Văn phòng nhập cư.
[2] Tiếng Hung: ông nói với tôi nữa cũng vô ích thôi, tôi chẳng hiểu một từ nào hết.
[3] Viện Nghiên cứu Đá Quý.
[4] Công ty được thành lập năm 1888 để quản lý hầu hết việc khai thác và sản xuất kim cương ở Nam Phi.
[5] Lần lượt là màu sắc, độ sạch, tỷ lệ mài cắt, trọng lượng (carat).
[6] IF (Internally Flawness): không tạp chất bên trong.
[7] VVSI (Very Slightly Included): tạp chất cực nhỏ, rất khó thấy.
[8] Tiền hay mạng sống.
[9] Tiếng Latin: tập hồ sơ.
[10] Tiếng Latin: tệp giấy tờ có vỏ bọc ngoài.
[11] Da thú đã được xử lý dùng để viết chữ, có xuất xứ từ Pergamon một thành phố cổ đại nhỏ ở Tiểu Á.
[12] Người Do Thái theo giáo phái Hasidic (một giáo phái ra đời ở Ba Lan thế kỷ 18, chú ý đến sự huyền bí, sùng đạo và vui vẻ).