Đầu tiên bọn họ khiêng tủ xuống, chiếc tủ quần áo từ phòng phía sau, nhưng mãi không biết vì sao hay ai đã yêu cầu họ đến và họ muốn gì, họ cứ vò mũ trong lòng bàn tay, lẩm bẩm nói một thứ tiếng Anh không thể nào hiểu nổi ở cửa, họ đưa cho người đàn bà xem một mảnh giấy có chữ ký của người phiên dịch, rồi ào vào nhà và bắt đầu công việc ngay, dĩ nhiên một hồi lâu họ cứ đi lại giữa các phòng, lẩm nhẩm, hậm hừ và xem xét, xê dịch mọi đồ đạc ra khỏi chỗ của chúng một chút, tóm lại là họ xem xét, lên danh sách, sắp xếp theo thứ tự thiết bị trong nhà từ tủ lạnh tới chiếc giẻ lau nhà, từ chiếc đèn có chụp bằng giấy đến các tấm chăn dùng làm rèm cửa, như thể họ xâu chuỗi các đồ vật lên một sợi dây vô hình, và họ bắt đầu phân loại chúng theo một nguyên tắc nhất định, nhưng nguyên tắc đó là gì, thì họ không nói gì hết, cứ như mọi người đều đã biết, cuối cùng - họ liếc nhìn đồng hồ, cố ý để người ngoài nhìn thấy và ái ngại nhìn những người trong nhà - cả bọn bốn người đều ngồi xuống sàn bếp và bắt đầu ăn sáng, cả người đàn bà hốt hoảng lúng túng lùi lại phía sau, cả anh chàng Korin bị xua khỏi máy tính nét mặt ngây thộn cứ đi lơ ngơ trong nhà đều không dám nói dù chỉ một lời, cả hai cứ ở trong trạng thái như thế, một người hốt hoảng và lúng túng, người kia ngơ ngác đi lại trong nhà, người phiên dịch mất tăm, không có mặt để giải thích cho họ hiểu chuyện gì đang xảy ra, thậm chí cả ngày hôm ấy, cả ngày hôm sau cũng không thấy mặt y, thế là họ nghĩ rằng trong việc này có sự đồng ý của y, họ chấp nhận mà không hề biết mảy may một chút nào về việc này, sau khi ăn sáng xong bọn người kia thỉnh thoảng lẩm bẩm nói với họ bằng thứ tiếng mẹ đẻ không thể hiểu nổi của họ, vì sao chúng bắt đầu khiêng mọi thứ đồ đạc có thể di chuyển được từ mọi xó xỉnh trong nhà xuống một chiếc xe tải đang đợi trước cửa, vì sao chúng đem đi từ chiếc bếp lò và chiếc bàn ăn tới bộ đồ khâu vá và lọ đựng muối nứt vỡ, tức là tất tật không để lại thứ gì trong nhà, cũng như họ không hiểu rằng, bọn người kia còn muốn gì, vì sáng hôm sau chúng lại xuất hiện, chúng bấm chuông cửa và ném vào góc bên cạnh cửa sổ một cuộn băng nhựa màu tím cực to, chúng vò mũ trong lòng bàn tay và đồng thanh nói cộc lốc morning, và thế là lại tiếp tục cơn ác mộng hôm qua, chỉ có điều bây giờ ngược lại, chúng bắt đầu khuân từ chiếc xe tải đỗ trước nhà lên nhiều kiện hàng, vô số thùng gỗ và thùng các tông, trong số đó có những cái cực to và nặng phải hai người hoặc bốn người mới khiêng lên nổi bằng cái dây vắt qua vai, chúng khuân từ xe tải lên mất đến mấy tiếng, và đến khoảng trưa thì đống thùng đã cao ngang đầu người, chiếm hết căn phòng, không ngồi, không nằm, thậm chí cả đi lại cũng khó khăn, thế là hai người, cô tình nhân của người phiên dịch và Korin, cứ đứng kề sát nhau trong một góc bếp, ngơ ngác nhìn quang cảnh bừa bộn không thể tưởng tượng nổi, cuối cùng, độ bốn giờ chiều đám bốc vác bỏ đi, căn nhà bỗng trở nên ắng lặng, để tìm lời giải đáp, họ bắt đầu thận trọng mở các thùng hàng.
2.
Bọn chúng đi trên West Side Elevated Highway, cả bốn có vẻ đều rất vui, chẳng là catrafuse[1] hôm qua, tức đồ lấy cắp được từ hôm qua, đối với chúng cực kỳ quan trọng, một quả lớn, chúng vỗ vỗ lên lưng nhau nói, lúc lúc lại cười rũ ra trong buồng lái, chôm được đồ của bọn bozgor[2], thay vì chở đến bãi rác chỉ định tối qua chúng đã đưa tất tật đến nơi ở của họ nằm phía sau Greenpoint, sự việc diễn ra trôi chảy hơn là chúng nghĩ, vì chẳng ai để ý tới cái giấy chứng nhận đổ rác giả, ai mà để ý đến nó, vì đằng nào thì các catrafuse này người ta cũng ném bỏ, còn Mister Manea, quý nhân phù trợ của chúng, như cách chúng gọi, không quan tâm đến những chuyện thế này, chúng khích lệ nhau, thế là bây giờ chúng đã có tất cả, chúng lim dim mắt vẻ mãn nguyện, giường tủ, bàn ghế, bếp lò và các thứ lặt vặt khác, tất cả những thứ cần thiết, chúng đã kiếm được đủ trang bị cho một căn hộ, điều này thật đáng nể, từ chiếc tách cà phê đến chiếc bàn chải đánh giày, đúng là tất tật, và chỉ với một penny duy nhất mà lúc chia tay Vasile ném lại vì mê tín - lại còn bãi rác nữa chứ, chúng nhìn nhau lúc sáng hôm qua, ai lại cái tủ này, cái giường này, ai lại vứt bỏ cái bàn này và cái ghế và bếp lò và bộ tách uống cà phê và bàn chải đánh giày và mọi thứ, không thể nói tới chuyện đó, chúng quyết định, đến tối chúng sẽ lặng lẽ đưa về nhà, sẽ chẳng ma nào để ý chúng đưa đi đâu, miễn là đưa đi cho khuất mắt, và sao chúng lại không đưa về Greenpoint cơ chứ, để trang bị cho một căn hộ trống trơn trong một tòa nhà trống trơn nhìn ra Newtown Creek, căn hộ riêng của chúng, sau khi chúng đến Tân Thế giới, tức chưa đầy hai tuần trước đây, Mister Manea đã mời chúng chỉ với giá bảy trăm năm mươi đô, nghĩa là mỗi người chỉ cần trả một trăm tám mươi tám đô một tuần ngoài công việc ra, và chúng đã đồng ý ngay, từ trước bữa sáng hôm qua chúng đã quyết định, khi chúng xem xét những thứ phải chuyển đi, chúng đã quyết định, thế thôi, chúng bắt đầu khuân đồ đạc xuống, khuân cho chúng, mặc kệ những người sống trong nhà, Mă bozgoroaică curvă împtuită[3], chúng nói lễ phép nói với người đàn bà, Dăte la o parte bozgor împutit[4], chúng nhìn sang bên nói với người đàn ông, và dù rất buồn cười, nhưng cả bọn không cười, chúng cứ lầm lũi khuân vác, chỉ đến tối chúng mới cười, khi đồ đạc đã chất đầy xe và chúng đi về phía Greenpoint, và lúc này, khi một ngày lo lắng hồi hộp liệu có thất bại hay không đã qua, nhưng không, không một ai hỏi han, không ai kiểm tra, không ai cật vấn xem chúng đem catrafuse đi đâu, chẳng có ma nào hỏi hết, và thế là chúng vui vẻ lướt đi trong luồng xe cộ cuồn cuộn trên Twelfth Avenue sau khi đã qua West Side Highway, tóm lại là chỉ lúc tối qua và đến giờ cả bọn mới cho phép mình cười, chúng ngồi trong buồng lái, và hô hố cười, rồi chúng ngừng cười và nhìn ra ngoài, mắt sáng rực và miệng há hốc vì kinh ngạc, chúng cứ nhìn sự nhiễu loạn chằng chịt của đèn pha bên ngoài, bàn tay đặt trong lòng, ba đôi tay với những ngón tay cong queo, ba chục ngón tay đã vĩnh viễn méo mó vì khuân vác, ba đôi bàn tay trong lòng, và một đôi nữa, của Vasile, đang vặn vô lăng quay trái quay phải, lao về phía trước, ở giữa cái thành phố xa lạ, đáng sợ, đã làm đông cứng mọi hy vọng của chúng.
3.
Chúng đã đi rồi, Korin nói với người đàn bà tối đầu tiên sau cuộc biến động, và nom gã rất buồn trong căn hộ trống rỗng, hay đúng hơn là tuyệt vọng, thảm hại và ngao ngán, nhưng đồng thời cũng rất căng thẳng, gã cứ xoa bóp cơ cổ liên hồi, rồi quay đầu lia lịa, gã vào phòng mình, rồi lại đi ra, lại vào, rồi lại đi ra, có thể thấy gã không thể ở yên một chỗ, cứ hết đi vào lại đi ra, và lúc vào đến bếp thế nào gã cũng nhìn qua cánh cửa hé mở vào căn buồng phía trong, và qua khe hở lần nào cũng vẫn thấy người đàn bà ngồi bất động trên giường và đợi, nhưng gã quay mặt đi ngay nơi khác và không nói gì, mãi đến tối gã mới đánh liều bước vào chỗ thị, ngồi xuống bên thị, và để trấn an, để đừng làm thị hoảng hốt, gã không nói về điều ban đầu gã định nói, về phát hiện của gã trong nhà vệ sinh ngoài hành lang, hay về việc họ phải làm gì nếu bị đuổi ra khỏi nhà, vì về phần mình gã cầm chắc rằng, ở đây sẽ không xảy ra điều gì khác hơn là buộc ra khỏi nhà, không, gã không nói những chuyện đó, sau này gã kể với một ai đó, mà - đúng là để trấn an thị - gã nói rằng, ở đây cùng một lúc gã phải giới thiệu ba chương lớn, lẽ ra gã có thể bỏ qua, không nhắc tới ba chương ấy nữa, nhưng gã không thể làm thế, vì như vậy sẽ không rõ ràng, clear, điều gã đã hứa từ trước là sẽ giải thích, gã không thể nhảy qua ba chương lớn ấy, three chapters, trong những ngày vừa qua gã không thể nói thế là mọi việc absolutely clear, nghĩa là gã mặc xác nó, gã không viết thêm một dòng nào nữa, dù lẽ ra gã có thể nói như vậy, vì đúng là tất cả đã trở nên absolutely clear, nhưng dẫu sao gã vẫn phải hoàn thành, không thể bỏ dở, một nhân viên lưu trữ, archivist, không thể bỏ dở giữa chừng bất cứ thứ gì chỉ vì đã bất chợt giải đáp được ẩn nghĩa, the rebus, đúng là dù đã đọc kỹ toàn bộ văn bản, và dù chỉ đến tận lúc này, nhưng gã đã giải đáp được, và điều đó đã làm thay đổi về cơ bản các dự định của gã, nghĩa là mọi việc đều thay đổi, nhưng trước khi nói rõ mọi việc là những gì, gã tuyên bố, gã chỉ nói một từ: Corstopitum[5], chỉ vậy thôi, và Gibraltar[6], và thêm Roma, vì dù thế nào gã phải quay trở lại chỗ gã đã bỏ dở, vì cũng như mọi thứ trên mặt đất này, chỉ có thể hiểu được nó trong quá trình tiếp diễn, chỉ và chỉ Continuous Understanding, gã tìm trong cuốn sổ tay cụm từ gã cho là thích hợp, nghĩa là trước hết phải quay lại với thời tiết kinh khủng ở Corstopitum, vì cái đế chế ảm đạm của mưa rây liên miên ấy đúng là thật kinh khủng, enormity, cái quyền năng không thể phủ nhận được của những cơn gió không dứt, lạnh thấu xương, buốt giá ấy thật kinh khủng, nhưng sự cố gắng vượt quá sức con người mà tập cảo bản miêu tả Corstopitum, sau đó là Gibraltar và Roma còn kinh khủng hơn, gã nói thêm, kể từ chương thứ tư nó không thử nghiệm với việc thống kê các sự kiện và hoàn cảnh đã lựa chọn như đã biết từ trước và cực kỳ chi tiết, mà với sự suy tư sâu sắc hiếm thấy về các sự kiện và hoàn cảnh đã lựa chọn, điều mà tiểu thư có thể mường tượng ra trước mắt, gã nói với người đàn bà, nhưng lúc này thị đang rất căng thẳng, thị không để ý đến gã mà chú ý tới những tiếng động phía ngoài hành lang, trong khi vẫn lật giở một tập quảng cáo in đen trắng trên tay, chẳng hạn con đường, road, từ Segadunum, tức là từ cửa sông Tyne[7] tới trạm gác thứ tư về phía Tây, rồi từ đó dẫn tới Corstopitum đã được miêu tả tất cả bốn lần kế tiếp nhau trong đoạn đầu chương, bốn lần giống nhau, mỗi lần chỉ thêm một câu phụ so với lần trước, thậm chí nhiều khi chỉ viết cho chính xác hơn bởi một tính từ, một trạng ngữ, giống như bốn lần hít thở, four breathes, hình như nó muốn viết như vậy, và về tất cả những gì có thể gói gọn trong một hơi thở như thế trong sương mù và trong mưa về con đường, bốn lần hít thở, và như vậy bốn lần giống nhau về con đường tiếp tế quân sự dọc theo Vallum Thần thánh, bốn lần, về cách họ thay ngựa ở Condercum, về ấn tượng đầu tiên của bọn Kasser về những tháp canh, những pháo đài của Vallum và các trạm gác dọc đường, và về việc họ đã bị chặn lại cách Vindovala sáu dặm, nơi chỉ nhờ sự can thiệp mạnh mẽ của người chỉ huy đội tháp tùng và giấy thông hành của Praefectus Fabrum[8] mới thuyết phục được centurio[9] của pháo đài, cho phép họ đi về phía Vindovala[10], nhưng gã cũng có thể nói như vậy về chương Gibraltar, ở đó tập cảo bản sử dụng một dạng thức đặc biệt khác của phép lặp, đó là nhắc đi nhắc lại một bức tranh vẽ, a picture, sắc nét không thể tin nổi, và bằng cách lưu giữ bức tranh sống động liên tục như thế nó gần như găm vào trí não người đọc tất cả, ví dụ như nó cố định quang cảnh trong chương năm, quang cảnh mà bọn Kasser được chứng kiến, khi tới Calpe[11] từ phía đất liền, và sau khi đến và nhận chỗ ở một nơi giống như nhà trọ khổng lồ tên là Albergueria, sau đó họ xuống tầng trệt đổi tiền và nhìn ra cửa sổ, lần đầu tiên họ nhìn thấy tập hợp ma quỷ của các thuyền chiến, tàu chiến và tàu hộ tống, các naviguela, caravela[12] và các loại tàu thủy trên vịnh biển dày đặc sương mù, tàu thuyền từ Venice, Genova[13], Castile, Britany, Algeria, Florence, Vizcaya, Pisa, Lisbon và ai mà biết từ đâu nữa nằm bất động như những nấm mồ, ngay lúc đó, từ khoảnh khắc đầu tiên đã cho thấy điều gì sẽ xảy ra ở đây nếu trời lặng gió, calma chicha[14], Korin nói, ở đây giữa sự chật hẹp nguy hiểm, những mỏm đá chết người của Gibraltar - trí não người đọc sẽ đối diện với điều này, với những đường viền ngày một sâu hơn của những bức tranh như thế, cũng như gã đã phải đối diện với nó, trong lúc viết chương bốn, rồi chương năm sự hiểu bắt đầu giảm với tốc độ chóng mặt, gã xin diễn đạt như vậy, ấy là nói sự hiểu những gì còn lại.
4.
Cần khoảng mười phút mỗi sáng để gã ấm lên bằng hơi thở của mình, gã móc cửa lại, cởi cúc áo, ngồi xuống và cứ hà hơi, hà hơi thở cho tới khi gã cảm thấy bên trong bắt đầu ấm lên đôi chút, thường là sau năm giờ, năm giờ mười lăm gã ngồi xuống chỗ của mình, những lúc như thế gã chắc chắn không bị ai quấy rầy, đối với người trong nhà lúc đó còn quá sớm, nghĩa là gã hoàn toàn có thể yên tâm, và gã yên tâm thật, thậm chí, gã kể vào một buổi tối khá lâu sau này, chỉ ở đây gã mới yên tâm, gã cần đến nửa tiếng này, sự an toàn và yên tĩnh trong cái nhà vệ sinh ngoài hành lang, vì gã ngồi trong đó khoảng chừng ấy để đợi cơn buồn đại tiện, vì vậy gã có thời gian nhìn ngó, và gã cũng nhìn ngó thật, khi đó gã chưa nghĩ được gì, chỉ có điều khi ta nhìn quanh vào lúc chưa tỉnh ngủ, thì mọi thứ ở phía trước ăn rất sâu vào đầu, như người ta nói, gã bảo, gã thấy cả những vết nứt trên các bức tường, trên cửa và trên nền bê tông, thế nên chẳng lạ gì việc vào một buổi sáng gã nhận ra trên đỉnh bức tường được ốp gạch men lên tận trần phía bên phải, xung quanh một viên gạch có điều gì đó không ổn, nom nó khác so với hôm qua hay hôm kia, gã không nhận ra ngay, vì trong khi gã ngồi, quần tụt xuống, khuỷu tay chống lên gối, không nhìn lên trên mà chỉ nhìn xuống và nhìn ra phía trước, chỗ cái chốt cửa, chỉ đến khi xong việc và kéo quần lên, thì vô tình gã mới nhìn lên chỗ đó, và nhận ra sự thay đổi, mạch vữa quanh viên gạch bị nạy ra, gã khẳng định, rõ ràng chỗ đó không còn mạch vữa, gã nhận ra ngay, gã hạ nắp bồn cầu, đứng lên trên nó để với tới viên gạch và gõ gõ, có thể nghe thấy bên trong rỗng, thế là gã ấn một góc viên gạch và bằng cách nào đó gã lấy được nó xuống, hóa ra bên trong là một khoảng rỗng, được khoét cẩn thận vào tường chỗ sau viên gạch, và được nhét đầy túi ni lông, ôi ôi, Korin nói, giống như bột, nhưng gã không xem kỹ nữa, không mở ra một gói nào hết, vì gã hơi chột dạ, gã nghĩ ngay đến thứ đó, dù thú thực, sau này gã giải thích, gã không biết đích xác thứ đó là gì, nhưng gã biết từ đâu đó, sự thể đã rõ, và ai đã để vào đây, lúc đó gã không xét đoán, bất cứ ai có thể đặt nó vào đây, và thoạt tiên có lẽ nhất là một ai đó trong số những người sống ở bên dưới, thế là gã đặt viên gạch vào chỗ cũ, cài cúc quần lại, giật nước bồn cầu và quay nhanh về phòng mình.
5.
Giữa những thứ ở gần nhau có mối liên hệ mạnh, giữa những thứ ở xa nhau có mối liên hệ yếu, còn giữa những thứ rất xa nhau thì không có, và đó là Chúa, Korin nói sau khi suy nghĩ rất lâu, rồi vì bỗng nhiên không biết nên nói to lên hay chỉ nói cho riêng mình, gã hắng giọng mấy lần, sau đó thay vì quay lại với câu chuyện bỏ dở, gã im lặng một hồi lâu, chỉ nghe tiếng giấy sột soạt bởi cô tình nhân của người phiên dịch lật giở quyển quảng cáo.
6.
Kasser chịu lạnh kém nhất, lúc sau gã phá vỡ sự im lặng, ngay lúc khởi hành, khi họ bước ra khỏi decareme khổng lồ trên bờ Tyne, họ nhận ngựa và dưới sự bảo vệ của đội hộ tống được cử đến họ bắt đầu đi theo bờ phía trong Vallum, anh ta rét tới mức khi họ tới trạm gác đầu tiên, garrison, người ta phải đỡ anh ta xuống ngựa, người anh ta lạnh cóng tới mức, anh ta nói, chân tay không cử động nổi nữa, người ta đưa anh ta vào pháo đài, fort, để ngồi bên đống lửa, và hai người Di gan phục vụ anh ta đã xoa bóp từ lưng tới tay chân anh ta cho tới khi họ tiếp tục đi về phía Condercum, ở đó việc này lại tiếp tục và cứ thế cho đến chiều ngày thứ ba, khi họ tới Corstopitum, cái đích cần đến, và đó mới chỉ là bắt đầu, với tư cách là những người của Praetorius Fabrum và có trách nhiệm thông báo về tình trạng của Bức Tường, từ đây họ bắt đầu đi xem Công trình Bất tử của Hoàng Đế Thần Thánh Nhất, dĩ nhiên là sau vài ngày nghỉ ngơi, việc này cần thiết chủ yếu là để có thời gian chữa lành đau đớn của Kasser bằng hơi, vapour, thần diệu của các loại cây cỏ Brigantine, điều này lẽ ra phải làm cho Kasser cả sau khi họ đã tới Calpe, vì những khổ ải của con đường từ Lisbon, trong chặng tiếp theo, cũng hành hạ anh ta nhiều nhất - và Kasser là người duy nhất trong bốn người, Korin nói, đã trải qua một sự biến đổi, mutation, tinh tế nhưng dứt khoát như thế nào đó trong nửa sau của tập cảo bản, sự nhạy cảm hay quá nhạy cảm của anh ta, tính dễ bị xúc phạm và dễ tổn thương của anh ta ngày càng bộc lộ rõ, điều đó càng dễ nhận ra vì sự chú ý của những người khác dành cho Kasser mỗi lúc càng sâu sắc hơn, trong chiếc xe chạy dưới sự bảo trợ của Thái tử Medina lúc thì Bengazza, lúc thì Toót hỏi anh ta “mọi chuyện” có ổn cả không, có khi, chẳng hạn khi ở Albergueria, Falke bí mật tìm một thầy lang và đã tìm được để “xoa dịu những đau đớn đặc biệt rình rập Senor Casser”, tóm lại, Korin giải thích, kể từ chương bốn trở đi Kasser được họ chú ý đến nhiều hơn một chút, nuance, so với người khác hay chính họ, sự chú ý thường xuyên này tạo một cảm giác bất an trong những giờ đầu tiên sau khi họ đến, ví dụ như khi họ ngồi quanh một chiếc bàn dưới tầng trệt chật ních người của nhà nghỉ Albergueria, và mọi người đều ngầm quan sát xem Kasser có ăn món mà bà chủ nhà trọ đưa đến hay không, hay sau đó, ăn tối xong, họ cố đoán xem anh ta có chú ý đến những cuộc trò chuyện quanh họ không, trong đó nhiều người có mặt bằng nhiều thứ tiếng đều bàn luận về một chi tiết hãi hùng nào đó của tình hình xấu đã hình thành ngoài cảng: sự đung đưa chầm chậm của các con tàu trong sương mù... sự trống rỗng tuyệt vọng của mặt biển lặng gió tang tóc... hay những cái bóng vật vờ của những con thuyền hai buồm trôi dạt từ Genova, các galera da mercato[15] Venice ở gần bờ Gibraltar, tức là rất gần họ, hình ảnh những cột buồm, giống như tiếng kêu thương kìm nén lại, thỉnh thoảng cọt kẹt trong tĩnh lặng.
7.
Theo Mandatum[16] ngang với mệnh lệnh của Praetorius Fabrum thì nhiệm vụ của họ là kiểm tra chất lượng của Công trình Vinh quang để có thể nêu ý kiến về giá trị của công việc đã thực hiện, và tham vấn chuyên môn về quá trình xây dựng và bảo quản bức tường, về yêu cầu nhân lực vật lực cho việc bảo quản bức tường cho ban chỉ huy Ingennarius - có trách nhiệm đưa ra quyết định về tổ chức không gian, thời gian của việc bảo quản bức tường - ở Eburancum, nơi VI. Legio Victrix hạ trại, nhưng trong thực tế, Korin kể cho người tình của người phiên dịch trên giường, người ta gọi họ đến và cử họ đi chỉ để họ chiêm ngưỡng công trình hi hữu này, để sau đó họ phát biểu về nó với sự hâm mộ và thán phục, và để sự hâm mộ và thán phục này củng cố vị trí của những người sáng tạo ra nó, trước hết là Aulus Platorius Nepos[17], Legatus[18] của Britannia Romana[19] ở Londinium[20] xa xôi, rằng họ đã sáng tạo ra một công trình độc nhất vô nhị, vinh quang nhất và vĩ đại nhất: ngay từ phong cách được lựa chọn của Mandatum, từ ngôn ngữ sang trọng của nó đã có thể thấy người ta chờ đợi gì ở họ, và họ đã không vượt qua những khổ ải khủng khiếp của chuyến hành trình đường bộ và còn khủng khiếp hơn của chuyến vượt biển, nếu như họ không chắc chắn rằng, kế hoạch khổng lồ này của Đấng Tối cao Thần thánh nhất, the project, hoàn toàn xứng đáng để chiêm ngưỡng và thán phục - và họ đã không thất vọng: Bức tường Hadrianus[21], như cách gọi của những người lính bình thường, đúng là đã khiến họ kinh ngạc, nó hơn hẳn và khác hẳn những gì mà sự chờ đợi dựa trên các tin tức và lời đồn thổi cho phép tưởng tượng ra, trong thực tế nó chạy ngoằn ngoèo trên các đỉnh núi Caledonia[22] trơ trọi về phía Aestuarium, tức điểm cuối cùng phía Tây, khiến người quan sát nó gần như mê mẩn, bewitch, kể cả bốn người sau khi đã nghỉ xả hơi nỗi mệt nhọc đường trường, đối với Kasser điều đó có nghĩa là phủ lên mình tầng tầng lớp lớp da gấu, da cáo, da hươu, da cừu được lựa chọn, đã đi bộ theo tuyến Vallum mấy tuần liền, đúng, Korin nói, họ là những người quan sát chứ không phải các nhà chuyên môn, họ là những người quan sát, độc lập với các mô tả chính thức về nhiệm vụ chuyến đi của họ, và họ là các nhà quan sát cả khi là khách của Albergueria nằm bên bờ biển dưới chân ngọn Calpe ở Gibraltar, nơi họ dừng chân với tư cách là các phái viên, vicariouses, của Hội đồng Đồ bản của Vua John II, nhưng trong thực tế họ chiếm lĩnh mấy căn phòng trên gác để quan sát vịnh biển mà trong đó, diễn đạt theo Falke, họ được vinh hạnh thấy đường biên của thế giới, border of the world, thế giới và cùng với nó, Toót nói thêm, là sự chắc chắn, là những kết luận có thể chứng thực, là sự sáng rõ và trật tự, tóm lại: đó là đường biên giữa thực và hư, với sức cuốn hút của những định đề còn chưa chứng minh được, với nỗi buồn khôn nguôi hướng về phía bóng tối, với sự nhập nhoạng mù mờ, với những cơ hội khó tin và phi lý, tóm lại là đối diện với cái nằm sau sự hữu hình, tại đây thế giới con người kẻ vạch biên cuối cùng, tối hôm sau Bengazza cũng tham gia câu chuyện, bên kia vạch biên đó, người ta nói, không có gì hết, và người ta nói: cũng không thể có gì hết, anh ta lên giọng, sự lên cao giọng của anh ta lần đầu tiên tiết lộ ra mục đích, the aim, sâu sắc nhất của chuyến đi tới đây, hay đúng hơn sự trôi dạt tới đây của họ, họ tới để đợi tin tức về Sự kiện Vĩ đại, như ban đầu khi còn ở Lisbon Kasser đã phát biểu, nên nhớ rằng, Korin nói, tiểu thư cần phải biết rằng, ở chỗ này trong chương năm, cả thế giới Công giáo, đặc biệt là vương quốc của Isabella và John, đang lên một cơn sốt bị kích động chưa từng thấy, và cả Kasser, Bengazza, Falke và Toót, những kẻ với tư cách là những môn đồ gần gũi và bầy tôi trung thực của Junta[23] Toán học của triều đình Lisbon, cũng như của thái tử Medina-Sidonia, ngài Don Enrique de Guzman đáng kính, chính họ cũng nghĩ rằng cuộc thám hiểm bị John phản đối, nhưng cuối cùng được Isabella ủng hộ có tầm quan trọng hơn nhiều so với một cuộc phiêu lưu đơn thuần mà người ta có thể nghĩ tới, vì nếu như, Toót phân tích trên đường họ tới đây, nếu việc làm rồ dại của Senor Colombo đạt tới đích, thì với nó Gibraltar, với Gibraltar thế giới, với thế giới sự tận cùng của các giới hạn, và với sự tận cùng của các giới hạn tất cả sẽ kết thúc, sẽ tiêu vong, Toót tuyên bố, định mệnh ẩn giấu trong các khái niệm, sự khác biệt giữa cái tồn tại và cái không tồn tại sẽ mất hết ý nghĩa, sẽ biến mất, anh ta nói, cái không thể gọi tên, và như thế là đúng, dù không thể đo nổi tỷ lệ giữa những điều thần thánh và trần tục, để tất cả điều này đánh đổi sự vĩnh viễn với niềm hân hoan nguy hiểm của sự khám phá, với vùng tỏa sáng của sự chú ý tìm kiếm những điều không thể, với sự kính trọng con người thức tỉnh bởi sai lầm và tỉnh dậy từ sai lầm, hay nói cách khác thay vì cơn sốt của số phận là niềm hân hoan của sự tỉnh táo, instead of fever of fate the intoxication of sobriety, đúng, Kasser tiếp lời, như vậy vị trí có tầm quan trọng đặc biệt, Gibraltar, anh ta nhìn ra cửa sổ vẻ tư lự, Calpe và mỏm đá của Abila, anh ta nói nhỏ, Vậy là Cổng Heracles[24], anh ta gần như thầm thì, cánh cổng nhìn vào Hư Không, giờ đây bỗng nhiên có thể nhìn vào Một Cái Gì Đó, và anh ta im lặng, và lúc đó, vào buổi tối thứ hai, những người khác cũng im lặng, họ chỉ ngồi đó và im lặng, một cái bóng từ từ phủ lên mặt họ, tất cả đều nghĩ đến những con tàu bị mắc kẹt trong vịnh calma chicha đáng sợ, đến vịnh biển ở phía dưới, đến sương mù, đến tiếng than van lúc lúc lại vẳng tới từ phía những cánh buồm của các con tàu.
8.
Hai chương, Korin nói, tập trung liên tục vào Kasser, sử dụng quá mức, vô độ thủ pháp lặp lại và đào sâu, ít nhất là ở đây, trong phần bốn và phần năm ngay từ lần đọc đầu tiên lẽ ra đã nhắc nhở người đọc về ý đồ thực của người viết, và cũng là ý đồ thực chất của tập cảo bản, thế mà cái đầu xuẩn ngốc, nông cạn, bệnh hoạn của gã mãi tới những ngày gần đây vẫn không hiểu ra, không hiểu một tí gì, xuất xứ mờ ám, không thể giải thích nổi, sức lan tỏa đầy chất thơ của nó, cũng như việc nó dứt khoát quay lưng lại với các truyền thống được vận dụng trong những văn bản kiểu này đã khiến gã trở nên điếc lác, đui mù, thậm chí đã tiêu hủy gã, như thể gã bị một phát đại bác, cannon, bắn từ cự ly gần, mặc dù, gã lắc lắc đầu, lời giải thích ngay từ đầu đã nằm trước mắt gã, lẽ ra gã phải thấy, và gã cũng đã thấy, thậm chí: gã đã ngưỡng mộ, chỉ có điều gã không hiểu cái gã nhìn thấy và chiêm ngưỡng, rằng tập cảo bản chỉ quan tâm thực sự đến một điều duy nhất: thực tại được miêu tả, được khảo sát đến mức điên rồ, với các chi tiết phát rồ dại, sự chạm khắc vào trí tưởng tượng của tình huống được trích dẫn với sự lặp lại gàn dở, và gã nghĩ điều này đúng như vậy, Korin giải thích, như thể tác giả không viết bằng bút và ngôn từ, mà đơn giản là đã cào lên trang giấy và trí tưởng tượng bằng móng tay mình, rất nhiều tình tiết và sự lặp lại và sự đào sâu gây khó khăn cho người đọc, trong khi đó điều mà nó diễn tả chi tiết, lặp đi lặp lại và nhấn mạnh ăn sâu vào não, brain, nó luôn luôn dùng những câu giống nhau ở những chỗ này, nhưng có chỉnh sửa và bổ sung, có thêm bớt, có giản lược và phức tạp hóa một cách tinh tế, nhưng điều kỳ lạ là sự lặp lại và các thứ khác không làm cho người đọc khó chịu, căng thẳng hay buồn chán, mà say mê, Korin đăm chiêu nhìn lên trần nhà, nó khiến ta đắm mình trong thế giới nó miêu tả, gã nói, nhưng về điều này sẽ nói tới sau, gã tự ngắt lời mình, bây giờ hãy tiếp tục nói về chuyến đi từ Onnum[25] đến Maia và ngược lại đúng là đã bắt đầu, và người nào không thể ở gần họ tại các trạm nghỉ hoặc các chỗ họ nghỉ lại vào ban đêm, người đó chỉ thấy con đường giữa Onnum và Maia đúng như giữa Maia và Onnum, với ba decurio[26] đi phía trước, bốn kỵ sĩ theo sau và cuối cùng là ba mươi hai người lính của turma[27] trên lưng những chú ngựa trang bị giáp trụ đầy đủ, mặc dù tất cả không phải là con đường duy nhất, Korin lắc đầu, sự tiến lên phía trước duy nhất theo con đường ngoằn ngoèo của Vallum[28] khổng lồ, và cuộc trò chuyện không dứt duy nhất, talking, sau lúc trời tối, khi họ tới nghỉ ở những nơi có sưởi trong các pháo đài Aesica, Magnis hay Luguvalium, một bài kể lại liên tục không thể chấm dứt bên ngọn lửa trên các tấm da gấu, nơi họ phải khẳng định lại nhiều lần rằng, tất cả những gì họ nhìn thấy ngày hôm đó, phương pháp đúng khi lựa chọn những tảng đá thích hợp để chạm khắc, sự khéo léo hiếm có trong việc thích ứng với các điều kiện tự nhiên, sự tổ chức hoàn hảo công việc chuyên chở, đánh dấu, làm móng và xây dựng tường, sự am hiểu chuyên môn và sáng tạo của các nhà xây dựng quân sự của II. Legio Augusta, tóm lại là nghệ thuật thi công, art of implementation, không là gì so với Vallum về mặt ý tưởng và về mặt tinh thần, bởi vì trong nó, Bengazza nói, là sự hiện thân của giới hạn, là tri thức rực rỡ đáng kinh ngạc rằng, cái gì là Đế chế và cái gì không phải là nó, thật đáng kinh ngạc, Falke nói, là Vallum Hadrianum tách biệt điều gì ra khỏi điều gì, bởi vì ở tận cùng ý muốn của con người, Toót cướp lời, nghĩa là ở độ sơ đẳng nhất của con người, in the primary level of human, mong muốn sự an toàn và khao khát khôn nguôi về sự sung sướng, khát vọng về của cải và quyền lực, mong muốn thiết lập tự do đứng trên tự nhiên luôn luôn tồn tại, và trên con đường đó, Toót nói thêm, con người đã đi rất xa, và đó là vẻ đẹp, xây dựng nên cái tinh lọc đối lập với cái sơ khai, cái tầm vóc đối lập với cái vụn vặt, sự an toàn đối lập với sự lệ thuộc, sự phòng vệ đối lập với sự thụ động, cái tinh tế đối lập với cái hoang sơ, sự tự do vô hạn đối lập với sự tù hãm, tóm lại là thay đẳng cấp thấp bằng đẳng cấp cao, nhưng cũng có thể nói, lời của Bengazza, thay vì chiến tranh là hòa bình, instead of war the peace, vì đó là điều không thể vượt qua nổi và cao nhất, là thành quả lớn nhất của con người, hòa bình, Hadrianus thần thánh và Pax[29] không thể lay chuyển nổi, và biểu tượng rực rỡ của tất cả đây, Vallum trải dài bao nhiêu dặm, để rồi tất cả những cái đó, xét về nội dung bên trong, có thể trở thành phản đề hoàn hảo của nó, bởi vì ngay từ ở Gibraltar, bên chiếc bàn của Albergueria, như cách mà trong những cuộc đàm đạo cũng không bao giờ dứt, họ đã gọi khả năng tuyệt vời của sự mạo hiểm mới và sự táo bạo mới, sự can đảm và hiếu kỳ của con người, khát vọng không thể trừ bỏ của sự hiểu, understanding, trong sự ồn ào náo nhiệt của các cuộc gặp mặt buổi sáng và buổi tối, ở tầng trệt thênh thang của Albergueria, trong những ngày vô công đằng đẵng, trong khi chờ đợi một trong những tin tức quan trọng nhất của năm 1493, cũng là của lịch sử thế giới, tin về Đô đốc Colombo[30], xem ông có thắng lợi trở về, hay vĩnh viễn mất tích trong bóng tối nhá nhem sau tận cùng thế giới.
9.
Hãy đi vòng lại, chúng nói với người lái xe từ ghế sau, hãy rẽ sang phải ở chỗ góc đường, đi một vòng, và khi quay lại đến phố 159 hãy nhấc cái chân thối của cậu ra khỏi chân ga, và đi thật chậm trước dãy nhà, vì không thể có chuyện bọn chúng không tìm được căn nhà, những dãy nhà khốn kiếp này mới giống nhau làm sao chứ, mả mẹ nó chứ, kiểu gì chúng cũng phải tìm thấy, và chúng sẽ tìm thấy, chúng nói, trước sau gì rồi chúng cũng sẽ nhớ ra xem nó ở chỗ nào, vì nếu cần, chúng sẽ quay đi quay lại suốt đêm, vì nó ở chỗ nào đó phía bên phải, hay cái này, một người nói, hay ở cạnh chỗ cái cửa hiệu Việt Nam, người khác nói, lần trước chúng đã đi ba vòng, khốn nạn sao lại có thể có chuyện chúng không để ý tới, đúng là không thể tin được, người lái xe nói, hai bà mẹ bình thường không thể đẻ ra hai gã khốn nạn thế này, chúng đã đi vòng ba lần, sau đó thằng cha bước ra, còn bọn chúng bỏ đi không ngoái đầu lại, và bây giờ không đứa nào biết đó là chỗ nào, tìm đâu cho ra, và tụi kia đừng có ra lệnh cho hắn phải làm gì, hay không làm gì với chân ga, nếu không hắn sẽ bỏ mặc chúng ở lại đây, cho chúng tự lái và tự tìm lấy, nghe thế bọn phía sau bảo, cả bọn sẽ đi vòng quanh đây cho tới khi con chuột cống ấy ló cái mặt bẩn thỉu ra, hãy dừng lại chỗ này, một người đề nghị, không, người khác cắt ngang, cứ đi tiếp, nào, thế bây giờ, gã lái xe đập tay lên tay lái, các người muốn lòng vòng suốt đêm trên con phố bẩn thỉu, nhầy nhụa, khốn nạn này sao?! - và chúng cứ đi tiếp, chậm như rùa bò trên con phố 159, chậm đến nỗi những người đi bộ cũng vượt qua chúng, sau đó chúng rẽ vào góc đường, đi vòng qua khu nhà, rồi lại quay về phố 159, một chiếc xe Lincoln với ba người ngồi, người Việt bán hàng tạp phẩm chỉ nhìn thấy chừng nấy, sau một hồi anh ta quyết định bước ra ngoài xem có chuyện gì, vì chiếc xe cứ lúc lúc lại đi qua trước cửa hiệu, rồi sau vài phút lại xuất hiện, và mọi chuyện lại khởi diễn từ đầu, một chiếc xe Lincoln Continental MK III, sau này anh ta kể cho vợ, với những nẹp mạ crôm, ghế da, phía sau là những chiếc đèn mắt mèo như thôi miên, và dĩ nhiên là sự lắc lư từ từ, kiêu hãnh, như mê hoặc của bộ giảm xóc.
10.
Albergueria không phải là quán trọ, Korin nói với người đàn bà trên giường, nhìn kích thước của nó đã biết, vì không có ai xây dựng quán trọ bằng ấy, khác thường như thế, to lạ lùng như thế, người ta cũng đã không xây Albergueria, nếu như trong khi xây người ta nghĩ tới một điều gì đó được thiết kế, nó chỉ được xây dựng trong nhiều năm, được mở rộng ra, nâng cao lên, thêm thắt, phình ra dần, expansion, ở phía trên, Korin nói, có không biết bao nhiêu phòng, nhiều và nhiều kiểu cầu thang, nhiều tầng, những chỗ hõm chỗ thụt vào, những chỗ phình ra và lối đi, chỗ này một hành lang, chỗ kia một hành lang, một kiểu kết cấu chẳng biết đằng nào mà lần, và trên một hành lang như thế, bất chợt ở một vùng tranh tối tranh sáng, thấy một căn bếp hay một phòng giặt, cửa đã bị tháo dỡ, lúc nào hơi cũng phả ra, the steam, hay ở đâu đó, trên một tầng gác, giữa hai phòng ở cho khách, bất chợt thấy một phòng tắm bỏ ngỏ với những chậu gỗ lớn, những người đàn ông ngồi trong chậu gỗ bốc hơi mù mịt, xung quanh họ là những cậu trai cắt tóc mảnh dẻ chạy lăng xăng che hạ bộ bằng những chiếc khăn tắm, và từ bên các nơi như thế lại có những cầu thang dẫn đi mọi phía, tới các tầng khác nhau, và trên các tầng khác nhau này đôi khi thấy một nơi giống kiểu văn phòng, office, với biển đề trên cửa, trước cửa là hàng dài những người Provence[31], Sardinia[32], Castile[33], Norman[34], Breton[35], Picardia[36], Gascon[37], Catalonia[38] và vô khối những người khác, như các cha cố, thư ký, thủy thủ, thương nhân, người đổi tiền và phiên dịch, trên các cầu thang và hành lang là đĩ điếm, whores, từ Granada và Algier, khắp nơi - tất cả có vẻ to tát, lộn xộn và phức tạp, chẳng ai có thể nhìn thấu hết được, vì ở đây không phải chỉ có một mà nhiều chủ, và mỗi chủ chỉ để mắt tới lãnh địa riêng của mình, chứ không lưu tâm đến của người khác, và như vậy họ chẳng biết gì về tổng thể, và cũng chẳng ai quan tâm đến cái toàn thể, và gã phải nói rằng, Korin nắn bóp gáy, nếu như trên các tầng gác đã thế, thì bên dưới nhà còn hơn thế, down below, nên biết rằng tình trạng lộn xộn và không thể hiểu thấu nổi, the impenetrable situation, ngự trị ở cả tầng trệt, khi không xác định nổi, đây là cái gì, cái trần sơn màu tuyệt vời được đỡ bởi năm chục cây cột xù xì, và dưới cái trần ấy khoảng không liên thông khổng lồ này là gì: nhà ăn, sở thuế quan, phòng khám bệnh, quán bar, chỗ đổi tiền, nơi rửa tội, phòng tuyển thủy thủ, nhà thổ, tiệm cắt tóc, hay là tất cả cùng một lúc? - tất cả, cùng một lúc, Korin đáp, tầng đất, downstairs, cùng lúc là tất cả những thứ đó, sự ồn náo đinh tai nhức óc mỗi buổi sáng, trưa, tối và đêm, và đám người đông khủng khiếp, và người đến kẻ đi liên tục, và hơn nữa, Korin nheo mắt nói thêm, cứ như thể nó tồn tại hơi ngoài lịch sử, vì có cả những đối thủ và những kẻ trốn tránh, những kẻ che giấu và những kẻ bị săn đuổi, những kẻ đã thất bại và sẽ thất bại, tóm lại là các thám tử dò xét của bọn cướp biển Algeria cùng các phái viên mật của Tòa dị giáo Aragonia[39], những kẻ buôn lậu thuốc súng Ma Rốc ẩn náu và những kẻ bán rong đến từ Medina[40] đem theo những bức tượng Stella Maris[41] nho nhỏ, những người Capo Corse[42] trên đường tới Tadjikistan, Misur và Algier, và bên cạnh họ là những người Sephardic[43] xinh đẹp, vô tổ quốc và buồn, những người cách đây chưa đầy một năm bị xua đuổi bởi Isabella, và những người Do Thái Sicilia bị xua đuổi bởi chính Sicilia, và tất cả bọn họ đúng là đang đứng giữa vực thẳm của hy vọng và tuyệt vọng, chán chường và mơ ước, tính toán và chờ đợi điều kỳ diệu, ở đây, trong dinh thự mới lấy lại được trước đây vài năm của các Vua Thiên Chúa giáo lang thang, tất cả họ sống trong sự chờ đợi, another expectancy, liệu ba caravelle mong manh ấy có tới, có tái xuất hiện, có quay về hay không, và cùng với nó liệu thế giới có thay đổi, cái thế giới mà lúc này, ở đây, ở Albergueria này nó như thể cũng rơi vào vùng lặng gió cùng những con tàu mắc kẹt trong vịnh, và như thể nó tạm ngừng hoạt động, để cho phép một sức mạnh thiếu vắng về cơ bản ở bên ngoài, là hòa bình, the peace, cân bằng những hỗn loạn và lộn xộn ở tầng trệt và các tầng trên, hòa bình mà Kasser, Bengazza và cả Toót đã vui vẻ thụ hưởng trên đường từ Lisbon đến Ceuta[44] - như vậy, nhưng về bản chất, in point of fact, điều này cũng tồn tại giữa những bức tường dày, an toàn của biệt thự ở Corstopitum, vì trong đó, gã nói, người ta cảm thấy một sự thư thái nội tâm nào đó, sự bình yên mà chỉ cần bước chân vào là người ta cảm thấy như được hồi sinh, theo cách diễn đạt của Falke, sau mấy tuần họ đã đi hết chiều dài Vallum và trở lại, vì Corstopitum đối với họ mang ý nghĩa của sự an toàn, cái mà để bảo vệ nó bức tường đặc biệt được xây dựng cách đây ba mươi dặm, bởi bước vào đó, Korin nói, vào bể tắm của biệt thự do cursus publicus[45] dành cho họ, liếc nhìn các miếng khảm trên nền và trên tường, ngâm mình trong nước bể, để mặc cho nước nóng chạy suốt tứ chi mỏi mệt của mình, tất cả là một thứ cảm giác, cảm giác xa xỉ thăng hoa của sự yên bình, mà để giữ gìn nó ít nhất đúng là cần có một Vallum kiểu này, để tồn tại sự an toàn của Corstopitum, sự yên tĩnh và thanh bình, có nghĩa như một thắng lợi đích thực, thắng lợi đối với cái ở ngoài Vallum, thắng lợi đối với sự man rợ tăm tối, đối với sự cần thiết thô bạo, đối với nỗi đam mê giết chóc, đối với khát vọng chinh phục và chiếm hữu, là thắng lợi, triumph, Korin giải thích, đối với cái mà có lần từ sau những tháp canh của pháo đài Vercovicium Kasser và các bạn đã nhìn thấy trong ánh mắt hoang dã của một kẻ nổi loạn người Pict[46] ẩn nấp sau một bụi cây gai, là chiến thắng đối với sự nguy hiểm thường trực, đối với thú tính vĩnh cửu trong con người.
11.
Có tiếng động từ phía ngoài cửa ra vào và tình nhân của người phiên dịch quay đầu ra, và trong khi đợi cửa mở, toàn thân thị căng lên; trong mắt thị đầy nỗi sợ, nhưng cuối cùng chẳng có gì ngoài cửa, thị lại mở tờ báo ra, cúi xuống nhìn bức ảnh, trong ảnh là một chiếc trâm cài đầu, ở giữa chiếc trâm là một viên kim cương óng ánh, thị cứ nhìn, nhìn mãi, rồi từ từ lật sang trang sau.
12.
Ông ta đến với trang phục centurio đặc trưng của các cung thủ Syria, mũ trụ lê dương với ngù lông trên đỉnh, áo da mềm cổ cao bó chẽn, giáp trụ xích, khăn quàng cổ, áo choàng dày, kiếm lưỡi thẳng mũi dài bên sườn, và chiếc nhẫn không thể thiếu trên ngón cái, dầu vậy nom ông giống một viên quan phụ trách nghi lễ hơn, Korin nói, một dạng master of ritual, ông ta xuất hiện giữa những gia nhân phục vụ trong biệt thự một tuần sau khi họ thị sát bức tường trở về, không ai biết ai cử ông ta đến, Praetorius Fabrum hay cursus publicus, hay bộ tham mưu của đội dự bị, hay một quan chức không rõ tên nào đó của II. Legion Eburacum, dẫu sao một hôm ông ta đã bước vào sảnh trung tâm của villa - cũng là phòng ăn chung, giữa hai người hầu bê một khay hoa quả lớn, fruits, phần cung cấp cuối cùng xuất xứ từ Pons Aelius, và tự giới thiệu tên là Lucius Sentius Castus, sau đó ông ta cúi đầu, và không giấu giếm mục đích gây sự chú ý cần thiết, ông ta nghỉ một lát rồi hướng sự chú ý tới nhóm Kasser, và bảo không phải ông ta được cử đến, không phải được cử đến, ông ta nhắc lại, và ông rất lấy làm vinh hạnh, very dignified, nếu sau khi ông ta hoàn thành nhiệm vụ sẽ được họ coi như không chỉ nhiệm vụ của ông ta mà cả sự hiện hữu của ông ta cũng kết thúc, nghĩa là ông ta chỉ là một người đưa tin bình thường, người cùng lúc đem đến một tin và một đề nghị, và với những thứ đó ông muốn vai trò của mình với tư cách phái viên cũng kết thúc, thậm chí nếu họ cho phép, sau khi trao tin và đề nghị, ông sẽ biến mất như Corax[47] tới đây ông ta im lặng, silence, như thể trong một tích tắc ông muốn xem xét nét mặt của bốn người xem liệu họ có hiểu không, sau đó ông ta bắt đầu một bài nói, đối với Korin, đặc biệt không thể hiểu nổi, một bài nói chỉ toàn những phúng dụ, ký hiệu, ám chỉ, theo tập cảo bản thì bọn Kasser đã hiểu hết, nhưng với gã thì rất khó, difficult, để có thể hình thành một bức tranh rõ ràng, vì gã phải tìm thấy và truyền đạt lại mối liên hệ giữa các sự việc, danh tính và các diễn biến mà giữa chúng hoàn toàn thiếu mối liên hệ, và không chỉ trong cái đầu bệnh hoạn của gã, mà sự thể cũng là thế, bởi vì những khái niệm như Sol Invictus[48] và phục sinh, bò đực và chiếc mũ Phrygian[49], bánh mì, máu và nước, hay điện thờ, Pater[50] và sự hồi sinh cho thấy ở đây là lời của một trong những người thông thạo bí ẩn sâu kín nhất của Đạo Mithras, nhưng nói gì, Korin lắc đầu, thì không thể hiểu nổi, cảo bản chỉ đưa ra bài nói của Castus, nhưng không giải thích và không cắt nghĩa, dù gián tiếp cũng không, mà như thường thấy trong chương này: nó chỉ nhắc lại, cụ thể là nhắc lại liên tiếp ba lần tất cả mọi thứ, nhờ đó mà cuối cùng ta thấy rất rõ cảnh tượng Kasser, Bengazza, Falke và Toót nằm trên những chiếc ghế trong căn phòng ăn được trang trí bằng những cành nguyệt quế khổng lồ, mắt sáng long lanh vì hồi hộp và nghe Castus, theo lời hứa ông ta sẽ biến mất như Corax, hay như một con quạ, phía sau họ là một đám đầy tớ kinh ngạc, đằng trước họ là chà và, nho khô, quả óc chó và hạnh nhân tỏa mùi thơm trên các khay giữa các thứ bánh nướng hảo hạng của các thợ làm bánh của Corstopitum Castrum[51], tất cả ăn sâu vào đầu óc người ta, và những câu nói nhát gừng của Castus cũng gây ấn tượng mạnh, nhưng chẳng dẫn đến đâu cả, it didn’t lead nowhere, chỉ dẫn tới sự mù mờ, sự mù mờ tăm tối nhất, hoặc có thể có nghĩa là, Korin tuyên bố, bất quá dẫn tới sự mù mờ dày đặc của Mithraic[52], bởi vì về cuối bài nói chuyện, khi Kasser cũng thay mặt cho những người kia gật đầu với ông ta, dường như Castus ám chỉ rằng lần sau một người chưa biết rõ là Pater sẽ đợi họ vào ngày tái sinh của Sol[53] trong Mithraeum[54] ở Brocolitium, ông ta sẽ là người, Castus chỉ vào mình, hay người khác, một Corax, một Nimphaeus[55], hoặc một Miles, sẽ đến đón họ, đưa họ tới hang, điều này chưa thể biết, một người nào đó sẽ tới và trở thành người đưa đường, the guide, rồi ông ta giơ hai tay lên, nhìn lên trần, và bảo: ngươi hãy vui lòng muốn để chúng ta mời gọi ngươi, như gọi mời Sol Invictus đỏ rực, theo cách rất hay của Acimenius, hay như Osiris Abrakolo, hay như Mithras thần thánh nhất, còn ngươi thì hãy nắm lấy sừng bò đực dưới những hang đá Ba Tư[56], con bò đực đứng vững để sau đó đi theo ngươi, nói đến đây ông ta buông tay, cúi đầu xuống và nói nhỏ: votum solvit libens merito[57] và ông ta đi, leave taking, tóm lại là sự khó hiểu, bí ẩn, mập mờ và huyền bí, những thứ đó bao trùm lên cả chương bốn, cũng như một tình tiết quan trọng đặc biệt của phần tiếp theo, trong đó sự khó hiểu, bí ẩn, mập mờ và huyền bí cũng có ý nghĩa hệ trọng như thế, chỉ có điều tất cả những cái đó để mô tả đặc điểm của một trong những nhóm chờ đợi ở Albergueria, những người Sephardic và những người anh em Sicilia của họ, chẳng là có một hình ảnh liên tục trở lại, đó là một người Sephardic hay Sicilia, dù làm bất cứ nghề gì, như ăn mày, thợ in, thợ may hay thợ giày, làm thông ngôn hay thư ký ở Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý hay Armenia, đổi tiền hay nhổ răng, bất kể, never mind, Korin nói, nhưng đến lúc thấy bất chợt anh ta từ bỏ vai trò của mình và bước vào một thế giới khác, in an other world, bỗng nhiên họ buông chiếc kéo thợ may hoặc con dao thợ giày, buông chiếc bình đánh sữa để làm bơ hay những đồng maravedi[58] mà anh ta đã tính đếm, và không chỉ trong một khoảnh khắc mà có khi một vài phút, ta có thể nói rằng, con người đó đang nghiền ngẫm, brood, hoàn toàn không còn là thợ may hay thợ giày, ăn mày hay thông ngôn, mà trở thành một người nào đó khác hẳn, ánh mắt đăm chiêu, người khác có gọi họ cũng vô ích, họ không để ý tới, và khi đó, bởi vì anh ta ở trong trạng thái đó đã khá lâu, người đối diện với anh ta cũng sẽ im lặng, không đánh tiếng gọi và đánh động, chỉ nhìn nét mặt đang phiêu bồng, đôi mắt ngây dại đang ngước nhìn lên, gương mặt mê hồn và đôi mắt mê hồn này, beautiful face and beautiful eyes, Korin nói, và cảo bản nhắc đi nhắc lại điều này như thể chính nó cũng đang trầm ngâm, đăm chiêu, mơ màng, bất chợt dừng lại và ngắm nhìn những gương mặt và những đôi mắt kia, về tập cảo bản, Korin nói, khi đó đã có thể biết, ít ra là ngay từ lần đọc đầu tiên gã đã biết, thậm chí đó là điều duy nhất gã biết chắc chắn ngay từ đầu, rằng tất cả do một người điên viết ra, và vì vậy nên nó không có trang đầu đề, không có tên tác giả.
13.
Đêm đã khuya, nhưng cả hai vẫn không nhúc nhích, Korin - với từ điển và cuốn sổ ghi chép trên tay - liên tục kể và giải thích, tình nhân của người phiên dịch vẫn để nguyên quyển quảng cáo ấy trong lòng; thỉnh thoảng thị ngước lên khỏi đó, đôi khi gập nó lại, nhưng không bỏ nó sang bên dù chỉ một giây, dù thỉnh thoảng thị lại liếc mắt về phía cửa, dù chốc chốc thị lại hơi nghiêng đầu như lắng nghe một tiếng động nào đó trong không gian, cuối cùng bao giờ thị cũng quay lại tập quảng cáo, nhìn những bức ảnh trắng đen trong đó, những chiếc vòng cổ, khuyên tai, vòng tay và nhẫn lấp lánh không màu bên cạnh có ghi giá và số điện thoại.
14.
Sự dâm đãng, gợi tình, đam mê và khao khát, Korin tiếp tục sau một lúc suy nghĩ và có vẻ lúng túng, gã sẽ khiến tiểu thư hiểu lầm, nếu như gã im lặng, gã bỏ qua, nếu như gã cố ý không nói về nó, số là ngoài những điều đã nói cho tới lúc này, sự sụp đổ hoàn toàn, nghĩa là phần cảo bản thiên về Roma còn có một yếu tố rất quan trọng, là nó thấm đẫm nỗi khao khát, điều mà gã không thể phủ nhận vì những gì sẽ diễn ra sau đó, cả Albergueria, như gã nói, đầy rẫy gái điếm, còn những câu vần trong cảo bản, khi họ đi đi lại lại trên những địa điểm khác nhau của Albergueria, họ liên tục đụng chạm với những ả gái điếm này, và khi đó, điều này gã phải nói trắng ra là, đã miêu tả bọn họ cực kỳ trơ trẽn, họ đứng trên các cầu thang và trên các chiếu nghỉ, những góc khuất sáng sủa hay lờ mờ của các tầng gác và lối đi, nhưng những câu văn trong cảo bản không chỉ bằng lòng với việc giới thiệu một dạng hội chợ náo nhiệt, rực rỡ của những bộ ngực núng nính, những cặp mông khổng lồ, những cái hông đung đưa, những cặp mắt cá chân thon thả, những bộ tóc dày và những bờ vai tròn lẳn, mà còn đi theo chúng, khi chúng thè lưỡi liếm môi khêu gợi và liếc mắt tình tứ kéo một thủy thủ hay một viên chưởng khế, một thương lái hay một gã đổi tiền từ Andalusia[59], Pisa[60], Lisbon và Hy Lạp, bọn trẻ dậy thì và bọn lesbian[61], các lão già và các cha cố lấm lét nhìn về phía sau, những con mồi đã say tình, vào một căn phòng tối ở gần đó, đúng, Korin bỗng nhiên đỏ mặt, những câu văn đó đã kéo lên tấm rèm mà lẽ ra ở đó trong mọi điều kiện mọi tấm rèm đều phải hạ, và không, về điều này thì gã không muốn kể chi tiết hơn nữa, gã chỉ muốn nhắc rằng, chương năm, the fifth chapter, đã miêu tả tỉ mỉ đến tàn nhẫn tất cả những gì xảy ra trong các căn phòng tăm tối, chuỗi liên miên của những cuộc tình, những cuộc đối thoại dâm đãng giữa các ả điếm và khách hàng của chúng, sự đơn điệu và phức tạp của những cuộc chung đụng, những đam mê lạnh lùng và cuồng nhiệt, những khát vọng lụi tắt và bùng phát, cái giá thất thường của dục tình, nhưng khi làm điều đó nó không miêu tả thế giới này hư hỏng, và nó không thích thú khi viết điều này, và cũng không hề bệnh hoạn hay lên án, giả dối hay tàn ác, chỉ cực kỳ tỉ mỉ và nhạy cảm để diễn đạt bản thân mình, Korin dang rộng hai tay, và bởi vì phương pháp tỉ mỉ và nhạy cảm này có hiệu quả rất bất ngờ, từ giữa chương trở đi nó trở thành giọng điệu chính, dù bất cứ thứ gì mới xuất hiện ở Albergueria, cũng liền bị nhiễm sự nhạy cảm này, trước hết là Mastemann, người lần này cũng lại bất ngờ xuất hiện ở đây, ngay tại điểm này, do chán sự yên tĩnh nguy hiểm, vô vị ngự trị trên cảng đã lên bờ bằng một con thuyền từ chiếc cocca[62] chuẩn bị đi Genova, và thuê một phòng trên gác ở Albergueria cùng mấy người hầu, Mastemann, Korin hơi cao giọng, người có lý do để không quyết định ngay như vậy, vì ông ta phải tính đến sự thù hận, the hate, ở xứ Gibraltar thuộc Tây Ban Nha đối với người Genova, cũng gần giống như trong phần trước, lần đầu tiên cả bọn Kasser nghe từ những người khách trọng, từ Primipilus[63] của các đội đầu tiên ở Eboracum và cuối cùng từ Praetorius Fabrum đến vào tuần thứ năm từ khi họ ở Britannia[64], nói về vị thủ lĩnh bí hiểm của những người Frumentarius[65], người mà - như họ nói - được ân sủng lớn nhất của Hoàng đế, người khi được coi là thiên tài, khi là kẻ điên rồ, có khi là người cao thượng, khi là kẻ hèn hạ, nhưng dẫu sao cũng được coi là Đáng sợ nhất dưới những vòng nguyệt quế thân hữu của phòng ăn chung, the most Fearsome, biệt hiệu đầu tiên do những người Frumentarius, Korin nói, về hệ thống có khả năng kiểm soát hoàn hảo mọi việc và mọi người của cảnh sát mật Hoàng gia được cài vào các nhóm của Cursus Publicus, là chỗ tin cậy của Hadrianus vĩnh cửu, để không gì còn có thể tồn tại trong bóng tối, dù Roma bất tử đang ở Londinium, ở Alexandria, ở Tarraco, ở Germania hay Atens.
15.
Khi đó Kasser đã ốm rất nặng, Kasser was ill, Korin kể, hầu hết thời gian trong ngày anh ta nằm trên giường, chỉ dậy vào những lúc ăn tối, tuy nhiên chẳng ai biết anh ta mắc bệnh gì, vì căn bệnh của anh ta chỉ có một triệu chứng duy nhất, đó là anh ta rét kinh khủng; không sốt, không ho, cũng không đau đớn chỗ nào, chỉ rét run suốt ngày đêm, chân tay mình mẩy cứ run cầm cập, dù người ta đã sưởi căn phòng, hai người hầu lúc nào cũng đốt lửa, và căn phòng nóng đến nỗi lúc nào họ cũng vã mồ hôi, nhưng với Kasser chẳng ăn thua gì, anh ta vẫn rét, và chẳng thể làm gì hơn, bác sĩ từ Corstopitum đã coi bệnh, từ Eburacum đã khám, người ta đã cho bệnh nhân uống trà gừng, ăn thịt thằn lằn, đã thử mọi cách nhưng vô hiệu, hơn nữa ba vị khách và ba bản báo cáo về những người Frumentarius nắm mọi thông tin và về Mastemann càng làm cho tình trạng anh ta xấu đi, thậm chí xấu đi một cách đáng kể, và sau chuyến viếng thăm của Praefectus Fabrum vào các bữa ăn tối anh ta không dậy nữa, mà những người kia vào với anh ta, nhưng những lúc ấy họ cũng không thực sự nói chuyện, talk, được với anh ta, bởi vì dưới lớp chăn hay những tấm da đắp anh ta run mạnh đến nỗi không thể nghĩ đến việc trò chuyện, hoặc anh ta im lặng đến nỗi họ không nỡ đánh động, tóm lại là các buổi tối, the nights, trôi đi lặng lẽ và ít trò chuyện, và ngay cả ban ngày cũng vậy, các buổi sáng sớm và buổi sáng Bengazza, Falke và Toót thường viết các báo cáo về Vallum, buổi chiều họ vào bể tắm, đến tối sẩm họ mới quay về khu biệt thư yên tĩnh - vẻ bề ngoài là thế, Korin nói, trong thực tế, như cảo bản viết, Kasser nằm run trên giường, những người kia viết báo cáo hay ngâm mình trong bể tắm sủi, thì họ cũng chỉ làm việc duy nhất: im lặng về Mastemann, không một ai nói gì, cả đến tên ông ta cũng không, thế nhưng: ngay cả không khí cũng trở nên ngột ngạt vì ông ta, diện mạo và lai lịch của ông ta, cái lai lịch mà họ thấy hiển hiện trước mắt qua sự miêu tả chi tiết của ba vị khách, gần như bao trùm lên những suy nghĩ của họ, để rồi sau một tuần nữa trở nên hoàn toàn rõ ràng: họ không chỉ im lặng không nói gì về ông ta, mà còn chờ đợi, còn tính đến chuyện ông ta sẽ tới, họ chắc chắn rằng, với tư cách là Magister Britannia của cursus publicus ông ta sẽ tìm họ, Korin nói, văn bản nhắc đi nhắc lại việc họ đã chú ý tới những sự kiện diễn ra trước ngôi biệt thự như thế nào, họ đã giật mình như thế nào khi những người đầy tớ báo có khách, nhưng Mastemann không tới tìm họ, he was not coming, vì chỉ đến chương sau mới nói tới buổi tối đầu tiên khi lão tới, lão tự giới thiệu là phái viên đặc biệt của Dominante[66] từ Genova, lão xin phép ngồi xuống bàn họ, cuốn theo một mùi hương dễ chịu, ngồi xuống và nháy mắt nhìn lướt qua mặt họ, rồi không để bốn người kịp nói họ là ai, lão bắt đầu tụng ca vua John, như thể lão biết mình đang ngồi với ai, trong mắt lão và trong mắt Genova vua Bồ Đào Nha chính là tương lai, là tinh thần của thời đại mới, Nuova Europa[67], nói cách khác là người trị vì hoàn hảo, người đưa ra những quyết định không dựa vào tình cảm, vào những sự ràng buộc và sự thất thường của số phận của mình, sau đó lão chuyển sang nói về Tin tức Vĩ đại, lão gọi Colombo lúc là Signor Colombo, lúc là “Cristoforo của chúng ta”, khiến cả bốn người bọn họ hoàn toàn bất ngờ, về cuộc thám hiểm nổi tiếng lão nói như thể nó đã kết thúc thắng lợi, cuối cùng lão gọi bà chủ quán mang rượu vang đỏ Malaga ra cho cả bọn họ, và tuyên bố thế giới mới đang tới, a new world coming, trong đó không chỉ đơn giản đô đốc Colombo, mà chính tinh thần Genova chiến thắng, lão nâng cao giọng và nâng cả cốc rượu, xuyên suốt và bao trùm tất cả - tinh thần Genova, Korin giải thích cho người đàn bà, cái tinh thần mà căn cứ vào những ánh mắt dõi theo cả những cử chỉ nhỏ nhất của Mastemann, ở đây, ở Albergueria, đáng căm ghét xuyên suốt và bao trùm tất cả.
16.
Nếu chúng ta chết, cả bộ máy sẽ tiếp tục vận hành, và người ta nghĩ rằng đó là điều khủng khiếp nhất, lúc sau Korin tự dứt lời, gã cúi đầu, suy nghĩ một lát, rồi bắt đầu chầm chậm xoay đầu với vẻ đau đớn, và giữa chừng gã nói: - Mặc dù từ việc nó tiếp tục vận hành, có thể hiểu rõ rằng không hề có bộ máy.
17.
Đám gái điếm đã phát rồ, gã nói tiếp, và điều này chỉ giải thích được duy nhất bằng sự xuất hiện của Mastemann, không ai biết rõ nguyên nhân của nó, và cái chính là sức mạnh mê hoặc tỏa ra từ nó là những gì, nhưng không thể liên hệ nó với sự kiện nào khác, Mastemann đã tới, và Albergueria đã thay đổi, lão lấy một phòng trên gác và cả tầng trệt yên tĩnh như chưa hề thế bao giờ, yên tĩnh, cho tới khi vào buổi tối đầu tiên sau khi đến lão đi xuống gác, và có vẻ như ngẫu hứng lão chọn một chiếc bàn, đó là bàn của nhóm Kasser, lão còn chưa kịp ngồi xuống thì cuộc sống lại bắt đầu, dù mọi việc không diễn ra như trước đó nữa, nghĩa là đám thợ may, thợ giày, thông ngôn và thủy thủ dù có tiếp tục việc đang bỏ dở vẫn lấm lét ngó xem Mastemann làm gì, mà lão có thể làm gì cơ chứ? Korin dang tay, lão ngồi đối diện với bọn Kasser và nói, lão rót vang, chạm cốc và ngả người ra sau, tức là lão chẳng làm gì để chứng thực cho sự run rẩy sợ hãi chung kia, this general rigor, nhưng đúng là chỉ cần nhìn lão là người ta bắt đầu sợ, đôi mắt xanh lè đáng sợ bất động, da mặt lỗ chỗ, cái mũi khổng lồ, cằm nhọn, những ngón tay dài nuột nà, thanh nhã, chiếc áo choàng đen như mun với lớp lót trong đỏ như lửa thỉnh thoảng lại lấp ló ra ngoài khiến người ta thấy nghèn nghẹn nơi cổ, tóm lại là hận thù và sợ hãi, hate and fear, là hai thứ mà đám thợ may, thợ giày, thông ngôn và thủy thủ ở tầng trệt cảm thấy khi nhìn Mastemann, nhưng còn chưa thấm gì so với tác động của Mastemann lên đám gái điếm, vì đám này không chỉ rùng mình khi nhìn thấy lão, mà còn phát rồ vì lão, nếu lão xuất hiện ở bất cứ đâu, là các cô gái Algeria hay Granada xinh đẹp lập tức ùa tới vây quanh lão, và như thể bị phù thủy mê hoặc không thể cưỡng lại được, họ xông tới, như bị thôi miên, họ sờ mó chiếc áo choàng của lão, van xin lão đi với họ, miễn phí, họ nói thầm vào tai lão, cả đêm và tất cả từ chân đến đầu họ là thuộc về lão, lão muốn làm gì cũng được, họ chạy vòng quanh lão, ôm vai bá cổ lão, và lôi kéo, nắn bóp, dán mắt vào lão mà thở dài, như thể chỉ được ở gần Mastemann đã là sung sướng đê mê, tóm lại là sự xuất hiện của Mastemann khiến cả lũ phát rồ phát dại, và thế là nền công nghiệp thịnh vượng dựa trên đám gái điếm bắt đầu phá sản nhanh trông thấy, vì đã bắt đầu một giai đoạn, epoch, mà từ đó trở đi tất cả đám gái điếm không theo đuổi tiền bạc mà săn lùng khoái cảm trong các cuộc tình, nhưng chúng không tìm thấy khoái cảm, vì chẳng ai thỏa mãn nổi chúng, đừng có dây với chúng, sẽ tàn đời đấy, đám đàn ông cảnh báo cho nhau, chúng sẽ lợi dụng ngươi chứ không phải nhà ngươi lợi dụng chúng, người nọ truyền người kia, trong khi ai cũng biết nguyên cớ là tại Mastemann, thế nên thù hận và sợ hãi tăng lên từng giờ dưới bề ngoài yên lặng, hate under the quietude, sự việc tương tự như thế đã xảy ra ở Corstopitum, bởi không thể gọi điều mà nhóm Bengazza cảm thấy đối với Magister xa lạ là thứ gì khác hơn thù hận và sợ hãi, họ đã nghe các bài nói chán ngắt từ promipilus và librarius[68], đã ghi nhớ kỹ những lời nói cay đắng của Praetorius Fabrum, họ đã nhắc lại một lần nữa, Korin nói, khi xây dựng mạng lưới nhân viên của mình Mastemann đã khéo léo sử dụng hệ thống từ lâu đã hoạt động trơn tru của cursus publicus như thế nào, và họ đã căm thù, đã sợ dù chưa nhìn thấy lão, họ ghét lão và rùng mình khi nghe tên lão, dù khi đó chưa ai nói gì tới cuộc gặp gỡ, chỉ có Kasser không hé ra điều anh ta cảm thấy, Korin nói, không thể biết ý kiến của anh ta ra sao, vì anh ta không nói một lời, và cũng không bày tỏ ý kiến cả ở Corstopitum, khi vào các buổi tối những người kia vào thăm anh ta, cả ở bên cạnh chiếc bàn ở Albergueria, nơi anh ta đã không còn tham gia các cuộc trò chuyện, chỉ ngồi im lặng, nhìn ra vịnh qua cửa sổ, nhìn những ngọn đuốc trên các con tàu trong màn sương mù, nhìn tập hợp ma quái của các thuyền chiến, tàu chiến và tàu hộ tống, các naviguella, các caravela và các loại tàu thủy đang chờ đợi để sau mười một ngày, after eleven days, cuối cùng trời bắt đầu nổi gió.
18.
Đúng bảy ngày sau Castus quay lại và nói với họ, rằng bản báo cáo hứng khởi như một bản trường ca của họ về Vallum đã được trao cho Praetorius Fabrum, và như vậy công việc của họ ở Britannia thực chất đã hoàn thành, lại là ông ta, Castus cúi đầu, với tư cách là phái viên của Pater được vinh dự đưa họ tới Brocolitia[69] vào ngày lễ thánh Sol và Apollo, vào dịp dâng lễ lớn và đại tiệc, ông ta giơ tay phải lên, lễ tẩy trần cho những người khát khao tham dự ngày vinh quang, ngày giết Bò Đực và ngày phục sinh của Mithra - nhưng chỉ có Bengazza, Falke và Toót khởi hành, Kasser không thể tham gia một chuyến đi như vậy, đặc biệt thời tiết còn khắc nghiệt hơn bất cứ khi nào khác, không, anh ta đáp lại câu hỏi của Falke, anh ta không còn đủ sức để đi nữa, mọi người cứ đi đi, anh ta nói, rồi sau hãy kể lại chi tiết cho anh ta biết, thế là bọn Bengazza chuẩn bị đủ các áo choàng và mặt nạ cần thiết cho nghi lễ, mặc áo lông dày và lần này đúng theo quy định, họ đi không có đoàn hộ tống, nghĩa là thật bí mật, nhưng đúng là lần đầu tiên họ lên đường mà thiếu Kasser, without Kasser, con đường họ đã phi mã vượt qua với ba lần đổi ngựa, trong vỏn vẹn một đêm đi ngược chiều gió buốt, the wind - một chặng đi ngựa quá sức người, sau này họ kể lại với Kasser bên giường bệnh, nhưng họ đã đến đúng giờ, nghĩa là trước lúc rạng sáng họ đã tới Brocolitia, ở đó Castus đưa họ tới một cửa hang bí mật nằm hơi chếch về phía Tây trại, nhưng dường như Kasser cảm thấy họ đã giấu anh ta điều gì đó, mỗi lúc anh ta càng nhìn họ với ánh mắt buồn hơn, dù không hỏi và thực ra cũng không chờ đợi họ tiết lộ xem đó là gì, nhưng rõ ràng có thể thấy là anh ta biết, một điều gì đó đã xảy ra trên đường đi, điều mà họ không nói ra, mắt họ sáng long lanh khi kể về sự hồi sinh của Mithra, về luồng máu phun ra của con Bò Đực, về bữa tiệc, về nghi lễ và về Pater phấn khích và tuyệt vời như thế nào, nhưng Kasser vẫn nhận ra sau những ánh mắt lấp lánh ẩn giấu một sắc thái nói lên một điều gì đó khác, và anh ta đã không nhầm, no error, không, cảo bản cũng viết thế, vì đúng là trên đường đi đã xảy ra một việc gì đó, ở trạm dừng thứ hai, giữa Cilurnum[70] và Onnum, nơi họ dừng lại để đổi ngựa và uống một chút vang pha mật từ những chiếc bình nóng giãy, bất chợt họ đã vấp phải một chuyện mà dù có tính đến trước là nó có thể xảy ra, nhưng họ không thể chuẩn bị trước, đúng lúc họ khởi hành đi tiếp, đã rời khỏi sân trạm ra đường, thì bỗng nhiên một đội quân kỵ phi ra từ trong bóng đêm, đội quân lạ, nhắc người ta nhớ đến một toán viện quân Thụy Sĩ, với áo giáp đồng phục có vảy, vũ khí đầy mình với scutum[71] và gladius[72], và đơn giản là đội quân kỵ đã ào qua họ, họ phải nhảy đại xuống rãnh bên đường nếu không muốn người ngựa bị giẫm nát, khoảng một turma đội hình khép kín, ở giữa là một người đàn ông không tước hiệu, áo choàng dài quét đất tung bay, ông ta chỉ nhìn lướt qua khi họ lồm cồm bò dậy từ rãnh bên đường, chỉ một ánh mắt lướt qua, và ông đã phi tiếp cùng các kỵ sĩ về phía Onnum, nhưng cũng đủ để bọn Bengazza nhận ra đó là ai, và từ cái liếc mắt đó họ xác nhận tin tức có đúng hay không; cái liếc mắt rất nghiêm và sắc, cảo bản viết thế, hay có lẽ thế cũng chưa đúng hẳn, vì đó là một dạng như nghiêm khắc và khắt khe, seriousness and dourness, như kẻ sát nhân thông báo với nạn nhân của nó đã đến giây phút kết thúc, nói cách khác, Korin tóm lại, và giọng gã vang lên rất cay đắng, là từ rãnh ven đường họ đã nhìn thấy Tử Thần, Lord of Death, giữa Cilurnum và Onnum, và chương nói về Gibraltar chỉ khác chỗ này ở chỗ trong khi ở đây nỗi sợ hãi ập xuống nhóm Bengazza từ xa, còn ở đó nó đã trút lên họ từ cự ly cực gần, vì có lẽ không cần phải nói rằng, Korin giải thích, bên chiếc bàn ở Albergueria, khi Mastemann ngồi xuống chỗ họ và bắt đầu nói, có thể thấy bộ mặt kinh khủng ấy đã cận kề họ tới chừng nào, còn hơn cả nỗi sợ hãi, máu họ như đông cứng lại trong huyết quản.
19.
Lão thích vang Malaga hơn cả, thứ vang sánh, ngọt, mạnh; những buổi tối đầu tiên sau khi lên bờ mà thường là lão ngồi cùng với nhóm Bengazza, lão gọi hết bình này tới bình khác; lão rót, uống, lại rót tiếp và khuyến khích những người khác, tất cả, cùng uống với lão, sau đó trong vòng vây của đám gái điếm háo hức đằng sau, lão cứ nói và nói, talk and talk, và không một ai dám xen vào, vì lão nói về Genova và về quyền lực lớn nhất ngự trị trên thế giới cho tới nay - Genova, lão nói, như thể với nó lão đã kết thúc câu chuyện, và: Genova, lão lại nói thêm và kể ra những cái tên, Ambrosio Boccanera, Ugo Vento và Manuel Pessagno, nhưng lão thấy những cái tên đó chẳng nói lên điều gì với cử tọa, lão ghé sát Bengazza và khẽ hỏi, vậy thì những cái tên như Bartolomeo, Daniel và Marco Lomellini nghe có quen quen chút nào chăng? - không, Bengazza lắc đầu, no, he said, thế là Mastemann quay về phía Toót, xem liệu anh ta có biết ý nghĩa câu nói nổi tiếng của Baltazar Suarez: “đó là những con người không coi toàn bộ thế giới là quá lớn để họ chiếm đoạt”, không, không biết, Toót lúng túng, toàn bộ thế giới, Mastemann chỉ ngón tay trỏ vào Toót, cách diễn đạt hoàn hảo là như thế, lão khẳng định, không những chẳng bao lâu nữa sẽ thuộc về họ, mà sẽ xảy ra một chuyện hi hữu: thời kỳ vĩ đại của Genova sẽ tới, và sẽ đi qua như bản chất tự nhiên của mọi vật, nhưng tinh thần Genova thì không, the spirit, ngay cả khi Genova đã lụi tàn, thì thế giới vẫn được dẫn dắt bởi chiếc lò xo Genova? Và các người có biết lò xo Genova là cái gì không? lão hỏi và nâng cốc vang về phía ánh sáng, nó là cái mà khi Nobili Novi, nghĩa là Nobili Vecchi sẽ chiến thắng thế giới của các nhà buôn đơn giản, những thương gia chỉ chú ý đến đồng tiền, nói cách khác là vị thiên tài Genova, Mastemann nói, trong đó các asiento[73] và juro de resguardo[74], các hối phiếu và tín phiếu, tiền giấy và lãi suất, tóm lại là: bằng việc phát minh ra hệ thống borsa generate[75] ông đã sáng tạo ra một thế giới mới, trong đó đồng tiền và các phép tính toán của nó không còn dựa trên thực tế nữa, mà dựa vào tri thức, trong đó việc ứng xử với thực tế chỉ còn là gánh nặng của những kẻ bất hạnh chân đất, và kẻ chiến thắng của Genova sẽ nhận được chỉ và chỉ duy nhất negoziazione dei cambi[76], tóm lại là, Mastemann nói giọng oang oang: một trật tự mới xuất hiện trên trái đất, trong đó cái thống trị sẽ chuyển hóa thành tinh thần, và trong đó các banchieri di conto[77], cambiatori[78] và heroldi[79], nghĩa là đại thể hai trăm người ở Lyon, ở Besançon hoặc Piacenza thỉnh thoảng sẽ tụ họp lại, để chứng tỏ thế giới là của họ, tiền là của họ, đằng sau lira, oncia, maravédi, ducat, reale và livre tournois[80] quyền lực vô biên là thuộc về họ - tất cả chỉ có hai trăm người, Mastemann hạ giọng, sau đó lão lắc tròn cốc vang trong tay, nháy mắt về phía đám đông, và uống cạn tới giọt cuối cùng.
20.
Hai trăm? Kasser hỏi Mastemann vào buổi tối cuối cùng họ ngồi với nhau, và với câu hỏi này thực chất việc xếp dọn đồ đạc, the wrapping, đã bắt đầu, vì có một khoảnh khắc, vào buổi tối hôm trước đó, khi họ leo lên cầu thang để về phòng, và họ nhìn nhau không nói một lời nào, nhưng đã ngã ngũ ra là không có sự tiếp tục, đã đến lúc phải xếp dọn, chờ đợi thêm không còn ý nghĩa gì nữa, tin tức, dù có tới, và theo cách Mastemann ngụ ý nói với họ, sẽ không liên quan gì đến họ nữa, the news are not for them, vì họ tin Mastemann, và không thể không tin Mastemann, lời lẽ của lão dội xuống đầu bọn Kasser như những nhát búa, và mỗi buổi tối lão lại thuyết phục họ thêm về cái thế giới mới, thế giới đã chứa sẵn trong nó sự lây nhiễm từ khi nó sinh ra, tóm lại là họ đã quyết định ra đi từ trước, và câu hỏi của Kasser - câu hỏi mà Mastemann đã bỏ ngoài tai - chỉ thêm vào đó như một khúc nhạc, the music - hai trăm? Anh ta hỏi lần thứ hai, và lần thứ hai Mastemann bỏ ngoài tai, nhưng những người khác thì không, có thể thấy họ đã hiểu đúng là đã đến lúc, và nếu trời có gió, không còn lý do để ở lại, dù tin tức đến từ hướng nào mà trước đó họ hy vọng, từ Palos hay Santa Fe, hay đến từ đám thân cận của Luis de Santangel, Juan Cabrera hay Imigo Lopez, đối với họ cái thế giới mới ấy hứa hẹn sẽ khủng khiếp hơn những cái cũ, awful like the old, còn Mastemann thì cứ nói mãi và nói mãi vào buổi tối cuối cùng của họ, rượu vang từ La Rochelle, nô lệ, lông hải ly và thạch lạp từ Britannia, muối, sơn và nghệ tây từ Tây Ban Nha, đường từ Ceuta, mỡ thực vật, da dê và bông từ Napoly và bọt biển từ Djerba, dầu từ Hy Lạp, gỗ từ Đức, nhưng tất cả những thứ đó chỉ là một khoản mục trên một mảnh giấy, các người có hiểu không? sự viện dẫn và khẳng định, điều quan trọng là trên những tờ giấy của scartafaccio[81] có những gì, điều quyết định là trong các tập sách của khu chợ lớn risconto có những gì, sau này các vị hãy chú ý đến điều đó, vì đó là thực tế, lão nói và dốc cạn một cốc vang nữa - rồi ngày hôm sau một đội thủy thủ từ Laguedoc đến, họ kể rằng họ nhìn thấy mấy người magog từ Calpé đi xuống phía bờ biển, và đây là tín hiệu tốt đầu tiên, sau đó không lâu còn tiếp theo nhiều tín hiệu nữa, và cuối cùng vào một ngày khi một nhóm người hành hương Andalusia đến và nói dưới vịnh có một con hải âu già khổng lồ bay thấp sát mặt nước, thì mọi người đều hiểu sự lặng gió, sự ngự trị tàn ác của calma chicha đã chấm dứt, the lull was over, và đúng thế thật, mấy tiếng sau những người đầy tớ sung sướng lao vào phòng của bọn Kasser thông báo với các ngài đã mấy ngày đóng kín cửa ở trong phòng, rằng gió đã nổi, những cánh buồm đã rung lên, những con tàu đã tròng trành xê dịch, lúc đầu còn chầm chậm, sau đó các thuyền chiến, tàu chiến và tàu hộ tống cứ dịch chuyển nhanh dần, làm cả Albergueria bỗng nhiên cứ nháo nhào lên, và bọn Kasser cũng khởi hành, quay lưng về Gibraltar qua Ceuta, để ở đó - theo kế hoạch ban đầu - họ nhận sự ủy thác từ Giám mục Ortiz vẽ một bản đồ hàng hải mới, nghĩa là họ biết bước tiếp theo sẽ là gì, cũng như họ cũng đã biết ở Corstopitum, rằng khi nào là lúc phải chia tay, rằng họ sẽ đi về đâu sau khi qua biển Manche, rằng điều gì chờ đón họ trên bờ Normandy, chỉ Kasser là không thể biết liệu có khi nào qua được bên kia hay không, người ta quấn cho anh ta những tấm da ấm nhất, đưa anh ta tới carruca dormitoria[82] do cursus publicus dành riêng cho anh ta, thận trọng đưa anh ta lên và đặt anh ta nằm yên vị, rồi họ lên ngựa và vây xung quanh, và họ khởi hành trong gió dữ dội; đến Condercum thì sương mù xuống, họ bị chó sói tấn công trước khi tới Pons Aelius, sau đó lên chiếc lavis longa[83] có vẻ quá mong manh ở cảng, với những đợt sóng khổng lồ dấy lên từ biển bão, cuối cùng là bóng tối giữa ban ngày trùm lên bờ, mặt trời biến mất, Korin nói, không chút ánh sáng, không còn chút ánh sáng nào!
21.
Gã lơ đãng nhìn vào khoảng không, và rất lâu không thốt ra dù chỉ một lời, rồi gã hít một hơi thật sâu như muốn khép lại ngày hôm nay, và gã liếc nhìn người đàn bà, nhưng thị, theo cách của riêng mình, đã kết thúc từ trước đó một lát, tựa lưng vào bức tường phía sau giường, thị đã ngủ, đầu ngật ra phía trước, tóc xõa che kín mặt, Korin không để ý, cuối cùng cho tới lúc này, rằng thị cũng muốn kết thúc, nhưng thế này thì chẳng cần phải kết thúc nữa, gã cẩn thận đứng dậy khỏi giường, nhón chân đi về phòng, nhưng sau một lát suy nghĩ gã quay lại lục đống ga trải giường mà đám công nhân chở đồ bỏ lại, chọn lấy một chiếc chăn đắp cho người đàn bà, rồi gã về phòng mình, cứ để cả quần áo trèo lên giường nằm, nhưng rất lâu gã không ngủ được, tuy nhiên đến lúc ngủ thì lại ngủ rất nhanh, chỉ trong nháy mắt, đến nỗi không kịp đắp chăn và cởi bỏ áo quần, và hậu quả là gã đã thức dậy như thế, vẫn cả quần áo và rét run hết người, bên ngoài trời vẫn còn tối, gã nhìn những mái nhà sáng nhờ qua khung cửa sổ một lúc, rồi xoa chân xoa tay cho ấm lên, sau đó gã lại ngồi xuống giường, bật laptop lên, gõ các từ khóa và kiểm tra một lần nữa xem liệu tất cả có hiện lên home page hay không, xem liệu gã có phạm phải lỗi nào không, có nhầm lẫn gì không, nhưng không có sự nhầm lẫn nào, gã cũng không phạm lỗi gì, sau vài thao tác theo ý muốn, những câu đầu tiên của tập cảo bản đã lưu vào máy sáng lên trên màn hình, thế là gã tắt và đóng máy lại, đặt sang một bên, và chờ đợi bị đuổi ra khỏi nhà, nhưng cái sự đó không bắt đầu, sau này gã kể, mà là, nói sao nhỉ, là sự dọn nhà mới, vì nó giống sự chuyển vào nhà mới hơn cả, vì các thùng, các hộp tiếp tục được khiêng vào, gã và người đàn bà cứ đứng trong bếp, né vào góc bên cạnh cửa, và dõi theo xem bốn công nhân chở đồ làm gì, và tất cả cứ diễn ra vắng mặt chủ nhà, không thấy tăm hơi người phiên dịch đâu, và dám công nhân cứ bê vào mãi thùng và hộp, họ đã chất kín hết cả, chẳng còn chỗ nào đặt chân, rồi họ bảo người đàn bà ký vào một tờ giấy và họ biến mất, còn gã và thị đứng bên cửa sổ bếp, nhìn cảnh bừa bộn trong nhà mà chẳng hiểu ra sao, sau đó người đàn bà rón rén mở một thùng ở gần thị nhất, thị xé giấy ra và ngó vào, một chiếc lò vi sóng, và sau đó lần lượt đến các thùng khác, vì khi đó họ đã bắt đầu mở các thùng, Korin cũng tham gia, mở bằng dao và bằng tay, tùy chỗ nào có thể, một chiếc tủ lạnh, gã nói, một cái bàn, một bộ đèn chùm, một chiếc thảm, bộ đồ ăn, bồn tắm, nồi niêu và máy sấy tóc, cuối cùng họ đứng đó trong bóng tối đang buông dần cuối ngày, và cô tình nhân của người phiên dịch cứ đi đi lại lại trên đống giấy bao gói bề bộn, cứ đi lại giữa đống đồ đạc chật ních, vừa bẻ đốt ngón tay thỉnh thoảng lại hốt hoảng liếc nhìn Korin, nhưng Korin không trả lời, gã cũng cứ đi đi lại lại, thỉnh thoảng dừng ở một chỗ, cúi xuống xem một chiếc ghế, hay một tấm rèm cửa, hoặc một bộ vòi nước, xem chúng có đúng là ghế, là rèm cửa hay vòi nước hay không, rồi gã quay lại chỗ cửa ra vào, đúng chỗ sáng nay đám công nhân bốc vác ném dải báng nhựa dày màu tím xuống, gã gỡ ra, xem xét, rồi đọc to lên dòng chữ viết trên đó, start over again, và gã nói, theo gã đây là cuộn dây buộc khổng lồ, có lẽ là một trò chơi... hay giải thưởng gì đó, vì hình như tất cả đều được buộc bằng loại băng này, nhưng người đàn bà bỏ ngoài tai điều gã nói, và thị vẫn không thôi đi lại giữa đống hỗn độn, và tiếp tục như thế cho tới khi cả hai cùng mệt nhoài, người đàn bà ngồi xuống giường, và Korin ngồi xuống bên cạnh thị, đúng như hôm qua, vì đúng như thế thật, đúng là không thể giải thích và căng thẳng như đêm hôm trước, như sau này Korin kể lại với một ai đó, từ cái nhìn lo lắng của cô tình nhân người phiên dịch thì đúng như thế, vì vậy sau đó lại diễn ra đúng như thế, người đàn bà tựa lưng vào tường chốc chốc lại nhìn về phía cửa ra vào bỏ ngỏ, vẫn lật giở quyển quảng cáo ấy, còn Korin, để hướng sự chú ý của người kia đi nơi khác, gã tiếp tục đọc ở chỗ ban đêm gã bỏ dở, vì đã đến, gã tuyên bố, màn cuối cùng đã đến, sự kết thúc và chấm hết, và cùng với nó là giây phút quan trọng, khi cuối cùng gã có thể tiết lộ, điều đã làm rung chuyển về cơ bản những kế hoạch của gã, phát hiện có sức khai sáng đối với gã thực chất là gì.
22.
Câu có cấu trúc của nó: các từ, dấu chấm, dấu phẩy, tất cả đều có vị trí của nó, thế nhưng, Korin nói, và gã lại xoay đầu theo vòng tròn, ở đây, những gì diễn ra trong phần cuối chỉ có thể đặc trưng một cách duy nhất, đó là: sụp đổ, sụp đổ và sụp đổ, collapse, collapse and collapse, bởi các câu văn như thể bị mất trí, chúng không chỉ đơn giản là dồn dập, mà chuyển sang một tốc độ khác, chúng bắt đầu một cuộc xô đẩy điên loạn, crazy rush, gã cũng không phải là một người Hung cổ, gã chỉ vào mình, điều này gã không khẳng định, rõ ràng gã cũng có kiểu nói ào ào, liến thoắng, áp đảo theo kiểu dồn tất cả vào một câu, với một hơi cuối cùng thật dài, điều này thì gã biết rất rõ, nhưng những gì có trong chương thứ sáu, the sixth chapter, thì hoàn toàn khác hẳn, vì ở đó ngôn ngữ đã bất lực, và không được sử dụng đúng chức năng của nó, một câu bắt đầu và không muốn dừng lại, nhưng không phải vì - hãy nói thế này - nó rơi trong lòng vực, nghĩa là không phải nó bị đẩy tới bởi một quán tính nào đó, mà do một sự khắc nghiệt rồ dại nào đó, như thể địa ngục bên trong nó được giải thoát theo hướng ngược lại, so với hướng thông thường, nên biết rằng trong cảo bản nó đi về hướng có trật tự, the discipline, có nghĩa là, Korin giải thích cho người đàn bà, một câu văn khổng lồ ập tới, và nó bắt đầu tự vận động, để trở nên càng chính xác hơn và gợi cảm hơn, vì thế nó huy động những thứ mà ngôn ngữ chịu đựng nổi, và cả những thứ không chịu nổi, từ ngữ trong câu xô đẩy, chồng chất lên nhau, nhưng không giống như trong một tai nạn giao thông, ở đó mọi thứ tung tóe loạn xạ cả lên, mà như trong một trò chơi xếp hình, dày đặc, sát khít, khép kín bên nhau, đấy, đại loại là thế, Korin gật gật đầu, như thể mọi câu đều cực kỳ quan trọng, như thể cuộc sống và cái chết lệ thuộc vào điều này, life and death, tất cả diễn ra với nhịp độ chóng mặt, và điều mà nó viết ra, nó dựng lên, nó sắp đặt xung quanh, nó thể hiện, phức tạp tới mức, so complicated, không còn có thể hiểu ra điều gì nữa, đúng thế, Korin tuyên bố, lúc này gã đã hé lộ ra điều quan trọng nhất, như thế tốt hơn, bởi Roma của chương thứ sáu phức tạp quá sức hiểu của con người, và đó là bản chất vấn đề, gã nói, và điều này nữa, từ đây trở đi, với sự phức tạp quá sức hiểu của con người ấy, cảo bản trở nên đúng là không thể đọc nổi - không thể đọc nổi nhưng đẹp vô tiền khoáng hậu, gã cảm thấy điều này ngay từ đầu của sự khởi đầu, khi - hình như gã đã kể chuyện này rồi - trong một phòng lưu trữ ở nước Hung cách đây rất xa, từ trước Đại hồng thủy, lần đầu tiên gã đọc đến cuối, và gã cảm thấy điều này, dù đã đọc đi đọc lại nhiều lần, đến nay gã vẫn cảm thấy không thể hiểu nổi và hay tuyệt vời, inapprehensible and beautiful, từ nội dung của nó lần đầu tiên có thể hiểu ra rằng, họ đứng ở một cổng của bức tường thành Aurelianus[84], ở Porta Appia[85], bên ngoài các bức tường, có lẽ cách đó một trăm mét, xung quanh một hòn đá thiêng và nhìn con đường, nhìn Via Appia[86], chạy thẳng từ phía Nam tới, họ đứng đó và không có chuyện gì xảy ra, ở Porta Appia lúc đó là mùa thu hay đầu xuân, không thể biết rõ, cánh cửa Porta đóng kín, chỉ nhìn thấy mặt hai người lính gác qua khe hở phòng diễn tập, và hai bên là bãi hoang mọc đầy cỏ dại, cạnh cổng là giếng nước và quanh nó là các cisiarius - đó là tất cả những gì có thể gạn lọc ra được từ chương cuối, Korin tròn miệng đầy ẩn ý, mọi thứ, tất cả đều phức tạp khủng khiếp.
23.
Họ đứng đợi cạnh một đền thờ Mercurius, trước Porta Appia chừng một trăm, trăm rưởi mét, Bengazza ngồi, Falke đứng, còn Toót thì đặt chân phải lên một tảng đá, hay tay đan vào nhau đặt lên đầu gối - và đúng là không xảy ra chuyện gì khác, Korin nói, sự chờ đợi này nằm ở trung tâm mọi thứ, expectancy in the heart of things, hay nhìn gần hơn một chút: trong câu chuyện này thời gian xuôi chiều biến mất, và như vậy cả câu chuyện cũng mất, dù bất cứ thứ gì xuất hiện trong các câu văn trở nên lê thê, bất cứ tình tiết nào đi nữa, cũng không dẫn tới đâu, không chuẩn bị trước điều gì, không phải là mở đầu, cũng không phải là kết, không phải là nguyên nhân hay khởi sự, chỉ là một phần tử trong một bức tranh lóe lên với tốc độ cực nhanh, một phần, một tế bào, một mảnh, một bộ phận của một tổng thể hết sức phức tạp, đứng bất động giữa những câu văn khổng lồ, như vậy nếu bây giờ gã nói rằng, Korin nói, xét cho cùng chương sáu không là gì khác hơn là một bản kiểm kê lớn, thì gã làm người nghe hiểu lầm, tuy nhiên gã không thể nói cách nào khác, và chính điều mâu thuẫn này làm gã bất an cho tới những ngày gần đây, những khẳng định loại trừ nhau, gã không biết xử lý chúng ra sao, khi gã biết rằng cả hai đều đúng, nhưng sao lại có thể như vậy được, và gã không thể xoay xở nổi, vì một đằng thì đúng như thế, gã nói và cười, chương thứ sáu, ba người đứng đó không có Kasser, ở cửa ngõ Via Appia, và họ chú ý nhìn con đường từ phương Nam, và bản kiểm kê lớn bắt đầu, từ Roma Quadrata[87] tới Vesta, và từ Via Sacra tới Aqua Claudia, một mặt là như thế, đúng vậy, nhưng mặt khác, mắt Korin bắt đầu thắp lên những tia sáng, không.
24.
Gã đứng dậy, ra khỏi phòng, sau một phút gã quay lại với một tập giấy dày, gã ngồi xuống bên người đàn bà, đặt tập cảo bản lên lòng, và tìm trong đó một lúc, rồi gã nói như thanh minh, rằng lúc này - như một ngoại lệ - gã cần sự giúp đỡ, gã chọn ra vài tờ và vừa liếc mắt nhìn chúng gã vừa tiếp tục ở chỗ gã bỏ dở ban nãy, ở Roma, và họ đến trên con đường đi về phía Roma, những người nô lệ, các libertus[88] và tenuir, người làm cầu thang và thợ đóng giày nữ, các thợ đúc đồng và thợ thủy tinh, thợ làm bánh mì và đốt gạch, thợ dệt bông Pompei, thợ làm đồ gốm từ Arretium, thợ thuộc da, thợ cắt tóc, thầy lang và người chở nước, các hiệp sĩ, thượng nghị sĩ và theo sau họ là các accensus[89], viator[90], praeco và librarius, sau đó thì đến các ludimagister[91], grammaticus[92] và các rhetor[93], những người bán hoa, các capsarius[94] và người nướng bánh bột nhồi, rồi đến các chủ quán rượu, các kiếm thủ, những người hành hương và các delator[95], cuối cùng là các libitinarius[96], vespilion[97] và các disignator[98], họ đã đến và không đến nữa, Bengazza nói, và nhìn xuống con đường trống vắng, không, Falke cướp lời, vì không có Forum[99] và không có Palatinus[100], không có Capitolium[101] và không có Campus Martius[102], và không có Saepta[103], Emporium[104] trên bờ Tiberis[105], không có Horti Caesari[106] tuyệt vời và Continium và Cura, không còn Arx, Tabularium, Regia và đền thờ Cybelle, và cũng không còn những thánh đường rực rỡ, cả của Saturnus, của Augustus, của Jupiter, của Diana cũng không, vì cỏ đã phủ kín cả Colosseum[107] và Pantheon[108], cả Thượng viện, cả Hoàng đế đều không đưa ra luật lệ nữa, vì cả Thượng viện và Hoàng đế đều không còn, và cứ như vậy đến vô cùng, Korin giải thích, họ cứ nói và nói, tranh nhau nói, ngôn từ cứ tuôn ra mãi, rằng cứ như thể mọi thứ tốt đẹp cứ tràn về đây mãi, vì ngũ cốc đổ về, Toót tiếp tục, gỗ chẻ và gốc cây về Vicus Materarius, mật, hoa quả, hoa và đồ trang sức về Via Sacra, bò về Forum Boarium, lợn về Forum Suarium, cá về Piscatorium, rau về Holitorium, dầu, vang, giấy cói và gia vị thì về bờ Tiberis ở chân Aventius, nhưng những thứ tốt đẹp trần tục tràn ngập này không còn đổ về làm chi nữa, Bengazza cướp lời, vì không còn cuộc sống và không còn nữa những ngày hội, và sẽ không bao giờ có nữa những cuộc đua xe, cả Saturnalia, vì người ta đã quên Ceres và Flora, và người ta sẽ chẳng bao giờ còn tổ chức Ludi Romani, cũng như sẽ không có thêm một lần Ludi Victoriae Sullanae, vì các bể tắm điêu tàn, các nhà tắm nước nóng Caracalla và Diocletianus đổ nát, và những đường dẫn nước lớn đã cạn, Aqua Appia khô kiệt, và Aqua Marcia bỏ không, và dù Catullus, Cicero hay Augustus đã ở đâu, Toót nói, cũng vậy thôi, dù những biệt thự lớn lộng lẫy không gì sánh nổi đã đứng ở đâu cũng vậy thôi, việc người ta đã uống các loại vang nào, Falernusi hay Massilia, Chiosi hay Aquileai cũng chẳng còn ai quan tâm nữa, vì đã không còn và không còn đổ về làm gì nữa, cảo bản cứ tiếp tục như thế từ trang nọ sang trang kia theo cái cách điên rồ của nó, Korin lật giở loạn xạ, và dĩ nhiên bây giờ, gã nói thêm, gã không thể gọi lên được cái trật tự phập phồng thúc đẩy tất cả những thứ đó, với nó mọi thứ không đơn giản chỉ tuần tự kế tiếp nhau, mà phải nói rằng ngoài việc kiểm kê cùng lúc còn dồn tới hàng ngàn thứ khác nữa, vì chỗ thì ta đọc được chẳng hạn như giữa Forum Boarium và Caracalla Thermae các cisiarius làm gì trước các cỗ xe, chỗ thì về việc những người lính canh ở Porta hạ cánh cổng - gồm lưới sắt và tấm gỗ - xuống như thế nào, rồi giữa Aque và Saturnaliae và Holitorium chỗ thì nói về terra sigillata[109] như một kiện châu báu nom thế nào, chỗ thì nói hai bên Via Appia bụi bám lên các lá cây trắc bá diệp, cây tùng, cây ô rô và cây dâu như thế nào, đúng, chính xác như thế, Korin thở dài, nhưng đồng thời tất cả những thứ đó cùng với những thứ khác, bằng cách nào đó được xen vào những liệt kê lớn, nghĩa là tiểu thư phải hiểu rằng, các sự việc không diễn ra kế tiếp nhau, rằng danh mục, chẳng hạn về những nhân vật đổ về Roma, sau đó đến, chẳng hạn như bụi trên lá trắc bá diệp, sau đó lại là một đoạn thống kê về số hàng nhiều vô tận đã đổ về đây, rồi lại tiếp tục, ví dụ về các cisiarius, không, không phải như thế, mà là tất cả dồn vào một câu duy nhất, khủng khiếp, cực ghê gớm và thâu tóm tất tật, một cái gì đó bắt đầu từ một sự việc, rồi tới một cái khác, sau đó là cái thứ ba, và câu văn lại đang ở chỗ cái đầu tiên, và cứ thế tiếp tục, Korin nhìn tình nhân của người phiên dịch, gã hy vọng giờ thì thị đã thấy phần nào và tin gã, tin rằng gã không nói quá khi diễn đạt thế này: không thể đọc nổi và điên rồ!!! cũng như gã tin rằng thị biết: mặc dù tất cả những điều ở trên, nó vẫn đẹp đến xúc động, và gã thực sự xúc động, lần đọc nào gã cũng thấy xúc động, cho tới khi cách đây ba hay mấy hôm tới chương thứ sáu này, tới khi đến chỗ này, trong những ngày gõ vào máy cuối cùng, khi gã đã tưởng thế là xong, tất cả sẽ ở lại trong bóng tối, đấy, chính lúc đó, Korin nói với đôi mắt rực sáng, lúc đó, sau những câu đầu tiên của chương thứ sáu bỗng nhiên gã nhận ra chìa khóa của sự việc, gã chỉ biết nói như vậy, vì không thể nói khác, rằng ba hay mấy hôm trước bỗng nhiên gã thấy mình nắm được chìa khóa của sự việc, rằng bất chợt, sau bao nhiêu lần đọc, chiêm ngưỡng, thử và khổ sở để hiểu, bỗng nhiên ùa vào căn phòng gã một ánh sáng mạnh đặc biệt, và gã nhảy dựng lên khỏi giường trong ánh sáng đó, và gã bắt đầu hồi hộp đi đi lại lại, và gã nhảy lên, gã đi đi lại lại, và gã hiểu ra tất cả.
25.
Gã đọc những câu văn ghê gớm và mỗi lúc một ghê gớm hơn, và gã gõ chúng vào máy, nhưng đầu óc gã cứ để đâu đâu, hoàn toàn ở chỗ khác, bây giờ gã kể cho người đàn bà, thế là tất cả những gì còn lại từ chương cuối cùng của tập cảo bản gần như tự hiện lên màn hình, và vẫn còn lại khá nhiều, gã nói, vì vẫn còn đó phía trước gã tất cả đoạn viết về con đường, về các phương tiện giao thông và về Marcus Cornelius Mastemann, người trên những trang này, như một cách bái biệt, tự gọi mình là curator viarum[110] - về con đường, nghĩa là phải xây dựng bằng cách nào, nghĩa là phải nói chi tiết nhất về statumen[111] là gì, rudus[112] và nucleus[113] và pavimentum[114] là gì, về những kích thước bắt buộc của một con đường và về các rãnh thoát nước ở hai bên, cũng như về crepinides và sự bố trí các milliarium[115] và quy tắc viết chữ lên chúng, rồi centuria accessorum velatorum[116] hoạt động như thế nào, về đơn vị nổi tiếng được lập ra bởi Augustus để bảo dưỡng đường, sau đó là người ta đi lại ở đây bằng gì, nghĩa là về vô số xe bốn bánh và hai bánh, từ các carpentum[117], carruca[118], raeda[119] đến các essedum[120], tất nhiên nhiều nhất ngoài các birota[121], petoritum[122] và các carrus[123] là các cisium[124] hai bánh không mái che, để cuối cùng chỉ còn lại Mastemann, chính xác hơn là việc miêu tả nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản của currator viarum mọi thời, nhưng dĩ nhiên tất cả những thứ đó được hòa trộn chung vào một bức tranh trung tâm, như cách Bengazza, Falke và Toót đứng bên cạnh đền thờ Mercurius, và họ quan sát Via Appia, biết đâu trên đó xuất hiện một cái gì đó, thế đấy, Korin kể, gã cứ viết, viết vào máy những câu cuối cùng, nhưng trong đầu gã, ở bên trong, một điều gì đó khác hẳn diễn ra từng phút một, vì bên trong mọi thứ cứ vo vo, ong ong, lạch cạch và lộc cộc, trong khi gã cố diễn đạt xem gã đã đi đến đâu trong cái ánh sáng ấy, bởi sự việc đã bắt đầu ở đâu? gã tự hỏi, ở đó, gã trả lời, sau vụ ở phòng lưu trữ, khi gã đưa tập cảo bản về nhà, rồi gã đọc đi đọc lại, để tự hỏi đi hỏi lại bản thân mình, rằng nó hay, hay đấy nhưng để làm gì và để làm gì và để làm gì?! đó là câu hỏi đầu tiên, nhưng cũng là cuối cùng, và nó bao hàm tất cả những câu hỏi khác nữa, nếu thứ mà cảo bản sử dụng ở đây là ngôn ngữ, thì là thứ ngôn ngữ gì, vì có thể thấy nó không hướng tới ai hết, và vì sao người ta không chú trọng tới việc ít ra là đáp ứng tối thiểu những đòi hỏi đối với các tác phẩm văn học, và đây là cái gì nếu không phải là tác phẩm văn học, vì nó không phải là tác phẩm văn học, điều đó thì đã rõ, và vì sao tác giả của nó lại sử dụng một loạt giải pháp vụng về, mà không hề sợ mình sẽ bị coi là vụng về, có thể thấy sự hồi hộp trong ánh mắt Korin, trong khi ông ta miêu tả bốn nhân vật sắc nét đến không thể tin nổi, và ném họ vào một điểm của lịch sử: sao lại chính là chỗ ấy chứ không phải nơi khác, sao lại chính là bốn người ấy chứ không phải ai khác, cái màn sương mù mà từ đó nó liên tục đưa họ ra là gì vậy, và cái màn sương mù mà nó dẫn họ vào là gì vậy, sao mọi thứ cứ lặp đi lặp lại, và ở cuối Kasser biến đi đâu, và cái sự bí ẩn thường trực, vĩnh viễn ấy là gì, và sự nóng nảy, sốt ruột tăng dần từ chương này sang chương khác đó là gì, Mastemann là ai, và tại sao mỗi sự kiện liên quan đến lão đều kết thúc tương tự, cũng như của những người khác, và chủ yếu nhất là tại sao người viết nó đã điên hoàn toàn, dù đó là ai, có là thành viên của gia đình Wlassick hay không và tập cảo bản chỉ ngẫu nhiên lọt vào fasciculus của gia đình Wlassich, tóm lại, ngồi trên giường, Korin nói lớn, xét cho cùng thì tập cảo bản muốn gì, vì phải có một nguyên nhân nào đó, một lý do nào đó, gã lẩm bẩm, cứ lần nào nghĩ đến nó gã cũng thấy cần phải có, và đến cái ngày đó, kể từ đó, giờ gã không nhớ chính xác nữa, ba hay mấy ngày trước, khi gã bắt đầu đọc chương thứ sáu điên rồ ấy, những câu văn quỷ quái ấy, khi bỗng nhiên gã thấy lóe lên ánh sáng, và trong một khoảnh khắc tất cả trở nên sáng rõ, khó giải thích được điều này, rằng cho tới lúc ấy tại sao không, và tại sao lại chính là lúc đó, gã nghĩ rằng, đúng vào lúc đó, nghĩa là ba hay mấy ngày trước đây, vì gã đã suy nghĩ vừa đủ về nó trong mấy tháng qua, và những ý nghĩ của gã đã chín muồi để mọi việc sáng tỏ, và gã nhớ rất chắc chắn rằng khi việc này diễn ra trong gã - thứ ánh sáng và sự giác ngộ - thì gã cảm thấy một sự ấm nóng xâm chiếm trái tim gã, lúc này gã không thấy hổ thẹn khi diễn đạt như vậy, có thể lẽ ra gã phải bắt đầu như thế, vì rất có thể tất cả đã bắt đầu từ đây, cả sự giác ngộ cũng bắt đầu từ đây, từ sự nóng ấm tràn ngập trái tim, gã không muốn tỏ ra tình cảm sướt mướt, nhưng việc đó đã diễn ra như vậy, một người nào đó, một người trong gia đình Wlassich, hay ai đó, đã sáng tạo ra bốn người đàn ông kỳ diệu, trong sáng, thiên thần, bốn con người đáng yêu, hết sức tinh tế với những ý nghĩ tuyệt vời, và nếu một ai đó lướt qua suốt câu chuyện rơi vào tay chúng ta, người đó sẽ tìm thấy trong đó một điểm mà qua đó có thể dẫn dắt họ ra ngoài, Korin nói, và tay gã run lên, cặp mắt gã cháy bỏng, như thể gã bất chợt lên cơn sốt, con đường thoát ra, đó là thứ mà một người trong gia đình Wlassich, hay bất cứ tên người đó là gì, đi tìm kiếm cho họ, người ấy đã tìm, nhưng không thấy, một cái gì đó hoàn toàn ảo ảnh và viễn tưởng, thế là ông ta đưa họ vào cái hoàn toàn thực, vào lịch sử, vào sự vĩnh hằng của chiến tranh, và cố gắng đặt họ ở đó, tại một điểm này hay điểm khác, mà điểm đó hứa hẹn hòa bình, nhưng chẳng khi nào ông ta thành công, dù càng lúc ông càng gọi cái thực ấy với sức mạnh ghê gớm hơn, với sự trung thành quỷ quái hơn, với sự gợi cảm ma mị hơn và đưa vào đó những sản phẩm tưởng tượng của riêng ông ta, nhưng vô ích và càng lúc càng vô ích hơn, vì đối với họ con đường chỉ dẫn từ chiến tranh đến chiến tranh, từ chiến tranh tới hòa bình thì không, và cái ông Wlassich này, hay ai, càng lúc càng hoài nghi trong cái nghi thức vụng về một người này, và đến cuối ông ta phát điên hẳn, vì không có Đường Ra, Korin nói, và gã cúi đầu, và điều này đối với gã - kẻ đã yêu quý bốn người đàn ông kia - đau đớn vô cùng, bốn con người ấy, Bengazza, Falke, Toót và Kasser biến mất ở đoạn cuối, đã gần gũi với gã đến nỗi lúc này gã không tìm được ngôn từ để nói rằng gã cứ mang họ từ chỗ nọ sang chỗ kia trong phòng từ đó tới giờ, gã đem họ ra bếp, rồi lại mang trở về phòng, vì một điều gì đó thúc đẩy gã, và điều này thật kinh khủng, thưa tiểu thư, Korin nhìn người đàn bà bằng đôi mắt lúng túng, không có Đường Ra dành cho họ, chỉ có chiến tranh và chiến tranh ở khắp mọi nơi, thậm chí ở cả trong gã, và cuối cùng, và bây giờ khi việc đã xong, tất cả đã nằm trên home page, gã vẫn không thực biết điều gì chờ đợi gã, vì từ xuất phát ban đầu gã tưởng mọi kế hoạch của gã đều dựa vào việc là cuối cùng gã có thể yên tâm khởi hành trên cái gọi là chuyến đi cuối cùng, nhưng giờ đây gã phải xuất phát với sự bất lực đau đớn này trong tâm hồn, và gã cảm thấy thế này thật không ổn, phải tìm ra một cách nào đó, bằng mọi giá, nhưng gã không thể đem họ theo, gã phải đặt họ xuống đâu đó, nhưng không được, đầu óc gã ngu xuẩn, trống rỗng, rồ dại, nó cứ đau, cứ nặng nề và muốn rơi khỏi cổ, tất cả cứ đau và gã không nghĩ ra được điều gì.
26.
Người tình của người phiên dịch nhìn Korin và hỏi nhỏ, What’s there on your hand? nhưng quá bất ngờ vì thấy người đàn bà lên tiếng, câu hỏi gã nghe thấy lại quá nhanh, đến nỗi một lúc sau Korin không trả lời nổi, gã chỉ gật gật đầu nhìn lên trần nhà như người đang suy nghĩ điều gì, rồi đẩy tập cảo bản trong lòng sang bên cạnh, và kéo cuốn từ điển lại, vừa lẩm nhẩm vừa tìm một từ mà gã không hiểu, sau đó gã bỗng nhiên gập cuốn từ điển lại, thở phào nói, “what’s” và “there”! a, hiểu rồi, không “Whatser hay cái quái quỷ gì nhỉ”, à, gà gật gật đầu, “what’s there on... nghĩa là my hand...” và gã đưa cả hai tay ra trước mặt xoay đi xoay lại, nhưng không nhìn thấy gì lạ, cuối cùng có vẻ như gã đã nghĩ ra người kia muốn hỏi gì, gã thở dài và đưa tay phải chỉ vào một vết sẹo trên bàn tay trái, chuyện cũ, old thing, không đáng quan tâm, no interesting, một lần lâu lắm rồi gã quá chán chường, giờ gã gần như hổ thẹn vì chuyện đó, sự chán chường cay đắng thật trẻ con, và cuối cùng đã xảy ra, gã nói, gã đã bắn xuyên bàn tay bằng súng ngắn, perforate with a colt, gã lại nhìn vào từ điển, nhưng đúng là không hề gì, không sao cả, gã đã quen và không để ý tới nó, chỉ có điều gã sẽ mang nó suốt đời, đó là điều chắc chắn, điều này thì tiểu thư thấy rõ, cũng như suốt đòi gã phải mang cái đầu này - gã coi đây mới là vấn nạn lớn hơn - mang đầu trên cái cổ đau yếu này, gã chỉ lên cổ, nó bị quá tải, gã đưa bàn tay ra sau xoa bóp cổ, gã không chịu được nữa, gã xoay đầu hết sang trái lại sang phải, lại vẫn là vấn đề cũ tái diễn, sau một thời gian ngắn nhẹ nhõm cái trọng lượng nặng nề ấy lại hành hạ gã, đến nỗi gã cảm thấy, nhất là mấy ngày gần đây, thỉnh thoảng cái đầu gã muốn rơi xuống, gã ngừng xoa bóp và thôi xoay đầu, và lại ôm tập cảo bản đặt vào lòng, vừa xếp lại mấy tờ ở phía cuối vừa nói thêm là thực ra gã cũng không nói được nó kết thúc thế nào, vì ở đây mọi thứ đã dồn nén lại đến nỗi không thể hiểu nổi, ngay cả chuyện gì đã xảy ra cũng không thể xác định chính xác được, nghĩa là có thể đặt vào đâu trong thời gian, đúng là có một đoạn như kiểu độc thoại khổ sở về trận động đất năm 402, và vài câu điên khùng như một bước ngoặt buồn về thắng lợi kinh hoàng của những người Visigoth[125], về Geiserich[126], Theodorich[127], Orestes[128] và Odoacer[129], cuối cùng còn nói đôi chút cả về Romulus Augustulus[130], đúng hơn là chỉ nhắc đến tên ông ta chứ không có gì khác, Korin dang hai tay, chỉ là những sự ám chỉ và lóe sáng, có điều chắc chắn là Roma thực sự đã vĩnh viễn kết thúc ở đây, ở Porta Appia, kết thúc, Korin tuyên bố, nhưng gã không tiếp tục được nữa, vì bên ngoài nghe có tiếng động, tiếng bước chân, tiếng lạch xạch, tiếng đập mạnh ầm ĩ và hình như cả tiếng chửi rủa - rồi không còn nhiều thời gian để ngẫm xem đó là ai, là cái gì nữa, vì sau tiếng bước chân, tiếng lạch xạch, tiếng đạp mạnh ầm ĩ là một con người, y hét lên từ ngoài cầu thang, xin chào buổi tối, em thân yêu, và y thô bạo đá tung cánh cửa.
27.
Không cần phải hỏi gì hết, hãy vui mừng, người phiên dịch loạng choạng đứng trên bậu cửa, dù khá nhiều túi nhiều bọc y mang quanh người đã có thể đủ là lời giải thích, vì cả trên cổ và trên hai vai cũng lủng lẳng thứ gì đó, lý do chính thì không còn gì phải nghi ngờ: y đang say, cặp mắt ngầu đỏ, ánh mắt lờ đờ chậm chạp và lời nói vấp nhát gừng đã tiết lộ điều đó, cũng như đã tiết lộ rằng y đang phấn khởi, điều mà y thể hiện ngay cho hai người kia biết, vì khi nhìn khắp lượt căn phòng, thấy hai hình người đi ra phía y giữa đống thùng hộp chật ních, y bỗng phá lên cười, đến mấy phút sau không ngừng lại được, cơn cười tự kích thích khiến mỗi lúc y càng cười to hơn, cuối cũng y phải bất lực dựa lưng vào tường, và nước dãi bắt đầu nhểu ra miệng, nhưng đến lúc ấy y vẫn chưa ngừng cười được, thậm chí tới khi vì cái gì đó y đã mệt và bắt đầu trấn tĩnh bớt, y gọi Korin và người đàn bà, y hỏi các người kia còn đứng nhìn đó đến bao giờ, không nhìn thấy bao nhiêu gói, túi trên người y hay sao, thế là hai người kia chạy vội đến và gỡ túi khỏi người y, từ lúc đó tất cả đã vô ích, và y hoài công tiến về phía trước một bước nữa, y lại bắt đầu ho, và cứ ho tiếp, trong khi vừa nói như nghẹn hơi, start over again, và y chỉ tay vòng quanh, rồi y ngã lăn ra đất, người đàn bà đến bên, nâng y dậy, y tựa vào người thị, bằng cách nào đó đi vào phòng trong, ở đó y đổ vật xuống giường, nằm đè lên tập cảo bản của Korin, lên cuốn từ điển và quyển sổ ghi chép, cả quyển quảng cáo của người đàn bà, y hực lên một tiếng to và ngủ ngay lập tức, mồm há hốc và đã ngáy liền, nhưng mắt y không nhắm hẳn, vì vậy người đàn bà không dám rời khỏi chỗ y nằm, vì thị không biết chắc y có đùa hay không, dĩ nhiên là không thể biết, vì ngay khi đã ngủ y vẫn có thể thức dậy, mấy phút sau y mở to mắt và lại nói như quát lên: start over again, cũng có thể là y đùa, vì y nhìn người đàn bà với vẻ mặt rất châm biếm, cuối cùng y bảo thị hãy lại gần, y không cắn đâu, đừng sợ, hãy ngồi xuống giường, bên cạnh y và đừng có run như dẽ thế, vì nếu không y cho một bạt tai bây giờ, hãy hiểu rằng cuộc sống nghèo khó đã kết thúc, từ nay thị hãy thử xử sự như một người có của ăn của để, có đấy, người phiên dịch ngồi dậy trên giường, không biết thị có nhận ra cái nháy mắt của y không, nhưng chỉ trong tích tắc y đã thay đổi cuộc sống của họ, một hôm y đã đến chỗ Hutchinson và ký hợp đồng đặt start over again, theo đó trong một ngày duy nhất người ta sẽ đổi toàn bộ đồ đạc cũ, và thay bằng đồ đạc mới, và y đã cho đổi tất cả những đồ giẻ rách trong nhà này, và cho chất đầy đồ mới, và đúng là y cần đến điều này, cần đến một gã thiên tài như Hutchinson ở cửa hàng Hutchinson, người đã đưa ra ý tưởng cơ bản là vứt giẻ rách trong một ngày, tất tật, và thay đồ mới trong một ngày, tất tật, và sau đó đúng là có thể start! để làm được điều đó không cần thứ gì khác, chỉ cần nhận biết khoảnh khắc thích hợp, và thay đổi, và y đã nhận ra, đã thay đổi, tất tần tật, và rất đúng lúc, vì tất cả mọi thứ đã bắt đầu quá mục nát, y đã chán việc tính toán từng xu xem có mua nổi thứ gì dưới cửa hiệu của người Việt Nam không, thế là đủ rồi, y quyết định và y đã tự túm tóc nhấc mình lên khỏi vũng bùn, y đã thay đổi, đã nắm bắt được khoảnh khắc, có thể nói ngắn gọn nhất về sự việc này như vậy, y nói nhát gừng, còn bây giờ, y nhảy ra khỏi giường đi ra phía ngoài để tìm Korin, còn bây giờ, y cao giọng, chúng ta phải ăn mừng, hê, anh chàng người Hung bé nhỏ đâu rồi? y hét vào phòng Korin, nghe thấy thế Korin vội vàng ló ra và nói, chào buổi tối, ngài Sárváry, nhưng gã đã bị kéo ra, cái túi ấy đâu rồi, người phiên dịch sung sướng hét to, sau khi lục lọi một lúc chính y tìm được cái túi bên cạnh cửa ra vào, lôi ra hai chai đưa lên cao, rồi lại hét, start over again, sau đó người đàn bà phải đem đến ba chiếc cốc, cũng không đơn giản vì thị phải lục tìm các hộp đựng cốc trong đống hỗn độn, cuối cùng cốc đã được đưa tới, một chai được mở ra, người phiên dịch rót, một nửa vào các cốc, một nửa ra ngoài, và y nâng cốc của mình: chúc cho cuộc đời mới, y nói với Korin đang e ngại nhưng cố mỉm cười, và cái gì mất thì mặc kệ cho nó mất đi, y chạm cốc với cả người đàn bà vẫn còn hốt hoảng và khoát tay một vòng rộng, đánh rơi chiếc cốc, nhưng làm như không nhận thấy, y cứ nhìn lên cao, ra hiệu sắp tuyên bố điều gì long trọng, một lát im lặng để tạo hiệu ứng, sau đó y chỉ nói: tất cả... tất cả việc này... rồi y buông tay, ánh mắt sáng trong lên trong một tích tắc, y lắc đầu, lại lắc đầu thêm lần nữa, y đòi lấy chiếc cốc khác, rót đầy và dốc cạn, rồi y gọi người đàn bà lại gần, y quàng tay qua vai thị, hỏi thị có thích sâm banh không, nhưng không đợi câu trả lời, y rút từ trong túi ra một chiếc hộp nhỏ đặt vào tay người đàn bà, ấn từng ngón tay thị xuống sát chiếc hộp, rồi cúi sát vào mặt, nhìn sâu vào mắt thị, bằng giọng thầm thì y hỏi thị có thích một cuộc sống tốt đẹp hay không.
28.
Y đi bằng taxi, đã từ mấy ngày nay y đi bằng taxi, lúc này cũng vậy, trên đường về nhà, y say và mang rất nhiều đồ, cả ghế sau đầy đồ, trước khi vào xe y còn chất đầy cốp xe phía sau, y nói với tài xế taxi không biết y sẽ tha chúng lên tầng trên cùng như thế nào, làm sao mà y đem lên được, vì quá nhiều đối với một người, cậu có thấy không? y nhấc lên một túi, đây là món trứng cá muối, mà là loại Petrossian Beluga, rồi pho mát Stilton, hoa quả ngâm và gì đây nữa? y nhìn sâu vào trong túi, à, y nói, món bánh kem cá hồi, và cậu thấy cái này chứ? y nhấc từ sàn xe lên một túi khác, đây là sâm banh, M-Lafitte, loại đắt nhất, và dâu bio từ Florida, còn đây, y sục tay vào đống túi ném chồng lên nhau trên ghế bên cạnh, đây là Gamel Dansk[131], và chorizo[132] và cá trích và mấy chai vang Bourgogne, loại nổi tiếng thế giới đấy, nổi tiếng thế giới, và hy vọng, y nói với người lái taxi, cậu đã đoán ra: tối nay chúng tớ sẽ liên hoan to ở nhà, thậm chí đây sẽ là cuộc liên hoan lớn nhất đời tớ, và cậu có biết bọn tớ mừng cái gì không? y cúi sát tấm lưới chắn phía trước để người lái taxi nghe rõ hơn trong tiếng động cơ, cậu biết không, không phải kỷ niệm ngày sinh nhật, ngày đặt tên, ngày cưới, ngày làm lễ rửa tội, không, không và không, cậu sẽ không đoán ra đâu, vì ở New York này ít có người được liên hoan mừng như y, đó là sự can đảm, sự can đảm của chính y, đấy, y chỉ vào mình, y đã đi nước đi thích hợp vào thời điểm thích hợp, y không bĩnh ra quần, không chần chừ khi cần phải đưa ra quyết định có dám hay không, khi đó y đã quyết định mà không cần đắn đo, y đã dám, và cái chính là đúng thời điểm cần, không sớm, không muộn, chính xác, đúng khi cần, nghĩa là tối nay sẽ là lễ mừng sự can đảm, và màn dạo đầu quyết định của sự mở đầu một con đường nghệ thuật, và vì thế đêm nay bọn tớ sẽ say tới bến, y có thể hứa trước điều đó, bây giờ hai chúng ta có thể uống mừng việc này, rượu đây, loại này có lẽ phù hợp, nói rồi y rút từ trong túi ra và trượt qua lỗ của tấm lưới an toàn cho người lái taxi một chai Bourbon dẹt, người lái taxi đón chai rượu, liếm quanh miệng chai, rồi gật gật đầu vừa cười tủm vừa đưa trả cho y, OK, người phiên dịch nói, nếu cần nữa cứ bảo, họ có thể uống hết chai này, vì vẫn còn nhiều, rượu còn đầy đây mà, y chỉ không biết, y lại nhớ đến chuyện lúc nãy, làm thế nào đem lên được từng này đồ, y lắc đầu vui vẻ, không thể tưởng tượng nổi y sẽ lên nhà bằng cách nào, bỗng y nảy ra một sáng kiến bất chợt, cậu nghĩ sao nếu họ cùng giải quyết vấn đề, một hai đô cũng đáng cho cậu chứ, được, người lái taxi vui vẻ gật đầu, và sau đó đúng là cậu ta đã giúp lấy đồ ra khỏi xe, nhưng cậu chỉ xách tới chân cầu thang, chỉ đến đấy chứ tiếp tục lên cầu thang thì không, cậu ta cứ cười hềnh hệch và gật gật đầu, nhưng cậu ta nói cậu phải đi, và thế là cậu chỉ được một đô, người phiên dịch chửi như hát hay trong lúc phải quay đi quay lại mấy lần từ chân cầu thang lên gác trên cùng, bằng cách nào đó y đã cắp hết đồ lên, sau đó đạp cửa một phát mới khoái, hôm sau y kể với người đàn bà nằm trên giường, khi đó thị đứng sau cửa, y khoái chí đứng chôn chân xuống đất nhìn thị và anh chàng người Hung bé nhỏ, nhìn họ đứng giữa bao nhiêu thùng, hộp, túi và chẳng biết có chuyện gì xảy ra, y quên hết mọi bực dọc, muốn ôm lấy họ, và có lẽ y đã làm như vậy, đúng không? y hỏi, có lẽ đúng là y đã ôm họ, ôm người đàn bà thì chắc, y thử kiểm tra lại trí nhớ, y đã đưa ngay cho thị cái vòng cổ, đúng không? sau đó y tháo ra một chiếc bàn và hai chiếc ghế, và bắt Korin ngồi đối diện với y, chắc chắn y đã đặt trước mặt gã một hai chai sâm banh, rồi y chuyển sang nói tiếng Hung, và bắt đầu giải thích cho gã cần phải làm gì trong đời, rằng gã đừng tiếp tục như thế nữa, xuẩn ngốc và vô dụng, nhưng gã kia có vẻ chẳng chú ý tới những lời chỉ bảo, gã chỉ muốn biết cái khu Hung, mà người phiên dịch nói với gã ban nãy, là nguồn xúc xích cay ngon nhất ở New York ấy ở đâu, y dám thề là gã đã hành y về cái này từ lúc đầu, chỗ đó là ở phía trên Zabar’s Deli, khoảng đường phố 81 và 82, nhưng trên đại lộ nào, cứ thế một lúc lâu, nhưng vì sao thì y không biết, và đêm qua cũng không biết, y chỉ nhớ y muốn giải thích với gã, gã phải làm gì một khi phải lựa chọn, rằng gã hãy nghe theo bản năng của mình, hãy can đảm, can đảm và can đảm, y đã nói thế, lúc này y mỉm cười trên giường và dúi đầu vào gối, nhưng gã kia bắt đầu lải nhải cái gì đó, ngài Sárváry ơi thế này, ngài Sárváry ơi thế kia, đã hết thời gian rồi, gã đã làm xong việc, và nhiều điều ngốc nghếch nữa, như gã thường vẫn nói, và - bây giờ y mới nhớ ra - gã đã trả tiền thuê nhà, và cuối cùng y nhớ là gã đã đưa hết số tiền còn lại - nếu đúng thế thì số ấy đang ở trong túi quần y - để y, tức người phiên dịch, hãy đứng tên gã trả tiền thuê cho nhà cung cấp để gã có thể kết nối mạng vĩnh viễn, trả tất cả, Korin nói, và còn điều gì đó lờ mờ, hình như gần về cuối họ còn hôn nhau, người phiên dịch vùi đầu vào gối cười to, họ đã ký kết một liên minh thần thánh cho tình bạn, y nghĩ thế, nhưng không nhớ gì thêm nữa, đơn giản là y không nhớ gì hơn nữa, bây giờ thì đừng hành hạ y nữa, đầu y đau như búa bổ, não y là một xô hỉ mũi, hãy để cho y yên, y còn muốn ngủ chút nữa, gã ở đâu thì mặc xác gã, y không quan tâm, nhưng người đàn bà cứ đứng ở cửa, vừa khóc thị vừa nhắc đi nhắc lại, anh ta đi rồi, đi rồi, anh ta bỏ lại đây mọi thứ, nhưng người thì đi rồi, phòng anh ta trống không.
29.
Trong góc phòng, đối diện vỏi giường nằm, ti vi vẫn bật, đó là một chiếc SONY MODEL màn hình lớn có điều khiển từ xa, hai trăm năm mươi kênh, âm lượng tắt nhưng màn hình vẫn sáng, hình ảnh chạy từ đầu đến cuối, rồi lặp đi lặp lại, và khi đoạn quảng cáo kim cương chấm dứt, màn hình tối đi một lúc rồi sáng trở lại, và tất cả lại bắt đầu, màn lại tối rồi lại sáng, cứ nhấp nháy như thế, căn phòng cũng rung lên theo nhịp thứ ánh sáng ma quái ấy, người phiên dịch nằm ngửa, hai chân giạng rộng ngủ trên giường, bên cạnh là người đàn bà nằm nghiêng quay lưng về phía y, mặt quay ra cửa sổ, thị không cởi chiếc áo choàng vải bông xù màu xanh, vì người phiên dịch kéo hết chăn khỏi người thị, nằm không thì thị lạnh, vì vậy thị cứ để cả áo choàng trong đêm đầu tiên này, và thị cứ nằm đó nhưng không ngủ được vì bồn chồn, thị nằm nghiêng, hai chân co lên tận bụng, mắt mở thao láo gần như không chớp, tay phải luồn dưới gối đỡ lấy đầu, tay kia duỗi thẳng bên mình, bàn tay vẫn nắm chặt chiếc hộp nhỏ, vì thị chưa buông cái hộp, thị cứ nắm chặt nó và thấy hạnh phúc, và thị cứ nhìn, nhìn mãi trong ánh sáng xanh nhấp nháy run rẩy, thị nhìn về phía trước và gần như không chớp mắt.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Rumani: đồ đánh cắp, lấy trộm được.
[2] Tiếng Rumani: dùng để gọi dân Hung sống ở Rumani một cách khinh miệt; ý là: đồ vô lại, vô gia cư, đầu đường xó chợ...
[3] Tiếng Rumani: Ê con đĩ thối vô lại kia.
[4] Tiếng Rumani: Tránh ra thằng vô lại thối tha kia.
[5] Còn gọi là Corbridge Roman Town hay Coria, là pháo đài và thành phố cổ thời La Mã ở Scotland, cách Hadrian’s Wall 4 km về phía Nam, là kho cung cấp lương thực cho quân La Mã trong chiến dịch đánh Scotland.
[6] Vùng lãnh thổ hải ngoại thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nằm gần cực Nam bán đảo Iberia, bên trên eo biển Gibraltar, giáp Tây Ban Nha.
[7] Dòng sông chảy qua Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.
[8] Tiếng Latin: một cấp chỉ huy trong quân đội thời cổ La Mã.
[9] Tiếng Latin: tên gọi người sĩ quan thời cổ La Mã chỉ huy một trăm lính (bách nhân trưởng).
[10] Hay Rudchester Roman fort, pháo đài thời La Mã để bảo vệ thung lũng March Burn thuộc nước Anh.
[11] Hay Calp, thành phố ven biển Địa Trung Hải, thuộc tỉnh Alicante, phía Đông Nam Tây Ban Nha.
[12] Các loại tàu thuyền.
[13] Thành phố cảng ven biển ở miền Bắc Ý, thủ phủ của tỉnh Genova và miền Liguria.
[14] Tiếng Tây Ban Nha: trời lặng gió, đứng gió.
[15] Tiếng Ý: thuyền buôn.
[16] Tiếng Latin: giấy ủy nhiệm, sự ủy nhiệm.
[17] Chính khách La Mã khoảng đầu thế kỷ 2, thống đốc của xứ Thrace, Hạ German và La Mã Anh.
[18] Tiếng Latin: thống đốc toàn quyền được bổ nhiệm tới các vùng xa thuộc La Mã cổ đại.
[19] Hay Anh thuộc La Mã, là tên gọi các tỉnh do La Mã chiếm đóng ở trung tâm và phía Nam các đảo Anh quốc từ năm 43-410.
[20] Tiếng Latin: tên gọi khu định cư thành lập từ năm 43 trên vị trí London hiện nay.
[21] Còn được nhắc tới như đường biên giới La Mã, được xây dựng vào thế kỷ 2 với chiều dài lên đến 5.000 km từ bờ biển Đại Tây Dương ở miền Bắc Vương quốc Anh qua châu Âu, tới tận Biển Đen. Bức tường này phản ánh sự hưng thịnh cho đến khi suy tàn của La Mã trong hơn 1.000 năm. Phần còn lại của công trình vĩ đại này là những gì còn sót lại của các bức tường, mương nước, pháo đài, tháp canh, các khu dân cư...
[22] Tên gọi tiếng Latin do người La Mã đặt cho vùng đất Scotland và các tỉnh phía Bắc thuộc Anh, trải dài từ Firth of Forth tới Firth of Clyde.
[23] Tiếng Tây Ban Nha: Hội đồng.
[24] Heracles (Hercules) là anh hùng trong thần thoại Hy Lạp gắn với nhiều chiến công vang dội, tượng trưng cho sức mạnh chinh phục thiên nhiên của con người.
[25] Hay Hunnum: tên một pháo đài La Mã nằm ở phía Bắc làng Halton, Northumberland, Đông Bắc nước Anh.
[26] Hay Hunnum: tên một pháo đài La Mã nằm ở phía Bắc làng Halton, Northumberland, Đông Bắc nước Anh.
[27] Tiếng Latin: đội kỵ binh trong quân đội La Mã.
[28] Tiếng Latin: thuật ngữ chỉ một phần thành trì của một trại đóng quân thời La Mã, thường gồm lũy đất, hàng rào, rãnh hố sâu...
[29] Tiếng Latin: hòa bình.
[30] Christopher Colombo (khoảng 1451-1506): nhà hàng hải người Ý, đô đốc của Hoàng đế Castilla, người đã khám phá ra châu Mỹ.
[31] Một tỉnh cũ của Pháp, nằm trên bờ Địa Trung Hải và sông Rhone.
[32] Đảo lớn thứ hai ở Địa Trung Hải, thuộc Ý.
[33] Một vùng và một vương quốc ở miền Trung và Bắc Tây Ban Nha, tự trị từ thế kỷ 10.
[34] Một địa phận ở Tây Bắc nước Pháp, trên bờ biển Manche.
[35] Chỉ người nói thứ ngôn ngữ này, một thứ ngôn ngữ Celtic nói ở Britany.
[36] Hay Picardy: một vùng thuộc miền Bắc nước Pháp.
[37] Xứ Gascony nằm ở khu vực Tây Nam nước Pháp.
[38] Một cộng đồng tự trị thuộc Tây Ban Nha.
[39] Một vương quốc lịch sử, nay là một tỉnh của Tây Ban Nha.
[40] Thành phố trong khu vực Hejaz của miền Tây Ả Rập Saudi, và là thủ phủ của tỉnh Al Madinah.
[41] Danh hiệu của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.
[42] Khu vực địa lý nằm ở phía Bắc đảo Corse thuộc Pháp.
[43] Cộng đồng người Do Thái sống trên bán đảo Iberia, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
[44] Thành phố thuộc Tây Ban Nha ở Tây Bắc châu Phi, nằm trên lãnh thổ Ma Rốc.
[45] Dịch vụ do nhà nước quản lý, do Hoàng đế Augustus lập ra, để chuyển thư từ, tin tức và thuế thời La Mã.
[46] Liên minh các tộc người sống ở miền Trung và Bắc Scotland, từ thế kỷ 3-10. Trong thời kỳ Đại La Mã, người Pict hay tiến hành các cuộc đột kích.
[47] Trong nghi lễ tôn giáo Mithras (thần ánh sáng hay Thần Mặt Trời), Corax là một nhân vật ở đẳng cấp cao.
[48] Tiếng Latin: mặt trời không thể chiến thắng nổi.
[49] Tiểu vương cổ ở phía Tây Tiểu Á, nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ.
[50] Tiếng Latin: cha.
[51] Castrum (tiếng Latin): khu trại đóng quân hình vuông có tường bao quanh thời La Mã.
[52] Đạo Mithras của người Ba Tư cồ, được truyền bá đến thời kỳ của Đế chế La Mã cổ từ thế kỷ 1-4 sau Công nguyên.
[53] Tiếng Latin: Thần Mặt trời.
[54] Đền thờ thần Mithras.
[55] Nữ thần biểu tượng cho sức mạnh của thiên nhiên, sống lâu, trẻ mãi trong thần thoại Hy Lạp.
[56] Các hang động, nơi tổ chức các nghi lễ thờ thần Mithras.
[57] Tiếng Latin, thường được viết tắt là VSLM: thường được viết trên các ban thờ, nghĩa là “Lời thề đã được thực hiện, vì thần xứng đáng như thế”, ý nói người lập ban thờ đã xin đưực phù hộ, và khi sự phù hộ đến, người đó đã lập ban thờ để làm nơi thờ thần thánh.
[58] Đồng tiền kim loại cổ dùng trên bán đảo Iberia từ thế kỷ 11.
[59] Vùng hành chính của Tây Ban Nha, thủ phủ vùng này là Sevilla.
[60] Thành phố của Tuscany miền Trung Ý, thành phố tỉnh lỵ của Tỉnh Pisa.
[61] Tiếng Anh: người phụ nữ thích đồng dục nữ, với người cùng giới.
[62] Một loại thuyền buồm lớn đóng bằng gỗ thời Trung cổ.
[63] Tiếng Latin: người chỉ huy, người đứng đầu các đội quân thời La Mã.
[64] Tên người La Mã gọi vùng đất họ chiếm đóng ở Great Britain (United Kingdom).
[65] Tiếng Latin: đội quân phụ trách hậu cần trong quân đội La Mã
[66] Tiếng Ý: thống đốc, người đứng đầu thành phố.
[67] Tiếng Ý: châu Âu mới.
[68] Tiếng Latin: người chuyên viết thư, viết sách và sao lục văn bản thời La Mã.
[69] Pháo đài bảo vệ bức tường Hadrian ở Carrawburgh, Northumberland.
[70] Tiếng Latin: tên một pháo đài bảo vệ bức tường Hadrian, ở gần làng Walwick, Northumberland, nước Anh.
[71] Tiếng Latin: áo giáp, giáp trụ.
[72] Tiếng Latin: kiếm ngắn hai lưỡi.
[73] Tiếng Ý: hợp đồng ngắn hạn, lãi suất cao vào thời vua Fülöp II.
[74] Tiếng Ý: một loại thẻ thanh toán sử dụng bởi người Katalan.
[75] Tiếng Ý: chứng khoán quốc tế.
[76] Tiếng Ý: việc mặc cả, ngã giá về đổi ngoại tệ.
[77] Tiếng Ý: các chủ ngân hàng có quyền định tỷ giá trao đổi ngoại tệ.
[78] Tiếng Ý: người đổi tiền.
[79] Tiếng Tây Ban Nha: người đưa tin.
[80] Các đơn vị tiền tệ thường sử dụng thời bấy giờ.
[81] Tiếng Ý: sổ ghi chép.
[82] Tiếng Latin: xe song mã có chỗ nằm ngủ.
[83] Tiếng Latin: tàu chiến.
[84] Bức tường bao quanh Roma được xây dựng từ năm 271-275.
[85] Cổng còn nguyên vẹn nhất trên bức tường Aurelianus, còn có tên gọi là Porta San Sebastiano.
[86] Con đường chiến lược quan trọng nhất của Đế chế La Mã dài 360 dặm La Mã, được xây dựng từ năm 312 trước Công nguyên, nối Roma và Brundisium (Brindisi).
[87] Tiếng Latin: Quảng trường La Mã hay La Mã vuông, là khu vực trung tâm của Roma cổ đại, hình thành từ thế kỷ 8 trước Công nguyên.
[88] Tiếng Latin: nô lệ đã được giải phóng, được trả lại tự do.
[89] Tiếng Latin: kẻ đứng sau, kẻ xúi bẩy người nào đó gây tội ác.
[90] Tiếng Latin: hành khách, lữ khách.
[91] Tiếng Latin: thầy dạy, thầy giáo.
[92] Tiếng Latin: nhà ngôn ngữ.
[93] Tiếng Latin: (i) người dạy từ chương học; (ii) nhà hùng biện.
[94] Tiếng Latin: nô lệ thời La Mã, lo việc chuẩn bị sách vở, túi đồ và quần áo.
[95] Tiếng Latin: kẻ chỉ điểm.
[96] Tiếng Latin: người lo việc người chết.
[97] Tiếng Latin: người chở xác chết.
[98] Tiếng Latin: người tổ chức tang lễ.
[99] Forum: (i) quảng trường, quảng trường chợ trong các thành phố của Đế chế La Mã; (ii) diễn đàn, cuộc tranh luận công khai.
[100] Palatinus: (i) một trong bảy quả đồi của Roma; (ii) tể tướng.
[101] Một trong những quả đồi ở La Mã cổ đại, khu tập trung nhiều tường thành giáo đường.
[102] Khu quảng trường công cộng thời La Mã, rộng 2 km2, vào thời Trung cổ đây là khu được ưa chuộng nhất ở Roma.
[103] Hay Saepta Julia, tòa nhà ở La Mã cổ đại, nơi dân chúng tập trung để bỏ phiếu.
[104] Tiếng Latin: trung tâm buôn bán lớn.
[105] Tên mới: Tiber, một con sông ở trung tâm Ý, chảy từ rặng núi Tuscan Apennies theo hướng Nam qua Roma.
[106] Khu vườn của Julius Caesar ở Roma, nằm trên bờ phải sông Tiberis.
[107] Khán đài và đấu trường vòng cung ở La Mã, xây dựng khoảng năm 75-80.
[108] Điện thờ các vị thần, điện thờ bách thần ở La Mã, xây dựng năm 118-126.
[109] Tiếng Latin: nồi sứ, đồ sứ.
[110] Tiếng Latin: người giám sát việc xây dựng đường.
[111] Tiếng Latin: nền đường, nền lát đường bằng đá thời La Mã.
[112] Tiếng Latin: đá vụn để rải nền đường thời La Mã.
[113] Tiếng Latin: lớp sỏi, lớp đá cuội rải mặt đường thời La Mã.
[114] Tiếng Latin: lớp rải mặt đường.
[115] Tiếng Latin: cột cây số.
[116] Tiếng Latin: đội chuyên môn bảo dưỡng đường thời La Mã, do Augustus tổ chức.
[117] Tiếng Latin: xe hai bánh.
[118] Tiếng Latin: một loại xe bốn bánh.
[119] Tiếng Latin: một loại xe bốn bánh.
[120] Tiếng Latin: xe song mã hai bánh, không mui.
[121] Cũng như birotus, tiếng Latin: một loại xe hai bánh.
[122] Tiếng Latin: xe bốn bánh không mui.
[123] Tiếng Latin: xe bốn bánh chở hàng.
[124] Tiếng Latin: xe hai bánh loại nhỏ.
[125] Một bộ phận của chủng tộc Goth từ vùng Balkans tràn sang Roma (khoảng năm 410), sau lập ra một vương quốc nằm trên lãnh thổ Tây Ban Nha và phía Nam nước Pháp ngày nay, tồn tại đến năm 1711.
[126] Geiserich (3897-477): vua của người Vandal và người Alan, những người đã chiếm phần Bắc Phi của đế chế La Mã lập vương quốc riêng vào thế kỷ 5.
[127] Có nhiều đời Theodorich, ở đây có lẽ tác giả nói đến Theodorich I, vua German của người Visigoth, trị vì từ năm 418-451, nổi tiếng qua trận đánh bại Attila (thủ lĩnh của người Hun) trong trận ở đồng bằng Catalaunian năm 451, và chính ông đã chết trong trận này.
[128] Orestes (thần thoại Hy Lạp): con trai Agamemnon và Clytemnestra, người đã giết chết mẹ và người tình của bà là Aegisthus để trả thù việc họ đã ám sát cha mình.
[129] Odoacer (433-493): vua Ý ở thế kỷ 5, thời kỳ trị vì của ông đánh dấu sự kết thúc của Đế chế La Mã cổ đại ở Tây Âu, bắt đầu thời Trung cổ.
[130] Romulus Augustulus (khoảng năm 461/463 - sau 476 trước 488): Hoàng đế cuối cùng của Đế chế Tây La Mã, bị phế truất bởi Odoacer năm 476.
[131] Một loại rượu có vị đắng sản xuất tại Đan Mạch.
[132] Xúc xích thịt lợn, có tỏi và rất cay.