Gần ba giờ đêm, từ xa đã có thể xác định được là y đã say mèm, vì từ lúc mới bước vào cửa y đã gào tên Maria, y liên tục lao vào tường, ngã dúi dụi rồi lại đứng dậy, chửi rủa, càng đến gần tiếng chửi rủa càng rõ hơn và dễ hiểu hơn, còn thị thì trong chừng mực có thể, thị cố co người lại trong chăn, trùm kín cả chân tay, cả đầu, và thị run, và thị nín thở, và thị dịch sát vào tường, để trên giường thêm nhiều chỗ trống, để phần chỗ thị nằm càng bé càng hay - nhưng thực chất y say đến mức nào thì từ trong phòng không thể biết chắc được, chỉ đến khi, sau một hồi vật lộn khá lâu, y lần tìm thấy và ấn tay nắm, đẩy cửa vào phòng, lúc đó mới thấy rõ ràng y đã lảo đảo ở giới hạn của sự mất trí, và vừa đẩy cánh cửa vào y đã đổ ập xuống bậu cửa, và tất cả trở nên im ắng, người phiên dịch không động đậy, thị nằm im thin thít trong chăn, căng hết các cơ để nín thở đến cực độ, hiềm một nỗi, vì sợ quá, tim thị đập mạnh đến mức không thể nín thở được lâu, và chính vì cố sức để không gây ra tiếng động, mà thị hực lên một tiếng trong chăn, rồi thị cứ nằm cứng đơ mấy phút liền, nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra, vẫn không nghe thấy tiếng động nào khác ngoài tiếng radio từ căn hộ của người hàng xóm bên dưới vọng lên, chỉ có tiếng bass bài The Cold Love của Three Jesus, chứ tiếng hát sướt mướt lê thê của ca sĩ thì không, cả tiếng rít của bộ phối âm cũng không, chỉ có tiếng bass dai dẳng, và khi đó Maria nghĩ có lẽ đến sáng y cũng không dậy nổi, thị rón rén kéo chăn khỏi đầu nhìn y, xem liệu có cần giúp y hay không, thế là bỗng nhiên, nhanh tới mức không thể ngờ nổi, người phiên dịch đứng bật dậy khỏi bậu cửa, như thể những gì diễn ra trước đó chỉ là chuyện đùa, y bật dậy, tuy còn hơi lảo đảo, nhưng đang đứng trong khung cửa, một nụ cười đe dọa trên khóe miệng, y nhìn người đàn bà trên giường, rồi cũng bất ngờ như vừa nãy, nét mặt y chuyển sang nghiêm, cái nhìn của y rắn lạnh, hai mắt sắc như hai lưỡi dao lam, thấy thế thị hốt hoảng đến nỗi không dám kéo tấm chăn lên trùm mặt, thị cứ thế nằm run, thị lùi dần sát tường, toàn thân run như cầy sấy, Maria, người phiên dịch lại gào lên, và bằng cách nào đó y kéo dài chữ “i” nghe rất lạ, như thể y căm ghét và nhạo báng thị, rồi gã bước lại bên giường, bằng một động tác duy nhất y kéo tấm chăn ném xuống đất, sau đó y xé toạc chiếc áo ngủ của thị, và thị không kêu lên nổi một tiếng, chỉ có tiếng rách xoẹt của chiếc áo ngủ lướt khắp người thị, thị trần truồng co rúm người, đến kêu lên một tiếng cũng không dám, chỉ ngoan ngoãn vâng lời, khi theo lệnh y, bằng giọng khàn khàn gần như thầm thì, thị xoay người quỳ sấp trên giường, cao đít lên, đồ đĩ dơ bẩn, người phiên dịch gầm gừ, vừa kéo dương vật ra, và vì lần này y nói bằng tiếng Hung, nên thị phải đoán xem y nói gì, muốn gì và thị đã đoán ra, thị vừa ngỏng cao đít lên, gã phiên dịch đã đâm vào thị với sức mạnh khủng khiếp, và thị chỉ còn biết nhắm tịt mắt vì đau đớn, nhưng thị vẫn không kêu la, dù giữa chừng y siết chặt cổ thị, đến nỗi lẽ ra thị phải hét lên, nhưng chỉ có nước mắt thị bắt đầu tuôn, và thị đã chịu trận, và đến lúc y đã thôi siết cổ thị, vì y phải đưa tay nắm lấy vai thị, bởi nếu không, y cũng thấy rằng, do những cú thúc quá mạnh cả người thị sẽ lao về phía trước, y nắm vai thị và mỗi lúc lại kéo thị về phía y dữ dội hơn, nhưng y không thể nào thỏa mãn nổi, và đến khi đã quá mệt, y đẩy thị sang một bên rồi nằm ngửa ra giường, dang rộng hai chân, rồi y chỉ vào dương vật đang xỉu dần, y ra hiệu cho thị lại gần, bắt thị phải cho cái của nợ kia vào miệng, nhưng y vẫn không thỏa mãn nổi, y tát thị một cái, bảo thị là đồ đĩ Puerto Rico bẩn thỉu, cú đánh khiến thị lăn xuống đất và nằm lại đó vì không còn đủ sức leo lên giường để tiếp tục làm gì đó, rồi sau đó y cũng lại bất tỉnh, y nằm thẳng đuột trên giường, há mồm và bắt đầu ngáy, thế nghĩa là cuối cùng đã hé mở một cơ hội để thị có thể bò đi chỗ khác, và thị đã bò ra ngoài, càng xa càng tốt, rồi thị khoác lên mình một tấm chăn dạ mỏng, cố không nhìn về phía giường, không cả liếc qua xem người kia đang nằm trong trạng thái gần như bất tỉnh hẳn, để khỏi phải nhìn thấy cái miệng há hốc đầy những răng và lưỡi của y, để không phải thấy cái mồm đó còn thở, bên mép từ từ nhểu xuống một dòng nước dãi.
2.
Y là nghệ sĩ video và là nhà thơ, người phiên dịch nói với Korin vào trưa hôm sau ở bàn ăn trong bếp, và y muốn Korin hãy ghi nhớ mãi điều này một lần và mãi mãi, rằng điều khiến y quan tâm duy nhất chỉ là nghệ thuật, số phận đã định đoạt thế, y đã chuẩn bị làm việc đó trong cả cuộc đời y, y sinh ra để làm việc đó, và vì vậy mà y làm hay nói cách khác là không bao lâu nữa y sẽ lại làm việc đó, sau vài năm bắt buộc phải nghỉ; một tác phẩm video vĩ đại, y nói, có tính toàn cầu và cơ bản, về thời gian và không gian, về sự tĩnh lặng và tiếng nói, và trên hết tất nhiên là về cảm giác, về các bản năng và những cảm xúc tột cùng, về nền tảng muôn thuở của con người, về quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, về tự nhiên và vũ trụ, y dự định làm một tác phẩm không thể bỏ qua và không thể tranh cãi, và y hy vọng Korin hiểu y nghĩ về sự không thể bỏ qua và không thể tranh cãi như thế nào, vì người ta sẽ nói về nó, khiến một kẻ vô danh nhỏ bé như Korin cũng sẽ tự hào rằng gã đã từng quen y, rồi gã sẽ kể lại rằng, đúng, tôi đã ngồi trong bếp nhà ông ấy, đã ở nhà ông ấy mấy tuần, ông ấy đã cho tôi nương nhờ, đã thương, đã giúp đỡ, đã hỗ trợ tôi, đã cho tôi một mái nhà, y hy vọng, rất hy vọng, rằng rồi Korin sẽ nói như vậy, vì ngay từ bây giờ y đảm bảo thành công là chắc chắn, bởi không thể khác, lúc này sự việc đã bắt đầu, tất cả sẽ chuyển động, và rồi tất cả sẽ được giải quyết, y sẽ có camera, sẽ có phòng dựng phim và các thứ khác, hơn nữa y nhấn từ tiếp theo bằng giọng đặc biệt, y sẽ có camera riêng, phòng dựng phim riêng và các thứ khác, rồi y lại rót đầy bia vào hai cốc, và chạm cốc rất mạnh với Korin, sau đó y nốc cạn, không nuốt mà đơn giản là dốc xuống cổ họng, mắt y vằn đỏ, mặt bự ra và tay y run mạnh, đến nỗi khi muốn châm thuốc hút, loay hoay mãi y mới đưa được ngọn lửa trúng đầu điếu thuốc - và nếu gã muốn biết một điều gì đó, y chồm qua bàn, thì đây xin mời, nét mặt y đanh lại, y đứng dậy lảo đảo đi vào phòng, sau đó y quay lại với một cái gói và đặt xuống trước mặt Korin, xin mời, y ghé sát mặt gã, qua đây gã có thể biết nội dung, xin mời, y khích lệ Korin và chỉ vào tập tài liệu chằng dây chun, có thể mở ra và có thể xem, và Korin chậm rãi, cẩn thận như nâng trứng Phục sinh, như thể chỉ cần một cử chỉ vội vã có thể làm hư hại một thứ gì trong đó, gã tháo sợi chun, mở ra và bắt đầu từ tốn đọc trang đầu, xin mời, người phiên dịch nóng nảy đập tay lên tập giấy, hãy đọc đi, cứ bình tĩnh đọc đi, rồi gã sẽ biết gã đang ngồi với ai, và biết Sárváry József là ai, thời gian, y nói, và không gian, và y ngồi xuống, hai khuỷu tay chống lên mặt bàn, gục đầu xuống, một tay vẫn cầm thuốc lá, một làn khói vòng vèo uốn lượn bay lên, vâng, Korin rụt rè lên tiếng, gã rất hiểu điều này và rất thích, bởi thực chất công việc hằng ngày của gã gắn liền với nghệ thuật, ngài Sárváry cũng biết đấy, tập cảo bản mà gã nghiên cứu là thứ nghệ thuật đẳng cấp cao nhất, và như vậy nghĩa là gã thấu hiểu những vấn đề sáng tạo, tất nhiên chỉ từ rất xa, cá nhân gã không liên quan tới nó, gã chỉ hâm mộ, và hy sinh bản thân vì nó, như gã đang hiến dâng cả cuộc đời cho nó, cuộc đời không còn đáng giá gì của gã, một đồng xu rách bẩn thỉu cũng không, người phiên dịch hầm hừ và quay đầu sang phía khác, nhưng đối với gã, Korin hăng hái, thì nghệ thuật có nghĩa là tất cả, chẳng hạn như cách thức mà chương ba bắt đầu, đúng là khiến người ta nghẹt thở, vì ngài Sárváry thử tưởng tượng xem, gã đang đánh máy tới chỗ đó, xin lỗi ngài, nhưng bây giờ gã chỉ gọi là đánh máy, tới chương ba, và ngài hãy tưởng tượng đó là chỗ nói về Bossano, cái cách thức mà cảo bản miêu tả về Bossano, và cảnh bốn người tiếp tục đi về phía Venice, thật hay tuyệt vời, sự chờ đợi một chuyến xe sẽ nhận đưa họ đi, và giữa chừng là những chuyến dạo chơi chậm rãi ở Bossano, những cuộc đàm đạo không dứt xem theo họ cái gì là tráng lệ nhất trong lịch sử sáng tạo của con người, hay là cảm xúc kỳ lạ và cùng với nó là sự phát hiện ra một thế giới kỳ lạ, hay là luồng suy nghĩ của Kasser về tình yêu, và những câu trả lời của Falke, tức là những thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở, bởi bằng cách nào đó họ đã đàm đạo như thế, Kasser dựng lên một thượng tầng, Falke đã đưa ra hạ tầng và dẫn dắt tiếp, thỉnh thoảng Toót cũng xen vào, và cả Bengazza nữa, và, thưa ngài Sárváry! điều tuyệt diệu nhất trong tất cả là trong một thời gian khá dài một yếu tố rất quan yếu không được nhắc tới, nhưng sau khi biết nó có một ý nghĩa quan trọng bí ẩn, chả là trong số họ có một người bị thương, mà tập cảo bản tảng lờ không nói tới điều này cho tới khi khởi hành, thậm chí ngay cả khi đó nó cũng chỉ thông báo sự kiện, và cũng chỉ một lần, trên sân dinh thự Bassano, khi Mastemann đang thay ngựa vào một buổi sớm mai, lão chủ nhà trọ vừa kính cẩn cúi đầu vừa thưa rằng, có bốn khách hành hương đã ở nhà trọ của lào một tuần nay, họ trên đường đến Venice, và trong số họ có một người bị thương, và lão không biết cáo bẩm việc này đến đâu, cho ai, vì lão thấy, lão thì thầm, cả bọn này có vẻ đáng ngờ, không thể biết bọn họ từ đâu tới, và họ muốn gì, chỉ biết cái đích mà họ muốn đến là Venice, nhưng cách cư xử của họ rất lạ, lão chủ nhà trọ tiếp tục thầm thì, suốt ngày họ chỉ ngồi lì hay đi dạo loanh quanh, và chắc chắn họ không phải là những người hành hương, bởi vì một đằng thì lúc nào họ cũng nói về đàn bà, đằng khác thì các câu chuyện của họ vô thần và khó hiểu đến nỗi người ngoài chẳng thể hiểu một từ nào hết, ngoài sự khó chịu, và cuối cùng, theo lão, trang phục của họ cũng giống như đồ giả, tóm lại là lão không thích bản lai diện mục của họ, lão chủ nhà trọ nói thế, rồi Mastemann ra hiệu cho lão lùi ra xa xe kiệu, để rồi khoảng một tiếng sau lão hoàn toàn chẳng hiểu ra sao, khi khởi hành con người có vẻ quý phái đến từ Trento này lại bảo để giải buồn ông ta quyết định cho bốn người kia đi cùng nếu như họ muốn, phải đóng ngựa mới, thay các dây chằng bằng da bị đứt, chỉnh sửa và buộc lại hàng trên nóc xe, và lão chủ quán tất bật làm theo lệnh, và lão báo tin lành với bốn người kia, nhưng lão không hiểu gì hết, hoàn toàn không hiểu, dẫu sao lão cũng thấy nhẹ cả người, vì cuối cùng họ đã đi, thế là khi chiếc xe lăn ra cổng và đi về phía Padova[1], lão không cố vắt óc để hiểu nữa, lão chỉ làm dấu thánh, chỉ nhìn theo chiếc xe kiệu mất hút dần trên đường, lão cứ đứng mãi trước tòa dinh thự, tới khi bụi đường lắng hẳn.
3.
Pietro Alvise Mastemann, người đàn ông vẫn ngồi trên xe hơi cúi đầu tự giới thiệu, sau đó lão ngả người ra sau, nét mặt vô cảm, mời bọn họ ngồi theo cách thức để họ hiểu ngay rằng phía sau lời mời không thể nghi ngờ về sự hào hiệp của lão không phải là thiện ý, sự sẵn sàng giúp đỡ hay ý muốn có bạn đường, mà trong trường hợp khả dĩ nhất lời giải thích cũng chỉ là ý nghĩ thất thường bất chợt của một tính khí ngạo mạn; vì thế mà sự ổn định chỗ ngồi gặp khó khăn, họ không biết ngồi vào đâu, vì Mastemann chiếm gần trọn một ghế ngồi, bốn người kia không cách nào ngồi đủ vào ghế còn lại, họ đã thử, nhưng không ổn, dồn dịch mãi cũng chỉ được ba người, người thứ tư không sao còn chỗ, thế là người thứ tư, cụ thể là Falke, sau một lúc lúng túng, sau một hồi xin lỗi lòng vòng, đánh liều ngồi xuống ghế của Mastemann, theo cách có thể, nghĩa là đẩy dịch vào phía trong mấy cái chăn, mấy cuốn sách, rổ đựng thức ăn và các cuốn sách chỉ dẫn đường, rồi ép mình vào thành bên, trong khi lão, Mastemann cẩu thả bắt tréo hai chân, thoải mái ngả mình ra sau, và nhìn qua cửa sổ xem xét một thứ gì đó, qua đó họ có thể suy diễn ra duy nhất một điều, đó là sự sốt ruột của lão, muốn mọi người ổn định chỗ ngồi nhanh để lão có thể phát lệnh xuất phát, tóm lại tình huống trong mấy phút đầu tiên là thế, và sau đó cũng chẳng thay đổi, Mastemann ra hiệu cho người xà ích, chiếc xe kiệu chuyển bánh, nhưng trong xe sự im lặng vẫn bao trùm, tuy cả bốn người bọn họ đều cảm thấy nếu có một khi nào đó, thì đây là lúc họ phải tự giới thiệu, chỉ có điều họ phải bắt đầu như thế nào? có thể thấy Mastemann không có hứng trò chuyện, còn bọn họ thì mỗi lúc một thêm khó xử, vì chưa qua được thủ tục lẽ ra phải có mới ổn này, họ hắng giọng định nói họ là ai, từ đâu đến và họ sẽ đi đến đâu, lẽ ra phải làm thế, nhưng bằng cách nào? họ nhìn nhau, sau một lúc lâu im lặng, khi đã dám cất tiếng nói, họ cũng chỉ nói với nhau, thật khẽ khàng để khỏi làm phiền Mastemann, họ bảo ở Bassano rất thích, vì nhìn đỉnh núi Grappa đẹp như tranh vẽ thật thú vị, và cái nhà thờ dòng Francis với tháp cổ ở phía dưới, đi dạo trên các phố nhỏ, nghe tiếng róc rách của sông Brenta, và nhận ra những người sống ở đây thật dễ mến, thân thiện và cởi mở, đặc biệt là ông chủ quán trọ, tóm lại là ơn trời đã cho họ tới Bassano, họ nói, và họ đặc biệt biết ơn việc họ được đi tiếp, và dĩ nhiên việc sau không phải là nhờ ơn trời, họ liếc nhìn, mà chỉ nhờ ơn duy nhất Mastemann, họ lại liếc lão một lần nữa, nhưng vô ích, vì ân nhân của họ vẫn đăm đăm nhìn bụi đường Padova, và chỉ đến lúc đó, đến điểm này của cuộc trò chuyện thận trọng của họ, họ mới vỡ lẽ ra rằng, Mastemann không chỉ không nói, mà còn không muốn họ trò chuyện với nhau, thậm chí lão chẳng muốn ở họ điều gì hết, và họ đã hiểu lầm lão khi nghĩ như vậy, đơn giản lão chỉ cần sự hiện diện của họ, họ ở đó, thế là đủ, bằng sự im lặng lão cho họ biết vậy, lão không cần gì khác, chỉ cần họ có mặt, tất nhiên sau đó họ dễ khẳng định rằng, đối với Mastemann họ nói chuyện gì cũng mặc, giả dụ như họ trò chuyện với nhau, và như thế thực chất điều đó khiến chuyến đi đối với họ cũng dễ chịu, vì họ mau chóng hiểu ra rằng, họ có thể tiếp tục câu chuyện còn dang dở ở Bassano, họ có thể nói tiếp về tình yêu, Korin gõ vào máy, về việc tình yêu đã biến thế giới thành ra sao, Kasser nói, họ cứ đàm đạo trong khi chiếc xe kiệu lao nhanh về phía trước, và không còn nhìn thấy gì từ Bassano nữa.
4.
Korin ngồi trong phòng của gã, và rõ ràng gã không biết phải làm gì, nghĩ gì, và suy ra điều gì từ sự việc xảy ra trong nhà sáng hôm nay, bởi gần như cứ mỗi phút gã lại bật dậy khỏi ghế, đi đi lại lại một lúc rồi lại căng thẳng ngồi xuống, rồi lại bật dậy và đi lại, cứ như thế có dễ đến một tiếng đồng hồ, nhưng không cần giải thích tại sao, vì sự việc ngay từ đầu đã khiến gã rất hoảng hốt, khi khoảng chín giờ mười lăm người phiên dịch kéo toang cửa và lôi gã ra căn bếp nom giống như một bãi chiến trường, và bảo gã vì tình bạn họ cần phải ngồi uống với nhau ngay một chầu bia có tác dụng chữa bệnh, sau đó y tiếp tục bằng màn độc thoại đối với gã có vẻ chỉ là sự đe dọa mù mờ, ngoài nhiều sự việc chẳng liên quan gì đến nhau ra, chủ yếu y nói về một điều gì đó dường như đã chấm dứt ngày hôm qua, và với nó giờ đây đã vĩnh viễn kết thúc một chương, đến đây thì dĩ nhiên gã đã cướp lời, vì dẫu thế nào gã cũng không muốn biết đó là chương nào, và có vẻ như người phiên dịch có thể chuyển sang thái độ thù nghịch vào bất cứ lúc nào, gã đã cướp lời, và gã nói, cho tới khi còn nói được, tới khi người phiên dịch gục xuống bàn và chìm vào giấc ngủ, tới lúc đó gã nhẹ lẩn về phòng, vẫn chưa thể bình tâm, gã quỳ trên giường, rồi bắt đầu đi lại trong phòng, gã tự đấu tranh xem có nên nghe trộm hay không, có nên xem người phiên dịch còn ở bếp hay đã về phòng, cứ như thế một lúc, cho tới khi từ ngoài vọng vào tiếng nồi niêu loảng xoảng và tiếng la hét và gã tuyên bố, thế là đủ, giờ thì gã phải làm việc, làm việc, gã nói, ngồi xuống trước máy tính, và lấy lại mạch suy nghĩ đã mất, gã bắt đầu và tiếp tục như thế, và cuối cùng, như gã kể vào hôm sau, gã đã chìm sâu vào công việc đến nỗi cuối ngày khi dừng lại, lấy tay bịt hai tai nằm xuống giường, gã chỉ còn nhìn thấy Kasser ở trước mặt, cả Falke, Bengazza và Toót, và gã đã ngủ như thế, thỉnh thoảng vẫn thấy tiếng nồi niêu loảng xoảng và tiếng la hét vọng vào, chỉ có đám Kasser trong đầu gã, nhờ vậy mà sáng hôm sau khi dám mò ra bếp vào thời điểm như mọi khi, gã đã chứng kiến một sự thay đổi kỳ diệu, vì gã thấy mọi thứ, như thể hôm qua chưa từng xảy ra chuyện gì: mảnh vỡ đã được quét dọn lại, sàn nhà được lau sạch sẽ, thức ăn đang được nấu trong nồi, trên tủ bếp chiếc đồng hồ tích tắc, cả cô tình nhân của người phiên dịch cũng đang ngồi ở chỗ cũ, quay lưng lại phía gã và bất động, và vì tất cả cho thấy người phiên dịch không có nhà, như vào ban ngày thường vẫn thế, trấn tĩnh lại sau sự bất ngờ, gã cũng ngồi vào chỗ của mình bên bàn trong bếp, và gã bắt đầu ngay, như thể gã tiếp tục ở chỗ đã bỏ dở, gã nói cả buổi tối qua gã bận rộn với đám Kasser, cả buổi tối gã chỉ nhìn thấy Kasser, với Falke, Bengazza và Toót ở trước mặt, và gã đã đi ngủ như vậy, chỉ có họ ở trong đầu, thậm chí với tiểu thư gã có thể nói, họ không chỉ ở trong đầu, mà ở cả trong tim gã nữa, vì sáng nay sau khi thức dậy, và suy nghĩ lại tất cả, gã nhận ra rằng, đối với gã chỉ có họ tồn tại, gã sống với họ cả ngày và đêm, thậm chí có thể nói rằng ngoài họ ra gã không còn ai nữa trên thế gian này, chỉ có họ, gã nói, những người mà bằng cách đó, và có lẽ vì lần cuối gã đã đọc câu chuyện của họ, gã cảm thấy rất gần gũi, và thấy nó rất gần, gã nói thêm, chẳng hạn cả trong giây phút này, khi chiếc xe ngựa kéo đưa họ về phía Venice, biết nói với tiểu thư thế nào nhỉ, gã có vẻ cân nhắc, có lẽ gã phải đi lần lượt từng chi tiết, nếu có thể như vậy, chẳng hạn như nét mặt Kasser: đôi lông mày rậm, đôi mắt đen lấp lánh, cằm nhọn và vầng trán cao; hay của Falke: đôi mắt hẹp hình quả hạnh, cái mũi khoằm to và mái tóc xoăn rậm dài chấm vai; còn Bengazza nữa, Korin nói, đôi mắt trong xanh tuyệt đẹp, sống mũi thanh tú như phụ nữ và những nếp nhăn hằn rõ trên trán, và cuối cùng là Toót với cặp mắt tròn nhỏ, cái mũi tẹt và những vết hằn sâu chạy dưới mắt, quanh mũi và ngang trên cằm, như được người ta chạm khắc lên - bây giờ hằng ngày gã nhìn thấy thế từ rất gần, trong mọi khoảnh khắc, và ở điểm này có lẽ gã có thể thú nhận rằng, sáng nay khi thức dậy bên cạnh sự thức tỉnh này gã còn nhận ra một nỗi sợ hãi bất ngờ nữa, ai mà biết sau lần đọc thứ bao nhiêu, nhưng dường như gã đã dần dà đoán ra họ trốn chạy khỏi điều gì, nghĩa là tập cảo bản lạ lùng này dẫn họ đi đâu, tại sao lại thế, sao họ không bao giờ có cả quá khứ và tương lai, và nguyên nhân sự mờ ám thường xuyên vây quanh họ là gì, gã chỉ nhìn họ, gã nói với người đàn bà trong bếp, gã cứ nhìn bốn khuôn mặt đối với gã rất dễ thương và đặc biệt, và lần đầu tiên, và ngay lập tức một nỗi sợ hãi, như thể gã biết, gã đoán được nỗi sợ hãi ấy là gì.
5.
Nếu như cuối cùng chỉ còn lại một câu duy nhất, thì đối với tôi nó không thể là gì khác hơn là không có, thưa tiểu thư quý mến, không có một thứ gì có ý nghĩa hết, hôm sau Korin nói sau một lúc im lặng kéo dài thường thấy, sau đó gã nhìn ra ngoài qua cửa sổ, gã nhìn những bức tường chống cháy, những mái nhà và những đám mây đen đe dọa trên bầu trời, cuối cùng gã chỉ nói thêm: - Nhưng còn nhiều câu nữa ở phía sau, và tuyết bắt đầu rơi.
6.
Tuyết, Korin giải thích, tuyết, gã chỉ ra những bông trắng bay lững lờ, nhưng cuốn từ điển để trong phòng gã và thế là gã phải vào lấy để tra xem tiếng Anh gọi là gì, gã vào phòng mình và tra từ, thế là từ lúc đó gã cứ nói snow, snow, và gã nói không vô ích vì gã không chỉ khiến người đàn bà quay đầu lại nhìn, mà thị còn vặn bớt ga trên bếp, và cho rỏ hết nước rồi đặt cái thìa gỗ sang một bên, thị lại gần chỗ gã, cúi xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ, thị nhìn ra ngoài rồi ngồi ngay xuống đối diện với Korin ở phía bên kia bàn, cả hai cùng nhìn những mái nhà bên ngoài đang dần dần, từng tí một bị tuyết phủ, cùng nhau, đúng ra là lần đầu tiên như thế, Korin ở bên này bàn, người đàn bà ở bên kia, lát sau Korin không nhìn tuyết rơi nữa mà nhìn người đàn bà, từ khoảng cách gần khuôn mặt thị khiến gã kinh ngạc, tới mức một lúc sau gã vẫn không đủ sức quay đi, và không chỉ vì vết bầm tím mới thấy trên mặt, khiến thị gần như không mở nổi mắt bên trái, mà vì trên mặt thị, chỉ ở khoảng cách gần thế này mới thấy, đầy những dấu vết của những vết thương cũ, các vết thương đã lành, nhưng để lại những dấu vết ẩn sâu trên trán, trên cằm và dưới xương gò má, điều đó làm gã kinh hoàng, và gã lúng túng vì gã cứ nhìn thị mà không cưỡng nổi, vì thế khi ý thức rõ được rằng sự việc sẽ không thay đổi, và dù chốc lát gã quay mặt đi, nhưng gương mặt thị khiến gã không thể không nhìn lại, gã thử bứt mình ra khỏi tình huống này, gã đứng dậy đi lại gần chỗ rửa bát và uống một cốc nước, và khi đó cốc nước đã giúp gã, gã quay lại chỗ ngồi và không đối diện với những vết thương khủng khiếp kia nữa mà tập trung vào câu chuyện trên chiếc xe đi về Venice, nghĩa là gã không nhìn người đàn bà, mà nhìn tuyết rơi mỗi lúc một dày hơn, và gã nói, bây giờ ở đây là mùa đông, nhưng bên đó là mùa xuân, Spring in Veneto, hơn nữa còn là giai đoạn tuyệt vời nhất của mùa xuân, trời nắng nhưng không nóng, có gió nhưng không quá mạnh, bầu trời yên tĩnh và trong xanh, những cánh rừng trên các ngọn núi quanh vùng đã xanh rờn, nói tóm lại họ không thể mong ước thời tiết tốt hơn cho chuyến đi, và sự im lặng của Mastemann cũng không làm họ khó chịu nữa, họ chấp nhận là ông ta muốn thế và họ không tìm hiểu xem tại sao, họ cũng cứ ngồi im một lúc trong khi chiếc xe kiệu đung đưa trên con đường mòn, sau đó Kasser tiếp tục luồng suy nghĩ về tình yêu trong sáng, hoàn toàn trong sáng, the clear love, và hơn nữa, anh ta nói, chỉ về nó thôi, chứ về tình yêu không hoàn toàn trong sáng thì không, tình yêu trong sáng mà anh ta nói tới, đó là resistance, đó là hình thái sâu sắc nhất và có lẽ cao thượng duy nhất của sự nổi loạn, vì chỉ có trong tình yêu đó con người mới trở nên tự do hoàn hảo, tất yếu, trong từng đường gân thớ thịt của mình, và với nó tất nhiên con người trở nên nguy hiểm nhất đối với thế giới, vì đúng như thế, Falke cũng tham gia, nếu chúng ta nghĩ như vậy về tình yêu, thì con người đang yêu là con người nguy hiểm duy nhất, đó là con người ghê sợ sự dối trá và không có khả năng dối trá, và là con người cảm nhận được rõ ràng nhất sự khác biệt phản kháng giữa tình yêu trong sáng từ bản chất của mình với trật tự thiếu trong sáng từ bản chất của thế giới, vì theo anh ta, ở đây không phải là vấn đề tình yêu là tự do hoàn hảo, the perfect freedom, mà là trong tình yêu, trong tình yêu này trở nên không thể chịu đựng nổi nhất, nếu con người không tự do, cuối cùng thì cũng giống như vậy thôi, chỉ theo một cách diễn đạt khác, so với điều Kasser nói tới, dẫu sao, Kasser cướp lời, tự do sinh ra từ tình yêu là tự do thứ hạng cao nhất trong các trạng thái con người sản sinh ra, nhưng mới kỳ lạ làm sao, anh ta nói, thứ tự do này chỉ an bài cho con người cô đơn vĩnh viễn, nói cách khác tình yêu cũng là ca khó giải nhất của sự cô đơn, và như vậy hàng triệu và hàng triệu tình yêu, hàng triệu và hàng triệu sự nổi loạn không bao giờ có thể cộng góp lại được, nghĩa là hàng triệu và hàng triệu trải nghiệm liên quan tới sự hiện hữu không thể chịu đựng nổi của thế giới tồn tại bất chấp các lý tưởng của nó[2], và hậu quả là thế giới này không bao giờ có thể trải qua cuộc cách mạng gốc rễ đầu tiên của nó, vì lẽ ra điều đó đã tới, đã diễn ra, một cuộc cách mạng gốc rễ trong một thế giới trên thực tế bao giờ cũng tồn tại trái ngược với các lý tưởng, như nó đã không tới và không diễn ra, và giờ đây cũng sẽ không bao giờ diễn ra nữa, cuối cùng Kasser hạ giọng, sau đó là im lặng, và rất lâu sau không một ai trong số họ lên tiếng, chỉ có tiếng người xà ích thúc ngựa leo dốc vọng vào từ bên ngoài, rồi sau đó chỉ có tiếng bánh xe lăn lạo xạo dưới thùng xe trong thung lũng Brenta, cách Bassano đã khá xa.
7.
Jó, tình nhân của người phiên dịch nói bằng tiếng Hung và chỉ ra ngoài cửa sổ, và như để tạm biệt thị còn mỉm cười nhìn tuyết rơi trong một khoảnh khắc, sau đó mặt thị co rúm lại vì đau đớn, thị đưa tay lên con mắt bị thương, đứng dậy, quay lại chỗ bếp ga và đảo nhanh thức ăn trong hai chiếc nồi - và thế là đối với thị vụ tuyết rơi cũng kết thúc, vì kể từ lúc đó thị không rời khỏi bếp ga và cũng không quay nhìn về phía cửa sổ thêm một lần nào nữa xem bên ngoài trời đất ra sao, tuyết có còn rơi hay đã ngừng rơi, không một cử chỉ, một ánh mắt cũng không, không có gì biểu hiện thị có liên quan gì tới con người mới vừa nãy đã vui mừng vì tất cả chuyện này, và thế là Korin cũng không thể làm gì khác hơn là từ bỏ niềm hy vọng đã hiện lên trên mặt gã khá rõ ràng, theo đó trong sự êm đềm của tuyết rơi cuối cùng gã đã tìm thấy một hình thái nào đó của sự đồng cảm, chính xác hơn là để thể hiện sự đồng cảm, thế là cả gã cũng quay về trạng thái cũ, và gã tiếp tục kể như trước, dù không đúng chỗ đó, vì giữa chừng, gã nói, chiếc xe kiệu đã tới Cittadella[3], và sau một lúc nghỉ ngơi nó tiếp tục đi về phía Padova, Mastemann có vẻ như đã ngủ, dần dần cả Falke và Kasser cũng ngủ, chỉ còn Bengazza và Toót trò chuyện, rằng trong mọi phương thức phòng vệ thì nước là cách phòng vệ tốt nhất, và vì vậy xây dựng thành phố trên mặt nước là sáng kiến độc nhất vô nhị, không đâu hơn, Toót tuyên bố, về phần mình anh ta không khao khát đến nơi nào hơn chỗ đó, ở đó quan điểm phòng vệ, defense viewpoint, lại cơ bản như thế, bởi vì ở đây sự việc đúng là đã bắt đầu như thế, với câu hỏi là giải pháp nào an toàn nhất, vấn đề đã được nêu ra ở Aquileia[4] và được quyết định vào thời kỳ cuộc tấn công của Longobard[5], để đến thời kỳ thống trị của Antenoreo ý tưởng này tiếp tục được hoàn thiện, và để sau Malamocco và Chioggia, Caorle, Jesolo và Heracliana cuối cùng nó đã đạt tới giải pháp đúng, tới khi người Frank[6] tiến vào Lido năm 810 thì Doge[7] chuyển ra đảo Rialto[8], và đó thực sự là giải pháp đúng, và chỉ nhờ giải pháp tuyệt đối đúng này mà xuất hiện Urbs Venetorum[9], và như vậy sự phát hiện ra khả năng bất khả xâm phạm ở Rialto, và quyết định lấy hòa bình, tức là giao thương buôn bán, làm nền tảng đã dẫn tới tình trạng hiện tại, dẫn tới bên cạnh quyết định đúng đắn cần phải tới, người đưa ra quyết định đích thực cũng đã tới - nhưng chính xác là anh nghĩ tới cái gì, họ nghe tiếng Mastemann từ ghế ngồi đối diện, như vậy nghĩa là giữa chừng lão không ngủ, lão nói bất chợt và bất ngờ đến nỗi cả Kasser và Falke cũng liền thức dậy, rằng họ nghĩ gì ư? Toót lúng túng quay lại, họ nghĩ rằng, anh ta lịch sự đáp, đối với các khu dân cư sự phòng vệ đích thực dĩ nhiên bao giờ cũng là nước, và chính vì thế mà họ luôn coi việc người ta xây dựng cả một thành phố trên mặt nước là ý tưởng độc nhất vô nhị, Toót nói nhỏ, riêng cá nhân anh ta không khao khát đến nơi nào hơn là chính nơi đó, nơi mà cái gọi là quan điểm phòng vệ cơ bản đến như vậy, vì ở Venice, như chắc ngài Mastemann cũng đã biết, đúng là sự việc đã bắt đầu như thế, với câu hỏi liệu giải pháp nào là an toàn nhất, từ khi có nạn giặc Hun[10] ở Aquila câu hỏi này đã được đặt ra, và đã ngã ngũ khi người Longobard tấn công, để đến thời kỳ Antenoreo cai trị, thưa ngài Mastemann, Toót nói, ý tưởng này tiếp tục được hoàn thiện, và sau Malamocco và Chioggia, Caorle, Jesolo và Heracliana cuối cùng người ta đã đạt được giải pháp đúng đắn, khi vào năm 810 giữa cuộc chiếm đóng Lido của Pepin, Doge đã chuyển đến đảo Rialto, vì đó là giải pháp tuyệt đối, đồng thời tuyệt đối đúng, và nhờ giải pháp tuyệt đối đúng này mà Urbs Venetorum đã ra đời, sự phát hiện ra nguyên lý bất khả xâm phạm ở Rialto, cũng như quyết định dựa vào hòa bình, nghĩa là giao thương buôn bán, đã dẫn tới kết quả như hiện nay, dẫn tới bên cạnh quyết định đúng đắn cần phải tới, người đưa ra quyết định đích thực cũng đã tới - nhưng anh nghĩ cụ thể đến ai, Mastemann nhắc lại, và lão nhíu mày vẻ sốt ruột; lần này Bengazza đáp, rằng họ nghĩ tới người không chỉ là hiện thân của nền Cộng hòa, mà còn giải nghĩa nó trong di chúc của ông, rằng Venice chỉ và chỉ có thể tồn tại trong phồn vinh dựa trên sự gìn giữ hòa bình, the conservation of the peace, không có cách nào hết, Tổng trấn Mocenigo, Toót gật gật đầu, bản di chúc của Tomaso Mocenigo[11], họ nói về nó, về bản di chúc lừng danh, về văn bản tuyệt vời khước từ liên minh với Florence, thực chất là tránh được chiến tranh, đó là sự diễn đạt rõ ràng đầu tiên về nền hòa bình của Venice, cũng là về hòa bình nói chung, và họ nói về những câu nói ngay lập tức đã lan truyền khắp các công quốc của Mocenigo, có thể biết tất cả về việc này, không một ai bị bất ngờ khi tin hai tuần trước đây điều gì đã xảy ra ở Palazzo Ducale[12], và họ cũng đã vì thế mà lên đường, nhưng lúng túng chưa biết đi về đâu, vì thế mà họ khởi hành, hơn nữa đã khởi hành ngay lập tức, khi nghe thông báo về bản di chúc, nghe những lời nói cuối cùng của Mocenigo vào cuối tháng Ba, và cuối cùng là khi nghe tin về kết quả bầu cử đầu tiên ở Serenissima[13], họ đã lên đường ngay, vì họ tự nhủ rằng, họ - những kẻ bị săn đuổi bởi một cơn ác mộng chiến tranh - còn biết đi đâu, đi đâu khác hơn là tới Venice của ngài Mocenigo, tới thành phố tráng lệ mà sau bao thăng trầm, giờ đây có vẻ như nó cũng đang tự đi tìm sự thanh bình đầy đủ nhất.
8.
Họ đi qua những khu rừng hạt dẻ thơm mát, trong xe trở nên yên tĩnh chốc lát, Korin kể, và khi cuộc nói chuyện, the conversation, lại tiếp tục, chủ đề đã chuyển sang cái đẹp và lý tính, dĩ nhiên là về vẻ đẹp và tính hợp lý cơ bản của Venice, trong khi Mastemann vẫn im lặng, nhưng rõ ràng lão có chú ý, Kasser bắt đầu phân tích rằng, chưa bao giờ trong lịch sử của nhân loại văn minh diễn ra cuộc gặp gỡ hi hữu như vậy giữa cái đẹp và sự hợp lý, và với điều này anh ta muốn nói rằng ở đây vẻ đẹp hi hữu của Venice trong thực tế dựa trên sự trong sáng, minh bạch và sự hợp lý sáng sủa, sự tổng hợp của các yếu tố đó chỉ thấy ở Venice, trong khi ở các thành phố lớn khác vẻ đẹp thường chỉ có được nhờ sự ngẫu nhiên lộn xộn, sự thất thường tăm tối, nghĩa là sự hòa trộn của ý tưởng thái quá và sự vô nghĩa mù mờ, còn ở Venice thì vẻ đẹp và lý trí là một cặp song đôi, nó được xây dựng từ những nền tảng, theo đúng nghĩa của từ này, dựa trên các quyết định rõ ràng, minh bạch, trên những giải pháp đúng đắn cho những thử thách thực tế, vì các vị hãy nghĩ xem, Kasser quay về phía mọi người, và biết chắc Mastemann vẫn thức, thử nghĩ xem mọi thứ đã bắt đầu ra sao, những cuộc tấn công liên tiếp, sự nguy hiểm thường trực, the continuous danger, đơn giản là đã buộc những người Venice trước đây phải chuyển tới các lagoon, thật khó tin, nhưng đó là một quyết định cực kỳ đúng đắn, và càng ngày càng trở nên đúng đắn, nhờ đó đã xuất hiện một thành phố, thành phố mà tại mọi điểm của nó đều được xây dựng nhờ sự hợp lý bắt buộc, một thành phố, Falke nói, mà con người chưa khi nào xây dựng được cái nào kỳ lạ hơn, huyền ảo hơn, tráng lệ hơn, magic, và không thể tin nổi, nhưng nhờ sự lựa chọn thiên tài nó tỏ ra không thể bị tàn phá, không thể hủy diệt, nghĩa là không thể phá hủy nó bằng sức mạnh của con người, và rất tuyệt vời, Falke hơi ngẩng đầu lên, vì cái đế chế của cẩm thạch và ẩm mốc, của sự lộng lẫy và lụi tàn, của hồng tía rực rỡ và tăm tối này dựa trên một nền tảng hợp lý, đồng thời cũng hết sức phi lý, và vô dụng, absurd and useless, sự xa xỉ không thể nắm bắt được, không thể vượt qua nổi, do một trí tưởng tượng không thể bắt kịp và không thể tiếp cận nổi đã sinh ra một sự cuốn hút, sự liều lĩnh không thuộc thế giới này, những dấu hiệu bí ẩn không thể khám phá nổi, thế giới cảm xúc, sự phù du quyến rũ, trò chơi nguy hiểm, và cùng lúc tràn đầy ký ức về cái chết, từ những đám mây bồng bềnh của nỗi buồn đến nỗi sợ hãi hoang vu - và tới đây, Korin nói, gã không thể tiếp tục, đơn giản là gã không nhớ lại nổi, cũng không theo dõi nổi ngôn ngữ và tinh thần của văn bản, và thế là gã phải làm một việc ngoại lệ, gã vào lấy tập cảo bản ra và đọc từng từ một từ chỗ đó đến cuối chương, vì bằng lời lẽ của gã đúng là bây giờ không thể truyền đạt được điều này, vốn từ nghèo nàn và cú pháp hỗn loạn khổ sở của gã không những chưa đủ để làm việc đó, mà còn hủy hoại tất cả, vì vậy gã không cố, chỉ xin tiểu thư hãy tưởng tượng xem điều gì đã xảy ra khi Kasser và Falke kể cho Mastemann nghe trong chiếc xe kiệu về Bacino S. Marco[14] vào lúc ban mai, hay về mặt tiền mới tinh của Ca d’Oro[15], bởi dĩ nhiên họ đã nói những chuyện như vậy, trong một trạng thái phấn khích cao độ, đến nỗi dường như chiếc xe kiệu cũng lao nhanh hơn giữa khu rừng dẻ đang ra lộc tươi mát thơm tho, chỉ Mastemann có vẻ như người chẳng hề quan tâm đến trạng thái phấn khích kia, đến việc lão đã hỏi gì và câu trả lời ra sao, lão chỉ để tâm đến sự đung đưa của chiếc xe kiệu đang chạy trên đường, đến cái cách nó đung đưa và ru ngủ người khách lữ hành mệt mỏi ngồi trên ghế đệm nhung.
9.
Korin thức gần như trắng đêm, cho đến lúc hai giờ hay hai rưỡi gã không cả cởi quần áo, cứ đi đi lại lại giữa cửa và chiếc bàn, sau đó gã trút bỏ quần áo và đi nằm, nhưng không tài nào chợp mắt nổi; gã cứ xoay trở, vật vã, rồi hất tung chăn ra vì nóng, lại kéo chăn lên đắp vì lạnh, cuối cùng gã chỉ còn chú ý tới tiếng kêu của cái lò sưởi và quan sát những vết nứt trên trần nhà cho tới sáng, vì thế sáng hôm sau khi vào bếp có thể thấy rõ đêm qua gã không ngủ, nghĩa là nom gã khác hẳn mọi khi: mắt gã vằn đỏ, đầu tóc rối bù, sơ mi bỏ ngoài quần, và bất chợt gã không ngồi xuống cạnh bàn, mà ngập ngừng một hai lần, rồi gã đến bên bếp ga và đứng ngay sau người đàn bà, vì từ lâu gã đã muốn nói, gã lúng túng cất tiếng, đã từ rất lâu gã muốn nói về điều này, chỉ có điều chưa lúc nào nói được, nhưng bây giờ thế nào gã cũng phải nói, rằng tất nhiên có thể biết tất cả về gã, gã đã kể hết về mình, và như vậy đối với tiểu thư cũng không còn là bí mật, gã đến nước Mỹ làm gì và tại sao, và khi gã hoàn thành thì điều gì sẽ xảy ra, tất cả những điều này gã đã nói nhiều lần, nhưng có một điều gã chưa khi nào đả động tới, đó là họ, đặc biệt tiểu thư, có ý nghĩa gì đối với cá nhân gã, nghĩa là gã chỉ muốn nói rằng, những người sống trong nhà này và đặc biệt là tiểu thư là mối liên hệ duy nhất của gã với những người đang sống, nghĩa là hai con người cuối cùng trong đời gã là ngài Sárváry và tiểu thư, xin tiểu thư đừng giận vì gã chỉ biết diễn đạt khổ sở, lộn xộn và lắp bắp như thế, nhưng biết làm sao được, đúng là như thế, họ là những người rất quan trọng đối với gã, và mọi việc diễn ra với họ ở đây rất quan trọng, và nếu như tiểu thư có một nỗi buồn nào đó, thì gã, Korin, hoàn toàn có thể hiểu được, và gã rất tiếc, và nếu thấy một ai đó buồn phiền thì gã cũng đau đớn, gã chỉ muốn nói ra điều này, chỉ vậy thôi, giọng gã nhỏ dần, sau đó gã còn đứng sau người đàn bà một lúc nữa, nhưng vì cuối cùng người đàn bà quay lại liếc nhìn gã trong một tích tắc, và bằng giọng lơ lớ rất đặc biệt, nói rất nhỏ: értek[16] rồi quay đầu lại ngay, còn gã, như kẻ hiểu ra rằng người kia không còn muốn sự có mặt gần sát của mình, gã vội bước khỏi đó quay lại ngồi xuống ghế, cố quên đi sự lúng túng do gã gây nên, gã liền trở lại chủ đề quen thuộc; gã nói chiếc xe kiệu giữa chừng đã tới gần Padova, và cho tới khi họ chưa đến đường biên thành phố, chỉ có các tên được nhắc tới, những cái tên khác nhau và những dự đoán xem ai sẽ là tổng trấn mới, rằng kết quả bầu cử sẽ ra sao, nghĩa là ở Venice sau cái chết của Tomasso Mocenigo ai sẽ là ông chủ, Francesco Barbo? Antonio Contarini? Marino Cavallo? hay Pietro Loredan? hay là em trai Mocenigo, Leonardo Mecenigo? Cũng có thể lắm, Toót tuyên bố, có thể là bất cứ ai, Bengazza chêm vào, đúng, Falke gật đầu, có thể là bất cứ ai, chỉ một là không thể, một người tên là Francesco Foscari, người tán thành liên minh với Milan và thế có nghĩa là chiến tranh, Kasser bắt lời và liếc nhìn Mastemann, chỉ ông ta, viên biện lý giàu sụ của San Marco, thì không, người duy nhất mà trong bài nói đáng nhớ của mình Tommaso Mocenigo đã cảnh báo nền cộng hòa và hòa bình, và ông đã cảnh báo thành công, vì hội đồng bầu cử bốn chục người ngay ngày đầu tiên đã chứng minh sức mạnh lời nói của Mocenigo và sự thông thái của ông, vì Foscari chỉ được có ba phiếu, và rõ ràng những hôm sau con số này đầu tiên giảm xuống hai, rồi xuống một, điều này không thể biết, Kasser giải thích cho Mastemann, từ cuộc bầu chọn đầu tiên tới nay họ không có tin mới, nhưng theo họ chắc chắn hoặc Barbo, hoặc Cotarini, hoặc Cavallo, hoặc Loredan, hoặc Leonardo Mocenigo sẽ đắc cử, chỉ Foscari là không thể, và theo anh ta, chắc chắn đã có người kế nhiệm, và tên người đó không phải là Francesco Foscari, từ cuộc bầu cử đầu tiên tới nay đã hai tuần, và có lẽ ở Padova người ta đã biết một điều gì đó, Kasser nói, nhưng Mastemann lại không đáp dù một lời, tuy có thể biết chắc không phải vì lão ngủ, bởi vì dù rất nhỏ, nhưng mắt lão vẫn hé mở, đúng, Korin nói, có lẽ lão không ngủ, dẫu sao lão ngồi ở tư thế mà không một ai đủ can đảm bắt chuyện, thế là trong xe lại im lặng, và họ bước vào địa giới Padova mà không một ai phá vỡ sự yên tĩnh này: bên ngoài bóng tối đã phủ kín thung lũng từ lâu, chiếc xe kiệu thỉnh thoảng làm một chú hoẵng lơ ngơ trên đường hốt hoảng, rồi họ tới cổng vào thành phố, những người lính gác chiếu sáng vào các chỗ ngồi trong xe, rồi giải thích cho người xà ích cách đến chỗ nghỉ, họ lùi lại, đứng nghiêm chào cho xe đi, thế là họ đã đến Padova, Korin nói với người đàn bà, đêm đã về khuya, trên sân một quán trọ, người chủ và gia nhân chạy ra đón họ, những con chó sủa ăng ẳng và những chú ngựa mệt mỏi thở phì phò, tóm lại, Korin nói, lúc gần nửa đêm ngày 28 tháng Tư năm 1423, họ đã tới.
10.
Chắc các vị sẽ bỏ quá cho tôi vì tuyên bố chậm trễ và gián tiếp, người xà ích của Mastemann nói vào sáng sớm hôm sau, khi cùng đám gia nhân đánh thức và tập trung họ lại quanh một chiếc bàn của quán trọ, nhưng nếu có một điều gì đó còn có thể hành hạ ông chủ của ông ta, thì đó là chuyến đi bằng xe sáu ngựa kéo trên con đường xấu kinh khủng đến Veneto, những lúc thế này ngài cảm thấy thận như rụng ra, xương cốt rã rời, đầu óc vỡ tung, và do thiếu máu ngài cảm thấy như mất cả hai chân, nghĩa là chuyến đi là một thử thách lớn đối với ngài, ngài không nói, không trò chuyện, không chịu nổi, và vì vậy ít khi ngài mạo hiểm kiểu này, lần này ngài cũng chỉ quyết định đi vì công việc đòi hỏi, người xà ích nói, bởi cái tin, mà là tin tốt lành, ngài ra lệnh đọc tin này sáng sớm nay, số là, người xà ích lôi từ trong ngực ra một tờ giấy, lúc họ đến vào ban đêm, ngài Mastemann, như có lẽ các vị đã nghe thấy, không yêu cầu đón ngài bằng giường nệm trải sẵn, mà chuẩn bị cho ngài một chiếc ghế bành thoải mái lót sẵn bằng chăn đặt đối diện với cửa sổ để mở và một chiếc ghế kê chân, cần phải biết rằng nếu ngài quá mệt mỏi và không thể chịu nổi việc nằm ngủ trên giường, thì chỉ bằng cách đó ngài mới nghỉ ngơi được đôi chút, và sự việc đã diễn ra đúng như vậy, gia nhân đã lót cho ngài một chiếc ghế bành, sau khi họ đưa ngài lên phòng ăn uống chút ít và rửa ráy qua loa, ngài đã ngồi vào chiếc ghế đó, và sau khi ngủ gà gật chừng ba tiếng, vào khoảng bốn giờ sáng ngài đã cho đánh thức và kêu ông ta lại bên, gọi người xà ích mà chỉ có nhờ ngài, nhờ ông chủ mới biết đọc biết viết, và ông ta được hân hạnh nâng lên địa vị gần như một thư ký cho ngài, ngài đã đọc cho ông ta ghi chép kín một trang giấy, phần cốt lõi của một thông điệp, thông điệp của ngài, người xà ích giải thích, thông điệp mà sáng sớm nay, tức bây giờ, ông ta phải chuyển giao đầy đủ, chuyển giao theo cách nếu cần thì phải cẩn thận làm sáng tỏ ý nghĩa của nó, và nếu các vị có câu hỏi thì ông ta phải kiên nhẫn giải đáp, và ông ta cũng muốn thế, muốn làm đúng như mệnh lệnh được giao, muốn đáp ứng được nhiệm vụ, vậy nên ông ta yêu cầu nếu có dù chỉ một sự diễn đạt, một từ, một ý nào nghe lần đầu chưa hiểu được, thì các vị cứ nói xen vào và hỏi ngay - người xà ích mào đầu như thế, và đưa tờ giấy đang cầm trong tay về phía họ, không cụ thể cho một ai, vì vậy lúc đầu không ai đưa tay ra đón lấy nó, chỉ tới khi ông ta đẩy về phía Kasser một cách dứt khoát hơn, nhưng Kasser không cầm nó lên, chỉ khi đó Bengazza mới cầm tờ giấy, tìm chỗ bắt đầu và bắt đầu đọc lá thư một trang viết bằng chữ đẹp nhất của người xà ích, sau đó anh ta chuyển cho Falke đọc, và cứ vòng quanh như thế tới khi lá thư quay về chỗ Bengazza, sau đó tất cả đều im lặng, và các câu hỏi cũng bắt đầu rất khó khăn, vì dù họ đặt các câu hỏi và người xà ích cần mẫn và nhẫn nại trả lời cũng đều vô ích, lá thư không hé lộ tí gì về nội dung chính của nó, nếu như có thể gọi đó là lá thư, the letter, hôm sau Korin nói với người đàn bà bên cạnh bếp, vì thực ra nó gồm mười ba điểm tuyên bố dài ngắn khác nhau, có vẻ độc lập với nhau, chẳng hạn như ĐỪNG SỢ FOSCARI, khi họ hỏi người xà ích phải hiểu điều này thế nào, ông ta chỉ bảo ở đoạn này ngài Mastemann chỉ yêu cầu nhấn mạnh đúng chỗ chữ sợ, và bây giờ ông ta nhấn mạnh từ đó, lời giải thích chỉ có vậy và không thể moi thêm ở người xà ích điều gì, cũng như với câu tuyên bố bắt đầu bằng CUỘC SỐNG CỦA CON NGƯỜI LÀ LINH HỒN CỦA CHIẾN TRANH, bởi ở chỗ này người xà ích bất chợt bắt đầu ca ngợi chiến tranh, the glorification of the war, nói rằng hành động vĩ đại nâng cao tầm của người đàn ông, và đàn ông khao khát sự vĩ đại, tuy nhiên điều kiện của sự vĩ đại không đơn giản là khả năng thực hiện hành động vĩ đại, mà chính là hành động vĩ đại, hành động mà muốn xây dựng nên, khai triển và thực hiện nó chỉ có thể trong hiểm nguy, hơn nữa, người xà ích nói - dĩ nhiên là không phải bằng từ ngữ của ông ta, chỉ có thể ở đỉnh điểm của hiểm nguy, khi cuộc sống thường xuyên bị đe dọa, đó chính là chiến tranh, và Kasser chỉ nhìn người xà ích, thấy lạnh người và hoang mang nhìn các bạn mình, sau đó anh ta còn lướt qua lá thư của Mastemann một lần nữa, đọc lại đoạn thứ mười ba dễ đến ba lần, rồi hỏi người xà ích xem ông ta có thể bổ sung gì vào cụm từ THẮNG LỢI LÀ SỰ THẬT, ông này đáp, theo chỗ ngài Mastemann biết thì hội đồng bầu cử sẽ quyết định chọn tổng trấn mới trong một cuộc bầu chọn kéo dài mười ngày, và họ chỉ dần dần nhận ra, từng bước từng bước một, rằng Cavallo quá già và bất lực, Barbo tàn tật nặng và hợm hĩnh, Contarini quá nguy hiểm, vì có khuynh hướng độc quyền, còn Loredan thì cần để đứng đầu hạm đội chứ không phải là Palazzo Ducale, tóm lại chỉ duy nhất có một ứng viên được tính tới, chỉ người đó cần thiết cho việc duy trì vinh quang của Venice, chỉ có người chiến thắng mà cuối cùng được chọn làm tổng trấn Venice với hai mươi sáu lá phiếu vào ngày thứ mười, đó là Foscari vĩ đại, Foscari, chắc chắn vậy ư, Kasser hỏi, đúng, người xà ích gật đầu, và chỉ vào phía cuối tờ giấy, chỗ có tên Francesco Foscari gạch dưới hai lần, viên biện lý đáng kính của S. Marco, với hai mươi sáu phiếu thuận đối lại với mười lăm.
11.
Nếu gã nói, Korin tuyên bố, sự thất vọng là không thể tả nổi, indescribable, thì đó chỉ là cách nói thông thường, quen thuộc mà tiểu thư dẫu sao cũng không cần phải hiểu đúng theo nghĩa đen của từ này, sự thất vọng của nhóm Kasser được tập cảo bản miêu tả bằng con mắt rất nhạy cảm, rất tinh tế và tỉ mỉ đến từng chi tiết, cả buổi sáng, the morning, sau cuộc nói chuyện với người xà ích, và cuối cùng tuy khó khăn nhưng họ đã hiểu một trong những mục đích của thông điệp buổi sớm mai ấy là từ đây trở đi Mastemann không muốn sự có mặt của họ trong chuyến đi nữa - và đó chính là điều cơ bản, Korin khẳng định, sự nhận biết nhạy cảm và tinh tế này, sự tỉ mỉ này, hay tại điểm này tập cảo bản bỗng trở nên đặc biệt kỹ lưỡng, và do đó dẫn đến một tình trạng kỳ quặc là ở cuối chương ba, lúc này gã không phải kể về điều gì đã xảy ra trong cái quán trọ Padova sau màn trình diễn của người xà ích được huấn luyện đặc biệt và được giao nhiệm vụ đặc biệt, mà về tính khác thường của sự miêu tả trong tập cảo bản, description, nghĩa là không phải về chuyện sau khi nhóm Kasser hiểu ra rằng, họ không thể cùng đi tiếp với Mastemann, bởi theo như đoạn thứ mười ba của bản thông điệp thì cái thành phố Venice mà họ đang hướng tới, giờ đây không có con đường nào dẫn đến đó nữa, kể cả nếu họ đi với Mastemann, kể cả nếu họ đi với một ai khác, kể từ đây một sự kiện nhỏ nhất, một động thái nhỏ nhất cũng trở nên cực kỳ quan trọng, nói một cách đơn giản, Korin thử làm sáng tỏ vấn đề cho người đàn bà hiểu, hình như tập cảo bản bất chợt chững lại trong câu chuyện, nó chững lại và nhìn quanh và xem xét tất cả các nhân vật, đồ vật, tình trạng, quan hệ và hoàn cảnh tồn tại ở đó, trong khi nó xóa nhòa ranh giới giữa cái quan trọng và không quan trọng, nghĩa là nó hóa giải và tiêu hủy: bởi vì sẽ tiếp diễn những sự việc có vẻ như quan trọng, chẳng hạn như nhóm Kasser còn ngồi đối diện với người xà ích bên cạnh bàn rất lâu, cho tới khi ông ta đứng dậy, cúi chào và đi ra, sau đó không lâu người ta bắt đầu chuẩn bị xe kiệu, chỉnh sửa lại đồ đạc, kiểm tra dây chằng và các trục xe, nhưng tiếp theo đó, nếu có thể thì những tiểu tiết có vẻ vụn vặt cũng được miêu tả với sự tỉ mỉ kỹ lưỡng hơn, ví dụ như ánh nắng chiếu từ phía ngoài vào ra sao, rọi sáng lên cái gì, để lại chỗ nào trong bóng tối; như mấy con chó sủa thế nào, bề ngoài chúng ra sao, chúng có mấy con, và rồi chúng ngừng sủa thế nào; hay như đám gia nhân làm gì từ các phòng trên gác đến hầm nhà, và như rượu vang bỏ lại từ hôm qua trong một chiếc bình ra sao, và tất cả những thứ đó, quan trọng và không quan trọng, essential and inessential, ở sát bên nhau, chồng lên nhau, cái nọ tựa lên cái kia, như thể nhiệm vụ lúc này là miêu tả một trạng thái mà để thể hiện nó mọi thứ đều có thể bỏ qua, theo đúng nghĩa của từ này - tóm lại là thế, Korin nói, đại thể gã có thể phân tích về sự thay đổi gốc rễ trong tập cảo bản như thế, trong khi, gã cao giọng hơn, gã không nhận ra sự thất vọng và chán ngán của Kasser và các bạn cũng đã truyền sang mình, và vì thế gã có thể theo dõi trong sự thất vọng và chán ngán này, xem còn gì ở phía sau nữa, vì tất nhiên là còn, gã nói, chương đường tới Venice không buông tha người đọc nó ở điểm này, mà chỉ ở chỗ và khi Mastemann, với bộ mặt rắn đanh, xám như tro, trong chiếc áo choàng nhung dài và đôi ủng đen bóng màu xanh thẫm bỗng xuất hiện ở chỗ chiếu nghỉ cầu thang trên gác, lão xuống tầng trệt, thả vào lòng bàn tay chủ quán trọ vài đồng ducat, rồi không hề liếc nhìn bọn Kasser đang ngồi bên bàn, lão bước ra ngoài, leo lên chiếc xe kiệu, giục người xà ích cho xe chạy dọc theo sông Brenta, còn họ vẫn ngồi đó bên chiếc bàn, lúc sau người chủ quán trọ bước tới đặt xuống trước họ một chiếc túi vải nhỏ màu trắng và bảo theo lệnh của ông lớn từ Trento[17], sau khi ngài đi, ông ta phải trao gói này cho người thấy nói là bị thương trong số họ, và khi đó họ mở cái túi ra xem, thấy trong đó là một thứ bột rất mịn để rắc vết thương, và chương ba kết thúc như vậy, với chi tiết này, Korin đứng dậy để đi về phòng, với cử chỉ bí ẩn của Mastemann, và cuối cùng họ cũng trả tiền, ra tới cửa gã quay đầu lại nói thêm, họ chia tay chủ quán trọ, bước ra cổng trong ánh sáng buổi ban mai rực rỡ.
12.
Mọi thứ đều có sức nặng giống nhau, và mọi thứ đều quan trọng không thể trì hoãn, trưa hôm sau Korin nói với người đàn bà, không che giấu rằng có chuyện gì đó đã xảy ra với gã, và gã hơi thất vọng, gã không cả ngồi xuống chỗ thường ngồi, cứ đi đi lại lại trong bếp, rồi gã tuyên bố điều gã suy nghĩ và làm ở đây hoặc là đã mất ý nghĩa, hoặc là gã đã tới gần sát sự nhận thức quyết định, nói xong gã lao về phòng mình và từ đó trở đi mấy ngày liền không thấy gã ra ngoài, cả vào các buổi sáng, cả lúc năm giờ chiều, cả ban đêm, thế là buổi tối ngày thứ ba người tình của người phiên dịch phải mở cửa phòng gã, hỏi với vẻ mặt lo lắng: It’s all right? mọi việc ổn cả chứ? vì chưa bao giờ thấy gã không ló ra ngoài lâu như lần này, không biết có chuyện gì chẳng lành, nhưng Korin chỉ đáp đơn giản Yes, It’s alright, rồi gã ngồi dậy trên giường, người vẫn mặc quần áo, mỉm cười với người đàn bà, và thông báo với thị bằng vẻ phấn chấn bất thường, rằng hôm nay gã còn phải suy nghĩ, nhưng ngày mai khoảng mười một giờ gã sẽ lại ra bếp, và gã sẽ nói tất cả, ngày mai, gã nói như muốn xua người đàn bà ra, cô có thể yên tâm, rồi gã nói với theo thị một lần nữa, khoảng mười một giờ, chắc chắn thế, có tiếng xoay chìa khóa trong ổ và cửa đã đóng lại phía sau người đàn bà.
13.
Đúng, mọi thứ đều có sức nặng giống nhau, và mọi thứ đều quan trọng không thể trì hoãn, hôm sau Korin tuyên bố đúng mười một giờ, và bởi gã phát âm từng từ rất chậm, gã nghỉ một lúc rất lâu, sau đó, như người đã nói ra tất cả mọi điều cần nói, gã chỉ nhắc đi nhắc lại mấy lần, vẻ quan trọng: - Giống nhau, thưa tiểu thư, và không thể trì hoãn.
❀ ❀ ❀
[1] Một trong các thành phố lâu đời nhất của Ý, ở rìa đồng bằng sông Po, cách Venice khoảng 30 km về phía Tây, là tỉnh lỵ của tỉnh Padova.
[2] Nghĩa là thế giới có những lý tưởng có giá trị nhân văn cao, chẳng hạn như tình yêu, nhưng bất chấp những lý tưởng đó, đối nghịch với những lý tưởng đó, thế giới vận hành theo cách hạ thấp các lý tưởng đó (chú thích của tác giả).
[3] Một thành phố cổ thành lập từ thế kỷ 13, có tường thành bao quanh, thuộc tỉnh Padova, Veneto, Ý.
[4] Một thành phố cổ từ thời La Mã, nằm trên sông Natiso, thành lập từ năm 180 trước Công nguyên; nay là một trong những địa điểm khảo cổ quan trọng ở Bắc Ý.
[5] Một sắc dân thuộc nhóm các tộc người German. Vương quốc Longobard thịnh hành nhất vào nửa đầu thế kỷ 7, sau suy vong và sáp nhập vào Đế chế Frank. Dấu vết còn lại của họ là vùng Lombardia ngày nay.
[6] Một trong nhiều bộ tộc German ở phía Tây, là chủ nhân của Đế chế Frank (428-843).
[7] Tiếng Ý: Tổng trấn, dinh Tổng trấn.
[8] Một hòn đảo ở Venice, nối với San Marco qua cầu Rialto trên Grand Canal, là một trung tâm thương mại quan trọng thời Trung cổ và Phục hưng.
[9] Tiếng Latin: bức tường thành bao quanh thành phố.
[10] Tên chỉ những người dân du cư hay bán du cư trên lưng ngựa trong một liên minh lỏng lẻo ở vùng Trung Á. Một số trong các bộ lạc Á-Âu này đã chuyển dịch sang châu Ầu từ thế kỷ 4-5. Họ là những kỵ binh khét tiếng ở châu Âu, dưới thời kỳ trị vì của Attila trở thành một đế chế hùng mạnh, họ mở mang bờ cõi và đánh bại cả La Mã.
[11] Tomaso Mocenigo (1343-1423): Tổng trấn của Venice từ năm 1414 đến khi mất.
[12] Cung điện của tổng trấn Venice, một công trình kiến trúc rất nổi tiếng.
[13] Tên gọi của Cộng hòa Venice.
[14] Các lưu vực San Marco là không gian nước của đầm phá Venetian ở phía trước Quảng trường Thánh Mark, giữa các kênh Lido, Giudecca và Grand Canal (Kênh Lớn).
[15] Một dinh thự lộng lẫy nằm cạnh Grand Canal ở Venice, tên gọi này là do nó được xây bằng đá hoa cương nhiều màu và mạ vàng ở mặt tiền nhìn ra Grand Canal.
[16] Tiếng Hung: tôi hiểu.
[17] Thành phố Ý nằm trong thung lũng sông Adige, là thủ phủ của tỉnh Trento, Ý.