Họ có bốn người trong đó, Korin quay về phía ông già đội mũ lông thỏ ngồi trên một chiếc ghế băng ven hồ ở Zurich, bốn người, rất gần gũi đối với trái tim gã, gã đã đưa họ đi cùng, họ đã tới nước Mỹ, nhưng đã trở về, không hẳn là về nơi họ đã khởi hành, nhưng về cơ bản là trở về, và bây giờ trước khi những kẻ săn đuổi bắt được họ, vì họ bị săn đuổi gắt gao, gã tìm một nơi, a place, một nơi phù hợp, một điểm đặc biệt để khỏi phải chạy tiếp, chạy tiếp mãi, vì từ đây trở đi họ không thể đi cùng gã nữa, gã sẽ đi Schaffhausen một mình, những người khác phải xuống, và gã cảm thấy đây là chỗ có thể - à, nghe thấy thế mặt ông già bỗng tươi lên, có thể thấy ông chẳng hiểu tí gì về những điều Korin vừa nói, à, ông xoắn xoăn bộ ria, bây giờ ông đã hiểu, ông lấy gậy vẽ lên nền tuyết hai ký hiệu, đây là nước Mỹ, ông chỉ vào một cái, ông lại mỉm cười và kéo một đường thẳng giữa hai cái, und[1] Schaffhausen, ông chỉ đầu gậy vào điểm kia, rồi ra hiệu tất cả đã rõ, ông chỉ vào Korin, rồi dùng gậy chỉ vào điểm này và điểm kia, và nói vẻ hài lòng, Sie - America - Schaffhausen, this is wonderful und Grüessgott[2], đúng, Korin gật gật đầu, từ Mỹ đến Schaffhausen, có điều giữa chừng gã phải để họ lại đây, có lẽ cái hồ này, gã bỗng nhiên quay đầu nhìn ra hồ, perhaps the lake, gã nói to lên, phấn chấn vì ý tưởng bất chợt, và gã đứng dậy ngay, bỏ ông già ngồi lại với vẻ ngạc nhiên, ông còn ngồi đó một lúc nhìn hai điểm trên mặt tuyết nát với vẻ khó hiểu, cuối cùng ông lấy gậy xóa chúng đi, rồi ông đứng dậy khỏi chiếc ghế băng, hắng giọng mấy cái, cặp mắt vui vẻ nhìn trái nhìn phải, và ông thũng thẵng bước đi giữa hai hàng cây về phía cầu.
2.
Thành phố nhỏ hơn, nhỏ hơn nhiều lần so với thành phố mà gã vừa rời khỏi, thế nhưng vấn đề lớn nhất, ngoài sự vội vã để không bị người ta đuổi kịp, lại là vấn đề xác định phương hướng, vị trí, ngay từ khi ở sân bay gã đã thường xuyên bị lạc, sau đó đến khi mấy người tốt bụng giúp gã lên được chuyến tàu nhanh đi Zurich, gã đã xuống trước nơi lẽ ra phải xuống hai ga, gã cứ nhầm, cứ lạc, cứ phải hỏi liên tục, và người Zurich nhìn chung vui vẻ trả lời gã, khi họ hiểu gã muốn gì, vì ngay khi tới được Bellevue Platz bằng tàu điện, gã vẫn hỏi mọi người trung tâm thành phố ở chỗ nào, người ta đáp đây chính là trung tâm thành phố, đừng tìm nữa, nhưng có vẻ như gã không tin, gã cứ quanh quẩn mãi một chỗ vẻ rất bồn chồn, và gã xoa bóp cổ, xoay xoay đầu vòng quanh, không quyết định được, nhưng rồi gã vẫn chọn một hướng, và sau một lúc lâu vừa đi gã vừa nhìn lại phía sau xem có ai theo dõi không, tới một công viên gã lại hỏi, súng lục ở đâu? trung tâm ở chỗ nào? câu hỏi trước thì người ta không hiểu, câu sau thì người ta bảo đây, chính là chỗ này, Korin chán ngán phủi tay, và gã đi tiếp về phía trong, cuối cùng ở góc bên kia công viên gã nhìn thấy mấy người quần áo rách rưới, cái nhìn tăm tối, có vẻ gã nhẹ cả người, nào, có lẽ kia chính là họ, gã đi nhanh lại chỗ mấy người, đứng trước mặt họ và nói, I want to buy a revolver[3], một lúc lâu mấy người kia không nói gì, chỉ nhìn gã đầy vẻ nghi ngại, sau đó một người nhún vai bảo, OK, OK, và vẫy gã đi theo, nhưng người đó có vẻ rất căng thẳng và rất vội, Korin gần như không theo kịp, come, come, người kia giục gã và gần như chạy lên phía trước, sau đó hắn dừng lại trước một chiếc ghế dài cạnh một bụi cây, có hai người ngồi lên thành ghế, chân đặt trên ghế, một người khoảng hai mươi, người kia khoảng ba mươi, nhưng cả hai đều mặc áo da, quần da, đi giày cao cổ và đeo vòng tai, như thể họ là một đôi song sinh, và cả hai cũng có vẻ rất căng thẳng, chân họ cứ gõ liên tục lên ghế, hai tay họ gõ nhịp liên tục lên đầu gối, họ nói gì đó bằng tiếng Đức, Korin không hiểu gì hết, sau đó tay trẻ hơn quay về phía gã và nói chậm, rành mạch, two hours here again, và hắn dùng ngón trỏ chỉ chỉ mấy lần xuống ghế, hai tiếng nữa à? Two hours? and here? Korin hỏi lại, it’s ok, it’s ok, aber[4] cash, anh chàng nhiều tuổi hơn cúi sát mặt gã, dollars ok? Korin hơi lùi lại, five hundred dollars, hắn nhăn nhở, five hundred dollars, hiểu rồi, Korin gật đầu ra hiệu đã hiểu, được rồi, it’s all right, và hai tiếng nữa, two hours, here, gã cũng chỉ xuống ghế, rồi gã bỏ bọn kia quay về phía công viên, lát sau người đã đưa gã đến gặp hai tay kia cũng quay lại, hắn thì thầm vào tai gã, pot, pot, pot, pot, và thỉnh thoảng lại vẽ lên bàn tay những ký hiệu mà Korin không thể hiểu nổi, trong khi họ đã ra khỏi công viên, tên kia chán ngán bỏ cuộc - hai tiếng, Korin lẩm bẩm một mình khi đến Bellevue Platz, sau đó khó khăn lắm gã mới thuyết phục được một người bán hàng bán cho gã một bánh sandwich và một cốc Cola bằng đô la, ăn uống xong gã chờ một lúc, gã nhìn những chuyến tàu điện đến từ phía cầu rồi lọc cọc, leng keng chạy vòng vào một con phố hẹp và mất hút, rồi gã đi bên cạnh cầu về phía hồ nước, và thỉnh thoảng quay đầu lại đằng sau, gã đi bộ khá lâu, một bên là mặt nước hồ với duy nhất một con tàu, một bên là hàng cây, phía sau hàng cây là những tòa nhà, Bellerivestrasse, gã đọc trên một biển ghi tên phố, càng đi xa hơn ra phía ngoài gã càng ít gặp người hơn, cuối cùng gã thấy một khu giống như công viên giải trí, những nhà gỗ nhỏ, lều bạt màu, Big Wheel[5], nhưng tất cả đều đóng cửa, đến đó thì gã quay lại, trên mặt hồ bên cạnh vẫn một chiếc tàu lúc nãy, và lại là hàng cây, phía sau là những tòa nhà, mỗi lúc càng đông người hơn và gió càng thổi mạnh hơn, rồi đến Bellevue Platz, và từ đó đến công viên, nơi gã nhận được khẩu súng ngắn và đạn gói trong một túi ni lông xoắn lại, bọn kia chỉ cho gã cách nạp đạn, tháo chốt an toàn và bóp cò, sau đó anh chàng lớn tuổi hơn lấy tiền, và lại cười nhăn nhở với gã, rồi như một phép lạ trong một tích tắc chúng biến khỏi mặt đất, còn Korin thì quay lại Bellevue Platz, sau đó gã đi qua cầu để sang bên kia hồ, cuối cùng gã ngồi xuống một chỗ khuất gió, vì gã rất mệt, gã nói với một ông già ngồi trên đầu ghế bên kia, gã gần như không còn sức để chịu đựng nữa, mặc dù gã phải chịu, vì cả bốn người kia vẫn ở trong người gã, và thế này thì không thể tiếp tục được nữa, ông già chỉ gật gật đầu, ậm ừ và nhìn con tàu độc nhất trên hồ đối diện với chỗ họ đang ngồi với vẻ mặt vui vẻ.
3.
Ông ta đi bên cạnh sông Limmat[6], qua Mythen Quay về phía bến cảng, vì với tư cách là dockmaster[7], khi băng đóng trên bờ có thể gây thiệt hại, nhất thiết ông phải kiểm tra tình hình xem công ty dịch vụ được ủy nhiệm có đập vỡ đúng quy cách lớp băng mỏng nhưng nguy hiểm xung quanh những con tàu kéo vào dừng trong cảng nghỉ đông hay không, tóm lại là ông ta đi, ông kể cho những người quen ở cửa hàng bán thịt ở gần nhà ông, và do thấy thời tiết đẹp, lần này ông đi bộ, khi đến khoảng giữa vườn thực vật ông ta nhận thấy có người đi theo mình; lúc đầu ông cũng mặc kệ, vì nghĩ có thể chỉ là vô tình, ông nghĩ, có khi người ấy có việc đi qua đây, ai mà biết được, có thể tưởng tượng được lắm chứ, nếu muốn cứ để mặc hắn theo, rồi hắn sẽ rẽ sang lối khác và biến mất ở chỗ nào đó, nhưng gã này, ông dockmaster cao giọng, không rẽ sang lối khác, không biến mất, gã bám ông không rời, thậm chí khi họ đến cổng cảng, gã đến trước mặt ông và nói, Mister Captain, gã chỉ vào áo khoác công vụ của ông nói bằng thứ tiếng lạ hoắc, theo ông ta là tiếng Đan Mạch, gã bắt đầu nói lung tung gì đó, ông ta gạt đi và bảo hoặc là gã nói tiếng Anh, hoặc là hãy để ông ta yên, thế là thằng cha cố nặn ra một câu, té ra gã trời đánh ấy muốn đi tàu thủy, đi tàu hả? ông ta trả lời gã, bây giờ thì không thể được, đang là mùa đông, ông ta giải thích, mùa này giao thông đường thủy ngừng hoạt động, nhưng gã kia cứ cố nài, gã còn rút trong túi ra một nắm đô la, ông ta bảo gã ngay, con giời ơi đừng có cố thây như thế, đây không phải là vấn đề tiền, đang là mùa đông và đô la cũng không thể làm gì được hết, chỉ đến mùa xuân, đúng thế, Gusti đã nói đúng, đến chỗ này trong cửa hàng thịt mọi người đều bật cười, nhưng các vị hãy đợi đã, ông dockmaster nhắc mọi người, đến lúc đó thì ông ta bắt đầu tò mò, và ông ta hỏi xem gã muốn làm cái trò khỉ gì với tàu thủy trên hồ vào lúc này, thế là gã bảo - bây giờ các vị hãy chú ý đây, ông ta nhìn quanh và nghỉ một lát để gây hiệu ứng cần thiết - rằng gã muốn viết một điều gì đó lên mặt nước, ông ta tưởng mình nghe nhầm, nhưng không phải, đúng là thằng cha ấy muốn thế thật, viết một điều gì đó lên mặt nước bằng con tàu, lạy Chúa, ông chắp hai tay lại, trong khi mọi người lại cười, tất nhiên lẽ ra ông ta phải nghĩ ra ngay là gã bị điên, gã đứng đó khua khoắng, giải thích, dùng tay ra hiệu, mắt gã long lên giống mắt một tên khủng bố lên cơn điên, lẽ ra từng nấy cũng đủ để ông ta thấy rõ gã, cuối cùng ông ta đã thấy, nhưng đến lúc đó, chỉ để giải trí, ông ta nháy mắt với cử tọa xung quanh, ông quyết định hỏi gã cho ra nhẽ, điều gì very important mà gã phải viết lên mặt hồ, gã lại huyên thuyên, nhưng không thể hiểu gã nói gì dù chỉ một lời, mặc dù khi đó gã đã dùng hết mọi phương cách có thể tưởng tượng ra được, rằng thưa thuyền trưởng, như cách gã gọi ông ta, để ông ta hiểu, gã khua chân múa tay, gã dùng chân vẽ lên tuyết con tàu, họ chạy ra khỏi cảng ra giữa hồ, rồi họ chạy như bút trên giấy, like a pencil on the paper, và viết lên mặt nước rằng way that goes out, lần đầu gã nói đại loại thế, sau đó gã nhìn chăm chú lên mặt dockmaster xem ông ta có hiểu không, sau đó gã nói outgoing-way, nhưng thấy người kia không phản ứng gì, đến lúc đó gã đề nghị họ thỏa thuận, hãy viết bằng con tàu lên mặt nước chữ way out, được không? gã hỏi vẻ hy vọng, và tay bám vào áo khoác người kia, nhưng khi đó ông ta đẩy gã ra và đi trên đường dẫn vào cảng, còn gã, Korin, cứ đứng đó không biết làm gì hơn nữa, hoàn toàn bất lực, như người đến khi đó mới nhận ra sự bi đát của tình huống, gã gọi với theo no trafic on the lake? sau mấy bước ông dockmaster dừng lại, ông quay đầu về phía gã kêu lên, nào, thấy chưa, cuối cùng thì người có trí khôn cũng phải hiểu chứ, đúng thế đấy, đúng là no trafic on the lake, no trafic on the lake, và có vẻ như điều này còn vang vọng mãi trong Korin, đến tận khi gã quay lại theo ven hồ, vì gã đi rất chậm, như người vừa chịu một tai họa, lưng gã còng, đầu cúi xuống, và gã đi trên Mythen Quay, vừa đi gã vừa nói to một mình, được rồi, vậy thì tất cả sẽ đi với gã, cả bọn sẽ cùng đi với gã tới Schaffhausen.
4.
Tìm nhà ga trung tâm bây giờ không còn khó khăn đối với gã, vì bằng cách nào đó gã đã nhớ được con đường đi vào phía trong bằng tàu điện mà gã đã đi một lần, nhưng ở trong, khi mọi việc đã đâu vào đấy, gã hiểu rằng muốn mua được vé nhất thiết phải đổi tiền franc[8], mua xong vé gã tìm được đúng toa thì trời đã tối, vì vậy khi gã lên thì trên tàu rất vắng người, đặc biệt là người cần cho Korin, bởi đúng là Korin cần đến một người, nhìn gã là có thể biết, gã đi đi lại lại hai, ba lượt trên các toa tàu, nhìn khắp lượt mọi người rồi lắc đầu vì không thấy thích một ai, cuối cùng trước lúc tàu khởi hành một tích tắc, nghĩa là trước khi tiếng còi của người trưởng tàu đứng cuối đoàn tàu vang lên thì một người đàn bà cao gầy, vẻ nóng vội và lo lắng, trạc bốn mươi, bốn lăm tuổi xuất hiện ở toa cuối, bà ta gần như lao qua cửa toa xe, nhìn vẻ mặt tức tối của bà có thể biết bà đã phải trải qua những khổ sở để lên kịp chuyến tàu này, bà gây cho người ta cảm giác bà không còn tin, bà đã thất vọng, nhưng bà vẫn phải cố thử, và thế là đúng vào giây phút cuối cùng, bằng sự kỳ diệu nào đó bà đã lên được, hơn nữa hai tay bà cầm một lô túi xách khiến bà gần như không đi lại nổi, và đoàn tàu khởi hành ngay, chiếc đầu máy giật các toa hai lần, làm cho người đàn bà, vừa chạy vội với đống túi xách nặng trên tay suýt ngã dúi dụi, tí nữa thì đập đầu vào khoang chứa đồ, và không một ai giúp đỡ bà ta, người duy nhất lẽ ra có thể giúp được bà là một thanh niên Ả Rập, nhưng nhìn dáng người ngả sang bên thì biết anh ta đang ngủ, từ chỗ đang đứng bám thấy vậy người đàn bà không biết làm gì khác hơn là ném đống đồ đạc xuống chiếc ghế gần nhất, và bà cũng ngồi phịch xuống giữa đống đồ đạc, nhắm mắt lại, vừa thở dốc vừa ngao ngán thở dài, bà cứ ngồi thế đến mấy phút không cử động, và cố trấn tĩnh lại, trong khi đoàn tàu đã ra đến vùng ngoại ô, đúng lúc ấy Korin tới toa cuối cùng, gã nhìn thấy người đàn bà ngồi giữa đống đồ, mắt nhắm nghiền, can I help you? gã vội vã tới bên bà ta, nhanh nhẹn xếp chiếc va li, túi xách tay và các túi khác lên khoang chứa đồ, rồi gã ngồi xuống ghế đối diện với người đàn bà, và nhìn sâu vào mắt bà ta.
5.
Thích sự ngăn nắp là một nửa sự tồn tại, như vậy thích sự ngăn nắp là yêu phép đối xứng, yêu phép đối xứng là tưởng nhớ đến sự vĩnh hằng, gã nói sau một lúc lâu im lặng, sau thấy người đàn bà ngạc nhiên nhìn mình, gã gật gật đầu như khẳng định thêm với người bạn đường, rồi gã đứng dậy chăm chú nhìn qua cửa sổ nhà ga đang lùi dần lại phía xa, như thể muốn kiểm tra xem những kẻ săn đuổi gã có ở lại đó không, sau đó gã ngồi trở lại, kéo kín vạt áo khoác, và giải thích thêm: Một hai tiếng nữa, tất cả chỉ còn một hai tiếng nữa thôi.
6.
Lúc đầu người đàn bà chẳng hiểu gã nói gì, và không dễ dàng nhận ra gã nói bằng thứ ngôn ngữ nào, thế là, bà kể với ông chồng đến ngôi nhà thuê để nghỉ ở dãy núi Jura sau bà hai hôm, một đằng vì sau khi bà đã ngồi thở một lát, đằng khác vì người đàn ông rút trong túi ra một mảnh giấy đưa ra cho bà coi, Mario Merz[9], Schaffhausen, trên mảnh giấy có viết dòng chữ kia, ông thử tưởng tượng xem, người đàn bà bực bõ nói với chồng, lại chính là Merz, người rất gần gũi với bà, bà rất ngạc nhiên, có chuyện gì vậy, mãi sau bà mới vỡ lẽ ra rằng người đàn ông không muốn nói một điều gì đó, không muốn kể một câu chuyện, mà muốn hỏi: anh ta có thể tìm thấy Merz ở đâu trong thành phố Schaffhausen, và điều này cũng có thể dẫn tới hiểu lầm, hơn nữa là sự hiểu lầm nực cười, vì gã gọi cái gã tìm là Merz, và bây giờ khi kể lại chuyện này bà ta lại đưa cả hai tay lên che miệng cười, vì không thể tìm Merz ở Schaffhausen, mà ở Torino, người đàn bà giải thích, Merz sống ở đó, và đôi khi ở New York, bà ta không hiểu ai đã khuyên gã tìm Merz ở Schaffhausen, nhưng gã cứ lắc đầu, lắc đầu mãi, và gã nói no Torino, no New York, Schaffhausen, Merz in Schaffhausen, gã không nhớ ra từ thích hợp, mãi lâu sau gã mới nói, sculpture[10], sculpture in Schaffhausen, nghe thấy thế mắt người đàn bà bỗng sáng lên, và bà cười, I am so crazy, bà lắc đầu, à, tất nhiên rồi, có tượng của Merz ở Schaffhausen, trong bảo tàng Hallen für die neue Kunst[11], anh sẽ thấy trong đó, thậm chí hai chứ không phải một, đúng, đúng đấy, Korin sung sướng reo lên, một bảo tàng, trong một bảo tàng, và thế là đã rõ rằng gã muốn gì, gã tìm gì, gã đi đâu, với mục đích gì, và sau đó gã đã kể cho bà ta nghe toàn bộ câu chuyện, đáng tiếc là gã chỉ kể được bằng tiếng Hung, gã dang rộng tay thanh minh, vì lúc này gã không nói được tiếng Anh, gã bị theo dõi và gã chỉ nhớ được một vài từ, nên gã cũng không cố gắng, thôi gã cứ nói tiếng Hung, bà ta gạn lọc, hiểu được chừng nào thì hiểu, vì gã kể về Kasser, về Bengazza, về Falke và về Toót, và gã miêu tả tỉ mỉ, họ đã tới Crete và Britannia thế nào, chuyện gì đã xảy ra ở Roma và Köln, và tất nhiên nhiều nhất là về việc họ đã gắn bó với gã ra sao, gã không thể bỏ rơi họ, vì bà hãy tưởng tượng xem, gã nói với bà bạn đường, mấy ngày nay gã đã thử, nhưng không được, và mãi đến hôm nay gã mới hiểu ra điều này, ở hồ Zurich, Zurich lake, à, Zurich lake, nghe thấy từ quen, mắt người đàn bà ánh lên một tia sáng, vâng, đúng ở đó, Korin gật gật đầu, chính ở đó gã bỗng nhiên nhận ra rằng không thể làm thế, gã không thể bỏ rơi họ như vậy, khi gã biết không có con đường ra ấy, và như vậy chỉ đến hôm nay gã mới hiểu: phải đem họ bên mình, tới nơi mà gã tới, nghĩa là tới Schaffhausen, mặt gã thoáng buồn, tới Hallen für die neue Kunst, người đàn bà đỡ lời, và cả hai cùng cười.
7.
Tên bà ta là Marie, người phụ nữ hơi cúi đầu vẻ thân thiện, và bà có một người chồng tuyệt vời, bà chăm sóc, giữ gìn, giúp đỡ ông ấy, và những việc ấy gần như chiếm toàn bộ cuộc sống của bà, còn tên gã là Korin, gã chỉ vào mình, my name is György, Gyuri, gã nói, a, thế thì anh là người Hung? bà ta đoán, Korin gật đầu xác định, đúng, ô, Hungary, người kia mỉm cười, bà ta đã nghe nhiều về nước Hung, nhưng bà biết về nó rất ít, anh hãy kể cho tôi nghe về người Hung, từ giờ tới Schaffhausen vẫn còn chút thời gian, những người Hung à? Korin hỏi và người phụ nữ gật đầu, vâng, vâng, nghe thế Korin tuyên bố: không có những người Hung, Hungarians no exist, họ đã tuyệt chủng, they died out, sự thể đã bắt đầu từ khoảng 100 đến 150 năm trước, và theo một cách thức không thể tin nổi, hoàn toàn không thể nhận biết được, Hungarians? no exist? người phụ nữ lắc đầu tỏ vẻ không tin, yes, they died out, Korin khẳng định dứt khoát, từ một khi nào đó trong thế kỷ trước đã diễn ra sự pha trộn rất lớn mà cuối cùng không một người Hung nào còn sót lại, chỉ còn sự lai tạp, và vài người Swabia[12], người Di gan, người Slovak, người Áo, người Do Thái, người Rumani, người Croatia, người Serbia vv... và chủ yếu là sự pha trộn của các tộc người kể trên, trong khi người Hung thì đã biến mất, Korin thuyết phục người đàn bà, chỉ còn lại nước Hung trên đất của người Hung, Hungary yes, Hungarians not, nhưng không còn một hồi ức chân thực, nguyên vẹn duy nhất nào về sắc dân tuyệt vời, kiêu hãnh, bất kham này nữa, vì họ là như vậy, họ sống giữa những luật lệ rất hoang dã và rất minh bạch, đó là những người duy trì sự tỉnh táo của họ chỉ nhờ thường xuyên thực hiện những hành động phi thường, những con người dã man và hung bạo, họ đã dần dần đánh mất sự quan tâm tới một thế giới được sắp đặt để thực thi những hành động nhỏ bé, và họ đã suy tàn, đã thoái hóa, đã bị hủy diệt và hòa nhập, và sau họ không còn lại gì ngoài ngôn ngữ, thi ca của họ và một chút gì đó không đáng kể; người phụ nữ nhăn trán lại, nghĩa là sao? bà không hiểu, nhưng sự việc đã diễn ra như thế, và điều thú vị nhất là dù gã hoàn toàn không quan tâm tới việc không một ai nói về sự suy thoái và sự lụi tàn của họ, và về toàn bộ vụ này toàn là những điều giả dối, sai lệch, những sự hiểu lầm và ngu xuẩn, đáng tiếc, người phụ nữ ra hiệu, bà ta không hiểu gì hết, và Korin cũng thôi không nói nữa, và gã yêu cầu người bạn đường hãy viết tên chính xác của cái bảo tàng lên một mẩu giấy, và sau đó gã đút mảnh giấy vào túi, gã cứ im lặng nhìn người phụ nữ, bà ta cũng nhìn gã với ánh mắt đầy thiện cảm và kể cho gã nghe điều gì đó rất chậm rãi để gã có thể hiểu, nhưng Korin không hiểu, hình như gã không để ý nữa, gã cứ nhìn bà, nhìn gương mặt dễ thương của bà, rồi nhìn ánh sáng của các bến xe nhỏ chạy lướt qua.
8.
Đồng hồ của nhà ga Schaffhausen chỉ mười một giờ ba mươi bảy phút, và Korin đứng ngay bên dưới chiếc đồng hồ; sân ga vắng teo, chỉ có một nhân viên đường sắt tay cầm tấm biển hiệu đón tàu và cho phép tàu khởi hành, cũng chỉ thấy ông ta trong chốc lát vì khi Korin quyết định bước tới để hỏi ông ta, thì ông đã mất hút cùng tấm biển hiệu sau cánh cửa phòng công vụ; yên tĩnh, tiếng đồng hồ gõ nhịp trên đầu gã, và một cơn gió mạnh lướt trên sân ga, gã ra khỏi nhà ga, nhưng bên ngoài cũng không một bóng người, thế là gã đi về hướng thành phố, gã cứ đi miết đến khi thấy một chiếc taxi đỗ trước một khách sạn; người tài xế đã ngủ gục trên tay lái, gã phải gõ nhẹ lên cửa kính, cuối cùng anh ta thức dậy, mở cửa, còn gã thì chìa mảnh giấy có ghi tên bảo tàng, anh lái taxi nhìn tờ giấy, rồi gật đầu với vẻ cau có, anh ta ra hiệu đồng ý, vào xe đi anh ta sẽ đưa đi, và thế là chỉ chưa đầy mười phút sau gã đã đứng trước một tòa nhà lớn, tối om, câm lặng, gã tìm cửa ra vào, gã kiểm tra tấm biển bên cạnh xem tên trên đó có giống như trên mảnh giấy không, sau đó gã đi về phía bên trái, rồi quay lại và đi về phía bên phải tới góc đường nơi lúc trước gã vừa xuống xe, và gã đi vòng quanh như người muốn xem xét toàn bộ ngôi nhà, vừa làm thế vừa xoa bóp cổ và dán mắt nhìn những cửa sổ, và gã cứ nhìn, cứ nhìn chúng như muốn tìm ánh sáng trên đó, một cái gì đó lóe lên, một hình bóng, một sắc thái nào đó, một thứ gì đó báo hiệu bên trong vẫn có sự sống, sau đó gã lại quay lại chỗ cửa ra vào, gã đập cửa một cách dứt khoát, và gã cứ đập, đập mãi, nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra; người gác bên trong dám cam đoan rằng, việc đó xảy ra đúng lúc nửa đêm, radio để bàn của anh ta vừa điểm mười hai giờ, và anh ta nghe thấy tiếng đập cửa ngay, nhưng anh ta không nói rằng anh ta biết ngay từ khoảnh khắc đầu tiên là phải làm gì, vì anh ta hơi lúng túng, bởi chưa khi nào có người gõ cửa lúc nửa đêm hay muộn hơn kể từ khi anh phục vụ ở đây, đêm hôm thế này ai lần mò ngoài cổng? anh ta nghĩ vậy và đã ra tới sát cổng, anh ta mở hé cánh cổng, nhưng những gì diễn ra sau đó - anh ta kể lại vào ngày hôm sau khi đã trở về nhà sau cuộc thẩm vấn - khiến anh ta bất ngờ đến nỗi đúng là khi đó anh ta không biết mình phải làm gì, vì đơn giản nhất, anh ta biết rõ, là lẽ ra ngay lập tức phải tống khứ thằng cha ấy đi, nhưng mấy từ mà anh ta hiểu được từ những câu nói của gã như sculpture, Hungarian, Mister Direcror, New York khiến anh ta lúng túng, vì bỗng nhiên một ý nghĩ lóe lên trong đầu anh ta, biết đâu chỉ tại người ta không báo trước cho anh ta, và lẽ ra phải chờ đón con người này, vừa kể lại anh ta vừa nhâm nhi tách cà phê, điều gì sẽ diễn ra nếu anh ta đuổi gã đi như đuổi một kẻ lang thang và sáng ra mới té ra là anh ta đã quyết định sai, vì biết đâu gã là một nghệ sĩ danh tiếng đang được chờ đón, gã chỉ đến chậm và không có chỗ ở, cũng chẳng có số điện thoại, vì chẳng hạn gã đánh mất, có khi hành lý của gã bị thất lạc trên máy bay, chuyến bay đến chậm và mọi thứ của gã đều nằm trong đó, đã nhiều lần, rất nhiều lần xảy ra chuyện tương tự đối với các nghệ sĩ, anh ta phủi tay nhìn mẹ anh ta với nhiều ẩn ý, thế rồi anh ta đóng cổng lại và suy nghĩ, chắc chắn anh ta không đuổi gã đi nhưng cũng không cho gã vào bảo tàng, cũng sẽ không gọi điện cho ngài giám đốc, đã quá nửa đêm, không thể gọi cho ngài, nhưng thế thì anh ta biết làm gì bây giờ, anh ta nghĩ rất lung, và trở về vị trí của mình, đúng lúc ấy bất chợt arth ta nghĩ tới một nhân viên gác phòng, ngài Kalotaszegi, ông này thì mặc dù đã nửa đêm, anh ta sẽ gọi, anh ta quyết định, và tìm số điện thoại trong bản danh mục nhân viên, ngài Kalotaszegi là người Hung, nghĩa là ít ra thì ông cũng sẽ hiểu gã kia nói lung tung những gì, rồi anh ta sẽ mời ông vào đây, ông ấy sẽ hỏi gã kia, và sau đó họ sẽ cùng quyết định sẽ tính sao với gã, Herr Kalotaszegi, anh ta nói qua điện thoại, rất đáng tiếc anh ta phải làm phiền ông, nhưng có một người tới đây, có lẽ là một nghệ sĩ người Hung, nhưng anh ta không biết gì về việc này, và cho tới khi không một ai thông báo với anh ta, thì anh ta không biết xử lý thế nào, anh ta không hiểu gã nói gì, chỉ biết có lẽ gã là một nhà điêu khắc, có lẽ gã đến từ New York, và có lẽ là người Hung, và gã nhắc đi nhắc lại Mister Director, Mister Director, và anh ta không thể quyết định một mình; lẽ ra ông ta có thể tống khứ người gác cổng xuống địa ngục, hôm sau người gác phòng nói lại với giám đốc, ông ta chỉ ngủ được nhờ thuốc ngủ, và khi đã ngủ mà bị đánh thức dậy thì đêm hôm ấy ông ta không thể nào ngủ lại được nữa, anh ta đã đánh thức ông ta lúc nửa đêm và gọi ông ta đến bảo tàng, anh ta nghĩ thế nào chứ? thú thật lúc đầu ông ta đã nghĩ sẽ chẳng đi đâu hết, dẫu sao thì cũng thật đáng phẫn nộ, đánh thức một người khó ngủ như ông ta sau lúc nửa đêm, và đúng lúc đó thì anh ta nhắc đến tên ngài giám đốc, rằng gã kia liên tục nhắc đến Mister Director, thế là ông ta không dám liều, nhỡ vì ông ta không giúp đỡ mà hôm sau có thể sinh ra chuyện phiền hà, vì thế mà ông ta cố dậy, nuốt giận vì dù sao cũng đã quá nửa đêm, mặc quần áo và đi đến bảo tàng, và thật may, rất may là ông ta đã tới, và lúc này ông ta còn chưa thể nói may mắn cực kỳ làm sao là sự việc đã diễn ra như thế - ngài giám đốc biết đấy, ông ta không thích dùng những ngôn từ đao to búa lớn - nhưng sau đó đã diễn ra một đêm dị thường nhất trong đời ông ta, và việc ông ta đã trở thành chứng nhân ngẫu nhiên tại đây từ lúc mười hai giờ rưỡi đêm tới giờ đã làm ông ta xáo động tới mức đến giờ ông chưa trấn tĩnh nổi, và vì ông ta còn đang bị tác động mạnh bởi những ấn tượng hoàn toàn không thể hiểu nổi, có thể ông ta sẽ không tìm được những ngôn từ thích hợp, và vì thế ông ta xin ngài giám đốc thứ lỗi, nhưng ông ta rất suy sụp, đúng là rất suy sụp, đúng ra là ông ta chưa hoàn toàn hồi tỉnh, chỉ một điều duy nhất có thể thanh minh cho ông ta là sự việc mới xảy ra cách đây chưa đầy một phút, thậm chí ông ta có cảm giác, rằng khi họ ngồi vào phòng giám đốc lúc này đây nó còn chưa chấm dứt, và ông ta có thể bắt đầu tất cả từ đầu: ông ta tới có lẽ sau lúc nửa đêm không lâu, ông ta gõ cửa và người gác ra, anh ta giải thích sự việc, trong khi gã kia cũng tới, bởi vì trước đó gã ngồi đợi cách lối ra vào chừng mươi mười lăm mét, và gã chăm chú nhìn lên các ô cửa sổ, gã tới, ông ta tự giới thiệu và gã mừng vì nghe thấy ông nói với gã bằng tiếng Hung đến nỗi gã ôm chầm lấy ông ta, tất nhiên động tác ấy làm ông ta ngạc nhiên, vì trong những năm gần đây, từ khi sống ở Schaffhausen, ông ta đã quên thói quen bộc lộ tình cảm nồng nhiệt và thái quá kiểu này, thế là ông ta đẩy gã ra và nói tên mình, nói ông ta là ai, và nói ông ta muốn giúp gã nếu giúp được, thế là gã kia cũng tự giới thiệu, tên gã là Dr. Korin György, gã nói, sau đó gã trình bày rằng gã tới chặng cuối cùng của một chuyến đi rất dài, và gã khó diễn đạt niềm vui của mình, rằng đúng vào lúc này, trong cái đêm, đối với gã, mang tính quyết định số phận này, gã lại được chia sẻ bằng tiếng Hung, sau đó gã kể gã là một nhân viên lưu trữ trong một thành phố nhỏ ở Hungary, gã đã tới New York vì một vụ việc vượt quá xa tầm quan trọng của bản thân gã, và cách đây không lâu sau một cuộc săn đuổi kinh hoàng gã đã từ đó tới đây, vì đích đến của gã là Schaffhausen, là Hallen für die neue Kunst, cụ thể hơn là tác phẩm nổi tiếng thế giới của Mario Merz, theo gã biết, nó ở đâu đó trong này, gã chỉ vào tòa nhà, đúng, ông ta nói, đúng là bảo tàng chúng tôi có hai tác phẩm của Merz ở tầng trệt, khi đó đã có thể thấy cả người gã run lên, chắc gã bị lạnh trong khi chờ đợi, thế là ông ta gọi người gác cổng bảo anh ta hãy cho phép cuộc trò chuyện diễn ra ở bên trong, vì bên ngoài gió thổi mạnh, người gác cổng đồng ý và họ vào trong nhà, đóng cửa phòng thường trực lại, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn, và Korin bắt đầu kể, bắt đầu từ rất xa - xin nói vắn tắt nếu có thể, ông giám đốc yêu cầu, người gác phòng gật đầu, ông sẽ tìm mọi cách để kể thật ngắn gọn, nhưng câu chuyện lòng thòng đến nỗi, và hơn nữa mới đến nỗi ông còn chưa biết điều gì là quan trọng và điều gì không, có điều chắc chắn là - ông ta liếc nhìn giám đốc - ông ta nhìn gã, một người cao gầy trạc tuổi trung niên, đầu nhỏ, trọc lốc, mắt sáng rực, đôi tai to, vểnh, và ông ta biết, biết ngay khi họ vừa ngồi vào phòng thường trực, rằng gã điên, nhưng ông ta không biết rằng gã đã thuyết phục được ông ta, đã khiến ông ta đứng về phía gã bằng cách nào, vì rõ ràng là dù gã có điên chăng nữa, nhưng gã không nói năng vô nghĩa, vì người ta phải lắng nghe gã, vì câu chuyện của gã đưa người ta tới đâu đó, và như vậy mỗi từ gã nói đều có ý nghĩa, hơn nữa có ý nghĩa bi kịch, bi kịch mà ông ta, kể từ đó trở đi, cũng cảm thấy mình là người trong cuộc; Herr Kalotaszegi, ông giám đốc lại cắt ngang, vì những công việc đang chờ đợi cả hai chúng ta, xin ông hãy nói ngắn gọn lại, nếu có thể, vâng, dĩ nhiên rồi, người gác phòng gật đầu hối lỗi, tóm lại là gã đã kể lại câu chuyện của gã bắt đầu từ cái thành phố Hungary nhỏ bé ấy, nơi trong một buổi làm việc gã tìm thấy một cảo bản bí ẩn, cho tới khi gã mang tập cảo bản ấy sang New York, sau khi, thưa ngài giám đốc, gã đã bán hết mọi thứ như nhà cửa, tài sản, đồ đạc và bỏ lại tất cả, bạn bè, công việc, ngôn ngữ, tổ quốc và đến New York để chết, thưa ngài giám đốc, và qua một mê lộ kỳ lạ, qua những điều khủng khiếp không gọi thành tên mà gã không muốn nói tới, cuối cùng một sự ngẫu nhiên đã đưa gã tới đây, vì gã nghe được một điều gì đó, gã nhấn mạnh một điều gì đó về một bức tượng, chính xác hơn là gã nhìn thấy bức tượng này trên một bức ảnh, và gã quyết định phải tận mắt thấy nó trong thực tế, vì gã đã yêu nó, con người này, thưa ngài giám đốc, người gác phòng nói, đã yêu tác phẩm của Merz theo đúng nghĩa của từ này, và gã muốn ở trong nó một giờ, anh ta muốn gì? ông giám đốc cúi người về phía trước như không tin vào tai mình, gã muốn ở trong nó một giờ, người gác phòng nhắc lại, và dĩ nhiên ông ta, một người gác phòng, không thể nào đồng ý, Ông ta thử giải thích cho gã hiểu ông ta không có quyền làm việc đó, nghĩa là ông ta đã từ chối yêu cầu của gã, nhưng ông ta đã nghe câu chuyện của gã, và câu chuyện, như ngài giám đốc cũng đã thấy rõ, đã khiến ông ta bị thuyết phục, đã loại trừ từ trong ý nghĩ của ông ta về sự cưỡng lại hay phản đối, vì thú thực trong khi nghe gã ông ta đã xúc động thực sự, ông ta biết chắc rằng gã không nói vu vơ, đúng là gã đã tới Schaffhausen như tới chặng cuối của cuộc đời mình, một người Hung, một kẻ đáng thương nhỏ bé, người mang trong đầu một sự ám ảnh, rằng tập cảo bản tìm thấy ở nước Hung, sau khi gã thấy nó kỳ diệu và đầy sức thuyết phục, gã muốn chuyển tiếp nó tới cõi vĩnh hằng, ngài có hiểu không, ngài giám đốc? người gác phòng hỏi, vì vậy mà gã tới New York, vì gã nghĩ đó là trung tâm thế giới, và gã muốn hoàn thành công việc của mình ở trung tâm thế giới, nghĩa là việc chuyển tiếp tập cảo bản, như gã diễn đạt với người gác phòng, vào cõi vĩnh hằng, gã đã kiếm một chiếc máy tính, viết tất cả tập cảo bản đưa lên Internet, bằng cách đó gã đã hoàn thành, gã giải thích, Internet, gã nhắc đi nhắc lại bên cạnh chiếc bàn ở phòng thường trực cách đây mấy tiếng, đó là con đường chắc chắn nhất cho tới nay, đó là sự ám ảnh của gã, người gác phòng cúi đầu, và gã còn bảo bằng mọi giá gã phải chết, vì đối với gã cuộc đời đã mất hết ý nghĩa, người gác phòng lại liếc mắt nhìn ngài giám đốc, điều này gã nói như đinh đóng cột, gã nhắc đi nhắc lại, rằng điều này chỉ liên quan đến một mình gã, chỉ đối với gã cuộc sống đã trở nên vô nghĩa, và điều này tường minh như tinh thể trong đầu gã, tuy nhiên các nhân vật trong tập cảo bản đã gắn bó keo sơn với gã, đến nổi lúc này chỉ duy nhất vấn đề này là không tường minh như tinh thể, gã nói, gã phải làm gì với những nhân vật đã gắn bó với gã, vì họ không muốn rời xa gã, như thể họ muốn đi cùng gã, gã đã nói đại thể như vậy, nhưng gã không nói rõ hơn, và gã không hé lộ chính xác xem gã định làm gì, gã chỉ cố nèo thêm một vài lần nữa để ít ra gã có thể nhìn tác phẩm của Merz, và tất nhiên là ông ta, người gác phòng, phải từ chối, để đến sáng, ông liên tục trấn an gã, không có buổi sáng đâu, Korin đáp, sau đó gã nắm tay ông, nhìn thẳng vào mắt ông và bảo, ngài Kalotaszegi, trong trường hợp này gã có hai đề nghị, một là nếu có thể cho gã gặp ngài giám đốc, và nếu một lúc nào đó nếu ngài giám đốc trao đổi được với Merz, thì ngài giám đốc nhất thiết hãy nói với ông ta rằng, bức tượng của ông ta đã giúp gã rất nhiều, vì khi gã đã tưởng rằng không, thì trong khoảnh khắc cuối cùng gã lại có nơi để đến, và vì điều này gã nhiệt thành cảm ơn ông ta từ trái tim mình, và gã đề nghị, hãy nói với ông ta rằng, gã, tức Korin György, từ Hungary, sẽ luôn nghĩ đến ông ta như nghĩ đến ngài Merz quý mến, đó là một yêu cầu của gã, còn yêu cầu kia, và về cơ bản vì vậy mà ông ta ngồi đây lúc này, người gác phòng chỉ vào mình, gã yêu cầu hãy cho phép gã gắn một tấm biển vào chỗ nào đó “trên bức tường bảo tàng của ngài Merz”, gã sẽ trả một đống tiền, người gác phòng kể, để làm tấm biển từ số tiền đó và gắn nó lên tường, và khắc lên đó một câu duy nhất, gã đã viết câu đó lên một mảnh giấy, người gác phòng nói và chìa mảnh giấy, để linh hồn gã luôn được ở cạnh ngài Merz, Korin nói, để cùng với những người khác gã luôn được ở nơi gần nhất có thể, gã giải thích như vậy, nghĩa là một tấm biển, thưa ngài giám đốc, số tiền đây, mảnh giấy đây, ông ta đưa qua bàn cho ngài giám đốc; nhưng khi Kalotaszegi trình bày chuyện này, ông cũng cảm thấy sự việc rối như mớ bòng bong, ngài giám đốc kể lại với mấy người cảnh sát vừa đến văn phòng gần như cùng một lúc với vợ ông, tự nhiên ông cảm thấy có một cái gì đó rất cuốn hút, và đúng là bi kịch, thế nên ông bắt đầu hỏi người gác phòng, ông lần theo câu chuyện từ đầu đến cuối, và cố gắng nối ghép những mảnh vỡ của câu chuyện qua lời trình bày của ông Kalotaszegi, với tình tiết cuối cùng là anh chàng Korin György kia chào người gác phòng và đi ra - và ông đã nối ghép thành công ở mức nào đó, và câu chuyện đúng là nghẹn thở và xúc động mạnh, ông công nhận, mặc dù ông chỉ bị thuyết phục hẳn khi ông bật máy tính kiểm tra lại Alta Vista thường được nhắc tới trong câu chuyện, và tận mắt thấy đúng là tập cảo bản tồn tại dưới nhan đề War and War và ông đã yêu cầu ông Kalotaszegi dịch cho ông nghe những câu đầu tiên, và những câu văn đó, dù chỉ được dịch thô vội vàng, vẫn tuyệt đẹp và đầy sức thuyết phục, đến nỗi khi vợ ông đến, ông chỉ tay về phía bà vợ, thì ông đã quyết, ông quyết định sẽ làm gì, vì xét cho cùng ông làm giám đốc để làm gì nếu không để đưa ra quyết định sau một đêm như thế này, sau khi làm việc xong với cảnh sát, ông sẽ bắt đầu ngay, sẽ cùng với ông Kalotaszegi chọn một chỗ thích hợp trên bức tường ngoài kia, vì ông đã quyết định, ông tuyên bố, sẽ gắn một tấm biển lên tường, một tấm biển đơn giản, trên đó ghi điều gì đã xảy ra với Korin György trong giờ cuối cùng, trên đó sẽ khắc đúng từng chữ câu ghi trên mảnh giấy, vì con người này xứng đáng tìm thấy sự an lạc ở đây trong câu văn ghi trên tấm biển, con người mà, ông giám đốc hạ giọng, kết cục là Schaffhausen,
và kết cục đúng là ở Schaffhausen.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Đức: và.
[2] Grüessgott (tiếng Đức): kính Chúa.
[3] Tiếng Anh: Tôi muốn mua một khẩu súng ngắn.
[4] Aber (tiếng Đức): nhưng. Ý câu này là bọn chúng đòi trả tiền mặt.
[5] Vòng quay khổng lồ: bánh xe lớn dựng đứng có lắp ghế, hoặc cabin nhiều ghế ngồi, được dẫn động quay tròn quanh trục.
[6] Sông chảy từ phía Bắc hồ Zurich, chảy theo hướng Tây-Bắc 35 km rồi đổ vào sông Aare.
[7] Người trông coi các công việc ở cảng.
[8] Đơn vị tiền tệ Thụy Sĩ.
[9] Mario Merz (1925-2003): nhà điêu khắc và họa sĩ người Ý.
[10] Tiếng Anh: tượng, tượng đài.
[11] Tiếng Đức: Phòng nghệ thuật mới.
[12] Tiếng Đức: Schwaben: vùng lãnh thổ miền Tây Nam nước Đức, nay là một phần của khu Baden-Wurtemberg và vùng Bavaria.