Nếu các vị hỏi về an ninh, thì chuyện này các vị có thể yên tâm, trong trường hợp của y an ninh hoàn toàn được đảm bảo, người phiên dịch bắt đầu, theo đúng hướng dẫn đầu tiên là hãy ngồi thẳng, không quay trái quay phải trong chiếc xe Lincoln, rồi y nói thêm, chỉ với người bạn đời của y là có thể có chuyện gì đó, nhưng thị bị thiểu năng trí tuệ, nghĩa là một con bệnh, và vì thế hoàn toàn có thể bỏ qua, y đã lôi thị lên từ một vũng lầy Puerto Rico, từ sự vô vọng tuyệt đối, từ bế tắc và rác bẩn, thị tay trắng, cả ở nhà - nơi từ đó thị đã trốn sang Hợp chúng quốc, cả ở đây - nơi thị không có một thứ giấy tờ gì hết, cho tới khi số phận run rủi cho thị gặp được y, nhờ y mà thị được sống, các vị biết đấy, nhờ y mà thị có tất cả, thậm chí hơn cả tất cả, vì thị biết rằng, thị có thể mất hết tất cả những thứ đó chỉ trong nháy mắt, nếu thị không xử sự hợp lẽ, thị có thể mất bất cứ lúc nào, tóm lại thị không phải là một ca đáng kể, nhưng đối với y thế là đủ, vì đúng là thị hơi tối dạ, nhưng thị biết nấu nướng, quét dọn và biết sưởi ấm chăn đệm, chắc các vị hiểu y nghĩ đến chuyện gì, à, ở với họ còn một người nữa, nhưng thực ra y chỉ nhắc đến gã cho đúng quy định, bởi gã chỉ là dạng cơ nhỡ tạm thời, một tay người Hung gàn dở, gã chỉ cư ngụ ở đây vài tuần cho tới khi tìm được nơi ở ổn định, có một phòng ở phía sau, y chỉ lên ngôi nhà, vì đúng lúc ấy xe lại chạy qua trước ngôi nhà, đấy, họ cho gã ở trong căn phòng ấy, nghĩ cho cùng thực ra vì tình đồng hương, họ thấy thương hại gã, một tay rất lơ ngơ và hoàn toàn có thể bỏ qua, đơn giản là một gã mờ nhạt, có thể đặc tả gã ngắn gọn nhất và chính xác nhất như thế, tóm lại có gã người Hung dở người, cô gái Puerto Rico và y, tình hình là như vậy, đó là sự thật trần trụi, an toàn tuyệt đối, y không có bạn bè, một mình y tự xoay xở, y không là thành viên của một tổ chức nào, chỉ thỉnh thoảng có vài người quen từ quầy cho thuê băng video hay từ sân bay, nơi trước đây y làm việc, đấy, có vậy thôi, y nói, khi nói tới đây y bảo, các vị cứ nêu thêm câu hỏi, nhưng hàng ghế sau không động đậy, và không có câu hỏi nào thêm, họ im lặng lượn một vòng nữa quanh tòa nhà người phiên dịch ở, như vậy khi y có thể ra khỏi xe và đi lên nhà thì y có vẻ đang suy nghĩ điều gì đó, Korin nói khi hai người gặp nhau trên cầu thang, y đi lên và Korin đi xuống, chào buổi tối, ngài Sárváry, nhưng ngài Sárváry đang suy nghĩ rất lung, nhưng nếu ngài không giận thì ngay trên bậc cầu thang, gã muốn nói, vì ở trên nhà hai người gần như không nhìn thấy nhau, rằng cái vụ đáng tiếc hôm nọ chỉ là một sự hiểu lầm, gã không hề có ý nghĩ can dự, tò mò hay can thiệp vào cuộc sống của người khác, chuyện đó rất xa lạ đối với gã, nhưng nếu đã có thể hiểu lầm thì đó là lỗi của gã, và bây giờ gã xin lỗi về chuyện đó, thật thế, Korin nói với theo người phiên dịch, nhưng vô ích vì chỉ có bức tường trống đón lấy những lời cuối cùng của gã, bởi người phiên dịch đã phẩy tay bảo hãy để cho y yên, và y đã lên đến tầng trên, thế là sau một lúc lúng túng Korin tiếp tục đi xuống, và đúng năm giờ mười phút gã bước ra đường, và gã lại bắt đầu, nghĩa là gã lại có thể bắt đầu, vì tiết trời mưa gió không thể chịu nổi đã kết thúc mấy hôm nay, trời tuy lạnh nhưng khô ráo, và gã lại có thể đi, có thể tiếp tục khám phá những bí ẩn của New York, theo cách gã nói với người đàn bà, gã xuống tàu điện ngầm đi đến Columbus Circle, từ đó gã vươn dài cổ cuốc bộ giữa những tòa nhà khổng lồ dọc Broadway, sau đó theo Fifth Avenue hay Park Avenue gã đi tới Union Square, từ đó lúc thì gã quành về phía Greenwich Village, lúc về phía Soho, dọc theo các con phố Wooster, Greene và Mercer, để rồi từ Chinatown, hoặc trên nữa, từ các tòa tháp của World Trade Center gã quay lại ngồi tàu điện ngầm về Columbus Circle và Washington Avenue, mệt mỏi và thường là với bí ẩn không được giải đáp gã quay về căn hộ trên phố 159, đọc lại những thứ đã viết trong ngày, và nếu thấy mọi việc đều ổn, thì gã lưu lại bằng cách nhấn một nút thích hợp, nghĩa là, như gã nói, tất cả đều diễn ra đúng quy cách và thuận lợi, theo một trật tự đúng và dễ chịu, hay như gã nói, ở bên kia thi ca lớn dần lên, thì thời gian của gã cạn dần ở bên này, nhưng điều đó không làm gã lo ngại, mà trái lại khiến gã vô cùng hài lòng, bởi gã biết cơ hội duy nhất của gã ở đây là gì, là tất cả tồn tại trong trạng thái cân bằng định mệnh này, giữa sự vĩnh hằng và những ngày đang vơi dần, sẽ đúng như dự kiến ban đầu của gã: một bên cứ lớn dần lên, và một bên cứ hao hụt dần đi.
2.
Trong góc phòng, đối diện với chiếc giường, vô tuyến đang mở, và chiếc vô tuyến này chiếu kênh chuyên phát chương trình quảng cáo liên tục: một người đàn ông vui tính và có duyên cùng một phụ nữ vui tính và duyên dáng đang mời chào các đồ trang sức kim cương và đồng hồ đính kim cương, có thể đặt mua qua điện thoại, nghĩa là có thể đặt ngay các vật được giới thiệu trên màn hình với giá được nói là cực hời ghi ở góc dưới màn hình qua một số điện thoại chạy liên tục trên vạch dưới cùng của màn hình, trong khi các thứ đồ trang sức và đồng hồ, cũng như các viên đá quý đính trên chúng thỉnh thoảng lại sáng lóe lên dưới luồng sáng chiếu lên; những lúc như thế đầu tiên là người phụ nữ, sau đến người đàn ông xin lỗi khán giả với giọng vui đùa, rằng đáng tiếc là họ chưa có những camera có thể khử bỏ được ánh sáng rực rỡ này, nên chúng cứ sáng chói rực rỡ như thế, người phụ nữ cười với khán giả, cứ làm lóa mắt và sáng long lanh, người đàn ông cũng cười, và trong căn phòng này họ đã cười không vô ích, vì cô ả tình nhân của người phiên dịch dù không tỏ ra một dấu hiệu mảy may nào là có quan tâm đến, tại điểm này, cũng như phần lớn thời gian trong ngày thị cứ mặc nguyên quần áo nằm trên chiếc giường chưa trải, nhìn như dán mắt lên màn hình, lúc nào cũng hơi mỉm cười, chắc ả đã nghe cả ngàn lần những câu pha trò kia, nhưng khi người phụ nữ và người đàn ông dẫn chương trình nói đến đây thì không lần nào thị không mỉm cười, và khi dòng chữ TELESTORE, TELESTORE, TELESTORE hiện lên, người phụ nữ chạy vào và người đàn ông chạy theo sau, tiếng vỗ tay ghi âm sẵn vang lên, và các đồ trang sức đầu tiên hiện lên giữa các nếp lượn sóng được khéo léo tạo ra trên những mảnh nhưng đỏ rực, tiếng thuyết minh vô tư về trọng lượng, giá trị, kích cỡ và giá cả, sau đến lời pha trò của người phụ nữ và người đàn ông về camera, về ánh sáng và sự rực rỡ, cuối cùng là sự kết thúc, tạm biệt, vẫy chào, một điệu nhạc nhỏ dần, nhưng tất cả lại bắt đầu từ đầu ngay lập tức, họ lại bước ra, tiếng vỗ tay, những tấm nhung đỏ và những câu pha trò, cứ thế tiếp tục diễn đi diễn lại, sự lặp lại vô cảm lạnh lùng, như khắc sâu vào trí não người xem, rằng sự xuất hiện của họ, tiếng vỗ tay, tấm nhung đỏ và hai câu pha trò mãi mãi là thế, còn thị thì cứ nằm trên giường, trong căn phòng tối và nhìn mãi, nhìn mãi lên màn hình như bị thôi miên, và khi hai người kia cười, thị cũng hơi mỉm cười với họ.
3.
Đại giáo đường, một hôm Korin nói với thị ở bếp, đơn giản là một công trình nguy nga, đã chinh phục họ hoàn toàn, enthralling, và thực chất không thể nói được là điều gì đáng ngạc nhiên hơn, gã nói, sự mô tả về đại giáo đường này, nghĩa là mô tả về sự bị mê hoặc của họ, hay cảo bản sau phần về Crete - tiểu thư có còn nhớ, Korin nhắc người đàn bà, là họ ngồi trên con tàu đi về phía Alasiya, bỏ lại phía sau ngày tận thế tăm tối, the day of doom, nói cách khác là khi chương về Crete kết thúc, nó không đi tiếp, không tiếp tục, không triển khai và tiến lên phía trước, mà nó bắt đầu lại, resumption, gã chắc chắn rằng ý nghĩ này là đầu tiên và duy nhất, cái gì đó giống như một câu chuyện đã bắt đầu, rồi nó tiếp tục bằng cách bắt đầu lại, cô có hiểu không, tác giả vô danh từ gia đình Wlassich đã quyết định bắt đầu viết một cái gì đó giống như một câu chuyện, và đã viết đến một đoạn nào đó với các nhân vật của mình, nhưng ở đó ông ta không đi tiếp, mà bằng cách đương nhiên nhất, a matter of course, ông ta bắt đầu lại từ đầu, nhưng không phải ông ta chán điều đã viết và ném bỏ nó để bắt đầu lại, mà ông ta không chán nó, không vứt bỏ, nhưng vẫn bắt đầu viết lại, và điều đó đã diễn ra như thế, Korin nói, sau khi đi tàu tới Alasiya, bốn người kia đã đến một thế giới khác hẳn, và đặc biệt là, gã nói thêm, khi đọc tiểu thư sẽ không thấy khó chịu hay xa lạ chút nào, sẽ không tự bảo, à hóa ra chỉ là cuộc hành trình thời gian, đấy, nó còn thiếu đúng cái đó, một hành trình thời gian nữa, từ thời đại này sang thời đại khác, vậy thì, tại sao một người nào đó lại nghĩ rằng những hành trình thất bại kiểu này của trí tưởng tượng vụng về còn chưa đủ? không, khi đọc người ta không nói điều này, mà ta chấp nhận ngay rằng như thế là đúng, ta coi ngay đó là chuyện dễ hiểu, rằng sự việc là thế, rằng bốn con người bằng cách nào đó lại xuất hiện từ tiền sử mù mờ kia lúc này đang ngồi bên cửa sổ của một quán bia ở góc đường Domkloster[1], đúng là họ đang ngồi đó thật và nhìn về phía công trình đối với họ là kỳ diệu, họ nhìn nó cao lên từng ngày, nhìn khối đá nọ đặt chồng lên khối đá kia, trong khi hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên mà họ ngồi trong cái quán bia ở góc phố kia ngày này qua ngày khác, và đúng tại chiếc bàn này, tại điểm đắc địa nhất này, từ đó họ có thể nhìn mọi thứ rất gần từ phía Tây Nam, từ đây có thể thấy rõ nhất thánh đường này, nếu xây xong, sẽ là thánh đường vĩ đại và ấn tượng nhất trong mọi thánh đường trên thế giới, và mấu chốt ở đây, Korin nhấn mạnh với người đàn bà, bởi cảo bản cũng rất nhấn mạnh điều này, là họ nhìn từ phía Tây Nam, southwest, từ chỗ gọi là chân tháp phía Nam, hơn nữa từ một điểm nhất định của nó, gần như từ chỗ chiếc bàn họ ngồi, chiếc bàn dành riêng cho họ làm bằng gỗ sồi nặng, họ có thể yên tâm gọi chiếc bàn ấy như vậy, vì chính ông Hirschhardt, chủ quán bia, cho phép họ coi đó là chiếc bàn dành riêng cho họ, sau một tuần ông ta bảo họ với vẻ thân thiện hoàn toàn trái ngược với tính cách thô vụng của ông, rằng cái bàn này, meine liebe Herren[2], là bàn chỉ dành cho các vị, sau đó ông ta còn nhắc lại nhiều lần, điều đó không chỉ có ý nghĩa đẳng cấp, mà còn là sự kiện, fact, vì bao giờ họ cũng ngồi vào bàn ấy, khi ông Hirschhardt đến mở cửa, cánh cửa quán vừa mở là họ đã có mặt, và chiếm ngay chiếc bàn cạnh cửa sổ vì tầm nhìn của nó, như thể họ theo dõi ông Hirschhardt từ chỗ nào đó, lần nào họ cũng bất chợt xuất hiện, và đúng là họ theo dõi ông thật và đợi ông ở gần đó, vì tất cả bọn họ đã thức từ sáng sớm, và khi ông Hirschhardt vừa kéo hai tấm cánh cửa quán bia, thì họ đã kết thúc chuyến đi bộ buổi sớm vài giờ về phía thánh đường, từ Marienburg dọc theo bờ sông Rhine trong gió lạnh, sau đó rẽ trái tại bến phà Deutz về phía Neumarkton, rồi đi giữa nhà thờ St. Martin và Rathaus, qua Alter Mark, để cuối cùng qua những con hẻm chật hẹp của Martinsviertel tới thánh đường, the cathedral, và họ tiếp tục đi vòng quanh, hầu như không nói gì với nhau, vì trên bờ sông Rhine đúng là gió vẫn lạnh, và họ, Korin nói, đã ngấm lạnh khi bước qua bậu cửa quán bia của ông Hirschhardt, khi ông ta mở cửa vào tầm chín giờ.
4.
Tin ở Köln sẽ chuẩn bị xảy ra một cái gì đó đã đến tai Falke tại một cái chợ, trên đoạn đường chạy trốn khi họ đi qua vùng Hạ Bavaria, Korin nói, vì anh ta hỏi tại lều của một người bán sách về tác phẩm của một ông Sulpiz Boisserée nào đó, anh ta đã mở cuốn sách, thậm chí còn hơi đứng né sang một bên để xem, người bán sách, the book seller, sau khi biết chắc rằng Falke không định ăn cắp, mà là người mua tử tế, đã kể cho anh ta nghe, rằng đúng, sự lựa chọn của Falke cho thấy một sự cảm nhận tinh tế nhất, vì ở Köln đang chuẩn bị diễn ra những sự kiện lớn, thậm chí, theo người bán sách, sự kiện chấn động thế giới, và về việc này, cuốn sách mà Falke đang cầm trên tay, là công trình xuất sắc nhất, người bán sách khuyên anh ta mua, với lời khuyên nghiêm chỉnh nhất có thể, tác giả cuốn sách là hậu duệ trẻ tuổi của một gia đình buôn bán lâu đời, người đã đính hôn và nguyện gắn bó cả cuộc đời với nghệ thuật, người coi mục đích chính của cuộc đời này là, nói thế nào nhỉ, làm người ta quên lãng một vụ bê bối cỡ thế giới bằng một sự kiện chấn động thế giới, gã bán sách cúi sát Falke, chắc quý ông cũng biết chính xác điều gì đã xảy ra năm 1248, khi tổng giám mục Konrad von Hochstaden đặt nền móng cho thánh đường, và chắc quý ông cũng biết số phận tiếp theo của ý tưởng siêu nhân này, bằng viên đá kia đặt nền móng cho thánh đường cao nhất và tráng lệ nhất thế giới, vì dĩ nhiên đây là nói về Gerhard, kiến trúc sư và ma quỷ, the devil, gã bán sách nói, và về cái chết kỳ lạ của Gerhard, nghĩa là kể từ sau năm 1279 không một ai hoàn thành nổi thánh đường, kể cả Meister Arnold cho tới năm 1308, cả con ông ta là Johannes cho tới năm 1330, cả Michael von Savoyen sau năm 1350, thậm chí không một ai đạt được tiến bộ nào đáng kể ở đây, sự thật là, người bán sách kể tiếp, sau 312 năm đầu tiên người ta đã dừng việc xây dựng lại, và nó đứng đó, trong trạng thái dang dở và thật buồn, chỉ có Chor, dàn hợp xướng, Sakristei, tức là nơi để đồ thờ và 58 mét đầu tiên của tháp phía Nam được xây xong, phần còn lại thì chưa, và theo lời đồn thổi thì nguyên nhân tất nhiên là Gerhard, sự liên minh với ma quỷ của ông ta, câu chuyện hơi mờ ám của ông ta với những bí mật xung quanh việc xây dựng đường cống ngầm, có điều chắc chắn là năm 1279, như người ta nói: do mất trí, ông ta đã nhảy từ giàn giáo xuống và từ đó tất cả như bị nguyền rủa và đúng là trong mấy thế kỷ công trình chưa được hoàn thành, tòa thánh đường cứ đứng trên bờ sông Rhein trong trạng thái ngán ngẩm như từ khi người ta kéo chuông lên, sau năm 1437 người ta bỏ mặc nó thế, người ta nói do thiếu một số lượng tallér[3] khổng lồ, nhưng trong thực tế họ nói về Gerhard, thường xuyên nói tới Gerhard, vì mọi người đoán ra nguyên nhân, và họ có cái lý của họ, the cause, người bán sách nói, rồi đến năm 1814, và trong năm 1814, tức là 246 năm sau khi ngừng việc xây dựng một người đàn ông nhiệt tình, tử tế, dam mê, ông Sulpiz ấy bằng cách nào đó bỗng tìm ra những bản vẽ thánh đường từ thế kỷ 13, chính là các bản Ansichten, Risse und einzelne Theile des Doms von Köln mà Gerhard đã sử dụng, ông ta đã tìm thấy chúng và trở thành nô lệ của chúng, và chính ông ta lao vào sự nguyền rủa Gerhard đã chịu đựng, và bây giờ cuốn sách ấy đây, người bán sách chỉ vào cuốn sách trên tay Falke, và cả cái tin này nữa, thánh đường sẽ được xây dựng tiếp, sau khi đặt viên đá nền móng 621 năm, nghĩa là quý ông đã rất có lý khi cầm cuốn sách lên tay, và rất khôn ngoan nếu giữ nó ở đó, và mang về với giá đặc biệt hời, quý ông sẽ bắt đầu nghiên cứu, vì đã sở hữu một tác phẩm sẽ còn mang lại cho quý ông nhiều niềm vui, và nói không quá là một tác phẩm hi hữu, người bán sách hạ giọng, trên thế giới này.
5.
Voigtel, tức Dombaumeister[4], là cái tên hay được nhắc tới nhất, cũng như Dombauverein[5] và Dombau-fonds[6], và Westfassade[7] và Nordfassade[8], và Südturm[9] và Nordturn[10], và quan trọng nhất là hôm qua đã tiêu tốn hết bao nhiêu tallér và mác, ngày hôm nay còn tốn bao nhiêu, đó là điều phun ra từ lão Hirschhardt mặt mũi khó đăm đăm ngày này qua ngày khác, trong lúc lão công nhận, nếu một khi nào đó thánh đường được xây dựng xong, nó sẽ là một kỳ quan của thế giới, khi đó, theo cách diễn đạt của lão, thế giới văn minh chắc chắn sẽ để ý tới nơi này, tuy nhiên chẳng lần nào lão quên không nói thêm, rằng theo lão nó sẽ chẳng bao giờ xong, vì với một Dombauverein và một Dombau-fonds như thế này điều đó là không thể, lão nói, cứ cái cảnh đấu đá đùn đẩy thường xuyên giữa Giáo hội và Triều đình là ai sẽ trả tiền, thì sẽ chẳng ló ra điều gì tốt lành hết, chứ chưa nói đến kỳ quan thế giới, và cứ tiếp tục như thế, bất kể nói tới chuyện gì, Hirschhardt không bao giờ cạn trong việc bêu riếu, gièm pha, châm chọc và nghi ngờ, lúc thì lão chửi rủa những người thợ đẽo đá, lúc thì thợ mộc, lúc thì những người chở đá, lúc thì những người thợ khai thác đá của Konigswinter, Staudernheim, Oberkirchen, Rinteln và Hildesheim, cái chính là lão có thể chửi rủa một ai đó, thế đấy, Korin kể, nhưng không ai biết rõ hơn Hirschhardt điều gì đang diễn ra ngoài cửa sổ, ví dụ như lão biết hiện đang có 368 thợ đẽo đá, 15 thợ mài đá, 14 thợ mộc, 37 thợ nề và 113 thợ phụ làm việc tại đây, lão biết nội dung của các cuộc đàm phán gần đây nhất giữa các đại biểu giáo hội và hoàng gia, lão biết về sự bất hòa giữa đám thợ mộc và thợ đẽo đá, giữa đám thợ đẽo đá và thợ nề, cũng như giữa đám thợ nề và thợ mộc, lão biết về các căn bệnh, về sự cung cấp thiếu thốn, về các cuộc ẩu đả và các vụ tai nạn, đúng là lão biết về tất cả những chuyện có thể biết, vì thế mà Kasser và người của anh ta phải chịu đựng lão, chính nhờ Hirschhardt mà họ biết bức tranh mà họ nhìn thấy, ít nhất là từng phần, che đậy những gì, vì lão Hirschhardt còn biết cả ai là Dombaumeister tiền nhiệm của Voigtel, đó là Zwirner, một người làm việc không biết mệt mỏi, nhưng cuối cùng đã chết sớm, lão còn biết Vineburg và Gennep, Saarwerden và Moers, những người đã chết từ lâu, là những ai, và hiện tại Rosenthal, Schmitz và Wiersbitzky, Anton Camp, Carl Abelshauer và Augustinys Weggang là ai, lão biết các loại tời, ròng rọc và các xe chở đá, và các dụng cụ mộc, các cần trục gỗ và máy hơi nước hoạt động ra sao; tóm lại là không thể qua mặt Hirschhardt bất cứ điều gì, tất nhiên là nhóm Kasser cũng không thử làm chuyện đó, gần như họ chẳng mấy khi hỏi lão, vì biết rằng nếu hỏi thì họ chỉ tổ chuốc lấy những cơn thịnh nộ mới của Hirschhardt, họ chỉ thỉnh thoảng gật gật đầu khi nghe lão nói, chứ không làm gì khác hơn, vì cả bốn người thích nhất là sự yên tĩnh trong quán bia, sự yên tĩnh bên cạnh một vại bia hơi, và thế là vào các buổi sáng sớm và buổi sáng, khi ngoài họ ra hầu như chẳng có ai trong quán, họ cứ ngồi bên bàn, nhâm nhi bia, và nhìn ngôi thánh đường đang xây dựng bên ngoài.
6.
Trong Ansichten, Boisserée đã có một bản vẽ mặt tiền phía Tây - từ năm 1300 và có lẽ do Johannes, con trai của Meister Arnold, vẽ ra, bản thân nó đã có một vẻ đẹp kỳ lạ, nó đã hé mở cho thấy ý đồ đặc biệt ẩn giấu sau công trình được thiết kế, nhưng cú hích cuối cùng - đầu tiên là đối với Falke, sau đó là những người khác qua lời kể của anh ta - là bản in mà sau đó trong toàn đế chế nhiều lần người ta thấy được niêm yết từ các hiệu cắt tóc tới các quán trọ, tờ yết thị mà chính Richard Voigtel đã vẽ màu cho Verein-Gedenkblatt theo bản khắc đồng của W. von Abbema, rõ ràng nó đã khiến người ta chú ý tới việc diễn ra ở Köln, tóm lại là một bản in năm 1867, về công xưởng của Carl Mayer ở Nürenberg, tất cả chỉ có thế, và nó đã quyết định họ đi về đâu, vì trong mắt họ, trong tập cảo bản, trong sự mường tượng vĩ đại có thể thấy trên tờ yết thị chỉ trong một tích tắc có thể nhận ra, và họ cũng đã nhận ra chỉ trong nháy mắt khả năng bảo vệ tuyệt vời của công trình này, sự bảo vệ, Korin gõ vào máy, mà bốn người bọn họ - như Kasser nói với một người lạ căn vặn họ khôn khéo hơn những người khác xem họ là ai - chỉ là những kẻ bị săn đuổi, nhưng hôm nay, nghĩa là sau đó một tuần anh ta không nói thế nữa, chẳng hạn với Hirschhardt, anh ta nói thế này: đơn giản là các chuyên gia bảo vệ, theo lời Kasser, khi đã thấy rõ là cần phải nói với Hirschhardt một điều gì đó, ông ta biết rằng họ ở đây không phải chủ yếu chỉ để nghiên cứu, chỉ để phân tích, mà trước hết, thậm chí trên tất cả, là để chiêm ngưỡng những gì diễn ra ở đây, và nói như vậy tức là họ đã không nói ra điều gì mà sau đó họ phải chối bỏ, vì đúng là họ ngưỡng mộ ngay từ khi xuống khỏi xe trạm và liếc nhìn thấy nó, họ chỉ biết ngưỡng mộ, bởi vì chỉ có thể ngưỡng mộ vô điều kiện, họ xuống xe, nhìn thấy và ngay lập tức bị hút hồn, ngay lập tức, nghĩa là không gì có thể so sánh với giây phút đó, vì phỏng đoán từ cuốn sách của Boisserée, tưởng tượng từ bản vẽ và bản in khác hẳn so với đứng dưới chân tòa tháp phía Nam, và nhìn nó trong thực tế, để thấy điều họ tưởng tượng và phỏng đoán là đúng, dĩ nhiên phải đứng vào chỗ đó, Korin kể trong nhà bếp, đúng chính xác cự ly, vị trí và góc độ chỗ góc phía Tây Nam, không thể sai lệch, và họ đã không sai cả cự ly, cả vị trí và cả góc độ, và họ đã tận thấy, đã xác định được rằng, đây đơn giản không phải là xây dựng một thánh đường, không phải việc hoàn thành một thánh địa Gothic bỏ dở từ hàng trăm năm trước, mà là một khối khổng lồ, một công trình hi hữu, ngoài trí tưởng tượng, mọi thứ của nó sẽ được xây dựng, điện thờ, các gian ngang, gian chính và hai gian phụ, các cửa sổ và cổng ở mọi phía theo đúng quy định, nhưng thực tế các gian thế nào, cửa sổ và cổng của nó thế nào không quan trọng, vì nó sẽ là một khối cực lớn, khổng lồ duy nhất hướng lên trời cao, ở gần nó tồn tại một điểm, Gerhard tự bảo khoảng sáu trăm năm trước, một góc nhìn, mọi Dombaumeister cho tới Voigtel đều nói trong bí mật, một giác độ mà nhìn từ đó sẽ thấy thánh đường, xây theo mẫu nhà thờ Aminens, là một khối lượng tháp duy nhất, nghĩa là một vị trí đứng từ đó thấy nổi bật lên bản chất của nó, the essence, và họ, nhóm bốn người đã phát hiện ra điều này trong truyền thuyết của Gerhard, trên bản vẽ Johannes, trong bản in Abbema-Voigtel, và bây giờ, khi họ đến đây, cả trong thực tế, và họ kinh ngạc, và họ đã tìm chỗ thích hợp nhất, nơi họ có thể tiếp tục nghiên cứu sự kinh ngạc này trong bản thân họ, và việc này đúng là không khó khăn gì, cái quán bia là nơi hằng ngày họ quan sát, để ngày này qua ngày khác họ tin rằng, công trình họ nhìn thấy ở đây không phải là điều họ tưởng tượng ra sau khi xem bản vẽ thiết kế, mà là cái có thật, không thể tưởng tượng nổi và hiện hữu.
7.
Đôi khi tôi rất muốn dừng lại, và bỏ dở mọi thứ, thế thôi, một lần Korin nói trong bếp, rồi sau một lúc lâu im lặng, chỉ nhìn xuống sàn nhà mấy phút, gã ngẩng đầu lên, và nói thêm rất chậm rãi: Vì một thứ gì đó đã đổ vỡ trong tôi, và tôi mỏi mệt.
8.
Một ngày đối với gã bắt đầu từ trước năm giờ sáng, gã tự thức dậy vào lúc đó, rất nhanh, trong một khoảnh khắc; mở mắt ra là gã ngồi ngay dậy trên giường, và gần như gã biết ngay là mình đang ở đâu và phải làm gì: rửa ráy ở lavabo, mặc áo sơ mi ra ngoài chiếc áo phông mặc khi ngủ, rồi áo len và chiếc áo khoác màu xám, sau đó là chiếc quần lót ống lửng và quần dài có dây đeo, cuối cùng là xỏ chân vào đôi tất phơi trên lò sưởi và đôi giày dưới gầm giường, tất cả chỉ trong khoảng một phút, như thể phải chạy đua với thời gian, và gã đã đứng sát cửa để nghe ngóng xem liệu có ai ở ngoài, nhưng những lúc như thế chẳng khi nào có ai hết, thế là gã có thể mở cánh cửa ra phía ngoài, nhẹ nhàng để nó không cọt kẹt, và chính là để nó đừng kêu cạch một tiếng rõ to khi gã ấn tay nắm xuống, vì cái tay nắm cửa chết tiệt này, nếu gã không cẩn thận, có thể kêu to khủng khiếp trong lúc đang yên tĩnh, rồi gã nhón chân bước nhẹ ra hành lang, từ đó vào bếp và ra cầu thang, gõ lên cánh cửa WC, nhưng tất nhiên khi đó cũng chưa có ai, gã đi đái đi ỉa, xong gã quay lại bếp, đặt nước lên đun, lấy cà phê đã xay mà gã để cạnh hộp chè của chủ nhà trên mặt chiếc lò nướng ga, sau đó gã pha cà phê, bỏ đường vào và nhẹ nhàng hết mức có thể, gã quay lại căn phòng phía sau; mọi buổi sáng đều bắt đầu như thế, và diễn ra tiếp tục theo một trật tự không thay đổi và đúng không bao giờ khác, chẳng hạn đến lúc đó gã ngồi ngay vào bàn, vừa nhấm nháp cà phê gã vừa bật laptop, nghĩa là gã bắt đầu công việc trong ánh sáng lúc nào cũng xám mờ lọt vào phòng qua cửa sổ, gã kiểm tra lại các thứ gã đã lưu lại tối hôm qua xem có ổn cả không, có thật hôm nay chúng vẫn còn trên warandwarcom hay không, sau đó gã đặt trang thích hợp của tập cảo bản sang trái, tiếp tục đọc văn bản, và bắt đầu dùng hai ngón tay cẩn thận gõ từng chữ đưa tất cả vào máy, cứ thế đến mười một giờ, khi lưng đã mỏi nhừ đến mức gã phải nằm xuống giường nghỉ một lát, rồi gã đứng dậy, vặn vẹo hai bên sườn, và chủ yếu là quay cổ mấy vòng, sau đó gã ngồi trở lại tiếp tục công việc, đến lúc nghỉ gã xuống chỗ cửa hiệu của người Việt Nam mua đồ ăn trưa, rồi quay về phòng bếp nơi người đàn bà đang nấu ăn, dùng từ điển và sổ ghi chép trò chuyện với thị chừng một tiếng, đôi khi một tiếng rưỡi, gã nói với thị tất cả những sự kiện mới, sau đó gã lui về phòng tiếp tục công việc đến khoảng năm giờ, thỉnh thoảng chỉ đến bốn rưỡi, đôi khi lúc gần bốn rưỡi gã đã ngừng làm việc và nằm xuống giường, vì cổ và lưng gã không chịu được nữa, cũng như đầu gã trở nên nặng nề, nhưng những lúc như thế nửa tiếng là đủ, và gã lại nghe ngóng sau cánh cửa, vì nếu có thể tránh được thì gã không muốn gặp các chủ nhân của căn hộ, và sau khi biết chắc không có ai bên ngoài, gã bước ra ngoài, tất nhiên là đã mặc áo choàng, đội mũ, gã đi qua hành lang, qua bếp, xuống cầu thang và càng nhanh càng tốt gã đi ra khỏi tòa nhà để không gặp một ai, vì việc chào hỏi đối với gã vẫn còn là vấn đề, vì gã không biết lúc này phải nói good evening, good day hay ngắn gọn chỉ cần gật đầu ra hiệu và nói hi, tốt nhất là tránh, và khi đã ra ngoài phố, thì tuyến đường quen thuộc dẫn vào New York, như gã thường nói, rồi quay lại cũng vậy, lên cầu thang, và thỉnh thoảng dừng lại nghe ngóng rất lâu trước cửa ra vào, vì gã nghe thấy tiếng quát tháo của người phiên dịch ở phía trong, thậm chí có khi gã nhấp nhổm ngoài cửa không phải chỉ vài phút mà cả nửa tiếng đồng hồ, đến khi gã có thể lẻn qua hành lang vào căn phòng phía sau, gã nhẹ nhàng khép cửa lại, từ từ xả hơi thở đã cố nén lại rồi chậm rãi hít vào, trong lúc đã có thể đặt chiếc áo choàng và áo khoác trong, quần và quần lót ống lửng lên ghế, đặt tất lên lò sưởi, giày xuống gầm giường, và cuối cùng gã mệt mỏi nằm xuống, vẫn không dám thở mạnh, trở mình trong chăn cũng chú ý nhẹ nhàng để lò xo giường không kêu, vì gã sợ, lúc nào cũng sợ có tiếng động lọt ra từ phòng gã, bởi từ phòng bên vẫn lọt sang tiếng quát tháo của người đàn ông, qua bức tường ngăn mỏng.
9.
Bây giờ gã lại nói về một thằng Kirsárt, hay đó là tên gã, người phiên dịch nói với cô người tình, và y chán ngán lắc đầu, tối hôm trước gặp gã trong bếp, thậm chí y có cảm giác gã cố tình săn y, đúng theo nghĩa của từ này, gã rình ở đâu đó giữa cửa ra vào, nhà bếp và hành lang, và đợi đến lúc “vô tình” gặp được y, theo y là như thế, và y gần như phải trốn gã, ở ngay trong nhà mình mà trước khi vào bếp y phải chú ý xem gã có trong đó không, dẫu sao thì đó là điều không thể chịu đựng nổi, thế mà y nhận thấy mình đang làm vậy đấy, y đứng trước cửa và nghe ngóng, vậy mà vẫn không tránh được những lần chạm trán “vô tình” với gã, như tối hôm qua khi cô em thân yêu đã ngủ, thì gã nhảy ra trước mặt y với cái tên Mishart hay gì đó, và bảo hãy nghe gã nói một phút xem công việc của gã tới đâu, cái tên Fishart hay gì đó, toàn những chuyện vớ vẩn vô nghĩa, dĩ nhiên là không thể hiểu nổi, chẳng đâu vào đâu, gã nói như thể y từ đâu đó đã phải biết Dismars là ai, thằng cha này đúng là điên theo nghĩa đáng sợ nhất, và giờ đây không nghi ngờ gì nữa: gã còn nguy hiểm nữa, y thấy trong mắt gã, tóm lại là, y nói, phải kết thúc vụ này, vì y cảm thấy rằng nếu không thì kết thúc sẽ tồi tệ, nghĩa là Korin không thể ở đây thêm được nữa, y sẽ tống cổ gã ngay, vì nếu phi vụ lớn này, cú làm ăn lớn nhất trong đời y này vào cầu, thì cô em hãy tin rằng, người phiên dịch nói với cô người tình, nếu vụ này thành công, mà xem ra chắc chắn sẽ thành công, đến giờ thì không ai có thể ngăn cản được điều đó, thì họ sẽ vĩnh viễn chia tay với sự nghèo khó, sẽ có ti vi, video mới, tất cả những gì cô muốn, bếp ga, tủ bếp, tóm lại là mới tất, kể cả đến chiếc nồi cuối cùng, cô đừng lo, gã Korin sẽ bị tống khứ, không còn phải lo tránh mặt gã như một con chuột trong chính nhà mình, cũng như tối tối không còn phải nghe gã kể về một thằng Birshart nào đó; Hirschhardt, Korin lúng túng chữa, vì gã không biết kết thúc câu chuyện do tình trạng khó xử gây ra như thế nào, tên người ấy là Hirschhardt, và thưa ngài Sárváry, ngài hãy tưởng tượng đó là một người rất ghét những điều mờ ám quanh mình, vì theo ông ta sự mờ ám chính là sự thiếu hụt tri thức, vì thế ông ta không chỉ căm ghét nó, mà còn hổ thẹn vì nó, và ông ta cố gắng triệt tiêu nó đi bằng cách nào đó, chẳng hạn như trong trường hợp của bọn Kasser ông ta nghe những lời nhận xét nhỏ nhặt, ngoài lề, ngẫu nhiên và đa phần là bị hiểu lầm, và từ đó theo cách của mình ông ta rút ra những kết luận hoàn toàn thiếu cơ sở, nghĩa là ông ta bổ sung từ trí tưởng tượng tuyệt đối chủ quan của mình vào những điều nghe thấy ít ỏi và mù mờ, và thông báo lại điều đó với dân sở tại, làm như ông ta biết hết mọi thứ, ông ta ngồi vào bàn của những người dân sở tại và kể về những người kia sao cho họ không nghe tiếng, bằng giọng thầm thì, rằng dĩ nhiên là bọn bốn người ngồi bên cửa sổ kia là thuộc một dòng tu đặc biệt, họ không trò chuyện, cứ đi đi lại lại, chẳng ai biết gì về họ, họ là loại người nào, tên tuổi họ lạ, xuất xứ cũng không, đấy, dĩ nhiên họ là những nhân vật kỳ lạ, thế mà họ nhìn mọi người ở đây như thể họ tới từ vinh quang Königgratz[11], hay nói cách khác là từ địa ngục Königgratz, như những người đã nhìn thấy, bốn năm trước đây, chiến thắng của Prussia[12] vào cái ngày mồng 3 tháng Bảy ấy, và thấy 43.000 người chết trong chiến thắng đó, và đó mới chỉ là tổn thất về nhân mạng của người Áo, Hirschhardt nói với những người sở tại ngồi uống bia, trong một ngày 43.000 mạng người bên phía kẻ thù, và xin quý vị thử nghĩ xem, kẻ đã nhìn thấy ít nhất 43.000 người Áo tử trận, kẻ đó không còn là người trước đó nữa, thế mà bốn người bọn họ, Hirschhardt chỉ vào nhóm người kia, họ nằm trong nhóm trực tiếp gần gũi vị thống lĩnh quân đội, nói khác đi họ là thành viên của hội đồng phòng thủ, tức là không phải lần đầu tiên họ ngửi mùi thuốc súng, nghĩa là không phải lần đầu tiên họ đối diện với cái chết trên chiến địa, Hirschhardt kéo dài câu cuối cùng, thế nhưng địa ngục Königgratz vẫn khiến họ kinh hoàng, ý ông ta nói tới địa ngục dành cho người Áo, ông ta nói thêm, đó là những người hùng Königgratz, các vị hãy nhìn bốn người ngồi kia như thế, và đừng có ngạc nhiên là thái độ của họ không vui vẻ; sau đó thì đúng là dân sở tại đã nhìn họ như thế, và mỗi lần liếc mắt về phía những người kia, họ còn nghĩ, đúng, đó là những người Königgratz, họ bước vào quán bia, nhìn quanh xem đâu có bàn trống, xem chỗ nào có người quen để tìm chỗ ngồi, họ gọi bia trong khi thỉnh thoảng lại thận trọng liếc về phía cửa sổ, để chắc chắn rằng, đúng, bốn người anh hùng Königgratz lại đã ngồi đó, ở chỗ ấy, rồi họ nghe đi nghe lại Hirschhardt nói, lão nói đi nói lại về trận đánh, về thắng lợi vẻ vang, một bên là chiến thắng huy hoàng, một bên là địa ngục, là 43.000 người chết, và câu chuyện của bốn người chỉ trong một ngày đã chứng kiến chiến thắng chói lọi và 43.000 cái chết.
10.
Tất nhiên là bọn Kasser biết, Korin giải thích cho người đàn bà, rằng lão chủ quán bia nói nhăng nói cuội, nhưng do nhận thấy vì các câu chuyện bịa đặt của ông chủ mà những người sở tại để cho họ yên, chỉ thỉnh thoảng họ mới nói với Hirschhardt về chuyện này, và hỏi tại sao ông ta lại bảo họ là những người anh hùng Königgratz, bởi họ chưa khi nào đến Königgratz, và họ cũng chưa bao giờ khẳng định điều tương tự, cũng như đôi khi họ cố giải thích cho ông ta hiểu, rằng cuộc chạy trốn trước Königgratz không có nghĩa là họ chạy trốn từ Königgratz, và rằng, họ không phải là người của Moltke, cũng không phải là lính, và nếu họ chạy trốn, thì không phải họ chạy trốn từ một cuộc chiến tranh, mà họ chạy trốn trước một cuộc chiến tranh, nhưng đúng là chỉ thỉnh thoảng họ mới nói với ông ta những điều này, vì họ có nói với Hirschhardt cũng vô ích, lão chẳng hiểu gì về chuyện này, chỉ gật gật cái đầu hói to bóng nhẫy mồ hôi, chỉ cười nhạt cho qua chuyện, như thể lão biết rõ hơn mọi chuyện, và thế là họ cũng mặc kệ lão muốn nói gì thì nói; Kasser quay lại với ý nghĩ ban đầu, the original thread, nghĩa là thực chất anh ta tiếp tục câu chuyện đã tiếp diễn từ khi họ tới đây, một mặt để chuẩn bị cho họ về thất bại hoàn toàn, điều đó không thể tranh cãi, vì không thể nghi ngờ lịch sử dẫn đến sự bá chủ ngày càng rộng lớn hơn của bạo lực, the violence, nhưng đồng thời lúc này không thể nào bỏ qua việc có biết bao nhiêu điều kỳ diệu đã sinh ra ở đây, bao nhiêu thành quả tuyệt vời của con người, trong số đó trước hết là phát hiện ra sự linh thiêng, the holiness, sự linh thiêng của không gian và thời gian vô hình, của Chúa và thần thánh, vì không có gì kỳ diệu hơn con người, Kasser nói, con người đã thức tỉnh, đã ý thức được là có Chúa, con người nhận ra sự thật quyến rũ của đấng linh thiêng, và tất cả những điều này con người đã sáng tạo ra bằng sự thức tỉnh và nhận thức của mình, vì đó là những khoảnh khắc vĩ đại, anh ta nói, những thành quả vĩ đại, nhưng chỉ một Đức Chúa, the God, tỏa sáng trên tột đỉnh của tất cả các khoảnh khắc và thành quả đó, và lại chỉ là con người ấy, con người bái vọng Chúa, con người đã tạo ra cả một vũ trụ trong mình, như một thánh đường hướng lên bầu trời, và việc con người nảy sinh ra như cầu có những vùng thần thánh giữa những người đang sống! đó chính là điều khiến Kasser kinh ngạc trong sự thất bại rõ ràng này, trong khi lao vun vút về phía thất bại cuối cùng, vì đúng là đáng kinh ngạc, Falke cướp lời, nhưng điều còn đáng kinh ngạc hơn là tính cách cá nhân của Chúa, bởi với phát hiện lớn nhất của con người, rằng có thể có Chúa trên Trời, và có thể có Trời trên Mặt Đất, con người không chỉ có một Đấng ngự trị trên cao, mà còn có một Đức Chúa gần gũi mà con người có thể chia sẻ, vậy điều gì đã xảy ra? Falke hỏi, và what happened? Korin cũng hỏi, đó là sự lan rộng cảm giác ở nhà ra khắp thế giới, Falke tự trả lời câu hỏi của mình, và đó là điều gây xúc động mạnh, họ nói, đó là điều đáng kinh ngạc, đó là ý nghĩ tối thượng, con người yếu đuối và nhu nhược đã sáng tạo ra một vũ trụ khổng lồ hơn bản thân nó nhiều lần, bởi xét cho cùng đó là sự kỳ diệu, sự vĩ đại mà con người tạo ra đứng trên nó, nghĩa là thực chất con người đã sáng tạo ra điều vĩ đại hơn bản thân nó - một sinh linh nhỏ bé, Falke nói, cái cách thức nó bám vào công trình khổng lồ mà chính nó sáng tạo ra, để được công trình ấy che chở, và để diễn đạt rằng điều đó thật tốt đẹp và không thể nào quên, nhưng cũng gây chấn động, poignant, bởi vì dĩ nhiên là nỏ không có khả năng khống chế được công trình vĩ đại kia, và công trình đó sẽ sụp đổ, và công trình mà nó sáng tạo ra sẽ đổ ập lên nó, để rồi tất cả lại bắt đầu từ đầu và tiếp diễn không có kết thúc, bởi điều này, Falke nói, trong quá trình chuẩn bị dần dần từng bước để đi tới thất bại cũng không thay đổi, để tạo ra những công trình ngày một vĩ đại hơn và ngày càng bị nó đè bẹp mạnh mẽ hơn, điều này không khi nào thay đổi, vì sự tiêu hủy, sự khổ ải mỏi mòn, sự căng thẳng khủng khiếp giữa người sáng tạo ra cái vĩ đại và cái nhỏ bé không thay đổi.
11.
Cuộc trò chuyện kéo dài tới khuya, và kết thúc bằng việc ca tụng hai phát kiến đặc trưng nhất của châu Âu, theo cách diễn đạt của Toót, là sự phát hiện ra tình thương yêu và lòng tốt, đại thể vào lúc, Korin nói, Hirschhardt đi đến hết lượt các bàn và thuật lại với khách uống bia, để sau đó lão bảo họ về nhà và cũng chào bọn Kasser, mọi việc diễn ra đúng như ngày hôm qua và hôm kia, và không một ai biết sắp tới mọi thứ sẽ thay đổi, và mọi lề lối trước đó sẽ bị phá vỡ, cả bọn Kasser cũng không nhìn thấy trước, cả bọn họ, trên đường về nhà ven bờ sông Rhine, đầu óc đã hơi chếnh choáng do uống nhiều bia họ chỉ tranh luận với nhau liệu sự xuất hiện một người có bộ dạng gớm ghiếc lạ lùng trong mấy ngày gần đây quanh thánh đường có ý nghĩa gì đối với công trình xây dựng hay không; một người đàn ông cao, rất gầy, mắt màu xanh nhạt và mặc áo choàng lụa đen, họ nhìn thấy hắn qua cửa sổ, Herr von Mastemann, Hirschhardt nói ngay, khi người ta hỏi lão, nhưng lão và cả những người khác cũng không biết gì hơn về hắn, dù lời đồn thổi thì chẳng thiếu: ví dụ một hôm có tin đồn hắn là người của triều đình, nhưng bữa khác hắn lại là người của Giáo hội, có lúc người ta nói hắn từ sau dãy Alps tới, có khi lại nói hắn từ một công quốc nào đó phía Đông Bắc, và dù có thể một trong những tin đồn đó là đúng, nhưng không một ai biết chắc, chỉ có những lời đồn thổi, hearsays, cứ bay đi, nào là người ta nhìn thấy hắn đi với người phụ trách xây dựng, rồi với ông trưởng nhóm thợ mộc, và cuối cùng cả với ngài Voigtel; rồi họ bảo hắn có một người hầu rất trẻ, tóc xoăn, nhiệm vụ duy nhất có thể thấy được của cậu ta là sáng sáng mang một chiếc ghế nhỏ, gấp lại được đến trước thánh đường, rồi đặt nó chính giữa, đối diện với mặt chính, để chủ nó ngồi khi đến, và hắn ngồi đó hàng giờ liền, im lặng và bất động; rồi họ còn đồn rằng, đám đàn bà, the women, đặc biệt là các cô hầu phòng trong quán trọ nơi hắn ở, đơn giản là phát cuồng lên vì hắn, và mất hết trí khôn; rồi người ta bảo hắn không uống bia, thậm chí ở đây, trong thành phố danh tiếng của St. Ursula, thật bê bối là hắn uống rượu vang, wine, đại loại là những tin vặt vãnh như thế, Korin nói, chứ chẳng có điều gì để có thể suy ra một hình ảnh dứt khoát chắc chắn về hắn, chẳng có gì cơ bản, quan trọng hết, và do đó tất nhiên là tiếng tăm của von Mastemann xấu đi từng giờ, cả Köln chú ý và lo sợ, vì thế là không còn có cơ hội nào để sự thật được sáng tỏ, the truth, vì ngoài những tin xấu tự do lan truyền, chẳng hạn như vùng xung quanh hắn bao giờ cũng rất lạnh, hay cặp mắt màu xanh nhạt ấy không phải màu xanh, và cũng chẳng phải là mắt thật, mà được làm từ thứ thép có ánh sáng lạ lùng, và rằng tay von Mastemann này thực chất là mù hoàn toàn, đấy, ngoài những tin vịt kiểu đó dĩ nhiên sự thật trở nên tẻ nhạt và vô nghĩa, đến nỗi chẳng còn ai muốn tìm ra sự thật, và ngay cả đến Toót, người không muốn tin vào những chuyện bịa đặt, cả anh ta cũng bảo, dù sao thì người ta cũng lạnh hết cả sống lưng, khi nhìn thấy hắn cứ ngồi đó hàng giờ liền, với đôi con mắt sáng lóe, và bất động nhìn về phía thánh đường.
12.
Hiểm họa đang lại gần không gì có thể ngăn cản nổi, Korin giải thích trong bếp, và vô số dấu hiệu đã báo trước điều này, tuy nhiên vẫn có một từ đã quyết định sự việc ở Köln, từ đó là Festungsgürtel, Korin nói, hay đúng ra là một sự kiện liên quan đến nó, sự kiện trở nên quan trọng hơn tất cả các thứ khác, ít nhất là đối với bọn Kasser, vì sự cuồng nhiệt căng thẳng có thể nhận thấy ở trong quán bia và trong thành phố, hay sự xuất hiện ngày càng thường xuyên của các đội quân diễu trên đường phố tất nhiên tự nó đã khiến họ phải suy nghĩ, thực chất họ còn chưa rõ bản chất của sự kiện, chỉ có một từ nghe rất giòn, rất lính là có khả năng làm việc đó, khi vào các buổi tối ở quán bia, trong tiếng giày cao cổ của lính tráng nện rầm rập, Hirschhardt ngồi vào bàn của họ và bắt đầu giảng giải, rằng ban chỉ huy quân sự trong thành phố, hay người chỉ huy còn gọi là Festungsgouverneur, có nghĩa là đích thân General-Lieutenant von Frankenberg - bất chấp sự phản đối giận dữ của đức tổng giám mục - đã ra lệnh giải tỏa Festungsgürtel để lấy chỗ làm một trường bắn, Festungsgürtel, lão Hirschhardt nhấn mạnh, như các quý vị đây đã biết, trung tâm tinh thần của công trình xây dựng thánh đường, đó là kho đá, có tên gọi là Domsteinlagerplatz, ngay gần Bahnhof am Thürmchen, và ngài Voigtel vừa được lệnh - việc này khiến toàn bộ công trình xây dựng gặp khó khăn - phải ngừng ngay việc chuyên chở bằng đường sắt, và phải tích trữ đá, gần như bí mật và khẩn cấp, vì chỉ thị này có hiệu lực ngay lập tức và giọng văn của nó đã cho thấy trong việc này không có sự khoan nhượng, đúng là phải thực hiện ngay, và ngài Voigtel biết làm gì, ông cố cứu những gì có thể, và cái gì có thể được thì ông cho đem ra ngoài, còn thứ gì không thể thì ông cho đem chôn, vì ông có viện đến tầm quan trọng trên hết của công trình xây dựng thánh đường cũng vô ích, câu trả lời dẫu sao cũng sẽ là tầm quan trọng trên hết của nó cũng chỉ vì vinh quang của Đế chế Đức, Festungsgürtel, lão Hirschhardt gật gật đầu nhắc đi nhắc lại vẻ quan trọng, rồi khi thấy các vị khách vì thế mà im lặng hẳn, lão cố an ủi họ bằng cách nói về các triển vọng lớn về một cuộc chiến tranh, Krieg, đang lại gần, nhưng chẳng ăn thua, bọn Kasser chỉ ngồi ngây ra đó, rồi nêu ra các câu hỏi mới để họ có thể hiểu rõ hơn điều gì đã xảy ra, nhưng Hirschhardt chỉ biết nhắc lại điều lão đã nói, sau đó lão quay về với đám lính đang ầm ĩ, và có thể thấy lão hoàn toàn mãn nguyện, khác hẳn vẻ sầu não thường ngày, lão đã làm cái việc mà trước đó chưa bao giờ lão từng làm, đó là uống với họ một vại bia lớn, và gia nhập cái dàn đồng ca náo nhiệt kia để ca ngợi vinh quang của chiến thắng chống bọn Pháp ô trọc.
13.
Họ đặt tiền xuống góc quầy và lặng lẽ đi ra khiến lão Hirschhardt đang trong cơn hăng hái không nhận thấy, họ lẳng lặng đặt xuống và im lặng đi ra, chắc là tiểu thư có thể biết, Korin nói, điều gì sẽ diễn ra sau đó, lẽ ra gã chẳng cần nói, có thể thấy trước, hơn nữa tất nhiên là với cách nói của gã mọi thứ khác hẳn, không thể truyền đạt lại được thật đúng những câu viết trong tập cảo bản, ví như ở đây nữa, tại điểm này, cái cách nó viết về buổi tối cuối cùng, the last evening, đẹp không thể tả nổi, trên con đường dẫn về nhà dọc bờ sông Rhine, sau đó là cách họ ngồi bên cạnh giường trong nhà ở, rất lâu không ai nói với nhau một lời, rồi cả cái đêm cuối cùng, họ đợi trời rạng sáng, và khó khăn lắm mới bắt đầu một cuộc trò chuyện, dĩ nhiên về thánh đường, về vị trí ở phía Tây Nam mà từ ngày mai họ sẽ không bao giờ nhìn thấy nữa, nevermore, về vị trí phía Tây Nam mà từ đó nhìn bên trong thánh đường cũng có vẻ là một khối đặc hoàn hảo, về những trụ đỡ tuyệt tác, về những cấu trúc tuyệt vời trên các bức tường, những họa tiết sinh động trên mặt tiền khiến tất cả trở nên nhẹ nhõm và thanh thoát, và dĩ nhiên họ nói đi nói lại về siêu hình học, về tuyệt tác không gì sánh nổi của trí tưởng tượng con người, về trật tự của trời, đất và địa ngục, về sự sáng tạo ra thế giới vô hình, vì có lẽ không cần phải nói, kể từ giây phút khi lời giải thích của Hirschhardt cho thấy rõ điều gì đã bắt đầu với lệnh giải tỏa Festungsgürtel, quyết định cũng được đưa ra ngay, họ phải rời khỏi Köln không chần chừ, đi khỏi nơi này, Bengazza nói, nơi giờ đây nghệ thuật của lính, the art of soldiers, sẽ thay thế cho tinh thần xây dựng đặc biệt, Korin tìm ra trong từ điển, và tiểu thư biết đấy, gã nói thêm, lại một chương nữa kết thúc mà không có điều gì sáng tỏ hơn về bọn Kasser, và về việc trò chơi ở đây sẽ dẫn đến đâu, và rằng tập cảo bản này muốn gì, chúng ta nghĩ về nó thế nào, trong khi người đọc nó hay nghe nó lại không cảm thấy anh ta tìm đúng chỗ, khi thử giải thích hình dạng bập bềnh của bọn Kasser, vì anh ta muốn hiểu tất cả là chuyện gì, ít ra là gã, Korin cho là như thế, nhưng trước mắt gã chỉ nhìn mãi, nhìn mãi hình ảnh, đó là thứ có trong đầu gã, lúc này gã gõ vào máy, hình ảnh mà hôm sau chiếc xe trạm chở Kasser và những người khác đi khỏi Köln, hình ảnh mà ở cuối cùng gã nhìn thấy cậu người hầu tóc xoăn xuất hiện trên quảng trường trước thánh đường, một tay cầm chiếc ghế gấp, tay kia hờ hững đút túi, và gió thổi nhẹ nâng những lọn tóc xoăn trên đầu cậu, cậu đặt chiếc ghế xuống đúng chỗ đối diện với mặt tiền phía Tây thánh đường, rồi đứng bên chiếc ghế chờ đợi, nhưng chẳng xảy ra chuyện gì, cậu ta cứ đứng đó, lúc này đã đút cả hai tay vào túi, trên quảng trường không một bóng người, mới rạng sáng, chiếc ghế trống không.
❀ ❀ ❀
[1] Domkloster: nhà thờ xứ, giáo đường; ở đây chỉ một thánh đường nằm gần sông Rhine, ở thành phố Köln nước Đức.
[2] Tiếng Đức: các quý ông quý mến.
[3] Tiếng Đức: một đơn vị tiền tệ cũ, được sử dụng trong một thời gian dài ở nhiều nước châu Âu; cũng là đồng bạc.
[4] Tiếng Đức: kiến trúc sư nhà thờ xứ.
[5] Hội hỗ trợ xây nhà thờ xứ.
[6] Tiếng Đức: quỹ xây nhà thờ.
[7] Tiếng Đức: mặt tiền phía Tây.
[8] Tiếng Đức: mặt tiền phía Bắc.
[9] Tiếng Đức: tháp phía Nam.
[10] Tiếng Anh: tháp phía Bắc.
[11] Trận đánh lớn nhất diễn ra năm 1866 giữa quân Phổ và quân Áo, kết thúc với thất bại nặng nề của quân đội Áo dưới triều đại Habsburg.
[12] Tên lịch sử của nước Phổ, một vương quốc cổ ở phía Bắc châu Âu, nay thuộc phía Bắc nước Đức và Ba Lan.