Chiến Tranh Và Chiến Tranh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii. Tất Cả Là Crete
1.

❊ ❊ ❊

Theo những dòng chữ tinh xảo, mềm mại của tập cảo bản thì con tàu khiến người ta nhớ tới những con tàu Ai Cập hơn cả, nhưng cũng không thể biết nó được sóng nước xô từ đâu tới đây, do những cơn gió dại lồng lộn trong những ngày này, nó có thể được thổi tới từ Gaza[1], Byblos[2], Lucca[3] hay từ đế chế Thotmes, nhưng nó cũng có thể bị xô đẩy tới từ Akrotiri[4], Pylos[5], Alasiya[6] hay từ quần đảo Lipari[7] xa xăm, có điều chắc chắn là, Korin gõ những chữ cái vào laptop, đám dân chúng Crete tụ tập trên bờ biển trước đó chưa bao giờ nhìn thấy một con tàu như thế, thậm chí chưa khi nào nghe nói, và trước hết là vì, họ chỉ trỏ cho nhau xem, đuôi thuyền chưa được nâng lên, thứ nữa, mỗi bên nó có tới ba chục mái chèo, chứ không phải nhiều nhất là hai lăm chiếc như họ từng biết, nấp cạnh một tảng đá khổng lồ họ bàn luận với nhau về con tàu, và còn ba cánh buồm tất nhiên đã tơi tả vì gió bão, nhưng vẫn có thể mường tượng ra hình dáng và kích thước của chúng, phần đầu mũi thuyền nhô về phía trước có trang trí và vị trí bất thường của hai bó dây chằng võng xuống theo hình cánh cung đối với họ đều rất lạ, lạ lùng và đáng sợ ngay cả khi chúng đã hư hại, sóng đã xô đẩy từ phía Lebena tới vịnh Kommos, rồi một mỏm đá ngầm đã xẻ đôi và lật nghiêng nó cho đám dân địa phương kinh hãi xem cái thân thể nát gãy của con tàu, bằng cú xé đôi này sóng dữ đã tránh cho con tàu khỏi những va đập tiếp theo, và nâng nó lên khỏi mặt nước đang lồng lộn để cho thấy: nước, bão tố và hàng ngàn con sóng bất kham có thể làm gì với cái thiết bị khổng lồ do con người tạo ra, với một con tàu buôn đi biển được đóng lạ lùng, chưa bao giờ từng thấy như con tàu này, nếu chúng muốn; trên tàu tất cả đã chết, tất cả, hay ít ra cũng có vẻ như thế, và đúng là phải như thế thật, những người Crete nói với nhau, vì sự cuồng nộ địa ngục này, trong gió bão chết người này đơn giản là không một ai và không thứ gì có thể thoát khỏi, không vị thần nào, họ nói với nhau bên tảng đá, có thể giúp bất cứ ai có thể vượt qua được thảm họa ghê gớm này, vị thần ấy - họ cứ lắc đầu rồi lại nói, ở trên bờ - còn chưa sinh ra, và theo sự hiểu biết của họ, có lẽ sẽ chẳng bao giờ sinh ra.

2.

Họ đã tới cõi vĩnh hằng, Korin kể cho người đàn bà trong bếp, thị ở tư thế thường thấy, nghĩa là quay lưng lại gã và im lặng, thị cứ đứng bên bếp ga, đảo một thứ gì đó trong nồi, không một cử chỉ nhỏ nào tỏ ra thị có hiểu hay có lưu tâm đến điều gã nói hay không, gã không quay về phòng để lấy từ điển, như gã vẫn thường làm những lúc thế này, mà bỏ qua việc giải thích chữ vĩnh hằng và chữ tới cho thị, gã đánh trống lảng chỉ vào cái nồi và lúng túng bảo: - Lại... có món gì ngon phải không?

3.

Ngày hôm sau bão mới lặng bớt để một con thuyền nhỏ từ Kommos dám chèo ra mỏm đá ngầm, và như vậy là chỉ đến chiều hôm sau, Korin viết, khi gió đã lặng bớt, người ta mới biết con tàu nhìn từ trên bờ chỉ còn là một đống tan nát và không thể cứu vãn nổi, nhìn gần, nó tan nát thì tan nát thật, nhưng không phải hoàn toàn không thể cứu vãn được, đoàn cứu trợ bàng hoàng khi thấy ba hay bốn người còn sống sót trong một cabin chưa bị ngập nước, ba người, họ dùng tay ra hiệu cho những người đứng trên bờ, hay cũng có thể là bốn người còn sống, mỗi người bị trói vào một chiếc cột, họ đều bất tỉnh, nhưng rõ ràng là còn sống, ít nhất thì ở ba người, có lẽ ở cả người thứ tư còn nghe tiếng tim đập, thế là người ta cắt dây trói cho bốn người này, và mang họ ra ngoài, những người khác thì không, những người khác bị nước tràn vào nhấn chìm, sau này người ta kể, những người khác là sáu chục? tám chục? một trăm? ai biết được? họ đã yên nghỉ vĩnh viễn khi người ta tìm thấy họ, họ không còn đau đớn nữa, đám người cứu hộ nói; còn ba người, hay có thể là bốn người, đã sống sót như một phép lạ, và người ta vội đưa họ ra khỏi cabin, chuyển họ ngay sang chiếc thuyền nhỏ, từng người một, rồi quay vào bờ, bỏ lại con tàu và những người khác yên vị như thế, vì họ biết chính xác điều gì sẽ tới, và đúng là điều đó đã tới, đúng hai hôm sau một con sóng lớn ập đến, thân con tàu đã vỡ nát đứt làm đôi và nó rời mỏm đá, chìm xuống biển rất nhanh, chỉ trong vòng vài phút, để lát sau đợt sóng cuối cùng vuốt ve mặt nước phía trên con tàu, chạy vào bờ, nơi dân chúng của cả làng chài Kommos đang đứng nhìn, đàn ông, đàn bà, người già và trẻ con, lặng lẽ và bất động, vì chỉ trong chốc lát con tàu lạ đáng sợ khổng lồ không còn một dấu vết, nó mất hẳn, cả những gợn sóng cuối cùng, chỉ còn ba người chắc chắn còn sống và một người có lẽ sẽ sống, tất cả là bốn người trong số sáu mươi, tám mươi, một trăm, chỉ còn vỏn vẹn bốn người sau thảm họa.

4.

Tiếp theo là những ngày dưỡng bệnh đau đớn, mỗi lần họ lại phát âm tên mình một cách khác, vì thế những người dân địa phương gọi họ theo cái tên mà mọi người nghe được hay cho rằng nghe được họ nói vào ngày đầu tiên, thế là một người trở thành Kasser, người thứ hai trở thành Falke, người thứ ba thành Bengazza, còn người thứ tư thành Toót, người ta thấy những cái tên này và cách gọi như thế là đúng nhất, dù biết chắc rằng bốn tên gọi nghe rất lạ này chỉ na ná, chứ không hẳn đúng với tên thật của họ, nhưng thật ra mà nói đây là điều khiến họ ít phải suy nghĩ nhất, bởi khác hẳn với những người mà biển cả đã ném lên bờ trước đây, những người mà tên tuổi, xuất xứ, nơi cư ngụ và số phận của họ đã sáng tỏ ra dần dần và thực ra tương đối nhanh, thì với những người này: danh tính, xuất xứ, nơi cư ngụ và số phận của họ mỗi ngày một mờ ám hơn, nghĩa là sự xa lạ và khác thường của họ không giảm, mà tăng lên đáng ngạc nhiên từng ngày, vậy nên sau một thời gian đủ để họ có thể rời khỏi giường bệnh, và dám lần ra ngoài theo cách thận trọng không thể hiểu nổi của họ, khoảnh khắc ấy được tập cảo bản ghi lại trong một chương, một chapter, tuyệt vời, Korin tuyên bố trong bếp, khi ấy bốn người đàn ông bí ẩn ở đó, người ta không biết gì về họ cả, họ luôn né tránh những câu hỏi tò mò, họ không trả lời thẳng vào các câu hỏi bằng thứ ngôn ngữ mà cả hai phía đều chấp nhận, đó là tiếng Babylon, language, họ cứ liên tục lái sang chuyện khác, đến nỗi Mastemann, kẻ đã trôi dạt đến đây từ Gurnia nằm ở phía Đông của hòn đảo này, cũng có vẻ phân vân không bày tỏ ý kiến, lão là người không bao giờ chần chừ, và bao giờ cũng bày tỏ ý kiến của mình, cả đến Mastemann cũng im lặng, cái cách thức lão nhìn họ từ sau chiếc xe kéo, nhìn họ đi dọc theo xóm nhỏ về phía những cây vả, cuối cùng họ nghỉ dưới một đám cây ô liu, và họ cứ ngồi trong bóng râm mát nhìn mặt trời, the sun, khuất dần sau đường chân trời phía Tây.

5.

Tất cả, Korin nói với người đàn bà, cứ như miêu tả Vườn Địa đàng, mọi câu chữ trong tập cảo bản, gã nói, đều viết về xóm nhỏ này, về bờ biển, về vẻ đẹp vượt quá mọi sức tưởng tượng của vùng này, như thể nó không muốn thông báo một điều gì đó, mà muốn tự dẫn bản thân nó về chốn thiên đường, bởi nó không chỉ nhắc tới, nói đến, xưng tụng vẻ đẹp này, mà nó còn nhẩn nha la cà trong đó, nghĩa là nó còn sáng tạo theo cách riêng của nó, và như thế vẻ đẹp này, beauty, đặc biệt đến vậy, không chỉ còn là phong cảnh, mà là nội dung bao gồm sự bình thản và niềm vui thích, sự bình thản và niềm vui tỏa ra từ nó: cái gì tốt đẹp sẽ vĩnh cửu, không nghi ngờ gì nữa, và ở đây, theo văn bản, Korin phân tích, mọi thứ đều rất tốt đẹp, vì chúng được sáng tạo ra tuyệt vời, bởi tất cả, từ ánh mặt trời đỏ rực rỡ, màu trắng tinh của các mỏm đá, màu xanh huyền hoặc của các thung lũng, vẻ đẹp thánh thiện của những con người đi lại giữa các mỏm đá và thung lũng, hay nói cách khác, Korin nói thế này: nói cách khác trong màu đỏ và trắng và xanh và trong vẻ đẹp của những chiếc xe lừa kéo đi trên các con đường, những con bạch tuộc phơi trong nắng, những chiếc bùa hộ mệnh đeo trên cổ mọi người, những đồ trang sức trên mái tóc, những xưởng ép dầu và làm đồ gốm, những thuyền đánh cá và những đền miếu trên núi cao, nói tóm lại là mặt đất, biển cả và bầu trời, the sky, ở đây tất cả đều thanh bình và vui vẻ, nhưng vẫn rất thực theo đúng nghĩa của ngôn từ, ít ra Korin đã bình phẩm mọi việc như thế, gã muốn phác ra cho người đàn bà một bức tranh như thế dựa trên đoạn mà sáng hôm nay gã đã thực hiện, tuy nhiên, lúc này gã đã phác họa ra bức tranh ấy cũng vô ích, và phân tích bất cứ điều gì cũng vô ích, vì lần này thị không chỉ vẫn đứng trong tư thế thường thấy, mà thị còn bị đánh dữ đòn, như Korin bỗng nhiên nhận ra khi thị vô tình quay nghiêng người; nghĩa là vấn đề không chỉ là lại không thể biết thị nghe gã bằng ngôn ngữ gì, và thị có nghe gã, Korin, nói với thị hôm nay cũng như mọi khi, từ mười một giờ sáng tới chừng mười hai rưỡi, một giờ bằng tiếng Hung, thỉnh thoảng chêm một vài từ tiếng Anh lấy trong từ điển và cuốn sổ của gã, mà là trên mặt thị có những vết bầm tím, mắt sưng vù, miệng và trán có những vết xước, phải chăng ban đêm thị đã ra ngoài phố? và bị tấn công trên đường về nhà? Korin không thể biết gì về việc này, nhưng gã rất áy náy, vì thế gã làm như không nhìn thấy gì, và tối hôm đó gã cứ tiếp tục kể mãi, ngay khi người phiên dịch đã mất hút mấy ngày nay bỗng xuất hiện trong bếp, gã lấy hết can đảm, gần như lao đến bên y để hỏi xem việc gì đã xảy ra, đứa nào dám động đến thị, đến tiểu thư, sau này người phiên dịch tức giận giảng giải với người tình của y, sao gã dám cật vấn y, y giận dữ hét lên với thị lúc đó đang hốt hoảng ngồi ở một góc giường và nhìn y đi đi lại lại trong phòng; thằng cha này tưởng nó là ai, nó có liên quan gì tới chuyện điều gì xảy ra, hay không xảy ra đối với họ, và sao gã bắt đầu dò xét về đời sống của họ, không, không thể! y nói với ả người tình vẻ hăm dọa, y sẽ đuổi thẳng cổ gã đi; gã gần như nghẹn thở, chỉ lập bà lập bập rằng gã chỉ muốn thế này thế nọ, thế là người phiên dịch nói rằng, nếu gã, tức Korin, không muốn ăn một quả đấm vào mặt, thì hãy biến ngay với những câu hỏi kiểu đó, nghe thấy thế, dĩ nhiên Korin lủi nhanh về phòng mình như một con rắn, đóng cửa nhẹ nhàng tới mức một con ruồi cũng không bay lên bởi tiếng động của cánh cửa, một con ruồi cũng không, người phiên dịch thở phào nghe tiếng cánh cửa đóng lại.

6.

Đêm đến và những vì sao hiện lên, nhưng bốn người kia chưa quay về Kommos, mà ở lại, sau khi đã cẩn thận kiểm tra nhiều lần sự an toàn của khu vực này, nơi lúc trước họ đã chứng kiến cảnh hoàng hôn trên xóm nhỏ, về phía Bắc, trong vườn ô liu, nơi họ tựa lưng vào một gốc cây lớn, họ ngồi đó rất lâu trong bóng tối đang buông dần, tới khi Bengazza lên tiếng, bằng giọng ồm ồm anh ta bảo có lẽ cần phải nói một điều gì đó với những người trong làng, anh ta không biết những người kia nghĩ thế nào, nhưng nên tìm một cách gì đó để trấn an dân chúng: họ làm gì ở đây; nhưng im lặng kéo dài sau đề nghị của gã, dường như không ai muốn phá vỡ sự im lặng này, và cuối cùng khi sự im lặng bị phá vỡ, thì câu chuyện đã chuyển sang hướng khác, cụ thể là không có gì đẹp hơn cảnh mặt trời lặn giữa núi và biển; hoàng hôn, Kasser nói, là một trò chơi kỳ lạ của màu sắc, bóng tối hạ thấp dần, quang cảnh rực rỡ của sự chuyển tiếp và liên tục, mỗi sự chuyển tiếp và liên tục, Falke nói, màn kịch hấp dẫn này, là một màn trình diễn vĩ đại, một bức tranh tuyệt vời về một thứ gì đó không tồn tại, nhưng đồng thời nó cũng là một biểu hiện kỳ lạ của sự chóng vánh, phù du, lụi tàn, tan rữa, và trò chơi sang trọng của màu sắc, Kasser nói, là sự tụng ca nghẹt thở của đỏ và tím, vàng và nâu, xanh và trắng, sự hiển hiện ma quỷ của bầu trời rực rỡ, tất cả, Kaisser nói, và còn bao nhiêu thứ nữa, cả Falke cũng nói, vì khi đó cả bọn còn chưa nói tới cả ngàn rung động mà hoàng hôn đã khơi dậy bên trong người quan sát nó, về sự xúc động mãnh liệt xâm chiếm người quan sát trong khi chiêm ngưỡng nó, như vậy hoàng hôn, Kasser nói, là vẻ đẹp chứa đầy hy vọng của sự chia ly, biểu tượng kỳ thú của sự khởi hành, sự chia xa, sự bước vào bóng tối, cũng là lời hứa hẹn bảo đảm của sự bình thản và giấc mơ sắp tới, đúng, tất cả những thứ đó, cùng một lúc, và bao nhiêu thứ khác nữa, Falke nói, và bao nhiêu thứ, Kasser cũng nói; nhưng tới lúc đó khu vườn đã hơi lạnh, và vì tấm vải lanh quấn quanh eo lưng không đủ để chống rét, họ quay trở về làng, lần xuống theo những con đường hẹp giữa những ngôi nhà đá nhỏ, về ngôi nhà bỏ trống mà họ đã tá túc từ buổi tới đây, ngôi nhà mà dân đánh cá Kommos đã dành cho họ làm nơi ở tạm một thời gian, đến khi nào cũng được, họ vào nhà và nằm nghỉ, trong đêm Kommos dễ chịu, cũng như mọi khi họ có một giấc ngủ ngắn và bất an, và chẳng mấy chốc trời đã rạng sáng, lại một ngày mới đến, với bình minh, tất nhiên cả bốn người đều đã đón những dấu hiệu đầu tiên của ánh sáng ở bên ngoài, trên bãi cỏ đẫm sương dưới gốc một cây vả trước nhà, họ quỳ khi trời đang rạng dần, nhìn mặt trời nhô lên ở phía Đông vịnh biển, vì cả bọn đều nhất trí, trên mặt đất không có gì đẹp hơn cảnh mặt trời mọc, một buổi bình minh, Kasser nói, cảnh sắc kỳ vĩ này, sự sinh nở của ánh sáng, cảnh vật và những đường viền, lễ hội tưng bừng của hồi quang và ảo ảnh, của sự hồi sinh vạn vật và của chính sự viên mãn, Falke nói, khoảnh khắc mang lại sự bảo đảm cho trật tự và quy tắc, nghi lễ căn bản của sự sinh thành, chắc chắn không có gì đẹp hơn, Kasser nói, đấy là chưa nói đến điều gì diễn ra bên trong con người thấy tất cả, người quan sát lặng lẽ toàn bộ sự kỳ diệu này, đúng, Falke nói, dù đối ngược với nó là hoàng hôn, thì bình minh - với sự sáng rõ tỉnh táo của nó - là sự khởi hành và sự bắt đầu, là nguồn sức mạnh nhân từ, cũng là cội nguồn của sự tin cậy, Kasser nói, vì trong mỗi buổi sớm có một sự tin cậy vô điều kiện nào đó, và còn bao nhiêu thứ nữa, Falke nói thêm, nhưng tới lúc đó trời đã sáng hẳn, ánh sáng rực rỡ buổi sáng chiếu xuống Kommos, và cả bọn chậm rãi, từng người một, quay vào nhà, vì tất cả đều đồng ý với Toót, khi anh ta khẽ nói, được rồi, tất cả đều đúng như thế, nhưng bây giờ có lẽ đã đến lúc phải tiêu thụ chỗ cá, chà và, vả và nho hôm qua người trong làng đã mang cho.

7.

Mười hai ngày đã trôi qua kể từ hôm con tàu đâm vào đá ngầm trong cơn bão, nhưng họ, Korin viết, những người dân Kommos, vẫn chưa biết gì nhiều hơn về bốn người sống sót, so với ngày đầu tiên, họ không biết làm sao với câu trả lời duy nhất mà họ moi ra được từ một người, khi họ hỏi rằng ít nhất thì những người kia cũng phải nói ban đầu bọn họ định đi tới đâu, hay bằng cách nào bọn họ đã tới đây, câu trả lời là bọn họ dự định tới đây, và kể từ khi họ biết suy nghĩ, cả bốn người đều muốn tới đây, họ trả lời thế, những người được cứu sống cười cười đáp lại dân Kommos như thế, rồi ngay sau đó bọn họ bắt đầu hỏi những người sở tại, hơn nữa các câu hỏi của họ rất khác thường, cả những câu chẳng hạn như ở trên đảo những pháo đài nào là quan trọng nhất, quân chính quy có bao nhiêu người, nhìn chung ý kiến của mọi người về chiến tranh thế nào, và tình hình quân sự trên đảo Crete ra sao, họ hỏi dân Kommos những câu vô nghĩa như vậy, sau khi những người bản địa đáp lại rằng ở đây không có pháo đài, không có quân chính quy, chỉ có hạm đội ở Amnisos, và rằng ở đây thanh niên chỉ sử dụng vũ khí trong các nghi lễ hội hè, thì họ bắt đầu mỉm cười ra chiều bí ẩn, và gật gật đầu, như thể họ đã đoán trước được câu trả lời, và sau cuộc trò chuyện này cả bốn người đều tỏ ra vui vẻ khiến những người dân chài chẳng còn hiểu ra làm sao, họ chỉ chú ý thấy mỗi ngày bốn người kia càng trở nên bình thản hơn và điềm tĩnh hơn, mỗi ngày họ lại ra chỗ đám phụ nữ ở cối xay ngũ cốc và xưởng ép dầu, hay ở chỗ đám đàn ông trên các tàu đánh cá hay các xưởng nhiều hơn, họ tham gia công việc ở mọi nơi, tối đến họ lại ra quả đồi phía vườn ô liu và ở dưới bầu trời sao đến đêm, nhưng họ làm gì ngoài đó, nói với nhau những gì ngoài đó thì đúng là người trong làng không hề biết, đến cả Mastemann cũng tiếp tục im lặng và cứ ngồi bất động suốt ngày bên chiếc xe kéo của lão ngoài quảng trường của Kommos, lão cứ ngồi đó nhìn đi đâu đâu, trong khi những chú mèo nhốt trong cũi của lão thỉnh thoảng lại gào lên thảm thiết, vì, người ta kể cho bốn người kia nghe trong các xưởng và trên các con tàu, Mastemann, nghe đâu là lão buôn bán mèo ở Gurnia, làm như lão đang chờ một ai đó tới mua mèo của lão, dù số mèo lão mang tới sau khi lão đến đã bán gần hết, thực ra, dân Kommos nói, lão đợi cái khác, nhưng đợi cái gì thì dĩ nhiên lão không nói với một ai, dẫu sao thì, Korin gõ, ở Kommos nhìn chung người ta sợ Mastemann, và đến nay vẫn sợ lão, tuy lão chẳng làm gì, chỉ ngồi bên chiếc xe kéo và vuốt ve con mèo lông đỏ nằm trong lòng lão, nhưng từ khi lão tới đây trong làng nhiều chuyện không hay, biển không có cá và người ta không gặp may, vườn ô liu khô héo, đàn bà cãi cọ nhau, và cả gió cũng phát rồ trên cao, và họ hoài công đem lễ vật tới những chốn linh thiêng nhất, hoài công khấn cầu nữ thần Eileithyia[8] theo đúng thể thức, chẳng có gì thay đổi, Mastemann ngồi đó, như một cái bóng trùm xuống làng Kommos, dù họ rất mong điều Mastemann đợi sẽ tới, vì khi đó Mastemann sẽ ra đi, và khi đó có lẽ cuộc sống cũ và may mắn sẽ trở lại Kommos, và cả lũ chim cũng không hốt hoảng trên bầu trời, vì hãy tưởng tượng xem, đám dàn ông sợ sệt kể, cả lũ chim, hải âu và chim én, te te và gà gô, như thể phát điên hết cả, cứ bay loạn xạ, chao đảo, vút lên lao xuống và kêu rít lên, rồi chúng lao vào các nhà, tìm các xó xỉnh như muốn ẩn nấp, chẳng ai hiểu chúng làm sao, chuyện gì xảy ra với chúng, nhưng ai cũng hy vọng đến một ngày Mastemann sẽ ra đi, lão sẽ bê con mèo lông đỏ và những con khác trong cũi lên xe kéo và biến mất hút trên con đường đi về phía Phaistos từ đó lão đã tới.

8.

Gã đã đọc vô số lần, hôm sau Korin vào bếp, sau một lúc lâu ngồi im lặng sau cánh cửa gã cho rằng sẽ không phải sợ nguy cơ gặp tay phiên dịch, đúng là gã đã đọc năm lần, có khi mười lần rồi, nhưng sự bí ẩn của cảo bản không bớt đi, nội dung không thể giải thích nổi của nó, thông điệp không thể hiểu nổi của nó không trở nên rõ ràng hơn, nghĩa là điều ta không hiểu ở trang đầu tiên, thì chính điều đó ở trang cuối cùng cũng không thể hiểu nổi, dầu vậy nó vẫn thôi miên ta, và ta không thoát khỏi không gian và thời gian huyền bí mê hoặc mà nó cuốn ta vào, vì trong khi đọc nghiến ngấu từng trang, mỗi lúc ta càng nhận ra rằng trên trái đất này không có gì quan trọng hơn điều khuất lấp sau sự bí ẩn, sự không thể giải thích nổi, sự không thể nhận biết nổi này, ít ra đối với gã sự nhận thức này đã không thể tẩy bỏ được nữa, và như vậy gã không cần phải giải thích cho bản thân gã vì sao gã lại làm việc này, nghĩa là vì sao gã lại dành mấy tuần gần đây cho công việc đặc biệt này, vì, gã nói với người đàn bà vẫn đứng quay lưng về phía gã, gã dậy lúc năm giờ sáng, five o’clock, gã tự dậy thế đã từ nhiều năm nay, uống một tách cà phê, và gã hy vọng là tiếng lách cách không làm phiền ai, rồi khoảng năm rưỡi sáu giờ gã ngồi trước laptop, ấn vài nút cần thiết để mở máy, và mọi việc diễn ra trôi chảy, sau đó khoảng mười một giờ gã nghỉ giải lao hơi lâu vì đau lưng mỏi cổ, và những lúc như thế này là khi, sau khi nằm nghỉ một lát, gã hay kể cho thị nghe về những việc xảy ra ngày hôm ấy, rồi xuống mua một thứ đồ hộp gì đó từ cửa hiệu của người Việt Nam dưới phố, một chiếc bánh mì nho nhỏ với một cốc vang, sau đó gã làm việc tiếp đến năm giờ chiều, rồi theo đúng thỏa thuận gã tắt máy, trả lại line cho chủ nhà, và gã khoác áo ra phố, đi đến mười, mười một giờ, không thể nói là gã không sợ, vì đúng là gã sợ, nhưng gã đã quen với nó, hơn nữa nỗi sợ này không đủ để gã bỏ chuyến đi dạo năm giờ chiều, bởi vì... gã không nhớ đã nói hay chưa... nhưng một cảm giác không buông tha gã, nói thế nào nhỉ, cứ như thể trước đó gã đã tới đây rồi, hay là không phải thế, gã lắc đầu, nói thế không chính xác, không phải gã đã tới đây, mà như thể gã đã nhìn thấy thành phố này ở một nơi nào đó, gã biết tất cả chuyện này nghe rất khôi hài, vì làm sao gã có thể thấy nó ở đâu, chẳng lẽ ở bên bờ sông Körös[9]? nhưng gã biết làm sao được, nói ra thì thật ngốc nghếch, nhưng đúng là như thế, gã nói, gã có cảm giác rất lạ, khi gã đi trong khu Manhattan, nhìn những tòa nhà chọc trời khổng lồ ngoài trí tưởng tượng này, chỉ là một cảm giác, nhưng gã không dứt ra được, và ngày nào lúc năm giờ gã cũng quyết định đi đến tận cùng sự việc, nhưng gã chẳng đi đến tận cùng được việc gì, mệt phờ, gã quay về khoảng mười - mười một giờ đêm, gã đọc lại một lần nữa những gì đã viết trong ngày trên máy tính, và chỉ ngay trước khi đi nằm, nếu không tìm thấy lỗi nào nữa gã mới lưu lại, như người ta nói, ngày tháng trôi đi như thế, hay nói cách khác cuộc sống của gã ở New York trôi đi như thế, có lẽ gã sẽ viết về nhà như vậy, nếu như gã có ai đó để viết thư cho, và điều này bây giờ gã sẽ nói ra, gã không nghĩ mấy tuần vừa rồi lại tốt đẹp đến thế, the last weeks, sau những gì đã trải qua gã không nghĩ tới, nhưng chính vì thế mà bây giờ gã mới kể cho thị nghe, rằng với thị cũng có thể xảy ra điều tương tự, cuộc đời có thể có một giai đoạn tồi tệ, bad period, Korin nói, nhưng đến một bước ngoặt, turning point, và mọi chuyện trở nên tốt đẹp, đôi khi bất cứ chuyện gì có thể xảy ra với ta, Korin an ủi người đàn bà, bước ngoặt này, turning point, đến một ngày có thể xảy ra với bất cứ ai, thế đấy, không thể cứ sống mãi với sự khốn khổ như vậy, gã nhìn tấm lưng cong gầy guộc của người đàn bà, shudder, rồi đến khi gã hốt hoảng nhận ra đôi vai người đàn bà bắt đầu rung lên từng nhịp theo tiếng khóc mỗi lúc một to dần, gã nói thêm, nhất thiết phải tin vào bước ngoặt này, hopeturningshudder, và bây giờ gã yêu cầu thị, hãy thử tin vào một bước ngoặt như thế, vì mọi chuyện sẽ tốt đẹp, gã hạ giọng, chắc chắn sẽ tốt đẹp.

9.

Tối hôm đó trong khu vườn, dưới ánh trăng vằng vặc, vừa chăm chú nhìn khối lượng khổng lồ của biển đung đưa phía dưới sâu, họ vừa trò chuyện về mối liên hệ khó diễn đạt nhưng hấp dẫn giữa con người và phong cảnh, giữa người quan sát và đối tượng quan sát, một quan hệ tuyệt vời, nhờ nó mà con người nhìn thấy toàn thể, thậm chí đấy là, Falke nói, cơ hội duy nhất trong sự tồn tại của con người, nó giúp ta hiểu mọi thứ một cách thực chất và không chút hoài nghi, mọi cố gắng nhận thức vũ trụ khác chỉ là sự tưởng tượng, là ý tưởng, là mơ ước, nhưng ở đây, Falke nói, mọi thứ đều xác thực và là chính nó, không phải là sự rực rỡ giả tạo, là ảo ảnh, không phải là thứ gì đó ta tưởng tượng ra, nghĩ ra, mơ thấy, mà là toàn thể đời sống đang vận hành, con người quan sát phong cảnh liếc mắt nhìn thấy điều đó, thấy cuộc sống vận hành trong sự yên tĩnh mùa đông và sự bùng nổ mùa xuân, thấy cái toàn thể qua những chi tiết phơi bày ra của nó, như vậy là tự nhiên, Kasser nói, là sự chắc chắn không thể ngờ vực đầu tiên và cuối cùng, là khởi đầu và kết thúc của sự trải nghiệm, đồng thời cũng là của sự sửng sốt, vì nếu có một nơi nào đó, thì đó là ở đây và chỉ ở đây, trước sự toàn thể của tự nhiên, người ta chỉ có thể rung động và choáng váng, như trước một điều gì đó mà chúng ta không hiểu được bản chất, nhưng ta biết rằng nó liên quan đến chúng ta, chỉ rung động và choáng váng, Kasser nói, trong trường hợp đặc biệt này, khi chúng ta có thể đánh giá vẻ đẹp rực rỡ trong tổng thể, dù sự đánh giá đó không gì khác hơn là sự ngưỡng vọng bối rối trước vẻ đẹp này, vì nó đẹp, Kasser nói, và đưa tay chỉ lướt về phía đường chân trời phía xa trên mặt biển lung linh, sự vô cùng vô tận của những con sóng, ánh sáng lấp lánh trên những ngọn sóng, cả vẻ đẹp của những ngọn núi phía sau họ, những cánh đồng bằng phẳng phía xa xa, những con sông và rừng, đẹp và cực kỳ phong phú, Kasser nói, vì nhất thiết phải nói thêm điều này, sự phong phú và đa dạng, bởi nếu ta điểm qua tất cả những gì ta suy nghĩ khi nói về thiên nhiên, thì ta có thể nghẹn lời bởi sự phong phú và vô tận của nó, thiên nhiên giàu có và vô tận, và điều này mới liên quan tới hàng tỷ yếu tố cấu thành nó, chứ chưa liên quan tới hàng tỷ cơ chế và cơ chế phụ, dù chúng có thể liên quan, hay nói cho cùng, Falke nói, sự hiện hữu thần thánh duy nhất, theo cách chúng ta gọi sự hiện hữu ẩn của mục đích, điều dù không thể chứng minh được nhưng giả định đã tác động tới hàng tỷ thành phần và cơ chế; tối hôm đó họ đã nói chuyện trong khu vườn ô liu như thế, sau một hồi im lặng kéo dài Toót lên tiếng, rằng có một cái gì đó bất an trong thái độ của chim chóc, vì thế lúc này họ phải để tâm đến cả chuyện này nữa, hai ngày sau Korin nói với người đàn bà, từ đó trở đi họ hay đặt ra câu hỏi điều đó có nghĩa là gì, phải hiểu cách ứng xử của các loài chim ra sao, cho tới khi họ nhận ra rằng sự bất an không chỉ nhận thấy ở các loài chim, birds, mà ở cả lũ dê, bò và khỉ, monkeys, họ nhận thấy trong cách ứng xử của các loài vật có những thay đổi đáng lo ngại, chẳng hạn như đàn dê không bám được vào những mỏm đá, cứ lăn xuống dưới sâu; thỉnh thoảng đàn bò lại vô cớ chạy như phát điên; lũ khỉ thì vừa la hét vừa lao vào làng, nhưng chúng chỉ chạy và la hét thế chứ không làm gì khác và những việc đại loại như vậy, và từ đó trở đi không còn dấu hiệu của sự vui vẻ và bình thản, và mặc dù họ vẫn làm việc với đám phụ nữ và đàn ông, vẫn đến xưởng ép dầu, oil-mill, tham gia các chuyến đốt đuốc đánh bắt bạch tuộc, octopus-fishing, nhưng tối tối, trong vườn ô liu cạnh vịnh Kommos, chẳng ai trong số họ còn che giấu việc trạng thái vui vẻ của họ đã vĩnh viễn biến mất, họ không còn giấu nhau rằng đã đến lúc phải nói ra, điều cuối cùng Bengazza trong một lần đúng là đã nói ra, rằng tuy đau đớn, nhưng có vẻ như họ lại phải ra đi khỏi nơi đây, điềm báo về một tai họa vũ trụ ghê gớm, một heavenly war, Bengazza thấy những dấu hiệu, trong cách ứng xử thay đổi của các loài vật, của một sự hủy diệt ngoài sức tưởng tượng, như thể có một cái gì đó thực, nhưng không giống như thiên nhiên, một điều gì đó, anh ta nói, không cho phép hòn đảo tuyệt vời này tồn tại, dường như không thể chấp nhận được việc những người Pelasgian[10] này tạo ra sự yên bình của họ ở đây, và không muốn phá hủy chúng, ruin, dường như tất cả những điều này là một nghịch cảnh, Bengazza nói, dường như không thể chịu đựng nổi.

10.

Mastemann cứ im lặng mãi không bày tỏ ý kiến về bất cứ điều gì, và lão chỉ phá tan sự im lặng, Korin viết, vào những lúc lão hứng chí nhắc lại một lần nữa với những người đàn bà vội vã đi ngang qua quảng trường, lời mời chào của lão là gì, vì ở đây cái gì cũng có, lão cười với họ và chỉ về phía những chiếc lồng, mèo trắng Libya và mèo rừng vùng đầm lầy, mèo Kadiz Nubia, mèo Quttha Ả Rập và mèo Mau Ai Cập, có cả mèo Bastet Bubastine, mèo Omani Kaffer và cuối cùng là mèo Burmesse Brown, mọi giống nhìn no con mắt, theo cách nói của lão, không chỉ các loài hiện có, mà cả các loài sẽ có, tóm lại là tất cả những gì họ có thể tưởng tượng, lão nói thế, nhưng cũng vô ích, vì không thuyết phục được một người đàn bà vội vã nào, thậm chí họ còn sợ lão và lũ mèo của lão, tim họ đập gấp và họ rảo bước đi như chạy, bỏ Mastemann đứng đó với bộ dạng cao gầy, với chiếc áo choàng đen dài chấm đất, lão đứng đó một mình giữa quảng trường, và hình như chẳng lấy làm phiền lòng vì câu nói đứt giữa chừng, lão quay lại ngồi xuống bên chiếc xe kéo, nhấc chú mèo lông đỏ vào lòng và vuốt ve nó, và lão cứ ngồi suốt ngày như thế bên cạnh chiếc xe, như thể chẳng thèm để ý đến bất cứ điều gì và bất cứ ai, như thể không một ai và một điều gì có thể bứt lão ra khỏi trạng thái yên tĩnh kia của lão, đúng như thế, một lần Falke dừng lại bên mấy chiếc lồng nhốt mèo, thử bắt chuyện với lão, nhưng Mastemann cứ im như thóc, đôi mắt xanh của lão nhìn thẳng vào mắt Falke, ông đã đến đó chưa? Falke hỏi, và chỉ về phía Phaistos[11], người ta nói ở đó có tòa lâu đài tuyệt vời nhất, một kiệt tác, những kiến trúc sư tài hoa, cũng như Knossos[12] ở phía trên, chắc ông đã tới đó chứ, Falke thăm dò, và chắc ông cũng đã thấy các bức tranh tường ở đó và có lẽ cả nữ hoàng nữa chứ? anh ta hỏi, nhưng người kia không hề chớp mắt, cứ nhìn anh ta chằm chằm, và khi đó Falke tiếp tục nói, ở đó có các lọ hoa và bình sứ và tách và châu báu và những bức tượng nổi tiếng, ngài Mastemann, Falke hăng hái nói, trên nóc thánh đường, quang cảnh mới tuyệt làm sao, ngài Mastemann, và tất cả những cái đó đã một ngàn năm trăm năm, như người Ai Cập nói, liệu ta có nên gọi tất cả những thứ đó là sự kỳ diệu không thể lặp lại? nhưng sự hăng hái của anh ta không làm cái nhìn u tối của lão dịu bớt, đơn giản là, Korin nói, những cố gắng của Falke không mảy may làm lão xúc động, và thế là anh ta, tức Falke, Korin nói, cúi đầu và lúng túng bỏ lão ở giữa quảng trường, đúng là anh ta đã cúi đầu và bỏ mặc lão lại đó, cứ để lão tiếp tục ngồi một mình bên chiếc xe, để lão vuốt ve con mèo lông đỏ trong lòng, nếu như cả Phaistos, Knossos, cả các Nữ thần trên đỉnh thánh đường cũng không khiến lão lưu tâm.

11.

Gã sẽ gặp khó khăn, hôm sau Korin nói với người đàn bà lúc đó đã nấu nướng xong đang quét gọn rác vương vãi quanh bếp, gã nói, nếu phải miêu tả vẻ bề ngoài của Kasser, Falke, Bengazza và Toót, vì tới lúc này, sau bao nhiêu thời gian nghiên cứu về họ, và giờ đây hết ngày này đến ngày khác như thể ăn ngủ cùng với họ, gã vẫn không thể biết hình dung chính xác của họ, ví dụ như ai cao ai thấp, hay ai béo ai gầy, thật thà mà nói nếu người ta buộc gã phải nói, thì gã sẽ bảo cả bốn có tầm vóc trung bình, diện mạo bình thường, tuy nhiên gương mặt họ, cái nhìn của họ thì ngay từ lần đọc đầu tiên gã đã thấy, rõ ràng và sinh động như không thể rõ ràng và sinh động hơn, vì ánh mắt tinh tế và suy tư của Kasser, hiền lành và khắc khổ của Falke, kín đáo và mệt mỏi của Bengazza, cứng rắn và lạnh lùng của Toót chỉ nhìn một lần là khiến người ta không bao giờ quên, và với gã điều đó đã xảy ra, Korin nói, bốn khuôn mặt ấy, bốn ánh mắt ấy, và vẻ tinh tế, khắc khổ, mệt mỏi và cứng rắn của bốn con người ấy đã ăn sâu vào trí nhớ của gã ngay từ những khoảnh khắc đầu tiên, thậm chí, tốt hơn cả là bây giờ gã thú nhận ngay, rằng chỉ cần nghĩ tới họ là gã đã thót tim, vì từ những tích tắc đầu tiên bắt đầu đọc đã có thể biết ngay rằng tình trạng của bốn người đó, và lúc này gã không tìm kiếm ngôn từ lâu, rõ ràng là tình trạng dễ bị tổn thương, nghĩa là phía sau những ánh mắt tinh tế, khắc khổ, mệt mỏi và cứng rắn là sự yếu đuối, tất cả đều undefended, không được che chở, gã nói; đêm hôm đó người phiên dịch kể lại cho người tình trên giường, em hãy tưởng tượng xem, gã đã nói như thế, y không biết ngày ngày gã đã mua vui cho em thế nào, đặc biệt là tại sao và bằng thứ ngôn ngữ gì, nhưng hôm nay khi bất chợt vào phòng và bắt gặp gã trên bậu cửa, y đã may mắn được nghe câu chuyện cực ngớ ngẩn của gã, rằng có bốn người trong tập cảo bản kia, và rằng những người ấy dễ bị tổn thương thế nào, em thử nói xem, xin lỗi cô em yêu quý, thằng đếch nào quan tâm đến việc chúng nó dễ bị tổn thương hay là không, ai biết chúng nó làm gì trong cái tập cảo bản ấy, và gã nữa, gã làm gì trong căn phòng phía sau kia, cái chính là gã hãy trả tiền cho đủ, và đừng có nhúng cái mũi ngu ngốc của gã vào chuyện của họ, vì đó - và từ chỗ này y lại và nhiều lần gọi người tình là em yêu quý - là chuyện của riêng họ, chuyện gì xảy ra hay không xảy ra giữa họ, y nhắc lại: giữa họ đôi khi có thể nổ ra sự bất đồng, đó là việc của họ, và như vậy y rất hy vọng, y nói, trong những cuộc trò chuyện kéo dài ở nhà bếp, trong lúc y, người phiên dịch, không có ở nhà, không bao giờ được nói tới chuyện có liên quan đến họ, rất hy vọng cô em thân yêu không nhắc tới bất cứ một điều gì về cuộc sống của họ, thực lòng mà nói, y không hiểu những cuộc trò chuyện trong bếp đó có ích gì, hơn nữa gã nói bằng tiếng Hung, thứ tiếng mà cô em thân yêu chẳng hiểu cóc khô gì hết, nhưng thôi được, cứ để thằng cha ấy nói, không thể cấm gã làm chuyện đó, nhưng về họ, đặc biệt là về công việc của y, thì cô không được bép xép, cô hãy nhớ điều này, cô em thân yêu ạ, người phiên dịch nói, trong khi nằm trên giường đầu gối lên một cánh tay, cánh tay tự do, cánh tay kia đưa về phía người đàn bà, nhưng giữa chừng cánh tay ấy thay đổi ý định, nó đưa lên chỗ đường rẽ ngôi của mái tóc trắng như tuyết, lấy ngón tay rà từ đầu đến cuối xem có sợi hay lọn tóc nào lạc từ bên này sang phía bên kia, làm hỏng đường rẽ ngôi thẳng tắp ở chính giữa hay không.

12.

Tôi tin rằng sau đó sẽ chẳng có gì hết, một lần Korin bất chợt nói sau một lúc lâu im lặng, rồi cũng chẳng hề giải thích xem gã nghĩ đến chuyện gì và tại sao ý nghĩ này lại nảy ra trong đầu gã, gã nhìn qua cửa sổ ra màn mưa ảm đạm, và nói thêm: Chỉ có bóng tối khổng lồ, một cú tắt điện khổng lồ, và sau đó người ta tắt đi cả bóng tối khổng lồ kia nữa.

13.

Bên ngoài trời mưa như trút, gió lạnh thổi như bão từ phía biển, người ta đi như chạy trốn trên phố xá tới nơi ấm áp, và như vậy trong những ngày này Korin hay người đàn bà cũng đi như chạy trốn xuống cửa hiệu của người Việt Nam, chỉ để mua những thứ thông thường, Korin hay mua đồ hộp về đun nóng lên, rượu vang, bánh mì, bánh kẹo, đại loại thế, người đàn bà mua đậu đỏ, đậu lăng, ngô, khoai tây, hành, gạo, dầu ăn và thịt, tùy theo trong nhà hết thứ gì, thị thường mua thịt gia cầm, xong họ vội vã lên nhà, và cả hai ở lì trên đó đến lần xuống mua sau, người đàn bà nấu bữa trưa, trong khi vừa quét dọn và giặt giũ, Korin thì nghiêm chỉnh tuân thủ giờ giấc làm việc, sau bữa ăn trưa chóng vánh gã lại ngồi vào bàn, làm việc đến năm giờ chiều, sau đó gã lưu những gì đã viết, tắt máy tính, và ở trong phòng, nhưng không làm gì hết, gã cứ nằm im trên giường hàng giờ liền như một xác chết, gã nhìn những bức tường trần trụi, nghe tiếng mưa gõ trên cửa sổ, rồi kéo một tấm chăn trùm lên mình, và cứ thế chìm vào giấc ngủ.

14.

Một hôm gã vào bếp tuyên bố ngày định mệnh đã đến, nhưng tất nhiên, gã nói, nó sẽ đến, nhưng ngay trước ngày đó cũng không thể đoán trước được điều gì, nỗi lo lắng, anxiety, tất nhiên rất lớn ở Kommos; người ta liên tục tới những chốn linh thiêng, và đem đến mọi vật hiến tế có thể, sacrifice, người ta còn căn vặn các nữ tu sĩ, chú ý đến thái độ của các loài vật, đến những biến chuyển của cây cối, quan sát mặt đất, bầu trời, biển cả và mặt trời, gió và ánh sáng, chiều dài của những bóng râm, tiếng khóc của trẻ sơ sinh, hương vị của đồ ăn, nhịp thở của người già, tất tật, nhưng không ai có khả năng đoán trước xem ngày định mệnh, decisive day, sẽ tới khi nào, chỉ khi nó đã hiện hữu họ mới biết nó đã tới, trong một khoảnh khắc những người đứng túm tụm thành vòng tròn đã hiểu, và cái tin được người ta loan đi, vì chỉ cần nhìn liếc qua, ở giữa quảng trường, Korin nói, chỉ cần nhìn nó xuất hiện ở lối vào quảng trường, cái cách nó ngật ngưỡng lết về phía trước, cách thức nó ngã vật xuống giữa quảng trường, và nằm đó bất động, là người ta biết đây là dấu hiệu quyết định, có tính định mệnh, thế là hết, hết lo lắng và phấp phỏng, đã đến thời của sợ hãi và chạy trốn, vì nếu một con sư tử, lion, vì đó chính là nó, đã đi xuống để chết trên quảng trường, trước mắt mọi người, thì hệ lụy không thể là gì khác ngoài nỗi sợ hãi và chạy trốn, không thể là gì khác, người ta cứ hỏi mãi, Lạy Chúa, thế này là thế nào? nó bỗng nhiên xuất hiện trên quảng trường, đau đớn lết về phía trước, rồi nhìn vào mắt những người thợ ép dầu và thợ làm đồ gốm, gần như từng người, và gục xuống, ngã nghiêng sang một bên trên nền đá? vậy là thế nào, người ta hỏi, nếu đó không phải là tín hiệu cuối cùng, là thông điệp cuối cùng nhất và rõ ràng nhất là mối hiểm họa đã tới, họ hiểu như thế, chính xác như thế, tất cả mọi người, everybody, sau đó là sự yên lặng trong làng Kommos, bọn trẻ con và chim chóc bắt đầu khóc trong im lặng, đàn bà và đàn ông bắt đầu xếp dọn, gói ghém đồ đạc và suy nghĩ xem nên thế nào, những chiếc xe kéo đã đứng trước các nhà, những người chăn bò và cừu đã sẵn sàng, tất cả đã xong, người ta bái biệt và cầu khẩn những chốn linh thiêng, dừng lại lần cuối ở khúc quanh trên cao, nhìn lại với nước mắt và cay đắng và hốt hoảng, Korin nói, chỉ trong vài ngày mọi chuyện đã xong, và họ đã lên đường, làng Kommos trống không, mọi người đã ở trong núi với hy vọng được bảo vệ và sẽ an toàn hơn, với hy vọng được giảng giải và thoát nạn, chỉ vài ngày, và mọi người đã trên đường tới Phaistos.

15.

Lão Mastemann đã biến mất, một người dân chài Kommos kể với Toót lúc họ đã ở trong núi, đơn giản là lúc trước lão còn ở đó, thế rồi trong một tích tắc lão đã mất tăm, và kỳ lạ nhất là lão biến mất cùng với mọi thứ, không để lại một thứ gì, cả chiếc xe, cả áo choàng, cả đến một chiếc lông mèo cũng không, lão đã ngồi ở chỗ lão thường ngồi trên quảng trường, nhiều người cam đoan thế, nghĩa là lúc con sư tử chết chắc chắn lão còn ở đó, nhưng sau đó thì không ai nhìn thấy lão nữa, và hãy hiểu là, ý nói Toót phải hiểu là, cả chiếc xe cũng không thấy nốt, không ai nhớ lão đi về phía nào, chiếc xe đã biến đi đâu, hay lúc ấy lũ mèo đã làm gì, không ai nghe thấy một tiếng mèo kêu, ai cũng chỉ biết rằng trong buổi tối hoảng loạn đầu tiên ấy, khi các gia đình xếp dọn đồ đạc trong nhà và thuyền bè được kéo lên bờ thì Mastemann đã mất tăm, cứ như lão đã đợi giây phút đó, cứ như cái chết của con sư tử đối với lão là một dấu hiệu để rời khỏi nơi này, thế nên không có gì lạ khi ý kiến chung của mọi người là, người dân chài nói, sự mất tăm tích Mastemann cũng đáng lo ngại như sự hiện hữu của lão cho tới khi đó, thậm chí, người dân chài nói, mọi người đều cảm thấy có thể là họ chưa thoát khỏi lão thực sự, chỉ có điều lúc này lão không có mặt ở đây, và từ nay sẽ như thế, vài người cả quyết rằng, nơi nào lão Mastemann đã một lần phủ cái bóng của lão lên, thì cái bóng ấy không bao giờ mất, đấy, nhiều người thấy như vậy, người dân chài kết thúc, Toót đợi các bạn mình đến để nói cho họ biết điều anh ta vừa nghe được, nhưng đúng lúc không thể kể chuyện này với họ, thế là anh ta phải chờ cho họ nói chuyện xong, nhưng rồi anh ta quên khuấy tất cả, hay nói chính xác hơn, Korin viết, anh ta mất hết hứng thú kể lại câu chuyện, tốt hơn hết là anh ta nghe Kasser nói về thời gian, nghe tiếng lọc cọc của chiếc xe đi bên cạnh họ đang leo lên dốc trên con đường nhỏ, rồi anh ta để ý đến tiếng thở của con lừa kéo chiếc xe và tiếng vo ve của ong rừng bay trên luồng sáng của buổi chiều muộn rọi xuống con đường, và cuối cùng là tiếng hót của một con chim cô đơn trong bóng tối của rừng.

16.

Đoàn người đi chậm, con đường mòn dốc và hẹp, đôi chỗ chỉ vừa chiếc xe kéo, nhiều chỗ có những lạch nước, gulch, khiến con đường thắt lại, chiều rộng không đủ chỗ cho một chiếc xe, những lúc như thế phải nâng một bên xe lên, đỡ nó trong khi hai bánh xe bên kia lăn qua, trước đó tất nhiên phải dỡ hết đồ đạc nặng xuống để khoảng sáu hay tám người đi theo xe đủ sức nâng nó lên, tóm lại là khiêng chiếc xe qua những chỗ nguy hiểm, như vậy dễ tưởng tượng thấy, Korin nói, họ đi trong núi chậm chạp như thế nào, hơn nữa trời nắng gắt, những giờ nóng nhất họ không thể đi nổi, phải nấp vào những chỗ có bóng mát, phải dẫn gia súc xuống sườn núi, phủ lên đầu chúng những tấm da, tấm vải bạt ướt để tránh cho chúng khỏi bệnh nhũn não; họ đi như thế, ngày lại ngày, và những người yếu hơn đã chóng mặt vì kiệt sức, có thể nhận thấy cả đám gia súc cũng mệt mỏi, cuối cùng họ đã tới vùng đồng bằng Messene, và họ nhìn thấy ngọn núi nhô lên trên đồng bằng, tòa lâu đài trên sườn núi, the palace, đó là Phaistos, họ chỉ cho bọn trẻ con thấy, đây rồi, chúng ta đã tới, họ động viên nhau, sau đó họ dừng lại một khu rừng nhỏ, grove, và suốt một ngày họ chỉ nhìn sườn núi đối diện, nhìn ngắm các bức tường rực rỡ trong nắng của tòa lâu đài, những mái lợp tầng tầng lớp lớp, im lặng và trầm tư, ngoại trừ Kasser, sau khi mọi người đã ngồi nghỉ dưới một cây bách, anh ta bắt đầu nói như nước chảy, rõ ràng sự mệt mỏi quá sức là lý do, the cause, khiến anh ta cứ nói và nói mãi, nói rằng nếu ta đi đến tận cùng trong ý nghĩ là ta đã phải chia tay với tất cả những gì, thì cái danh mục ấy gần như không có kết thúc, vì ta biết bắt đầu thế nào với những thứ mà sự ra đời của chúng theo ý kiến của anh ta là kỳ diệu, còn sự lụi tàn của chúng là một tổn thất khôn lường, chẳng hạn như cái công trình tuyệt vời trên cao kia, một mặt quay về phía đồng bằng Messene, mặt kia quay về phía núi Ida, hay những Zakro, Mallia, Kydonia ở xa và tất nhiên cả Knossos nữa, rồi những chốn linh thiêng xây dựng bằng đá, các nhà thờ Potnia, các công xưởng làm ra bình lọ, các rhyton[13] và các ấn tín, đồ kim hoàn và tranh tường, các bài ca và vũ điệu, những lễ hội, các trò vui chơi, các cuộc đua và tế lễ, và đó mới chỉ là những gì cho tới lúc đó họ đã nhìn thấy, hoặc họ biết tới ở Ai Cập và Babylon, ở Phoenicia[14] và ở Alasiya, đó thực sự là những điều kỳ diệu và tổn thất đích thực, nếu chúng mất đi thật, Kasser nói, chính người Crete, the man in Crete, Korin nói, đã sáng tạo ra chúng và bây giờ theo mọi dấu hiệu thì họ sẽ đánh mất chúng, trí tuệ và tài năng vộ hạn của họ, tinh thần và tình yêu cuộc sống của họ, sự khéo léo và dũng cảm của họ, sự diệu kỳ hi hữu này và mất mát hi hữu này, Kasser nói, và các bạn anh ta nghe, nhưng họ không nói một lời nào, vì họ biết anh ta nói điều gì, họ cứ im lặng, và nhìn ánh lửa đuốc từ phía Phaistos, the torchlight, họ nhìn bóng tối đang buông dần xuống, cuối cùng cả Toót cũng lên tiếng, trong sự tĩnh lặng sùng kính, rằng đây là cảnh đẹp nhất mà anh ta từng nhìn thấy, rồi anh ta hắng giọng, nằm ngửa người, đầu gối lên hai bàn tay đan chéo vào nhau, và trước khi ngủ còn dặn mọi người, nào thôi, được rồi, từng ấy điều kỳ diệu đã đủ, vì ngày mai việc đầu tiên của họ là tìm ra đường dẫn tới cảng, và phải biết dưới đó có tàu thuyền hay không và nó đi về đâu, chính xác là phải biết điều đó chứ không phải là điều gì khác, anh ta nói, mắt đã bắt đầu díp lại, đó phải là việc đầu tiên của họ vào ngày mai.

17.

Họ đã nhìn thấy lâu đài của Phaistos từ xa, Korin nói, và thấy cả bậc tam cấp nổi tiếng ở phía Tây từ rất gần, nhưng họ không đi theo những người Kommos, những người mang theo tin tức và sự sợ hãi cố gắng đi vào trong, họ chia tay với đám đông, và sau khi đã biết đường tới cảng, họ lần xuống con đường dốc ngoằn ngoèo, và khi đó đã xảy ra, Korin nói với người đàn bà, lúc đó là buổi sáng, mặt trời vừa lên, bốn người bọn họ đang đi tới cảng, thì trời bỗng nhiên tối sầm lại trên đầu họ, darkness, buổi sáng, mà bóng tối dày đặc, nặng nề, không thể xuyên nổi trùm lên họ, và tất cả chỉ diễn ra trong nháy mắt, họ hốt hoảng nhìn trời, và cứ loạng choạng bước đi tiếp trong bóng tối không thể hiểu nổi, rồi mỗi lúc họ đi một nhanh hơn, cuối cùng họ chạy, dốc hết sức chạy và nhìn bầu trời, nhưng dù đi hay chạy và nhìn trời mù lòa và hốt hoảng cũng vô ích, vì bóng tối là tuyệt đối và định mệnh, không thể tránh khỏi nó, không có đường ra khỏi nó, không có sự giải thoát, vì bóng tối vĩnh hằng đã trùm lên họ, Bengazza thét lên, toàn thân run rẩy vì sợ hãi, perpetual night, Korin thầm thì giải thích cho người đàn bà, nghe thấy thế người đàn bà đang đứng bên bếp lửa hoảng hốt quay lại, có lẽ chính tiếng thầm thì bất chợt đã làm thị sợ, rồi thị quay lại với mấy cái nồi xoong của thị, và đảo các thức nấu trong nồi, rồi thị thở dài bước tới mở cửa thông gió, nhìn ra ngoài, đưa mu bàn tay lên quệt ngang trán, cuối cùng thị đóng cửa sổ, ngồi xuống ghế bên cạnh bếp lò, quay lưng về phía Korin, và thị đợi, đợi thức ăn trong nồi chín dần.

18.

Dưới cảng, the harbour, người đông đến nỗi không thể nhúc nhích nổi: người Luv sở tại, người Lybia, người Cyladesy và Argolisy, có cả người Ai Cập, người Cythera, người Melos, người Cos, đông nhất là người đến từ Thera[15], tất cả làm thành một đám đông hỗn hợp khổng lồ, nhưng tất cả, Korin nói, đều hỗn loạn và sợ hãi, và có lẽ vì chính điều này, vì thấy họ chen lấn và kêu la, quỳ lạy rồi lại lao đi, mà bọn Toót trấn tĩnh lại tới mức có thể nén nỗi sợ hãi, và thay vì lao xuống biển như rất nhiều trong số những người đổ về đây, họ tách khỏi đám đông hốt hoảng, tới một chỗ khuất; họ đã tách khỏi đám đông, và rất lâu, nghĩa là rất nhiều thời gian qua đi, họ không thể để tâm tới điều gì khác, chỉ chuẩn bị cho cái chết, khi họ nhận ra rằng thảm họa không lấy đi mạng sống của họ ngay, họ bắt đầu cân nhắc, liệu họ có chút cơ hội nào để thoát hiểm hay không, running away, và theo Bengazza, nhất định đã có một cơ hội như thế, và cơ hội này, anh ta tuyên bố, cũng giống như hôm qua, vì biển, Bengazza nói, họ cần phải biết ngoài biển có con thuyền nào đủ chỗ cho bốn người bọn họ hay không, ít ra họ cũng phải thử tìm xem, anh ta chỉ về phía biển được chiếu sáng bằng đuốc, the bay, và với việc anh ta còn đủ sức nói về sự trốn thoát, có thể thấy anh ta đã tiếp thêm sức lực cho những người kia, chỉ có Kasser bỗng nhiên im lặng, như thể những lời nói của Bengazza không tác động lắm tới Kasser, anh ta cứ cúi đầu không nói câu nào, và cả đến lúc cuối cùng, khi ba người kia nói: đúng, cần phải thử xem sao, ít ra cũng phải thử làm một điều gì đó, và đi về phía biển, thì Kasser vẫn ngồi trong góc khuất ấy, đầu cúi gằm, không nhúc nhích, anh ta không muốn đi, những người kia phải kéo anh ta dậy lôi đi, vì như khá lâu sau này anh ta kể trên boong con tàu đi về phía Alasiya, bóng tối kinh hoàng trên đầu họ, và chẳng mấy chốc tro bụi sẽ rớt xuống từ bầu trời, đối với anh ta có nghĩa là lời phán xét cuối cùng sẽ tới, chứ không phải đây là lúc chạy trốn, cơ hội và hy vọng đối với anh ta lúc đó, Kasser nói khi họ đã đi được nửa chặng đường tới Alasiya, khi anh ta nhận thấy những hạt tro đầu tiên trong không khí, anh ta đã mất hết hy vọng, vì anh ta nghĩ, anh ta biết rằng, điều gì đã xảy ra, anh ta nghĩ ở một nơi nào gần đó, có thể là Knossos, cả thế giới đang cháy, và anh ta đoan chắc mình không nhầm, trái đất, trên đầu, dưới chân đang cháy, thế là hết, anh ta tự chốt lại, đây đúng là sự tận số của thế giới này, và của cả những thế giới tiếp sau nữa, và sau tất cả những việc đã diễn ra, anh ta không thể nói, cũng không thể giải thích tại sao anh ta lại để mọi người lôi kéo anh ta ra bờ biển, lại để họ xô đẩy anh ta giữa đám đông hỗn loạn, rồi để họ đẩy lên tàu, anh ta không ý thức được điều gì đã diễn ra xung quanh, anh ta chỉ biết ngồi xuống mũi tàu, at the prow, Korin nói, và đối với anh ta, Korin nói thêm, chương này kết thúc ở đây: anh ta cứ ngồi đó, ở mũi tàu, nhưng không nhìn ra phía trước, mà chỉ nhìn vào hư không, và mũi con tàu cứ lắc lư và dập dềnh theo nhịp sóng trồi lên hạ xuống, chúng ta nhìn thấy anh ta như thế, Korin nói, lắc lư và dập dềnh theo mũi tàu, và phía sau họ là Crete chìm trong bóng đen mịt mùng, phía trước họ, ở khoảng xa bất định, là Alasiya, nơi ẩn náu của họ.

19.

Tiểu thư nên biết rằng, hôm sau Korin nói khi vào bếp và ngồi xuống bên cạnh bàn, lần đầu tiên khi gã đọc đến chỗ này trong cái phòng lưu trữ ở nơi xa xôi ấy, đến chỗ họ biến mất trên một con tàu về phía Alasiya, thì gã rất kinh ngạc, vì câu chuyện, the story, hay là cái gì đó, hoàn toàn cuốn hút gã, như gã đã kể, nhưng gã không hiểu gì hết, như vậy tiểu thư hãy tin là gã không nói quá lời, rằng không hiểu gì hết, vì lần đầu tiên ta có thể có cảm giác là ta hiểu điều ta đọc hay nghe được, rõ ràng tiểu thư cũng có thể gặp trường hợp như vậy, nhưng sau đó cảm giác này qua đi, như thể nó chưa từng có, bởi trong con người đọc nó hay nghe nó, lần thứ hai có thể nảy sinh ra vấn đề, như tất nhiên nó đã nảy sinh, với những lời nói của Toót, thôi được, cứ cho là họ đã trôi dạt vào bờ, họ đã sống mấy tuần tuyệt vời ở đó, họ đã biết tới thiên đường trên mặt đất, rồi đến ngày phán xử cuối cùng, thôi được, cũng có thể viết như thế, trong bí mật, với một mục đích không công khai nào đó, quay lưng lại với thế giới như tác giả của tập cảo bản này đã làm, có thể, nhưng: để làm gì - nào, có lẽ như vậy hơi thô bạo, Korin nói, nghĩa là hơi coarse, nhưng lần đọc đầu tiên gã nảy ra ý nghĩ như thế, một cách thô thiển và đơn giản, rằng tất cả câu chuyện hoàn toàn kỳ diệu, tuyệt vời, cuốn hút, nhưng: để làm gì, để làm gì và để làm gì, nghĩa là một người nào đó đã nghĩ ra chuyện này hoặc trong bí mật, hoặc là không có mục đích công khai, hoặc quay lưng lại với thế giới, đã bỗng nhiên đưa ra bốn con người này từ màn sương mù hay bóng tối, rồi quăng quật họ trong một không gian phi thời gian, trong một thế giới tưởng tượng đã đánh mất các huyền thoại, điều đó có nghĩa gì, gã tự hỏi, và, Korin nói, tới lúc này gã vẫn tự hỏi, một lần nữa và vẫn với kết quả như thế, vì kết quả là con số không, gã không biết câu trả lời, cũng như lúc còn ở trong phòng lưu trữ, khi đọc lần đầu tiên, gã chỉ nghỉ lấy hơi trong một tích tắc và ngước lên khỏi tập cảo bản để suy nghĩ, cũng như cách đây không lâu gã đã ngước lên, để trong khoảnh khắc đó gã cho tất cả vào home page, và giờ đây tất cả đoạn về Crete đã ở trên home page, Korin tuyên bố vẻ hãnh diện, công khai cho thế giới, hay chính xác hơn cả: để ngỏ cho vĩnh hằng, tiểu thư có biết điều đó nghĩa là gì không, nghĩa là giờ đây bất cứ ai cũng có thể đọc được chương viết về Crete, và điều này có nghĩa là bất cứ ai trong cõi trường sinh, chỉ cần nhấn nút một cái, khi nhìn thấy địa chỉ của gã trong trình duyệt tìm kiếm Alta Vista[16], nhấn một cái nữa, là sẽ thấy nó ở đó, nó sẽ ở trên đó, Korin nhìn người đàn bà đầy vẻ phấn khích, dựa trên những chỉ dẫn của ngài Sárváry bây giờ gã đã gửi cả chương đầu vào cõi vĩnh hằng, chỉ vài cái nhấn nút là xong, Korin hăng hái nói, nhưng nếu bằng việc đó gã muốn khích lệ sự hăng hái của người đàn bà ngồi bên bếp, thì gã lại thất bại, vì gã không mảy may khiến thị chú ý, thị cứ ngồi rũ xuống trên ghế, thỉnh thoảng lại quay về phía bếp chỉnh cho lửa nhỏ đi hay to lên, rồi lắc lắc hay dùng chiếc thìa gỗ đảo thức ăn đang sôi trong nồi.

20.

Đế chế Minoan, Korin nói, Minotaur[17], Theseus[18], Ariadne[19] và mê lộ, một ngàn năm trăm năm không thể lặp lại: sự yên bình, vẻ đẹp con người và sức sống và sự nhạy cảm, rìu hai lưỡi và những chiếc bình Camera, những nữ thần thuốc phiện và những hang động thần thánh, cái nôi của văn hóa châu Âu, như người ta nói, thời nở hoa, thế kỷ 15 trước Công nguyên, rồi đến Thera, gã cay đắng nói, cuối cùng tới người Mycenae[20] và bộ lạc Achaen[21], sự hủy diệt phi lý và đau đớn và toàn diện, thưa tiểu thư, đó là những gì chúng ta biết, gã nói rồi im lặng, và vì lúc ấy người đàn bà bắt đầu quét sàn, gã co chân lên để thị luồn chiếc chổi xuống dưới ghế, gã co chân lên và thị quét rác dưới chân gã, và trước khi quét về phía cửa, có lẽ như muốn cảm ơn vì gã đã co chân lên, bằng giọng phát âm lơ lớ thị nói rất nhỏ với Korin: [22] - rồi đúng là đi về phía cửa, thị quét cả hai góc và khe hở chỗ bậc cửa, cẩn thận thu rác thành một đống nhỏ và gạt lên chiếc xẻng, sau đó thị bước tới cửa thông gió, mở ra và đổ tất tật ra ngoài, vào gió, vào trời, lên những mái nhà khốn khổ, giữa những ống khói rách nát, và khi thị đã đóng cửa sổ thông gió, vẫn còn nghe tiếng một chiếc vỏ đồ hộp rỗng bắt đầu nhảy lưng tưng xuống phía dưới, tiếng kêu nhỏ dần trong gió, trong không trung, giữa các mái nhà ống khói.

21.

Sắp có tuyết rơi, Korin nói, và gã cứ nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ, rồi gã dụi mắt, nhìn đồng hồ báo thức đang gõ nhịp trên tủ bếp, sau đó chẳng chào hỏi gì gã ra khỏi bếp, và đóng cửa lại.

❀ ❀ ❀

[1] Thành phố cảng nằm trên dải Gaza, là vùng đất tự trị của Palestin, cách Tel- Aviv 65 km về phía Nam.

[2] Thành phố cảng nằm trên bờ Địa Trung Hải, phía Tây Lebanon.

[3] Thành phố nằm ở Tây Bắc Toscany, gần bờ Tây Ý, cũng là thủ phủ của vùng này.

[4] Một địa danh trên hòn đảo Santorini trên biển Địa Trung Hải, thuộc Hy Lạp.

[5] Pylos (Pilos): một thành phố ven biển, trên bờ Địa Trung Hải, phía Tây Hy Lạp.

[6] Một quốc gia cổ thời kỳ đồ đồng nằm ở đâu đó phía Đông Địa Trung Hải, hiện được cho là tên cổ của Cyprus (Sip).

[7] Đảo lớn nhất trong quần đảo Aeolian nằm ở phía Bắc Sicilia, trên vùng biển Tyrrhenian thuộc Ý.

[8] Nữ thần sinh nở trong thần thoại Hy Lạp.

[9] Một con sông nằm ở phía Đông Hungary, hợp lưu của nhiều sông nhỏ bắt nguồn từ Rumani chảy vào.

[10] Một tộc người cổ sống trên đất Hy Lạp cổ đại, trước khi các bộ tộc Hy Lạp đến định cư ở đây.

[11] Một đô thị cổ ở miền Trung đảo Crete của Hy Lạp, một địa điểm khảo cổ nổi tiếng với các đĩa cổ Phaistos (Phaistos disk).

[12] Một địa danh trên đảo Crete, cũng là một địa điểm khảo cổ nổi tiếng.

[13] Đồ dùng để đựng nước uống hay rượu có hình một chiếc sừng hay hình đầu thú làm bằng đồng, vàng hay bạc (xuất xứ ở Cận Đông và vùng Ba Tư thế kỷ 1-2 trước Công nguyên), thường dùng trong lễ hội và cúng tế.

[14] Phoenicia là một nền văn minh cổ đại nằm ở miền Bắc khu vực Canaan cổ đại, với trung tâm nằm dọc vùng eo biển Liban, Syria và Bắc Israel ngày nay.

[15] Tên gọi cổ của Santorini, một hòn đảo nằm ở phía Nam biển Aegean, Hy Lạp.

[16] Trình duyệt tìm kiếm trên mạng lập ra năm 1995, rất được ưa chuộng trong những năm 1996-1997, đã ngừng hoạt động năm 2003.

[17] Nhân ngưu, một quái vật nửa người nửa trâu trong thần thoại Hy Lạp.

[18] Người anh hùng trong thần thoại Hy Lạp, là vị vua đã sáng lập ra thành Athens, con trai của Aethra và Acthra.

[19] Nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, con gái Minos, vua của Crete.

[20] Một địa điểm khảo cổ cách Athens 90 km về phía Tây Nam, thường được nhắc đến như nền văn minh Mycenae.

[21] Tên một bộ lạc cổ đại, cư dân vùng Achea, Hy Lạp.

[22] Tiếng Hung: được, tốt.

à những người xa lạ, các nhà bác học, các tài tử và các nhà sưu tầm, những kẻ nghiện ngập, bọn trộm cắp, đàn ông, đàn bà, trẻ con và người già, vì mọi người đều muốn tận mắt thấy, và ai cũng cố tiến lên trước để nhìn thấy chiếc bệ lớn được
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.