Cô dần tỉnh lại, nhưng lại không muốn tỉnh. Ở viền khung cửa sổ hắt vào một tia sáng xám nhạt. Tại sao cửa sổ lại bị che chắn? Cô vội vàng đứng dậy, băng qua hành lang để vào nhà bếp. Không có ai ngồi bên lò sưởi, không có ai nằm trên mặt đất. Không có bất kỳ dấu hiệu của người hay việc gì, ngoại trừ một chiếc ấm trà và ba cái tách trên bàn tủ.
Vừa lúc mặt trời mọc, Sê Lu thức dậy, hai người dùng bữa sáng như những ngày thường. Cô bé vừa dọn dẹp mặt bàn vừa hỏi: "Đã xảy ra chuyện gì vậy?" Cô kéo một góc tấm vải ướt từ chiếc chậu ngâm trong phòng đựng thức ăn lên, một màu đỏ nâu đã loan ra trong nước.
"Ồ, kỳ kinh nguyệt của ta đến sớm." Vừa nói, Điềm Na vừa cảm thấy kinh ngạc trước lời nói dối của chính mình.
Sê Lu đứng cứng đờ một lát, cánh mũi phập phồng, đầu ngừng chuyển động, giống như loài động vật ngửi thấy mùi hương nào đó. Con bé buông tấm vải rơi trở lại vào nước, rồi bước ra ngoài cho gà ăn.
Điềm Na cảm thấy toàn thân khó chịu, đau nhức xương cốt. Thời tiết vẫn vô cùng lạnh giá, cô cố gắng ở trong nhà hết mức có thể. Cô định bảo Sê Lu ở trong nhà cùng mình, nhưng khi mặt trời ló dạng theo một cơn gió mạnh mẽ và sáng rực, Sê Lu lại muốn ra ngoài chơi đùa.
"Con hãy ở lại vườn cây ăn trái cùng Hương Địch nhé." Điềm Na nói.
Sê Lu lủi ra ngoài, không nói một lời.
Gò má bị bỏng biến dạng của con bé trở nên cứng cỏi do cơ bị hủy hoại và những lớp sẹo dày, nhưng theo thời gian những vết sẹo ngày càng cũ đi, cộng thêm việc Điềm Na đã quen nhìn thẳng chứ không tránh né ánh mắt vì sự dị hình của nó, nên khuôn mặt ấy dần dần có biểu cảm. Theo lời miêu tả của Điềm Na, khi Sê Lu sợ hãi, nửa khuôn mặt bị bỏng tối sầm lại sẽ "khép lại", toàn bộ co rút thành một khối cứng; khi con bé hào hứng hoặc tập trung, ngay cả hốc mắt mù lòa dường như cũng đang nhìn chăm chú, vết sẹo ửng đỏ, chạm vào liền thấy ấm nóng. Bây giờ con bé bước ra ngoài với một vẻ mặt kỳ lạ, dường như không phải khuôn mặt của con người, mà thuộc về loài vật, một loài động vật hoang dã kỳ lạ có làn da dày, mở trừng trừng một con mắt phát sáng, trầm mặc và trốn chạy.
Điềm Na biết rằng đây là lần đầu tiên cô nói dối con bé, và Sê Lu cũng sẽ là lần đầu tiên trái ý cô. Lần đầu tiên, nhưng không phải lần cuối cùng.
Cô phát ra một tiếng thở dài mệt mỏi, đứng bất động suốt một hồi lâu.
Có tiếng gõ cửa, Thanh Khê và Cát Đắc — không đúng, cô phải gọi ông ấy là Ưng — đang đứng trên bậc thềm. Lão Thanh Khê huênh hoang đến mức nước bọt văng tứ tung, Cát Đắc mặc chiếc áo khoác da cừu dính đầy bùn đất của ông, trông sạm đen, trầm lặng và phù thũng.
"Vào đi," cô nói: "Vào uống chén trà đã. Có tin tức gì không?"
"Muốn trốn, chạy về hướng cửa sông Cốc, nhưng những người từ Ca Hách Đạt Nộn đến, đám tuần cảnh ấy, đã từ trên núi xuống và phát hiện bọn chúng ở gian nhà phụ của Tuyết Lợi." Thanh Khê lớn tiếng thông báo, vung vẩy nắm đấm.
"Hắn ta trốn thoát rồi sao?" Sự hoảng sợ bóp nghẹt lấy cô.
"Là hai tên khác," Cát Đắc nói: "Không phải hắn."
"Họ phát hiện thi thể trong căn nhà hoang cũ trên núi Tròn, bị đánh đập không còn ra hình người, ngay ở căn nhà hoang cũ phía trên kia, cạnh Ca Hách Đạt Nộn. Mười hoặc mười hai người lập tức tự phong làm tuần cảnh tại chỗ để đuổi theo bọn chúng. Tối qua tất cả các thôn xóm đều đã lùng sục một lượt, sáng sớm nay, vừa lúc trời hửng sáng, họ đã phát hiện nhóm người đó đang trốn trong gian nhà phụ của Tuyết Lợi. Lạnh sắp chết cóng rồi."
"Vậy là hắn chết rồi?" Cô ngây người hỏi.
Cát Đắc cởi chiếc áo khoác dày nặng, ngồi xuống chiếc ghế mây cạnh cửa, tháo đôi xà cạp da ở chân ra. "Hắn vẫn sống," ông dùng chất giọng trầm tĩnh nhất quán nói, "Á Vi đang canh chừng hắn. Sáng nay tôi dùng xe chở phân đẩy hắn đi. Trước khi trời sáng đã có người trên đường tìm kiếm tung tích ba kẻ đó. Bọn chúng đã giết một người phụ nữ trên núi."
"Người phụ nữ nào?" Điềm Na nhỏ giọng hỏi.
Cô nhìn thẳng vào mắt Cát Đắc. Ông khẽ gật đầu.
Thanh Khê hy vọng tin tức này do chính mình nói ra, thế là ông lớn tiếng kể tiếp: "Tôi đã nói chuyện với nhóm người từ trên đó xuống, họ bảo tôi rằng cả bốn kẻ đều la cà, cắm trại, lang thang quanh Ca Hách Đạt Nộn, người phụ nữ đó sẽ đến thôn xin ăn, trên người toàn là đòn roi, vết bỏng và vết thâm tím. Bọn chúng, ý là mấy tên đàn ông đó, sẽ gọi cô ta đến thôn xin ăn, rồi cô ta sẽ quay lại với bọn chúng. Cô ta nói với người trong thôn rằng nếu cô ta quay về tay không, bọn chúng sẽ đánh đập dã man hơn nữa. Họ liền hỏi, sao còn quay về? Cô ta nói, nếu cô ta không về, bọn chúng sẽ đuổi theo, đằng nào cuối cùng cô ta cũng phải đi theo bọn chúng. Nhưng cuối cùng bọn chúng quá đáng quá, đánh chết cô ta luôn, rồi khiêng thi thể của cô ta để lại căn nhà hoang cũ đó, bên đó vẫn còn hơi thối, có lẽ bọn chúng nghĩ làm như vậy có thể che giấu chuyện xấu đã làm. Kết quả là tối hôm qua bọn chúng lại trốn đến đây. Hỏa Thạch, tối qua sao cô không hét lớn lên? Ưng nói lúc ông ấy lao về phía bọn chúng, bọn chúng đang lảng vảng quanh ngôi nhà này. Chắc chắn tôi sẽ nghe thấy, nếu không thì Hương Địch cũng nghe thấy, tai con bé còn thính hơn tôi. Cô đã nói với nó chưa?"
Điềm Na lắc đầu.
"Vậy để tôi đi nói với con bé." Lão già nói, vui mừng vì mình là người đầu tiên biết tin, tưng từng bước qua khoảng sân giữa. Nửa đường lão quay người lại, "Không ngờ cô dùng cào cỏ cũng khá ra trò đấy!" Lão hét lên với Cát Đắc, vỗ vào đùi, cười lớn rồi rời đi.
Cát Đắc tháo chiếc xà cạp dày nặng, cởi đôi giày dính đầy bùn đặt lên bậc thềm, mang tất bước về phía lò sưởi. Quần dài mặc cùng áo lơ-vê, áo sơ mi vải tu-luy thô, tiêu chuẩn của một kẻ chăn cừu Côn Thái, khuôn mặt lanh lợi, mũi khoằm, đôi mắt trong trẻo đen thẫm.
"Sẽ có người đến rất nhanh thôi," ông nói: "Đến báo tin cho cô, rồi lại nghe cô kể diễn biến sự việc ở đây. Bọn họ đã bắt được hai tên trốn thoát, hiện đang nhốt trong hầm rượu không có rượu, có mười lăm, hai mươi người đang canh giữ bọn chúng, lại còn có hai, ba mươi đứa bé trai tranh nhau xúm lại dòm ngó..." Ông ngáp một cái, lắc lắc đôi vai để thả lỏng cơ bắp, nhìn Điềm Na như để xin phép được ngồi bên lò sưởi.
Cô chỉ vào chiếc ghế bên cạnh lò sưởi. "Anh chắc chắn là mệt lả rồi." Cô nhỏ giọng nói.
"Tôi đã ngủ ở đây một lúc vào tối qua. Cố quá không chịu nổi." Ông lại ngáp một cái. Ông ngẩng đầu nhìn cô, đánh giá cô.
"Đó là mẹ của Sê Lu." Cô nói, âm lượng không lớn hơn tiếng thì thầm là bao.
Ông gật đầu, hơi chồm người về phía trước, cẳng tay đặt lên đầu gối. Hỏa Thạch ngày trước cũng từng ngồi với tư thế ấy, thẳng thắn nhìn đăm đăm vào ngọn lửa. Hai người rất giống nhau, nhưng cũng hoàn toàn không giống, giống như khối đá giấu trong bùn và chú chim đang bay lượn. Trái tim cô quặn đau, xương cốt quặn đau, suy nghĩ chìm trong dự cảm điềm gở, bi thương, sự sợ hãi ức nhớ và một cảm giác bồng bềnh khó chịu nào đó, hoang mang đến mức không biết phải làm sao.
"Kẻ mà chúng ta tóm được đang ở chỗ mụ phù thủy," ông nói: "Bị trói chặt lại để đề phòng hắn cựa quậy. Vết thương trên người thì nhét đầy mạng nhện và chú thuật cầm máu. Mụ ta nói hắn có thể sống cho đến khi bị treo cổ."
"Treo cổ?"
“Tòa án Vương pháp mở lại, sẽ dựa theo phán quyết của họ, hình phạt treo cổ hoặc làm nô lệ.”
Cô lắc đầu, nhíu mày.
“Em sẽ không thả hắn đi chứ, Điềm Na.” Ông dịu dàng nói, ngắm nhìn cô.
“Không.”
“Bọn chúng phải chịu trừng phạt.” Ông nói, vẫn ngắm nhìn cô.
“Trừng phạt. Đó là những gì hắn nói. Trừng phạt đứa trẻ, nó hư đốn, nó đáng bị trừng phạt; trừng phạt tôi, bởi vì tôi mang nó đi, bởi vì tôi...” Cô chật vật thốt ra những lời trong lòng. “Tôi không muốn trừng phạt! Toàn bộ chuyện này đáng lẽ không nên xảy ra... Tôi ước gì anh đã giết chết hắn ngay từ đầu!”
“Anh đã cố gắng hết sức rồi.” Cát Đắc nói.
Một hồi lâu, cô bật cười khan. “Anh quả thực đã cố gắng hết sức.”
“Nghĩ lại xem lúc trước đơn giản biết bao — khi anh vẫn còn là pháp sư.” Ông nói, lại nhìn thẳng vào than hồng. “Anh có thể ra tay trên đường, trước khi bọn chúng kịp nhận ra, đã dùng thuật trói buộc chế ngự bọn chúng; anh có thể lùa bọn chúng như một bầy cừu chạy về phía cửa sông Cốc; hoặc tối qua, ở ngay đây, nghĩ xem anh có thể gây ra náo động lớn cỡ nào chứ! Bọn chúng sẽ không bao giờ biết mình bị thứ gì tấn công.”
“Bọn chúng vẫn không biết đấy thôi.” Cô nói.
Ông liếc nhìn cô, trong mắt mang theo một tia sáng chiến thắng vô cùng mỏng manh nhưng không sao kìm nén được.
“Đúng vậy,” ông nói: “Bọn chúng không biết.”
“Dùng cào cỏ cũng khá ra trò đấy chứ.” Cô lẩm bẩm.
Ông ngáp một cái thật lớn.
“Sao anh không đi ngủ một lát đi? Căn phòng thứ hai ở hành lang. Hay là anh muốn tiếp khách? Em thấy Vân Tước, Địch Kỳ dẫn theo mấy đứa trẻ đang qua đây.” Cô vừa nghe thấy tiếng động liền đứng dậy, nhìn ra ngoài từ khung cửa sổ.
“Vậy anh đi ngủ đây.” Ông nói, lủi đi mất dạng.
Vợ chồng Vân Tước, vợ người thợ rèn Địch Kỳ, cùng với những người bạn còn lại trong thôn, tấp nập qua lại suốt cả ngày để truyền đạt và lắng nghe tin tức, hoàn toàn đúng như dự đoán của Cát Đắc. Cô nhận ra sự đồng hành của họ đã vực cô dậy một lần nữa, kéo cô ra khỏi nỗi sợ hãi đêm qua cứ đeo bám như hình với bóng từng chút một, cho đến khi cô có thể để mọi chuyện trôi qua, không còn xem nó như đang xảy ra, sẽ không ngừng xảy ra với chính mình nữa.
Sê Lu cũng phải học được điều này, cô nghĩ, không chỉ là trải nghiệm của một đêm, mà là cả cuộc đời của con bé.
Sau khi mọi người rời đi, cô nói với Vân Tước: “Điều khiến em tức giận nhất ở bản thân mình chính là, em quá ngốc.”
“Chị đã bảo em phải khóa kỹ cửa nhà từ lâu rồi mà.”
“Không phải... có lẽ... chính là thế.”
“Chị hiểu.” Vân Tước nói.
“Nhưng ý em là, lúc bọn chúng ở đây, em có thể chạy ra ngoài tìm Hương Địch và Thanh Khê, hoặc có lẽ em có thể mang theo Sê Lu trốn chạy. Có lẽ em có thể chạy ra nhà kho, tự mình vớ lấy cái cào cỏ hoặc kéo cắt cành cây táo — nó dài tận bảy thước, lưỡi kéo sắc như dao cạo, em bảo dưỡng nó tốt y như hồi Hỏa Thạch còn sống. Tại sao em lại không làm thế? Tại sao em lại bó tay chịu trói? Tại sao chỉ tự nhốt mình lại mà chẳng có ích gì cả? Nếu hắn... nếu Ưng không có ở đây... em chỉ tự giam mình và Sê Lu trong nhà. Lúc sau em rốt cuộc cũng cầm dao mổ lợn đi ra cửa, gầm thét với bọn chúng. Lúc đó em suýt phát điên, nhưng làm vậy cũng chẳng dọa được bọn chúng bỏ đi.”
“Chị không biết,” Vân Tước nói: “Đúng là rất điên rồ, nhưng có lẽ... chị không biết. Ngoài việc khóa cửa lại, em còn có thể làm gì hơn chứ? Nhưng hình như cả đời chúng ta đều đang khóa cửa. Đây chính là ngôi nhà chúng ta đang ở mà.”
Hai người nhìn quanh bức tường đá, sàn đá, ống khói bằng đá, những ô cửa sổ lấp lánh ánh nắng trong nhà bếp, tại trang trại gỗ sồi, ngôi nhà của bác nông dân Hỏa Thạch.
“Cô gái mà bọn chúng sát hại, người phụ nữ đó,” Vân Tước nói, nhìn Điềm Na với ánh mắt sắc sảo, “cô ta cũng vậy.”
Điềm Na gật đầu.
“Một trong số bọn chúng nói với chị, cô ta đang mang thai. Mang thai được bốn, năm tháng rồi.”
Cả hai cùng im lặng.
“Bị kẹt lại.” Điềm Na nói.
Vân Tước ngả người ra sau, hai tay đặt lên chiếc váy che khuất đôi đùi lực lưỡng, sống lưng thẳng tắp, khuôn mặt xinh đẹp trở nên nghiêm nghị. “Sợ hãi,” cô nói, “thứ mà chúng ta sợ hãi rốt cuộc là gì? Tại sao chúng ta lại để bọn chúng tiêm nhiễm vào đầu rằng chúng ta đang sợ hãi? Còn bọn chúng thì sợ cái gì chứ?” Cô nhặt chiếc tất đang vá dở lên, lật qua lật lại trong tay, im lặng. Cuối cùng cô hỏi: “Bọn chúng sợ chúng ta vì điều gì?”
Điềm Na kéo sợi, không trả lời.
Sê Lu chạy xộc vào nhà, Vân Tước chào đón con bé: “Cục cưng của chị đến rồi! Lại đây cho chị ôm cái nào, tiểu bảo bối của chị!”
Sê Lu vội vã ôm lấy cô. “Kẻ mà họ bắt được là ai vậy?” Con bé hỏi bằng giọng khàn đản phẳng lì, ánh mắt từ Vân Tước chuyển sang Điềm Na.
Điềm Na dừng guồng quay sợi lại, chậm rãi mở lời.
“Một kẻ là Hãn Đề, tên đàn ông còn lại tên là Sa Cách. Kẻ bị thương tên là Hắc Khắc.” Cô nhìn thẳng vào Sê Lu, nhìn thấy cụm ngọn lửa ấy, vết sẹo ửng đỏ. “Người phụ nữ mà bọn chúng sát hại, hình như tên là Tái Ny.”
“Tái Ny Ny.” Đứa trẻ nhỏ giọng nói.
Điềm Na gật đầu.
“Bọn chúng giết cô ấy rồi sao?”
Cô lại gật đầu.
“Đặc Ba nói bọn chúng từng đến đây.”
Cô gật đầu lần thứ ba.
Đứa trẻ đưa mắt nhìn quanh bốn phía căn phòng, giống như hai người vừa làm lúc nãy, nhưng biểu cảm của con bé hoàn toàn không chịu khuất phục, con bé chẳng nhìn thấy bức tường nào cả.
“Các người sẽ giết bọn chúng chứ?”
“Bọn chúng có lẽ sẽ bị xử tử hình bằng cách treo cổ.”
“Hành hình?”
“Đúng vậy.”
Sê Lu gật đầu, có vẻ hơi thờ ơ. Con bé lại bước ra ngoài nhà, đến khu vực nhà giếng nhập bọn cùng những đứa trẻ của Vân Tước.
Hai người phụ nữ không nói một lời, quay sợi, vá áo, im lặng ngồi bên lò sưởi, trong ngôi nhà của Hỏa Thạch.
Hồi lâu sau, Vân Tước lên tiếng: “Cái gã đó, chính là gã đàn ông theo đuôi bọn chúng đến đây, gã chăn cừu ấy, hắn thế nào rồi? Ưng? Em gọi hắn là vậy phải không?”
“Anh ấy đang ngủ ở trong phòng.” Điềm Na nói, hất cằm về phía sâu bên trong nhà.
“À.” Vân Tước nói.
Guồng quay sợi kêu o o. “Trước đây chị đã từng quen biết hắn rồi.”
“À. Ở bên Nhụy Á Bạch phải không?”
Điềm Na gật đầu. Guồng quay sợi kêu o o quay đều.
“Muốn theo dõi ba kẻ đó, lại còn dùng cào cỏ tấn công trong đêm tối tăm mịt mùng, cũng phải cần chút gan dạ đấy. Hắn, chắc không còn trẻ trung gì nữa nhỉ?”
“Không còn.” Một lát sau, cô tiếp lời, “Trước đó anh ấy đổ bệnh, vẫn cần phải làm việc. Cho nên em bảo anh ấy từ trên núi xuống, bảo Thanh Khê sắp xếp cho anh ấy làm việc ở đây. Nhưng Thanh Khê cho rằng bản thân vẫn có thể cáng đáng nên bảo anh ấy lên phía suối nước nóng, làm công việc chăn cừu mùa hè. Lúc đó anh ấy đang từ trên núi quay về.”
“Xem ra em muốn giữ hắn lại đây rồi nhỉ?”
“Nếu anh ấy muốn.” Điềm Na đáp.
Lại một nhóm người từ trong thôn đến trang trại gỗ sồi, muốn nghe Cát Đắc kể lại sự tình, muốn kể cho cô nghe vai trò của họ trong cuộc đại truy lùng này, muốn ngắm nghía chiếc cào cỏ đó, so sánh bốn cái răng sắt dài với ba vết máu trên chiếc băng gạc của tên Hắc Khắc kia, rồi nghiền ngẫm lại một lượt. Điềm Na rất vui mừng chào đón màn đêm buông xuống, gọi Sê Lu vào nhà, khép cửa lại.
Cô giơ tay định cài then cửa, rồi lại buông tay, ép bản thân rời đi, mặc kệ cho cửa không cài then.
“Sư Ưng đang ở trong phòng của cô đấy.” Sê Lu bảo cô, vừa cầm trứng gà từ phòng mát bước vào nhà bếp.
“Chị định nói với em là anh ấy đã đến... Xin lỗi nhé.”
“Em nhận ra anh ấy.” Sê Lu nói, vừa rửa mặt rửa tay trong phòng trữ vật. Khi Cát Đắc ngái ngủ, đầu tóc bù xù bước vào nhà bếp, con bé đi thẳng về phía ông, giơ hai tay lên.
“Sê Lu.” Ông nói, bế xốc con bé lên, ôm sát vào người. Con bé ôm chầm lấy ông một lát, rồi buông ra.
“Em thuộc phần mở đầu của 《Y Tự Sáng Thế Ca》 rồi.” Con bé nói với ông.
“Có muốn ngâm cho anh nghe không?” Ông lại nhìn Điềm Na một cái, sau khi được sự cho phép liền ngồi vào vị trí quen thuộc bên lò sưởi.
“Em chỉ biết đọc thuộc lòng thôi.”
Ông gật đầu, chờ đợi, biểu cảm vô cùng nghiêm trang. Đứa trẻ cất giọng đọc:
Từ không mà có,
Từ đầu đến cuối,
Ai hay biết được?
Kẻ gần mà hóa lùi,
Phàm nhân há hiểu được đạo lý ấy.
Vĩnh viễn quay về trong vạn vật,
Bậc sống lâu nhất, bậc canh giữ cửa, hề quả ất...
Giọng của đứa trẻ giống như chiếc bàn chải sắt lướt qua miếng tôn, như chiếc lá khô, như ngọn lửa cháy xèo xèo, cứ thế ngâm nga cho đến hết khổ thơ đầu tiên.
Bởi vậy, Y Tự sáng ngời vươn lên từ bọt sóng.
Cát Đắc ngắn gọn mạnh mẽ gật đầu tán thưởng: “Rất tốt.”
“Tối hôm qua,” Điềm Na nói: “Con bé mới học thuộc vào tối hôm qua thôi đấy. Cảm giác giống như chuyện của một năm trước vậy.”
“Em vẫn có thể học tiếp.” Sê Lu nói.
“Em sẽ học được thôi.” Cát Đắc bảo con bé.
“Bây giờ xin hãy rửa sạch máy ép trước đã.” Điềm Na nói, con bé ngoan ngoãn nghe theo.
“Tôi phải làm gì đây?” Cát Đắc hỏi. Điềm Na do dự một lát, đánh giá ông.
“Em cần đổ đầy bình nước, đun nước sôi.”
Ông gật đầu, xách bình nước đi về phía máy bơm nước.
Ba người làm bữa tối, ăn xong, dọn dẹp.
“Đọc lại đoạn 《Sáng Thế Ca》 mà con vừa thuộc một lần nữa xem nào,” Cát Đắc nói với Sê Lu trước lò sưởi: “Rồi chúng ta tiếp tục từ chỗ đó.”
Con bé theo ông đọc lại khổ thơ thứ hai một lượt, đọc cùng Điềm Na một lượt, rồi tự mình đọc một lượt.
“Đi ngủ thôi.” Điềm Na nói.
“Cô vẫn chưa kể cho Sư Ưng nghe về vị Vua.”
“Anh kể cho anh ấy nghe đi.” Điềm Na nói, cảm thấy buồn cười trước cái cớ kéo dài thời gian này.
Sê Lu quay sang phía Cát Đắc. Khuôn mặt nhỏ nhắn của con bé, cả vết sẹo lẫn bên lành lặn, đôi mắt mù lòa lẫn con mắt bình thường, vô cùng tập trung và tha thiết. “Nhà Vua đi thuyền đến. Ngài có một thanh kiếm dài, ngài cho em một con cá heo xương. Thuyền của ngài đang bay, nhưng lúc đó em bị bệnh, bởi vì Hãn Đề chạm vào em. Nhà Vua chạm vào chỗ đó, vết ấn liền biến mất.” Con bé giơ cánh tay tròn trịa thon thả của mình ra. Điềm Na trợn tròn mắt, cô hoàn toàn quên mất vết ấn đó rồi.
“Có một ngày em muốn bay đến nơi ngài ấy ở,” Sê Lu nói với Cát Đắc, ông gật đầu. “Em sẽ đi.” Con bé nói: “Anh có quen ngài ấy không?”
“Anh quen ngài ấy. Anh đã cùng ngài ấy có một chuyến hành trình dài.”
“Đi đâu cơ?”
“Đến nơi mặt trời không mọc, các vì sao không lặn. Rồi từ nơi đó quay về.”
“Anh bay đến đó à?”
Ông lắc đầu. “Anh chỉ biết đi bộ thôi.” Ông nói.
Đứa trẻ trầm ngâm suy nghĩ, rồi như thể nhận được câu trả lời thỏa đáng, nói chúc ngủ ngon, rồi bước vào phòng. Điềm Na bước vào theo sau, nhưng Sê Lu không muốn cô hát ru ngủ. “Em có thể đọc thuộc 《Sáng Thế Ca》 trong bóng tối,” con bé nói, “đọc hai khổ thơ.”
Điềm Na quay lại nhà bếp, ngồi đối diện với Cát Đắc qua lò sưởi.
“Con bé thay đổi nhanh biết bao!” Cô nói: “Em theo không kịp nó nữa rồi. Em đã qua cái tuổi nuôi con rồi. Còn nó... nó nghe lời, nhưng chỉ vì nó muốn nghe mà thôi.”
“Đó là lý do chính đáng duy nhất để đòi hỏi sự vâng lời.” Cát Đắc bình luận.
“Nhưng khi con bé có ý định chống đối em, em phải làm sao đây? Nó mang một thứ bản năng hoang dã nào đó. Có lúc nó là Sê Lu của em, có lúc nó lại là một thứ gì đó khác, vượt quá tầm với của em. Em hỏi Á Vi xem có thể cân nhắc huấn luyện nó không, do Tất Cừ đề xuất, Á Vi nói không được. ‘Tại sao?’ em hỏi. ‘Tôi sợ nó!’ mụ ta nói... nhưng anh thì không sợ nó, nó cũng không sợ anh. Tất cả đàn ông, nó chỉ cho phép anh và Lê Bạch Nam chạm vào người nó. Còn em lại để cái tên... cái tên Hãn Đề đó... em không thể nói về chuyện này được nữa, ôi, em mệt lả rồi! Em chẳng hiểu gì sất...”
Cát Đắc đặt một khúc gỗ vào lò sưởi, để nó cháy nhỏ chầm chậm, hai người cùng nhìn ngọn lửa nhảy múa, bập bùng.
“Cát Đắc, em muốn anh ở lại đây,” cô nói, “nếu anh bằng lòng.”
Ông không trả lời ngay. Cô nói: “Có lẽ anh muốn đến Hắc Phất Nô...”
“Không, không phải. Anh chẳng có nơi nào để đi cả, anh đang tìm việc làm mà.”
“Ừm, việc phải làm ở đây thì nhiều lắm. Thanh Khê không chịu thừa nhận, nhưng chứng bệnh thống phong của lão phỏng chừng chỉ cho phép lão làm vườn thôi. Sau khi em về, vẫn luôn muốn có người phụ nữ... nhầm, muốn có người phụ tay giúp sức. Em thật muốn mắng cho cái lão bảo thủ đó một trận, thế mà lại đem anh tống lên núi, nhưng chẳng ích gì, lão ta có thèm nghe đâu.”
“Đó là chuyện tốt đối với anh,” Cát Đắc nói, “đó là khoảng thời gian anh cần.”
“Anh đang chăn cừu à?”
“Dê. Ở vùng đồng cỏ cao nhất. Bức tranh... à không, một đứa bé chăn cừu của họ bị bệnh, Tái Thụy thuê anh, ngày đầu tiên đã phái anh lên núi. Họ muốn cừu ở trên vùng cao lâu một chút, để lớp lông tơ bên trong mọc thật dày. Tháng cuối cùng, hầu như là một mình anh độc chiếm ngọn núi. Tái Thụy tặng anh chiếc áo khoác đó và một ít vật tư, bảo anh để bầy đàn ở trên núi càng lâu càng cao càng tốt. Anh đã làm vậy. Ở trên đó rất tuyệt.”
“Cô độc.” Cô nói.
Ông gật đầu, nở nụ cười nửa miệng.
“Anh vẫn luôn là một mình.”
“Đúng vậy, vẫn luôn như thế.”
Cô không nói một lời. Ông nhìn cô.
“Anh muốn làm việc ở đây.” Ông nói.
“Vậy thì quyết định thế nhé.” Cô nói. Một lát sau, cô lại nói: “Ít nhất là cho đến khi mùa đông này kết thúc.”
Lớp sương giá đêm nay đặc quánh hơn. Trong thế giới của hai người, ngoại trừ tiếng thì thầm của ngọn lửa, tất cả đều hoàn hảo và tĩnh lặng. Tĩnh lặng, giống như sự tồn tại chân thực giữa hai người. Cô ngẩng đầu lên, nhìn ông.
“Được rồi,” cô nói: “Cát Đắc, em nên ngủ trên chiếc giường của ai đây? Của đứa trẻ, hay của anh?”
Ông hít sâu một hơi, trầm giọng mở lời nói: “Nếu em bằng lòng, giường của anh.”
“Em bằng lòng.”
Sự im lặng bủa vây lấy ông. Cô nhìn ra được ông đang chật vật giãy giụa. “Nếu em sẵn lòng kiên nhẫn với anh một chút.” Ông nói.
“Em đã kiên nhẫn đợi anh suốt hai mươi lăm năm rồi,” cô nói, nhìn ông, bắt đầu mỉm cười nhẹ nhàng. “Được rồi... được rồi, mình ơi... muộn còn hơn không! Em chỉ là một bà già... chẳng có gì bị lãng phí cả, chưa bao giờ có chuyện lãng phí cả, đây là điều anh đã dạy em mà.” Cô đứng dậy, ông cũng đứng dậy. Cô vươn hai tay ra, để ông nắm lấy. Hai người ôm chầm lấy nhau, ôm lấy nhau, càng lúc càng áp sát vào nhau. Hai người ôm lấy nhau mãnh liệt và yêu thương biết bao, cho đến tận khi giữa đất trời ngoài sự tồn tại của đối phương ra, hoàn toàn chẳng còn nhận thức được gì nữa. Ngủ trên giường của ai đã không còn quan trọng. Đêm hôm đó, hai người nằm bên lò sưởi, và cô dạy cho Cát Đắc những điều huyền bí mà ngay cả bậc hiền triết thông thái nhất cũng không thể dạy nổi.
Ông nhóm lại ngọn lửa trong lò, kéo chiếc chăn đẹp đẽ từ trên băng ghế dài xuống, lần này Điềm Na không phản đối. Chiếc áo choàng của cô và chiếc áo khoác da cừu của ông, chính là chăn bông của hai người.
Hai người tỉnh giấc vào lúc bình minh phá rạng, ánh sáng bạc yếu ớt rọi lên những cành cây sồi nửa trần trụi đen thẫm ngoài cửa sổ. Điềm Na duỗi thẳng tứ chi, để cảm nhận hơi ấm khi ông dựa sát vào bên mình. Một lát sau, cô lẩm bẩm: “Hắn từng nằm ở đây. Hắc Khắc. Ngay trên mặt đất này...”
Cát Đắc khẽ khàng phản đối.
“Bây giờ anh quả thực đã là một người đàn ông rồi đấy,” cô nói: “Trước tiên là đâm cho người đàn ông khác thủng lỗ chỗ, rồi sau đó lại lên giường ngủ cùng phụ nữ. Em nghĩ, trình tự này chắc là không sai đâu.”
“Suỵt,” ông lẩm bẩm, quay người đối diện với cô, gối đầu vào hõm vai cô. “Đừng nói thế nữa.”
“Em cứ nói đấy. Cát Đắc, con người đáng thương! Em không có sự thương xót, chỉ có công lý. Người huấn luyện em không dạy em sự thương xót, tình yêu là ưu điểm duy nhất của em. Ồ, Cát Đắc, đừng sợ em! Lần đầu tiên em gặp anh, anh đã là một người đàn ông rồi! Thứ có thể khiến một người đàn ông trở thành đàn ông, không phải là vũ khí hay phụ nữ, cũng chẳng phải phép thuật, lại càng không phải bất kỳ sức mạnh hay sự vật nào cả. Chỉ có thể do chính anh ta mà thôi.”
Hai người tựa lưng nằm trong sự tĩnh lặng ấm áp ngọt ngào.
“Kể cho em nghe đi.”
Ông ngái ngủ lẩm bẩm đồng ý.
“Sao anh lại nghe được bọn chúng đang nói gì thế? Hắc Khắc, Hãn Đề và kẻ còn lại ấy. Sao anh có thể vừa hay đúng vào lúc đó, vừa hay ở đúng nơi đó chứ?”
Ông chống nửa người trên bằng một bên khuỷu tay, để ngắm nhìn khuôn mặt cô. Khuôn mặt ông tràn ngập sự tự tại, mãn nguyện, dịu dàng, thẳng thắn và mỏng manh đến mức cô không kìm được mà vươn tay chạm vào môi ông, tại vị trí vài tháng trước, nơi cô từng hôn lần đầu tiên, ông lại ôm chầm lấy cô vào lòng, cuộc trò chuyện khi ấy đã chẳng cần đến từ ngữ nào tiếp tục nữa.
Vẫn còn một số thủ tục hình thức phải tiến hành. Quan trọng nhất, chính là thông báo cho Thanh Khê và những người tá điền còn lại của trang trại gỗ sồi rằng cô đã chọn một người làm thuê để thay thế vị trí của “chủ nhân trước”. Cô tuyên bố một cách nhanh chóng, không che đậy, thẳng thắn. Họ chẳng thể làm gì được trước chuyện này, và điều này cũng sẽ không gây ra mối đe dọa nào cho họ. Chỉ trong trường hợp khuyết thiếu người thừa kế nam giới hoặc người đòi quyền thừa kế, góa phụ mới có thể giữ lại sản nghiệp của chồng, người con trai làm thủy thủ của Hỏa Thạch mới là người thừa kế của ông ấy, góa phụ của Hỏa Thạch chỉ giúp ông ấy quản lý nông trại — nếu cô qua đời, thì do Thanh Khê quản lý thay người thừa kế; nếu Tinh Hỏa vĩnh viễn không kế thừa, thì sẽ thuộc về một người họ hàng xa của Hỏa Thạch ở Ca Hách Đạt Nộn. Thanh Khê và Hương Địch, cùng hai cặp vợ chồng Đề Vô và Tây Tư, đã dốc trọn tâm huyết cả đời cho mảnh nông trại này, nhưng lại không có quyền sở hữu, chuyện này rất phổ biến ở Côn Thái. Tuy nhiên, bất kỳ người đàn ông nào do góa phụ chọn cũng không được phép sa thải họ, cho dù cô có kết hôn với anh ta đi nữa. Nhưng cô lo lắng họ sẽ căm ghét việc cô không giữ trít tiết cho Hỏa Thạch, dẫu sao thì họ quen biết Hỏa Thạch lâu hơn. Điều khiến cô thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều là họ chẳng có chút dị nghị nào cả. Ưng đã dùng một cây cào cỏ để đổi lấy sự tán thưởng của họ; hơn nữa, phụ nữ ở trong nhà mà muốn có một người đàn ông bảo vệ, đó là điều hiển nhiên hợp lý. Nếu cô cho phép anh ta lên giường, dù sao thì khẩu vị của góa phụ vốn nổi tiếng là lớn; hơn nữa, suy cho cùng thì cô cũng là một kẻ ngoại lai.
Thái độ của dân làng cũng chẳng khác là bao, đôi chút xì xào bàn tán và cười nhạo thấp giọng, nhưng cũng chỉ có thế mà thôi. Rõ ràng giành được sự tôn trọng còn dễ hơn Mộ Tư tưởng tượng, hoặc có lẽ món hàng second-hand thì chẳng có giá trị gì sất.
Sự tiếp nhận của họ và sự chê bai phỉ báng mà cô từng phỏng đoán trước đó, đều khiến cô có cảm giác bị vấy bẩn, hạ thấp như nhau. Chỉ có Vân Tước là người kéo cô ra khỏi nỗi nhục nhã ấy, không phán xét chút nào, không dùng bất kỳ từ ngữ nào — đàn ông, phụ nữ, góa phụ, kẻ ngoại lai — để thay thế cho những gì cô nhìn thấy, chỉ đơn thuần là quan sát, mang theo sự hứng thú, tò mò, ngưỡng mộ và bao dung, ngắm nhìn cô và Sư Ưng.
Bởi vì Vân Tước không nhìn nhận Sư Ưng thông qua những từ ngữ như người chăn cừu, người làm thuê, người đàn ông của góa phụ, mà nhìn thẳng vào chính bản thân anh, thế nên cô ấy đã phát hiện ra rất nhiều điều khó hiểu. Lòng tự trọng và sự giản dị của anh không hề thua kém bất kỳ ai mà cô từng quen biết, nhưng về mặt đặc tính thì có chút khác biệt. Cô nghĩ anh có một sự vĩ đại nào đó, dĩ nhiên không phải là chiều cao hay béo gầy, mà nằm ở tâm hồn và cõi lòng của anh. Cô nói với Á Vi rằng: “Gã đó không phải suốt đời sống cùng bầy dê đâu. Hiểu biết của hắn về thế sự còn nhiều hơn về nông trại nữa cơ.”
“Tôi cho rằng hắn là một gã phù thủy bị nguyền rủa, hoặc vì nguyên nhân nào đó mà mất đi năng lực phép thuật.” Mụ phù thủy nói: “Chuyện này hoàn toàn có thể xảy ra.”
“À.” Vân Tước nói.
Nhưng danh từ “Đại pháp sư” xuất phát từ thế giới phù hoa và cung điện hoàng gia, dùng để áp lên người gã đàn ông tóc xám mắt đen ở trang trại gỗ sồi thì lại có vẻ quá cao cả vĩ đại, thế nên cô chưa bao giờ liên tưởng đến điều đó. Nếu cô từng nghĩ tới, thì tuyệt đối không thể nào thoải mái chung sống với anh một cách nhẹ nhàng như vậy được. Ngay cả việc anh từng có khả năng là một phù thủy cũng khiến cô thấy khá bất an, danh xưng làm đảo lộn ấn tượng của cô về bản thân anh, cho đến khi cô tận mắt nhìn thấy anh một lần nữa. Anh đang ngồi vắt vẻo trên một cây táo già trong vườn cây ăn trái để cưa bỏ những cành cây khô, khi cô đi về phía nông trại, anh đã lớn tiếng chào hỏi. Tên của anh rất hợp với anh, cô nghĩ, cứ đậu ở trên cây như thế. Cô vẫy tay với anh, mang theo nụ cười tiếp tục cất bước.
Điềm Na vẫn chưa quên câu hỏi dưới chiếc áo khoác da cừu, bên cạnh sàn nhà cạnh lò sưởi. Thời gian trôi qua vô cùng ngọt ngào và dễ chịu trong ngôi nhà đá bị mùa đông giam giữ này, không biết là qua mấy ngày hay mấy tháng, cô lại hỏi thêm một lần nữa. “Anh vẫn chưa kể cho em nghe,” cô nói, “sao anh lại nghe được bọn chúng nói chuyện trên đường thế.”
“Anh nghĩ anh đã kể với em rồi chứ. Khi anh nghe thấy có người đi từ phía sau tới, anh đã nấp ra bên lề đường.”
“Tại sao?”
“Lúc đó anh đi có một mình, hơn nữa anh biết ở khu vực đó có mấy băng nhóm cướp bóc.”
“Dĩ nhiên là... nhưng lúc bọn chúng đi ngang qua, Hắc Khắc vừa hay nhắc đến Sê Lu ư?”
“Anh đoán, hắn nhắc đến ‘Trang trại gỗ sồi’.”
“Tất cả những điều này đều rất hợp lý. Chỉ là, trông có vẻ trùng hợp quá mức.”
Anh hiểu rằng cô không hề hoài nghi lời mình nói, bèn ngả người ra sau, chờ đợi.
“Đây chính là kiểu chuyện sẽ xảy ra với các pháp sư.” Cô nói.
“Cũng sẽ xảy ra với những người khác nữa.”
“Có lẽ vậy.”
“Em yêu, em sẽ không phải là muốn anh... tái xuất giang hồ chứ?”
“Không. Hoàn toàn không, làm thế thì kém khôn ngoan quá. Nếu anh là pháp sư, anh còn ở đây sao?”
Hai người đang nằm trên chiếc giường gỗ sồi rộng lớn, phủ đầy da cừu và chăn lông vũ, bởi vì trong phòng không có lò sưởi, đêm hôm đó ngoài tuyết rơi ra, lại còn giáng thêm một trận sương giá cứng ngắc.
“Nhưng em muốn biết điều này: Ngoại trừ thứ mà anh gọi là ‘sức mạnh’ ra, còn có những gì nữa? Có lẽ có trước sức mạnh chăng? Hoặc sức mạnh chỉ là một trong số những phương thức biểu hiện của một sự việc nào đó? Giống như Âu Cát An từng nhắc đến anh, rằng trước khi anh thừa kế bất kỳ trí tuệ hay sự huấn luyện nào để trở thành pháp sư, anh đã vốn là một pháp sư rồi. Pháp sư bẩm sinh, ông ấy đã nói vậy. Thế nên em nghĩ, trước khi sở hữu sức mạnh, ắt phải sở hữu không gian dung nạp sức mạnh cái đã. Một khoảng trống đang chờ được lấp đầy. Hơn nữa khoảng trống này càng lớn, thì càng có thể lấp đầy bấy nhiêu sức mạnh. Nhưng nếu chưa từng có được sức mạnh, hoặc bị tước đoạt, bị tống đi, thì khoảng trống ấy vẫn cứ ở đó.”
“Khoảng trống ấy.” Anh nói.
“Khoảng trống chỉ là một cách nói, có lẽ không chính xác.”
“Tiềm năng?” Anh nói, rồi lại lắc đầu. “Có thể biến thành, trở thành một sự vật nào đó chăng?”
“Em nghĩ anh sẽ có mặt trên con đường đó, thời điểm vừa vặn, địa điểm cũng vừa vặn, chính là bởi vì như thế, bởi vì đó là chuyện sẽ xảy ra với anh. Anh không để nó xảy ra, anh không thúc đẩy nó xảy ra, nó không hề phát sinh vì ‘sức mạnh’ của anh. Nó xảy ra trên người anh, chỉ là vì... khoảng trống của anh thôi.”
Một lát sau, anh nói: “Điều này tương tự với ý niệm mà anh học được ở Dung Khắc khi còn trẻ: Pháp thuật chân chính nằm ở chỗ ‘làm điều nên làm’. Nhưng điều này lại tiến xa hơn một bước. Không chỉ là ‘làm’, mà là ‘được làm’...”
“Em cho rằng không chỉ có thế, nên giống hơn là nguồn gốc của việc hành động chân thực. Anh chẳng phải đã cứu mạng em một lần sao, chẳng phải đã đâm chiếc cào cỏ vào người Hắc Khắc đó sao? Đó đích thị là ‘hành động’, làm điều nên làm...”
Anh lại rơi vào trầm tư, cuối cùng hỏi cô: “Đây là trí tuệ được truyền thụ cho em khi em còn là Nữ tư tế lăng mộ sao?”
“Không phải.” Cô khẽ vươn vai, nhìn vào bóng tối. “A Nhĩ Cáp được dạy dỗ rằng: Muốn sở hữu sức mạnh, thì bắt buộc phải hy sinh, hy sinh chính bản thân cô ấy, và cả những người khác nữa. Đó là một cuộc giao dịch, bỏ ra thì mới thu về được. Em không thể nói những lời này là sai, nhưng linh hồn em không thể sống sót nổi trong cái nơi chật hẹp đó — lấy vật đổi vật, ăn miếng trả miếng, lấy cái chết đổi lấy sự sống... Ngoài cái đó ra, còn có một sự tự do lớn hơn nữa. Nằm ngoài sự cho đi, đền ơn, chuộc tội; nằm ngoài mọi giao dịch và cân bằng, có một sự tự do.”
“‘Đạo vậy’.” Anh khẽ nói.
Đêm đó, Điềm Na đã mơ thấy ác mộng. Cô mơ thấy mình nhìn thấy đạo trong 《Y Tự Sáng Thế Ca》. Đó là một ô cửa sổ nhỏ, nạm những ô kính bện thắt, trắng sương, dày cộm, được khảm thấp ở bức tường phía tây của một ngôi nhà cổ trên biển. Cửa sổ đóng chặt. Cô muốn mở cửa sổ ra, nhưng cần có một chữ, hoặc một chiếc chìa khóa, là thứ đã bị cô lãng quên, một chữ, một chiếc chìa khóa, một cái tên, thiếu nó thì không thể mở cửa sổ được. Cô tìm kiếm trong ngôi nhà đá đang dần thu nhỏ lại và tối đi, cho đến khi phát hiện ra Cát Đắc đang ôm lấy cô, muốn đánh thức, an ủi cô, nói rằng: “Không sao đâu em yêu, mọi chuyện sẽ ổn thôi!”
“Em không trốn thoát được!” Cô gào thét, bấu víu chặt lấy anh.
Anh dỗ dành cô, bàn tay nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc cô, hai người tựa lưng ngả người ra sau, anh nhỏ giọng nói: “Nhìn kìa.”
Mặt trăng cổ đại mọc lên, ánh sáng rực rỡ trắng ngần chiếu rọi tuyết rơi phản chiếu vào trong nhà, bởi vì dù trời có lạnh đến đâu, Điềm Na vẫn không muốn đóng cửa chớp lại. Bầu không khí lơ lửng ở khắp nơi mờ ảo phát sáng. Hai người nằm dưới bóng râm, mái nhà dường như chỉ là một lớp voan mỏng, bao bọc lấy họ, cách ly với biển ánh sáng vô biên, trắng ngạc, bình yên ở phía đầu bên kia.
Mùa đông năm nay ở Côn Thái có nhiều tuyết, kéo dài, và cũng cực kỳ được mùa. Người và vật nuôi đều có lương thực, cho nên ngoài việc ăn uống giữ ấm ra, chẳng có việc gì làm cả.
Sê Lu đã thuộc làu toàn bộ thiên 《Y Tự Sáng Thế Ca》. Vào ngày mặt trời quay về, con bé ngâm tụng “Đông ca” cùng 《Thiếu vương hành nghị》; con bé biết cách nhào bột làm bánh nướng, dùng guồng quay sợi, làm xà phòng; con bé biết tên gọi và công dụng của tất cả các loài thực vật mọc lộ thiên trên tuyết, còn có rất nhiều thảo dược và chuyện dân gian truyền miệng, toàn bộ đều là những kiến thức mà Cát Đắc nhồi nhét vào đầu trong suốt quãng thời gian ngắn ngủi học nghề cùng Âu Cát An, cùng với những năm tháng dài đằng đẵng trải qua ở học viện Dung Khắc. Nhưng anh không hề lấy cuốn sách văn tự thiêng liêng hay bộ trí điển trên tủ lò sưởi xuống, cũng không dạy đứa trẻ lấy một chữ nào của ngôn ngữ sáng thế.
Anh thảo luận chuyện này với Điềm Na. Cô bảo với anh, cô từng cố gắng dạy Sê Lu một chữ: “Thác”, nhưng lập tức dừng lại, bởi vì cảm giác không đúng, mặc dù cô không hiểu tại sao lại có niệm tưởng này.
“Anh tưởng rằng có lẽ vì em chưa bao giờ thực sự nói ngôn ngữ này, chưa bao giờ dùng nó trong pháp thuật. Anh nghĩ, có lẽ con bé nên học từ những kẻ thực sự nói ngôn ngữ sáng thế.”
“Không có kẻ nào như thế cả.”
“Cũng không có người phụ nữ nào như thế.”
“Ý anh là, chỉ có loài rồng mới dùng nó làm tiếng mẹ đẻ.”
“Bọn chúng được học à?”
Đột ngột đối mặt với câu hỏi này, anh chần chừ mãi không trả lời, rõ ràng trong đầu đang hồi tưởng lại tất cả những gì mình từng nghe qua hoặc biết được về kiến thức liên quan đến loài rồng. “Anh không biết,” cuối cùng anh đáp, “chúng ta hiểu được bao nhiêu về bọn chúng chứ? Bọn chúng có giống như chúng ta không, mẹ truyền con nối, đời trước truyền đời sau? Hay là giống như loài động vật, dạy bảo một số việc, nhưng đại đa số đều là sinh ra đã biết? Chúng ta đến điểm này còn chẳng biết nữa là. Nhưng anh đoán, loài rồng và ngôn ngữ rồng, cả hai là một, chính là cùng một sự tồn tại.”
“Hơn nữa bọn chúng không nói ngôn ngữ khác.”
Anh gật đầu. “Bọn chúng chẳng cần học,” anh nói, “chính bọn chúng là ngôn ngữ rồi.”
Sê Lu bước vào nhà bếp. Một trong những công việc của con bé là đảm bảo hộp củi lúc nào cũng được lấp đầy, con bé bận rộn làm việc, khoác chiếc áo khoác da cừu ngắn, đội mũ, đi lại giữa nhà bếp và phòng để củi. Con bé ôm một ngực củi ném vào chiếc hộp bên góc ống khói, rồi lại bắt đầu xuất phát.
“Con bé đang hát bài gì thế?” Cát Đắc hỏi.
“Sê Lu á?”
“Lúc con bé ở một mình ấy.”
“Nhưng con bé có bao giờ hát hò gì đâu. Nó không thể hát được.”
“Con bé hát theo cách của riêng mình, ‘Phương tây của phương tây...’”
“À!” Điềm Na nói: “Câu chuyện đó! Âu Cát An chưa từng nhắc đến người phụ nữ Khải Mị với anh sao?”
“Chưa,” anh nói: “Kể cho anh nghe đi.”
Cô vừa dệt vải, vừa kể câu chuyện cho anh nghe, tiếng o o của guồng quay sợi, tiếng hít hà và câu chữ của câu chuyện hòa quyện vào nhau. Cuối cùng, cô nói: “Sư phụ Phong Chì nói với tôi rằng lúc ông ấy đến tìm ‘người phụ nữ trên đảo Côn Thái’, tôi đã nghĩ đến mụ ta. Nhưng bây giờ chắc mụ ta chết mất rồi. Dù thế nào đi nữa, một mụ đánh cá của loài rồng, làm sao có thể là đại pháp sư được chứ!”
“Ừm, sư phụ Hình Ý đâu có nói trên đảo Côn Thái có một người phụ nữ chuẩn bị trở thành đại pháp sư đâu.” Cát Đắc nói. Ông đang vá một chiếc quần dài rách rưới tơi tả, ngẩng đầu ngồi trên bệ cửa sổ để chớp lấy chút ánh sáng yếu ớt trong sắc trời âm u. Tiết Lập Đông đã qua hơn nửa tháng, chính là thời điểm lạnh giá nhất.
“Vậy thì ông ấy đang nói cái gì?”
“‘Người phụ nữ trên đảo Côn Thái’. Em đã bảo anh như thế mà.”
“Nhưng bọn họ đang hỏi, ai sẽ là đại pháp sư tiếp theo cơ mà.”
“Rồi không nhận được câu trả lời cho câu hỏi đó.”
‘“Cuộc tranh cãi của pháp sư chưa bao giờ dừng lại’.” Điềm Na bình thản nói.
Cát Đắc cắn đứt đầu chỉ, đoạn chỉ vô dụng quấn quít giữa hai ngón tay.
“Anh cũng học được chút ngụy biện ở Dung Khắc đấy,” anh thừa nhận, “nhưng anh nghĩ đây không phải ngụy biện. ‘Người phụ nữ trên đảo Côn Thái’ không thể trở thành đại pháp sư. Không có người phụ nữ nào có thể trở thành đại pháp sư cả. Cô ấy sẽ hủy hoại thứ mà mình trở thành ngay khi vừa thành hình. Pháp sư Dung Khắc là đàn ông, sức mạnh của họ là sức mạnh của đàn ông, kiến thức của họ là kiến thức của đàn ông. Đàn ông và pháp thuật được xây dựng trên cùng một khối nền móng, sức mạnh thuộc về đàn ông. Nếu phụ nữ có sức mạnh, vậy thì đàn ông ngoại trừ việc là một người phụ nữ không thể sinh nở ra, còn có thể là gì nữa? Hơn nữa phụ nữ chẳng qua sẽ chỉ là một người đàn ông có thể sinh con mà thôi.”
“Hừ!” Điềm Na phun ra một hơi. Một lát sau, mang theo vẻ láu cá nói: “Chẳng phải từng có nữ vương sao? Chẳng lẽ bọn họ không phải là những người phụ nữ có sức mạnh hay sao?”
“Nữ vương chỉ là vua giới tính nữ mà thôi.” Cát Đắc nói.
Cô hừ từ mũi ra hai tiếng.
“Ý anh là, đàn ông ban cho cô ấy sức mạnh, đàn ông để phụ nữ sử dụng sức mạnh của họ. Nhưng đó không phải của cô ấy, phải không nào? Vốn dĩ không phải là ‘bởi vì cô ấy là phụ nữ, cho nên mới có sức mạnh’, mà là ‘cho dù cô ấy là phụ nữ, cô ấy cũng có sức mạnh’.”
Cô gật đầu, vươn vai, ngồi dịch ra khỏi guồng quay sợi. “Vậy sức mạnh của phụ nữ rốt cuộc là gì?” Cô hỏi.
“Anh cho rằng, chúng ta không biết.”
“Khi nào thì phụ nữ mới bởi vì thân phận phụ nữ mà có sức mạnh? Em nghĩ là lúc ở bên đứa trẻ chăng. Có một khoảng thời gian...”
“Có lẽ là lúc cô ấy ở trong ngôi nhà của mình.”
Cô đảo mắt nhìn quanh nhà bếp. “Nhưng cửa đóng kín,” cô nói, “cửa đều khóa kín cả mà.”
“Bởi vì em rất trân quý.”
“Ồ, phải rồi. Chúng ta rất trân quý, miễn là chúng ta không có sức mạnh... Chị nhớ lại bản thân mình đã học được bài học đó như thế nào rồi! Kha Tú uy hiếp em, em, Nữ tư tế trưởng! Lúc đó em phát hiện ra sự bất lực của mình. Em tôn quý, nhưng mụ ta có sức mạnh, xuất phát từ nam nhân Thần vương ấy. Điều này khiến em tức giận biết bao! Hơn nữa còn dọa em sợ chết khiếp... Vân Tước đã thảo luận chuyện này với em. Cô ấy nói: ‘Tại sao đàn ông lại sợ phụ nữ?’”
“Nếu ưu thế chỉ được xây dựng trên điểm yếu của đối phương, thì sẽ sống trong sợ hãi.” Cát Đắc nói.
“Đúng, nhưng phụ nữ hình như sợ hãi ưu thế của chính mình, sợ hãi chính mình.”
“Có ai dạy họ tin tưởng vào bản thân mình không?” Cát Đắc hỏi, vừa nói, Sê Lu lại đi vào tiếp tục làm việc. Ông và Điềm Na nhìn nhau.
“Không có,” cô nói: “Chẳng ai dạy chúng ta cách tin tưởng cả.” Cô nhìn đứa trẻ chất củi vào trong hộp. “Nếu sức mạnh chính là sự tin tưởng,” cô nói, “em thích từ này lắm. Nếu không phải là những sự sắp đặt này: Người ngoài có người, nhà vua, đại sư, pháp sư và chủ nhân, mọi thứ dường như đều vô nghĩa. Sức mạnh chân chính, sự tự do chân chính, nằm ở sự tin tưởng, chứ không phải vũ lực.”
“Giống như trẻ con tin tưởng cha mẹ vậy.” Ông nói.
Hai người im lặng.
“Thế đạo là vậy đấy,” ông nói, “thậm chí sự tin tưởng cũng có thể khiến con người ta trở nên mục rữa. Những người đàn ông ở Dung Khắc tin tưởng vào bản thân và lẫn nhau. Sức mạnh của họ là thuần khiết, thuần khiết đến mức không chịu một tì vết nào nhiễm gã, thế nên họ đã nhầm lẫn sự thuần khiết thành trí tuệ. Họ không thể tưởng tượng nổi mình sẽ phạm sai lầm.”
Cô ngẩng đầu nhìn ông. Ông chưa bao giờ nói về Dung Khắc theo cách này, hoàn toàn khách quan, tách rời.
“Có lẽ họ cần phụ nữ đến để chỉ ra điểm này.” Cô nói, và ông mỉm cười.
Cô quay guồng quay sợi trở lại. “Em vẫn không hiểu tại sao. Nếu có thể có nữ vương, tại sao lại không thể có nữ đại pháp sư cơ chứ.”
Sê Lu tập trung lắng nghe.
“Lấy quạt thổi tắt lửa sôi, vo cát nấu thành cơm.” Cát Đắc nói, một thành ngữ Côn Thái. “Nhà Vua được người khác ban cho quyền lực, còn sức mạnh của pháp sư là của chính anh ta, là của bản thân anh ta.”
“Hơn nữa đó là sức mạnh nam tính. Bởi vì chúng ta thậm chí còn không biết sức mạnh của phụ nữ là gì. Được rồi, em hiểu rồi. Thế nhưng dù thế nào đi nữa, tại sao bọn họ không thể tìm một đại pháp sư — một nam đại pháp sư cơ chứ?”
Cát Đắc nghiên cứu đường may rách rưới bên trong chiếc quần dài. “Ừm,” ông nói: “Nếu sư phụ Hình Ý không trả lời câu hỏi của bọn họ, thì chính là trả lời câu hỏi mà bọn họ chưa hề hỏi. Có lẽ bọn họ nên hỏi mới phải.”
“Đây là một câu đố à?” Sê Lu hỏi.
“Đúng vậy,” Điềm Na nói: “Nhưng chúng ta không biết vế đố là gì, chỉ biết đáp án là: Người phụ nữ trên đảo Côn Thái.”
“Có rất nhiều mà.” Sê Lu trầm ngâm một lát rồi nói, rõ ràng vô cùng thỏa mãn, bước ra ngoài cửa, chuyển đợt củi tiếp theo.
Cát Đắc nhìn theo con bé rời đi. “Mọi thứ đều thay đổi rồi,” ông nói: “Mọi thứ... Điềm Na, đôi khi anh nghĩ, anh đang nghĩ liệu chế độ trị vì của nhà Vua Lê Bạch Nam có phải chỉ là sự khởi đầu hay không. Đạo... mà ngài ấy lại là người bảo vệ đạo, chứ không phải kẻ qua đường.”
“Trông ngài ấy trẻ trung quá.” Điềm Na dịu dàng nói.
“Cũng trẻ trung như Mặc Thụy khi gặp con thuyền đen ngày ấy vậy. Giống như anh hồi trẻ, lúc anh ở...” Ông dừng lời không nói nữa, nhìn qua khung cửa sổ ra cánh đồng băng giá xám xịt ngoài những tán cây trụi lá. “Hay là em, Điềm Na, ở cái nơi tăm tối đó... trẻ tuổi hay già nua thì có là gì chứ? Anh không biết. Đôi khi anh cảm thấy bản thân giống như đã sống trọn một ngàn năm, đôi khi anh lại cảm giác cuộc đời mình giống như một cái liếc mắt kinh hồng qua khe hở bức tường. Anh từng chết, rồi lại được sinh ra lần nữa, ở vùng đất khô cằn, ở nơi tràn ngập ánh mặt trời này, không chỉ một lần. Hơn nữa 《Sáng Thế Ca》 nói với chúng ta rằng, chúng ta từng quay về, và sẽ vĩnh viễn quay về nguồn cội. Hơn nữa nguồn cội vĩnh viễn không bao giờ dừng lại. ‘Chỉ có cái chết, mới có được sự tái sinh...’ Lúc anh dẫn bầy dê ở trên núi, đã nghĩ đến điều này, ban ngày dường như vô tận, nhưng trước khi màn đêm buông xuống, thời gian lại giống như ngưng đọng, rồi lại là buổi sáng... Anh đã lĩnh hội được sự trí tuệ của loài rồng. Thế nên anh nghĩ, mình đau thương cái gì? Mình đang thương khóc ai chứ? Đại pháp sư Cát Đắc chăng? Tại sao gã chăn cừu Ưng lại phải cảm thấy bi thương tủi nhục vì ngài ấy? Anh đã làm ra chuyện gì đáng phải cảm thấy tủi nhục cơ chứ?”
“Không có,” Điềm Na nói: “Không có, vĩnh viễn không có!”
“Ồ, có chứ,” Cát Đắc nói: “Sự vĩ đại của con người được đặt nền móng trên sự tủi nhục, sinh ra từ đó. Cho nên, gã chăn cừu Ưng thương khóc cho đại pháp sư Cát Đắc, đồng thời cũng làm hết sức mình, chăm sóc bầy cừu như một đứa trẻ chăn cừu...”
Một lát sau, Điềm Na mỉm cười. Cô có chút ngại ngùng nói: “Mộ Tư nói trông anh giống như mới mười lăm tuổi vậy.”
“Anh nghĩ chắc cũng xấp xỉ thế. Âu Cát An đặt tên cho anh vào mùa thu, mùa hè năm sau anh liền đến Dung Khắc... Đứa bé đó là gì chứ... Một khoảng trống... Một sự tự do.”
“Sê Lu là ai, hả Cát Đắc?”
Ông không trả lời, cho đến khi cô ngỡ rằng ông sẽ không trả lời nữa, thì mới cất lời: “Được tạo ra như thế... con bé còn có thể có sự tự do nào nữa chứ?”
“Thế nên chúng ta chính là sự tự do của mình sao?”
“Anh nghĩ là vậy.”
“Lúc anh tràn trề sức mạnh, tựa như đạt được sự tự do đỉnh cao nhất của con người. Nhưng đã phải trả cái giá gì chứ? Điều gì khiến anh tự do? Còn em... em được tạo ra, giống như đất sét vậy, bị nhào nặn bởi ý chí của những người phụ nữ đó. Bọn họ hầu hạ thái cổ lực, hoặc hầu hạ những người đàn ông đã thiết lập nên tất cả nghi thức, đạo pháp, địa điểm, em phân biệt không rõ nên là thế nào. Rồi em được tự do, cùng với anh và Âu Cát An, vào khoảnh khắc đó. Nhưng đó không phải là sự tự do của em. Nó chỉ cho em sự lựa chọn, và em đã đưa ra lựa chọn. Em chọn nhào nặn bản thân mình giống như đất sét, để dùng cho trang trại, bác nông dân và những đứa con của chúng ta. Em nhào nặn bản thân thành một chiếc bình chứa, em hiểu hình dáng của nó, nhưng lại không hiểu đất sét; sinh mệnh múa lượn cùng em, em biết các bước nhảy, nhưng lại không biết người vũ sư là ai.”
“Còn con bé,” Cát Đắc nói sau một khoảng im lặng dài đằng đẵng, “nếu có một ngày con bé có thể múa...”
“Mọi người sẽ sợ hãi nó.” Điềm Na nhỏ giọng nói. Sau đó đứa trẻ bước vào nhà, chủ đề trò chuyện liền chuyển sang phần bột mì đang nở phồng trong chiếc hộp bên lò sưởi. Bọn họ cứ trò chuyện như thế, yên tĩnh và dài dòng, từ chuyện này sang chuyện khác, hồi tưởng, lặp đi lặp lại, vượt qua cả nửa ngày ngắn ngủi, dùng ngôn ngữ để dệt nên những năm tháng, hành động, suy nghĩ chưa từng được chia sẻ trong cuộc đời hai người, khâu vá chúng thành một thể thống nhất cùng với đứa trẻ trầm mặc ở bên cạnh.
Mùa đông cứ thế trôi qua, cho đến khi mùa cừu sinh nở đến. Khi ban ngày kéo dài và chuyển sáng, công việc tạm thời trở nên vô cùng nặng nhọc. Sau đó, những con chim én bay đến từ những hòn đảo ngập tràn ánh nắng, từ vùng cực nam nơi có ngôi sao Ca Ba Đốn lấp lánh ở chòm sao tận cùng, nhưng những lời thì thầm giữa những con chim én với nhau, chỉ kể về sự khởi đầu.