• TRẬN GIÓ DÔNG HIẾM CÓ Ở NAM TRƯỜNG SƠN
• ĐÀN SÓI RỪNG TAN TÁC MÀ KHÔNG BẮT ĐƯỢC CON MỒI HEO VÒI
Chị Nai Ngọc có giấy gọi lên huyện học lớp đào tạo giáo viên người dân tộc. Làng Pút Sia đêm nay tổ chức ở nhà rông buổi tiễn chân chị lên đường thật vui. Bác Pơ Rum mang đến một vò rượu mật sóng sánh. Bác rót tràn rượu ra những chiếc bát to, rồi oang oang nói:
- Thật mừng quá. Hôm nay tôi sẽ uống thật say để chúc cho cháu Nai Ngọc lên huyện học được nhiều điều hay, điều tốt về làm cô giáo cho làng Pút Sia chúng ta.
Các cô gái trong làng ép Nai Ngọc ăn thật nhiều bánh, ăn thật nhiều quả chín. Chị Nai Ngọc lúc buồn, lúc vui. Xa cái làng Pút Sai một năm trời, chị nhớ nhiều thứ, nhớ mùa săn sắp đến, nhớ những ngày hội bên thác Búc Sô nở đầy hoa dành dành. Nhưng đi học, chị cũng thích lắm. Má Nai Ngọc đỏ bừng. Hớp rượu mật ong của bác Pơ Rum làm chị thấy la đà. Chị Nai Ngọc quay sang anh em Hạnh, niềm nở hỏi:
- Bữa nào anh và em Hạnh lên đường?
Anh Thành chậm rãi:
- Bọn tôi cũng phải đi rồi. Đã cuối mùa hè, em Hạnh phải trở về chuẩn bị năm học mới. Có lẽ tôi cũng đi xuống huyện cùng Nai Ngọc đó.
Chị Nai Ngọc mừng rỡ:
- Ô, thế thật vui. Nai Ngọc đi trong rừng không chỉ một mình, không chỉ làm bạn với con hươu, con nai nữa.
Bác Pơ Rum vẫn ngồi gật gù với bát rượu, bác xen vào:
- Đường từ huyện về nhà anh Thành đi mấy đêm trăng sáng?
- Có lẽ anh em tôi qua huyện xuống đồng bằng rồi xuống biển đi tàu ra miền bắc thôi. Tôi còn có việc với mấy anh bên thuỷ sản nữa, bác Pơ Rum à.
Bác Pơ Rum hồ hởi:
- Vậy để tôi chuẩn bị cho anh Thành ít thịt lợn rừng, ít lông thú quý mang về làm quà. Tôi cũng chúc cho anh Thành, cho cháu Hạnh mau khoẻ. Tiếc rằng mùa nhung năm nay chưa đến, để tôi biếu anh cặp nhung thật to về Hà Nội.
- Cám ơn bác Pơ Rum, cám ơn bà con làng Pút Sia nhiều lắm
* *
Ba người: anh Thành, Hạnh và chị Nai Ngọc qua thác Búc Sô còn tần ngần nhìn trở lại mãi bà con làng Pút Sia ra tiễn. Mãi đến khi tiếng thác nước ào ào đã dịu đi và tắt dần phía sau, chị Nai Ngọc mới cất tiếng:
- Có dịp nào quay trở lại đây, anh Thành đừng ngại đường xa, đừng lo đường rừng, mà đến thăm làng em.
Anh Thành cười:
- Nhất định như vậy đó, chị Nai Ngọc ơi. Làng Pút Sia của Nai Ngọc đẹp lắm. Tôi còn trở lại mà. Nai Ngọc có nhìn thấy con sơn dương đứng ở đầu núi kia không? Đến con thú trên rừng cũng tiễn chân chúng ta đó.
Con sơn dương in lên nền trời buổi sớm một dáng khoẻ khoắn. Nó nhìn chăm chú về phía dải rừng mênh mông dưới chân, cái đầu ngẩng cao, đôi sừng cong về phía sau.
- Ở quê anh Thành có sơn dương không?
- Không có đâu. Nhưng ở vùng biển cũng có khi gặp đó.
- Sơn dương ở quê em, đến mùa thu về rất nhiều. Em tưởng nó chỉ ở các mỏm núi cao thôi. Nó leo trèo giỏi như vượn đó. Có nững chóp núi chẳng ai lên được, mà nó cũng đến tìm cỏ, tìm lá cây để ăn. Hiếm hoi lắm thợ săn mới bắn sơn dương. Ở đây, nhiều con thú quý hơn mà.
Anh Thành cười:
- Đối với người vùng xuôi, lại hiếm thịt sơn dương. Thịt sơn dương chế biến khéo, ngon như thịt dê nhà. Trẻ con suy dinh dưỡng, gầy còm, được thịt sơn dương hầm với các vị thuốc như đương quy, gừng, hoàng kỳ thì thật tuyệt, chứ chưa kể đến cái món cao xương là loại quý.
Đường trong rừng mùa này thật đẹp. Cây cối rậm rì, gai góc chằng chịt, những đám mây, song bám chắc những cây gụ, cây luồn dày đặc. Kề bên rừng mây là nương sim tím ngắt, nhô lên những hàng chuối rừng, hoa đỏ thắm đầu buồng chuối non. Bầy chim sin sít hót lanh lảnh như tiếng kèn đồng. Ở một bãi cỏ tranh, những con trâu nhở nhơ con nằm con đứng lô nhô. Thỉnh thoảng một con đứng vươn cổ, chếch đôi sừng nhọn hoắt, kêu một tiếng "nghé ọ" vang rừng. Mấy chú min hiền lành gặm cỏ bên con trâu nằm toài lười biếng sưởi nắng.
Chị Nai Ngọc "ồ" lên một tiếng nhỏ, rồi quay sang anh Thành:
- Đã lâu lắm, em mới thấy mấy con min này. Loài min ưa ăn măng tre ở rừng sâu, chỉ khi thiếu ăn nó mới xuống các bãi cỏ, nhưng chẳng ở lâu...
Con Vện Ốc bỗng sủa vang lên một hồi. Chị Nai Ngọc và anh Thành quay lại:
- Gì vậy, Hạnh?
Hạnh đang cố kéo chú Vện Ốc đi. Hạnh cười bẽn lẽn:
- Con Vện Ốc cứ nhay cái gốc cây dại này, anh Thành ơi!
- Nó đói hẳn?
- Không. Cái gốc cây gì đầy lông, khiếp quá anh ạ!
Anh Thành bước đến gần em trai. Anh reo lên:
- Trời! Thân rễ cây lông cu li mà em bảo gốc cây hả? Nhìn xem nào, từ hôm vào Trường Sơn, anh mới gặp nó đây!
Chị Nai Ngọc cũng rảo bước đến. Chị chẳng ngạc nhiên như anh Thành. Rừng ở quê chị, loại cây này thiếu gì đâu. Những cây cu li mọc hoang dại rải rác trên mặt đất, xù lên đám lông vàng vọt mà Hạnh tưởng một gốc cây đã bị đẵn cụt. Anh Thành ngồi xổm bên một cây lông cu li, tay vuốt nhẹ trên đám lông mượt êm. Cây lông cu li vươn cao cổ như dáng chú hươu vàng đang bứt lá. Người ta thường đặt lộn ngược và sửa sang nó, sẽ có những dáng hình con thú, cành hoa thật đẹp. Anh Thành với tay sang bên sườn, kéo chiếc bi đông đựng rượu mật ong mà ông Pơ Rum tặng lúc lên đường. Anh mở nút, tưới một chút rượu lên đám lông cu li, rồi quay sang Hạnh:
- Em chờ xem, anh làm trò ảo thuật đây này!
Những chiếc lông cu li đang xẹp lại, đẫm rượu, bỗng động đậy nhè nhẹ, rồi cựa quậy và phồng lên dần dần. Một chặp, cả đám lông thấm rượu, bỗng bồng lên từng chiếc. Hạnh reo lên:
- Lông cu li mọc dài ra, anh ạ!
Anh Thành nhổ cây cu li lên khỏi mặt đất, vui vẻ nói:
- Trong lông này có chứa đầy không khí, nếu thả vào nước nó nổi lềnh bềnh, khi hút no nước thì nó chìm nghỉm. Khi anh phun rượu vào, nó thấm rượu, và thấm rượu dễ dàng hơn thấm nước, như vậy các ngăn của lông được bơm căng lên, làm cho lông mọc dài ra, giống như khi các em nhỏ bơm những quả bóng giun vậy.
Chị Nai Ngọc chăm chú nhìn gốc lông cu li trên tay anh Thành, cũng ngạc nhiên không kém Hạnh:
- Anh xem, nó cựa quậy như một con nhím bé xíu đó !
Anh Thành vẫn vuốt ve đám lông vàng xốp:
- Chuyện cổ cũng bảo cây lông cu li là một sinh vật nửa thực vật nửa là động vật đấy. Vì nửa dưới là cây, nên bám chặt rễ vào đất, làm nửa trên là con vật bị ràng buộc không đi lại được, phải đứng tại chỗ kiếm ăn. Khi "con quái vật" này ăn gặm hết cỏ cây quanh mình, không thể bỏ đi nơi khác kiếm ăn, thì nó bị chết đói. Người ta gọi quái vật này là con cừu nhỏ bé của xứ Xi - ti. Ở nước ta, có người cũng tưởng lầm cây lông cu li này là con cu li, một loài khỉ đi ăn đêm.
Hạnh cũng nhổ một cây cu li, rút một đám lông xôm xốp, rồi chợt nhớ ra và hỏi anh Thành:
- Em nghe bọn bạn có lần kể, củ cu li lấy ở rừng về, vặt trụi lông đi vẫn còn có thể mọc lông mới, phải không anh Thành?
Anh Thành nghĩ một thoáng, rồi chậm rãi:
- Lông cu li rất được ưa chuộng trong y học dân gian. Thân rễ cây làm thuốc chữa tê thấp, đau khớp xương, gọi là cẩu tích. Lớp lông màu vàng này dùng để đắp các vết thương, vết đứt tay để cầm máu, vì lông cu li có khả năng hút huyết thanh, lại làm vón máu và giúp máu chóng đông lại ở vết thương. Những lông cu li dài vặt đi, còn sót lại rất nhiều lông cực ngắn dính sát vào thân củ, khi phun rượu vào, các lông ngắn sẽ nở ra, chồi thêm lên, làm ta có cảm giác củ cu li tiếp tục mọc lông mới. Thật ra, đó vẫn là hiện tượng vật lý đơn thuần như anh đã nói, chứ không phải mới mọc kiểu sinh học.
Hạnh cười:
- Vậy mà trước đây em cứ tưởng có giống cu li thật.
- Sao lại tưởng? Cây lông cu li khác, còn con cu li vẫn có thật. Đó là một loài động vật thuộc bộ khỉ. Con cu li chuyên đi kiếm ăn về đêm vì sợ ánh sáng. Nó leo trèo giỏi, nhanh nhẹn chẳng kém gì khỉ. Chỉ ban ngày, cu li chậm chạp, thường lùi vào hốc tối ngồi, đầu cúi gập, che mặt dưới tay, nên miền ngược còn gọi là con xấu hổ.
Anh Thành nhổ thêm mấy cây lông cu li nữa, rồi giục Hạnh:
- Thôi, quá trưa rồi. Anh em mình mải nói chuyện, chị Nai Ngọc đói bụng đó. Chúng mình kiếm chỗ nào chén đã !
Chị Nai Ngọc xua tay:
- Em nghe chuyện cũng vui rồi, chưa đói cái bụng mà. Anh Thành biết các loài cây, các con thú hơn cả người làng Pút Sia đó.
Anh Thành lắc đầu:
- Nai Ngọc khen chẳng đúng đâu. Tôi còn phải đi nhiều, học nhiều. Rừng Tây Nguyên nhiều cái lạ, cái hay, tôi mới biết rất ít thôi.
* *
Ba người đi được già nửa chặng đường, thì đêm ở rừng đã sắp tràn xuống. Chị Nai Ngọc nhanh nhẹn đeo chiếc túi vải nặng lên vai:
- Đêm nay, anh em mình phải tìm chiếc hang nào ngủ lại, mai đi tiếp thôi.
- Gần đây có làng nào không, chị Nai Ngọc?
- Không có đâu. Mà đi tiếp, gặp con hổ, con báo đó, anh Thành ạ.
Anh Thành thoáng lo, nhưng vẫn đùa:
- Tôi quên xin ông Pơ Rum ngọn giáo rồi. Nếu gặp hổ rừng, phải chịu khó làm thân với nó, kẻo ông hổ nổi giận thì nguy. Cây súng săn này chẳng thấm vào đâu với ác thú ở đây cả ! Chị Nai Ngọc có sợ thú dữ về không?
Chị Nai Ngọc cười khúc khích:
- Người làng Pút Sia không sợ thú ác đâu. Dạo lũ làng đi săn voi, Nai Ngọc cũng cưỡi voi đi theo đó.
Hạnh khoái lắm:
- Chị cũng săn voi rừng ư?
- Cũng đi mà. Chị mới đầu cũng lo đầy cái bụng, sau quen dần. Đi săn gấu lấy trộm mật, bác Pơ Rum cũng cho đi theo. Bác Pơ Rum thích người nào hay nghe bác kể chuyện, người nào không biết sợ con thú, đều đi theo hết.
Chị Nai Ngọc đang nói, bỗng chạy lên một ghềnh đá cao ngó về phía cuối rừng. Chị lại chạy xuống bên anh em Thành:
- Chúng ta chạy đi thôi, gió rừng sắp nổi rồi !
- Gió rừng làm Nai Ngọc hãi hơn thú dữ sao?
- Không sợ như ác thú,nhưng lo cây rừng đổ và lạc đường thôi.
Trận gió đến nhanh hơn anh Thành nghĩ. Con Vện Ốc thấy gió ào ào trong rừng, nó càng thêm phởn chí, chạy tung tăng, có lúc vượt lên trước, có lúc vòng tít vào những bụi cây um tùm, tụt hẳn lại phía sau một đoạn rồi lại đuổi theo. Đoàn người đã bỏ nó một đoạn xa. Một con thỏ nâu hốt hoảng từ hẻm đã chạy vụt qua đường. Vện Ốc tức tốc nhảy bổ theo. Nhưng con thỏ nâu nhanh hơn, nó đã mất hút trong một hang đất sâu hun hút. Vện Ốc cào cào cửa hang, sủa lên một hồi đe doạ, rồi bỏ đi. Ra khỏi đám cây lúp xúp rậm rì, Vện Ốc bỗng thấy soạt một tiếng trên đầu. Nó chùn chân lại ngẩng lên. Một con vật bay sà từ cây cao sát xuống gần mặt đất và liệng từ từ ngay trước mặt Vện Ốc. Vện Ốc không thể biết chú sóc bay đang nháo nhác tìm nơi tránh trận gió rừng. Con sóc bay dang màng cánh bên thân ra như một chiếc dù mở rộng, lúc co vào lúc duỗi ra để điều khiển vòng lượn. Bộ lông của sóc bay có màu hạt dẻ, trong khi lưng nó lại phớt ánh bạc. Đuôi sóc bay uốn bên này, chếch bên kia như tay lái mỗi lần con thú lượn lờ. Vện Ốc chưa kịp sủa gọi Hạnh, con sóc bay đã khuất vào lùm lá ngay trên đầu Vện Ốc. Vện Ốc nhảy choàng ra khỏi chỗ đứng cong đuôi chạy theo Hạnh. Nó chỉ có thể "chiến đấu" với những con vật chạy dưới đất, còn với chú sóc bay kỳ dị vừa gặp, Vện Ốc chưa thử sức lần nào mà.
Cơn dông mỗi lúc một to, rừng cây bỗng náo động hẳn lên. Những cây gụ, cây dẻ cao ngất ngả về một phía như muốn đổ sập xuống. Lá trút rào rào như động rừng. Gió thốc vào từng bờ bụi rậm rạp, lật tung lên những dây rừng loằng ngoằng hoang dại. Một vài cây rừng non mọc chơ vơ đã oằn mình rồi gãy răng rắc nửa thân mình. Chị Nai Ngọc hét to:
- Nhanh lên, anh Thành, em Hạnh ! Nhanh...
Tiếng chị Nai Ngọc bạt đi theo gió. Chị nắm tay Hạnh, chạy ào ào. Cơn gió dông đầu mùa ở Trường Sơn thật ghê gớm. Những cành cây lao vun vút trong không trung. Lá rụng đập lả tả trên người anh Thành, vào chị Nai Ngọc. Hạnh ngoái cổ trở lại, báo tin:
- Con Vện Ốc không theo kịp rồi, chị Nai Ngọc ơi !
- Em đừng lo. Tìm đến hang núi trú đã. Nó sẽ chạy kịp chúng ta.
Cơn gió không ngớt đi mà càng mạnh thêm. Có tiếng đá lở ầm ầm ở phía bên đường đi. Rồi những cây to cũng bắt đầu đổ. Gió dông mang theo bụi ở đâu bay về mù mịt. Mái tóc chị Nai Ngọc xổ tung, bay lượt thướt về phía sau. Anh Thành chỉ còn nhận được con đường mờ mờ dưới chân và bóng chị Nai Ngọc đang nắm tay Hạnh chạy ào ào phía trước. Chiếc ba lô nặng trĩu trên vai như kéo anh lại. Một cơn gió thốc mạnh, hất tung báng súng săn lên rồi đập xuống hông làm anh đau điếng. Nhưng anh Thành cố giữ khoảng cách đều đều sau chị Nai Ngọc và Hạnh. Lá rừng vẫn bay mù mịt đằng trước, đằng sau. Có những đám lá đang từ từ liệng tròn trên mặt đất, bỗng bốc thẳng lên, vun vút đuổi nhau rào rào trên tít trời cao. May mà trời không mưa. Chỉ gió thổi như bão lớn. Gió gào thét khắp khu rừng rậm.
Khi chị Nai Ngọc cùng Hạnh ùa vào trong chiếc hang chắc chắn, rộng thênh thì gió rừng vẫn mỗi lúc thổi một mạnh hơn. Anh Thành tìm nơi khuất gió, đánh một mồi lửa lên tìm chỗ khô ráo, đặt chiếc ba lô quý của mình xuống. Anh thở phào như trút hết cái mệt nhọc ra ngoài:
- Tôi đã có lần hành quân trên đường Trường Sơn này hồi đánh Mỹ, nhưng chưa gặp cơn dông nào khiếp như bây giờ. Hơn cả bão đầu vụ, hơn cả bị trăn đuổi, chị Nai Ngọc ạ !
- Em thì quen rồi. Năm nào ở đây không có vài trận động rừng như vậy. Có năm gió bốc hẳn một hai ngôi nhà trong làng đi, chẳng còn lại thứ gì, như là chỗ đất trước đó trống không ấy.
- Nai Ngọc nói sao, một năm có đến vài trận gió như vậy à ?
- Có đến hai ba trận, năm nhiều nhất có đến bốn trận gió lớn đó !
Anh Thành vừa vun đống lá rừng khô, vừa chuẩn bị đốt lửa. Nghe tiếng gió vẫn ầm ầm ngoài cửa hang, anh trầm ngâm:
- Chắc vùng này nằm trong một rãnh không khí từ biển thổi lên, mới hút gió như vậy. Rồi đây, các nhà khí tượng phải nghiên cứu đến những hiện tượng lạ lùng này.
Hạnh lần ra cửa hang, khum hai lòng bàn tay thành loa, gọi vọng vào trong gió:
- Ơi ! Vện Ốc ở đâu ? Vện Ốc ốc...
Cơn gió mang giọng Hạnh đi, đánh tan vào không gian. Gọi đến bốn năm lần, Vện Ốc vẫn biệt tăm. Chị Nai Ngọc an ủi:
- Nhất định ngớt cơn dông, nó sẽ về Hạnh à !
Anh Thành đốt to ngọn lửa lên, nói vọng ra:
- Vện Ốc mải chơi bị lạc quanh đây thôi. Cu cậu tinh ranh lắm, nó chẳng...
Anh Thành chưa dứt lời, con Vện Ốc đã chạy nhào vào hang. Hạnh rú lên vui mừng, ôm lấy nó. Nhưng Vện Ốc đã toài ra. Nó có lạc gì đâu. Nó chỉ mải đùa với những con chi, con dúi đang chạy cơn dông ở mấy bụi cây thôi. Vện Ốc lăng xăng bên bếp lửa mới nhóm, nhìn anh Thành, nhìn chị Nai Ngọc rồi lại nhìn Hạnh như muốn hỏi: ngoài hang vui thế kìa, ồn ĩ thế kia, mà sao mọi người lại trốn biệt vào đây nhỉ ?
Anh Thành nướng một xâu thịt lợn rừng thơm nức. Anh cười vui vẻ :
- Chúng ta sống kiểu người nguyên thuỷ nhưng lại ăn thật sang. Tôi sẽ nướng một bữa chả cực ngon để mở tiệc mừng thoát khỏi cơn dông ác liệt vừa rồi.
Chị Nai Ngọc cười rúc rích :
- Giàng ơi ! Trông anh Thành nhọ nhem đầy trán đầy mặt đó. Để em nướng thịt lợn rừng thôi.
Anh Thành cũng cười :
- Không, để tôi làm. Cái món xiên chả này, từ hồi còn là sinh viên tôi đã đảm đương thật xuất sắc mỗi lần liên hoan đó. Chả nướng ăn chẳng kém ngoài hiệu, chỉ tiếc ở đây không có bún với nước chấm hạt tiêu và ớt thôi.
Cơn dông bỗng lặng đi nhanh như lúc đến. Ngoài hang, trời bỗng sáng lên một chút. Cơn dông làm mọi người tưởng đêm đã xuống, nhưng thật ra hãy còn sớm lắm. Vệt mây vàng khé còn lười nhác vắt ngang trời phía tây. Những cây gụ cao sừng sững lại đứng yên ả, nổi bật trên nền trời biêng biếc. Cơn dông chỉ để lại tàn tích của nó trên mặt đất những đệm lá phủ dày đặc. Anh Thành chợt lắng tai, lo lắng :
- Hình như có tiếng chó sủa ở đằng xa. Ai đi săn trở về nhỉ ?
Chị Nai Ngọc điềm tĩnh :
- Không phải chó săn đâu. Chó sói tranh mồi đó !
- Chó sói ? Chó sói về đây ?
Chị Nai Ngọc cười :
- Đúng đó. Em không lầm đâu. Chúng ta ra cửa hang, anh mang theo cả súng đi.
Từ cửa hang, có thể nhìn xuống một vạt cỏ thấp mà lúc nãy trong cơn dông không ai nhìn thấy. Bãi cỏ không rộng, nằm tụt xuống phía dưới con đường rừng già, lơ thơ mấy lùm cây mua, lùm lúp xúp dại. Anh Thành ước lượng :
- Vừa một tầm bắn...
Anh vừa giương súng lên, bỗng lại hạ súng xuống. Một đàn đến bảy tám con chó sói từ trong bụi rậm chạy xổ ra. Đằng trước chúng, một con thú đang hốt hoảng chạy ục ịch một cách tuyệt vọng. Anh Thành khum lòng bàn tay lên trán, rồi bậm miệng thốt khe khẽ :
- Đã lâu rồi, mới thấy chú mày !
Hạnh kéo tay anh trai :
- Con lợn rừng hả anh ?
- Không, đó là heo vòi. Loài vật này rất hiếm ở rừng của ta, có nơi bị tuyệt chủng rồi.
Con heo vòi to lớn, mình dài tới hơn hai mét, chạy ngoắt bên trái, ngoắt bên phải. Đàn chó sói vẫn bám sát nó. Con vật bắt đầu cuống rồi, chiếc lưng đầy lông trắng phau phơi ra béo núc ních đang là món mồi ngon cho đàn chó sói hung dữ. Chiếc mõm heo vòi bình thường trề ra và cụp xuống, bây giờ mở ra khép lại. Nó rống lên những tiếng kêu tuyệt vọng. Anh Thành lại giương súng lên lần nữa. Anh chưa kịp bắn thì từ một phía rừng, những bụi cây bỗng rung lên rào rào. Đàn sói chững lại một chút, thì cũng là lúc có đến bốn con lợn rừng đã băng tới. Đàn lợn rừng lao đến như gió. Cả bốn con lợn chúi đầu, sầm sầm chĩa những chiếc mõm cứng như thép và xô mạnh vào bầy chó sói hung ác. Nhưng con chó sói nhanh nhẹn đến thế, vẫn không kịp đối phó. Có đến hai con sói bị tung mình lên sau cú húc ghê gớm của lợn rừng, vội vã toài người lê chân lùi ra khỏi đám đông đang quần thảo nhau. Đàn sói vẫn không bỏ cuộc. Mấy con tản ra, miệng sủi bọt chảy lòng thòng, đôi mắt long lên, cố tìm thế để nhảy vào đàn lợn. Con sói đầu đàn bỗng nhún chân sau, rồi phốc mình lao vào một con lợn đang quay lưng về phía nó. Con sói nhảy lên, há chiếc mõm đầy răng nhọn hoắt, sắp sửa bập xuống gáy con lợn rừng đứng hớ hênh. Nhưng đôi chân nó vừa chộp xuống vai chắc nịch của lợn rừng, thì một sức mạnh khác từ phía bên đã ập xuống lườn nó. Một con lợn rừng khác nhanh hơn, với đôi răng nanh nhọn hoắt, đã lao mạnh vào bụng con sói đầu đàn, hất tung nó lên và quất mạnh nó xuống đám cỏ dày. Con sói đầu đàn tru lên một tiếng, nằm vật ra, bụng đầm đìa máu.
Đàn lợn rừng và đàn sói vẫn không rời nhau. Có lúc những con sói chạy tản ra vây lấy mấy con lợn vào giữa. Đàn lợn bật ra, lại dồn lũ sói về một phía.
Đã có đến ba sói rừng bị những nanh lợn húc bỏ xác trên bãi cỏ. Một chú lợn rừng cũng bị ngoạm vào chân khập khiễng, tiếp tục chống trả với đàn sói dữ. Ở góc bãi cỏ, con heo vòi hiền lành đứng ngây ra nhìn những người bạn mình đang quần nhau với đàn sói.
Đàn sói bắt đầu yếu thế dần. Con bị thương ở chân, con bị thương ở lưng, chỉ còn hai ba con nhanh nhẹn nhất thoát khỏi nhưgnx mũi nhọn của bốn con lợn rừng to khoẻ. Đàn sói trụ lại bên nhau, giận dữ nhìn ra chung quanh. Vòng vây của bốn con lợn rừng cũng bắt đầu quây lấy những con chó tụm lại. Một chú lợn hộc lên, lại bắt đầu cuộc đánh mới. Cái đầu lợn rừng rạp xuống sát đất lao vun vút về phía đàn sói. Như một hiệu lệnh sau tiếng hộc ghê gớm, cả ba phía khác, ba con lợn rừng cũng đồng loạt xông tới. Mấy con sói còn lại tru lên kinh hoàng, tản ra tứ tung, rồi cúp đuôi bỏ chạy vào trong những lùm cây.
Bãi cỏ bằng lặng trở lại. Bốn con lợn rừng chậm chạp bước đến bên nhau, rồi thong thả đến bên con heo vòi sống sót sau con khủng khiếp.
Đàn lợn rừng và heo vòi thoáng đã lẩn vào bờ rừng. Trên bãi cỏ, xác mấy con chó sói tử chiến nằm lại trơ trọi.
* *
ĐOẠN KẾT
CUỐI CÙNG THÌ TƯỜU NGỘ CŨNG GẶP VỆN ỐC BẠN CŨ NƠI ẤY,
NHỮNG HÒN ĐẢO XA XÔI KÊU GỌI
Hạnh cùng anh Thành trở về đến Hà Nội, thì những hàng cây cơm nguội có họ với cây du, cây ngát... ở các đường phố đã bắt đầu săn lá vàng óng và bắt đầu rụng sau mỗi trận gió nhẹ. Se se heo may đến. Tháng tám rồi ! Vầng trăng non dìu dịu trong đêm.
Hôm chia tay ở trụ sở huyện uỷ Đức Trọng, anh Thành cảm động hẹn với chị Nai Ngọc :
- Tôi còn nhiều dịp trở lại với rừng núi Trường Sơn. Thế nào tôi cũng thăm lại làng Pút Sia của chị, thăm trường học có Nai Ngọc làm cô giáo.
Chị Nai Ngọc thì nắm tay Hạnh ân cần :
- Biết bao giờ chị có dịp ra Hà Nội, gặp lại em thì vui cái bụng quá.
Hạnh bỗng thấy bùi ngùi xôn xao trong lòng. Biết bao giờ có dịp mình trở lại Tây Nguyên, gặp lại biết bao người mới quen đã trở thành thân thiết như ruột thịt. Rồi những làng xóm Hạnh đã đi qua, nơi thì chênh vênh sườn núi, nơi ẩn kín trong những rừng già hay xa mù tận sát phía tây biên giới ít người lại qua. Những đêm hè sao mọc dày và gió núi lồng lộng, những sớm hè ở tận chóp núi mây bạc phủ kín tầm nhìn.
Từ buổi rời cơ quan huyện uỷ đó, đến nay đã nửa tháng qua. Mùa thu dịu dàng đến. Mẹt hồng của chị bán hoa quả đầu phố san sát những trái đỏ chon chót. Tiếng rao cô bán cốm từ ngoại thành vào lảnh lót ở các ngõ nhỏ và mùi cốm mới ngào ngạt trong các lá sen xanh mướt. Một buổi tối, anh Cao - bạn của anh Thành - đi công tác từ Tây Nguyên về, rẽ qua nhà Hạnh reo lên từ cửa :
- Anh mang hộ quà cho chú Hạnh đây. Quà từ Tây Nguyên vượt đồng bằng, vượt biển Đông đó, oai không ?
Hạnh nhảy bổ ra đón. Anh Cao giơ cho Hạnh một chiếc lồng to. Trời ơi ! Con Tườu Ngộ! Con Tườu Ngộ của ông già bán thuốc và lông thú quý trên chợ Tây Nguyên. Con Tườu Ngộ ở nhà anh Đam Bơ và chị Y Lúi tại sao đến tay anh Cao để mang được ra Hà Nội ?
Anh Cao đoán được sự ngạc nhiên của Hạnh bèn kể ngay :
- Anh gặp Đam Bơ trong một phiên chợ. Anh Đam Bơ mong mãi có người ra Hà Nội để gửi con khỉ này cho em. May mà gặp anh sắp ra bắc. Anh nhận chuyển liền. Tưởng Hạnh nào, hoá ra là em. Anh Đam Bơ thật tốt bụng, anh ta hỏi thăm anh Thành, hỏi thăm em cả buổi.
Những kỷ niệm về Trường Sơn lại trở lại trong lòng Hạnh. Hạnh nhìn con Tườu Ngộ. Nó cũng nhận ra người bạn cũ. Đôi mắt Tườu Ngộ đen lay láy. Cái đầu ngó nghiêng qua những nan tre của chiếc lồng. Tườu Ngộ nhảy lên, nhảy xuống kêu lên những tiếng khèng khẹc vui vẻ. Anh Cao ngạc nhiên :
- Hình như nó đòi cái gì đó, hả Hạnh ?
Hạnh chăm chú nhìn con Tườu Ngộ, chợt nhớ ra vội quay vào nhà, gọi to :
- Ê ! Vện Ốc đâu, Vện Ốc.
Con Vện Ốc từ cửa sau cun cút chạy ra. Nó bỗng đứng sững lại sủa lên một tiếng khi nhìn thấy Tườu Ngộ. Con Tườu Ngộ cũng vui không kém, nó lại khèng khẹc, khèng khẹc liên hồi.
Hạnh mở chốt lồng nhốt con khỉ. Tườu Ngộ chui thoắt ra. Nó nhẹ nhàng đu mình và nhảy xuống bên Vện Ốc. Tườu Ngộ nghịch ngợm ôm lấy lưng con chó, áp cái đầu vào bộ lông rậm của Vện Ốc. Vện Ốc ngoái cổ hít hít cái mõm đen vào người bạn cũ của mình.
Anh Cao tất bật trở về với công việc của anh trên một hòn đảo xa mù. Còn anh Thành thì lại bận bịu tổng kết đợt đi rừng với những báo cáo dày cộp. Hiếm hoi có buổi anh về sớm. Hạnh cũng đang náo nức chuẩn bị cho một năm học mới sắp đến rồi.
Chiều hôm trước ngày khai trường, anh Thành được nghỉ ở nhà, thấy anh trai lại lôi chiếc ba lô ra lúi húi sắp xếp Hạnh ngạc nhiên hỏi :
- Anh Thành lại vào Trường Sơn à ?
Anh cười lớn :
- Không. Em tôi mê say Trường Sơn rồi. Mai anh bay thẳng vào Nam Bộ. Ở trại nuôi rắn trong đó người ta mời anh đến để nghiên cứu thêm một thứ thuốc mới chế từ nọc rắn hổ mang và rắn lục, điều trị bệnh động kinh. Xong việc, lại đảo xuống Kiên Giang bàn việc mở rộng trồng cây bạc hà lấy tinh dầu.
Rồi anh giơ hai ngón tay lên :
- Mùa hè sang năm, theo kế hoạch của Viện anh sẽ tổ chức cho ba người đi nghiên cứu dược liệu ở thềm lục địa ven biển Đông. Nếu em thích, anh kéo đi cùng. Chuyện đi biển cũng thú chẳng khác gì đi rừng.
Hạnh vui sướng :
- Nhất định rồi. Nhưng...
- Làm sao?
- Con Vện Ốc có đi cùng không hả anh ?
Anh Thành xua tay :
- Để xem. Đi biển thì có lẽ chú Tườu Ngộ nhanh nhẹn hơn. Nhưng chuyện đó bàn sau. Bây giờ anh đến cơ quan nhận vé máy bay.
Niềm vui trước mỗi chuyến đi công tác mới lộ rõ trên nét mặt trong dáng đi vội vã của anh Thành. Cái xe đạp của anh lao từ cổng ra, lăn tít bánh trên đường nhựa phẳng lì, chạy đua cùng những chiếc lá cơm nguội rụng và lăn tăn bay trên mặt phố.
Những hòn đảo xa xôi, những cánh buồm nâu, buồm trắng trôi nổi, những con sóng bạc đầu và biết bao nhành san hô ngũ sắc, vùng rong biển làm đổi màu nước theo từng mùa, ùa đến trong tưởng tượng của Hạnh.
Biết bao giờ, trở lại những cánh phượng đỏ hoe mong đợi ?
HÀ NỘI, 1984