Ê-va-rít Ga-loa (Évariste Galois)

Lượt đọc: 47 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chú Dẫn

❊ ❊ ❊

A-ben, Nin-xơ Hen-rích (1802-1829). Người Na Uy, một trong những nhà toán học vĩ đại nhất thế kỷ mười chín, người đầu tiên công bố các phương trình đại số bậc cao hơn bốn không có lời giải tổng quát bằng công thức, người đặt nền móng cho Lý thuyết hàm e-lip-tic và khảo sát các tích phân mang tên ông.

Ăng-phăng-tanh (1796-1864). Nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng người Pháp, học trò thân cận của bác tước Xanh Xi-mông, cố gắng xây dựng Công xã lao động ở Me-nin-mông-tanh, ngoại ô Pa-ri.

A-ra-go, Đô-mi-ních Frăng-xoa (1786-1853). Nhà vật lý và thiên văn Pháp, viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp, giáo sư trường đại học Pa-ri, giám đốc Đài thiên văn Pa-ri, nghiên cứu sự phân cực của ánh sáng, phát minh ra cái gọi là từ tính của sự quay. Là một người Cộng hòa. Trong cuộc Cách mạng 1848 có chân trong Chính phủ lâm thời.

Bat-xti. Pháo đài ở Xanh Ăng-toan (Saint-Antoine), được xây dựng vào thế kỷ XIV nhằm tăng cường phòng thủ cho Pa-ri. Đến thế kỷ XVII được giáo chủ Ri-sa-li-ơ (Cardinal Richelieu) dùng làm nhà tù trung ương. Ngày 14-7-1789 bị quân khởi nghĩa xóa sổ.

Buốc-bông. Triều đại trị vì nước Pháp từ năm 1589, năm 1792 bị Cách mạng lật đổ, trung hưng trở lại chính quyền từ năm 1814 đến năm 1848.

Cách mạng Pháp 1789-1792. Tháng 5 năm 1789, nhà vua định tăng thuế và kiểm soát ngành thương mai. Viện nguyên lão (gồm đại biểu của các giai tầng quý tộc, tăng lữ và tư sản) họp ở Véc-xây (Versailles) với ý đồ dùng hiến pháp để hạn chế quyền lực của nhà vua. Kết quả là giai tầng thứ ba thành lập Quốc hội. Lu-i XVI đàn áp dẫn đến cuộc khởi nghĩa phá ngục Bat-xti khởi đầu cuộc Cách mạng.

Ngày 20-7-1791 Lu-i XVI chạy trốn, bị Quốc hội bắt bỏ tù và bắt buộc thừa nhận hiến pháp.

Mặc dù liên quan ngoại bang xâm lược đe dọa nhưng ngày 21-4-1892 nước Cộng hòa Pháp được thành lập.

Nước Cộng hòa non trẻ phải đương đầu với ngoại xâm, thiếu thốn, hỗn loạn xã hội nên quyền lực rơi vào tay các phần tử cực đoan. Năm 1799, khi quân đội chiến thắng ngoại xâm, một viên tướng tên là Bô-na-pác (Bonaparte) lên nắm quyền, năm 1804 y lên ngôi hoàng đế, thiết lập đế chế Na-pô-lê-ông (Napoléon), chấm dứt nền Cộng hòa đệ nhất.

Clây-nơ Fê-lich (1849-1925). Nhà toán học Đức, tác giả nhiều công trình nghiên cứu về đại số, hình học và giải tích hàm.

Cô-si Ô-guy-xten Lu-i (1789-1857). Nhà toán học Pháp, viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp, người xây dựng lý thuyết hàm biến phức. Tác giả của hàng loạt công trình khoa học về phương trình vi phân, tác giả của giáo trình kinh điển toán học giải tích.

Đề-các, Rơ-nê (1596-1650). (René Descartes) Nhà triết học và toán học vĩ đại người Pháp, người sáng lập ra hình học giải tích.

Đề-zác (1593-1662). (Girard Desargues) Nhà toán học nổi tiếng Pháp, người đặt nền móng cho môn hình học xạ ảnh và hình học họa hình.

Đuy-boa, Buyt-le Frê-đê-rích (1778-1850). (Dubourg-Butler, Frederick-Robert) Tướng lĩnh quân đội Pháp, tích cực tham gia các mạng 1830, đứng về phía nhân dân.

Đuy-ma A-lêch-xăng-đrơ (cha) (1830-1870). Đại văn hào Pháp, rất mực nổi tiếng ở thời đại của mình, tham gia Đảng cộng hòa.

Gau-xơ Các Fri-đơ-rich (1777-1855). (Carl Friedrich Gauss) Nhà toán học vĩ đại người Đức. Ngoài toán học ông còn nghiên cứu thiên văn, trắc địa, vật lý, từ trường trái đất… Ông đã để lại một số lượng khổng lồ các công trình nghiên cứu có tầm quan trọng hàng đầu trong các lĩnh vực số luận, hình học vi phân, lý thuyết các dãy số vô tận…

Gia-cô-bi, Các Gu-xtap Gia-côp (1804-1851). (Carl Gustav Jacob Jacobi) Nhà toán học xuất chúng người Đức đồng thời là nhà quân sự, chính trị. Có công trình quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực của toán học, đặc biệt là lý thuyết hàm e-lip-tich, giải tích hàm, phương trình đại số…

Giê-duyt. Còn gọi là giáo phái dòng Tên, thành lập ở Pa-ri vào năm 1534 nhằm chống lại Cải cách tôn giáo, phát triển ra nhiều nước trên thế giới. Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ 19 ở nước Pháp giáo phái này bành trướng thế lực, lũng đoạn chính trị.

Giooc-đăng, Mari - En-mông Ca-min (1838-1922). Nhà toán học lớn người Pháp. Chủ yếu nghiên cứu lý thuyết Nhóm và phương trình đại số. Người đầu tiên giải thích được công trình khoa học của Ê-va-rít Ga-loa.

Hin-be Đa-vít (1862-1943). Nhà toán học xuất chúng người Đức, hoạt động trên nhiều bình diện khác nhau của khoa học.

Fu-ri-ê Giăng (1786-1830). (Jean Baptiste Joseph Fourier) Nhà toán học, vật lý đồng thời là nhà quân sự và chính trị Pháp, có nhiều công trình nghiên cưu về các dãy lượng giác, phương trình vi phân, tính dẫn nhiệt…

La-croa, Xin-ve-xtơ-rơ Phơ-răng-xoa (1765-1843). Nhà toán học Pháp, học trò của Mông-giơ.

La-grăng-giơ Giô-dép Lu-i (1736-1813). (Joseph-Louis Lagrange) Nhà bác học nổi tiếng Pháp, cùng với Ơ-le (Leonhard Euler) xây dựng môn cơ học giải tích. Để lại một loạt công trình quan trọng về đại số và số luận.

La-phay-ét, Ma-ri Giô-giep (1757-1834). (Marie-Joseph Paul Yves Roch Gilbert du Motier, Marquis de Lafayette) Chính trị gia Pháp, theo phái Tự do đấu tranh cho hiến pháp, tham gia cuộc Đại cách mạng Pháp, tham gia vì độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Trong cuộc cách mạng tháng Bảy năm 1830 là chỉ huy trưởng Đội cận vệ dân tộc, ủng hộ Lu-i Phi-lip.

La-phít Giắc (1767-1844). Đại tư sản, chủ nhà băng, cùng với tướng La-phay-ét tác động cho Lu-i Phi-lip lên ngôi.

Li Xô-phút. Nhà toán học nổi tiếng Người Na Uy. Người xây dựng lý thuyết các nhóm không liên tục. Các công trình của ông có ý nghĩa quan trọng đối với phương trình vi phân và hình học vi phân.

Lơ-giăng-đơ-rơ, A-đriêng Ma-ri (1752-1833). (Adrien-Marie Legendre) Nhà toán học và cơ học nổi tiếng người Pháp, giáo sư trường đại học bách khoa Pa-ri, viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp.

Lu-i Phi-lip (1773-1850). Em họ của Sác-lơ X, đại diện cho nhánh thứ trong dòng họ Buốc-bông. Có tham gia vào hiệp ước phản cách mạng của viên tướng phản bội Đuy-mu-ri-ê (Charles-François du Périer Dumouriez), bị vạch trần và phải chạy ra nước ngoài. Sau cách mạng tháng bảy năm 1830, trở thành vua nước Pháp. Tiến hành chính sách -censor- vì quyền lợi của giới quý tộc tài chính Pháp. Bị cách mạng 1848 hạ bệ phải chạy ra nước ngoài.

Lu-i XVI (1754-1792). Vua Pháp, nhu nhược, bị vợ là Ma-ry Ăng-toa-nét (Marie Antoinette) nguyên là công chúa Áo thao túng. Người chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng toàn diện ở nước Pháp dẫn đến cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789-1792 mà kết quả là cả hai vợ chồng y phải lên đoạn đầu đài.

Lu-i XVIII (1755-1824). Vua Pháp, thuộc dòng họ Buốc-bông, em ruột vua Lu-i XVI. Năm 1791, chạy khỏi nước Pháp, được xem là cầm đầu Pháp kiều chống Cách mạng. Lên ngôi khi Na-pô-lê-ông I thất thủ.

Luy-vin Giô-giep (1809-1882). Nhà toán học nổi tiếng người Pháp, viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp, người thành lập tạp chí toán học thường được gọi là “Tạp chí Luy-vin”

Ma-ra-xtơ Ac-man (1533-1592). [1] Nhà báo, nhà hoạt động chính trị.

Mông-giơ Ga-xpa (1764-1818). (Gaspard Monge) Nhà toán học và nhà hoạt động xã hội Pháp, một trong những sáng lập gia của Trường đại học bách khoa Pa-ri. Người xây dựng môn hình học họa hình và có một loạt phát minh quan trọng trong các lĩnh vực hình học vi phân và lý thuyết phương trình vi phân.

Poát-xông, Xi-mông Đe-ni (1760-1825). Nhà toán học Pháp nổi tiếng, đồng thời là nhà vật lý, cơ học.

Ra-xpay Frăng-xoa (1794-1878). Nhà hoạt động chính trị nổi tiếng Pháp, một nhà dân chủ cách mạng đồng thời là một nhà khoa học về y và hóa học, ông tích cực tham gia Cách mạng tháng Bảy 1830 và phong trào Cộng hòa. Ông gắn bó với phong trào công nhân. Một trong những người chủ trương thành lập nước Cộng hòa năm 1848. Tháng 12-1848 được đề cử làm ứng cử viên tổng thống. Nhiều lần phải ngồi tù, năm 1853 bị Na-pô-lê-ông III trục xuất khỏi nước Pháp.

Ri-sa Sác-lơ (1795-1849). Nhà toán học Pháp, giáo sư Lu-i lơ Grăng, một người thầy uyên bác, có phương pháp sư phạm tốt, hiểu và giúp đỡ nhiều cho Ga-loa. Ông còn có nhiều học trò thành đạt khác như Lơ-ve-ri-ê (Urbain Jean Joseph Le Verrie), người đã cùng với nhà toán học Anh A-đam (John Couch Adams) phát hiện ra Hải vương tinh chỉ bằng cách tính toán, Các nhà toán học nổi tiếng Sê-rê (Joseph-Alfred Serret), Ec-mi[2]…

Sác-lơ X (1756-1836). Em trai của Lu-i XVI và Lu-i XVIII. Khi ngục Bat-xti thất thủ y chạy trốn ra nước ngoài. Năm 1814 trở về nước. Năm 1824, khi Lu-i XVIII chết, y trở thành vua nước Pháp. Thi hành chính sách bảo vệ tầng lớp quý tộc và giới chóp bu Thiên chúa giáo. Tháng Bảy 1830 bị Cách mạng lật đổ, lại chạy ra nước ngoài.

Sơ-va-li-ê Mi-sen (1806-1879). Nhà kinh tế học tư sản, trong những năm 1830 theo phái Xanh Xi-mông.

Sơ-va-li-ê Ô-guyt. Em trai của Sơ-va-li-ê Mi-sen, bạn thân duy nhất của Ga-loa

Trường đại học bách khoa Pa-ri. Thành lập năm 1794, con đẻ của Đại cách mạng Pháp, trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật và đào tạo hàng đầu của Pháp.

Trường đại học sư phạm Pa-ri (Nooc-man). Thành lập 1794, sau Đại cách mạng Pháp, một trung tâm khoa học và đào tạo của Pháp.

Uy-be A-loy-zy (1815-1865). Nhà hoạt động chính trị Pháp, tham gia một số hội bí mật, tham gia vụ ám sát vua Lu-i Phi-lip năm 1835.

Xanh Xi-mông, Ăng-ri Clôt đơ Ru-vroa (1760-1825). (Claude Henri Derouvroy, thường được biết với tên gọi Henri de Saint Simon) Nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng vĩ đại người Pháp, đề xuất một xã hội lý tưởng trong đó khoa học thống nhất với kỹ thuật, “mọi người phải làm việc”, “làm việc theo khả năng, hưởng thụ theo lao động”.

❀ ❀ ❀

[1] Ma-ra-xtơ Ac-man (1533-1592) : Marrast Armand sinh 1801 mất 1852, lão tác giả vừa móc đít vừa viết nên mới ra cái con số phi lý này, nếu ông này chết ngắc từ 1592 thì làm sao đến dự được cuộc họp những người Cộng hòa diễn ra tuốt... 300 năm sau đó, hèn gì tui tìm hết cả buổi không ra

[2] Ec-mi : không tìm được ai, chỉ tìm được người tên Charles Hermite

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.