Mặc dù những tu sĩ Dòng Phanxicô đầu tiên phải đến ngày 24 tháng 6 năm 1577 mới đặt chân lên quần đảo Philippines, những trước tác của các nhà ngôn ngữ học thuộc dòng tu này lại được ghi chép lại một cách đầy đủ hơn cả. Một trong những người đi tiên phong là Juan de Plasencia, người mà theo các tu sĩ Phanxicô, chính là tác giả cuốn sách ngữ pháp tiếng Tagalog đầu tiên. Ông thật may mắn khi chẳng bao lâu sau khi cập bến đã gặp được Miguel de Talavera, người từng cùng cha mẹ tham gia chuyến thám hiểm của Legazpi. Lúc bấy giờ hãy còn khá trẻ, Miguel có thể xem như đã trở thành môn đồ của Plasencia; trong lúc vị cha cố dạy ông tiếng Latinh, thì ngược lại, ông lại truyền đạt cho Plasencia những nền tảng ban đầu của tiếng Tagalog mà mình đã thu lượm được. Suốt hai năm trời, Plasencia đi truyền giáo tại các tỉnh Tayabas, Laguna và Bulacan, và chính tại đây, ông đã ứng dụng rồi hoàn thiện vốn hiểu biết của mình về ngôn ngữ bản địa. Vào ngày 20 tháng 5 năm 1579, khi vị bề trên tỉnh dòng là Pedro de Alfaro lên đường sang Trung Quốc, ông đã chỉ định Plasencia giữ chức quyền bề trên tỉnh dòng trong thời gian mình vắng mặt. Một tài liệu viện dẫn đến những trước tác ngôn ngữ học đầu tiên của dòng Phanxicô xuất hiện trong tường thuật của Santa Inés về cuộc họp chương hội được tổ chức tại Tu viện Los Angeles vào tháng 7 năm 1580, do Plasencia chủ tọa:
“Điều thứ ba và cũng là điều cuối cùng được quyết định trong chương hội này là cần phải biên soạn một cuốn ngữ pháp và từ điển tiếng Tagalog, đồng thời hoàn tất bản dịch cuốn Sách Giáo lý Thiên Chúa giáo (Doctrina Christiana). Và bởi vì Cha Juan de Plasencia, chủ tọa của chính chương hội này, là người xuất chúng hơn cả về ngôn ngữ, trọng trách ấy đã được giao phó cho ngài; ngài đã đón nhận và lập tức bắt tay vào việc. Rồi sau bao bề bộn nghiên cứu, biết bao đêm dài thao thức lo toan, cùng với những lời cầu nguyện thiết tha và các nhiệm vụ thiêng liêng khác — những yếu tố không hề nhỏ làm nên thành công tốt đẹp cho một công trình dường ấy — ngài đã đúc kết ngôn ngữ này thành một bộ ngữ pháp, biên soạn một cuốn sách giáo lý, một cuốn từ điển rất đầy đủ, cùng nhiều bản dịch khác nhau.”
Song, hồ sơ quan trọng nhất về các trước tác của ông lại nằm trong phần miêu tả về Thượng hội đồng do Giám sát mục vụ Salazar triệu tập vào năm 1582.
Vào tháng 3 năm 1581, Domingo de Salazar, vị Giám mục đầu tiên của Manila và Philippines, đã tới nơi. Muôn vàn vấn đề đang chờ đón ông giải quyết, đặc biệt là các vấn đề về quyền tài phán giáo hội, cách đối xử của các quan chức chính quyền đối với người bản xứ, và phương cách tốt nhất để truyền bá phúc âm. Một thượng hội đồng được triệu tập nhằm tháo gỡ những điểm này. Một vấn đề có tầm quan trọng tối thượng là việc phê chuẩn các văn bản tiếng Tagalog chuẩn hóa, và Juan de la Concepcion đã thuật lại diễn biến liên quan đến việc này như sau:
“Đức cha chủ trì các phiên họp. Tại đó, những chủ đề uyên bác nhất đã được thảo luận và những nhân vật uyên bác nhất tề tựu — cha dòng Đa-minh Salvatierra, những học giả kiệt xuất nhất trong hàng ngũ dòng Augustinô và Phanxicô, hai cha dòng Tên là Sedeño và Sanchez, cùng Cử nhân Don Diego Vasquez de Mercado trong vai trò viện trưởng nhà thờ chính tòa mới. Tại hội nghị hay thượng hội đồng giáo phận này, người ta thảo luận xem liệu có nên giảng đạo cho dân bản địa bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ hay bắt buộc họ phải học tiếng Tây Ban Nha, và cuối cùng quyết định là sẽ giáo huấn họ bằng tiếng bản xứ. Giờ kinh phụ vụ, cuốn Sách Giáo lý Thiên Chúa giáo do Cha Juan de Plasencia dịch sang tiếng Tagalog, đã được phê chuẩn. Công trình của ngài, cuốn Arte y Vocabulario Tagalo, được đánh giá là vô cùng hữu ích bởi nó tạo sự dễ dàng trong việc thấu hiểu và nắm bắt tường tận một ngôn ngữ quá đổi xa lạ.”
Bản tường thuật của Santa Inés đã được trích dẫn ở trên tiếp tục với lời miêu tả tương tự về Thượng hội đồng, và cho biết khi vấn đề dạy học cho người bản xứ được đặt lên bàn cân, chỉ có một mình Plasencia là giải quyết được.
“Bởi vì, sau khi tận mắt xem xét cuốn sách giáo lý cùng bản dịch ngữ pháp và từ điển sang tiếng Tagalog do ngài thực hiện, những ai có mặt tại Thượng hội đồng và dẫu chỉ hiểu đôi chút về ngôn ngữ ấy cũng không khỏi thán phục trước sự chuẩn xác của các thuật ngữ, sức biểu cảm và chiều sâu của chúng. Và họ nói rằng, nếu không có sự trợ giúp đặc biệt từ ơn trên, dường như là điều không thể khi chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi và với số năm ít ỏi ở tại xứ sở này mà ngài lại có thể tạo ra một tác phẩm xuất sắc đến thế. Thế rồi, sau khi phê chuẩn, họ ra lệnh sao chép thành nhiều bản, đặc biệt là bản dịch Sách Giáo lý, để các mục tử dùng chính những tài liệu ấy chứ không phải tài liệu nào khác mà dạy dỗ người bản xứ; nhờ đó mà sự đồng nhất được thiết lập ở mọi miền trên đất nước Tagalog. Bản dịch ấy chính là bản được lưu truyền cho đến tận ngày nay, chỉ có điều đã được trau chuốt hơn.”
Chắc hẳn là chẳng bao lâu sau khi những cẩm nang của Plasencia nhận được con dấu chuẩn thuận của giáo hội, Salazar đã viết thư cho Nhà vua để thuật lại sự việc vừa diễn ra, và nhận lại được hồi đáp là sắc lệnh (cedula) đã dẫn trước đây, trao cho Giám mục và Tòa thượng thẩm quyền kiểm duyệt đối với các tác phẩm như vậy. Vấn đề ưu tiên niên đại giữa Quiñones và Plasencia không có gì là quan trọng, bởi lẽ việc Thượng hội đồng — có sự tham dự của chính Quiñones — dành sự phê chuẩn cụ thể cho các văn bản của Plasencia đã cho thấy sách của ông đã được chấp thuận; và chiếu theo phán quyết của Thượng hội đồng, đó hẳn sẽ là những văn bản duy nhất được phép sử dụng rộng rãi ở Philippines.
Một tài liệu tham khảo khác nói về các trước tác bằng ngôn ngữ bản địa trong một bản thảo khuyết danh năm 1649 đã hé lộ thêm tên tuổi của những nhà ngôn ngữ học khác:
“Những nhà truyền giáo tiên khởi đã để lại nhiều trước tác bằng tiếng Tagalog và tiếng Bicol, trong số đó xuất sắc nhất là những di cảo của các cha Fray Juan de Oliver, Fray Juan de Plasencia, Fray Miguel de Talavera, Fray Diego de la Asuncion, và Fray Gerónimo Montes. Các cha trên đây được nhắc đến ở đây bởi vì họ là những bậc thầy đầu tiên của tiếng Tagalog, và trước tác của họ quá đỗi phổ biến cũng như được tất cả các dòng tu đón nhận nồng nhiệt. Chúng vẫn chưa được in ấn vì dung lượng quá đồ sộ, trong khi vương quốc này lại chưa có cơ sở nào để in ấn những tác phẩm lớn đến thế.”
Về phần Miguel de Talavera, chúng ta đã nhắc đến ở phần trước. Rằng ông đã giúp đỡ Plasencia trong công tác biên soạn những tác phẩm đầu tay bằng tiếng Tagalog là điều hiển nhiên, và phần nào đó, ta phải ghi nhận ông chính là nhân tố tạo nên "phép màu" giúp Plasencia hoàn thành các văn bản “chỉ trong một thời gian ngắn ngủi và với số năm ít ỏi ở tại xứ sở này”. Martínez đã khẳng định cụ thể rằng Talavera “là thông dịch viên đầu tiên trong hàng ngũ linh mục của chúng ta, và đã giúp đỡ rất nhiều cho Cha Juan de Plasencia trong việc biên soạn bộ Arte y Vocabulario.” Juan de Oliver có mối quan hệ tương tự với Plasencia, nhưng thay vì phụ giúp trong những bước thử nghiệm ban đầu, ông lại tiếp bước từ nơi Plasencia dừng chân. Oliver đến Philippines trên cùng chuyến tàu chở Giám mục Salazar vào năm 1581. Theo Huerta, ông từng công tác tại nhiều ngôi làng Tagalog khác nhau, thông thạo cả tiếng Tagalog lẫn tiếng Bicol, và đã viết tổng cộng hai mươi hai tác phẩm bằng hai thứ tiếng này — những tác phẩm được Huerta liệt kê đầy đủ. Trong số đó, có ba tác phẩm đặc biệt thu hút sự quan tâm của chúng ta. Mục ghi chép đầu tiên cho biết ông đã “chỉnh sửa cuốn ngữ pháp tiếng Tagalog do Cha Juan de Plasencia viết, đồng thời bổ sung các phó từ và hư từ;” mục thứ hai ghi nhận ông đã “hoàn thiện và mở rộng cuốn từ điển Tây Ban Nha - Tagalog do chính Cha Juan de Plasencia viết;” và mục thứ mười sáu liệt kê một cuốn Catecismo de doctrina Cristiana esplicado (Sách Giáo lý Thiên Chúa giáo có giải thích).
Một số tác giả, khi cố gắng xácnghịnh tính tiên phong của cuốn từ điển do Quiñones biên soạn, đã hoài nghi về sự tồn tại của cuốn từ điển do Plasencia viết tại Thượng hội đồng năm 1582, dựa vào chính tuyên bố của Plasencia vào năm 1585 rằng khi ấy ông “đang biên soạn một cuốn từ điển”. Đối với chúng ta, dường như chẳng có sự mâu thuẫn nào ở đây nếu như vào năm 1585, Plasencia đang ám chỉ đến một bản biên chỉnh — điều chắc chắn được thực hiện với sự hiểu biết và trợ giúp của Juan de Oliver. Tóm lại, thật hợp lý khi cho rằng Plasencia, vì gánh nặng trách nhiệm điều hành từ năm 1583 đến năm 1586 trong vai trò giám quản dòng tu của mình, đã nhờ cậy sự giúp đỡ của Oliver để tái bản và tiếp tục các nghiên cứu ngôn ngữ học của ông. Plasencia qua đời vào năm 1590.
Hai vị tu sĩ Phanxicô khác được ghi danh bởi sử gia khuyết danh năm 1649 cũng từng được ghi nhận ở nhiều nơi khác là tác giả của nhiều công trình viết bằng tiếng Tagalog. Cả Diego de la Asuncion lẫn Gerónimo Montes y Escamillo đều được quy cho là tác giả của các bộ ngữ pháp và từ điển, và vị sau còn viết một tác phẩm Sách nguyện tiếng Tagalog được cho là đã được in tại Manila vào năm 1610. Khi bàn về những văn bản ngôn ngữ học thời kỳ đầu này, chúng ta không nhất thiết phải tin rằng mỗi tác phẩm là một công trình hoàn toàn nguyên bản, mà đúng hơn, chúng được xây dựng dựa trên một hình mẫu được thừa nhận — ban đầu chính là văn bản Talavera-Plasencia-Oliver — và các nhà truyền giáo riêng lẻ đã đúc kết từ kinh nghiệm thực chiến của mình để tạo ra, có thể nói như vậy, những phiên bản mới. Nhận định này được củng cố bởi những ghi chú của Pablo Rojo trong thư mục học về Plasencia; khi bàn về bộ ngữ pháp và từ điển, ông cho biết rằng “được trau chuốt thêm bởi các nhà truyền giáo khác, chúng đã trở thành nền tảng cho mọi bộ ngữ pháp và từ điển tiếng Tagalog từng được biên soạn, nhưng tự thân hình hài nguyên bản từ tay tác giả thì nay không còn lưu truyền đến chúng ta nữa.” Quan trọng hơn nữa là tuyên bố của Rojo khi ông tìm thấy một phần cuốn Doctrina của Plasencia vốn từng được cho là đã thất lạc, và ông đã trích dẫn phần Kinh Lạy Cha từ đó. Bởi vì ông không cho biết bản thảo ấy nằm ở đâu hay làm thế nào để nhận biết đó chính là văn bản của Plasencia, chúng ta không thể đặt quá nhiều niềm tin vào tuyên bố ấy; thế nhưng văn bản được in ra ở đó, tuy có nét tương đồng với cuốn Doctrina hiện hành, nhưng lại không hoàn toàn trùng khớp.