Văn hóa Champa là văn hóa đùa vui
chịu chơi cả trong đau khổ.
(Lễ Tẩy trần tháng Tư, 2002)
Tôi biết Sài Gòn lần đầu qua Ý thức mới trong văn nghệ và triết học của Phạm Công Thiện. Năm đó tôi đúng mười lăm tuổi. Phạm Công Thiện môi giới tôi lần mò tìm đến Nietzsche, Heidegger, Faulkner, Thiền,... Lang thang đất nắng Phan Rang, tôi mơ tưởng ngày làm sinh viên sẽ mặc sức bay nhảy khám phá thế giới bao la ngoài kia, sau hàng rào làng quê Chăm phẳng lặng.
Nhưng không. Lịch sử đã khác. Và cuộc đời tôi bẻ sang hướng khác.
Một phần tư thế kỉ qua đi. Mãi mùa hè năm 1999, khi cầm trên tay tập Thơ tự do, lần thứ hai tôi biết đến sinh hoạt chữ nghĩa Sài Gòn. Ngay tức thời, tôi nhập cuộc chơi.
Hai quốc gia láng giềng nhau gần hai thiên niên kỉ, hai tộc người chung đụng nhau hơn hai trăm năm mà cứ khác. Khác tất tần tật. Khác, tôi nghĩ, bắt nguồn từ thẳm sâu tinh thần văn hóa. Chớ nghĩ dại: Bạn tự do khỏi mọi “tập khí” văn hóa và ngôn ngữ bạn chịu đựng và sử dụng. Dù bạn có quyết liệt từ chối nó, thậm chí tố giác hay miệt thị nó. Trần Tiến Dũng chẳng hạn, viết từ dư hưởng văn hóa Đại Việt bị phủ bóng bởi tinh thần triết học Trung Hoa; trong lúc tôi, sáng tác như đứa con của văn hóa Champa chịu tác động bởi tinh thần tư tưởng Ấn Độ. Cách nghĩ bao khác biệt, cả lối làm thơ và thái độ thơ ca.
Dân tộc Chăm hoàn toàn không biết đến khái niệm: tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ của Khổng Mạnh. Không phải không có, Chăm có, nhưng khác!
“Ngài giáo sư Trần Hùng gọi ông là Arhat quái dị.
Con người lý tưởng của Bà-la-môn là đạo sĩ lánh đời, trốn đời và thoát khỏi đời khi đạt giác ngộ. Văn hóa Champa bú mớm từ nguồn sữa tinh thần này nên bị đánh cho tan tác bởi văn hóa Đại Việt chủ yếu hun đúc bằng tư tưởng Khổng Mạnh mà con người lí tưởng là kẻ sĩ dấn thân, Đại trượng phu gánh vác việc đời hay ở một bậc khác – Bồ tát của Phật giáo Đại thừa nhập thế cứu độ chúng sinh khốn khổ. Các tri thức tinh túy nhất của tài năng Chăm (tài năng thực thì luôn hiếm) không được phổ biến rộng trong quần chúng mà chỉ truyền dạy cho rất ít người hay như Dhan Than, sống để lòng chết mang lên giàn lửa đã đốt cháy thi thể còn săn chắc ông vào một trưa nắng năm xưa cùng ít giọt nước mắt nuối tiếc của tên đồ đệ duy nhất là cái thằng tôi trót phản bội lý tưởng ông bất đắc dĩ.
Nhưng đây chưa phải là hạt giống Arhat cuối cùng. Ông chết, Chế Khan đã là một kẻ kế vị xứng đáng.”
(Chân dung Cát, 2006)
Triết học Ấn Độ minh định rõ bốn cứu cánh hay mục đích đời người. Cứu cánh đầu tiên: Artha nghĩa là đại diện cho, thay thế cho, vì, nhằm vào, “là những sở hữu vật chất... để chu toàn những nghĩa vụ cuộc sống”. Bạn bị ném vào đời, hoàn toàn không do chọn lựa của bạn. Không ai hỏi ý kiến bạn trước: Nơi chốn và ngày tháng năm sinh. Bất ngờ có đó, không thể chối bỏ, bạn học cách chấp nhận nó. Bạn cần bảo toàn sự có mặt ấy, bằng thấu hiểu đối tượng bạn theo đuổi, phương tiện đạt đến nó nhằm thỏa mãn nhu cầu căn bản của cuộc sống bạn. Không thể khác. Kinh tế, chính trị, tòa án, công sở nằm ở khu vực này.
Ở một bình diện khác, Kâma hay dục, lòng ham muốn, “là sự khoái lạc và tình yêu thương”, là cứu cánh thứ hai. Bạn học cách thỏa mãn lòng ham muốn [dục tính] của bạn và người bạn tình. Bạn hãy biến chúng thành nghệ thuật, nghệ thuật yêu đương. Cao hơn, bạn nâng nó lên thành kinh - kinh dục lạc.
Nhưng nếu chỉ có thế, khốn khổ cho loài người biết bao: bạn chỉ là thú vật đơn thuần không hơn! Sống là sống trong tương giao, với cộng đồng. Để tránh cho cộng đồng khỏi đổ vỡ, suy đồi, cứu cánh thứ ba: Dharma, nghĩa là pháp có mặt. Đạo sĩ Bà-la-môn khép mình vào khuôn khổ, tận tụy phụng sự công cuộc đó. Công cuộc gồm thâu mọi “bổn phận tôn giáo và đạo đức” với vô số khế ước xã hội và nghi thức cần tuân thủ.
Như thế vẫn là chưa đủ, cả tam chúng trivarga đó. Chúng chỉ là những “theo đuổi thế gian” với bao triền phược, bổn phận với nghĩa vụ, trách nhiệm và gánh nặng. Ở chặng cuối, đạo sĩ Bà-la-môn nỗ lực tự giải thoát để vươn đến cứu cánh tối hậu. Người Ấn sử dụng các hạn từ Mokça, apavarga, nirvrtti, và nivrtti để chỉ mục đích này. Chính tại đây, triết học Ấn Độ ghi nhận những thành tựu oanh liệt nhất trong lịch sử tri thức nhân loại.
Mokça, là “buông, thả, trả tự do, phóng thích; ra đi, từ bỏ, rời khỏi; hay apavarga, là “ngăn chặn, tiêu diệt, xua duổi; dứt bỏ, nhổ bật, bứt rời; hoặc nirvrtti, là “sự biến mất, sự hủy diệt, sự nghỉ ngơi, sự thanh tịnh, sự hoàn tất, sự hoàn thành, sự giải phóng khỏi sự tồn tại của trần gian; và nivrtti là “sự ngừng lại, sự chấm dứt, sự biến mất; sự từ bỏ, sự chừa bỏ, sự thoái vị; sự đình chỉ những hành vi hay cảm xúc thế tục; sự tĩnh lặng, sự cách biệt với thế gian; sự nghỉ ngơi, niềm hạnh phúc”.
Ở tận cùng của hành trình, khi đã tuyệt dứt mọi ảo tưởng, đạo sĩ Bà-la-môn là một thiện tri thức Kalyânamitra, hơn thế nữa - một n gười biết Paramârtha-vid (Heinrich Zimmer).
Nhưng để đạt được bốn cứu cánh đó, người Bà-la-môn cần trải nghiệm bốn giai đoạn cuộc đời. Ngay buổi đầu làm đời môn đệ antevâsin, bạn tự buộc tuân thủ nguyên tắc: vâng lời và tuân phục. Sống “dưới chân thầy”, và chỉ biết có thầy guru. Đó là giai đoạn tìm học đầy hứng khởi.
Học, người học sẵn sàng trả giá đắt cho việc học của mình. Để sở hữu tri thức, họ dám hi sinh, cả cái tưởng như không thể. Học, không phải mưu lợi, mà để biết. Đến khi trò đã to cẳng cồ vai, hãy bỏ thầy mà đi. Một mình. Cả thầy phải đuổi trò đi, để trò dám và biết đi một mình.
Giai đoạn môn đệ kết thúc, người đàn ông lao vào cuộc sống gia đình. Bạn là một chủ hộ grhastha, nai lưng gánh vác gia đình với đầy đủ trách nhiệm của người chồng, người cha,... Dù Ấn Độ nổi tiếng hướng vọng cõi tâm linh nhưng chớ mong họ tha thứ cho kẻ ăn bám, nếu kẻ ấy chưa qua nấc thang cuối cùng của triết lý sống. Mãi khi công việc xã tắc đã xong, rũ bỏ mọi gánh nặng, cắt đứt tất cả liên quan máu mủ ruột rà, bạn dũng mãnh bước vào giai đoạn thứ ba: đi vào rừng vanaprastha.
Đây là giai đoạn thử thách tâm linh khốc liệt nhất dành cho một đạo sĩ. Tôi hiểu nghề nghiệp kia không phải là tôi, chức vụ và danh vị kia, tiếng tăm và tài sản kia, mặc cảm và kiêu hãnh kia,... Tất tần tật mọi mặt nạ nơi thế gian u tối mà tôi đang sở hữu kia không phải là tôi. Giữa nhà grâma và rừng vana là khoảng tối ngắn ngủn nhưng dài dằng dặc bạn phải băng qua, đựng chứa bao nỗi nguy hiểm rình rập. Sơ sẩy trong thoáng sát na, bạn có thể hủy hoại cả “vốn liếng” gầy dựng trước đó. Một cuộc truy tìm hướng nội đầy gian nan, nhưng đạo sĩ Bà-la-môn phải can đảm lao vào. Nhảy qua và cắt phăng cây cầu dẫn về trần gian, để dấn mình trọn vẹn vào giai đoạn cuối cùng: giai đoạn khất sĩ bhiksu. Làm kẻ lang thang vô gia cư, “phong phanh giữa trời đất”!
Chính lúc đó, thi sĩ ra đời và thơ ca có mặt.
Như Dhan Than hay Chế Khan xưa. Hoặc như Trà Vigia, Hàm Bộ, Trần Wũ Khang của thế giới hiện đại. Họ là Arhat - nghệ sĩ trong xã hội Chăm mang vẻ thanh bình bề ngoài nhưng bên trong thẳm sâu đựng chứa nhiều biến động.
“Không công danh thà nát với cỏ cây (Nguyễn Công Trứ). Chăm thà nát với cỏ cây chứ không cầu công danh. Lối nói khủng này dễ gây phản bác từ nhiều phía, bởi hôm nay không hiếm kẻ vô tài bất tướng tranh giành địa vị như mảnh xương thừa được vứt ra. Xung quanh và hàng ngày. Nhưng ta đang nói về Chăm xịn, kẻ mang tinh thần Chăm, Chăm tính. Hình tượng hơn: Chăm bị dính nước miếng rồng.”
(Chân dung Cát, 2006)
Trà Vigia. Sinh cùng năm, đồng hương, cùng dòng họ, đồng môn, nhưng hơn nửa đời hư bạn thân nhất trần đời quàng vai gác chân hắn muôn năm chê tôi. Thế rồi bỗng chốc vào buổi tối tháng 3-2008 đẹp trời tại góc quán cóc nhà quê trong men bia chếnh choáng, hắn nổi hứng khen tôi một tiếng để đời: “Mình nghĩ khuôn mặt văn hóa Champa hôm nay sẽ ra sao, nếu trời không sinh ra Sara?”
Ba năm nằm trại Thái Lan, tháng 6-1994, trại sắp đóng cửa, ai không đủ tiêu chuẩn sang nước thứ ba định cư sẽ bị trả lại. Tôi nhắn hắn: - Bồ về đi, cùng làm tạp chí Chăm với mình. Hắn về và... nằm dài. Tôi thúc tới, vẫn không hề hấn gì. Tôi kéo hắn [cùng Trầm Ngọc Lan] vào nằm lì nhà tôi thuê tại Tân Bình trọn tuần bao cơm, cà phê, bia bọt, chữ nghĩa hắn mới chịu vọt ra. Thế là mấy năm sau đó liên tù tì hắn ném cho tôi bao nhiêu là thơ với truyện ngắn:
- Sara toàn quyền sử dụng!
Tội vậy chớ. Trầm Ngọc Lan hai mươi năm trước hay Trần Wũ Khang mấy năm qua đều xử sự với tôi vậy cả - một giuộc. Làm như tôi là thứ kho lưu trữ tuyệt tác [hay rác rưởi] họ không bằng! Đạo sĩ Bà-la-môn không xem tác phẩm nghệ thuật như một thành quả phala để hưởng thụ, danh hay lợi hoặc gì gì khác. Một bài thơ xảy ra như nó phải xảy ra. Nó đến và ở lại với đời hay biến mất khỏi trần gian cũng do cơ duyên. Nó cần có mặt như nó phải thế, đúng lúc, dẫu đó là giờ phút muộn màng. Chớ có khờ mà mang tâm thế bồn chồn, chộn rộn với bèo nhèo, khi tuổi đời ta còn chưa kinh qua ba cứu cánh “tam chúng”, nhất là khi ta tác thi chưa sạch nước cản!
Có những kẻ vĩ cuồng đến độ
Chưa mọc răng khôn mà đã sợ đời quên
(Nguyễn Quốc Chánh, Đêm mặt trời mọc)
Nhưng tâm tính Sara có khác ba “Tr” kia đâu cơ chứ. Làm thơ từ thuở còn ngồi ghế Trung học, mãi tuổi tứ thập tôi mới in tác phẩm đầu tay và chịu gởi thơ đăng báo. Cũng chỉ do cơ duyên mang tên Nông Quốc Chấn. Vậy mà bọn họ không chừa trừ ai cứ nhè tôi mà đề cử chức thủ kho!
Tôi đã chẳng từng mấy bận ném bỏ hay mang cho bao nhiêu là sách quý, để cuộc lên đường được nhẹ nhõm sao? Gần cả ngàn cuốn sách tôi tặng thư viện làng để bị mất tiêu. Rồi trăm cuốn đóng bìa dày được thằng bạn ở Phước Nhơn biếu không cho loài mối đánh chén. Vân vân. Chúng có được từ mồ hôi mồ kê tôi bỏ công ra cày thuê hơn năm trời. Cả hàng đống bản viết tay văn bản Chăm tôi còng lưng ra chép suốt mùa hè sau tháng Tư năm Bảy lăm nữa, tôi đã đem cho tất. Đến khi cần làm việc, thiếu tư liệu, tôi phải làm lại từ đầu.
“Bất chợt anh đổi giọng.
- Đù mẹ, thật muốn điên cái đầu lên được. Chả có lấy mống nào ra hồn để mà gửi gắm lý tưởng. Trọn ổ bọn chút tài còm đổ xô đi làm chuyện trời ơi. Sao cái ông trời thiên vị không nhỏ vào tâm linh Chăm lấy một giọt tế bào thực tế Do Thái hay khôn ngoan Tàu khi nặn ra thứ nòi giống này!? Chúng không biết, không thèm biết cái giá của chúng nữa. Cả mày cũng thế. Đù mẹ thằng Thuman nói mày đồ hèn. Biết mà không dám. Chỉ cần ý tưởng lớn đó sượt qua đầu thôi cũng đủ khiến mày vãi ra quần. Thằng Saman bạn nối khố mày làng tao cũng thế. Ý tưởng Cộng đồng mở giá chót phải trăm ngàn USD chớ có đùa. Hãy tưởng tượng chương trình đó mà kết hợp với Thủ đô trên Sao Cày của Glơng Anak ! Nhưng hắn có chịu cụ thể hóa nó đâu. Tư tưởng biết đi ấy hiện đang đứng canh chòi dưa tận núi Chàbang! Chăm đúng là nòi phung phí. Phung phí ngu xuẩn không Chúa, Phật nào thèm độ lượng cúi xuống chạy chữa!
Phá sản! Nát bét rồi.
Im lặng.
- Cả tao cũng chả hơn gì, mẹ khỉ. Nhưng dù sao đi nữa cũng phải cố lần chót. Ba năm nữa không rục rịch gì tao cũng chuồn, đi trước, như Chế Khan bày thế.
Một lúc lâu:
- Mày biết tao sẽ đi đâu không? Qua Cam-bốt mà làm Bộ trưởng Giáo dục bên đó.
Tôi cười. Anh cười theo, mặt méo như khỉ bốc phải cứt gà. Là sự vụ hiếm hoi lắm mới thấy xuất hiện trên khuôn mặt luôn tràn đầy vẻ phởn chí của nhà đại cố vấn họ Cao.”
(Chân dung Cát, 2006)
Hơn năm ngồi giảng đường rồi quay lưng với Đại học; hai năm kế toán trưởng hợp tác xã rồi rời hợp tác xã; bốn năm chui vào Ban Biên soạn sách chữ Chăm để chối bỏ biên chế; sáu năm còng lưng đánh vật với chữ nghĩa tại Đại học sau đó bái bai Đại học,... Tôi đã từng buông bỏ, chối bỏ, cắt đứt, thả đi, phóng thích, ra đi, từ bỏ, rời khỏi, triệt tiêu, xua đuổi, dứt bỏ, nhổ bật, bứt rời... như một đạo sĩ Bà-la-môn chính hiệu con nai vàng. Nhưng ngó qua ngó lại, đã không ai làm cả, tôi buộc phải ra tay bất đắc dĩ. Thế rồi mươi năm sau, đứng nhìn Tủ sách INRA trưng bày sản phẩm mình đẻ ra trang [trịnh] trọng tại quê nhà, tôi giật thót mình kinh hãi: Là tôi đấy ư?
Như ta đứng nhìn kiêu hãnh xót xa
Chính bản thân ta trong viện bảo tàng
(Tô Thùy Yên)
Khác Trà Vigia, tôi thường xuyên bị đặt trong tầm ca tụng của Trần Wũ Khang. Cái gì tôi làm với hắn cũng nhất. Tôi gặp hắn lần đầu vào tối Trình diễn thời trang thổ cẩm Lega - Minh Hạnh tại Sài Gòn. Đang nói chuyện với Hani để làm cái phỏng vấn, thấy tôi đứng chơ vơ một mình, hắn trờ tới:
- Cừ lắm, cừ lắm! - Hắn nắm chặt vai tôi bằng hai bàn tay thô ráp, lắc lắc. - Chắc chắn sẽ tìm lại ông.
Thế thôi, hắn biến gần cả năm mới gặp tôi làm cuộc phỏng vấn khác, sau khi tôi về từ Trại sáng tác Đại Lải mùa hè năm 1996. Tháng sau tại Quy Nhơn, hắn dúi vào tay tôi bài “Trở lại Chakleng” và bảo ông tùy nghi sử dụng. Hắn lại biến, cho tôi địa chỉ mơ hồ: Mình ở Núi Xám, nhớ tìm mình nhé. Bẵng đi gần mười năm, đột ngột mùa xuân 2004, hắn email cho tôi loạt tiểu luận và thơ, liên tù tì. Rồi lại bặt tăm! Cho đến một tối kia hắn xuất hiện như ma để nói lời chia buồn vào mùa Katê 2007 ngày mẹ tôi mất.
- Có kẻ muốn in mấy thứ ông viết đó!
- Tùy ông muốn làm gì thì làm.
- Nhưng ông hãy viết khác mình đi.
- Làm như ông chưa từng đạp cứt Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Heidegger.
Hắn gườm gườm tôi rồi khép nhẹ cánh cửa phòng, biến. Tôi muốn chỉ cho hắn thấy các đoạn hắn viết giống tôi, cả các bạn thơ trẻ [và không trẻ] đụng hàng Inrasara. Tôi bảo bạn trẻ khi họ đưa bản thảo nhờ tôi xem giúp: Hãy loại bỏ Sara ra, thơ bạn sẽ khác hẳn.
Nhưng hắn đã không có đó rồi. Lạ! Khang với Trà tính khí hệt nhau, nhưng cả hai chưa bao giờ biết nhau. Tôi nghĩ, ví họ có gặp, xung đột chắc khó tránh. Kinh nghiệm dạy tôi thế, dù họ có là đạo sĩ Bà-la-môn. Tôi thì khác: chịu đựng được tất! Hãy làm công việc của mình đi, còn thì - mặc xác họ. Tâm tính với cá tính.
Đạp cứt jwak aih hay bbơng ia pabah gơp ăn nước miếng nhau, tôi nghĩ thành ngữ Chăm này rất ứng với tôi và Trà Vigia. Hắn viết “Mỹ Sơn đường về” sau chuyến hành hương tập thể cùng bà con vượt cả ngàn cây số đến Thánh địa Mỹ Sơn. Cùng thời gian, tôi viết bài thơ “Hành hương về bên kia đêm tối” in trong Lễ Tẩy trần tháng Tư. Truyện ngắn và bài thơ trùng tên “Ăn chữ”, chúng tôi sáng tác gần như cùng ngày giờ!
Tất cả họ là đạo sĩ Bà-la-môn chân tính, nhưng chưa bao giờ ngồi lại trà đạo, dẫu chỉ một lần. Tôi như thể dấu gạch nối, cũng không kịp nối liền họ, trước khi họ luân lạc vô định. Trà với Khang thì khỏi nói rồi, ngay Hàm Bộ, gru của tôi, Trà có quen biết nhưng vẫn chưa có cơ duyên “ngồi lại”. Không như Trà, với tôi hay than thở nỗi văn chương triết lý, Hàm Bộ anh họ, câu chuyện giữa chúng tôi tuyệt không liên can tí ti đến chữ nghĩa. Công việc làm ăn, chuyện ruộng nương, cây trồng hay con giống, võ thuật với yoga. Tất tần tật, ngoại trừ văn chương. Từ vào Sài Gòn làm việc, tôi hiếm có dịp ghé thăm anh. Một lần, anh bảo:
- Klu làm việc với người Kinh có quan hệ khác, cần giữ quan hệ, ít ghé anh là chuyện thường. Nhưng thế nào rồi anh cũng vào Baigaur thăm nhà chú nó.
Và anh đã vào Sài Gòn thiệt, nhưng vào thẳng bệnh viện Chợ Rẫy.
- Anh không chết được, - tôi nói - trời không thể bất công với anh như thế. Định mệnh không thể bất công với Chăm như thế!
Lần đầu tiên trong đời, tôi nghe nước mắt chảy vào trong. Nước mắt tôi hay nước mắt Hàm Bộ, khi anh nhìn tôi, không lời? Nó như một dòng sông câm lặng, cuốn trôi linh hồn tôi chìm vào một miền xa tít. Tôi quay mặt đi, bước nhanh ra khỏi phòng cấp cứu. Tối hôm đó, anh tắt thở. Không ngờ ngày anh bị nạn rơi đúng vào sinh nhật tôi. Triệu trẫm nào đây? Một đạo sĩ Bà-la-môn đã mất, một Vivekananda Chăm vừa chấm dứt hành trình dang dở. Hàm Bộ chưa viết bài thơ nào, chưa để lại gì trên mặt đất đau thương này. Anh sống mà không để lại dấu vết.
Thơ, theo cái nhìn Việt Nam là mơ hồ và đèm đẹp, dễ thương và vô tội, nó ít trí tuệ và cư trú sát sườn tình cảm nên, làm thơ ở Việt Nam là rất phụ, bất cứ ai cũng có thể làm được (ra ngõ gặp nhà thơ là vậy). Và, hầu hết các nhà Nho qua trường thi đều học làm thơ, sau đó đều sáng tác thơ, vịnh thơ, thù tạc với thơ, ứng đối bằng thơ. Tạm diễn ý anh bạn Nguyễn Hưng Quốc thế.
Nữa, nhà thơ, nói chung lập dị nên, không thể hòa đồng với người, với đời! Vì thơ, ta làm của nợ cho gia đình, ăn nhờ sự tần tảo của bà vợ hay hút xách tạo gánh nặng xã hội. Dẫu truyền thống cha ông có cảnh giác lập thân tối hạ thị văn chương, nhưng hôm nay, không ít nhà thơ biến thơ ca với chữ nghĩa thành một thứ cầu vượt, một phương tiện để đạt mục đích cụ thể nào đó. Nói theo tinh thần triết học Ấn Độ, từ cõi tinh thần và tâm linh, ta làm cuộc đi giật lùi về cứu cánh tam chúng tệ hại.
Trong khi đó ở phương Tây, chữ “văn chương” đều có nguồn gốc chung là “chữ” littera. Nhà văn là kẻ đọc nhiều, quan trọng hơn, kẻ lao động trên con chữ, xem chữ là mục đích tối hậu. Từ đó, họ đòi hỏi rất cao ở người viết trong lao động trên con chữ. Thơ, bắt rễ từ chữ “poiesis” trong tiếng Hy Lạp, vốn hàm nghĩa nguyên động lực của sự sáng tạo. Nhà thơ gắn liền với tri thức và kĩ thuật tinh luyện chuyên biệt trong phạm vi ngôn từ.
Truyền thống Ấn Độ còn đòi hỏi thi sĩ tôi luyện ở một cấp cao hơn nữa. Kinh Bhagavad-Gita cho rằng, đấng tối cao đầu tiên là thi sĩ. Nhà thơ là hiện thân của tiên tri thấu thị, kẻ thông tuệ. Muốn thành nhà thơ, người làm thơ phải trải qua sáu bậc tôi luyện: Svabhava: cảm tính thuộc bản năng, Carana: cảm tính hướng thượng, Abhyasa: sự tinh luyện về sử dụng nghệ thuật ngôn từ, Yoga: tham thiền nhập định để đạt đến hòa hợp với Thượng đế, Adrsta: sự kế thừa tài năng từ tiền kiếp, Visistopahita: ân sủng đặc biệt được làm chủ tài năng của người thông tuệ và tiên tri phi thường. Nói như ngôn ngữ hiện đại: Được ân sủng đứng trên vai các người khổng lồ. Do đó, nhà thơ Ấn Độ ngày xưa bị/ tự buộc tuân thủ kỉ luật rất khắt khe về giờ giấc sinh hoạt cũng như các lề luật đối xử với cuộc sống, chữ nghĩa (Hoàng Ngọc-Tuấn/ Nguyễn Hưng Quốc).
Chăm, tiếp nhận văn hóa Ấn Độ, ít nhiều ảnh hưởng nền nếp ấy. Cộng đồng Chăm những năm năm mươi trở về trước, nhà thơ thực sự là kẻ được trọng vọng như thể một bậc thánh. Thế hệ ấy, người Chăm từ “trí thức” cho đến nông dân, không ai là không biết chữ. Dù Chăm tổ chức dạy kiến thức theo lối bí truyền, học nhóm với số lượng rất hạn chế, có khi chỉ một thầy một trò, khá bất tiện. Thế kỉ thứ mười một, các sứ giả Tàu thử du nhập lối tổ chức theo trường quy Trung Hoa vào Champa, nhưng thất bại. Quan niệm về kiến thức của Chăm hoàn toàn khác. Kiến thức không phải thứ mang chia sẻ đồng đều. Học “nhóm” như vậy, nhưng thế hệ chú bác làng Caklaing quê tôi, tuyệt không có kẻ mù chữ mẹ đẻ! Phần lớn họ được đào tạo để có khả năng chiếm lĩnh tri thức khá căn bản. Nên, một nông dân chân đất vẫn có thể tiếp nhận các tác phẩm kinh điển đầy tính triết lý và khó hiểu như Pauh Catwai, Hatai Paran không chút trở ngại.
Cha tôi, nông dân rặt, sau buổi cày nhọc mệt, vẫn có thể nằm lên gối cỏ, đọc ngâm Akayet Dewa Mưno. Trong những tối lễ lạc, đàn ông Chăm thường xuyên mang sách cổ nhân ra thảo luận từng chữ, từng câu. Họ xem tác giả Ariya Glơng Anak như kẻ thoát trần một gót, các lời lẽ trong thi phẩm như lời thần thánh truyền lại. Ariya Glơng Anak [và toàn bộ tác phẩm trong nền văn học viết Chăm] không có tác giả, Chăm đơn giản gọi nó: Ông Glơng Anak ! Kẻ sáng tạo đã sang bờ bên kia và nói vọng lại. Nói rồi bỏ đi, không ngoảnh lại. Không cầu tuổi tên, bất cần lợi lộc từ tác phẩm mình.
Từ lò đào luyện chữ (giai đoạn dưới chơn thầy) sang lò luyện tội cuộc đời (giai đoạn chủ hộ) đến giai đoạn khất sĩ bhiksu làm kẻ lang bạt “phong phanh giữa trời đất”, là cuộc hành trình chiến đấu dài dặc, cực nhọc để đi đến chiến thắng tối hậu. Krishnamurti đã như thế như thế. Khi quá tam thập, ông phủi tay từ bỏ danh vị “Phật Di Lặc tái sinh” được người đời gán cho mà ông mang vác mấy chục năm, từ bỏ vai trò Đấng Cứu thế của Dòng tu Ngôi sao với hơn bốn vạn tín đồ cùng bao nhiêu bất động sản trăm triệu đô. Để lên đường du thuyết. Chỉ với ít bộ quần áo với vài cuốn sách.
Nhưng tuổi trẻ Chăm hiện nay hành xử thế nào?
Họ có còn giữ “truyền thống” cốt cách kia? Như Dhan Than, Mưdwơn Jiaw xưa hoặc Hàm Bộ, Trà Vigia đã và đang? Đây là một câu hỏi lớn. Hay họ toan học đòi Sara lưu lại thật nhiều dấu vết? Họ có hiểu “hiện tượng Inrasara” chỉ là một tai nạn văn hóa? Hắn cư ngụ trên đường biên đầy tạm thời. Như kẻ tình nguyện hoặc bị đẩy ở lại hay, - khác đi: một mắc kẹt. Nhưng luôn ngóng vọng, khao khát, nhớ nhung bờ bên kia. Nhớ nhung nhưng vẫn vui vẻ ở lại.
Đi – như là ở lại.
Tôi đã “ở lại” như thế trong cặm cụi phục dựng “Tủ sách văn học Chăm” mười tập, qua hành trình gập ghềnh khổ ải mười số Tagalau, với điều tra - tường trình “Vấn đề văn hóa - xã hội Chăm hôm nay Tương lai cộng đồng”, và cộm hơn - “Vụ Kiều Minh Vũ”. Sự vụ khiến ông anh Phutra Noroya kính mến của tôi nhắc: “Anh nghĩ em nên tập trung vào nghiên cứu văn hóa Chăm mình đi, ngoài kia xã hội rối rắm lắm, anh e em không kham nổi đâu.” Hay ý kiến bà con từ quê: “Tại sao người như Sara trong Chăm thì quá ít; quá ít này lại không chịu ‘phấn đấu’ lên cao hơn để có thể giúp đỡ bà con hiệu quả hơn?” Một khuyên răn thiện ý hay “tại sao” đầy ưu tư này đã không nhận được phản hồi. Không thể có. Bởi, khi thành người biết, đạo sĩ Bà-la-môn đã sang bờ bên kia. Trở lại cứu cánh tam chúng, chẳng những hắn không ơn ích gì cho cộng đồng mà còn nguy hại cho chính con đường hắn nữa. Các giai đoạn đó đã qua, thật sự đã qua.
Đấy chính là sự khác biệt cả vực thẳm giữa triết lý Khổng Mạnh và tinh thần Ấn Độ giáo. Người quân tử bỏ cả đời lo chuyện trị quốc - bình thiên hạ, tôi luyện ngày càng thâm áo, tinh vi hơn, do đó - hiệu quả hơn. Đời ta không thành còn di chúc cho con cháu mấy đời sau kế tục. Đạo sĩ Bà-la-môn thì - không! Không, không, và không. Ông đã phủi nợ trần khi hoàn tất giai đoạn chủ hộ grhastha ở ngay đời mình! Inrasara, Trà Vigia, Trần Wũ Khang cần trở lại học tập làm “đấng trượng phu” ư? Không, bởi chắc chắn, họ sẽ là học trò kém! Đó là một thế kẹt văn hóa mang tính định mệnh.
Bạn trẻ Chăm, các bạn đang ở đâu, làm gì hôm nay? Các bạn có đang rơi vào tâm thế của không ít người làm thơ, với bao “nỗi hôm nay”?
Tôi đã cười méo miệng khi một bạn thơ thân mến của tôi kể chuyện anh đã nộp 250 ngàn đồng cho năm bài thơ chọn vào tập thơ tuyển ở trung ương, sau đó được chủ biên thông báo mỗi tác giả được “quyền” mua hai mươi bản nữa để biếu bằng hữu yêu thơ. Chúa ạ, để làm cái quái quỷ gì kia chớ!? Mới đầu tháng Tư này thôi, một bạn thơ đã lôi bài “Tháp nắng” vào thi tuyển thế kỉ dày 800 trang, phone kêu tôi tới nhận sách biếu kèm nỗi nguyên văn “anh nhớ mang theo tiền mua dăm quyển nhé, khéo hết” hai lần lặp lại. Ơ hay! Tôi có coi “Tháp nắng” là tài sản mang danh vọng chi mô mà chư vị tuyển lui tuyển tới đến mười lăm bận rồi còn réo tôi mua nó nữa. Tập thơ đầu tay này đã hết từ khuya tôi còn không buồn tái bản nó nữa là.
Đạo sĩ Bà-la-môn khi đã rời bỏ rừng sống đời khất sĩ, trút mọi gánh nặng hay thành quả sau lưng, nhẹ nhõm như mây trời, làm cuộc phiêu lãng vô định và bất tận. Mãi mãi trên đường. Đường, có thể là đường phố hay con đường điền dã hoặc lối đi trong rừng, thậm chí đường hàng không như Krishnamurti đã - không vấn đề! Khi đạo sĩ Bà-la-môn mang máu thi sĩ, hắn càng đi bạo hơn.
Thơ ca nảy sinh và rớt lại trên con đường vừa đi qua đó.
Chưa đặt một chân sang bờ bên kia, chưa là người biết Paramârtha-vid mà đã xài chữ, đã vội vã “sáng tạo”, bạn chỉ dừng lại ở kẻ tập tò làm vần. Triết học Ấn Độ hoài nghi ngôn ngữ, cả thứ ngôn ngữ đã được nạo bỏ các thứ lớp sơn giả tạo, ý đồ. Viết ở bờ bên này, chẳng những bạn làm bẩn tư tưởng thôi mà còn xả rác vào chính ngôn ngữ nữa. Bước sang bờ bên kia, nếu bạn một đi không ngoảnh lại, bạn không thể trở thành một nhà thơ chân tính. Hiểu mâyâ, khuất phục mâyâ, vượt qua mâyâ, nhưng bạn vẫn ở lại với mâyâ. Đấy là hành động cao cường của một Bồ tát - nghệ sĩ Bodhisattva-artist !
Không sáng tác bằng tiếng dân tộc, bạn không xứng đáng là nhà thơ, một nhà thơ mang cảm thức hậu hiện đại với châm ngôn: Suy nghĩ toàn cầu - hành động địa phương. Nói một cách hình tượng: Dù phiêu du trên đường nhưng đạo sĩ vẫn ưu tư, lo lắng cho kẻ ở lại quê nhà. Glơng Anak thuyết ưu tư tức phi ưu tư thị danh ưu tư!
Thế nhưng... Dù đã chạm mặt với cứu cánh cuối cùng trong tinh thần văn hóa Chăm ngày nay chỉ còn là những mảnh vụn les ruines vương vãi, tôi vẫn mang khát khao tìm biết. Biết, để tự giúp và giúp bạn bè Chăm vượt qua hố hang nỗi người trong xã hội Việt Nam đầy bất trắc, rủi ro.
Mùa hè 2007
Khi Hạnh cho xe dừng trước hàng xương rồng nhìn xuống hồ nước sâu, lớn, tôi nói với Hạnh:
- Anh sắp viết cuốn tiểu thuyết vĩ đại về nó. - Tên là Hầm Mỹ, - tôi thêm.
Bóng tôi đổ lên mô đất nhỏ, thấp hơn bóng Hạnh. Mô đất xưa tôi hay ngồi ngó lũ trâu xuống hồ uống nước đã bị khoét mất một phần. Nắng làm em chói mắt. Em không hiểu gì cả, có lẽ. Anh sẽ làm tập thơ vĩ đại về em, - tôi nói, vẻ nghiêm trọng. Nhưng tôi biết tập thơ sẽ không bao giờ mở mắt chào đời. Đã nhiều nhà thơ dọa thế. Dọa, để rồi các tập thơ độc đáo kia mãi nằm trong bào thai ý định.
- Anh sẽ không bao giờ viết về sự nhảm của thơ hôm nay nữa. Anh sinh ra không phải để làm mấy thứ vớ vẩn đó. Nhìn đâu cũng thấy nhảm. Thơ người quen kẻ lạ, thơ bạn bè, thơ em và cả thơ anh. Nhảm tuốt. - Đột nhiên tôi nổi hứng.
Hạnh nhìn tôi, ngờ ngợ. Tại sao anh lại phí giờ cho nỗi nhảm nhí kia chứ? Tôi tuyên dứt khoát. Ngay ngày mai anh sẽ rời bỏ Bàn tròn Văn chương, những trang bản thảo, mấy tập thơ được tặng đang nồng mùi mực in, chục cuốn lý luận vừa được bạn văn gửi về từ bên kia đại dương. Cắt đứt mọi quan hệ văn chương với bao phiền toái, miệt thị hay vuốt ve, cáo giác với bênh vực.
Tại sao tôi phải vướng bận mấy của nợ kia chứ?
Trong khi hơi thở Hầm Mỹ đang cuốn hút tôi kì lạ. Hầm Mỹ của bao kỉ niệm thơ mộng, của biến đổi cuộc thế, dâu bể lòng người. Hầm Mỹ - khi lính Mỹ khởi công xây dựng cơ sở huyện An Phước vào mùa hè năm 1967. Trước, Caklaing quê tôi đường sá ôi là thảm hại, có cũng như không. Đi lại cực hết biết. Mỹ về. Loại đất phía Nam làng rất lý tưởng cho đắp nền. Thế là họ lấy đất, tạo thành hố, thành hầm - Hầm Mỹ. Dân làng tôi quen kêu vậy.
Lấy đất, họ buộc phải làm đường. Đủ rộng và chắc, cho thứ xe có cặp bánh sau to khiếp qua lại ngày mấy chục chuyến. Công việc kéo dài suốt năm. Rồi rác Mỹ. Bao nhiêu là rác, từ bánh trái hết hạn sử dụng đến mảnh ván ép vụn hay còn nguyên, thùng đạn lẻ thừa cho chí bao cao su chưa dùng. Mấy sắp bạn đồng môn tranh nhau giỏ táo lính Mỹ nghịch chọi đám nhóc chúng tôi. Lần đầu tiên trong đời tôi được nhìn thấy và xơi táo Mỹ. Thằng Lệ ngã lăn khi bị trúng đạn trái táo tay Mỹ đen ném. Mỗi sáng gần trăm công dân làng tôi ra ngoài cổng ấp chiến lược chờ mấy chuyến xe rác Mỹ chạy xuống. Tôi với anh Đạm tranh thủ nghỉ hè làm đá dăm bán lấy tiền mua sách vở chuẩn bị vào Đệ Thất dưới tỉnh, nghe tiếng xe Mỹ rù rù từ xa là chạy chặn đầu. Tường thành xây táp-lô thay rào củi phía sau nhà bốn mươi năm còn vững chãi được xây bằng xi măng xí từ rác Mỹ.
Hầm Mỹ làm thay đổi cuộc sống dân làng tôi. Việt cộng phục kích và giật mìn. Máy bay “bà già” rải truyền đơn kêu gọi đứa con lầm lạc “trở về với chính nghĩa quốc gia”. Tiếng Mỹ bồi với mấy ả điếm. Hầm Mỹ chứng kiến tên lính Pháp cuối cùng rời làng và lính Mỹ đầu tiên chết. Hơn chục trái canon bắn nhầm vào làng, một trái bay lạc rơi ngay sân trường tôi học nhổ bật gốc me tây. Đại đội Bảo An đến và đi. Sư đoàn Đại Hàn mở trận càn quét. Tỉnh trưởng đi xe Jeep về dự đánh trận giả. Việt cộng cuối cùng chiêu hồi. Bộ đội đầu tiên leo lên nóc đồn treo cờ Mặt trận giải phóng.
Hầm Mỹ làm chết đuối bạn học cùng lớp rồi sau đó non bốn mươi năm suýt nhấn chìm thằng Út tôi, cũng là Hầm Mỹ cung ứng nước tưới cho chục mẫu đất rẫy mấy nhà nông dân lân cận. Rồi, Hầm Mỹ góp phần làm nên vẻ đẹp thô ráp sần sùi của làng tôi. Nó là vai chính không thể thiếu trong các cuốn phim về tôi, về làng Caklaing tôi.
Nghĩa là đủ thứ chuyện trên đời xảy ra tại Hầm Mỹ, qua và với Hầm Mỹ. Nửa thế kỉ qua. Soi vào Hầm Mỹ, tôi nhận mặt rõ hơn cuộc đời tôi, anh chị em bè bạn tôi. Ở đó tôi thấy cuộc chiến hai mươi năm, cải tạo nông nghiệp mười năm, đổi mới mười lăm năm và cả hậu đổi mới nữa.
Nhưng rồi, tôi vẫn không từ bỏ nỗi [lảm] nhảm [về] của thơ được. Cái gì không thể bỏ được thì khó bỏ được. Trừ phi có sự đốn ngộ, cuộc cách mạng tinh thần hay trận dứt áo chia xé. Một câu thơ đọc thoáng qua cũng có thể làm nên định mệnh mình. Như câu thơ của Rilke. Như bức thư triết học dài của Heidegger. Hay như sợi tóc đen một tối kia nằm vắt ngang màu mắt của Hạnh.
- Sao thơ ai cũng bị anh cho là nhảm thế nhỉ? - Hạnh hỏi.
- Bởi ta nhảm, ta muôn năm đụng hàng mà tưởng bở.
- Nếu thế, cả thơ anh cũng nhảm nữa. Để em tìm nhé...
- Anh có chối đâu! Mỗi xê dịch vần hay không vần, mỗi chọn tứ, lựa chữ đều đụng hàng. Không Việt Nam thì thế giới, không phương Đông thì phương Tây, không hôm nay thì là hôm xưa hay hôm sau. Đây là thời văn chương của sự cạn kiệt. - Tôi nói: - The literature of exhaustion. Mỗi nỗ lực là một hụt hẫng, thất thố.
Chùm thơ “Yêu nhau ba thì, 1. Thì lãng mạn hậu thời”, tôi bắt đầu bằng câu thơ:
Ở một thành phố phương Nam khi xe cộ đã đi ngủ
Và chấm dứt với câu:
...Da em thơm như niềm vắng mặt
Tôi nói với Hạnh, đó cũng là loài thơ nhảm. “Môi” thì thiên hạ xài nát rồi, nhảm và nhàm rồi nên, anh thử thay nó bằng “da” xem sao; cạnh đó anh còn lôi cả “xe cộ đi ngủ”, “thơm như niềm vắng mặt” cho có vẻ siêu [hình] thực nữa. Để vơi nỗi nhảm đi. Nhưng thế nào rồi, dẫu có thay phụ tùng nhảm nhí này bằng phụ tùng nhảm nhí kia, nó vẫn cứ nhảm nhí. Không thể tránh.
- Dạ. - Em nói nhỏ. - Vậy thì phải làm sao?
- Phải nhảy.
Tuổi đứng bóng mặt trời, bỗng nhiên tôi muốn thay đổi. Một cú gãy. Hoặc biến mất khỏi thế giới tôi đã từng biết, từng sống.
Người Khmer, ngay từ tuổi thiếu niên, đi vào tu chùa. Vừa tu tập nhưng anh vẫn vô tư chọc gái. Đến trưởng thành, ngoài kẻ chánh tinh tấn đường tu hành, còn lại khi gặp cô nào ưng ý, anh chàng có thể xuất chùa để lập gia đình. Chăm thì khác, ngay tuổi tìm học, anh bị vứt vào trường đời để trui luyện. Hoặc anh chết chìm trong đó, hoặc anh sẽ nổi lên như một sinh thể đã qua lò luyện tội cuộc đời. Malraux nói đại để không phải chín tháng mười ngày mà, cần sáu mươi năm mới làm nên một con người; nhưng khi đã trở thành người, tốt hơn cả: bạn nên chết đi! Chăm không chết đi mà, rời bỏ tài sản, gia đình, sự nghiệp, vân vân thứ để lên đường.
(Sổ ghi, 1978)
Tôi cứ tơ tưởng mình có hai cuộc đời. Làm lại từ đầu. Khi ta đã sở hữu cơ nghiệp, như thể làm xong chuyến buôn của đời. Ta có thêm cuộc đời hoàn toàn mới khởi đầu khi ngũ thập. Không tên tuổi, không sự nghiệp, không thẻ căn cước, không vướng bận vợ con họ hàng thân thích. Lúc đó, chỉ cần mười năm là đủ. Vị chi ta có sáu mươi năm có mặt trên trần gian. Nhưng được cuộc đời hoàn toàn khác. Như thể hai hiệp của trận đấu, ở sân khác nhau: sân nhà, sân khách. Cuộc sống không phong phú hơn ư? Không hơn mãi kéo lê thất thập hay bát thập dẫu có dư niên ư?
Tháng 11-2006
Ông Lưu Quang Sang hiệu trưởng thuở Pô-Klong mai sớm về Mỹ, mời tôi cơm tối. Chỉ vài người quen thân gia đình thôi, thầy nói. Bởi ông biết tôi rất ngán đám đông, lại đám đông Chăm, để bàn về vấn đề Chăm. Tôi đã tránh mấy lần trước, thầy hiểu. Sống đất Sài Gòn mười bảy năm, tôi chỉ dự Katê sinh viên đúng một bận! Nhà văn là kẻ nói qua trang sách chứ không phải ở diễn đàn.
Nhưng rồi chuyện đã khác. Hơn hai chục người có mặt và, lại bàn về Tagalau ! Tôi thử ngăn, nhưng không kịp rồi. Ông bảo: Ý hướng tốt, muốn giúp Trạm. Ngay mào đầu, anh PN lên lời trách vài người có học vị Chăm không chịu tham gia viết cho Tagalau... Thế là vị tiến sĩ Chăm lên tiếng phản bác:
- Anh nói thế sai rồi, tôi có quyền viết hay không viết, tôi có quyền tự do tôi...
- Anh đúng, rất đồng ý. - Tôi nói. - Chúng ta cần học nhìn vượt qua hàng rào Chàm mình, cần tôn trọng quan điểm của người khác.
- Theo tôi, Tagalau chỉ do một nhóm chứ không đại diện cho cả cộng đồng Chăm, không phải đại diện... - vị tiến sĩ nói tiếp, hai lần lặp lại.
Chúa tôi! Tôi có bảo Tagalau đại diện cho ai đâu? “Lời mở” Tagalau 1 nói quá ư là rõ ràng: “Tagalau là sân chơi để mọi người học hỏi, thể hiện và trao đổi.” Một việc làm vô vị lợi, ai muốn vào chơi thì tùy lòng. Nhưng có tạp chí nào mà chẳng do một nhóm người phụ trách? Ngay Inrasara, không ít nhà báo bảo hắn nhà thơ đại biểu dân tộc Chăm, tôi gạt phăng. Nhà thơ là tiếng nói cá thể, hắn đại diện cho cá nhân hắn chưa nên thân, nói chi đại biểu cả một dân tộc?
Tôi gắng giữ im lặng, cầu trời Phật cho cuộc này trôi qua nhanh nhanh đi.
- Nếu ai cũng nghĩ như chú nó, thì Chăm không tập trung được lực lượng, vì Chăm chỉ có mỗi Tagalau thôi... - anh PN nói.
- Tôi thấy Tagalau chỉ đăng mấy bài mà nhiều báo khác từ chối. Lại có bài phê phán gây dị ứng. Như cá nhân tôi viết cho các tạp chí quốc tế, vậy mà bảo tôi không đóng góp...
Tagalau chưa bao giờ phê bình anh cả, anh nhầm đâu đó thôi. Còn bảo “Tagalau đăng mấy bài mà nhiều báo khác từ chối” là anh xem thường vài cây bút đồng tộc mình rồi. Tagalau có “Trang văn thơ trẻ”, có mục “Cảm nhận văn hóa Chăm”,... nghĩa là nó cũng dành phần đất cho cây bút mới. Nhưng Tagalau vẫn có không ít tên tuổi đại to cồ góp mặt. Riêng anh, anh bảo các nghiên cứu của mình đăng tạp chí quốc tế, hỏi chứ tạp chí nào? Ta cứ ảo tưởng in ở đâu ngoài đất nước hình chữ S này là quốc tế! Nếu vậy thì Sara tui có đến nửa trăm bài tầm quốc tế, nếu kể luôn cả sáng tác thì con số lên đến 300!
Nghĩ thế, nhưng tôi nhìn sang ông thầy cũ, nhắc:
- Thầy cho qua đi, bàn chuyện khác đi...
- Anh nói bài viết tầm quốc tế, sao anh không làm tập san in các loại bài đó phục vụ đồng bào đi... - anh T ý kiến.
- Nhưng nếu vậy thì người ngoài cho là Chăm không đoàn kết... - anh PN vẫn chưa chịu im.
- Anh nói vậy gặp D, D đánh đấy, đánh thật đấy... - vị tiến sĩ hai lần lặp lại và nhấn.
Tôi ngẩn tò te về phát âm này. Cả phòng nín lặng. Tình hình bệ rạc đến mức này ư? Sao lại nông nỗi thế chứ. Tagalau, dù tôi đã hết mình cho nó, cơ khổ vì nó, và có thể lắm sa lầy bởi nó, nhưng..., tôi luôn xem nó như là cuộc chơi, nhẹ hơn - một trò chơi, có gì nghiêm trọng mô! Tôi đã nhiều lần viết thế. Cũng hệt nỗi nghiên cứu văn chương - ngôn ngữ Chăm của tôi, hay như chuyện làm thơ, lý luận - phê bình nữa. Chẳng có gì trầm trọng cả! Tôi làm cái này, nếu bác chưa chịu thì bác làm cái khác, và chị - chị làm cái khác nữa. Cho tốt hơn, cho hay lên, cho phong phú vào. Để bà con vui, cô bác nhờ. Có gì mà làm điều, mà to tiếng cãi cọ nặng lời nhí nhố.
- Thôi bà con cho phép tôi nói xíu rồi bỏ quá đề tài này đi. Một tạp chí nào bất kì cũng có bài hay bài dở, có kẻ chê người khen. Chuyện thường tình. Dẫu sao, Tagalau ra đời và trụ vững suốt cả thập kỉ là điều lạ. Nhà thơ Y Phương rằng tôi không ngờ giới trí thức và cộng đồng Chăm đã làm được việc mang nhiều ý nghĩa đến thế. Điều mà chưa có một dân tộc thiểu số nào làm được.
- Đó là người ta nhìn vào...
Cuộc “tra tấn” còn kéo dài mươi phút nữa, nhưng tôi nói:
- Sara buồn ngủ rồi. Và tôi buồn ngủ thật. Tôi thèm [chết như thèm] ngủ.
Tôi đã câm lặng chịu đựng suốt hai tiếng đồng hồ. Rầu muốn thối ruột. Lòng nhân của tôi là sức chịu đựng của tôi đối với đồng loại, ainsi parlait Zarathoustra-Nietzsche ! Đèo bà xã đến nhà, tôi vỡ cười một tiếng thật to. Rồi làm giấc ngon lành cho tới sáng.
Con người luôn xu hướng nắm giữ, bám chặt vào cái gì đó mà họ cho là quan trọng. Đạo sĩ Bà-la-môn ngược lại, buông bỏ. Ném tất cả sau lưng. Tên tuổi cõi còm này, công việc bề bộn này, chiếc ghế mỏng manh [nếu có] này, cơ ngơi nhỏ bé này, trách nhiệm nặng trịch này. Tôi, ôi cái tôi nhỏ bé thảm hại, luôn thèm khát quay lưng rời bỏ. Tagalau với “Tủ sách văn học Chăm” đồ sộ vô thường này. Với bao khuôn mặt, sự việc cùng muôn hệ lụy của chúng.
Lên đường, một cách nhẹ nhõm.
Bổn phận tôi có phải để vực dậy ngôn ngữ - văn chương Chăm đã khuất lấp đêm mờ lịch sử? Có phải để giải minh bao thắc mắc cạn cợt hay chống báng ngốc nghếch? Tôi sinh ra có phải để làm thơ, thêm món phê bình nhảm nhí này nọ nữa? Tại sao tôi phải nhăn răng cười khi tôi không có gì để cười, tôi phải thò tay ra bắt tay kẻ tôi không muốn nhìn mặt? Hay tôi là kẻ có tâm hồn cao thượng?
Tôi sợ phải có một tâm hồn cao thượng, - một nhân vật của Dostoievski nói thế. Tôi bị sốc khi lần đầu đọc nó vào tuổi mười bảy. Như một đoạn thơ Ariya Glơng Anak trước đó, hay của Rilke sau này. Ba mươi hai năm vèo bay như huyễn thuật, như hoa mắt.
Như sợi tóc vắt ngang màu mắt của Hạnh vào buổi tối vô nghĩa kia.
Đồng thanh đồng khí, trong chuyên luận về Dostoievski, Gide viết: “Với tình cảm tốt đẹp, người ta chỉ có thể tạo ra thứ văn chương rẻ tiền.” Vậy làm thế nào để có thể khuất phục thứ tình cảm tốt đẹp, vứt bỏ tâm hồn cao thượng kia? Làm sao có thể vượt qua nỗi nhảm nhí của thơ hôm nay?
Và, đâu là thể tính của thơ ca?