Hàng Mã Ký Ức

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2
Những Đứa Con Của Đất Cuộc Trần Gian

❊ ❊ ❊

Năm 1963, tôi vào lớp Năm B, dự bị cho lớp đầu tiên của trường Sơ cấp Mỹ Nghiệp. Vài năm trước, đám trẻ Caklaing học đến lớp Ba, phải lặn lội qua tận Hữu Đức hay Văn Lâm cách làng hơn bốn cây số để học tiếp lớp trên. Mãi đến năm 1964, Phú Quý mới nhận học sinh Caklaing. Bao nhiêu lứa trẻ phải ở nhà chăn trâu, sau ba năm làm quen bút mực. Thầy Hồng chạy đôn đáo xin hai phòng trụ sở xã cũ ở giữa làng làm lớp học. Dân quê quen gọi là Trường Giữa;, phân biệt với trường mới xây hai năm sau đó: Trường Mới.

Khai giảng, tôi háo hức cùng đám bạn cầm tập vở “đến trường”. Thầy Sâm, tôi nhớ như in sắc mặt thầy lúc đó, ngoắc ba đứa lại, có tôi trong nhóm đó: - Trẻ, mày về đi, còn nhỏ lắm, đợi sang năm đã. Hai đứa lầm lũi ra cổng, tôi đứng sững lại, nhìn Bánh, Lệ bạn chơi biến vào lớp. Tôi ù té chạy một mạch về nhà, khóc lăn. Mẹ lật đật dẫn tôi đi. - Để tao nói với thầy Sâm, mẹ hứa. Tôi níu áo mẹ, nước mắt nước mũi nhòe nhoẹt. Tôi cứ níu váy mẹ thế, lúc mẹ nói chuyện với thầy trước cửa lớp:

- Thầy để cháu “học gởi”, hai ba bữa nguôi nhớ bạn chơi thì cho nó về cũng được. Nhưng nó học sáng lắm đó. - Mẹ nói thòng.

Thầy Sâm cho tôi ngồi ngay bàn đầu. Thế là tôi đọc róc róc; mọi chữ thầy cho. Ông thầy đâu biết ở nhà tôi đã thuộc lòng mấy bài lớp Tư của anh Đạm. Anh học và tôi thuộc, dù chưa biết chữ nào. Thế là thầy Sâm phân công tôi đánh vào mông mấy anh học nặng. Mấy anh to cồ cùng lớp lớn hơn tôi bốn, năm tuổi. Mẹ cha ơi, giơ cây thước thấp sẽ bị thầy phạt, còn đập mạnh tay thì giờ ra chơi có mà ăn đòn. Thế là tôi không đánh. Tôi mang tật hay cãi thầy từ đó.

Lớp Ba, chúng tôi dời sang trường mới. Đang hồ hởi bàn ghế mới tinh thì trường bị dính canon Mỹ. Lính làng loáng thấy bóng tiểu đội người ngợm hành quân dọc bìa rẫy ông Định cách làng non cây số. Thế là réo nhau leo lên trạm gác và giơ hai cây súng Phà với cây Garand, ngắm bắn. Mẹ cha ơi! Lúc đó còn chưa đến giờ ra chơi. Trường nằm sát trạm. Thầy Hồng cấp tốc cho đám học trò về. Vừa bước vào nhà thì riu... riu... tiếp theo là tiếng nổ inh tai. Dù đang thời chiến, nhưng đây lần đầu tiên tôi nghe thấy tiếng nổ khủng thế. Cả chục trái liên tù tì. Rồi im bặt. Chú Bững em út mẹ òa tới nằm lăn lộn giữa sân nhà, khóc rú lên: - Chị Sớm chết rồi, chết rồi... Mọi người túa ra. Tôi thấy hai anh lính áo rằn ri khiêng dì ra sân banh có máy bay trực thăng chờ sẵn. Nó đưa dì bay lên cao rồi biến mất.

Lính làng tưởng Mỹ là Việt cộng, bắn chim. Mỹ nghĩ vừa đụng phải làng Việt cộng, đã chơi trội, kêu pháo hạng nặng nã tới. Làng và trường mới của chúng tôi lãnh đủ. Trái canon nổ trước trụ cờ làm bay nguyên cây me hai tuổi, còn bức tường lớp tôi học bị thủng cả chục lỗ to đùng. Đám nhóc lần nữa dời sang Nhà Rồng giữa làng, học tạm. Cho đến hai tháng sau Mỹ đền bù, sửa sang khoản hư hại. Trường có thêm xích đu, bàn trượt, đòn cân, cùng bao thứ linh tinh khác.

Tôi vào Trường Trung học An Phước ở Phú Nhuận bằng cổng chính trong tư thế kiêu hãnh của tuổi trẻ: Đậu thủ khoa để nhận học bổng suốt Trung học. Đó là năm đầu tiên trường phân môn riêng Anh và Pháp, chứ bốn năm trước từ khi thành lập thì chỉ có Anh văn, Pháp là sinh ngữ phụ. Tôi vào lớp Pháp văn. Vết thương còn lại sau nửa niên khóa An Phước là cái “Đêm kinh hoàng” (tên một bút kí của Phú Văn Tình) vào mùa xuân năm 1970. Việt cộng pháo kích Khu huấn luyện Nghĩa quân cạnh trường, bom pháo bay lạc vào kí túc xá. Ông thầy dạy toán mới ra trường kêu lên: “Trúng điểm sinh hoạt của tôi rồi”! Sau đó là: “Đạm, thằng Đạm bị thương...”

Tiếng người chạy thìch thịch nện lên nền đất. Dù đang nằm cạnh anh Đạm trong hầm trú, tôi vẫn đưa tay nắm chặt anh. Nhưng không, đó là Đạm làng Hamu Crauk. Mái tôn khu B bị trúng trái pháo, một nhóm bạn không kịp chạy. Tin dữ đồn xa. Sáng mở mắt, chú bác tôi tay mang tay xách ciew bang; chiếu cói, alak hala trứng với trầu; ngồi chờ trước cổng trường để đón xác chúng tôi về!

Trường dời xuống thị xã Phan Rang mang tên mới: trường Trung học Pô-Klong. Sau Tết, xe Ben chở đám trẻ đổ xuống một bãi cát trắng khô cằn ngập nắng và gió. Ở đó chỉ có nhà lầu hai tầng mới xây chỏng chơ giữa mênh mông bãi tha ma đầy xương rồng. Lũ học sinh ra sức dọn hàng trăm bộ xương khô bỏ hoang. Cát, gió và bụi. Bọn trẻ chờ phiên xách từng gàu nước tưới cây làm xanh cả khu đất cằn. Mồ hôi, nước mắt, máu và kỉ niệm. Vụ gài bom lối đi tiểu mỗi tối, mấy trái M19 bắn vào kí túc xá học sinh vô tội, một trái phá khổng lồ nổ tung khiến nguyên phần lầu khu nữ sinh bị nứt cong vòm hết còn ở được. Mảnh bom lấy đi một mắt trái anh giám thị. Chú bảo vệ người Raglai Mang Nhái chết cong queo.

Tôi từng vác “đạn” theo các anh vào tận Khu Tam giác dẹp bọn quấy phá, theo chân làm trật tự đàn anh chị đi lưu diễn văn nghệ các làng Chăm xin tiền xây trường, tham gia đội bóng đá trường bảo vệ danh hiệu. Mối tình đầu thơ dại [nhưng không dám hó hé] của tôi cũng nảy nở ở đây. Năm cuối cùng, tôi học sinh xuất sắc nhất trường đứng trên bục phát biểu cảm tưởng cũng là năm mà vào mùa hè 1975, tôi và Hiển bị đẩy lên chiếc xe Jeep thẳng hướng đồn công an vì bị tình nghi liên can Ikan Krwak; Cá Rô.;

Lưu Văn Đảo, Quang Cẩn Trượng Ngạt

Đảo lấy tên làng làm bút danh: Jaya Hamu Tanran.

Mấy tháng bỏ giảng đường, tôi bán hết tem phiếu tháng để mua sách. Mỗi chiều la cà khu sách cũ đường Kí Con, đọc xong thì đổi sách mới. Cứ thế. Qua ăn nhờ yut; bạn; Đảo ở cư xá Đại học Dự bị đường Nguyễn Chí Thanh. Cơm sinh viên cuối những năm bảy mươi, một xuất cho phần ăn đã đói meo rồi, vậy mà tôi qua ăn ké ba tháng trời. Yut; hiểu, cứ cho ăn ké, ngủ ké. Vài tuần tôi về quê rinh vào mớ ba mớ bảy mấy thứ ăn bù! Năm sau, yut; dính vụ vượt biên, bị bắt ngay trong trường. Vượt biên, với người khác thì chưa đầy năm đã thả, vậy mà cánh bạn tôi bị nghi chính trị chính em, ngồi nhà mát đến năm, sáu năm! Ra tù, yut; lấy vợ, học Cao đẳng sau đó được mời vào làm việc ở Ban Biên soạn đến nay. Một cây bút thơ tiếng Chăm tài hoa.

Cẩn học khác trường thời Trung học, lên Đại học chúng tôi mới chơi thân. Cũng dính vào vòng lao lý như Đảo cùng thế hệ sinh viên Chăm đầy tài năng thời đó. Sau học tập cải tạo, Cẩn phấn đấu học Cao đẳng, vào Ban Biên soạn rồi lên Đại học và Cao học. Không ai ngờ sau mấy gập ghềnh dòng đời như thế, Cẩn lại qua Mỹ được để học Thạc sĩ rồi Tiến sĩ. Còn gồng gánh cả gia đình năm miệng ăn sang tận Hawaii nữa chứ!

Cùng thân phận, nhưng khác Đảo và Cẩn, Ngạt dấn mình vào kinh doanh, sau khi mở quán nhậu Muslim ở đường Phan Đăng Lưu thất bại đã lập Công ty Hương Trầm; ở Thủ Đức nuôi và luân chuyển ba ba sang Thái Lan ăn nên làm ra. Thông minh lanh lẹ không kém gì Cẩn, nhưng kín đáo hơn. Đây là đức tính lạ, ít Chăm có. Vào Sài Gòn mấy năm mà được cơ ngơi thế thì phải nói cực kì. Thế chăng mà Ngạt bị chơi. Ngày 7-6-2004, Đài VTV1; tố cáo Công ty của yut; lừa nông dân, có vài nhân chứng được bố trí phỏng vấn. Tôi phone cho yut ;tìm cách đính chính cứu vãn tình thế. Nhưng rồi anh em nghĩ giữa đất Sài thành bao cạm bẫy, hãy biết thân biết phận, nhịn là thượng sách.

Sài Gòn, nhưng chúng tôi ít gặp nhau.

Hứa Ngọc Cát Châu Văn Thủ

Cát người cao, da đen, và... xấu trai. Không sao, Cát thông minh, còn ý chí thì mạnh quá đá tảng. Khía cạnh nào đó, Cát như là cái tôi thứ hai của tôi. Cùng Đinh Dậu, nhưng học sau tôi ba lớp. Tôi bỏ Đại học, yut; bỏ Đại học. Tôi kế toán, yut; kế toán. Tôi cày thuê mua cả đống sách, yut; cũng thế, khác điều không là mọt sách như tôi. Mượn tôi gần trăm cuốn sách quý, yut; bỏ dưới gầm giường cho lũ mối đọc, chưa hết tuần là xong mấy Krishnamurrti, Nietzsche...

Tôi làm đâu trúng đó, Cát thì ngược lại. Cát làm bí đỏ, cộng trừ nhân chia như tay kế toán bàn giấy: 1 dây bí ra 4 trái, lấy số trung bình 2 trái/ dây; mỗi trái một cân tạm lấy giá thấp nhất: 1.000 đồng; một mẫu được 500 dây; một ngày gồng mình gánh nước suối tưới được 100 dây, xoay vòng như thế, tuần được nghỉ chủ nhật. Với sức khỏe trâu hoang, nắng Phan Rang là chuyện nhỏ! Cứ thế mà nhân lên, mỗi mùa được triệu. Quy ra mười hai cây vàng ba số chín!

Thế là yut; thuê đất rẫy đang kì bỏ hoang. Bà chủ cho làm không, chứ để đó cho cỏ dại mọc mà chi, làm cái ơn không tốt hơn ư, yut; không chịu. - Tôi trả cho bà cây vàng! Tôi ăn dầm nhà yut;, giúp một tay vào kế hoạch đại vĩ mô kia. Cát bảo cha tao nói, mày ngon vậy, sao làm nông thuần thục còn hơn tay nhà nông chính hiệu nữa. Mấy vụ liên tục, Cát trắng tay. Tôi vừa trôi giạt miền Tây về, vốn liếng còn vỏn vẹn mỗi chỉ. Yut; nói: - Cho tao vay, dăm năm nữa, khi các thành phố lớn trên thế giới có villa tao, khi đó cứ quy sang đôla Mỹ tao trả mày. Yut; biến. Cho đến một sáng, yut; kéo theo hai đứa ghé nhà tôi ở Tân Phú, đính kèm lỉnh kỉnh hai bao tải hom nho.

- Tao quyết làm cách mạng nho đỏ tại đất Hà Tiên, - yut; nói. Bài kế toán cũ lần nữa giở ra. Tôi bảo: Mi lại như xưa thôi. Không trật đâu cả, năm sau, yut; trở về không xu dính túi. Ramưwan; 2003, lần sau cùng gặp nhau tại Phước Nhơn, yut; nói, đời chó đẻ, tao vừa chuyển sang nghề bán thuốc Nam rồi. Định mệnh quái quỷ thật.

Thủ, tính tình và xử sự hệt nhân vật cách mạng trẻ tuổi trong Lũ người quỷ ám; của Dostoievski. Luôn bước lấn phần đường của thiên hạ. Nhiệt tình, sôi nổi và tự tin thái quá. Chính đức tính đó yut; lôi được cánh bạn làm theo mình, dù không muốn.

Đa số bạn bè lứa Pô-Klong lúc đó thất nghiệp túng thế đổ xô hết vào Cao đẳng Sư phạm Thuận Hải ở Tháp Chàm. Mỗi chủ nhật, Thủ thu gom bốn, năm đứa chúng tôi về Bauh Dơng họp. Ông chú ruột tôi bảo: - Tụi mầy họp hành gì công an có hỏi tao. Nhưng mặc, chúng tôi cứ họp. Yut; phân công cho tôi và Đảo làm Từ điển Việt - Chăm. Đừng ngại, cứ tha hồ đẻ từ, chớ khờ mà xài từ của bọn Jơk. Tôi răm rắp nghe theo, soạn! Liên tù tì hơn tháng cắm cúi, cho đến khi vào Sài Gòn học thì gần như tôi đã làm xong bộ từ điển nặng kí.

Chính Thủ khích tôi thuê cái chợ cũ Caklaing mở quán. Chớ dại bán chịu. Phải làm cuộc cách mạng ngay trong lối sống lối nghĩ Chăm. Kinh doanh mếch lòng ai, kệ. Làm ăn mà như đánh giặc, yut; là vậy. Con người tháo vát hiếm có. Trà Vigia kể thuở vượt biên kẹt ở Campuchia, yut; còn vay được tiền người mới quen để chi tiêu, kiếm được gói Jet cho Trà phun khói giải sầu những ngày tháng tha hương nữa. Sẵn sàng hi sinh cho bạn, khi sự hi sinh đó phục vụ cho công cuộc mà yut; cho là lâu dài.

Hàm Bộ

Không hiểu tiên triệu nào ngày anh bị thương nhằm đúng sinh nhật tôi. Tin anh mất tôi nhận được từ quê. 8:24 sáng ngày 22-9-1999, cùng lúc nhà sách vừa báo in xong tập thơ Hành hương em. Tôi hầu như vô cảm. Đạp xe đi nhận sách, theo ba gác chở sách về. Chiều hôm trước, tôi ghé bệnh viện Chợ Rẫy thăm anh. Anh không nói được, nhìn tôi, hai mắt ngấn nước. Bác sĩ cho biết anh bị bò báng gãy đốt xương sống thứ ba.

Chỉ lối cho bác ba gác chở sách về nhà, tôi tạt vào quán cà phê quen. Cô gái bán quán, vắng khách, kéo ghế ghé ngồi. Anh vài lần hứa vào Sài Gòn thăm tôi làm ăn nhưng mãi hụt. Cuối cùng anh cũng vào, nhưng lại đến thẳng bệnh viện. Sẵn cầm trên tay tập thơ, tôi kí tặng Thanh Hải. Không ngờ, người đầu tiên tôi tặng tập thơ lại là cô gái ít học, ít quen biết. Cô bảo mẹ nói tên em trùng tên với một nhà thơ cùng quê.

- Vậy à? - tôi hỏi lơ đễnh.

- Anh nhìn mà không thấy em. - Thanh Hải nói.

Tôi thoáng giật mình. Đó là câu văn của Phạm Công Thiện, tôi đọc đâu đó. Hàm Bộ mới qua bốn mươi. Anh em họ, nhưng với tôi như bạn thân, còn hơn thế: guru. Cùng múa võ trên rẫy, cùng ngủ rừng nhìn khoảng không bao la, từng rủ nhau đi buôn, ngồi với nhau những chiều ngồi lấn vào đêm mà không nói gì. Không nói, nhưng hiểu nhau. Đã từng mơ mộng, nói những mơ mộng cho nhau nghe. Học lấy bằng sơ cấp thú y, anh nhận vài chục con bò chăn thuê. Được bà con tin yêu, giao chăn và chăm sóc thuốc men cho chúng. Đã từng cứu hàng trăm con qua trận dịch. Vậy mà hôm nay, anh bị chính lũ bò làm hại. Xe bệnh viện đã chở anh về, tối qua. Cuộc đời anh là giấc mơ triển hạn. Bài thơ cuộc đời luôn bị triển hạn.

Giấc mơ bị giam cầm từ rất sớm

dẫu bé con

Đã chết những dấu chân

dấu chân vẫn con đường mòn ấy

từ làng lên đồi và ngược trở về

làm quen thuộc hơi gió

đã chết cơn mưa đầu đời

chết

câu thơ chưa kịp khai sinh

chết

những khoanh rừng

Với ngọn gió, ngọn đồi quen thuộc

với khoảng rỗng trần gian nơi ý tưởng chưa đầy tràn

anh ở lại

với hơi thở và hơi thơ câm nín

với giấc mơ triển hạn và

cuộc sống mãi mãi làm triển hạn

Khi hơi thở cuối cùng đã hết hạn chờ đợi

anh đi

Ở lại

dấu chân bị xóa

tên sông đã chết

lang thang những câu thơ trì hoãn.

(Chuyện 40 năm mới kể 18 bài thơ tân hình thức, 2006)

- Bạn thân nhất của anh vừa mất, em ạ, - tôi nói với Thanh Hải, trống không vậy thôi, trả tiền cà phê và đạp xe về. Hai lần tôi mơ thấy anh. Anh đến rủ tôi đi, nhưng tôi không chịu.

Nhóm bạn Caklaing

Tôi vừa viết xong dòng cuối bài luận văn thi kì hai thì nhận giấy mời qua phòng Hiệu trưởng gấp. Hiển đã ngồi sẵn đó.

- Trạm có biết gì về vụ Fulro hôm qua không? - thầy Nguyễn Văn Tỷ hỏi.

- Dạ không, thầy ạ.

- Tất cả mọi người biết, em không sao được!

- Dạ, em biết như mọi người biết thôi. Mấy bạn ở quê lên rừng...

- Họ sắp đến mang em đi đây.

Thế thôi. Thầy đang dặn dò tôi thì xe đến. Tôi và Hiển lên xe, không hiểu gì cả nên, khá vô tư. Xe thẳng hướng đồn công an tỉnh. Hai chúng tôi bị tách ra thẩm vấn riêng. Tôi lặp lại câu vừa nói với anh cán bộ. Thế là họ dẫn tôi đi. Cửa xà lim tối om mở ra. - Tiêu rồi! Tôi thụt lại và kêu lên hoảng hốt: - Để em khai, để em khai... Nhưng anh công an đẩy mạnh tôi vào, đóng sầm cửa, khóa lại. Bóng tối đen mò. Cái cuối cùng tôi thấy được là khuôn mặt Hiển đang ló ra ngoài xà lim đối diện, dòm tôi.

Tôi không khai gì. Chẳng có gì để khai báo cả! Tôi nói anh Đạm có rủ nhưng tôi không đi. Sau này, tôi mới biết bạn cùng quê “lên rừng” muộn, bị tóm dọc đường, đã khai bừa tôi làm giao liên cho chú Chạy là tay chân của Jaya Mrang. Yut; Phép bị đánh đập và dẫn xuống Ninh Chữ nhốt ba tháng, do khai dại. Đánh để khai thêm. Tôi và Hiển được thả ba ngày sau đó. Khi cả ngàn thanh niên Chăm chủ yếu là Caklaing và Thành Tín nau ngap Ikan Kwak; đi làm Cá Rô; đến núi Sông Pha, bị bộ đội phục kích bắn chặn, chạy về.

Vừa về đến làng, hai đứa bị đẩy vào lớp học tập chính sách một tuần với đám bạn. Tôi vùng vằng trước cửa “lớp”, quay lại cự nự cán bộ phụ trách: -Tôi không có gì sao phải học chớ. Họ cho tôi về. Họ không tha cho tôi dễ vậy, nếu không có uy danh của ông chú Dương Dọng đang chức phó chủ tịch xã. Thế là tôi thoát “lý lịch đen”. Kỉ niệm sâu đậm nhất về ba ngày đêm xà lim là bữa cơm thừa thịt chó. Tôi bảo không ăn chó và xin nước mắm. Tay an ninh gườm gườm: - Thế nào rồi mày cũng phải ăn.

Nhóm bạn Caklaing có Thính, Tin, Lệ, Quân, Quận, Bánh, Phép, Hiển, Bày, Quận mừ, Đạm, Quả, Quốc. Chúng tôi cùng lứa, học từ khá đến giỏi, đá bóng thì khỏi chê. Thắng, và luôn thắng đẹp, hấp dẫn. Thuở Pô-Klong, chúng tôi từng chấp mấy làng đá, vẫn thắng. Lên Quảng Sơn hay vào Mũi Né, [tôi lúc này đã bỏ anh em đi lang bạt] cứ thắng. Dân nghiền bóng đá hai vùng này đến mùa là mời cho kì được đội Mỹ Nghiệp. Thêm mấy bạn nữ: Đính, Hộp, Nam, Buôn, Thoa, Nhàn. Với sôi nổi thơ ngây của tuổi trẻ. Đào giếng, làm vệ sinh làng, văn nghệ thể thao. Rồi đùng cái, một nửa số anh em nghe lời “hiệu triệu” hấp dẫn của Jaya Mrang - nau Ikan Krwak;! Khởi từ rẫy Ong Hào Byửng cách làng hơn cây số, họ đi. Ba, bốn làng nhập lại. Với con số non ngàn thanh niên chưa hề rờ tới súng ống. Họ đi băng đồng, rừng, mãi tảng sáng thì đến ngọn đồi, nghỉ chân, đợi liên lạc về chỉ đường đi tiếp. Rồi... pháo nổ. Vài tiếng kêu la. Có người bị thương. Mấy tràng súng bắn trả. Tất cả bỏ hành lý lại lao xuống đồi theo hướng họ vừa đi lên. Chạy, gần như là lăn xuống. Như bản năng tiền sử kêu họ chạy trở lại cố hương. Hoảng loạn và tán loạn.

Cuộc trở về rơi đúng ngày đầu năm Chăm lịch, Rija Nưgar. Mưa. Cuộc lễ Nau Yang; năm ấy ủ buồn như đám tang. Cả mấy trăm thanh niên bỏ làng chớ ít ỏi gì cho cam. Gia đình nào cũng có người liên lụy. Năm, sáu anh em lạc về từ đêm qua ẩn núp trong lùm trâm bầu rẫy nhà anh Tin, ngó về phía cuộc lễ cách đó hơn trăm bước, đói lả, thèm thuồng. Bọn trẻ đợi bà con xong lễ về hết mới dám mò ra tìm lửa để luộc khoai vừa nhổ được ngoài rẫy. Nấu bằng thùng đạn. Nước sôi, anh bạn mở nắp bị bật hơi nguyên bộ mặt lãnh đủ. Khi đó đám trẻ mới chịu khiêng nhau về.

Khoản len lỏi xó xỉnh rừng núi, bọn trẻ đang năm cuối Trung học chưa đáng xách dép cao su cho mấy chú Việt cộng mấy mươi năm kinh nghiệm nằm vùng, đừng hòng! Nhưng rồi anh em cũng trở về, an toàn. Chúng tôi lại bắt đầu vác tù và cho làng Caklaing mãi cho đến bây giờ.

Trầm Ngọc Lan Trà Vigia

Tên cúng cơm: Hứa Phăng, tài năng sớm lộ ngay vào những năm đầu Trung học. Tuổi mười lăm đã xuất bản tập thơ Xây sầu trong tim lở; in ronéo, với đám chúng tôi viết chưa nên thân một bài văn tiếng Việt, thì phải kêu là thiên tài. Sau 1975, yut; nín. Chỉ ló mặt trở lại khi Tagalau; xuất hiện. Rồi trở thành cây bút đinh của Tuyển tập. Tài hoa cả trong thơ lẫn văn. Dồi dào cảm xúc, một cảm xúc trên nền tình yêu đậm dành cho quê, cho mẹ, cho con, cho anh em, bè bạn. Vậy mà chẳng chịu viết.

Anh em từng rủ rê nhau làm tập san Chăm từ mấy năm trước, chờ mòn năm tháng chẳng thấy ai nộp bài. Mùa hè năm 2000, tôi hối, yut; và Tiến vào ăn dầm ở dề nhà tôi tại Tân Bình, cà phê bia bọt đủ cả. Tôi giao khoán, mỗi vị phải rặn ít nhất năm bài thơ và một truyện ngắn, không xong không về. Tuần sau, hai “nhà” nộp bản vui vẻ! Tôi nói, trong ba anh em văn chương, Tiến số một, Phăng thứ, cuối cùng mới đến Sara. Hôm nay Sara lên đời là nhờ chịu cày hơn bọn họ thôi. Chiều cuối cùng trước sớm mai chia tay, ba anh em tự thưởng bằng chầu cà phê. Tên Tagalau; Bằng lăng; là do Trà đặt. Tôi và Phăng giơ tay nhất trí.

Chân dung đồng một vụ; ra đời dưới giàn bông giấy in ngay Tagalau; đầu tiên. Tưng tửng mà lôi cuốn, có vẻ bất cần mà đẫm tình. Chỉ bằng vài nét phác sơ sài, vài đoạn đối thoại ngắn, vài quan sát như lối nhìn trẻ thơ, anh đã vẽ được chân dung của một làng quê Chăm vừa cũ vừa hiện đại, nửa như yên ắng nửa muốn làm sôi động giả tạo trong buổi giao thời nhưng cứ đặc chất Chăm. Đây là lối tiếp cận hiện thực khá hiện đại. Lâm Gia Tiến - trời khéo sinh tay này ra để hành tôi.

Ba năm nằm trại Thái Lan, tháng 6-1994, Trà nhắn tôi gởi gấp báo thể thao cho yut; xem tạm World Cup qua lời bình, chớ trại làm gì có ti vi. Cho đỡ buồn. Buồn quái gì chứ! Ba loại báo cả thảy. Mà cắt từng bài ra hải quan có chịu đâu. Phải mua nguyên tờ, chỉ để cho yut; xem mục thể thao. Cả tháng báo, phí gửi thì trên trời! Trại sắp đóng cửa, ai không đủ tiêu chuẩn sang nước thứ ba định cư sẽ bị trả lại Việt Nam. Tôi thư, bồ về đi, để cùng làm tạp chí. Yut; sỏi thận nặng, bốn lần mổ nhưng vẫn cứ Jet đều đặn phun khói. Mọi người kêu trời. Yut; bảo, bỏ thuốc lá tôi chết nhanh hơn. Có muốn tôi đi chầu ông bà sớm không thì bảo!

Tagalau; không có Trà Vigia coi như mất đứt một nửa giá trị. Phiền là thế! Phiền từ “Mỹ Sơn đường về” phiền đến “Ăn chữ”. Bạn văn nhắc: Có ai biết Trà Vigia là ai đâu, Sara phải gánh cả đấy chứ! Lại tôi giới thiệu yut; làm ở Đài Tiếng nói Việt Nam - Ban tiếng Chăm, chế độ đãi ngộ ngon lành. Ai đời tay nông dân không mảnh bằng lận túi, mới vào làm, được tính ngay hai triệu tiền lương đính kèm chế độ nhà ở tại cơ quan cùng bữa cơm trưa! Rồi chưa tròn năm, yut; về. Mình không chịu nổi khí hậu luồn cúi với thái độ giả tạo của bọn ngốc, yut; nói. Đó là ngày tháng ngục tù dành cho kẻ sáng tạo! Yut; về, tiếp tục chương trình kinh niên đói...

Không bình thường chút nào kẻ hai lần mổ thận tại Chợ Rẫy với hai bận tận Sikhiu vẫn cứ chơi rượu gạo như chưa hay chẳng có gì xảy ra

Không bình thường chút nào kẻ 5 ngày học tập cải tạo tại Việt Nam rồi 4 năm nằm trại Thái Lan vẫn cứ Phan Rang đẹp, cuộc đời tình yêu đẹp hát vào những đỉnh trời

Không bình thường chút nào kẻ giữa trận trường kì ăn độn cứ tìm cho ra gói Jet phả khói trầm tư về cõi hủy phá sáng tạo, hủy phá để sáng tạo, hủy phá @ sáng tạo, anh chàng Shiva thiên kỉ xưa chịu chơi thế là cùng

Không bình thường chút nào kẻ đào lên lấp lại cơ man lần vẫn ao đất đó không trồng hay nuôi thứ gì cả cho nắng Phan Rang vắt cạn giọt mồ hôi cuối cùng, kẻ bày ra phong thái uống rượu cao cường tiên sinh Lý Bạch sống lại cũng bái phục, kẻ tuyên ngôn người uống rượu lọc bằng thận ta bằng trái tim không hề chịu cũ

Không bình thường chút nào kẻ đột hứng làm chuyến Mỹ Sơn đường về tung bụi mù môi trường văn nghệ tỉnh lẻ đìu hiu banh ngực trần mang cuộc đời vào cuộc chơi nhỏ lớn, tối sáng, vô danh hay rền tiếng, kẻ xem nhẹ giải Hội Nhà văn Việt Nam với Nobel, Nhóm Mở Miệng hay Bill Gates được/ bị đặt ngang nhau, khinh thường đồng thời tôn thờ tất cả đàn bà con gái

Không bình thường chút nào kẻ khả năng ngày đẻ 3 bài thơ dẫu không xu dính túi vẫn từ chối gửi đăng báo, kẻ vĩnh viễn lãng phí tài năng, sức khỏe cuộc đời thực của mình cho mục tiêu mơ hồ nào đó

Cũng rất là bình thường...

( Chuyện 40 năm mới kể 18 bài thơ tân hình thức;, 2006)

Phú Văn Lưu

Anh họ tôi, một chiến binh đúng nghĩa. Người tầm thước, đẹp trai, săn chắc trong bộ ria rậm với cái nhìn sắc, dữ dội. Học Võ bị Đà Lạt, ra trường đeo lon chuẩn úy. Tới trung úy thì... giải phóng. Đang kì cao điểm các trận đánh chuẩn bị tổng tiến công mùa xuân, anh bị cấp trên chỉ định “giải phóng” palei; Thon thời điểm đêm Cộng sản ngày Cộng hòa. Dì Lặng (em ruột cha) mẹ anh khóc: Người gì mà bị đuổi bắn như chim chóc ấy.

Sau năm Bảy lăm anh đi cải tạo, thả ra lại lên núi đi Ikan Krwak. Xuống núi, vào tù rồi ra tù. Chị Song vợ anh cũng khốn đốn không kém. Tiếp tế chị em Ikan Krwak, chị bị bắt, anh một mình ở nhà coi trông bọn trẻ nheo nhóc. Đang trưa nắng, tôi đèo Hani tạt qua thăm anh. Anh mời hai em cơm trưa với đứa thì chén sứt, đứa với sọ dừa, đũa so le cao thấp. Tội thế chứ.

Anh Lưu là một tay Karate cừ khôi, sẵn sàng chơi sòng phẳng với giới giang hồ khi cần. Năm tôi đầu Trung học Đệ Nhị cấp, xuất trại kí túc xá Pô-Klong về, cả đám đông lộn xộn khu vực giếng Kai Rađaih. Có xung đột giữa gia đình chăn vịt với nhóm thanh niên Chung Mỹ. Mươi thanh niên hùng hùng hổ hổ xách gậy gộc xuống, nhưng vừa đụng trận, mỗi hai ông Kinh mà cả bọn to xác chạy té đái. Có tay còn bị mất cả đồng hồ mới sắm nữa chớ! Anh Lưu mặc áo xơ-vin đi xe Honda 67 ngang qua, thắng kít, bước xuống. Anh ngoắc hai ông kia lại. Họ ngần ngừ. - Lại đây! - anh nạt to và dấn tới. Gặp phải tay máu rồi, họ hiểu và tỏ ra biết điều, trả lại cái đồng hồ. Anh dẫn cả hai vào trụ sở xã Phước Hải. Hết.

Trưa năm 1987, anh ghé gia đình tôi đang chui nhủi trong ngôi nhà cổ ở Kraung Likuk: - Trạm, đi với anh. Anh có mối độc và chắc chắn. Qua Cam-bốt rồi Thái Lan, từ Thái Lan có người dẫn đi Mã Lai, sau đó có tàu đưa qua Mỹ. - Anh đi cẩn trọng nhé, - tôi nói. Thế rồi anh nằm lại trại Thái Lan ba năm mới được sang Mỹ. Rồi bảo lãnh gia đình. Sau nửa đời người, mãi lúc đó anh mới biết đến không khí sum vầy hạnh phúc gia đình là gì.

Anh Tin anh Trăng

Thời trẻ con, câu chuyện của anh Tin làm tôi mê mệt. Gì anh cũng biết. Tôi với Lệ cứ ngẩng cổ lên mà nghe. Anh kể chuyện Ppo Rome không đầu vẫn về đến dinh, chuyện quân Minh Mạng mỗi bữa nấu cơm dùng ba sọ dừa mới của lính Chăm làm patuw ging; ông táo... Bao nhiêu là chuyện. Chỉ cần qua một khóa nửa năm Thiếu lâm tự, mấy tay Vovinam ba gạch vàng có dại mới dám xớ rớ. Coi Jaya Mrang bằng thánh, cái gì ông ta làm cũng tuyệt. Thuộc các bài hát của ông như cháo, bắt chước cả giọng lẫn lối nhả chữ.

Anh Trăng thì khỏi nói rồi, là thần tượng của cả thế hệ học sinh Pô-Klong.

Lực sĩ toàn năng. Cự li ngắn và trung bình, nhảy xa, nhảy cao hay ném tạ, bóng chuyền lẫn bóng đá. Mỗi lần anh mở cú rút là coi như đối thủ có mà ngửi... địt. Nói tục hết biết. Năm 1977, anh bị tù do liên lụy ông anh lãnh tụ Ikan Krwak, hai lần cắt gân tay tự tử. Oan cho anh. Thằng Trăng mà làm chính trị mẹ gì, - bạn học Duy Tân cả quyết thế. Nghe tin anh hết muốn sống, tôi chắt chiu tiền, quà gửi vào trại cho anh. Là chuyện cả gan. Tôi biết một tâm hồn đẹp như anh không thể chịu nổi trò chơi gian dối của đời sống nhem nhuốc đầy cạm bẫy này.

Đàng Năng Thọ

Con người lành và khép kín.

Thời Pô-Klong đã thế, làm người lớn cũng vậy. Năm 1978 trường kì ăn độn, anh em rủ nhau làm cuộc hành trình dài qua các palei; Chăm, bằng cuốc bộ. Cauk, Tabơng; Thành Ý, Pabblap,... Thọ ngồi thu lu một góc, nghe tôi với các cụ thao thao về văn chương chữ nghĩa. Có khi cả tuần tôi ghé anh nằm dài, xem anh vẽ. Các bức họa của Thọ lúc này bị tôi chê bừa: Nét này còn dính mùi Modigliani, khối nọ là con đẻ của Picasso, màu kia có anh em bà con với Van Gogh. Anh cứ lặng lẽ. Từ tranh cổ động cho Đoàn Văn nghệ Thuận Hải hay trước đó, vẽ báo tường. Mỗi khi có đợt báo tường, Thọ say sưa với cây cọ màu nước! Quên đất trời, quên ăn, quên cả các môn phải trả bài cho thầy cô sáng mai. Nên anh cứ bị điểm kém. Ví học ở Mỹ, anh đã là một học sinh xuất sắc rồi. Vẽ thì, luôn là tháp Chàm. Đủ dạng, đủ cỡ, đủ kiểu, góc độ, trạng thái.

Dù cố tới đâu, anh vẫn cứ bị tôi chê. Rồi, mười năm sau, anh ngần ngừ đưa cho tôi xem bức tranh vẽ tháp mới nhất. Tôi choáng. Màu sắc đập mạnh vào tôi. Thọ đã chuyển lửa Chăm từ Haumkar; vào tác phẩm. Gân guốc và bay bổng. Từ ngôi tháp màu xanh lửa bước xuống là một cô gái Chăm gần như toàn trắng nổi lên giữa màu đỏ rực. Tôi cho đó là một sáng tạo chỉ họa sĩ Chăm đất Hamu Crauk mới làm nổi!

Nghe anh nhận chức giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Ninh Phước, rồi giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm, tôi phán: Chức to tỉ lệ nghịch với chất lượng tác phẩm, cứ tin mình đi.

Ẩn mình trong bóng tối rồi cũng có ngày vươn ra khoảng sáng. Phan Đăng Nhật nhận ra một tài năng đang chịu khuất lấp oan uổng giữa bề bộn và cơ cực dòng đời (bao nhiêu tài năng Chăm như thế hôm nay, ai biết được?), đã có hành xử đẹp, giúp Thọ triển lãm tại Hà Nội vào năm 1995. Triển lãm thành công to. Mấy chục báo đưa tin. Đàng Năng Thọ khoái ra mặt. Tôi nói đấy là tin các quan ghé thăm phòng triển lãm, chứ không là bài viết về tác phẩm yut. Nhìn ảnh Thọ chụp chung với ông lớn được phóng to và treo nghiêm trọng, tôi cười thảm. Yut; chớ tin. Người nghệ sĩ gọi là thành công khi hắn chinh phục được kẻ trong giới. Khi đó hắn mới tồn tại, tồn tại đúng nghĩa một nghệ sĩ.

Tôi hỏi Thọ có gì mới không? Anh đưa cho tôi mấy tập phác thảo các tác phẩm sắp tới. Tôi la lên: Thiên tài! Bạn hãy ném bỏ tất cả để lao vào hoàn thành các phác thảo này đi, bạn sẽ là thiên tài. Sau này, không biết có phải do nghe tôi hay không, anh đã chuyển hẳn sang làm tượng đất nung. “Luân hồi” được chọn làm biểu tượng trong cuộc triển lãm giao lưu tại Ấn Độ năm 1998. Nhiên!

Hồng Loan Chế Mỹ Lan

Lần đầu tiên nghe Hồng Loan hát dân ca trong chương trình về văn hóa Chăm trên VTV1; năm 1984, tôi rùng mình. Đây chính là giọng trời sinh riêng dành cho dân ca. Mãi mười năm sau, qua Trà Vigia tôi mới làm quen với chị. Và dạy chị hát đúng lời Chăm. May quá, chị không cãi lại. Chứ hát sai be bét như trước thì uổng cho cả hai: giai điệu và chất giọng. Đúng mười năm sau, Katê 2004, tôi dẫn giáo sư Thái Lan Thawi tạt qua Kraung nghe chị hát. Ngài giáo sư gần như lịm người mà nghe. Chất giọng vẫn như xưa! Chị Hồng Loan vẫn cứ như xưa: nhiệt tình, tháo vát, quyết đoán và đầy nhân ái. Cùng anh chồng Chế Quốc Minh, chị vượt phận nữ nhi thường tình, xin ở Quỹ Terre des Hommes; làm hệ thống nước sạch cho hai làng: Paplom - Chăm và Phan Dũng - Raglai. Rất oách! Chị còn khoe mình vừa dẫn phái đoàn trung ương giới thiệu văn hóa Chăm nữa. Vậy à? - tôi hỏi. Chị nói: - Có gì đâu, mình đọc nát tám số Tagalau; với cuốn Văn hóa - xã hội Chăm, nghiên cứu đối thoại; của Sara, rồi mang ra nói là không sợ trật.

Chế Mỹ Lan thì khác. Ở vùng trong này nảy ra cái câu tục ngữ cắc cớ có ý khái quát cả đặc tính địa phương: Parik ngang Panrang cơk; Dân Phan Rí ngang tàng, dân Phan Rang ưa nổ. Tôi nghĩ nó đúng với nữ Parik và nam Panrang, chứ không phải cho tất cả mọi kẻ. Tôi biết đến tên Chế Mỹ Lan qua mấy bài thơ trên mạng Chamyouth; và đặc san Vijaya; ở Mỹ. Ở đó chất thơ thiếu nhưng cái ngang; thì có thừa. Tôi nghĩ đây là người tôi muốn gặp. Thế là chúng tôi thư từ cho nhau. Cho đến khi Lan về Việt Nam vào mùa hè 2004. Tôi từ Sài Gòn lên xe ra Phan Rí, phone cho Trà Vigia vào để chào nhau. Nhưng Chăm làm gì có chuyện chỉ chào nhau. Chúng tôi kéo nhau ra mấy quán nước tán chuyện trên trời dưới biển. Hôm sau, tôi quành vào thành phố, bàn giao Lan cho Trà dẫn ra Panrang lên thăm tháp mà nữ thi sĩ Chăm tha hương này chỉ có gặp mơ hồ nhưng đầy nồng nàn trong những giấc mơ xa xứ.

Họ là những người bạn, vô danh như hằng hà sa hạt bụi vô danh giữa bao la trần gian này. Còn bao nhiêu thân phận vô danh khác nữa: Đạt, Xoài, Truyền, Lai, Ra, Cùi, Chí, Triển, Trưng, Tiến, Khỏe, Thương,... Hơn bất kì vĩ nhân nào hay danh tác bất hủ nào khác, họ đã ảnh hưởng quyết định đến vui buồn của tôi, thất vọng và hi vọng của tôi, hoài bão tôi và chán nản tôi, suy nghĩ, hành vi và lối viết của tôi. Dáng chạy của Trăng hay câu chuyện mơ hồ của Tin, một quyết định táo tợn của Thủ hay nửa cử chỉ lạc điệu của Cát, cái cười vô duyên của Phăng, một cú khích tướng của Ngạt, thái độ khiêm tốn dễ thương của Truyền hay lối nói năng oai khí của Trà... tất cả. Chúng là một phần không thể thiếu đã làm nên cuộc đời tôi, hành động tôi và sáng tạo tôi. Họ từng làm tôi vui sướng ngất ngây hay đau khổ tím người. Ngược lại, tôi cũng đã làm khổ họ không ít. Bởi ngu ngốc tôi và nhiệt tình khờ khạo tôi, thông minh tôi và thờ ơ bất lịch sự tôi.

Ramưwan; năm 1978, các bạn kéo nhau xuống Thành Tín. Tôi lúc đó đang tu Oshawa, đã hành anh Ve chạy khắp ngõ palei; tìm gạo lứt muối mè. Ai Tết Bàni bà con nhậu nhẹt linh đình, mình lại đi ăn chay, lại lối chay khác trần đời nữa chớ. Nhưng các bạn vẫn moi ra được. Rồi là cối, nồi đất, lò than. Tôi ngồi nhai gạo lứt hệt thiền sư khùng giữa đám bạn. Và tôi huyên thuyên về Damnưy Ppo Klaung Girai;, Ariya Glơng Anak;, Royaume du Campa...; Nhóm bạn và cả vài cụ ngẩng cổ nghe và dĩ nhiên, phục sát đất. Thấy không khí có mòi nghiêm trang, thế là tôi nổi mát lên. Khi một cụ xin hỏi cậu nó tuổi con gì nhỉ, tôi nói: - Dạ em sinh năm Krat; Chàng hiu; ạ! Thế là mọi người cười ồ lên và giải tán.

& cuối cùng... Inrahani

Đẹp, hát hay, múa giỏi. Trụ, xuất hiện như một huyền thoại trong mắt tôi thuở tôi còn xà lỏn nghịch đất. Lửa trại nhà quê, nàng hóa thân tiên nữ múa hát giữa lung linh ánh lửa. Tôi im lặng chiêm ngưỡng cho tới khi... buồn ngủ mẹ dắt tay về. Năm 1968, nàng lên Buôn Mê theo Fulro. Với tôi, nàng thành một huyền thoại khác, huyền thoại nữ chiến sĩ. Cao nguyên rồi Cam-bốt rồi Pháp. Bao nhiêu là câu chuyện huyền thoại xa xứ bay về quê nhà, về đứa con của Đất cùng các chiến hữu. Harak đwơc thrwai, cabbwai đwơc drah; Tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn xa. Cho tới năm 1973, nàng một mình ôm hai đứa con thơ quy hồi cố hương. Dân làng đổ nhau đi coi, như coi hát. Tôi thì không.

Chung làng, nhưng chúng tôi chưa bao giờ gặp mặt. Lớn lên, Hani trôi giạt. Rời làng, tôi làm lang bạt. Mãi khi Hani chuyên trách Mẫu giáo Phòng Giáo dục Ninh Phước, xuống Phan Rang theo lớp bổ túc văn hóa, qua gạch nối là Truyền, tôi với Hani biết nhau và... yêu nhau. Thành vợ chồng.

Chúng tôi kéo nhau qua Cauk; tranh thủ sào đất trống phía Nam sân bóng đá làng, dựng nhà tranh vách đất. Một căn nhà nhỏ [hai trái tim vàng], chẳng khác chòi canh rẫy. Hani bỏ học, phụ trách Mẫu giáo làng. Tôi làm việc tại Ban Biên soạn sách chữ Chăm, năm giờ chiều đạp xe về tới nhà, ném nó sang bên, lao vào chiến đấu với đất cà giang. Đào và cày xới, bui bui với rơm nát, cây so đũa với cây chuối, gà vịt và rau, đủ loại rau, đến tối mịt mới chui vào chòi ngủ giấc khò. Sớm mai gà gáy sáng, lại bắt tay vào cuộc. Hơn nửa năm “tuần trăng mật” như thế, chúng tôi có được thành quả: Jaka chào đời, khoảng đất trống mù bụi từng làm khổ dân làng khi xưa đã thành mảnh vườn xum xuê cây trái. Tiến, Ninh thoải mái ghé lai rai những chiều rỗi.

Nhưng tên Phú Trạm cứ vận vào định mệnh tôi. Chúng tôi lại di dời qua Caklaing, nhà cũ ở cuối xóm cha mẹ để lại lâu nay bỏ hoang. Mái ngói cũ, vách đất, nền đất, bốn hướng cửa trống huơ trống hoác. Lần nữa tôi lại lao vào cuộc chiến. Lúc này tôi đã thôi đời ăn lương. Thoải mái hơn về thời gian. Sông Kraung Likuk rậm rịt lục bình chấp chứa loài muỗi, đỉa, côn trùng đủ loại. Chỉ sau nửa tháng ra tay, tôi biến khúc sông vô dụng thành đám rau muống xanh rì. Rồi lại đời rơm rạ với bui bui, phân trâu bò heo và cải tạo đất để lên giàn nho. Vẫn chưa hết cực, cả nhà lao vào cuộc sinh nhai mới: Xay lúa giã gạo chở xuống Phan Rang bán, câu cá, chích heo gà bò trâu. Em vợ mất, làm đám. Mẹ vợ mất, lại làm đám. Mùa hè 1988, Jaya khóc oe oe chào đời tăng thêm khẩu phần, so thêm đũa.

Gia đình nhỏ bé cơ cực, yên bình và sôi động. Thứ sôi động của nông thôn. Tôi mở “khóa” dạy võ, lập “hội nghị chiếu dài” chuyên đề về Chăm mời trí thức và các cụ Chăm về thảo luận. Và đọc Nietzsche, Heidegger!

Vẫn là chưa đủ. Hani bỏ dạy, nau Raglai; đi buôn Thượng. Phú Yên hay Đà Lạt, Đức Trọng hay Lâm Đồng. Tôi lên Phước An mua thuốc lá mang ra Cam Ranh bán, lỗ nặng, nghỉ. Bạn học thời Nguyễn Trãi xưa ghé nhà bày cho làm thuốc lá lậu đang kì lên hương. Nhưng: - Ông miễn cho tui. Rồi xảy ra chuyện hành phương Nam. Hani bảo đất và người trong đó lành lắm, làm ăn được. Thế là cả gia đình rời bỏ làng mạc, tay xách nách mang, đi. Bán thổ cẩm, nhưng khi bà con Khmer mắc nợ vải vóc không tiền trả, sang lại lũ heo con, bị đẩy vào thế buộc, hai kẻ xa lạ thành lái buôn heo nơi đất khách quê người. Hơn mươi chuyến “buôn” như thế, vợ chồng đi trên chiếc ghe nhỏ gắn cái mô-tơ cũ kĩ của ông lái đò.

Hậu Giang, mênh mông sông nước. Chiếc ghe con mỏng mảnh dọc ngang sông nước như chiếc lá tre giữa dòng. Tôi nghĩ, nếu nó bị lủng, biết kêu ai? Và ai kịp cứu? Hai mươi năm sau, nhớ lại mà rùng mình! Ngay cạnh nhà chúng tôi trọ, đã có gia đình nhỏ người Khmer ở Trà Kha bị nạn thảm. Một chồng, một vợ, một con. Chở đống mía qua Kế Sách bên kia bờ bỏ mối. Đứa con gái ba tuổi ngồi lên đống mía cao ngất, vợ chồng phía dưới chèo chống qua con sông. Đống mía đổ. Nghe tiếng la, người cha lao theo đứa con đang chới với. Anh chìm luôn với con gái đầu lòng. Chị vợ còn lại chỏng chơ với chiếc ghe tắt máy, mãi gần cả tiếng sau mới có người tiếp cứu.

Trà Kha, Trà Cú, Cầu Ngang, Cầu Kè, Sóc Trăng hay Cà Mau,... Gia đình tôi lênh đênh long đong mất tám tháng ròng rã cho đến khi hoàn toàn cụt vốn, mới dắt díu nhau về. Và bắt đầu lại “từ con số không, từ con số âm - có lẽ”.

Căn nhà cũ đã bán, giàn nho hay đám rau muống không còn. Hani liều bốc thăm làm hợp đồng thuê khu chợ cũ đầu làng bán cà phê 30.000 đồng/ tháng. Có thế thôi mà ba chủ thuê cũ đã sập tiệm sau hơn năm kinh doanh. Nhà quê mà. Ông thầy cũ dọa: Chăm chuyên gia ăn chịu, Trạm có nước dỡ quán chạy làng thôi. Nghe, tôi chả ngán. Tôi đón xe vào Sài Gòn ôm về cả đống sách dạy kinh doanh, cắm đầu “nghiên cứu”, rồi tóm gọn trăm trang cho vợ con “học tập”. Đó là mùa xuân 1991. Như thần, sau năm rưỡi mở tiệm, bán từ cái vặt vãnh nhất như xà bông, bánh kẹo cho đến giải khát cà phê, bia rượu cả tơ sợi, phân bón. Tất tần tật nhu yếu phẩm nhà quê. Chúng tôi gần như thâu tóm mọi mối bỏ sỉ và bán lẻ cả một vùng rộng lớn quanh Caklaing.

Bà S nói: - Thím quen rồi, cháu à, khó bỏ người ta quá đi. Tôi thuyết: - Thím mua sỉ 400 đồng chai Phú Thọ rồi bán lẻ có đá 550 nè, trong khi cháu bỏ cho thím có 370. Nếu mai này Trụ bán lẻ 450 thì thím buôn với bán làm sao. Thôi thím cứ thử đi. Chần chừ đi tính toán lại, cuối cùng tôi quy tập được bà S.

Quyết toán mỗi tháng quán thằng Trạm lãi ròng có khi đến năm triệu quy ra hơn hai cây vàng. Nhưng tôi vẫn chiếc xe đạp cũ xuôi ngược nắng gió Phan Rang. Chỉ đến tháng 8-1992, nhận giấy mời vào Sài Gòn, tôi alê hấp, cắt. Tôi mua nguyên lô đất khu chợ, thừa hai chục triệu mang vào Sài Gòn, đốt sổ nợ gấp hai lần con số đó. Hai tháng sau, Hani về quê lục kiếm cuốn sổ, tôi nói: - Anh đốt rồi. - Ông điên, - Hani kêu lên. Tôi giở bài Socrate: - Để mỗi lần về quê mình còn biết họ là bà con lối xóm, chứ không như những con nợ nặng nề, OK? Nàng chỉ có nước cười trừ.

Vào Sài Gòn, chúng tôi tiếp tục trôi giạt.

Chân ướt chân ráo, Trung tâm cho tạm trú ở Cư xá dành cho sinh viên nước ngoài; tại đường Nguyễn Chí Thanh, quận 11; cuối năm 1993, chuyển qua thuê lô Cư xá Thanh Đa; tháng 10-1994, thuê nhà ở Tân Bình, mương thối, nhà tôn vách nứt thích sập lúc nào không biết; mùa đông 1996, đổi nhà khác cùng quận, khá hơn; đến tháng 10 năm 1998 thì qua Hương lộ 14, phường khác nữa; đúng hai năm sau Hani kêu ở tạm nhà con gái để trông coi thợ làm nhà. Nhà lầu ba tầng xong, lại dành hết cho thợ dệt may, gia đình đi thuê căn nhà bên cạnh để ở; tháng 6-2003, lại kéo cả nhà qua quận 1 đường Phó Đức Chính; rồi tháng 4-2004, chuyển tới quận 4; và cuối cùng gia đình dắt díu nhau trở lại nhà cũ như là nhà mình ở đường Thoại Ngọc Hầu, quận Tân Phú vào mùa hè năm 2008.

Sẽ còn cuộc chuyển đổi nào nữa, ngày mai?!

Thời gian đó, chúng tôi trải bao vật lộn, té ngã rồi đứng dậy, thất vọng lại hi vọng. Dấu chân Hani in khắp Bắc Trung Nam dự hội chợ triển lãm, cải cách hoa văn và kĩ thuật dệt cho Chăm, tiếp tay Minh Hạnh phát triển thời trang thổ cẩm, lên Mai Châu nghiên cứu đưa thổ cẩm Thái vào thị trường, mở quầy tại Thương xá TAX, Sai Gon Square, Phố Tây ba lô. Cả chục đại lý mọc lên khắp tỉnh thành, mọc để rồi đổ. Ba Huy chương vàng và Huy hiệu Bàn tay vàng của Hội đồng Trung ương Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. Thổ cẩm Chăm và các dân tộc thiểu số Việt Nam theo chân Hani phiêu giạt Nhật, Ý, Bỉ, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Lào... Ngắn hay dài hạn. Lãi to, huề vốn và cả lỗ nặng. Không vấn đề gì cả! C-h-ă-m, Hani góp phần mình làm cho nó vang lên, dài và xa hơn. Cho thế giới đừng quên trên mặt đất này còn có dân tộc tên là Chăm.

Cuộc sống không đo lường ở thành công hay chiều dài lâu của thời gian mà ở chất lượng sống. Ai nói thế?

Cả trăm bài báo tụng ca Hani, báo giấy và báo mạng, đài tiếng hay đài hình. Chung có riêng có, xộc cả vào đời tư cũng không chừa. Như một cá thể sống cho và với cộng đồng. Nếu bạn tài năng riêng bạn, nổi tiếng hay giàu có cho riêng bạn, hỏi cuộc sống đó nghĩa lý gì?

Katê 2003, Hani xin được hai trăm phần quà cho một làng. Phép nước và danh sách xong đâu đấy, nhưng không hiểu thông báo sao, mới tám giờ sáng mà bà con đã tụ tập như hội. Để đến mười giờ, Ban Quản lý thôn cho giải tán. Xe xuất phát từ Sài Gòn, đến Phan Rang có chạy sém đỉnh mấy chú công an giao thông bắn tốc độ cũng phải mười hai giờ trưa. Khi xe tới, anh Trưởng thôn dỗi không cho loa gọi bà con, bắt bẻ là trễ hẹn. Nói sao cũng không được. Tội vậy đó! Thế là phần quà được chuyển qua làng khác.

Đầu năm 2005, nhân xin được hỗ trợ mổ đục thủy tinh thể cho bà con Chăm ở Ninh Phước, Hani cùng các sư ni Phật giáo kết hợp tặng quà cho người khuyết tật. Đang phát quà, bất ngờ một ông già xông tới la lối om sòm: Tui cũng bị cụt tay này, sao tui không có phần? Các người bất công! Tội, danh sách do Ban Quản lý đưa, bởi chính họ hiểu hơn ai hết ai là đối tượng cần cấp phát. Thế là Hani phải năn nỉ sớt phần người khác cho ông.

Nhưng vụ nước sạch Caklaing mới hãi. Từ buổi chiều hè năm 1995 Hani dẫn ông Tây Mc Murdo đi dọc đường mương Nhật về làng để tâm sự nỗi “dân quê Chăm đang dùng thứ nước này vừa để tắm rửa, nấu ăn và cả uống đấy” khiến ông Tây kinh hoàng, đến bức Thư trả lời; của Phó Chủ tịch tỉnh gởi ông Jeff Mc Murdo ngày 7-12-1996, sang thư Giới thiệu đơn vị quản lý dự án viện trợ của Canada tại thôn Mỹ Nghiệp; do Chủ tịch kí ngày 20-1-1997, để đến khi dự án hoàn thành là cả câu chuyện li kì gay cấn. Hani từ Sài Gòn đón xe về quê nghe Ban quản lý thôn báo cáo tình hình nghèo khó để xin dự án, anh Trưởng thôn mang cả bản Báo cáo từ cuối năm ngoái ra đọc trước đại diện Đại sứ quán Canada. Cái ông Murdo này chả hiểu mô tê gì, quay sang hỏi Hani cũng không hiểu quý quan cấp thấp nhất tổ chức hành chính này đang họp hành gì nữa. Cuộc hành hạ nhau kéo dài gần tiếng đồng hồ mới chịu kết thúc để Hani giao hồ sơ dự án. Hồ sơ đó được gởi đến Hội Phụ nữ tỉnh rồi tiếp tục số phận nằm phủ bụi. Thời hạn ông Murdo làm việc tại Việt Nam sắp mãn, mà dự án vẫn cứ bị ngâm. Anh Hướng vừa được ngồi ghế Trưởng thôn. Hani lần thứ chín về làng làm cuộc đốc thúc cuối cùng, bởi tôi bảo: - Thôi em thả nổi nó đi, cực quá đỗi mà chả tới đâu. Hani một mực, kéo luôn anh Ngọc anh họ tôi Trưởng Trạm Thủy nông huyện vào cuộc. Ông Murdo hẹn chia tay tôi tại một quán nước ở đường Đồng Khởi, để quy hồi cố hương. Râu quai nón rậm, đẹp trai với đôi mắt buồn.

- Perhaps one day I can make a visit to My Nghiep and hopefully see a Canadian contribution to the village. I hope so. - Ông nói.

Thế mới biết danh dự của Tây. Ông vẫn thư liên tục cho tôi và Hani, cho đến khi tôi chụp vội mấy tấm ảnh công trình Nhà Mẫu giáo với mấy vòi nước sạch gởi nhanh cho ông vào tháng 7-1999, ông mới Thank you. Tôi nghe rõ ông vừa buông một tiếng thở dài!

Nghe tin tôi quen Trụ, cha mẹ anh em bè bạn ô là giật mình thột. Ai đời ngôi sao sáng của cộng đồng lại đi ưng cái bà hai mặt con từng đi hoang tận trời Tây trời Đông! Tôi dỗ mẹ: - Sau này tụi con làm chuyện gì đó không đến nỗi nào, mẹ à. Thế thôi. Một phần tư thời gian của cuộc đời, không kể vụ cuộc “cách mạng đệ tam kì” về thổ cẩm, Hani đã mang lại cho Caklaing, cho cộng đồng bao nhiêu là ích lợi. Chúng ta có và chúng ta chia sẻ. Người nhận cám ơn đã đành, ngay kẻ cho cũng phải nói lời cảm tạ. Là huyền nghĩa của tạ ơn.

Inrasara —★— HÀNG MÃ KÝ ỨC ebook©MotSAch —★— TVE-4U©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản Văn Học
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.