Tôi sống và làm khổ những người xung quanh. Không chừa trừ ai.
Bởi nhiệt tình tôi và tính không vồn vã của tôi. Bởi lập dị tôi và dễ hòa đồng của tôi, ngu ngốc tôi và lanh trí của tôi. Ăn nói vô duyên và hành vi khờ khạo của tôi. Bởi tác phẩm tôi và mấy trăm bài báo lăng nhăng hoặc nghiêm túc của/ về tôi. Nổi tiếng và vô danh tiểu tốt của tôi. Thành thật ngây ngô của tôi và cả nổi hứng bốc đồng của tôi. Không chừa ai. Từ cha mẹ anh chị em đến bạn bè, người thân kẻ lạ, xa và gần, đồng hay khác tộc, Pháp, Việt, Padí, Tày, Miên...
Trong thế giới mênh mông chật chội này, con người sống và làm cho kẻ khác đau khổ. Nhất là tôi. Con người ít cảm thông nhau, ít có khả năng cảm thông, mang ý hướng tìm hiểu để cảm thông thì càng ít hơn nữa. Ngay cả với người sống cạnh ta, sẵn sàng đưa tay về phía ta khi ta ngã quỵ.
Năm tôi ba tuổi hơn, cơm chiều, không hiểu sao mẹ sai chị bế tôi bỏ ngoài cổng khuôn viên nhà, đóng lại. Trời chạng vạng tối, dù cổng chỉ cách sân trải chiếu ăn có dăm bước, nhưng tôi sợ ma, khóc lăn lộn, đập bùm bụp vào cánh cửa đan mấy thanh tre trét phân trâu. Cha bảo chị mở cho tôi vào, nhưng rồi mẹ lại kéo tôi ra nữa. Ba bốn lần như thế. Ba bốn hôm như thế. Cha mẹ suốt ngày ngoài đồng, tôi phải làm cái gì đó bướng lắm song thân mới có hành vi như vậy. Mãi sau này tôi vẫn không hiểu. Hỏi mẹ, mẹ chỉ nói hồi nhỏ mi ương lắm.
Rồi bất ngờ, tôi vỡ ra. Kí ức tuổi thơ lóe qua sương khói mù mờ đã cứu vớt tôi.
Tôi vốn không chịu dơ. Mẹ kể trong mấy con, tôi là đứa cai bú dễ nhất. Năm tôi hơn tuổi, một hôm mẹ chơi nghịch, chỉ một lần quẹt bã trầu đo đỏ lên núm vú là tôi thấy ớn. Mấy ngày sau vú căng sữa mẹ kêu đau nhức, năn nỉ mãi tôi vẫn không ngó ngàng tới. Tôi nhìn mẹ vắt sữa bắn ra, những tia sữa trắng.
Mấy buổi cơm chiều hôm xưa ấy, mẹ đã dùng tay bốc miếng cá và lựa xương cho vào chén cơm của tôi. Tôi bỏ ăn, không nói một tiếng, dù tuổi đó tôi đã sõi. Có dỗ ngọt hay đét đít tôi vẫn không là không. Thế là phải trị. Dù sao lòng cha mẹ mà: Tôi lại được mở cổng cho vào. Chén cơm tiếp theo, tôi trỏ miếng cá khác. Mẹ cứ thế, tôi lại bỏ. Không ai có thể chiều được. Nên, có tối tôi phải mang bụng đói đi ngủ. Mạng tao sao khổ thế này - mẹ nói, và tôi thấy mắt mẹ ngấn nước. Nửa đêm nghe cào ruột tôi thức dậy đòi cơm, mẹ chan nước mắm không, tôi ăn ngon lành rồi ngủ tiếp.
Những ngày cha mẹ đi Hiếu Thiện Palau; quê ngoại, tôi cũng hành bà cố nội như thế. Thói quen ăn bốc của bà cố mấy lần khiến tôi bỏ dở bữa. Chỉ mỗi bà Lộc bà vú nuôi Mỹ Nghiệp Caklaing; mới hiểu và chiều tôi, khi mẹ sinh em gái, bà qua phụ mẹ. Nghe kể bà bỏ làng đi hoang mấy chục năm sống với người đàng quê quen “thói văn minh” nên biết tánh ý tôi. Từ đó mẹ quen dần, nhưng lắm lúc cũng “quên”, lại bốc cho tôi. “Sau này mày có mà ăn cứt con mày” - mẹ dỗi.
Anh Đạm thì lành hơn. Qua ngoại sống tạm, anh chỉ đòi mỗi “nước uống”! Nước phải có màu đùng đục; ia mưbrah; như ở Caklaing mới là nước uống, còn lại là nước nấu, không uống. Ở Palau đào đâu ra loại nước đầy chất vôi kia chứ. Mẹ lanh trí, ra sau nhà cho ít nước vo gạo vào, thế là lừa được quý tử.
Mẹ con mà đã thế, nói chi ngoài mênh mông đời. Đó là chưa nói đến chuyện cố ý bôi tro nhau. Vì lợi ích nhỏ bé nào đó, tranh nhau chiếu trên chiếu dưới hay danh tiếng vu vơ nào đó.
20-9-2008, sinh nhật thứ năm mươi hai. Năm mươi hai năm vèo qua như gió.
20-8-2008, tôi rót ly rượu cô độc kỉ niệm ngày vào Sài Gòn. Mười sáu năm với chục cuộc dời nhà qua mấy phường, quận khác nhau. Đời tôi là chuỗi cuộc di dời. Dân quê hay làm người phố chợ cũng thế. Từ một đến ba tuổi: Palau, từ năm tuổi đến hết Tiểu học: Caklaing; những năm Trung học sống hết kí túc xá Bauh Dơng; Phú Nhuận - Tháp Chàm đến thị xã Phan Rang. Tại Phan Rang, mỗi cuối tuần tôi lang thang mấy làng. Sau đó là Caklaing rồi Ninh Chữ, Sài Gòn, Nha Trang, Phan Thiết,... Vào miền Tây buôn bán, tôi phiêu giạt từ Trà Vinh cho đến Cà Mau, Sóc Trăng. Sống đất Sài Gòn, mười sáu năm, cả vạn cuốc xe, mấy ngàn cuộc gặp mặt. Với Chăm, Kinh, và bao nhiêu tộc người khác. Trong lẫn ngoài nước. Văn chương hay kinh doanh, tôn giáo và chính trị, thầy tu với dân nhậu, thân hay sơ, bằng hữu hoặc đối thủ. Mười sáu năm nhập làng chữ nghĩa, với bao biến thiên cuộc thế, bể dâu lòng người. Chê bai hay ca tụng, gièm pha hoặc tâng bốc. Tràn vinh quang giữa chốn đông người hay gặm nhấm nỗi buồn trong cô độc đắng chát. Buồn và vui, được và mất. Có thể nói, điều đáng giá nhất tôi học được là: Hiểu, thì càng yêu hơn.;
Mệnh đề này tôi đã một lần viết đậm ở website Chamyouth;, khi kể câu chuyện sinh viên người Kinh Sài Gòn, sau hai năm lăn xả làm ăn với bà con Bàu Trúc Hamu Crauk; bị vài bà con quỵt, đã giận dỗi bỏ cuộc. Tôi nói: “Thì bạn làm ăn có lãi ít nhiều rồi, thiệt thòi chút đỉnh có sao đâu!”
Khi hiểu được mẹ, hiểu được tánh bốc đồng của tôi làm khổ mẹ, tôi càng yêu mẹ hơn. Như tôi đã hiểu và yêu Ong Phauk, xưa.
Phauk Dhar Cơk sinh 1917, ông họ nội tôi bị người đời cho là tàng tàng. Ông có thể ngồi kiết già rồi bất ngờ nhấc đít nhảy qua cán cuốc cao cả tấc trước mặt. Đứng giữa sông tắm bằng bùa chứ không cho nước bắn ướt mình. Nửa đêm một chân vắt lên cổ đứng góc ngã ba đường làng. Hút tẩu thở bằng một bên mũi hoặc xông phổi bằng thứ lá cây hôi rình. Vân vân.
Không ai chịu nổi tính khí cùng mớ hành vi kì quặc này. Không vợ con, mỗi tháng ông qua trú tạm bợ với gia đình mấy dì tôi. Trong đó mẹ tôi (chị cả) và dì Bề (em Út) đã phải cưu mang ông khốn khổ hơn cả. Thuở Tiểu học, tôi với Lệ ưa chọc ông. Chọc nhưng vẫn thấy lạ. Lạ và gờm. Đáng gờm nhất là va-li sách ông luôn giữ khư khư bên mình. Như vật bất li thân.
Không ai hiểu ông. Cũng chả ai chịu tìm hiểu nữa. Đồn rằng ông bị akhar bbơng; - chữ ăn, chữ hành. Dân làng kinh hãi va-li sách đó. Tôi dù rất tò mò, cũng tránh xa. Nhân vật này ám tôi đến mấy chục năm sau cứ trở đi trở lại trong thơ văn tôi, với vài tên khác qua nhiều biến tướng khác nhau.
“Hành vi, cử chỉ, cuộc đời Dhan Than vừa làm xa lạ đồng thời lôi cuốn và gây cho tôi nỗi hứng thú đau đớn.
Không một ai hiểu ông. Có lẽ ông cũng không cần ai hiểu mình, chia sẻ cái mình sở đắc hay tin tưởng. Khi hành vi, lối xử sự của ông bị thế hệ đàn anh những năm sáu mươi đưa lên sân khấu nhà quê bỡn cợt (sự vụ gây cho mẹ tôi không ít tủi hổ) hay khi Cao Xuân Hoang tự tuyên đồ đệ chân truyền của ông qua khoa xem gò bàn tay hướng nghiệp, họ cũng không tí ti nào hiểu ông. Cả khi vào mùa xuân năm 1979, ông bỏ ra miền Trung trôi giạt ăn xin cho đến khi thân tàn ma dại trở về tháng 11 năm 1984 để chết vào cuối năm đó, cũng không một ai hiểu ông. Chắc chắn đây là hiện tượng siêu cá biệt trong xã hội Chăm. Mẹ, các dì tôi đã khóc và tức tốc chạy tiền xe giục ba ông anh họ tôi lục tìm ông khắp mọi xó xỉnh mấy tỉnh thành đến khi bắt gặp và cho ông biết ý định thì bị ông cầm roi mây dài đến bảy sải đuổi chạy thấy ông bà.
Ăn mày! Đấy là khái niệm gây kinh hoàng, nghĩ tới thôi cũng đủ khiến chế độ mẫu hệ Chăm tái mặt chứ đừng nói làm. Mà ông lại là Thầy pháp cao đạo của một dòng họ lớn nhất làng. Tại sao? Quần chúng Chakleng đã không tự hỏi mà vội quy kết. Chăm không còn khả năng cảm thông nhau.”
( Chân dung Cát;, 2006)
Những năm Trung học ở Phan Rang, khi học biết qua triết lý Yoga, tôi mới lờ mờ hiểu ông. Đến tuổi mười tám, tôi dám chắc là đã hiểu đúng như ông là. Tôi dần nể trọng đứa con bị hất hủi này. Khi bỏ Đại học về quê, tôi nhờ ông bày cho vài thế võ Chăm. Nhưng cả tôi cũng không chịu nổi tính khí ông. Ông bỏ làng ra đi. Môn võ Chăm thất truyền, vĩnh viễn. Ông mất sau thời gian dài đi hoang. Va-li sách tiêu biến. Hay ông hủy nó? Tôi hỏi chú Chương chồng dì Bề, nơi dung dưỡng ông những ngày cuối đời, không ai biết.
Tôi hiểu hành vi ông biểu hiện lối hành đạo quái dị. Ông được bí truyền từ người cha. Là môn đệ trung thành của Yoga thực hành sai phương pháp, bị tẩu hỏa nhập ma. Đây là nhà Yogi Chăm cuối cùng, có lẽ. Hiểu ông, tôi quý và yêu ông hơn. Thời xa xưa, ông được phong thánh nữa không chừng.
Vậy đó, một chuyện nhỏ trong xã hội đã thế, nếu không chịu mở lòng tìm hiểu và thiếu hiểu biết, ta khó giải mã nó. Không hiểu sinh xem thường. Từ không hiểu đến hất hủi cách nhau nửa bước chân. Marx nhạo triết gia xưa nay mãi lo giải thích thế giới, trong khi bổn phận của ta là thay đổi thế giới. Camus nghĩ khác: Chưa hiểu thì làm sao mà thay đổi. Thay đổi, thế giới đi õng ẹo gẫy gập, nguy hiểm. Tôi gần Camus hơn. Tìm để hiểu.
- Khi bị vài Cam drei; Chàm mình; cố tình hiểu sai lệch để phê phán lệch lạc, Sara buồn không? Hoặc có nghĩ cách phản công lại? - PT hỏi tôi ở góc hành lang hội trường trường Dự bị Đại học đường Nguyễn Chí Thanh hôm Rija Nưgar; sinh viên Chăm Sài Gòn mùa hè 2008.
- Ừ, buồn thì có buồn, nhưng nó qua nhanh, - tôi nói. - Đơn giản: Tôi hiểu họ.
Đâu phải Chàm mình; không thôi. Với giới văn nghệ sĩ cũng vậy, bao nhiêu là chuyện. Chỉ bởi ngộ nhận hay không đồng quan điểm mà cáo giác nhau bằng lời lẽ nặng như đá. Có bao giờ ai thấy tôi hằn học hay nặng lời ở đâu không? Tìm hiểu, minh giải hoặc quá lắm là đưa lời đùa cợt. Với Cam drei;, tôi đính chính rồi, im lặng. Khi không thể yêu thương được nữa thì cứ im lặng tha thứ mà bước qua, Nietzsche nói thế. Tôi biết Chăm cô đơn, từ trong nước ra tận trời Âu biển Mỹ. Cô đơn hơn, đó là kẻ ưu tư. Sự thể gây cho tôi đau xót. Những người thầy, cô bác, anh chị em hoặc bạn hữu thân hay sơ. Viết lách giữa mênh mông cộng đồng Việt, hòa đồng và chịu chơi, cho dù chưa bao giờ gọi là bị phân biệt đối xử, nhưng lắm lúc tôi cô đơn.
Rồi tha hương ngút mắt tha hương
Rồi thiểu số giữa lòng thiểu số
( Sinh nhật cây xương rồng;, 1997;)
Sống Sài Gòn, tôi trải nghiệm sâu đậm nó. Bè bạn văn chương, sau cuộc chơi thâu đêm, tiếng tụng ca ngất trời, bất chợt tôi thèm nghe tiếng mẹ đẻ. Rủ anh em ngồi quán bia hơi hay góc phố cà phê cóc. Chỉ để nhìn mặt nhau, cũng đủ.
Con người muốn thế giới không quên mình. Nỗi không muốn bị lãng quên này từng cuộn nhân loại lao tới giành giật bao thành tích chói lọi. Về văn nghệ, thể thao hay tổ chức xã hội, nghiên cứu khoa học với hoạt động từ thiện. Không hiếm trường hợp, dù mọn tài, ta vẫn thèm người đời nhớ. Để làm gì không biết, nhưng nhớ. Rồi, thay vì làm công ích, ta khao khát nỗi nhớ đến, biết đến ấy bằng lối tagan ar; băng bờ. Nhanh hơn, gấp gáp hơn. Ta có hành vi thô bạo, ngôn từ hỗn hào. Ta thành kẻ đốt đền lúc nào không hay.
Ở xã hội Chăm, nỗi la to sự việc nổi cộm hay lớn lối cáo buộc vài nhân vật có chút ít danh còm, xuất phát từ mẫu số chung đó. Xã hội rộng lớn thì chẳng sứt mẻ ai, nhưng với Chăm một dúm sa kacaw mauk;, sự thể dễ thấy hơn, lay động cộng đồng mạnh hơn. Bởi Chàm mình; quá nhỏ, quá ít. Tôi không cho là tệ, nỗi ấy. Tôi hiểu nó như thể cách giải thoát mặc cảm hay chạy trốn cô đơn tiêu cực. Cứ tạm xài dụng ngữ xã hội chủ nghĩa khoái dùng đó. Tôi hiểu họ, như người bạn hiểu người bạn cô đơn.
Như tôi hiểu mẹ, khi mẹ bỏ tôi khóc ngoài cổng những tối trời năm xưa ấy. Tôi đã làm khổ cha mẹ.
Mẹ và cha, hai dòng sông đau khổ đổ vào bể khổ của đời. Mẹ cha cơ khổ mọi bề. Cả từ phía con cái. Khi hé thấy ít nhiều bí mật nỗi người, tôi tìm cách làm vợi bớt đau khổ kia và ráng tránh làm phiền lòng cha mẹ. Bởi, thời thanh niên, dù không cố ý, mấy đột hứng của tôi đã gây cho song thân bao buồn rầu. Đang ngồi Đại học hay làm việc ngon lành, nổi máu phiêu giạt là tôi bỏ giảng đường hay làng mạc - đi. Trường ca Lãng tử, tình yêu, quê hương; dài non ngàn câu lục bát sinh nở dọc tháng ngày lang bạt ấy.
Lại đi
hồn lạnh sầu đầy
bỏ trăng duyên hải với mây quê nhà
bỏ bờ nắng cỏ lơ phơ
bỏ chân chim
ngược dòng
hờ hững đi
...Rồi đi
rồi đi
rồi đi
biệt như mây thuở chưa kì hẹn sông...
Đi, có khi cả tháng mới lò mò về. Nhất là từ tuổi hai mươi. Năm 1978, tôi cạo đầu vào tu chùa tại Nha Trang được hơn tháng, sau đó là ba tháng lang thang bãi biển Ninh Chữ ở nhờ nhà người quen với nổi hứng học đòi làm đồ đệ Oshawa. Thế là mỗi mươi ngày mẹ đội gạo lứt muối mè xuống “thăm nuôi” tôi. Bóng mẹ cao, gầy, dáng đi thẳng bước thoăn thoắt theo lối cát hai bờ xương rồng trưa. Mẹ lo từng tí ti cho tôi. Trong lúc tôi mơ màng suy tư về Tính thể và Thời gian với làm thơ đuổi còng. Tôi còn mang ý nguyện lên núi Chà-bang Cabbang; sống đời tu hành nữa. Hãy tưởng tượng, đó là vào năm nạn rầy nâu khiến dân ruộng cả khu vực đồng lúa miền Trung mấy vụ liền liểng xiểng.
Tôi nhớ lần đầu mẹ mở to mắt nhìn như ma nhập vào cái đầu cạo trụi lủi của tôi! Tôi không thể nào quên ánh mắt đó. Chăm có ai cạo như thế đâu, trừ phi hắn mắc chứng tróc vảy da đầu hay bị khùng.
Trước khi gặp nhau, cha đã có một đời vợ. Nghe kể chuyện cha đau lòng như không thể đau hơn. Với chồng trước ở Hiếu Lễ Cauk;, mẹ sinh con gái bị yểu. Chồng mất, mẹ ở vậy cho đến khi hai người gặp nhau. Cha hơn mẹ mười tuổi. Sinh ba đứa đầu cũng yểu nốt. Bà con bày xin chị cả về nuôi (phải thật xấu mới thọ), từ đó anh em tôi được trụ trên đời. Chị vừa xấu gái vừa thiểu năng trí tuệ nên học không vô, được cái lòng biết đùm bọc lũ chúng tôi. Vậy đó, anh em tôi đã sống theo chị. Chị Hám, anh Đạm, rồi tôi thằng Klu;, tới em gái Những, sau đó là hai em trai Ngòi và Lành.
Sau út Lành, tôi còn có bé gái nữa. Trắng trẻo và xinh lắm, mẹ nói. Hè năm 1970, được ba ngày tuổi thì bé đi. Tám giờ sáng, mẹ bảo anh Đạm chạy kêu cha đang dưới đồng Gam Dei. Tôi như kẻ ngoài cuộc. Người lớn giấu tôi chuyện gì đó. Bé chưa là thành viên gia đình nên họ không muốn trẻ con thiết lập dây nhợ quan hệ với nó. Chú Chương em rể mẹ làm vài nghi thức bí mật ở phòng trong. Non nửa giờ sau cha về tới. Rồi cha đi trước, chú Chương ôm bọc nhỏ theo sau, cuối rốt là anh Đạm cắp mủng đựng chai rượu, trứng, trầu cau. Vội vã. Bé được chôn ở Prauk Kamar nghĩa trang dành cho trẻ yểu mệnh. Lên rẫy, đi ngang mấy lần, rất muốn hỏi anh xem đâu là mộ bé, nhưng tôi cứ sờ sợ. Từ đó, tôi mất hẳn dấu vết em gái út của mình.
Mẹ sinh chẵn chục, cúng cho trời đất đến phân nửa, chừa lại năm anh em tôi! Nông thôn Caklaing, anh em tôi đều được học hành bằng chị bằng em. Là niềm hãnh diện đồng thời là đầu mối bao cơ cực của cha mẹ, vốn nông dân vô sản toàn phần.
Cha mất vào đầu mùa hè 1998, tám mươi hai tuổi. Mẹ thì cuối thu năm 2007, được tám mốt. Tôi thử làm cái kiểm kê: Lũ lượt sáu mươi ba đứa con, cháu, chắt! Với Chăm, thế là đủ an tâm vĩnh viễn về nhà. Cha “đi” khá nhanh, chỉ sau tuần nằm giường, vừa kịp tôi lên xe đò Sài Gòn về đến nhà trước hai tiếng. Sạch sẽ và nhẹ nhõm. Năm trước đó, mỗi chiều cha còn xách cuốc ra thăm ruộng. Một lần vấp bờ ngã, anh em tôi nói quá, cha mới chịu ngồi nhà quanh quẩn với mấy cháu. Cha tắt thở, tôi hôn lên trán cha, nhưng không khóc. Mẹ - tôi đã không ngăn được nước mắt. Có lẽ do mẹ “chết khó” hơn. Bốn mốt ngày nhớ quê nằm bỏ cơm;, hai bận tôi bỏ việc Sài Gòn nhảy xe về. Vẫn sạch sẽ, nhẹ nhàng, nhưng mẹ phải qua ba lần ppok trun; bế xuống;nền chiếu.
Cha cực lắm. Làm ruộng rẽ xa nhà non mươi cây số. Đời nông dân một cảnh hai quê. Quê ngoại: Hiếu Thiện, quê nội: Mỹ Nghiệp. Anh Đạm bệnh vặt, có chuyện là mẹ cho người chạy ra ruộng kêu cha. Lại phải bỏ cày về. Xoong cơm treo lên cây làm mồi ngon cho lũ kiến, hay cất giữa ruộng nước (không ít lần chó tha). Lắm bận, xong buổi cày chiều, ba cha con lội bộ về Caklaing. Tôi trên lưng cha, nghe áo cha ướt đẫm. Tấm áo màu chàm nắng mai sẽ làm khô để nổi lên mồ hôi muối trắng vẽ bản đồ chằng chịt. Cha khá đẹp, nhưng không sáng bằng ông ngoại, do vết khắc khổ sớm hằn lên mặt. Sau này, gần sáu mươi cha để ria, rồi vài năm sau nuôi cả râu, dày và đẹp. Từ đó khuôn mặt cha thoáng và thanh thản hơn.
Cha bước nhanh, nuốt từng đoạn lối rừng, ngả sông, đám ruộng. Anh Đạm lon ton theo sau. Tới nơi thì trời tối mò.
- Chú Piet nó ơi! Chú Piet... mở cổng giùm mình đi! - tôi nhớ mồn một tiếng cha gọi to.
- Ai đó?
- Tôi đây mà, phó Thảo đây!
Ba cha con tôi đợi chú mở hai lần cổng ấp chiến lược. Con Mực mừng hết biết, vẫy đuôi nhảy chồm lên hết người này đến người khác. Kéo dài mãi vậy cho đến năm tôi vào lớp Năm, gia đình mới định cư hẳn ở Caklaing.
Cha hiền thế nhưng không hiểu sao khó nắm mệnh trâu, bò. Cặp trâu cày hay kéo xe, thế nào cũng có con chứng. Từ cặp Kiểu - Móc ông bà ngoại làm của hồi môn cho đến cặp Móc - Cóc, hay cặp bò Móc - Kiểu sau này. Luôn luôn có con to con kèm cặp con nhỏ con hơn, lớn tuổi bên cạnh nhỏ tuổi hơn nên khi con này hết đát thì cha đổi con khác, có bù tiền chút đỉnh. Có thể viện lý nhà nghèo không đủ tiền sắm cặp mới. Nhưng sao cha không đổi tên đi? Biết đâu nó có thể cải mệnh. Cặp nào cũng không thôi Kiểu, Móc, Cóc. Janauw; thằng; Móc đang hiền đang lành, ở tuổi đứng bóng khi không giở chứng ghen với mấy nhóc mới lớn, cứ nhìn thấy tụi chúng là đuổi báng trối chết. Có bận cha suýt bị bắt đền. Freud có thể giải thích được chăng? Bị thiến (tôi nhớ khi bị cho vào nẹp thiến, nó kêu còn hơn sắp bị mang đi mổ thịt) không làm ăn gì được, thấy bọn trẻ tung hoành dọc ngang làm chị em sướng, nó mới nổi điên lên. Janauw; Kiểu thì thành trâu hoang; kabaw baung;, phải vận đủ chiêu mới bắc được nó vào xe củi, có khi mất cả giờ.
Những lần ba cha con tôi đánh xe lên rừng đốn củi, xe trâu đi xuyên đêm, cô độc và bất trắc. Đi từ gà gáy canh hai và trở về vào buổi chiều mặt trời gác núi. Trên đường rừng ấy, bao nhiêu chuyện kể về anh tiều phu bị cọp vồ, vài cô gái chăn dê bị Sămri; loài dã nhân; dụ lên núi quên lối về đành sống luôn đời rừng rú với chúng. Nghe mà gai người. Lắm khi mấy bác nông dân Chăm hú nhau đánh xe lên cả đoàn non chục chiếc, tiếng bánh xe kĩu kịt vang vào đêm. Cũng bớt đi nỗi sợ hãi vô hình. Sau năm Bảy lăm, xe trâu chú Dọng bị bỏ trơ xương ngoài mưa gió. Nó được thay bằng xe bò tiện lợi hơn. Thế là Chăm Bà-la-môn linh động quang quảng nuôi bò làm sức kéo. Bà con bảo Chăm chỉ thờ mỗi bò thần limauw kapil; thôi, chứ mấy loại bò tạp thì miễn. Vài chiếc xe trâu sống sót bị đẩy đi sống đời bảo tàng. Bảo tàng cùng bao kỉ niệm tuổi thơ tôi.
Anh chị tôi hưởng cả đức cha lẫn mẹ. Mẹ hay giúp người, một tay gánh vác cả công chuyện chi họ, từ khi bà nội mất. Mẹ mất, dì Xế khóc chị Cả đi rồi còn ai lo chuyện họ hàng nữa đây! Cha thì đến con kiến có cắn cha chỉ đưa tay phủi nhẹ chứ không sát. Trưa, mưa, rắn nước kéo đàn lũ cả mấy chục con bò khỏi hang tìm mồi trong đám ruộng chưa ải. Có con to bằng bắp tay. Tôi với anh Đạm chơi trò đuổi đá chúng. Thấy vậy cha bảo tụi bây tha cho, chúng cắn chết ai đâu!
Mộ mẹ ở đầu bên kia nghĩa trang làng, ngay lối vào đám rẫy. Nghĩa trang nằm trên mô đất cát cao, cách làng non cây số. Từ dưới chân mô đất đi lên cổng rẫy hơn trăm thước. Cây cối um tùm, lối đi chỉ vừa đủ thân người lách qua. Muốn vào rẫy, tôi và anh Đạm phải đi qua hai, ba nấm mộ mới. Canh đám két ăn bắp vừa no hạt thì lên vào tảng sáng hay lúc mặt trời gác núi, còn canh loài dông phá chồi dưa non lại phải đúng trưa nắng. Nghĩa là toàn giấc vắng người! Ma hù hay vãi cát thì hãi hết biết. Vậy mà lắm lúc tôi phải lên rẫy một mình. Cứ đóng cổng rẫy xong là tôi nhắm mắt ù chạy xuống dốc cát.
Mẹ gen sợ ma, hay dẫn tôi đi theo. Một sáng, giận mẹ sao ấy, trên đường về, tôi lủi vào đám trâm bầu trốn tịt khiến mẹ huy động anh em họ đi tìm, réo ơi hỡi tôi mới chịu bò ra. Họ bảo tôi bị bhut padơp; ma giấu. Mẹ một phen hú hồn.
Lại chuyện sợ ma. Thuở Đệ Lục trường Pô-Klong ở thị xã Phan Rang. Thứ bảy về quê. Đã sáu rưỡi tối, cha đi theo nước ruộng chưa thấy về. Nhà vắng tanh. anh Đạm không có nhà. Mẹ sai tôi xách cơm ra ruộng tìm cha. Không thì cha mầy đói, - mẹ nói.
Cánh đồng tối om om cách làng đến hơn cây số. Vài khúc mương phải lội qua, bao lùm cây, mấy lối quanh ngả quẹo. Ngán nhất là đồi đá xương rồng La Bbon âm âm u u nằm ngay mé ngoài cổng ấp chiến lược. Từ đồi đá đó, sáu giờ tối là dậy lên mùi thối kì lạ mà mẹ bảo ia habai bhut; mùi canh ma;, sau tôi mới hiểu đó là hương loài hoa độc nở về đêm. Đi đâu về tối, tôi cắm đầu chạy thục mạng vượt mấy chục bước dài qua đồi đá chết tiệt ấy. Ở Cabbak Ngauk; Cổng Trên của làng, đám trẻ hãi nhất là Puh M’Đập với dãy xương rồng um đen bọc cây gađak; cổ thụ, một bên là kut; nghĩa trang; tộc mẫu, bên kia mấy nấm mồ vô chủ; nghe kể Rimaung jauh laiy; Bà [Cọp] Què; còn làm nơi ẩn nấp để mò vào chuồng bắt dê khi trời chạng vạng. Còn ở Cabbak Anak; Cổng Trước là La Bbon.
Tối nay, tôi phải đi một mình. Đi, chứ không phải về.
Tôi đã hai lần đụng ma. Lần đầu, năm 1979, ngủ một mình trong ngôi nhà cổ mấy năm bỏ hoang, nửa đêm thức dậy đi ngoài. Tôi đứng bờ rào, tiểu. Bếp nhà đối diện có ánh sáng như ai đang đun nấu. Chưa hiểu thế nào thì một cầu lửa cỡ hột vịt từ bếp kia bay ra, thẳng hướng tôi đứng. Tôi chết lặng người. Cách bờ rào khoảng vài bước, hột vịt lửa đột ngột quẹo qua một căn nhà bỏ hoang khác rồi phụt tắt. Tôi lao nhanh vào nhà, nằm run bần bật, mắt mở thao láo cho tới sáng.
Lần khác, năm 1988, lại một căn nhà cổ từng bỏ hoang ở cuối làng. Căn nhà rách nát gia đình tôi tha hương trở về ở tạm chưa đầy năm. Hani sinh Jaya được một tuần. Tôi ngủ mép ngoài giường canh bé, Hani nằm phía trong. Nửa đêm, tôi lơ mơ thấy bàn tay đen thui thò ra nắm hai chân mình, kéo. Hai mắt tôi vẫn còn mở, mơ mơ màng màng. Nắm chặt thanh gỗ giường, tôi chống hai chân vào bức tường đối diện để khỏi rớt. Nửa mình tôi chơi vơi như thế khá lâu. Tôi vung mạnh cái đạp. Gắng sức quá mức khiến tôi vùng thức giấc. Tôi ngồi dậy, quan sát xung quanh: Không gì cả. Hai bàn tay kia biến đâu mất. Tôi ngủ tiếp. Nó lại xuất hiện lần nữa với hành vi tương tự. Tôi định tâm theo dõi. Tôi nhớ đã đọc đâu đó âm khí (nhà cổ với khí của phụ nữ mới sinh) dễ nhiễm âm môi trường. Chỉ có loài sắt mới trị nó. Tôi tìm lấy cây thuổng đặt ngay dưới gối nằm. Mãi lúc đó mới yên chuyện.
Lúc này, cha đang theo nước ngoài kia. Tôi không thể không đi. Đến đồng Hamu Parya thì trời tối mò. Tôi kêu to vài tiếng: Không một âm vọng. Tôi vừa chạy vừa kêu, cha ơi cha. Vắng ngắt. Tôi hoảng lên. Thế là nhắm mắt nhắm mũi chạy ngược về. Lúc này mới hãi nhất. Sau lưng không còn ai cả. Sông nước, gai nhọn, lầy lội. Bất kể, tôi chạy và chạy. Tôi đụng ngay cha đang gấp gáp bước ra cửa ngõ nhà.
Tôi làm việc bất kì chuyện lớn nhỏ nào cũng từ khá trở lên. Mở quán cà phê và tạp hóa, vẫn chỗ ấy, trước đó bao nhiêu người thuê đều đổ nợ, tôi làm, bộ mặt nó đổi hẳn. Kế toán Hợp tác xã, chích heo, câu cá hay cả làm thơ, nghiên cứu,... cũng nên cơm nên cháo. Biết cha có hãnh diện về thành tích của tôi không nữa. Tôi không mang mấy cuốn sách hay tấm huy chương, giải thưởng ra khoe cha. Tôi chưa rước cha vào thăm nhà mới tậu ở Sài Gòn để cha biết qua cuộc sống người phố chợ. Có lẽ cha cũng không thích chuyện ấy. Nhưng điều tôi biết chắc là cha rất vui khi biết tôi có in sách về các ariya; Chăm, về Ariya Glơng Anak. Chính cha là người vỡ lòng tôi con chữ đầu tiên.
Caklaing làng tôi bạt ngàn con sông. Đi qua con sông lớn Kraung Bal Caung; Sông Lu, thì tới làng. Mỹ về lập huyện An Phước, Caklaing mới có cầu, chứ trước đó, muốn lên Phú Quý, dân làng phải lụy mỗi ông lái đò già, hoặc đi vòng ngã trên. Từ con sông này, tẻ ra mấy chục nhánh khác. Không làng Chăm nào được trời ban phát nguồn nước dồi dào như thế.
Sông quê hương với tôi gắn bó nhau gần như là thứ định mệnh. Từ thuở bé thơ. Không như rừng. Tôi rất ngán rừng, nhất là khi rừng về chiều. Rừng mang chứa nỗi dọa nạt khó hiểu. Tôi cũng không hạp với rừng.
Lớp Đệ Thất, nghỉ hè, tôi theo ông anh lên rừng đào dông, loài bò sát sống dưới hang sâu lút đầu người, nếu là đất cát xốp thì còn sâu nữa. Thằng Đê, bạn chăn trâu bị sập hang dông, chết hai cẳng chổng lên trời. Quanh quẩn rừng cả giờ liền, tôi vẫn giỏ không. Hang đầu tiên sâu quá ngực, tôi bỏ cuộc. Hang thứ hai con dông chạy thoát lỗ phụ. Tôi hú Lệ được con nào chưa? Lệ kêu mới có hai. Thế là tôi chơi bài liều, quyết đào hang không có kabbon nắp; đậy miệng, nghĩa là chấp nhận rủi ro. Được tới đầu gối, tôi thọc tay sâu vào để dò lối quẹo. Đang khi cố moi lớp lá khô, tôi nhận cú đớp vào mu bàn tay, đau điếng. Tôi rụt tay ra: Con rết to tới ba ngón bám vào bàn tay văng ra ngoài. Cha mẹ ơi, rết gì mà to tổ chảng thế!
Tôi kêu thét lên, mọi người xúm lại đập chết nó. anh Đạm bảo loài rết rừng độc lắm. Tôi nằm lăn lộn trên đất, tụi bạn làm đủ cách vẫn không hết đau.
- Còn đào được nữa không? - Lệ hỏi, sau khi băng tay tôi bằng miếng giẻ xé từ tay áo.
- Hay xách giỏ theo tụi tao để chiều về luôn, - Anh Đạm nói.
Tôi đòi về. Một mình. Qua mươi cây số đường rừng. Tới nhà thì đã quá ngọ. Giờ nghĩ lại, vẫn còn rờn rợn. Bọn trẻ vô tình quá đỗi. Mất mạng như chơi. Thương, nhưng vô tình. Tôi nằm giường đúng hai ngày.
Những con sông của tuổi thơ thơ mộng tôi nhảy giỡn, tắm gội, lưu lại trong tôi vô vàn kỉ niệm ngọt lịm, mãi ám ảnh tôi. Ngay từ thuở lên ba, tôi theo bước chân cha, mẹ, anh Đạm làm quen với chúng. Sau này lớn lên, tôi dọc ngang hầu như thuộc lòng mọi xó xỉnh của Kraung Bal Caung, Kraung Likuk, Kraung Lakưk, Tơng Lamưy, Ribaung Lah, Ribaung Kanu, Ribaung Dhaung, Ribaung Pa-auk, Ribaung Li-aung, Ribaung Gilai, Ribaung Tum, Ribaung Lauw, hay những con đập luôn gắn với sông: Car Canang, Car Jađaw, Car Li-aung, Car Biruw, Car Pabiơm. Rồi các đập: Banơk Mưyang, Banơk Mưhwen, Banơk Mưkrưh, đầm: Danaw Kaxon, Danaw Aih, Danaw Padien, Bblang Kadang.
Không phải không lý do, khi Ppo Klaung Girai chọn Caklaing làm nơi sinh! Đất ruộng chưa tới trăm mẫu mà chằng chịt sông, mương, ao hồ. Bao bọc chúng là lũy tre. Chúng nuôi nấng tuổi thơ tôi. Các con sông đầy loài cá, cua, ếch, rắn. Là nguồn cung cấp thức ăn chưa hề biết cạn cho dân làng. Nhất là sông Lu Kraung Biuh;:
Sông Lu với cánh đồng quê tôi
như thần Shiva với thế giới
Shiva sáng tạo và hủy phá
sông Lu làm lũ lụt và bồi phù sa
khi sông Lu được vạch dòng quy hoạch
nó hết làm lũ lụt
cũng lúc thôi bồi phù sa
(Lễ Tẩy trần tháng Tư, 2002)
Tôi nổi tiếng sát ngư. Sát ngư, thì lắm lúc bị ngư trả thù. Ngạnh cá trê thì khỏi nói, nó đâm là ôm tay về cho mẹ nấu cháo nếp xơi đến ngày hôm sau.
Sông nước hiền dịu và đầy tình yêu thương, nhưng ở đó cũng ẩn chứa bao hiểm họa. Thằng [chú] Bánh suýt mất mạng trong buổi tắm sông. Chị Nhỏ đi nhá; bị nước sông cuốn trôi. Lakưk chết đuối ở khúc mà dân làng sau này đặt tên là Kraung Lakưk. Tại điểm đen này, bao nhiêu giai thoại mơ mơ hồ hồ về cô gái trưa vắng nhờ ông già cõng qua sông. Đến giữa khúc sông, cô gái bắt đầu tụt dần xuống. Nhưng ông lão sõi đời biết thế nào cô nàng cũng chơi lại trò cổ lỗ đó hòng nhận cho lão chết đuối, để nơi sông nước đêm hôm có bạn bầu tâm sự, nên lão cắp sẵn cây rựa sau lưng. Tụt nửa chừng thì đụng phải sắt, không thể tiếp tục. Thế là cô gái tự dưng đẩy mình lâm vào thế kẹt, đành phó mặc ông lão cõng về. Lão biến cô gái thành vợ như trong truyện cổ tích chăng? Kết cục không có hậu như vậy. Lão quyết bỏ cô gái chết khát, cho làm thứ ma ma, hết làm khiếp hãi bọn đàn bà con trẻ thiếu kinh nghiệm. Nửa đêm, cô gái kêu khát, xin lão cho miếng nước, mỗi giọt thôi! Tiếng kêu than khiến lão động lòng. Lão múc đưa cho cô gái một gáo nước. Đụng phải nước, thế là cô nàng tiêu mất!
Có gắn bó với sông mới hiểu và yêu sông. Bao nhiêu con sông quê tôi đã chết! Ai còn kêu hay nhớ tên của chúng? Rất ít. Có lẽ không. Có ai còn nhớ tiếng ếch đầu mùa, hay cò con vướng cành tre đập cánh hốt hoảng, hoặc cá tràu to dính câu bị bỏ quên chết sình? Nhà thơ lưu giữ kí ức cộng đồng, phần chìm sâu của kí ức. Nhưng chính tay tôi cũng góp sức giết chết các con sông kia.
Đời cha không miếng đất cắm dùi đúng nghĩa đen. Không cả mảnh đất rẫy. Thiên hạ cả mẫu, cha có mỗi Puh Xit; Rẫy Nhỏ hơn sào, đất lại xấu. Không rẫy thì đến mùa lấy đâu bắp, đậu ván cho sắp nhỏ ăn. Thế là xin rẫy bà con làm. Rẫy Bà Bingu ở Prauk Kamar rồi rẫy Cei Chương trên thổ mộ. Đến năm bảy mươi, dì Mơi cho khai phá phần hai sào đất xấu phía trên rẫy của dì còn bỏ hoang. Tất cả, cứ được vài năm là giao lại cho chủ cũ. Tội hơn cả là đất ruộng, từ mảnh bị lũ phá đến miếng bỏ cho cỏ lác mọc, chủ ruộng cho cha làm ăn không dăm bảy năm nhưng luôn thất hứa, chưa tới kì là đòi lại. Trong khi cha và anh em tôi bỏ công vào đó bao nhiêu mà kể.
Nhưng rồi ở cuối đời cha cũng được toại nguyện.
Năm 1977, tỉnh phát động chương trình lớn hạ quyết tâm dứt điểm lũ lụt, biến sông Lu thành sông tháo, rộng thoáng và thẳng băng. Cả mấy triệu lượt người được huy động. Bằng dụng cụ thô sơ nhất: bàn tay với cuốc xẻng. Mấy lũy tre, bao nhiêu cây cổ thụ thân quen, bãi tắm, ngã lội ắp đầy kỉ niệm. Thiên nhiên chịu khuất phục trước ý chí con người. “Có sức người sỏi đá cũng thành công”, anh xã đoàn trưởng ở lần phát biểu ra quân đọc diễn văn vào cái mi-crô rè! Thuở đó, tôi dù chưa cảm tình Đoàn, được tín nhiệm cho nắm thanh niên làng. Cùng mọi người đóng công lao động xã hội chủ nghĩa. Bao nhiêu sông, mương lâu nay quen ăn theo sông Lu, cứ thế mà bị xóa sổ đoạn trường. Dân nhà nông đua nhau tranh thủ xẻo làm của riêng. Nhà tôi cũng được một miếng nhỏ ở nhánh sông Tơng Lamưy đầu đám ruộng khoán. Có lẽ đây là di sản [hữu] vật thể đầu tiên trong đời mà cha tôi khai phá được dành cho con cái.
Tôi vào Đại học rồi bỏ giảng đường. Về quê làm kế toán trưởng Hợp tác xã rồi bỏ nghề sổ sách. Và làm lang bạt. Tôi ngủ lang từ nhà Đảo ở Hữu Đức Hamu Tanran;, Đạt, Phăng, Cát ở Pabblap, Toán, Thọ ở Bàu Trúc đến nhà anh Ve, Chí ở Thành Tín Cwah Patih;,... Từ năm Đệ Thất cho mãi đến thôi kế toán nông nghiệp. Có nhà tôi nằm yaung bbơng; ăn chực; đến cả tháng. Về Caklaing làm ruộng, rẫy. Hết việc lại đi. Không một lời thưa cha mẹ. Chị Hám, em Những nhổ cỏ. Em Ngòi rồi sau này Út Lành cày hay chăn trâu, bò. Tôi - đi. Ở Caklaing, tôi cũng không trụ tại nhà mà sang mấy chục nhà khác ăn, ngủ. Rồi tôi ngủ nhờ một nhà hoang do gia đình không con gái năm anh em trai đi lấy vợ bỏ lại. Non hai năm như thế. Tôi cứ ôm hết Camus đến Nietzsche, hết Krishnamurti đến Dostoievski. Nghĩ mà thương các em vô cùng.
Cày thuê và đọc sách. Tôi thi đua với ông chú họ Thọ Khồ, từ đồng sang đồng, cả đồng người Kinh làng bên nữa. Tên hai dân cày thuê nức tiếng cả vùng. Em Ngòi giúp tôi chăn và lo cắt cỏ cho trâu. Có vậy chúng mới kham nổi tháng này sang tháng khác. Rủng rỉnh tiền, tôi nhảy tàu lửa hôi rình dzọt vào thành phố ôm mớ sách về. Mẹ kêu sách chi sách thế.
Con sông quê hương cuối cùng là sông Sau Kraung Likuk; vào năm 1986, khi tôi rời Ban Biên soạn sách chữ Chăm, quy hồi cố hương. Tôi gồng gánh gia đình nhỏ từ Cauk trở về, quyết cắt đứt đời du cư. Lúc đó, sông Likuk đã là sông chết. Nó chỉ chịu chuyển động khi có lũ quét. Vậy thôi. Nó đứng yên. Như thể con sông ma. Câm lặng dưới đám lục bình dày đặc, làm ổ cho đủ loài muỗi mòng quậy phá dân vùng ven.
Về, tôi biến nó thành hữu dụng. Tôi một mình dẹp đám lục bình, quyết thay chúng bằng rau muống. Không thể lội xuống lầy hái, tôi đèo Hani qua Xóm Cửa sắm thuyền thúng cũ của dân biển. Rau muống nhà Hani chẳng mấy chốc có thương hiệu. Gia đình tôi chẳng những cung cấp cho người Caklaing thôi mà còn bỏ mối tận chợ Phú Quý. Được lớp rau che chở, lũ cá trê tha hồ mà về tụ bầy. Thế là tôi được lợi đôi đường. Đủ tiền cơm cá qua bữa nuôi gia đình sáu miệng ăn. Dân Caklaing thấy thế nhân điển hình. Kraung Likuk cạn dần. Nó chết hẳn ba năm sau đó. Năm 1990, tôi bỏ sông ra đầu làng thuê cửa hàng Hợp tác xã mở quán Cà phê Haly. Để sau đó hai năm, bỏ quê vào làm dân Sài Gòn. Con sông quê hương chỉ còn là kí ức.
SÔNG LU
Sông Lu sinh ra cùng tôi năm Đinh
Dậu. Hai mươi tháng hạn sông Lu nằm
phơi thân trầm dòng vào lòng đất. Sông
Lu chảy quyết liệt lúc tôi vỡ tiếng
nói đầu đời, sông Lu ẩn mình trong
tôi khi tôi bỏ làng đi lang bạt,
lần nữa sông Lu lại ra đời với
tôi ngày trở về. Đừng ai hỏi sông
Lu ở đâu, đất Phan Thiết sông Lu
lớn dậy chảy ngang trời Sài Gòn bay
Tokyo, sông Lu tắt Baghdad
hát cùng Euphrates. Sông Lu ngã bệnh
chết khát, như tôi, sông Lu giận dữ
gào thét hay rì rầm kể chuyện. Sông
Lu khô – cháy, đứng – đói, đầy – trào, sông
Lu nung nóng đồi cát hay sông Lu
tự vỡ bờ chở phù sa bồi ruộng
đất quê hương. Cả khi sông Lu bị
con người biến thành thứ mương tháo vô
dụng, sông Lu vẫn cần cù mang phù
sa đổ vào biển. Sống như là mang
phù sa đổ vào biển.
(Chuyện 40 năm mới kể 18 bài thơ tân hình thức, 2006)
Trong năm anh chị em, anh Đạm với tôi gắn bó hơn cả. Có lẽ do hai chúng tôi cùng “trang lứa”. Đồng môn nữa. Đang học, không ai chăn trâu, anh phải ở nhà. Học dở chừng - ở nhà. Có năm anh nghỉ nguyên niên khóa. Nên đến lớp Nhất, anh em ngồi chung lớp. Đào dông hay bẫy chuột, cắm câu hay lưới cá, làm đá dăm, cày thuê, đánh lộn, đốn củi. Đến nỗi cha mẹ mấy láng giềng cứ nhè anh em tôi làm gương [sáng] cho con cái họ: - Tụi bây hãy kaik klai cắn cặc; anh em thằng Đạm!
Mẹ thì dạy anh em tôi đi cắn; của cặp anh em nhà bên. Mẹ hay dạy chúng tôi như thế. Tục, nhưng hiệu quả. Mẹ không dạy tôi kêu anh Đạm bằng anh; mà cứ la: Hai đứa bây chui ra một ngày hà? Tôi cãi lại: Mẹ không tập cho quen từ nhỏ làm sao mà kêu! Tôi với anh Đạm cứ kuw hư; tao mày;, cho đến khi lên Đệ Thất ở kí túc xá, thằng bạn cùng lớp: - Ủa, anh em mày kuw hư; với nhau à, tôi mới xấu hổ và thế là em tập tánh tốt.
Anh em chưa lúc nào rời nhau. Anh Đạm lành, tôi thì quậy. Đến hôm nay, không ít dân Caklaing còn nhớ như in hình ảnh thằng Klu đầu trần áo vải bùi với manh quần xà lỏn trưa nắng đầu thôn cuối xóm đuổi theo mấy con gà lừa chúng đá nhau. Tôi yêu gà, mê gà, dõi chúng lớn lên từng ngày, thuộc từng nếp đi đứng, quen từng tiếng gáy của chúng. Nhất là mấy nhóc mới tập tò o oe gáy. Sáng thức giấc nằm đó mà đếm tiếng chúng gáy thì hạnh phúc tột cùng. Hạnh phúc cho đến khi chiều chăn trâu về bà chị cho biết mẹ vừa bắt chúng ngap yang cúng thần. Tôi tiu nghỉu và nhớ nhung suốt mấy buổi.
Lên Đệ Lục, xuất trại, lắm khi không tiền đi xe lam, anh em cùng cuốc bộ. Chúng tôi thách nhau chạy, quên cả chục cây số đường mòn dọc con mương Nhật. Mẹ lại chơi cắc cớ, xế chiều chủ nhật khi cơm nước xong xuống Phan Rang nhập kí túc xá, bảo hai đứa mang theo sợi dây với cây đòn giấu bụi rậm, để cuối tuần hái rau heo khiêng về. Có hôm chẳng hiểu sao tôi giận ông anh, không chịu khiêng. Cứ đứng đực đó, anh bảo sao cũng chả nhúc nhích. Anh đặt cây đòn lên vai tôi trước rồi quay ra cho phần đòn sau lên vai mình, tôi vẫn không đi. Anh đẩy tới và anh muốn khóc. Biết anh Đạm không dám đánh, tôi càng làm cứng. Đến khi anh chịu nhường phần đòn tôi dài hai thước, phần anh vỏn vẹn năm tấc, tôi mới chịu. Không phải tôi sợ nặng, mà tính tôi ương vậy, rất khó bảo! Phần thiệt luôn về phía anh.
Sau năm Bảy lăm, đồng Hamu Pơrya diện “Người cày có ruộng” của gia đình khi xưa bị thu hồi. Nhà bữa đói bữa no. Mùa hè 1976, chạng vạng sáng, mưa. Tôi loáng thoáng nghe cha mẹ bàn ở phòng trong cho anh em tôi thôi học. Hoặc đứa học đứa nghỉ. Mãi mãi. Tôi hoảng lên, lao ra khỏi nhà, chạy vào trời mưa. Tôi không biết mình chạy đến đâu nữa, mãi khi cha tìm thấy và dắt tôi về. Thế là tôi được cha mẹ sắm sửa quần áo sách vở đi học tiếp, còn anh Đạm thì... được sắm liềm với gióng theo bầu Nghị ra đồng! Với cái giá gặt bèo bọt: Hai kí thóc tươi một ngày! Anh Đạm hiền, nên tôi hay giỡn anh, lâu lâu bị anh cho ăn đòn. Làm Hợp tác xã nông nghiệp, tay bạn thơ Bạch Văn Thanh đùa: “Người ta làm chủ nhiệm xây nhà, ông anh mày hết nhiệm kì chỉ có nước đi buôn mọi.” Đúng, anh đi buôn thật.
ANH ĐẠM
Có người thơ tấp tểnh đi buôn
lận lưng ít nắng quê làm vốn
đi, cứ đi phiêu giạt đất trần
chân sạn, buồn đầy, hai tay trắng
Hai mươi năm trở lại xóm thôn
cũ tiếng bò trưa, vầng trăng muộn
mới điệu cười, lạ nhịp sống
Hốt nhiên
chàng úp mặt
khóc òa.
(Sinh nhật cây xương rồng, 1997)
Thôi chủ nhiệm, ai khác còn giữ vẻ quan cách, anh Đạm vác cày ra đồng ngay sáng hôm sau. Ba bốn năm sau lại được bà con tín nhiệm đề cử chức chủ hay phó thôn nữa. Anh có mạng quan, tôi nói. Làm làng thời buổi này mà khó cái nỗi gì, có mỗi họp hành với kéo nhau đi uống rượu.
Không kể chị Hám luôn chịu phần thiệt, em Những hết lớp Nhì ở nhà giúp mẹ, cho hai anh và mấy đứa em trai được học tiếp. Chế độ gia đình mẫu hệ Chăm dạy thế. Tôi không biết em gái có mặc cảm khi thấy những người cùng trang lứa được lên Trung học không? Chỉ biết em đã chịu đựng. Như sau này khi tôi vào Sài Gòn học, em nhận phận nhổ cỏ để có tiền gởi cho ông anh sinh viên thả hồn mây gió với những suy tư triết học! Em Ngòi hay Lành sau Tiểu học vào trường An Phước ở huyện nhà ít tốn kém hơn. Với gia đình nông dân nghèo, tôi là siêu hao tốn.
Gia đình tôi chung khuôn viên với nhà dì Mơi. Năm căn khép nép trong hơn sào đất, không bóng cây. Dù Phan Rang đất nắng, Chăm cứ là kiêng trồng cây. Có cây đu đủ cao sai trái sau nhà, anh Đạm bệnh, cha chặt bỏ, anh hết bệnh. Rồi đến hai cây mãng cầu, một cây chùm ruột mỗi trưa đi học về tôi trèo hái trái, thầy đuổi tà ma bảo cha chặt để cứu em Lành khỏi tiêu chảy. Anh chị em tôi không chừa đứa nào, ai cũng hành mẹ theo kiểu của mình. Em Những thì bụng sưng, mẹ phải lặn lội bế ra bác sĩ tận Nha Trang mổ mới lành. Bác sĩ dặn kiêng thịt gà đến hết đời. Rồi Ngòi hai tháng tuổi trở chứng không chịu bú, mãi khóc nhè, người cứ ốm nhom. Mẹ qua ông Thanh Cồn nhà bên Dai litei; Đung đưa quả lắc;, cha chạy sang ông Chánh thầy cao đạo đầu hôm đọc kinh lễ làm phép Parah bilauk; Ném lọ. May quá, lọ được quăng đi lăn đến cổng, thay vì úp xuống thì nó lăn về và... ngửa.
- Thằng này có đập đầu cũng không chết, ông thầy phán. Thầy cho biết nguyên do mẹ với dì Mơi hay cãi vã nhau khiến ông bà giận. Thế là hai chị em làm lễ Ywak bbuk halar; Cắt tóc thề. Như thần, bé bú lại.
Mẹ với dì Mơi không ai chịu nhịn ai. Anh chị em tôi và mấy đứa con dì, mỗi lần nghe rục rịch đều lảng xa hay chui vào nhà im thin thít. Buồn và tủi. Người lớn khổ thế chứ.
Không ít người trong làng biết chú Dọng chứa Việt cộng ở ngăn trong của kho lúa trong căn nhà Yơ. Dì Mơi làm ăn khấm khá, gia đình tôi mãi phận du cư. Hết tạm nhà cũ lại sang nhà bếp của cố nội ở nhờ. Tôi với anh Đạm chịu cảnh nằm sấp trước đèn dầu lu mà tụng bài. Thầy Hồng tạt vào bảo như vậy là cháu nó coọc đó, cha mới chạy kiếm vài miếng gỗ vụn làm cho cái bàn con. Bà cố thương mẹ, mất đi để lại cho mẹ nhà ngói nhỏ.
Cha làm ruộng rẽ đồng cao đám trũng đến ba mươi giạ gieo mươi năm liền chỉ với cặp trâu, mãi đến năm 1971 mới làm xong căn nhà ngói xây. Từ đó, gia đình mới sáng dần ra. Sáng, nhưng vẫn cực. Cha đã từng thâm canh gieo hai lớp lúa, chiêm lẫn mùa. Cắt phần lúa chiêm lớp trên ăn đỡ đói, còn lớp dưới chuyển qua mùa vụ, khỏi mất công gieo. Lúa chiêm là phát minh của Champa, hạt nhỏ màu vàng đen, ăn ngon nhưng kém thóc. Đất Mỹ Nghiệp ruộng một vụ, cha là người duy nhất đủ độ lì làm lúa ba trăng trái vụ tám giạ gieo! Đến kì lúa làm đòng, ba cha con ra sức tát nước chảy suốt sáu trăm thước con mương khô để tưới ruộng. Hai tuần cuối trước khi gặt, nước khô, buộc phải tát hai lần nước. Cha đứng một đầu gàu, hai anh em tôi thay phiên nhau đứng đầu kia. Cha nói cha thường xuyên làm vậy thời trai tráng. Cha phải khỏe và dai sức ghê lắm. Rồi khi hạt lúa đong sữa, tôi với anh Đạm luân phiên canh chim chóc! Nghĩa là suốt mấy tháng hè túc trực ngoài đồng. Ba mùa liên tục.
Cho đến khi bộ đội tràn vào Ninh Thuận. Cờ Mặt trận Giải phóng cắm khắp palei Chăm. Cách mạng. Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân. Nhiều chấm dứt và nhiều khởi đầu.
Gia đình tôi chấm dứt phận làm rẽ. Các thành viên trong đó cũng khởi đầu học sống đời xã viên Hợp tác xã nông nghiệp…