Baganrac ám ảnh tôi lạ. Như ma. Một dụng cụ thắt bằng sợi lát dài năm tấc, rộng và cao ba tấc, có hình dáng thánh đường, như ciet paung Chăm dùng đựng sách. Baganrac chứa tất tần tật đồ dùng hành lễ của Ppo Dhya như ganraum mão, giày, tràng hạt, nhẫn,... Từ Kate, Cabbur cho đến mọi cuộc lễ liên quan đến cấp Paxeh. Với một gai mong cây trượng, vị Cả sư Bà-la-môn Chăm ôm nó theo mình, chạy giặc và hành lễ. Chạy giặc, qua bao nhiêu đường rừng, băng sông, suối, cánh đồng, đồi, núi.
- Nó là biểu tượng của tháp và được dùng thay cho tháp, khi Cả sư và cư dân Chăm không thể trở lại ngôi tháp để hành lễ tạ ơn. Baganrac với Chăm là một nhà thờ di động, - Dhya Hán Bằng nói.
- Bác đã lần nào dùng đến Baganrac này chưa?
- Một lần, vào Kate năm 1973, khi có vụ tranh Dhya. - Bác nói, đôi mắt buồn buồn. - Nhưng chưa phải dùng tới. Cụ cố nội thì có...
Baganrac là vật bất li Danauk Chốn cư ngụ của Cả sư Bà-la-môn. Nó chỉ rời nhà khi ông cần làm lễ Tẩy uế nhà cửa Balih sang hay lễ Tamư kut Nhập kut. Năm 1973, cộng đồng Chăm huyện An Phước xảy ra vụ tranh Dhy a do tinh thần tùy tiện Chăm lẫn vài ngộ nhận. Dhya Hán Bằng mang theo Baganrac trù bị. Ơn trời, sự cố buồn thảm ấy đã không xảy ra.
- Lâu nay, chỉ khi chạy giặc, tiên tổ mới động đến. Ví vào “thời bình” như thế này mà phải dùng tới phương sách đó, tội với tiên tổ lắm!
Tôi nhìn kĩ Baganrac ông đang mở ra chuẩn bị hành lễ, rồi nhìn sang cây trượng. Baganrac cũ sờn, cây trượng cũng đã quá mòn. Bao cuộc chạy cụ cố ông trải qua, chịu đựng. Họ trốn vào rừng sâu, tìm một bóng cây cao, giở Baganrac ra hành lễ với vài trăm thậm chí, vài chục tín đồ sót lại. Cúng vái, lâm râm cầu nguyện thần Yang sao cho Kate sang năm được bình an trở lại ngôi tháp họ vừa rời bỏ.
Bao nhiêu là tháp. Chăm đến đâu xây tháp đó. Tháp, như chứng nhân cho câu chuyện kể. Tháp để thờ phụng, cúng tế. Ngay đầu thế kỉ mười chín, Twơn Phauw từ Mecca trở về Mali chiêu binh luyện võ mưu phục quốc, công việc đầu tiên ông làm là: xây tháp.
Twơn Phauw ngap kalan piơh angan
Tagok ray dalipan harei ka bwơl ew norapat
Twơn Phauw dựng tháp lưu danh
Lên ngôi tám ngày cho thần dân tôn xưng hoàng thượng
Vậy thôi. Chuyện thắng bại tính sau. Từ Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định, Bình Thuận cho đến Vũng Tàu. Tháp xây dở dang như Yang Pakran Ba Tháp hay dựng vội vã như tháp Ppo Rome. Dựng để hành lễ rồi... đwơc di kalin chạy giặc.
Kể rằng, Ba Tháp không được thờ cúng nên thành tháp hoang, bởi Chăm cho đó không là của mình. Nó là của Khmer. Qua cuộc thi xây tháp. Chân Lạp muốn tranh tài với Champa, kéo đến cả vạn công nhân ngày đêm thi công. Ppo Klaung Girai mãi suy nghĩ tính độ chênh cho con Đập Nha Trinh dẫn thủy nhập điền tưới đồng Panduranga. Ba ngôi tháp Khmer từ từ vươn lên uy nghi và chắc nịch giữa cánh đồng xanh ngát, chỉ mỗi thao tác cuối là khoét cửa đặt tượng nữa là xong. Là tiêu đời uy tín nghệ thuật Champa. Trong lúc trên kia Đồi Trầu Bbon Hala vẫn trống trơn. Không thầy không thợ, chỉ có giàn giáo chỏng chơ dưới nắng trời. Như thần, sáng sớm tinh mơ, ba ngôi tháp đã sừng sững đầy kiêu hãnh mọc dậy trên ngọn đồi. Người Khmer lầm lũi kéo nhau về nước, không kèn trống tiễn đưa.
Đó là tháp bằng giấy do vị vua này cho dựng lên để đối phó với giặc ngoại xâm. Sự thật thì, Yang Pakran là một kiến trúc dang dở ở thế kỉ thứ chín giữa cuộc thế tao loạn. Không cửa, không tượng thần thì không người thờ, thế thôi. Công trình kể xiết mấy mươi, với bao nhiêu là ý tưởng và công sức đổ sông đổ biển. Chỉ còn lại khối gạch lù lù vô hồn, không ai viếng, không kẻ thờ tự. Ngàn năm qua.
Câu chuyện tôi kể lại với Phương vào mùa hè năm 2002. Tôi đèo em trên chiếc Dream ngược lên làng Bal Riya Bính Nghĩa cách đó mươi cây số.
- Sara có cô bạn rất Chăm, - một ông cụ nói.
- Apsara của cháu đấy. - Tôi quay sang nhìn người bạn: Apsara, đúng. Tôi như muốn kêu lên. Nâu, mỏng manh, buồn và đẹp bí ẩn.
Cựa mình ra lòng đá
Nụ cười phiêu lãng trên môi
Mang hình hài vũ nữ
Qua miền cuộc lữ rong chơi đất trần
Hai bức tượng vũ nữ Chàm Trà Kiệu anh Chỉnh sao cho tôi bằng chất liệu sa thạch quê anh cũng mỏng mảnh như thế. Cả hai đều bị gãy. Nó không cố thủ mà phô phang ra cõi trần tất cả vẻ đẹp của đường congRất dễ vỡ.
Lúc đó bài thơ “Apsara - vũ nữ Chàm” Amư Nhân phổ nhạc đang được hát khắp thôn xóm. Ngôi tháp trung tâm của Yang Pakran đã đổ. Cuối thế kỉ mười chín, người Pháp và quan chức địa phương đã phá phần trên của tháp lấy gạch lót đường cái quan. Hệt người địa phương quanh gò đồi Dương Long mãi cuối đời bảo tồn và phát huy vẫn còn đào gạch tháp về làm chuồng heo, nhà bếp. Công trình nghệ thuật kham sao nổi trước vô tâm của loài người. Cây cối cùng mấy lùm gai xương rồng cổ thụ đã được dọn sạch. Không như thập niên bảy mươi, mỗi lần đạp xe cà-rem ngang, tháp luôn dậy trong tôi nỗi bí hiểm.
Tháp hoang
như thình lình mọc lên từ đất
lông lá – âm u – dọa nạt
Tháp hoang
nổi cộm giữa chiều trời ma quái
ung nhọt trên làn da mềm mại
thảm rừng già xanh
Tháp hoang
đột ngột xô tôi về đối mặt
quá khứ
lao xao bầy dơi đen
Tháp hoang
người bỏ rơi – lịch sử bỏ quên
bước chân thời gian thì nhớ
Tháp hoang
như quen thân – như xa lạ
hồn người xưa vỗ dòng máu ứ
Mốt mai
khi bất chợt bác tiều phu nhớ
dân buôn lậu nhớ – nhà viết sử nhớ
hồn tháp đã bay xa.
(Tháp nắng, 1996)
- Bal Riya Thủ đô lớn, - ông cụ kể, - nơi chôn nhau cắt rốn của Ppo Bin Swơr Chế Bồng Nga. Dân làng kiêng thịt heo lẫn bò, theo gương nhà quân sự tài ba trong ý hướng quy tụ lực lượng cả Chăm Bà-la-môn lẫn Chăm Hồi giáo vào cuộc. Khác với Caklaing nơi chào đời của vị vua kinh bang tế thế, Bal Riya là làng của tướng lĩnh. Hai mặt giáp biển và đồng bằng, lưng dựa vào núi. Về phía Đông bên kia rặng núi là Vĩnh Hi, một cảng vịnh đẹp rực. Vẫn chưa hiểu tại sao Chăm không xây tháp thờ Chế Bồng Nga, mà chỉ có đền thờ hoàng hậu vợ ông nằm sâu trong núi. Tránh bị trả thù chăng?
Lịch sử là thứ mù mờ như đi đêm. Chỉ tinh thần dân tộc là có thực.
Tao loạn và dang dở, nhưng không bao giờ thiếu kiêu hãnh.
- Cô độc, hiên ngang và kiêu hãnh. Lạ lắm anh à, em luôn cảm nhận thế khi nhìn tháp Chàm. - Thu Nguyệt nói - Lần đầu và cả mấy lần sau đó, không đổi. Không giống Mỹ Sơn như thể co cụm lại để tự vệ, chỉ ích dụng cho nhà sư ẩn tu, tháp là của con người, rất nhân bản.
- Cái đẹp của tháp Chàm biến thiên theo thời gian, cùng cuộc thịnh suy đất nước. Đẹp của Dương Long là đẹp kiêu hãnh đầy nhuệ khí, Ppo Klaung Girai đẹp toàn bích, còn của Ppo Rome đích thị là cái đẹp suy tàn.
- Ý nghĩ rất lạ, lần đầu em nghe thấy, - nữ nhà thơ đất Đồng Tháp nói.
Xe con đưa chúng tôi ngược lên Hữu Đức. Tôi trỏ về phía làng Thon, hướng tầm mắt các bạn về ngọn đồi thấp ngoi lên ngôi tháp nhỏ, đậm.
- Ppo Rome có bốn vợ. Vợ đầu người Chăm, là điều phải thế rồi. Vợ thứ người Rađaiy Êđê, như một cách tranh thủ lực lượng dân tộc miền cao. Để mở rộng bang giao quốc tế, ông sang Kelantan lấy thêm bà nữa. Cạnh đó, với mục đích tỏ tình giao hảo với Đại Việt, ông chấp nhận lấy công chúa Ngọc Khoa làm vợ. Chăm gọi bà này là Bia Ut.
- Chứ không phải hám lạ à? - một bạn văn hỏi đùa.
- Khó tránh vụ đó được, - tôi nói. - Cờ đến tay, ngài cũng đâu có chừa. Ông là vị vua văn võ song toàn cuối cùng. Nhưng tương kế tựu kế, chớ gì Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên chịu cho không biếu không con gái cưng! Sau khi tin Ngọc Khoa phá nát nội bộ triều đình địch, Chúa Sãi xua quân xâm chiếm Champa, giết chết Ppo Rome.
Ông chết, con cái dòng máu Malaysia vội vã lên thuyền về quê ngoại. Bia Than Cih vợ cả không chịu lên giàn hỏa, tượng bà bị cho nằm nhà ngoài, riêng tượng Bia Than Can được dựng ngay trong lòng tháp, cạnh ông chồng - ấm áp. Ấm áp cho đến cuối thế kỉ hai mươi, bọn trộm cạy cửa cắp đi ngay trong đêm linh thánh Katê 6-10-1994. Trước đó, ngày 20-7-1991, vợ cả ông bị cắt đôi ngang phần dưới bụng, bứng đi. Bà báo mộng cho hay mình đang nằm cô đơn lạnh lẽo tại góc đài liệt sĩ huyện Ninh Phước, cách tháp tám cây số đường chim bay. Thế là hôm sau bà mới được quay trở về ráp nối với thân mình còn dính lại ở bệ tượng, để rồi cuối rốt cũng đã theo nỗi tham sân si của loài người biệt tích vào ngày 11-3-1993. Riêng tượng Bia Ut nằm chổng khu ngoài đồng trống chẳng ai ngó ngàng tới. Chăm ghét bỏ bà làm cho nước họ mất, đã hành xử thế. Họa sĩ Đàng Năng Thọ bằng con mắt nhà nghề cho đấy là bức bị hư trong quá trình đục đẽo, được mang chôn giấu trong rừng. Rừng bị phá khiến tượng lộ thiên là chuyện của sau này. Bởi nó cùng phong cách tượng Bia Than Can. Chăm oán Ppo Rome, mỗi lần la con cháu cứ réo tên ông ra mà rủa. Như một cách giáo dục bọn trẻ. Oán thì oán, nhưng thờ cứ thờ.
Lịch sử là mớ vô trật tự hổ lốn. Nó không trôi êm ả, phẳng lặng mà luôn dịch biến bất ngờ và bị/ được kể đầy sai biệt.
Định mệnh của vị vua mất nước càng thê thảm hơn. Trước tiên là cửa chính ngôi tháp bằng đá bị đập vỡ hồi đầu thập niên năm mươi của thế kỉ trước được thay bằng cửa gỗ. Cùng năm tháng đó, tượng Shiva ở cửa chính diện biến tiêu vô tăm tích. Đau hơn nữa là sự cố 1982, vương miện ngài với hơn hai cân bảy vàng ròng bị hai tên Chàm gian chính hiệu đánh cắp ngay tại ngôi miếu nằm trong làng Hậu Sanh. Ppo Rome đã phải chịu cảnh đơn chiếc trong lòng tháp lạnh. Vương miện không còn, một bà vợ được ông cưng chiều nhất phản bội ông, ba bà vợ bị mất, cả châu thân ngài cũng bị đục sứt mũi, mẻ trán. Rồi còn gì nữa, ngày mai? Một thân phận tội nghiệp, như tháp mang tên ngài ẩn một vẻ đẹp suy tàn tội nghiệp.
Xe dừng trước nhà Trà Vigia, cách một con mương.
- Mương đực đấy, liều liệu nhé! - tôi nói. Có tiếng khúc khích của quý bà sau lưng.
Chuyện kể thời vua Ppo Klaung Girai, cánh đàn ông nổi hứng vùng dậy đòi lật chế độ mẫu hệ. Đất nước mỗi năm mỗi yếu nhược. Người Đại Việt cứ muốn ăn hiếp. Được thôi, ngài bảo. Thử mới biết. Thế là ngài cho mở cuộc thi tài: Thi đào mương. Quý bà phía Bắc, quý ông bên Nam, dẫn thủy tưới hai vùng đồng ruộng Phan Rang thừa phù sa nhưng ngàn đời thiếu nước. Cuộc người muôn năm lặp lại, quý ông mê gái, chẳng những bỏ bê việc mình còn giúp đẩy tiến độ bên quý bà đi nhanh hơn. Thế là thua cuộc. Thua cuộc suốt tám thế kỉ, mãi khi Mỹ bắt Nhật bồi thường chiến tranh vào cuối thập niên sáu mươi của thế kỉ hai mươi, hành trình Mương Đực Mương Cái mới chịu kết thúc. Chuyện đùa, khu đất con mương đi qua toàn sỏi đá với gò đồi, đã từng làm đứt cả nửa chục xích xe ủi hiện đại của Nhật, thì bàn tay người với xẻng cuốc đào sao mà đào! Dù gì thì gì, với tưởng tượng dân gian, nó cũng thành câu chuyện. Lịch sử và huyền sử chồng lắp nhau chẳng biết đâu mà lần.
Về quê Chăm, nhà văn khoái khách sạn nhiều tiện nghi hơn trú lại nhà dân, thích làm khách sang của gia đình sang trọng hơn là lăn xả vào chốn nghèo hèn và, đáng nói hơn cả là - luôn gánh cả đống chuyện văn chương chữ nghĩa ở tận thành phố theo mình. Hiếm ai tạo được “những ngày rỗng” toàn triệt để thu vào tầm mắt đất trời Phan Rang lạ lẫm, tò mò tìm biết bí ẩn những mảnh vụn của nền văn hóa Champa, lắng nghe câu chuyện Chăm, cảm thông bao tâm hồn cô đơn và kiêu hãnh Chăm. Nhà văn chưa học biết cởi bỏ cô gái ở lại bên này bờ sông, mà một mực vác nàng theo suốt hành trình chữ nghĩa nặng nhọc!
Một giờ trưa, mưa đổ ào xuống, đột ngột.
“Katê nào cũng mưa”, tên một truyện ngắn của Jalau. Mưa rửa đất trời, làng mạc, con người. Mưa tẩy sạch tư tưởng nhỏ nhen, giấc mơ đen tối. Bà con Chăm cùng khách thập phương ra đầu làng Hamu Tanran xem Rauk khan aw Ppo Yang Lễ đón y trang. Chạy giặc, nhà vua mang tất cả của cải gởi người Raglai con út vua, Chăm nghĩ thế. Đáng tin và an toàn. Lệ từ ngàn xưa để lại. Đến ngày cuối chót của tháng Sáu Chăm lịch, họ đội áo lễ xuống núi. Mỗi tháp có một dòng họ Raglai cất giữ.
Kate di bingun Cabbur di klơm
Katê vào thượng tuần, Chabun vào hạ tuần
Vài mươi năm trước, rất ít người hay gia đình ăn Katê. Chỉ những người bbon Yang hứa với thần, lo sắm sửa lễ vật trả nợ thần. Cả vào ngày hôm sau, khi bà con trở về cúng lễ tại làng hay sau đó, tại nhà cũng thế. Katê có thể kéo dài cả tháng, trong không khí yên ắng khiêm cung. Khía cạnh nào đó, Katê còn kém thế hơn Rija Nưgar.
Katê chỉ là Katê lễ. Mãi đến cuối những năm sáu mươi của thế kỉ trước, khi đoàn học sinh trường Trung học Pô-Klong được hiệu trưởng Thành Phú Bá dẫn lên tháp Ppo Klaung Girai múa hát góp vui, ba năm thành lệ, tháp vừa trở thành khu đất hành lễ đồng thời một di tích văn hóa để người đời thưởng lãm. Nữa, khi Caklaing mổ trâu tổ chức linh đình Katê ở palei, Katê từ từ lan xa, lan rộng hơn rồi nghiễm nhiên trở thành ngày lễ được xem là lớn nhất của dân tộc. Từ đó nhà nhà ăn Katê, người người đón Katê. Khấp khởi và cả kiêu hãnh.
Katê lễ đã là Katê hội, lễ hội Katê!
Nhu cầu sinh hoạt văn hóa, Katê hội chuyển về Hữu Đức, làng Chăm lớn và đông dân nhất. Hamu Tanran mở vòng tay đón nhận bà con làng xa, khách quý cả trong lẫn ngoài nước đến với mình. Nói thế không phải chỉ có Hữu Đức mới ăn Katê lớn; Hoài Trung hay Vụ Bổn, Cauk hay Kacak vài lần cũng đã làm to rất đáng mặt. Rồi Caklaing năm 1998 đã trình diễn Đêm văn nghệ dân gian đầu tiên, cũng là một góp công làm cho Katê thêm vị. Xuôi vào trong, Tuy Phong hơn một lần tổ chức thi đua các trò chơi dân gian khá bắt mắt, Phan Rí với truyền thống Katê tại nhà bà Nguyễn Thị Thềm - công chúa cuối cùng của vương triều Champa, đã thu hút không ít khách thập phương đến với lễ hội.
Có lễ hội là có hành hương. Những cuộc hành hương từ các làng Chăm Panduranga đến Ia Trang tháp Ppo Nưgar mươi năm qua chưa một lần đứt quãng. Mưdwơn Hán Phải kể thời Pháp thuộc và trước đó nữa, Chăm phải lội bộ mất hai ngày một đêm mới tới thánh địa hành lễ. Chiến tranh tràn lan, cấp Paxeh thỉnh Yang về miếu Ppo Inư Nưgar tại Hamu Ram La Chữ rồi cuối cùng lượt nữa, dời về Hữu Đức. Nhưng nỗi nhớ đất thánh xưa vẫn âm ỉ cháy. Đầu những năm chín mươi của thế kỉ hai mươi, đường thông xe thoáng, Chăm lại hành hương cố đô Ia Trang, ngày càng đông hơn. Dù ở đó, Tháp Bà đã mang dáng dấp Việt, các lễ tục gần như đã Việt hóa. Bia Võ Cạnh ghi năm 192 giữ kỉ lục bia chữ Phạn đầu tiên Đông Nam Á hiện đang đứng đơn độc trước sân Bảo tàng Hà Nội, thay vào đó là văn bia tiếng Việt của Phan Thanh Giản qua năm tháng đã nhạt nhòa chữ với nghĩa. Tượng Ppo Nưgar được vẽ mặt hệt nghệ sĩ hát bội hay cải lương! Lễ lạt với nhang khói. Nhưng không sao. Chăm nghĩ Ppo Inư Nưgar là của mình. Không phải bằng sử sách mà từ thẳm sâu tâm linh và máu thịt huyền ẩn.
Katê xuất phát điểm từ Chăm Bà-la-môn giáo. Từ cuộc lễ cử hành tại tháp, các bài cúng tế liên quan các vị thần Shiva, Vishnu,... đến người chủ lễ là Ppo Dhya thuộc Cam Ahier, đều mang yếu tố Bà-la-môn. Nhất là hôm nay đại đa số cộng đồng Chăm lên cúng tại tháp là Chăm Bà-la-môn. Nhưng sao lại có cả Chăm Bàni cũng liên can: lên tháp cúng dường, khấn vái?
Bà-la-môn vào Champa trước Hồi giáo, cả tộc Chăm đều làm Katê. Chỉ khi đạo Hồi du nhập vào Champa, một bộ phận không nhỏ Chăm theo đạo mới. Quốc vương là quốc vương chung, không phân biệt. Khi các vị vua này được thần hóa, thì Chăm thuộc hai bộ phận tôn giáo cùng phục vụ. Chăm vay Bà-la-môn theo điệu riêng rất tùy hứng, nên dấu vết tôn giáo có nguồn gốc Ấn Độ hết mang sắc thái tôn giáo mà nhuốm nhiều màu sắc dân gian, nên bộ phận người Chăm Bàni vẫn phục dịch và làm các lễ bái Bà-la-môn không ngại ngần. Hồi giáo Bàni vui vẻ phục vụ lễ Katê. Hai nhà coi Katê như là tín ngưỡng chung của dân tộc. Cuối cùng, sau thời Ppo Rome, người Chăm thuộc hai bộ phận tôn giáo đều qua lại phụng sự nhau hài hòa và hòa đồng. Đến mùa Ramưwan, Chăm Bà-la-môn đội bánh trái qua Sang Mưgik cúng dường các Ppo Acar, hay sau lễ Rija Nưgar, Cam Ahier rước thầy Acar Bàni về tận nhà cúng tế.
Katê thuộc Chăm Bà-la-môn, qua biến thiên lịch sử, đã thành lễ hội chung, không phân biệt Ahier hay Awal. Bên cạnh Katê, Chăm còn có lễ Cabbur tổ chức vào đầu nửa cuối tháng Chín Chăm lịch, để tưởng niệm và tạ ơn mẹ. Ít người biết tới, nên nó không biến thành hội, dù trước kia nó thuộc hàng vai vế.
So với Tết Nguyên đán, Rija Nưgar mới là “Tết” Chăm, chứ không phải Katê. Rija Nưgar mang ý nghĩa tẩy rửa tống khứ cái xấu xa ra khỏi làng, khỏi cộng đồng để đón nhận mọi điều tốt lành vào palei. Ở đây, tất cả người Chăm không phân biệt tín ngưỡng tham dự. Ngoài đôi ba khác biệt nhỏ, họ hành lễ như nhau, cùng ngày và cùng cách thức. Nhưng Rija Nưgar vẫn cứ đìu hiu. Do nỗi văn hóa du lịch nở rộ, Katê ngày càng lễ hội hóa. Katê có lên tháp, nó lôi cuốn giới trẻ, thu hút du khách làm cho hai tiếng Katê trở nên nổi tiếng. Mọi người đồng lòng giơ tay kêu nó: Tết Chăm. Dân gian cứ thế mà xài.
Nếu Katê được gọi là Tết Chăm nói chung thì Chăm Bàni có Tết riêng của mình: Ramưwan! Ram là một palei Chăm Bàni thuộc tỉnh Ninh Thuận, nằm cạnh quốc lộ số Một, cách thị xã Phan Rang mười hai cây số về hướng Nam. Thời Tây Sơn, Văn Lâm tọa lạc miền duyên hải cách làng hiện tại khoảng gần hai giờ đi bộ. Ở đó còn lưu lại một ghur yaw nghĩa trang cổ đến bây giờ người làng vẫn còn thờ phụng. Ghur Ram thuộc bốn họ lớn, ngày xưa nằm gọn lỏn trong một khoảng rừng thưa, một bên là núi Chà Bang, bên kia là biển với bãi cát vàng trải dài. Không còn ai nhớ là bao giờ, khu nghĩa trang nằm xích về phía biển hơn, cạnh làng Sơn Hải hiện nay. Khi người Kinh qua định cư, dân Văn Lâm phải dời ghur lên, để giữ sự thiêng liêng cần thiết.
Đó là năm 1996, tôi đang “dạy” Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, dẫn ba sinh viên nước ngoài đi thực tế. Thực tế Ramưwan Chăm. Khi chúng tôi đến nơi thì mặt trời đã lên cao. Lác đác có vài nhóm người đi lên, đi xuống. Nghĩa trang Bàni chỉ là mặt đất phẳng với hai hòn đá trơn cho mỗi mộ phần. Chúng nằm san sát nhau và chiếm khoảng không gian rất hẹp. Khu mộ dòng họ này chỉ cách dòng họ kia từ năm đến mười bước. Nên một sào đất có thể chứa được cả ngàn mộ phần. Hãy dành đất cho người sống! Khía cạnh này, Chăm Bà-la-môn còn thực thi tinh thần tiết kiệm đến độ quyết liệt hơn nữa. Kut với chưa tới một sào đất đã có thể cưu mang cả vạn, thậm chí cả triệu hài cốt người quá cố, nếu dòng họ không vì lý do nào đó mà tàn mạt, mất đi người phụ nữ cuối cùng của mình.
Mấy tháng khô hạn nên không bụi cỏ nào mọc để phải giẫy. Người ta dọn đi mấy lớp lá rừng khô và phả lại mặt cát cho bằng. Lễ bái được thực hiện nhanh, chưa đầy mươi phút cho một cuộc. Cấp Acar đọc kinh và con cháu quỳ lại, cầu khấn. Thành kính, lặng lẽ. Nhóm này đứng lên rồi nhóm kia tiếp tục. Cứ thế, hơn năm mươi chi họ ở bảy làng Chăm Bàni qua làm lễ. Có làng ở xa ba đến bốn mươi cây số. Họ đi bằng các phương tiện hiện đại. Không năm nào, không dòng họ nào bỏ quên ngày trọng đại này. Tưởng tượng trăm năm trước, tổ tiên phải băng qua đường rừng với chiếc xe trâu hoặc lội bộ để tìm về nguồn cội. Ghur như thể đất thiêng buộc ràng Chăm với quá khứ bằng một sợi dây vô hình nhưng bền chặt.
- Ở phía Nam dãy núi kia cũng có một nghĩa trang cổ nữa. Nhưng từ lâu rồi chẳng có ai qua lễ bái, bởi con cháu của dòng họ kia đã không còn, - ông Imưm Cở trỏ tay về hướng Tây Nam, nói.
- Thế ở bên đó ngày xưa có làng Chăm không? - cô sinh viên Nhật hỏi.
- Đâu có ghur là có làng Chăm. Ngàn năm trước, chúng tôi từ Hơrơk Kah Dhei chạy vào. Số tạt qua Cà Đú nơi có một nghĩa trang lớn, số dừng lại nơi đây, còn lại người có chiếc tàu lớn hơn chạy vô Phan Rí, vào Nam vượt sông La Ngà lên Tây Ninh, Châu Đốc để qua Campuchia.
Tôi nghĩ đấy là cách chắp nối các sự kiện đầy tính suy diễn dân gian.
Lịch sử luôn là câu chuyện bị đánh cắp.
Buổi chiều, chúng tôi đi xuống Thành Tín. Tên làng Cwah Patih gắn liền với một truyện cổ Chăm là Xah Pakei - Mưh Rat, biến thái khác của trường ca Ariya Xah Pakei. Đây là một làng nghèo. Khoảng rừng thưa với hàng đụn cát trắng không cỏ lấn át nhúm đồng lúa. Cát, nắng và gió. Ngột ngạt, khó thở. Mấy khóm dừa khẳng khiu, thưa thớt. Vài đứa trẻ bụng ỏng phơi trần dưới nắng. Ba bà già đầu đội thúng đi dọc triền mương. Từ đồi xa, nhóm cô gái đội củi hối hả về làng. Ngày mai, củi kia được đưa xuống Phan Rang cách palei nồi cơm chín. Các đàn dê đàn bò kiên trì gặm cỏ khô...
Vẫn cảnh ấy ngàn năm qua. Thời gian đứng lại và ánh sáng văn minh như không chịu len lỏi tới xó xỉnh này. Không ít người hiểu biết đã trách họ và tự trách mình sao không chịu dời đi vùng đất mới, màu mỡ hơn, dễ thở hơn? Khi ở đây họ phải chịu đựng bụi và cát. Xa rừng, xa biển để có thể cậy nhờ bà mẹ thiên nhiên. “Khẩu phần tăng mà ruộng đất thì teo.” Trong khi họ không được nuôi heo là nguồn phụ thu quan trọng như các palei Chăm Bà-la-môn. Nhưng làm sao họ có thể bỏ ghur mà đi? Nỡ nào họ tự cắt đứt cuống rốn dưỡng nuôi tâm linh họ? Thiên tai, địch họa. Bao lần họ chạy đi rồi lại trở về. Khổ đau, hao mất. Rồi lại bỏ đi. Nhưng không bao giờ dời đi vĩnh viễn. Tinh thần ghur là vậy!
Đây là làng có khu nghĩa trang tầm cỡ. Từng dãy, từng dãy hòn đá xếp hàng thẳng tắp nằm trên một bãi cát trắng. Phía Đông và phía Nam là những đụn cát trắng tạo cảnh vừa trang nghiêm vừa thơ mộng. Các cô cậu học viên lia lịa bấm máy. Một cậu còn đi tìm “người mẫu” cho bức ảnh nghệ thuật vào buổi tảo mộ sáng mai.
Tối, chúng tôi cuốc bộ qua làng Tuấn Tú. Mặt cát trở lạnh, kêu lạo xạo dưới bước chân người khách lạ. Đêm huyền bí và linh thánh. Vađim, sinh viên người Nga tụt lại phía sau, đột ngột reo lớn:
- Trời ơi, sao! Em chưa bao giờ thấy trời lắm sao thế.
Chúng tôi quay lại, đứng đợi anh.
- Đấy mới là tháng Ba. Vào giữa mùa hè, bầu trời trong hơn, sao sẽ sáng hơn và nhiều bội phần, - tôi nói.
Dưới ánh sao đêm, khu nghĩa trang Tuấn Tú hiện lên mờ nhạt. Trong các palei Chăm, Tuấn Tú gần bờ biển hơn cả. Nhưng dân làng không sống bằng nghề đi biển mà phải lặn lội với ruộng nương xâm canh nơi khác. Tàu đánh cá hay lực lượng thủy quân Champa hùng mạnh chỉ còn trong hoài niệm. Người nghĩ do quan quân thời Minh Mạng cho di dời dân Chăm vào sâu trong đất liền để người Java không dễ tiếp xúc, xuyên tạc; cấm Chăm đóng thuyền để họ không có cơ hội bỏ làng xóm ra đi. Một cụ già tuổi quá cổ lai hy nghĩ khác:
- Xưa nay chúng tôi ở đây và mãi mãi sẽ không bao giờ dời đi đâu cả. Dân quá nghèo thì làm gì đóng nổi thuyền để đánh bắt cá hay vượt biển. Còn các palei khác muốn sống cạnh núi là để dễ biến vào rừng khi có giặc giã thôi...
Chúng tôi im lặng nghe cụ kể về lịch sử hình thành palei, các biến cố, các nhân vật. Tôi như sống trở lại không khí cổ tích thời thơ dại. Xa, rất xa xưa.
Sáng hôm sau, trong các nhóm đi tảo mộ, có cả Chăm Islam. Ở Ninh Thuận, bộ phận người Chăm theo tôn giáo này từ thập niên sáu mươi của thế kỉ trước, lại rút tín đồ từ ba làng Chăm Bàni. Ông cha họ chính là người Bàni, cùng máu mủ. Để tránh tiếng quên nguồn cội, họ không thể không lễ phần mộ các bậc sinh thành.
Vào tối cấp Acar nhập thánh đường chay tịnh, từng đoàn thiếu nữ với màu áo sặc sỡ đội mâm bánh trái đi dâng lễ. Các thiếu nữ Chăm với nước da bánh mật, lông mi dày và cong, cái nhìn sắc ngọt dưới ánh đèn điện sáng trưng đã tạo cho đêm Ramưwan sự rạo rực và vẻ huyền bí lạ lùng.
Tôi nói với các bạn văn, hãy học làm Chế Lan Viên: “Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ/ Quay về xem non nước giống dân Chàm...” Rời bỏ như là rời bỏ. Rời bỏ tất, để quay về xem đúng nghĩa “về xem”. Đời sống một dân tộc không chủ ở chỗ tiệc tùng sang trọng, gặp các thành phần học thức, tại các vị trí luôn được chuẩn bị như thể một đối phó, mà ở nơi chốn bất ngờ nhất, thành thật và sâu thẳm nhất. Tôi dẫn đoàn nhập cuộc chơi theo đúng tinh thần đó, sau khi dự hội ở tháp Ppo Klaung Girai hoành tráng nhộn nhịp đầy chất phố thị...
Ngươi đứng trên đồi trọc kia cô độc ngàn đời
như ngươi, giữa hoang mạc người ta khát
khát khi trên tay ta ly bia sủi bọt
cả khi từ suối nguồn ta dòng nước mát tuôn tràn
Như ta, ngươi mãi dõi nhìn về giáo đường xanh non
cô đơn với bầy dơi, cụm mây, khuôn mặt
cô đơn con mắt camera nhấp nháy, bài diễn văn ngợi ca
cô đơn trong chính định mệnh ngươi
Như ngươi
xa lạ với phố chợ mọc tràn
ta xa lạ lối mòn lang thang chiều rỗng
ngươi xa lạ tiếng dùi đục vào thân thể, khoét tủy xương, lớp vữa bôi trát lên da
ta xa lạ tiếng nói ta qua máy phát thanh, chữ viết ta trên trang sách
Ơi tháp!
ngươi đứng đó – lặng câm
đám mây trắng lãng tử chán ngươi đến
không thể khóc
chỉ lũ gió nhiệt tình trườn qua đỉnh đầu
ngươi lơ thơ bạc
rít hoài điệu huênh hoang
Cũng như ta
đóng khung trong ngôi nhà ắp hơi ấm, nhưng tâm hồn gửi tận miền giáo đường miên viễn
cơ nghiệp hôm nay ta dựng nên/ ta không thuộc về
đám ruộng này ta gieo vãi/ sẵn sàng ngoảnh đi
ngươi cầu nguyện cho người hôm nay, an ủi vỗ về người hôm nay/ linh hồn ngươi thuộc về ngàn xưa cả ngàn sau nữa
buồn thăm thẳm ngươi là của hôm nay
(Lễ Tẩy trần tháng Tư, 2002)
Tài xế cho xe ngược qua tháp Ppo Rome. Lễ và người thân thiện, gần gũi và rất người. Không diễn văn khai mạc, không cả máy ảnh hay camera. Tháp, người và lễ hòa làm một với đất trời. Làm một, như khi chúng tôi bất ngờ ghé nhà anh Trăng giữa trưa ấy. Anh là siêu sao thể thao Trung học. Thuở đó, sắp trẻ chúng tôi cứ vỗ ngực xưng hùng: “Tao, Trăng đây” mỗi khi đi được một đường bóng ngon lành! Anh lên Thon theo vợ, mười năm không gặp. Một cái bàn gỗ tròn, thấp kê sơ sài dưới bóng cây cang. Thiếu “ghế”, thằng cháu xuống lũng ôm lên vài cục đá sần sùi. Nhà thơ Inrasara và các khách văn thành phố Nguyễn Hiệp, Thu Nguyệt, Hoàng Yến cùng an tọa. Gà luộc xé chấm muối ớt. Thế mà hay. Mà đậm tình.
Nai Tangya con nhà quý tộc nức tiếng đem lòng yêu một anh chàng khôi ngô tuấn tú có sức mạnh phi thường. Họ lao vào nhau cuồng nhiệt và mê mẩn, bất kể sự chưa rõ ràng lai lịch của nhau. Chàng hứa khi đã vợ chồng, sẽ cho xây đập to chặn nhánh phía Đông sông Đồng Nai Thượng, khai mương đưa nước tưới cả cánh đồng rộng lớn chạy từ đầu núi Đen tận đuôi núi Cabbang, làm giàu xứ sở. Không vị anh tài nào sống đất Phan Rang mà không bị ám bởi chuyện nước nôi ấy. Bỗng đêm nọ, sau trận mây mưa nồng đậm, chàng lăn ra ngủ vùi và... chuyện xảy ra. Trong khi âu yếm người tình, nàng Tangya rờ phải nơi thắt lưng chàng cái kajauk, một biểu tượng của người Raglai! Chỉ có người Raglai. Tangya choáng và lặng người. Nàng từ từ đứng dậy, lặng lẽ đi vào núi. Mở mắt choàng dậy chẳng thấy người yêu đâu, Kei Kamau, đúng - tên chàng trai Raglai là thế - hối hả chạy đi tìm khắp đằng Đông đằng Tây. Được bà cụ già loắt choắt sõi đời cho biết nguyên do, Kei Kamau đùng đùng nổi trận lôi đình. Chàng quơ vội cây nỏ nhắm hướng nàng đi, bắn một phát kinh hồn khiến trái núi nứt đôi. Chàng bỏ đi, đi mãi. Bỏ lại sau lưng cuộc tình thất thố và công cuộc dẫn thủy nhập điền dở dang.
- Tự sự trữ tình Chăm bao giờ cũng vậy. Luôn dở dang và thất thố.
- Ai bảo mang tâm đối xử phân biệt cho khổ, - anh bạn nói.
- Không, tôi nói tự sự Chăm nhìn toàn cục, xuyên suốt. Chế Mân - Huyền Trân, Ppo Rome - Ngọc Khoa, cặp tình nhân trong Ariya Cam - Bini hay Ariya Bini - Cam, Xah Pakei - Mưh Rat, và cả Nai Tangya - Kei Kamau. Tài năng siêu quần, sắc đẹp xiêu đổ rồi trôi về đâu?
Thời chăn trâu, tôi từng theo anh Đạm lên núi Cabbang cao ngất. Anh dặn đi dặn lại:
- Mày nhớ chưa? Không nhại tiếng Raglai, không nói tục hay nhauh maik chửi mẹ.
- Thì anh mới nói nhauh maik đó thôi!
- Lỡ thì mày chớ dại nhắc lại. Ngài không ưa người Raglai. - Cha nói. - Mày có thấy ai mang túi lát, dao đeo thắt lưng không? Lên tháp thì được, chớ núi này thì đừng hòng. Nói bậy thì rắn mổ, hổ vồ, lạc đường hay bà làm cho đau bụng có mà ôm bụng khóc.
Lối đi quanh co cheo leo nhưng rồi cũng lên tới. Có mỗi biểu tượng Linga cao chưa tới cằm trẻ con khép nép dưới mái tôn sơ sài, tạm bợ. Phía Tây vách đá thẳng đứng. Phía Đông bên kia khoảng rừng thưa là những đám rẫy, lơ thơ tảng đá to từng cụm nhô lên như đàn trâu đang gặm cỏ. Xa nữa là màu biển xanh đậm. Tôi thử hỏi các bạn văn có biết tại sao biển ở đây xanh đậm và nước trong hơn các nơi khác không? Thường thì họ nói mò. Dễ thôi, tính từ sông Dinh chảy qua thị xã Phan Rang đến sông Lòng Sông, cả trăm cây số mới có con sông đổ nước ngọt vào biển, mà xứ này lại hiếm mưa nữa. Cả cây gỗ cũng thế, trong khi vùng khác chỉ cần qua năm là đất cho được gỗ to bằng bắp chân, tại đây thì tốn gấp ba lần. Thế chăng dân các nơi rất khoái gỗ Chà-bang, càng thích hơn nữa là agha harơk thuốc rễ cây ở địa phận này. Linh hết biết.
Nói chớ, Chăm chưa bao giờ bỏ bê bà cô đơn trên vùng núi quạnh hiu đầy cọp beo thế kia. Hằng năm từ tháng Giêng đến hết tháng tư Chăm lịch bất kể Bàni hay Bà-la-môn đều lên dâng ba miếng trầu têm ppathuw kluw kapu hala làm lễ tạ ơn bà, cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Rồi là hàng đoàn tín đồ hành hương. Như mấy ông bạn Tiến, Phăng, Xoài đội nắng làm cuộc hành hương vào mùa hè năm 2002.
Hành hương, Chăm mới biết vài năm nay. Chứ trước đó, họ làm và chẳng biết kêu nó là gì. Nau ngap Yang Đi cúng Thần, vậy thôi. Như cuộc hành hương Mỹ Sơn năm xưa ấy. Đầy hứng thú, bồi hồi nhưng không thiếu bấp bênh, bất trắc.
Hơn mười thế kỉ xây dựng, bảo vệ và vun đắp, cả khu vực Đông Nam Á không đâu có thánh địa mà sức thu hút mãnh liệt, trường kì và kì lạ đến thế, sống dai dẳng trong tâm thức dân tộc lâu bền như thế. Không đâu cả! Nhưng từ thế kỉ mười lăm, nó hoàn toàn bị đứt tuyệt trong kí ức con dân Chăm Panduranga, đến không còn dấu vết lưu lại trong bất kì dòng thơ văn, câu ca lời hát dân dã nào. Cuộc hành hương như cách thế nối lại kí ức đứt gãy đó, đánh thức lần nữa cuộc sống tâm linh dân tộc đang ngủ vùi đáy thẳm tâm thức.
Một quần thể di tích hơn bảy mươi cái tháp lớn nhỏ nằm sâu trong núi, qua chiến tranh, cả khu thánh địa nát bét. Chỉ nhờ mồ hôi và trí óc của Kazik, nó mới gượng dậy cho người đời nhìn ngó được mặt mày, không thì chỉ qua ảnh chụp đâu từ thời Tây. Vụ này ta tố cáo là giặc lái B52 Mỹ đem bom ném miền Bắc thừa đổ xuống.
Khởi từ Caklaing, chuyến đi dự tính đầy cả xe năm mươi tư chỗ ngồi. Nhưng khi tin bị trù, gần một nửa chùn lại. Xe gập ghềnh qua Tháp Ppo Nưgar, Tháp Nhạn, Bánh Ít và Cánh Tiên, Dương Long rồi cuối cùng Mỹ Sơn. Người làm thơ, họa sĩ, trí thức, thân hào nhân sĩ, nông dân đủ cả. Nhưng tất cả không được cho vào đất thánh. Có một ông quan chủ động, bà con nói. Nhớ là vị quan này cả chục năm ăn cơm làng Chăm. Họ quen biết ông và, ông cũng chẳng xa lạ gì họ. Không ít bà con dỗi, toan bỏ về. Một thất thố và hụt hẫng đột ngột vụt lớn dậy trong tâm hồn khiến họ như sụp đổ. Cuối cùng, tất cả đành qua đêm ở ngoài xa. Thảm! Tôi và Hani từ Sài Gòn lên tàu lửa đến nơi vào sáng hôm sau. Tôi nói: - Huỡn đã, bà con cứ hưởng cho trọn cuộc hành hương lần đầu trong đời. Hãy đợi đấy!
Chúng tôi quyết chờ đợi. Hai giờ chiều, kết thúc cuộc lễ chính thống do chính quyền tổ chức, hơn ba mươi đứa con của Đất tìm bóng cây cao, vắng, bày bánh trái ew Yang cúng Thần. Chục người đi lẻ và cả nhóm nghệ sĩ trong đoàn Văn nghệ dân gian Chăm tỉnh Ninh Thuận vừa trình diễn chính quy xong, cũng tách đoàn, nhập cuộc. Múa, hát, cầu nguyện. Đơn giản, tín thành.
Họ là đoàn hành hương cuối cùng
ra đi từ đêm của thế kỉ cũ
ra đi - dù không ngọn gió nào xua đuổi
dọc theo đường biên bóng tối. Ra đi
Bao nỗ lực đã xóa trắng – họ chậm chạp bước đi
lầm lũi như thế. Dọc thế kỉ cuối cùng của thiên kỉ
tiếng nói bã nát giấu vào túi
đội trên đầu cái thúng rỗng, họ đi
biết mình là kẻ cuối cùng
(Lễ Tẩy trần tháng Tư, 2002)
Về, Trà Vigia trắng đêm viết “Mỹ Sơn đường về” đầy giận dữ xuất thần. Bút kí được in ở Tagalau 2 Katê năm đó. Ngay khi phát hành, ông quan có thư kiến nghị thu hồi. Ông làm căng, mấy bận phone đến ông già Trà phiền trách, nhắc nhở. Ra Hà Nội họp Hội Nhà văn, được hỏi đến, tôi “đổ” cho Nông Quốc Chấn, người chịu trách nhiệm xuất bản. Ông Chấn đề nghị Trà giải trình. Hôm ấy, Trà đang ở nhà tôi tại Tân Phú. Đọc thư, Trà ngồi vào bàn đá viết ngay bức thư dài phơi bày sự việc ông quan xuyên tạc văn hóa Chăm còn trù gia đình yut nữa. Và đòi đưa sự vụ lên tòa án văn hóa UNESCO! Nhưng rồi chuyện cũng chìm xuồng. Ông quan mất điểm trầm trọng dưới con mắt dân quê Chăm. Còn bà con lỡ mua Tagalau, đóng chặt cửa mà đọc!
Tiễn mọi người lên xe, chưa bao giờ buồn thế, tôi một mình lên xe ôm xuống ngã tư Hà Lam, tìm đến tộc họ Trà. Trà Công Tân, Trà Toại, Trà Nha. Họ luôn tự nhận Chăm. Đã mấy lần đại diện tộc họ làm đơn xin nhập tộc Chăm! Họ đón tôi như người thân về từ mấy thế kỉ cũ.
Thường thì người Chăm cứ JA (nam) hay MƯ (nữ) trước cái tên, là xong. Tất tần tật, không phân biệt, cho đến khi thành người lớn, có vợ chồng hay vị trí trong xã hội, họ mới được gọi theo vai vế hay chức danh đính kèm. Nhưng, đâu phải không có người thích nó: Ja mưtaharei (Thiên Sanh Cảnh), Ja lau,... đã lấy nó làm bút danh. Vẫn sang trọng đấy chứ! Nhưng ai cũng JA với MƯ thì sao mà điểm danh? Thế là vua Minh Mạng sai mấy quan văn bắt Chăm gánh thêm mấy cái tiền tố: Bá, Đàng, Hứa, Lưu, Lựu, Hán, Lộ, Mã, Châu, Ngụy, Từ, Tạ, Thiên, Ức, Vạn, Ưng, Lâm, Hải, Báo, Cây, Dương, Quảng, Qua, Trượng, Tưởng, Lư.
Thế nào Chăm vẫn cứ nhung nhớ họ xưa: Indra varman, Jaya Sinhavarma, Çri Satiavarman, Maha Vijaya, Rudra varman, Pudra varman... nên ở thế kỉ hai mươi vẫn xuất hiện lác đác: Jaya Mrang, Jaya Panrang, Inra sara, Pudra dang. Có khi chúng được phiên âm thành: Chế - Cri: Chế Mân, Chế Củ, rồi Chế Quốc Minh, Chế Lan Viên, Chế Linh, Ong - Aung như Ông Ích Khiêm, Ông Văn Tùng, Ma - Maha. Và cuối cùng: Trà - Jaya: Trà Toàn, Trà Hòa Bố Đế, Trà Ma Hani.
Họ Trà Quảng Nam không ngớt hãnh diện về dòng họ của mình. Cả ba làng thuộc huyện Quế Sơn cũng chẳng kém. Không hãnh diện sao được, khi họ chính là hậu duệ của dòng họ nổi tiếng nhất lịch sử Champa. Nhà tộc họ Trà được dựng lên rất oách. Ngay lối vào khu phế tích Đồng Dương cũng có một. Tôi cho xe dừng trước cổng làng Chăm họ Trà. Những ngôi nhà thấp lè tè, chắc nịch, hệt Chăm Phan Rang, chỉ có kiểu dáng là khác. Katê 2008, trên đường đi thăm nhà mẹ, tôi đã chỉ cho Thu Nguyệt biết dáng nhà Chăm. Tôi bảo, kinh nghiệm cư trú dọc duyên hải miền Trung bão lũ, Chăm truyền đời kiểu dáng đó. Cơn lốc xoáy năm 1984 đi qua Caklaing phá nát hai căn nhà kiểu mới của Chăm hiện đại, trong khi cả mấy trăm nhà xưa không hề hấn gì. Khuôn viên hơn sào đất, có hai căn nhà Yơ, của mẹ tôi cất năm 1971, và của dì Mơi năm 1974. Bốn mái, thấp, đậm.
- Đại gia đình Chăm đấy, - tôi nói. Thu Nguyệt hỏi tôi bàn thờ mẹ. Chăm không có bàn thờ, - tôi nói. Bạn à một tiếng rồi thôi. - Khác bên em quá nhỉ.
Tôi đứng xem ba đứa bé đang chơi dưới hàng cây. Nghèo và tội nghiệp. Hệt đám nhóc quê tôi. Chẳng khác gì tôi thuở xưa ấy.
- Mấy cháu có biết ngàn năm trước chú với mấy cháu cùng máu mủ không? - tôi hỏi. Chúng ngưng chơi, tò mò nhìn tôi, những cặp mắt sáng tinh nghịch. Tôi quan sát kĩ chúng, xem có nét nào giống mấy nhóc của tôi không. Không gì cả.
- Chú ấy nói thật đó. - Nguyễn Tấn Thái thay tôi trả lời.
Trưa nắng gắt, bạn thơ đèo tôi quẹo vào Đồng Dương. Đó là mùa hè năm 2006, sau vài trận mưa, phế tích chìm phủ dưới đám chằng chịt dây leo đủ loại.
Đồng Dương “là quần thể kiến trúc lớn vào loại bậc nhất và độc đáo nhất của Champa và Đông Nam Á. Toàn bộ khu di tích là những cụm kiến trúc kế tiếp nhau chạy dài suốt 1.330 mét theo hướng Tây sang Đông. Trong đó, khu đền thờ nằm trong một vành đai hình chữ nhật dài 326 mét, rộng 155 mét có tường bao quanh.” - Ngô Văn Doanh rạch ròi thế.
Hôm nay, không gì cả, chỉ là một khoảnh hoang vu, chết chóc. Chúng tôi phải giẫm lên bia chữ để bước qua ngôi đền đã đổ ở phía sau. Bia đá của trung tâm Phật giáo Đại thừa lớn nhất Đông Nam Á thế kỉ thứ chín trở thành bàn đạp vụng về cho con người văn minh của thiên niên kỉ thứ ba sau Công nguyên bước qua để vãng cảnh!
Ai chịu trách nhiệm? Ai chịu trách nhiệm về cả ngàn vết lỗ chỗ do đại liên lính Cộng hòa bắn lên vòm trong tháp Chiên Đàn? - Chiến tranh! Nghĩa là không ai cả. Bác trụ trì kể chuyện bà con khu vực đã lăn xả bảo vệ cho tháp được nguyên vẹn trước họng súng của cả hai bên, vào mùa hè 1975. Sáng hôm đó, tôi đã run lên bần bật khi nhìn thấy phù điêu gạch hình con voi nâng hoa sen nằm ngay dưới chân tháp. Người xưa tinh tế và đầy biểu tượng nhân bản đến thế là cùng. Sức mạnh chung sống với cái đẹp, nâng đỡ và bảo vệ cái đẹp. Nó tạo sự hài hòa cho cuộc sống và thúc đẩy sáng tạo. Trong khi con người bởi ngu muội, đã thách nhau bắn mấy loạt canon xem ai đánh đổ được tháp Dương Long cao nhất Đông Nam Á sừng sững bên trời kia!
Chăm có mấy loại? Câu hỏi nghe kì kì, nhưng... không trật. Có lần tôi mang nó ra hỏi cánh trẻ, họ cứ ngớ ra. Không phải lỗi các bạn, mà ở nỗi nhiêu khê thất thố của định mệnh Chăm. Hành hương năm đó, lần nữa, tôi giải thích với người bạn họ Trà.
Ngoài người dân tộc thiểu số miền cao xưa thuộc vương quốc Champa gồm Êđê, Giarai, Kơho,... việc Chăm cư trú tại bốn vùng văn hóa - lịch sử thì sách vở đã nói đầy rồi: Amaravati, Vijaya, Kauthara, Panduranga. Rồi tộc Cau Li-u (hay Lingyi?) với tộc Dừa Panưng (hay Phù Nam?) nữa! Tin thì tin không tin thì thôi. Ta cứ góc độ đồng đại mà thử làm phép phân tích.
Chăm Hroi ở Phú Yên và Khánh Hòa “hình thành” khi Lê Thánh Tông chiếm đóng Vijaya vào năm 1471. Bà con chạy lên nhập với người Bana. Để bảo toàn tính mệnh, họ lẩn vào tập tục Bana. Thuật ngữ dân nghiên cứu trước 1975 gọi là Chàm cổ. Bộ phận này nói tiếng Chăm pha Bana, người Phan Rang nhọc mệt lắm mới giao tiếp được. Nhọc đến hai vị Chăm Hroi dự Khóa đào tạo ngôn ngữ - văn hóa Chăm tại Đại học Quy Nhơn tháng 8-2007 tiếp thu tiếng Chăm còn khó hơn cả mấy chục học viên Kinh nữa!
Chăm Panduranga gồm Chăm Phan Rang, Phan Rí thì khỏi nói. Sau biến cố Lê Văn Khôi, họ chạy lên núi rồi quy hồi cố hương, sinh con đẻ cái. Bộ phận này đang độn tiếng Việt vào tiếng Chăm bao nhiêu phần trăm thì ai cũng biết. Phần không chịu xuống núi trở thành Cam Cru Chăm Churu, nói cả tiếng Churu lẫn lộn tiếng mẹ đẻ. Phần còn lại thì chạy qua Campuchia thành Cam Kur Chăm Khmer. Số dân ở đây luôn gấp đôi Chăm tại Việt Nam, cho dù giai đoạn tồn tại ngắn ngủi của chế độ diệt chủng Pôn Pốt, Chăm bị sát hại không biết bao nhiêu mà kể. Ngôn ngữ bà con xài pha tạp tiếng Khmer không phải là ít.
Một bộ phận khác hãi quá, chạy xa hơn: Thái Lan. Tại Ban Khrua - Bangkok, Chăm Thái còn nhớ mang máng mình là Chăm không quá con số nửa vạn. Và họ cũng đã quên mất cội nguồn rồi.
Đâu phải tất cả đều bỏ quên nguồn cội hay “chối mình là Chăm”?
Dòng họ Chế tại Huế hay tộc Trà ở Quảng Nam hôm nay vẫn nhận mình là Chăm đấy chứ. Nhà thơ Thanh Thảo dân Quảng Ngãi tự nhận Chăm thì không bàn rồi, hà cớ Nguyễn Huy Thiệp cứ nhận nguồn gốc Chăm? Có gì lấn cấn ở đây? Chuyện từ thế kỉ mười một với năm ngàn hay năm vạn tù binh Chăm rải suốt từ Bắc Ninh tận Thanh Hóa, Nghệ An,... là chuyện xưa tích cũ. Họ bị giết hay bị thiến hoạn hết chăng? Chưa thấy sử sách nào chép thế! Vậy đó, hỏi cả khối người vạm vỡ như thế đó có nhịn nổi không? Còn quý bà quý cô Kinh nhìn mấy tinh hoa Chàm ngăm đen với cuồn cuộn bắp thịt kia mà chịu khép váy chắc? Đó là chuyện bất khả. Quý ông Chăm cứ thế mà gieo vãi hạt giống. Rồi khi Amaravati mất, đâu phải mọi Chăm đội lu thúng chạy hết vào Nam. “Người Chiêm Thành nào đi thì cho đi. Người ở lại thì bổ làm quan.” - Hồ Quý Ly dù mang tiếng quyết liệt, đã phải ra chính sách đó. Không ít người có học ở lại. Số dân lành ở lại càng là không ít. Nhất là cánh chị em. Thế là khi các F5-F8 dòng máu Chăm xa xưa theo đoàn quân Đại Việt vào cố quốc, họ tìm đến người mình là chuyện thường tình của nhân loại. Cả quý ông quân nhân thuần Việt sau chiến tranh trở thành dân thường, nhu cầu tìm bạn tình là rất lớn. Lớn đến nỗi vua Lê Hiến Tông hai mươi tám năm sau Lê Thánh Tông “bình Chiêm” phải ra chiếu dụ khá cương: “Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để giữ cho phong tục được thuần hậu.”
Cả thế kỉ sau khi mất Đồ Bàn rồi Phú Yên, tại ranh giới Tuy Hòa, “người Chàm nếu có ai ra vào cửa khẩu vùng biên để thăm bà con thân thuộc thì đều phải trình báo rõ ngày giờ với các quan đồn”, theo chính sách mới của ông Bùi Tá Hán. Sự thể cho biết Chăm vẫn ở lại rất nhiều, sau khi chính quyền bỏ thủ phủ chạy. Và rồi ai dám đảm bảo người từ trong ra thăm bà con đã không trốn ở lại? Và để ở lại cho trót, họ “chối mình là Chăm” thì chẳng có gì đáng trách cả.
Như vậy, có thể nói to rằng suốt cõi Huế, Quảng Nam đến Phú Yên, Khánh Hòa hôm nay, mênh mông Chăm đang thở hơi thở tại quê hương mình. Dù họ khai dân tộc Kinh, mang họ Kinh, hay dù có lắc đầu quầy quậy rằng ta không là Chăm, nhưng chính họ đang nói tiếng Việt bằng giọng Chàm.
...tổ tiên góp sức gì vào xuống cấp hôm nay?
tâm hồn đám hậu duệ khô gạch nung
âm tắc đọng vòm họng dân Quảng 500 năm không chịu mất vết
vẫn đậm mắt buồn tháp hoang
vẫn môi dày, mày rậm, tóc gợn, da ngâm, bắp tay săn chắc
hôm qua
tôi vỗ đùa vào bụng bia đàn ông Chàm thứ 100
có dính dáng gì giữa ngang tàng vòm tóc Bồng Nga với chền ễn bụng bạn tôi?
con gái tôi bảo: cha ơi đêm qua con mơ thấy bộn bong bóng xì
ôi là khốn khổ
chúng tôi lớn lên từ Mỹ Sơn, Dương Long
chúng tôi lớn lên từ nhà Yơ, nhà Halam/ chúng tôi cũng lớn lên từ chòi lợp tôn Mĩ
lớn lên từ Panwơc Pađit, Pauh Catwai/ cũng lớn lên từ Truyện Kiều, thơ Nguyễn Trãi
lớn lên từ nắng, mưa, bão miền Trung/ cũng lớn lên từ cánh đồng mỡ màu Tây Ninh, Châu Đốc
từ bùn đất Châu Lý, Châu Ô/ cũng từ nước sông Phan Rang, Phan Thiết
chúng tôi có biết đến tên Khổng Khâu, Socrate, cả Jaspers, Derrida
có đọc lỗ mỗ Dante, Tagore, Sartre, Palmer
tội ơi cho chúng tôi đứa con hoang lịch sử!
(Lễ Tẩy trần tháng Tư, 2002)
Kí ức vẫn chưa bị đánh cắp hết trơn trọi.
Còn Chăm nào nữa? Hậu duệ Ppo Rome ở Kelantan? Chăm bôn ba qua đảo Hải Nam - Trung Quốc thời Lưu Kì Tông làm vua xứ Champa năm 983? Hay Chăm định cư khắp thế giới theo chương trình đoàn tụ, sau Bảy lăm? Có ai đã chịu khó làm con số kiểm kê? Có dân tộc nào chịu số phận bi thảm như vậy không?
Ở góc độ tôn giáo - tín ngưỡng, trước tiên ta có Cam dar Chàm chôn, là Chăm không Bà-la-môn không Bàni, như thể bộ phận theo tôn giáo bản địa còn sót lại. Cũng không ít nhà cho họ thuộc tập cấp thấp nhất của Bà-la-môn giáo nên không được hưởng đám thiêu như các bộ phận khác trong hệ thống phân chia tập cấp của tôn giáo này. Kế đến là Cam jat Chàm thuần hay Cam cuh Chàm thiêu. Là Chăm Bà-la-môn chính hiệu. Cam Bini Chàm Bàni là Chăm theo đạo Hồi đã được bản địa hóa. Họ hết còn là Hồi giáo chính thống. Ba “loại” Chăm trên sống tập trung tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Riêng Chăm Islam được gọi là Cam biruw Chàm mới. Bà con sinh sống ở An Giang, Tây Ninh, Long Khánh, thành phố Hồ Chí Minh và đại đa số Cam Kur.
Ta còn biết đến tên gọi khác của Chăm: Cam Ywơn Chàm Kinh hay Kanh Cụ, Kinh cổ đang sống tại hai làng thuộc Bắc Bình - Bình Thuận. Đó là hệ quả của các mối tình Chăm - Việt, cả những người Việt trốn lính thời chiến tranh chạy vào làng Chăm náu thân nữa.
Lịch sử không gì hơn là mớ hổ lốn được kể lại bởi kẻ thiểu năng trí tuệ, đầy lơ đễnh và tùy tiện.
Như nỗi tùy tiện của anh chàng thuyết minh tại tháp Ppo Xah Inư một chiều Katê năm 2004 kia. Gia đình tôi cùng giáo sư người Thái Lan gốc Việt Thawi đồng thời là học sinh tiếng Chăm của tôi đi xe từ Phan Rang vào Sài Gòn, tiện đường ghé lên. Chưa cần biết người vãng cảnh là ai, anh chàng bắt đầu mở máy, thuyết và thuyết. Mười lăm phút thì... hết bài. Jaka cho biết mình đang phụ trách website gilaipraungcom, chàng ngớ người ra. Chưa hết, quay sang Thawi: - Giáo sư Thái nghiên cứu văn hóa Chăm đang dạy một Đại học tại Thái Lan. Tôi loáng thấy màu tím tái trào lên khuôn mặt chàng trai trẻ nhiệt tình. Tôi vỗ vào vai chàng trai:
- No problem. Không biết thì học, lỡ sai thì sửa, miễn là chịu sửa. Người thuyết minh khu tháp còn nguyên vẹn cuối cùng ở vùng đất cuối cùng của Champa này chỉ còn biết vâng dạ. Đến khi nhận tấm cạc-vi-zít đọc thấy tên nhà thơ Inrasara thì anh chàng gần như muốn... xỉu!
Mình đụng phải thứ dữ rồi, - tôi đọc thấy trong mắt chàng trai.
- Rất, rất nhiều nơi đã thuyết như bạn, không có gì trầm trọng cả.
Lịch sử luôn là câu chuyện cũ được kể lại, mãi mãi được kể lại.