Hàng Mã Ký Ức

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11
Vượt Qua Cô Đơn Sử Tính

❊ ❊ ❊

Dù làm gì đi nữa, vẫn luôn luôn giữ

phong thái của kẻ sắp lên đường.

Như chúng ta sống mà vẫn luôn luôn từ biệt...

RM. Rilke.

Bên kia “chẹt” nhà tôi là quán bà Hai Mót. Bà có đứa con gái tên Mót, bạn cùng lứa chị Hám. Một gia đình đàng quê xứ biển qua làng tôi mở quán bán đủ thứ nhà quê cần. Bà tiếng làm ăn có đức, nên mấy bà Chăm thương tình cho không khoảnh đất trong vuông nhà để mở quán. Anh em tôi ấm đầu là cứ qua bà Hai lấy lọ Tiêu ban lộ mà xài. Bà còn có món đặc sản là chả giò chấm tương. Sáng sớm được mẹ cho qua ngồi chung thì sướng hết biết. Bà này quý mẹ tôi ở khoản không hề mua chịu. Nhà tôi nghèo, nhưng thóc giáp mùa vẫn còn lưng lẫm. Mẹ hãnh diện ra mặt về vụ này. Chớ mà như con Hám có bữa nào quào bữa nấy - mẹ dạy em Những thế. Về vụ nói chữ thì mẹ chả thua kém nửa gang tay với bà Hai Mót. Tôi học được rất nhiều từ cặp bài trùng này.

Bên kia rào bà Hai réo con nợ Trời đất quỷ thần ơi, bên này mẹ la chị Hám đáp lễ Lingik tathik yang labang lơy ! Bạn trầu cau với nhau, tính tình hạp nhau, cùng la lối om sòm về mỗi vụ như nhau mà hai cách nghĩ xa nhau cả vực thẳm. Chớ đợi dân ngôn ngữ phân tích chi li chẻ sợi tóc làm năm rườm rà lôi thôi, nội chuyện hai bà nhà quê dụng ngữ cũng đã đủ nói lên sự khác biệt về lối nghĩ giữa hai dân tộc vách sát vách bờ giáp bờ.

Lingik tathik yang labang lơy Trời biển thần “lỗ” ơi !

Yang labang. Thầnlỗ. Tại sao không là thần và quỷ hay thần và ma ? Có phải chỉ để hiệp vần thôi không? Lingik tathik / trắc trắc, có vần, yang labang / bằng bằng và cũng hiệp vần. Trong lúc đó Trời đất quỷ thần chỉ có đối thanh của cặp từ ghép, ngoài ra không gì khác. Nếu vậy thì Chăm yếu quá, chuộng hình thức mà bỏ nội dung sao? Không, đâu đơn giản thế chứ. Labang hang, lỗ là nơi cư trú của ma: Bhut di labang, yang di kalan Ma ở trong hang (lỗ), thần ngự trên tháp. Chăm chết, khi chưa qua đám thiêu thì còn là ma, ma này tạm trú trong hang hay lỗ, chứ không phải trong mộ. Chăm không gọi nơi chôn người chết là mộ (có ụ đất nhô khỏi mặt đất) mà là labang (hang, lỗ). Dùng từ labang vừa hiệp vần vừa tránh dùng từ húy kị là bhut ma hay ajin quỷ. Cầu thần phù trợ ta, cạnh đó ông bà còn viện đến ma quỷ là để tránh cho chúng hại người nữa.

Nhưng tại sao lại lingik tathik trời biển ? Người Kinh nhìn lên thấy trời, cúi xuống thấy đất; Chăm thì khác, dưới chân họ là mênh mông biển nước. Chăm có làm ruộng (đất), nhưng đó là cánh đồng miền Trung nhỏ hẹp bốn mùa hanh gió. Ông bà ta xưa sống bằng nghề biển, nhờ biển và với biển. Ppo Tang Ahauk còn lấy biển cả làm nơi trú ngụ của mình nữa.

Người có nhà để ngủ

Ông cất chỗ trú giữa đại dương

Người có nhà để ở

Ông lập nơi ngụ giữa đại dương

Cuộc sống ông khác hẳn đời một nông dân Chăm mà định mệnh gắn liền với đất, với con trâu và cái cày, khiêm cung, đạm bạc, định và tĩnh. Vì đất liền không phải là quê hương của ông. Một cái nhà: không, một nơi cư trú cũng không nốt. Ông là chủ nhân đồng thời là tù nhân của biển cả. Biển cả là nơi ông sinh ra, tung hoành, tạo dựng sự nghiệp và rốt cùng, biển cũng là nỗi bao la cách ngăn ông trở về với đất, khi chiến cuộc đã vãn. Ông không thể trở về đất liền tìm gỗ to hơn, để đóng con tàu có sức chịu đựng gan lì hơn, con tàu có thể cùng ông làm cuộc vượt đại dương tìm miền đất khác trú thân. Hiện nó đang quá nhỏ bé so với đại dương kia. Cô đơn tràn vào tim ông, phủ lên định mệnh ông.

Lingik tathik lơy ! - ông thét lớn vào khoảng mênh mông trời biển.

Cô đơn, - lần đầu tiên trong đời, thuở hai mươi, tôi giáp mặt nó. Mùa nắng 1977, làm thanh niên thiện chí hướng dẫn các bạn cùng quê phát, đốt bãi xương rồng mở rộng sân bóng đá. Chiều, các bạn bỏ đi đá bóng, tôi nán lại dập tắt mấy khóm lửa âm ỉ cháy. Đám bạn đang la hét ngoài kia. Giữa đống ngổn ngang đầy nguy cơ bom mìn và lửa cháy lan ấy, ngó các bạn vô tư vờn trái bóng, rồi nhìn lại mình, cô đơn biết bao. Như ông già của Hemingway một mình giữa biển cả vật lộn với con cá hư vô, hay hơn thế: Cô đơn của Ppo Tang Ahauk, nỗi cô đơn ấy đuổi theo tôi tận hôm nay. Không dứt ra được.

Tháng 8-1992, tôi nhận thư mời vào Sài Gòn làm việc. Quán Cà phê Haly đang ăn nên làm ra. Thường người đời khuynh hướng ổn định, tôi thì không! Ngay tháng sau, tôi khăn gói lên đường. Lương 800.000 đồng/ tháng, bằng góc tư thu nhập ở quê, vừa đủ cho cà phê với báo. Trung tâm bảo: Từ điển Chăm - Việt hoàn thành trong một tháng. Với hai nhân sự. Rồi ai về nhà nấy. Mô Phật! Biên soạn Từ điển mà mọi người hoàn toàn tay trắng: đề cương - không, tài liệu tham khảo - không. Tôi bảy mươi hai tháng đứng đầu gió đối mặt với con chữ, và đối phó với nỗi người. Năm tháng ấy, gia đình tôi trôi giạt từ khu cư xá Thanh Đa thiếu không khí đến căn nhà ổ chuột quận Tân Bình. Với chiếc xe đạp cọc cạch, tôi đạp bốn mươi cây số qua Trung tâm đánh vật với chữ nghĩa vừa sang Thương xá TAX giúp Hani bán thổ cẩm. Tôi cày cuốc mười hai tiếng đồng hồ trên cánh đồng chữ, mỗi ngày. Trong không khí ngột ngạt tưởng như bất khả vượt đó, tôi đặt dấu chấm cuối cùng cho tập thơ đầu tay và bộ Văn học Chăm. Lần đầu tiên trong đời, tôi tìm đến phòng mạch truyền nước biển. Bù lại, sự ngây thơ vẫn vẹn nguyên trong tôi. Mùa hè 1998, tôi trút tất cả ở sau lưng, để nhẹ nhõm lên đường phiêu lưu vào cõi sáng tạo.

Tôi là kẻ đi một mình, đứng một mình. Như vị thiền sư kia: Gậy mình mình vác, đường mình mình đi, giữa đồi núi chập chùng...

Khởi sự nhập cuộc chữ, đọc chẳng hạn, tôi quá khác các bạn chung bàn học. Khuynh hướng triết lý, lại triết nặng. Thời Pô-Klong, mấy bạn suốt ngày ôm Tề thiên Đại thánh với Tam quốc chí, tôi ngược lại: Hemingway, Faulkner, Camus,... tác phẩm cả năm đứng phủ bụi trong tủ sách. Mãi hôm nay, tôi vẫn không chịu nổi tiểu thuyết Trung Quốc. Từ Kim Bình Mai cho đến Cao lương đỏ. Cả lối viết rề rà của Victor Hugo hay Thomas Mann nữa. Ngược lại Anh em nhà Karamazov với Lũ người quỷ ám, tôi đọc lui đọc tới cả chục lần, coi đó là hai cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhân loại. Tôi nuôi ý định cạnh tranh với Dos.

Một chiều bụng rỗng không, bước chân thất thểu đưa tôi lạc đến đường Kí Con quen thuộc, một hàng bày bán sách cũ vừa công khai vừa lén lút. Trong túi còn năm đồng, tôi tình cờ cầm lên cuốn Thư về nhân bản chủ nghĩa của Heidegger do Trần Xuân Kiêm dịch. Hờ hững vậy thôi, và lê bước qua bến xe buýt về nhà trọ. Tôi đọc ngấu đọc nghiến. Tôi bị chấn động toàn thân. Sau đó tìm cả bản tiếng Anh lẫn tiếng Pháp mà mày mò đọc. Lục tìm tất cả tác phẩm ông có thể tìm được tại đất Sài Gòn tạp pí lù này. Tháng sau, tôi quyết cắt đứt với giảng đường.

Về!

Về, cày, đọc và làm thơ. Tôi đọc đến mụ người. Ba năm sau đó tôi phải chiến đấu tự thân để không bị dính vào sách. Cuộc chiến đau đớn này kéo dài cho đến tuổi cận tam thập, tôi mới biết học cách đọc sách để “làm việc”.

Làm thơ từ tuổi mười lăm, mãi tuổi bốn mươi tôi mới in tập thơ đầu tay.

Không biết tin nghe từ ai, Nông Quốc Chấn nhắn tôi đến gặp ông tại Nhà khách Trần Quốc Thảo. - Cậu gởi cho tôi một chùm đi. Sáng sớm, tôi đưa cho ông nguyên tập bản thảo Bàn chân - Con đường - Bóng tối. Ông bảo: - Tên tập thơ nặng quá, nên thay đi. Nhớ chêm mấy bài thơ tình nhè nhẹ vào. Tháp nắng mở mắt chào đời bởi cơ duyên đó. Nhưng nó phải qua đúng hai năm đoạn trường gập ghềnh.

Năm 1984, Chế Lan Viên và Trần Độ kinh lý các làng Chăm. Nghe kể, trong cuộc gặp mặt bà con tại làng Hữu Đức - Ninh Thuận, Ban tổ chức trân trọng [và long trọng] giới thiệu Trần Độ. Sau phát biểu ngắn, Trần Độ nhắc vở: Lẽ ra nhà thơ Chế Lan Viên phải là người được mời trước. Vì chính anh Chế, qua thơ ca, đã nói thay nỗi niềm, ẩn ức và oan khuất cho bà con. Chăm hiểu, nhưng kẹt ở cơ chế! Chiều hôm đó, Chế Lan Viên vào làng tìm khám phá... hậu duệ. Rủi cho ông, một thì cổ lổ sĩ, một lại sến ơi là sến. Quá tam ba bận, nhà thơ họ Chế lên xe vào Phan Rí. Ở đây, Chế Quốc Minh kể, chính Chế Lan Viên tự nhận với riêng anh rằng mình là Chăm đích thị. Tôi không biết nếu tôi gặp Chế Lan Viên sớm hơn, đời chữ nghĩa tôi sẽ quành sang đâu?

Buổi giao lưu ra mắt sách tại Hội sách thành phố Hồ Chí Minh vào chiều nắng gắt 22-3-2006, tôi nói cô đơn chính là tự do chính là sáng tạo. Một nhà báo không hiểu, đã biến báo thành cô đơn là tự do sáng tạo. Chả có nghĩa gì ráo! Cô đơn bao hàm tự do, chứ không phải ngược lại. Bởi không ít kẻ sống trong đất nước tự do, hoặc lên núi cao ẩn tu vẫn chưa cô đơn. Khoảng rỗng tâm hồn chính là cô đơn, cần thiết cho sáng tạo, chính là sáng tạo. Ta không sở hữu cô đơn mà, cô đơn chiếm hữu ta. Nó ném kẻ sáng tạo vào khoảng rỗng vô định đầy bấp bênh bất trắc của nó. Kẻ sáng tạo không có gì để bấu víu, không còn giọng mơ hồ nào đó nhắc vở nên thế này hay không nên thế kia. Hắn tự do và bởi thế, hoàn toàn chịu trách nhiệm về tiếng nói của mình. Cô đơn như thế tự vượt thoát khỏi nỗi cô đơn của Tang Ahauk, một giải - cô đơn sử tính toàn triệt. Cô đơn cho sáng tạo, cô đơn là sáng tạo!

Khi đã cư trú bờ bên kia của nỗi cô đơn sử tính kia, tôi học chấp nhận định phận mình là Chăm. Như là thi sĩ Chăm.

Nhà văn là tỏ thái độ, õng ẹo hay cương cứng, ba bốn phải hay thẳng đuột như cua. Dù bạn có vào tu chùa hay lên tận hang sâu núi thẳm sống, chính trang viết nói lên thái độ bạn. Khi đề tài nhà văn chạm đến vấn đề xã hội, nhất là xã hội của hôm nay. Trực tiếp hoặc gián tiếp, nó vẫn là cách tỏ thái độ. Và, xã hội tỏ thái độ lại với bạn. Một nhà văn “thuần túy” đã thế. Tôi, càng khác. Ngay khởi điểm, tôi luôn viết ở đầu sóng ngọn gió của thời cuộc, thời cuộc Chăm. Nghiên cứu thì miễn bàn rồi, thơ văn tôi luôn kéo lê theo mình vui và buồn, tối hay sáng, hi vọng với thất vọng Chăm. Phê bình hay trao đổi khoa học, cả chủ biên Tagalau và bao công cuộc khác. Luôn trực diện với vấn đề rất thời sự. Nhỏ thôi, nhưng đầy bất trắc. Nhà văn như thế, không lạ, khi nhận được bao phản hồi từ xã hội.

Đầu thiên kỉ thứ ba, trong “Sáng tác văn chương Chăm hôm nay” in ở Tagalau 1, tôi hối thúc bạn trẻ nhập cuộc vào dòng sống đất nước hôm nay. Bởi chỉ nhập cuộc thật sự, Chăm mới hi vọng đóng góp cho dân tộc và văn hóa dân tộc.

Với bạn trẻ là thế, riêng tôi: bị đẩy xuống. Làm nhà văn có nghĩa chấp nhận là “kẻ bị đẩy xuống tàu” – Camus nói. Ông thêm, nhà văn như kẻ đi trên dây giữa hai bờ vực, bên này là tuyên truyền bên kia là xa hoa giả trá. Hắn phải giữ thăng bằng giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và đất nước, tổ quốc và thế giới, trách nhiệm công dân và ý hướng tính sáng tạo của nghệ sĩ trước vũ trụ vô cùng. Hủy phá đồng thời sáng tạo, đúng tinh thần Shiva. Do đó, hắn chấp nhận sống hiểm nguy thường trực. Chỉ như thế, hắn mới còn sáng tạo theo đúng nghĩa nguyên ủy của từ.

Dù làm gì đi nữa, vẫn luôn giữ phong thái của kẻ sắp lên đường...

Không có phong thái đó, kẻ sáng tạo bị vướng kẹt. Tại Mỹ, các nhà thơ nổi tiếng bước vào Đại học chính quy, luôn tắc! Họ vẫn viết nhưng, họ hết sáng tạo. Đó là lý do “chính đáng” nhất khiến tôi rời bỏ Đại học, từ chối quan trường hay không mặn mà với học vị, học hàm các loại, có lẽ. Có nhiều nguyên nhân mù mờ trong đời. Chỉ kẻ sống đúng ngăn hộc mới biết rõ tại sao mình làm thế này mà không thế kia. Với tôi, đáng sợ nhất là mất khả năng sáng tạo! Mãi hôm nay, mười bảy năm làm dân Sài Gòn, tôi vẫn không bỏ được thói quen la cà các làng, nói chuyện trên trời dưới đất với các bạn Chăm. Về quê, tôi ít khi trụ lại nhà.

Đi và đi và đi...

Luôn một mình. Ở Sài Gòn là các quán cà phê cóc vỉa hè. Tôi không chịu được không khí trịnh trọng của hội nghị, hội thảo. Ra Hà Nội, tôi tìm cách thoát ra khỏi họp hành đủ dạng để bát phố, hay nhâm nhi nhìn màu trời Hà Nội. Rồi là Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ,... Nhà văn là kẻ sống thời đại mình, phơi trần toàn bộ con người mình ra với nó.

Song thoại với cái mới, tác phẩm ý hướng suy tư lật mở nhiều khía cạnh của vấn đề văn học trung tâm/ ngoại vi, một vấn đề rất giả nhưng tác động tiêu cực đến phát triển của một nền văn học. Nó tồn tại trong cộng đồng, ở phía ngoại vi lẫn trung tâm, và tệ hại hơn cả là nó nằm ngay tâm hồn của nhà văn và người đọc. Sống với văn học người cùng thời, không thể đui điếc trước thảm trạng đó. Tôi dấn vào nó, phơi bày nó ra, điều mà tôi gọi là “phê bình lập biên bản”. Lập biên bản các sự biến văn chương đang xảy ra trong thời đại tôi sống. Đấu tranh cho mọi trào lưu văn học, mọi loại thơ cùng tồn tại.

Xã hội chưa công bằng với sáng tác [bị cho là] ngoại vi. Dẫu vô thức, ta vẫn còn giữ khoảng cách phân biệt đối xử văn chương dân tộc thiểu số/ đa số, thơ tiếng Chăm/ tiếng Việt, tiếng Việt/ tiếng Anh, nữ/ nam, địa phương/ trung ương, chưa là/ là hội viên Hội Nhà văn, hải ngoại/ trong nước, Đông Nam Á/ thế giới, ngoài lề/ chính lưu. Tâm lý hậu thuộc địa vẫn còn ăn sâu vào lối nghĩ của người viết lẫn người làm phê bình Việt Nam, không dứt ra được. Từ đó nảy sinh thứ tâm lý vọng ngoại tai hại. Tôi đánh phá không khoan nhượng để chống lại thứ tâm lý kia. Đó là nhập cuộc engagement toàn phần.

Nhà văn là kẻ bị đẩy xuống tàu, con tàu thời đại. Hắn không thể chọn lựa, dù hắn biết con tàu hôi rình và, ở đó bao nhiêu là kẻ thô bạo, sẵn sàng quăng ném hắn xuống biển đen.

Năm 1998

Nhận Giải thưởng của Hội Nhà văn ở Hà Nội về, Trung tâm mở tiệc nhỏ gọi là ăn mừng. Sáu năm cắm cúi bàn giấy, có ai biết tôi làm thơ đâu, bất ngờ hôm nay nảy cái gã thi sĩ giữa chốn khoa bảng. Ông Bùi Khánh Thế nói trước hai mươi cử tọa: - Nghe tin, tôi ngạc nhiên không ít và nghĩ là có ưu ái. Rồi khi đọc hết tập, tôi nghĩ khác: Đây là tập thơ xuất sắc, rất hiện đại. Thành tích của văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số luôn bị gán mác châm chế. Từ cánh thiểu số lẫn đa số. Nhà văn dân tộc thiểu số biết và chịu vậy. Tôi thì huỵch toẹt ra. “Sáng tác văn chương Chăm hôm nay” ý đồ giải tán mặc cảm ấy. Mặc cảm thua kém của mình, về người mình, thứ mặc cảm làm vẩn đục không khí văn chương, tư tưởng.

“Ai trong chúng ta và thế hệ sau sẽ dầm mình vào dòng sông văn hóa dân tộc. Ai trong chúng ta bắt được nhịp đập trái tim dân tộc, mạch chảy của đời sống dân tộc. Ai trong chúng ta vượt qua mô đất phức cảm tự ti - tự tôn dân tộc, mặc cảm tỉnh lẻ, nhà quê hay sắc tộc? Ai trong chúng ta quyết từ bỏ rỉ rên: khổ lắm, đời sống khó khăn lắm, hoàn cảnh lắm, bị đối xử phân biệt ghê lắm?

Ai trong chúng ta không sợ hãi thất bại, dám đọ sức với số đông xa lạ? Dám từ chối các đặc ân, ưu ái, đãi ngộ ngoài nghệ thuật, từ chối dựa hơi vào mọi loại chức danh, chức vị. Để đừng phải ngủ quên trên đám mây hư vinh xôm xốp chưa cân xứng với thực tài. Để mình được là mình, tự do và tự tại mà sống mà sáng tạo. Chịu khiêm cung ẩn mình trong một thời gian dài, hoài thai trong bóng tối vô danh. Để rụng vào đúng thời điểm chín tới của tài năng. Tránh tình trạng đẻ non, chết yểu?

Ai trong chúng ta dũng cảm đóng lại quá khứ, dứt áo với đồng bằng quen thuộc để nhìn về trùng khơi xa lạ? Ai trong chúng ta dám đánh liều đời mình cho nghệ thuật, cho những đỉnh núi cao vòi vọi của văn chương?

Hắn sẽ là kẻ sáng tạo, là thiên tài sáng tạo.”

(Inrasara, “Sáng tác Chăm hôm nay”, Tagalau 1, 2000)

Dấn thân, khẳng định nhưng nhà văn đồng thời phải là kẻ biết tự phủ định mình, quyết liệt! Đối thoại ngắn với Trượng Ngạt vào đầu thiên niên kỉ:

- Ông chớ nghĩ mình ngon, Tagalau không có gì ghê gớm lắm đâu!

- Không có gì ghê gớm còn đỡ, mình thấy nó chả là gì cả!

- Không là gì cả à! Thật chứ?

- Ừ... thì mình có nói giả bao giờ đâu!

- Tao không hiểu quái mày cả. Không là gì sao mày bỏ cả công sức hay tiền bạc ra làm?

- Đấy, phi lý vậy đó. Vậy, hãy sống trọn vẹn với sự phi lý ấy thì sẽ hiểu ngay thôi!

Tôi xem nhẹ tất cả những gì tôi viết. Nỗ lực của tôi, các công trình nghiên cứu hay sáng tác phẩm của tôi. Tôi rời bỏ chúng ngay khi chúng vừa ló mặt chào đời. Mỗi cuốn sách ra đời như nó phải thế. Rồi thôi. Văn học Chăm tiêu phí của tôi hết tuổi thanh xuân, nó sẽ chìm khuất một ngày không xa. Làm công việc mình biết chắc nay mai bị thời gian và nhân gian quên lãng, mà vẫn làm. Tôi, anh, em. Giấc mơ của ta hôm nay, cháu con ta cũng sẽ bỏ mặc nó đơn côi cho nỗi vô thường của vũ trụ giẫm qua, nát bấy.

Con người là những sinh phận li ti giữa vũ trụ, một vũ trụ bấp bênh. Sinh thể nhỏ nhoi với các thành tích bé con, nhỏ nhoi. Xung đột biên giới Tây Nam năm 1978, tôi luôn bị ám bởi câu hỏi nếu bị bắt lính, tôi sẽ hành xử thế nào? Hay Út Lành đang bước thoăn thoắt trước mắt tôi lúc đồng quê mờ sáng? Nó mới lớp Năm, đẹp thiên thần vừa nhảy qua con mương nhỏ và quay lại dặn tôi “anh khéo nhé tối qua mưa đất trơn lắm” sẽ thế nào, nếu bọn Pôn Pốt tràn sang? Đi cô độc dọc bờ biển Thành Sơn trong trưa, tôi nghĩ về nó. Ghé nằm dưới bóng dương, một cặp tình nhân đang ôm cứng nhau, tôi thấy nó. Đầu hôm nằm võng ngửa mặt nhìn hằng hà sa lũ sao chi chít, nó có đó: sự Cô đơn.

Sá gì mấy tập thơ nhỏ nhoi, vài công trình thấp bé! Mọi vinh quang đều là hư vinh. Từ “hư vinh”, “hư phù”, “phù du” xảy ra nhiều lần trong thơ tôi. Tôi cố giấu, nhưng nó cứ bật ra bất ngờ, không níu lại được. Có người nghĩ tôi cho mình ngon, tác phẩm mình ngon, từ đó vểnh râu. Không ít bạn văn cho tôi “gã cao ngạo”. Họ không biết tôi xem nhẹ nó còn hơn bất kì ai khác. Trời biển ! Làm sao còn có thể giữ thái độ kiêu ngạo, với kẻ đang sống với nỗi bấp bênh của nền văn hóa dân tộc hắn hôm nay, với nỗi phù du của sự nghiệp hắn ngày mai? Và làm sao còn có thể kiêu ngạo khi sinh thể kia thường trực giáp mặt với NÓ, nuôi nấng và yêu thương NÓ?

- Đóng góp cho văn hóa dân tộc Chăm hôm nay, anh Trạm là nhất rồi, - bác sĩ L nói thế trước bạn đồng nghiệp trước mặt tôi.

- Đừng so đo nhất nhì, bạn à, - tôi nói.

Không thể có chuyện so đọ ở đây. Không phải cao, bằng hoặc thấp hơn mà tôi không có ở đó để so. Khi bắt đầu có sự đo đếm, tôi đã lảng sang mặt khác: Biến thành ma Hời từ lúc nào rồi!

Hoelderlin: Chúng ta là những con ma...

Heidegger: Con người vừa sinh ra là đã đủ già và chết...

Đây không phải là chuyện của triết học. Để làm gì - triết lý, trong cuộc đời tai ương giữa thời đại thiếu tinh thần này?

Tại sao nhà thơ không lo tập trung cho nghiên cứu văn hóa Chăm, cho chính sáng tác của mình, mà tốn quá nhiều công sức cho phê bình văn chương đương đại Việt Nam? Một phê bình quá mới, mới cả với người Kinh. Có thể nhà thơ thích phiêu lưu tìm thách thức, khai phá tư tưởng mới mẻ hơn. Có cần thiết không, bởi chính việc làm đó nhà thơ đã gây ra không ít ngộ nhận, ngộ nhận rất tai hại cho bản thân nhà thơ ?

Đúng lắm! Mấy năm qua, tôi luôn bị gán cho cái mác “nhà phê bình văn chương hậu hiện đại”. Nhưng phê bình hậu hiện đại có phải thuần văn chương? Ai hô rằng nó không thổi ngọn gió hiu hắt nào đến [văn chương và xã hội] Chăm, thì lầm to. Chẳng có gì mà trầm trọng lên! Trích đoạn phỏng vấn:

Một trí thức lao động khoa học, thơ ca đầy suy tưởng, vậy, có bao nhiêu thành phần lãng mạn trong con người và đời sống của anh? Có thiệt thòi không khi người ta không được sống hết mình và thưởng thức đời sống với những cuốn hút mãnh liệt của sự bay bổng của nó ?

- Tôi e rằng thành phần bách phân lãng mạn trong tôi vượt trội yếu tố khác nữa. Tôi là dân Chakleng nòi mơ mộng và, như câu nói cửa miệng của một nhân vật trong Chân dung Cát: “Sống bằng nghề mơ mộng.” Nhiều người mới văn kì thanh cứ nghĩ tôi lụ khụ khệnh khạng hàn lâm nhăn nhó ghê lắm. Nhưng ngay lần gặp đầu tiên thôi, họ mới vỡ ra tay Inrasara cũng vui vẻ đáo để. Gần hết nửa đời hư (Vương Hồng Sển đấy), tôi nghiệm rằng kẻ “sống hết mình” hơn cả đều ăn ít và nhất là sở hữu rất ít. Họ cũng ít “thưởng thức” đời sống như một ham hố vô độ nữa!

Nhưng cuộc sống là gì kia chứ!? Và hành động cốt tủy nào của con người có thể biện minh cho sự hiện hữu của chúng ta trên mặt đất mong manh này?

Hạnh phúc không ở cái đích của hòn đá kia đạt tới mà được nhận mặt trong chính hành động lăn. Mớ công trình văn chương - ngôn ngữ dày cộm kia với dăm ba tập thơ mỏng tang này đến lúc nào đó không còn một mống nào nhớ; hay thứ ngôn ngữ truyền đời hắn đang cố bảo tồn kia, hoặc cả nền văn học dân tộc dày truyền thống hắn đang ra sức sưu tầm-dịch-in-và đem tặng khắp thư viện lớn nhỏ, ngày nào đó rồi cũng bị tiêu ma! Nhưng hắn vẫn cứ làm. Hắn tìm thấy niềm vui và nỗi buồn trong đó. Nó làm nên ý nghĩa đời hắn, hắn biến nó trở thành có ý nghĩa.

Văn chương là một phần của cuộc sống. Phê bình văn chương hậu hiện đại, cách nào và phần nào đó, là nói cho văn chương và xã hội Chăm. Nó tác động đến sự nhìn nhận của cộng đồng khác về Chăm, trước mắt hay lâu dài. Phê bình hậu hiện đại còn ý hướng phá vỡ bức tường mặc cảm, mặc cảm hậu thuộc địa, mặc cảm thiểu số với tỉnh lẻ, mặc cảm phái yếu tòng thuộc (nữ), mặc cảm với chưa là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Rời bỏ tinh thần dĩ Âu vi trung, tâm lý lệ thuộc, chối bỏ các đại tự sự từng/ toan thống ngự cuộc sống con người hay nền văn hóa ngoại biên, để mỗi cá nhân tự khẳng định vị thế của mình, mọi nền văn hóa nhỏ lẻ có tiếng nói của riêng mình.

Một suy tư như thế chắc chắn không tránh khỏi phản bác. Cả những phản bác nặng nề, phi lý và phi nhân văn nhất: Phản động, phản bội truyền thống quá khứ, xem thường văn hóa dân tộc, có ý đồ khích động, xu hướng vọng ngoại,... Dẫu sao, bên cạnh những phản bác hay tố giác, phê bình kia cũng đã nhận được bao nhiêu là tụng ca: Cây bút phê bình lỗi lạc, lý luận sắc sảo, lối phê bình mới mẻ, độc đáo và trách nhiệm, tư duy độc lập, phê bình mang tính phát hiện, luôn biết làm mới mình,...

Dấn thân, tôi không thể dừng lại. Ở phong cách hay hệ mỹ học sáng tạo. Mỗi tác phẩm là một thể nghiệm giọng điệu mới, phong cách mới, thậm chí: Hệ mỹ học sáng tạo mới. Lễ Tẩy trần tháng Tư đề cập đến sự cao cả, linh thiêng của lễ [không riêng Chăm nhưng đặc trưng Chăm], nó đòi hỏi giọng sử thi của bút pháp, sự trương nở tối đa của câu thơ và ngôn từ. Sang Chuyện 40 năm mới kể 18 bài thơ tân hình thức kể chuyện vụn đời thường. Một ông già nhà quê tàng tàng, nông dân hoặc bạn học thuở thiếu niên, con trâu hay dòng sông thơ ấu. Nghĩa là các mảnh đời bình dị trong cuộc sống thường nhật, nên thủ pháp tân hình thức là rất thích hợp. Qua Ở nơi ấy [thơ thời cuộc] động cập đến chuyện thời sự nóng trên khắp thế giới, tôi cần tìm tòi cách thể hiện mới, khác nữa. Không phiêu lưu khai phá, người viết chỉ lặp lại kẻ khác và của chính mình, sáng tạo đi vào ngõ cụt!

Đại tự sự grands récits hay tự sự chủ đạo master narratives là những chuyện kể mà một nền văn hóa hay một dân tộc tường thuật và tin vào. Nó tạo nên tâm thức cộng đồng và duy trì sức mạnh của một nền văn hóa hay một dân tộc.

Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng kể trong một cuộc họp với thổ dân da đỏ Canada, đại diện chính quyền tuyên bố vùng đất ở đó thuộc quyền sở hữu nhà nước. Vị trưởng lão hỏi: - Nếu đất đai là của quý ngài, thì quý ngài có câu chuyện nào kể lại cho chúng tôi nghe không? - Không có! Thế là vị này liền đọc một câu chuyện bằng thơ liên quan đến sinh hoạt của người da đỏ hàng trăm năm trước, bằng tiếng địa phương, để chứng minh rằng vùng đất đó là của họ. Dù bằng chữ viết hay truyền miệng, những câu chuyện bao giờ cũng sống lâu hơn cả trong lòng chúng ta, lưu giữ ở đó ánh sáng của mặt trời đã tắt.

Mặt trời Champa đã tắt, nhưng những chuyện kể vẫn sống dai dẳng trong tâm thức Chăm: Truyền thuyết Ppo Inư Nưgar, Ppo Rome, Nai Tangya Bia Atapah. Chắc chắn, chúng sống còn mạnh mẽ hơn, sâu thẳm hơn, dai dẳng hơn lịch sử thành văn. Cùng với Ariya Glơng Anak, Pauh Catwai, Ariya Cam - Bini, đấy là câu chuyện sống người Chăm dùng tới khi muốn chứng minh sự tồn tại của mình trên mảnh đất này. Sứ mệnh của thi sĩ là canh thức và kể lại các câu chuyện đó xuyên thế hệ. Câu chuyện có thể thay đổi, nhưng tinh thần của chúng không biến mất. Chúng tiềm ẩn để làm nên sức mạnh tâm linh dân tộc, cho đến khi nào dân tộc đó từ chối chúng, bỏ quên chúng.

Lịch sử bất di bất dịch, không ít người nghĩ thế. Nhưng lịch sử không là quá khứ mà là câu chuyện về quá khứ. Nên nó luôn luôn được viết lại. Bởi một cá nhân, một tập thể, một chế độ, trên một lối nhìn, một nhân sinh quan khác. Thế nhưng, thời hậu hiện đại, con người nghĩ khác, đã tin/ không tin khác. Bất tín đại tự sự, họ tìm sự cứu chuộc ở tiểu tự sự petits récits. Nghĩa là những chuyện kể mang tính cá nhân, địa phương, thiểu số, tạm bợ trong hoàn cảnh cụ thể. Nó không đòi hỏi ở đó một chân lý phổ quát, ổn định hay đòi hỏi tất cả mọi người tin vào nó.

Lịch sử là hi[s-]story chỉ là câu chuyện của anh/ chị ta, như cách chơi chữ của một tác giả phương Tây. Quá khứ xa của dân tộc Chăm và quá khứ gần của đời sống Chăm cũng là một thực thể đã và đang được kể lại, qua truyền thuyết lịch sử, huyền sử hay bởi vài nhà sử học đầy khách quan. Phong phú, nhiều chiều, với nhiều khác biệt có khi rất trái ngược nhau. Chuyện về vua chúa, anh hùng liệt nữ Chăm từng được kể bằng nhiều cách khác nhau với nhiều tình tiết khác nhau từ các Ong Mưdwơn khác nhau tại các khu vực khác nhau bởi những gru khác nhau. Thêm hay bớt vài chi tiết, hiện thực hơn hoặc huyền bí hơn. Để phục vụ cho mục đích, lợi ích của ta hay thậm chí, trò chơi của ta. Mấy trăm năm qua, Chăm không thấy có vấn đề gì cả. Họ chấp nhận mọi sự khác biệt trên một nền tảng tinh thần chung.

Trà Vigia ý định kể lại câu chuyện Chăm theo kiểu của mình. Một câu chuyện về một hiện tượng hay sự kiện có thể làm cho hiện tượng hay sự kiện đó phong phú, đa diện và đa sắc thái. Chăm H’ri của Trà Vigia khả năng đưa huyền thoại cũ vào hậu trường lịch sử. Đúng hơn, hậu trường của quá trình nhìn nhận về lịch sử. Chúng chỉ còn là một giọng phụ, không hơn.

Trước đó, viết Chân dung Cát, tôi cũng đã thử kể câu chuyện khác về Chăm. Đó là chân dung tinh thần Chăm thời hiện đại, nhưng không hẳn đúng là/ chỉ là chân dung tinh thần Chăm. Nếu nó chỉ là thì sự thể tố cáo tầm nhà văn quá thấp; còn nếu nó đúng là thì tác giả nên đi viết tiểu luận nghiên cứu là hơn. Nhưng Chân dung Cát khác Chăm H’ri ở tính phi nghiêm cẩn unseriousness của giọng điệu. Nó đùa nghịch và bỡn cợt. Bỡn cợt vào chính nỗi nghiêm trọng kia.

Bỡn cợt (humor, humour) là cách chống lại đau khổ, cách thoát khỏi độc ác, khỏi cái Chết, khỏi cái khốn nạn của con người, khỏi tay bạo chúa, khỏi Thượng đế, khỏi đam mê, khỏi mọi thứ xui xẻo trên đời. Là tránh cho khỏi sa vào cái bẫy nghiêm trọng. Không có bỡn cợt thì thằng công tử chỉ là một gã lòe đời và vị bác học chỉ là một tên phách lối. Bỡn cợt né tránh được ác ý bằng một nụ cười.” (Frédéric Ferney).

Chẳng có gì trầm trọng cả!

Mỗi cuộc đời có định mệnh của nó. Định mệnh mở ra ngay ở khởi đầu của hành trình đời người. Với tôi, văn chương - chữ nghĩa như là một định mệnh. Điều không thể tránh thì không thể tránh. Ngay thuở bé, cho đến bước chân vào cổng Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á để ba năm sau đó cho ra lò Từ điển Chăm - Việt. Thời gian đóng băng ấy, tôi nông dân vô danh tiểu tốt. Đảng viên: không, học vị học hàm: không, chức vụ: không. Không, không, không, nhưng đột ngột sắm vai tổ trưởng điều hành bao nhiêu là vị. Mà với Chăm thì chuyện chữ nghĩa luôn bị gán cho cái gì cực nghiêm trọng. Tôi lặng lẽ chịu đựng bao gánh nặng nỗi người và - ơn trời, tôi đã thoát ra nỗi ấy một cách lẫm liệt qua Hội nghị Góp ý Từ điển vào mùa xuân năm 1995. Cắt! Khi trả lại em yêu khung trời Đại học, tôi quyết định cho in những gì tôi đã viết...

Sa mạc lan dần... Tai hại thay cho kẻ nào ôm mang sa mạc.

Là thi sĩ Bà-la-môn, tôi đã rời bỏ cuộc chơi ngay khi khởi sự. Còn hơn thế, sau lưng tôi còn đó Glơng Anak, luôn sẵn sàng thò cọng hành cứu vớt linh hồn tôi khi đụng phải hố hang cuộc người.

Ariya Glơng Anak, dài chỉ 116 câu lục bát Chăm nhưng đã đựng chứa và cưu mang cả bể khổ đời. Khi tâm hồn mình bị xáo động trước thời cuộc và lòng người, bên cạnh Heidegger, tôi luôn tìm đến Ariya Glơng Anak. Tôi hiểu tại sao Nguyễn Du tự nhận trong đời, đã đọc và tụng Kinh Kim Cang hơn ngàn lần! Cuốn sách cứu chuộc con người là vậy.

Chăm hầu như không biết căm thù. Thù đậm, thù dai, thù truyền đời. Giận thì có, nhưng thù, hận, căm thù, hận thù - không, có lẽ. Lạ! Trong văn chương Chăm không có dấu vết căm thù. Lẽ ra với người Kinh, họ “cần” căm thù mới đúng lý, thế mà sự thực - không! Tiếng Chăm: “căm” là janưk; “thù” là mưbai. Hai từ này hay đi chung với nhau thành cặp đôi mưbai janưk hay janưk mưbai thù hận, hận thù. Ở khía cạnh khác, hanauh hờn; cấp độ cao hơn xíu thành ginaung giận.

Ariya Ppo Parơng được viết cách nay gần thế kỉ rưỡi, cái tình bật nổi là giận. Quan Pháp bắt đi tận mọi xó xỉnh mấy tỉnh thành dọc khắp tỉnh thành Trung Bắc Nam, để khảo sát thực địa và tìm bi kí, bị chửi bới đánh đập, xa nhà, xa ruộng nương, cơ khổ mọi bề; vậy mà họ không oán thù Pháp mà chỉ giận:

Bụng tôi nửa buồn nửa giận

Lúc đến báo cáo, họ đánh tát [với] chửi mẹ bảo rằng khờ

Với người Việt, đất nước về phần họ rồi, sao họ không biết thờ cúng, nỡ bỏ mặc bao nhiêu là tháp đền cho hoang phế (ôi là ngây ngô!). Nhớ rằng đó là vào những năm cuối thế kỉ mười chín. Tác giả Ariya Ppo Parơng cùng lắm chỉ oán trách chứ tuyệt không câu nào biểu hiện căm thù. Ariya Twơn Phauw (1830-1840) không khác. Thơ kí sự ghi chép cuộc chiến của Twơn Phauw với quân Minh Mạng, tuyệt không có bóng dáng căm thù ở đó.

Nhưng tại sao Ariya Glơng Anak, tác phẩm nổi tiếng nhất và được cho là nhân bản nhất suốt lịch sử văn học Chăm, chữ janưk, mưbai, janưk mưbai lại có mặt dày đặc? Janưk hận, xấu ác, không lành sáu lần xuất hiện; mưbai thù hai lần. Ngoài ra, mưbai janưk thù hận còn quàng vai đi kèm ba bận; hay janưk haniim thiện ác đi cặp hai lần nữa!

Ariya Glơng Anak ra đời vào đầu thế kỉ mười chín, khi Champa đã sụp đổ và tan rã. Chăm đang hoảng loạn li tán. Biến thiên cuộc thế và thay đổi của lòng người gây nên đại khủng hoảng mang tính quyết định đến tồn vong [không phải đất nước nữa - đã mất rồi, mà] của sinh mệnh cả dân tộc. Hận thù có mặt khắp xung quanh, bàng bạc trong không gian, do người ngoài mang đến “tặng” ta, nó có mặt lù lù giữa anh em bà con bè bạn ta, và ẩn tàng ngay thẳm sâu lòng ta nữa. Kẻ thức giả cô đơn và cô độc: Dauk sa drei sa nưgar di krưh hanrai / Di krưh tathik cwah jai, halei nưgar drei si nau Ngồi một mình một vùng giữa cồn đất / Giữa trùng khơi cát bồi, đâu nơi mình sẽ đi ?

Ariya Glơng Anak viết để cảnh giác, để cảnh báo. Viết như là trối trăng (Lễ Tẩy trần tháng Tư). Đó là thông điệp cuối cùng của thức giả lớn cuối cùng trong ngày tàn cuộc cuối cùng. Thế nhưng, bên cạnh mưbai, janưk, janưk mưbai tác giả Ariya Glơng Anak không quên haniim phúc, lành, thiện hay haniim ayuh phúc thọ hoặc haniim phwơl thiện lành. Lặp đi lặp lại. Không phải như một đối lập nhị nguyên mà, như một ước vọng, mở lối thoát, khai thông hướng đi cho tương lai.

Ariya Glơng Anak mở ra cho Chăm, trước ngột ngạt của lịch sử, một sinh lộ khiêm tốn nhưng thiết thực, hé cho ta thấy, trong đêm tối đen mò của thời cuộc, tia sáng yếu ớt của niềm hi vọng:

Ngap rideh paga wal raung kabaw

Bilimưk khơng di nau, pajiơng jađun saung hatơm

Ppabơk banưk ppakwơc ribaung bidalam

Gan agha gan rơm, sa prưn sa hatai

Hadơng jan ia xwa laik mưrai

Liwa hamu drak padai, liwa puh pala tangơy

Blauh pala nhjơm paya saung plwai

Yah ơk cang thrwai, bbơng plwai saung dak

Đóng xe, dựng chuồng nuôi trâu

Cho thật béo mập để dùng vào việc chuyên chở

Đắp đập, khai mương cho thật sâu

Băng rừng băng sông, chung lòng chung sức

Đợi khi mùa mưa kịp xuống

Cày ruộng gieo lúa, cày rẫy trồng ngô

Rồi trồng bí đỏ, trồng khổ qua

Ăn qua vụ đông, đợi mùa lúa chín

Chỉ một đoạn thơ, với cái giản đơn ý thơ, của ngôn từ nhưng ông đã nói lên được cả một tấm lòng. Đó là tấm lòng bao dung của người cha. Cao hơn, một đạo sĩ đắc đạo. Hãy tưởng tượng, khi tất cả bị đảo lộn, khi thân cây đạo đức đã trụi lá, khi tâm thiện chí mất đất đứng, khi bóng tối lan tràn và tất cả đã tuyệt vọng, một giọng nói chân thành và đầm ấm vang lên - khiêm cung nhưng dứt khoát, một bàn tay cứng cáp và nồng ấm đưa ra trong cơn hoảng loạn chung! Đây không đơn thuần là lời khuyên đạo đức của nhà luân lý trong xã hội đã rã mục. Đây là lối nhìn, quan niệm sống, chiến lược hành động của nhà đại trí thức ưu thời mẫn thế, một con người còn bình tâm đi tìm con đường sáng khả dĩ đưa dân tộc thoát khỏi vũng lầy lịch sử. Con đường trở về bản thể mình, trên đức lý rất cơ bản, bằng những việc làm nhỏ bé và thiết thực.

Làm sao giải thoát tâm hồn khỏi căm thù? Ở mọi thời điểm căng thẳng, buồn rã tim hay lo nát mật, tôi luôn trở về với Ariya Glơng Anak để cảo thơm lần giở... Đọc lại từng câu chữ của Ariya, cho dù tôi đã thuộc lòng nó. Cho nên, khi nhà thơ đất Quy Nhơn không dưng nổi hứng bảo thơ tôi “khát vọng phục thù, ước mơ đảo ngược” in trên Văn nghệ già của Hội Nhà văn Việt Nam, tôi chỉ trả lời nhẹ nhàng, bằng thơ:

TỤNG CA CỦA NƯỚC

Chợt hai tay xoe tròn rụt lại

chỉ có đôi mắt đầy nước vươn ra

vươn dài ra muốn chạm ngực trần tôi

Đừng khóc!

người thiếu phụ yêu tôi bằng giấc ngộ nhận dài

Làm sao gọi em ngược về thế kỷ Huyền Trân?

làm sao chuyển dịch tôi sang ngữ ngôn huyền sử?

để em có thể tầm nguyên tâm hồn tôi

mà không phải đọc tôi qua sương mù dị bản

cho ngực trần tôi mãi là trang sách mở

để hai bàn tay lửa em vươn tới tự tin hơn

Bên kia cánh đồng cầu an, ngọn đồi rũ mệt

là đỉnh núi dựng mời vẫy cô đơn tôi vượt qua

bên kia, về phía bên kia nơi bờ sông quê hương tháng Tư đang Lễ Tẩy trần

Làm sao em song hành cùng tôi về đứng bờ sông đêm nay?

trong đau hoan lạc

hát vang bài tụng ca của nước

chảy đi

chảy đi

chảy trôi đi

chảy trôi tất cả đi...

giở một vòm trời khác.

Ông/ bà trời cấu trúc con người tôi quên ghép gen căm thù. Lạ lắm! Một tạp chí Chàm mình ở hải ngoại chuyên tố giác Inrasara. Gặp phải những Inrasara “cùng trường phái với thế lực công an”, “tôn vinh Đảng và nhà nước”, “nhằm ý đồ nào khác”, vân vân... tôi đính chính một lần, rồi thôi. Rồi quên. Mãi mãi! Thoát khỏi mọi vướng mắc làm trĩu nặng thêm cuộc sống vốn quá trĩu nặng này.

Làm sao có thể giải phóng tâm hồn khỏi mọi chấp nê vụn vặt? Câu hỏi tưởng bé nhỏ nhưng khá to cồ, trong cuộc người đầy bất trắc hôm nay. Làm thế nào có thể thõng tay vào chợ?

Con người là dòng sông dơ bẩn, phải là biển cả bao la mới có thể dung chứa những dòng sông dơ bẩn kia mà không tự làm ô uế mình, Nietzsche nói thế. Thật lố bịch cho kẻ nào tự nhận là biển cả giữa cõi nhân gian mênh mông chật chội này. Nếu thế hắn là hoặc thánh nhân hoặc thằng khờ. Con người hỉ nộ ái ố urang bihuh biha bihi, đủ cả. Thế mới là con người. Nhưng con người vẫn có thể vượt khỏi chúng bằng tinh thần phá chấp vô phân biệt với thái độ buông xả.

Dom blauh dom kadauk

Bao nhiêu đã xong là bấy nhiêu thì thôi

như ông bà Chăm nói.

Tất cả chỉ vừa đủ cho một cái cười lớn. Cười thật to rồi quên.

chảy đi

chảy đi

chảy trôi đi

chảy trôi tất cả đi...

Inrasara —★— HÀNG MÃ KÝ ỨC ebook©MotSAch —★— TVE-4U©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản Văn Học
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.