Hàng Mã Ký Ức

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4
Chuyện Chữ

❊ ❊ ❊

Chữ có cuộc sống riêng, từ sinh thành cho đến lúc lâm chung. Thăng trầm và biến dịch khôn lường. Chữ sống, bước đi, đứng, ngủ, ngã lòng, thở dốc; chữ an ủi vỗ về, tạo ảo tưởng, thăng hoa hay hành hạ tâm hồn con người; chữ bị thương, bị làm biến nghĩa, biến dạng, biến chất; chữ đau bệnh, kiệt sức, hết hơi, giãy chết; cuối cùng chữ bị khai tử và được mang trưng bày trang trọng trong viện bảo tàng hay bị chôn vùi vào nghĩa trang - nghĩa trang chữ.

Đời chữ Chăm cũng vậy. Và còn hơn thế, có lẽ.

Ba mươi năm la cà, ăn nằm cùng chữ hay đôi lúc chán nản, toan rời bỏ chữ, tôi vui cái vui của chữ, đau đớn, dằn vặt với chữ, trưởng thành qua hay chịu muôn ngàn hệ lụy với/ của chữ. Ba mươi năm, để được trả giá: Tôi hiểu chữ là một trong vài bí mật của thế giới mà ẩn ngữ của nó không bao giờ khai mở trọn vẹn cho con người.

Như chuyện Phauk Dhar Cơk, ông họ nội tôi. Người bảo ông tàng tàng, kẻ nói ông lập dị, không ít vị cho ông bất phùng thời. Thôi thì đủ cả. Dù gì thì gì, lối lý giải khiến không ai phải giơ tay xin ý kiến nữa, là: Ông bị ăn chữ bbơng akhar !

AKHAR là gì? Là chữ.

Akhar trong tiếng Chăm có nguồn gốc từ tiếng Pali: akkhara, là chữ viết, chữ (cái), chữ, tự dạng; ngôi sao. Vay mượn tiếng Pali, Chăm lượt đi nguyên âm cuối A (trường hợp phổ biến trong tiếng Chăm), để thành akhar. Có mấy lối viết chữ Chăm:

Akhar di hayap: chữ trên bia đá, nói chung.

Akhar rik: chữ cổ, chữ thánh, lối viết hoa.

Akhar yok: chữ bí ẩn, lối viết thay dấu âm bằng chữ cái.

Akhar twơr: chữ treo, lối viết tắt.

Akhar galimưng: chữ con nhện, lối viết tháu.

Akhar thrah: chữ thẳng, chữ thông dụng, lối viết thường dùng.

Akhar mưtai: chữ chết, lối viết kéo dài chữ cái dùng làm phụ âm cuối của từ. Ngoài ra, akhar còn kết hợp với vài từ khác để tạo thành từ ghép như:

Akhar xarak: chữ viết nói chung (xarak: kí, viết).

Akhar tapơng: chữ gốc, sách cổ, bản gốc.

Akhar tapuk: chữ nghĩa, kiến thức...

Bbơng akharăn chữ ! Là bị chữ ăn akhar bbơng, bị sách hành. Khi ta hiểu văn bản trật, khi ta dùng sai mục đích của sách, hoặc ta ứng xử không phải phép với chữ! Chăm nói: Bbơng akhar bbơng aw Ăn chữ ăn áo. Akhar chữ đồng âm với khan váy. Lối đọc trại làm biến nghĩa của quần chúng để đùa cợt kẻ sở hữu nhiều sách mà không biết cách dùng sách, tự hành hạ mình đồng thời gây phiền hà người xung quanh.

Phauk Dhar Cơk có rơi vào trường hợp này không? Ai dám đoan chắc, ai - những kẻ tài hèn trí mọn của thế hệ hôm nay? Ông là ngọn núi cao ngất hay chỉ là ao tù bé nhỏ, cạn cợt? Ông mất năm 1984, vừa đúng thất thập, sau cuộc hành trình năm năm khất thực quy hồi cố hương. Con người lập dị này đến hôm nay vẫn còn là một bí ẩn.

Dân tộc Chăm biết sử dụng chữ viết từ khá sớm. Bia Võ Cạnh (Nha Trang) - năm 192 sau Công nguyên, là bia kí đầu tiên bằng chữ Phạn ở Đông Nam Á. Cũng vậy, bia Đông Yên Châu cuối thế kỉ thứ tư, là minh văn bằng chữ bản địa có mặt sớm nhất khu vực. Chăm hãnh diện về nỗi đó, nên ông bà rất quý sách. Chữ là chữ của thần thánh, tuyệt không ai được phép dùng giấy có chữ viết làm giấy loại hay giấy vệ sinh. Akayet Um Mưrup là tác phẩm truyền bá tôn giáo Islam vào xã hội Chăm, nhưng Chăm Bà-la-môn chưa hề có ý đốt nó đi khi bắt gặp nó trong ciet sách gia đình. Không được phép truyền, nhưng không hủy.

Huyền thoại về kho sách cổ cất giấu trong các hang núi vùng Phan Rang, Phan Rí từ thế kỉ mười bảy đến thế kỉ mười tám được truyền tụng trong dân gian Chăm như một ám ảnh. Nhiều người biết đến nó nhưng không ai biết đích xác nó như thế nào hay ở đâu. Xa hơn, cuối thế kỉ thứ mười, giai đoạn Lưu Kì Tông làm vua vương quốc, hàng chục chiếc tàu của hoàng tộc Chăm sang đảo Hải Nam lánh nạn, chở theo đầy sách. Gần ngàn năm không ai dùng đến, sách đã mục đến không thể giở đọc được. Vẫn chỉ là những nghe và kể lại. Gần đây, năm 1985, tình cờ người ta khám phá thấy kho sách Chăm với ba ngàn văn bản bị bỏ rơi từ thế chiến thứ II trong một hòn đảo thuộc Ấn Độ Dương. Toàn bộ tư liệu được đưa về kho lưu trữ bên Pháp. Nhưng mãi đến lúc này, chưa tìm đâu người để đọc và phân loại chúng. Cũng chỉ là nghe nói khác!

Người Pháp, do hoàn cảnh lịch sử đặc thù, là người đi đầu trong sưu tầm và nghiên cứu văn bản Chăm. Với hơn 250 bi kí thu thập được từ đầu thế kỉ đến nay, năm 1995 Claude Jacques làm cuộc tập kết thành Études épigraphiques sur le pays Cham dày dặn 330 trang oai vệ. Đó là minh văn trên bia đá được sáng tạo bằng hai thứ tiếng Sanskrit và chữ Chăm cổ từ thế kỉ thứ ba đến thế kỉ mười lăm nằm rải rác suốt dải đất miền Trung, xưa từng là khu vực phát triển phồn thịnh của văn hóa - tôn giáo Champa.

Tưởng người Pháp, trong thời gian xâm chiếm Việt Nam, đã “vơ vét” của dân tộc này hết rồi. Nhưng không! Chăm từ thế hệ này sang thế hệ khác, vẫn còn lưu giữ ciet sách gia đình. Gần như mỗi gia đình trí thức đều có ít nhất một ciet sách. Hai mươi năm đi vào các làng mạc, tôi đã chép tay khoảng 300 văn bản, trong đó hơn trăm thuộc phạm trù văn chương. Sau đó, năm 1994, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm - Ninh Thuận cũng đã chụp được từng ấy bản nữa. Đấy là ta còn chưa có chương trình lớn và toàn diện. Cuốn sách treo mòn kí ức mãi đón chờ những bước chân. Kiên nhẫn và miệt mài...

Sách Chăm được chép trên giấy bản Tàu, trước kia, trên những miếng lá buông ghép lại với lỗ để xỏ dây xâu thành tập. Thời Pháp, cha ông dùng giấy xi măng, dù thô nhưng khá bền. Sách được cất vào ciet paung (như rương đan bằng tre lát), treo trang trọng lên xà ngang ngay giữa nhà. Định kì hàng tháng, với lễ vật đơn sơ, chủ gia làm lễ rước xuống mang hong nắng. Sách lâu ngày không dùng tới gọi là akhar bhaw sách hoang, rất không hay cho người sở hữu chúng.

Bhaw, tiếng Việt là hoang. Không phải như hoang trong từ bỏ hoang, nghĩa là chỉ không được chăm sóc, sử dụng một thời gian, chứ không vĩnh viễn. Ở nghĩa này, Chăm có từ biluw, trong từ hamu klak biluw ruộng bỏ hoang, kamei biluw phụ nữ chưa chồng. Còn bhaw là hoang mãi mãi, hoang vô phương cứu chữa. Mưtai bhaw chết hoang, chết không có ai ngó tới, không được hưởng các nghi thức tín ngưỡng cần thiết. Bạn chết một lần trong đời, khi bị chết hoang, cái chết không xảy ra lần nữa cho ta cứu vãn sai lầm phạm phải. Vĩnh viễn phải chịu án.

Akhar bhaw cũng vậy. Chữ - sách không được làm lễ mang xuống phơi nắng, không được đọc tới, chúng trở thành hoang! Có thể tháng sau hay năm tới ông sẽ ngó ngàng tới, nhưng thứ chi khác thì được, với chữ thì đừng hòng: Chúng đã thành hoang! Đây là quan niệm độc đáo và rất trí tuệ. Kẻ sĩ một ngày không đọc sách, soi gương, mặt mũi chẳng ra làm sao. Một ngày thôi đã vậy, nói chi cả tháng sách bị bỏ hoang. Bạn đã ứng xử với nó thế, nó tỏ thái độ với bạn ngay: Nó quay sang hành bạn! Làm cho bạn điêu đứng vì nó, gia đình bạn hoạn nạn bởi nó.

Mùa thu năm 2002, Cei Halim Mưh phán: Bởi gia đình đang bỏ mặc cho akhar bhaw sách hoang nên sách hành akhar bbơng ! Đúng sai không biết. Thế là ngay tuần sau, cả bốn ciet sách với bao công lao cả mồ hôi lẫn nước mắt của ông bà bị con cháu làm lễ đơn sơ, vội vã, để nửa đêm mang thả xuống sông Lu. Tất cả! Chữ bị trả về với sông nước, cát bụi.

Chuyện chữ Chăm là truyện dài nhiều tập, hấp dẫn, với bao biến tấu bất ngờ và, hậu quả thì không ma nào lường trước được.

Để chỉ kẻ dốt nát, dân gian có thành ngữ: O hu akhar K wak gilaung tauk Không có chữ K treo lỗ đít (K là chữ cái đầu tiên trong bảng chữ cái Chăm). Với thành phần thực dụng, chữ là một trở ngại không nhỏ: Akhar o buh tamư gauk hu Chữ [nhiều cũng] không bỏ vào nồi được. Blơk/ pơh akhar giở sách là từ hàm nghĩa hay, tốt; nhưng để chơi khăm kẻ ưa khoe sách, đụng phải chuyện gì cũng khất để về nhà giở sách xem thánh hiền viết thế nào đã, Chăm bày ra tiếng đồng âm: blơk khan vén váy để đùa nghịch. Đối tượng có nước ngọng! Kẻ ích kỉ, cất sách riêng xài, ưa giấu chữ bằng lối viết bí ẩn hoặc chỉ mỗi tác phẩm mà chép vào ba, bốn tập khác nhau để ví sách có bị đánh cắp, người sở hữu tiếp sau không biết đường mà lần, bị lên án là ppadơp akhar giấu chữ.

Nói lý, cãi lý, cao đàm khoát luận triết học cao siêu được gọi là ppacoh, pacauh xakarai. Xakarai hay xakkarai nghĩa là triết lý, lịch sử, luận lý xuất hiện qua/ trong chữ. Nó ăn nhờ ở đậu chữ, kí sinh chữ nhưng cũng đóng góp phần mình vào sự phồn vinh của chữ. Chăm có chữ sớm thì triết học với văn học phát triển ngon lành là chuyện miễn bàn - Trà phán đinh đóng như thế.

Sách quý, hiếm gọi là akhar taduk ciet sách đáy chiết. Tính linh thiêng được ban cho chữ, nên mới có akhar nưbi chữ thánh.

Lối viết tháu, muốn đọc thì phải pacannư suy luận: Jơl di G pwơc L, jơl di L pwơc G Bí chữ G thì đọc sang chữ L, kẹt chữ L thì đọc sang chữ G, được coi như một thách thức lớn với đám học trò mới tập làm quen với sách vở thánh hiền. Chính mắc kẹt bởi lối viết này, thêm vài cách phát âm bất hợp lý (ví dụ: viết một chữ kauk con cò, trắng mà phát âm ba kiểu khác nhau) mà Ban Biên soạn sách chữ Chăm phải ra sức chọn lựa chuẩn hóa cách viết, đọc. Chuẩn hóa này đã gây không ít phản ứng dây chuyền trong giới chữ nghĩa Chăm: “Mẹ” thời đại mới vừa bị cho mọc râu ! (chữ maik mẹ được thêm nét dấu âm thể hiện âm dài để phân biệt với chữ maik thôi). Theo các vị, cứ đà này thì râu chữ còn mọc đến lúc lên giàn lửa mới thôi!

Và cuối cùng, không thể không nhắc đến chữ Chăm Latin. Thôi thì vô thiên lủng! Ai muốn viết sao thì tùy lòng. Phiên âm đã nhiều, chuyển tự cũng không hiếm. Aymonier và Cabaton, tác giả Từ điển Chăm - Pháp, có lối của mình; sau đó là David Blood rồi, Nguyễn Bạt Tụy viết kiểu khác. Cứ thế. Nhóm nghiên cứu về Chăm thuộc trường Viễn Đông Bác cổ những năm chín mươi đã có một lối, sang đầu thế kỉ mới lại nổi hứng đề xuất lối viết khác. Bùi Khánh Thế có cách phiên âm và chuyển tự riêng trong Từ điển Chăm - Việt, Từ điển Việt - Chăm do mình chủ biên. Không ai là không thiếu cái lý lẽ riêng, chung. Cả tôi, cũng dự phần.

Và, câu chuyện chữ cứ thế liên tục tập tiếp theo...

Chăm hôm nay không biết cười, là điều đáng tiếc. Trong lúc ông bà không thiếu truyền thống cười, rất đa dạng. Từ điển Moussay kê ra mấy chữ klau: Klau kapu cười nụ, klau ppajwak cười gượng, klau khim cười mỉm, klau đah đah cười nắc nẻ, klau hwah hwah cười to tiếng, cười ha hả, klau đaih đai cười ngặt nghẽo, klau pik mưta cười ngất, klau hik hik cười khúc khích, pathwơr klau buồn cười, klau pagrưng cười giả lả, cười gằn, klau di thauh cười lảng, Klau bilei cười chê, klau hlok cười mơn trớn, klau haiy haiy cười khì, klau jwa cười thầm.

Tôi sưu tầm được vài thứ cười khác nữa: klau langưk cười muốn xỉu, klau lwơ cười nhạo, klau palwơ cười dụ khị, cười nịnh, klau padrưh cười nhả, klau khim khiah cười nhí nhảnh, klau patuh tung cười vỡ bụng, klau hing tagei cười khỉ, klau hih hih cười khúc khích, klau haih cười giòn, klau haih haih cười khanh khách, klau yuw urang galaik cười như bị cù, klau nhim cười duyên, klau hauk ia mưta cười ra nước mắt, klau paglauh ia mư-ik cười vãi đái, klau pabak drei jan cười lấp liếm, klau bboh anưk tarakaung cười há họng, klau bboh amaik bboh amư cười thấy ông vãi bà vãi, pathrok klau nực cười, paglauh klau tức cười.

Ngoài cái cười do tác động mang tính vật lý, tạm phân loại thành ra mấy thứ cười: cười vui (hẳn nhiên rồi!), cười chê, cười khỏa lấp và mấy thứ khác nữa. Ừ, chữ cười thì vậy. Thử xem Chăm đã cười thế nào trong văn chương.

Văn chương trữ tình Chăm hầu như thiếu vắng hẳn tiếng cười. Hàng trăm kadha pađit ca dao chỉ có nỗi buồn, mênh mông buồn cùng niềm thương và tiếng than oán trải dài. Thi thoảng có vài tiếng cười, nhưng lại là... cười mỉa! Cả ba ariya trường ca trữ tình cũng chẳng hơn. Chuyện tình Hamlet hay Romeo and Juliet có đẫm máu và nước mắt tới đâu, Shakespeare vẫn cho xen vào câu chuyện vài tiếng cười khoái hoạt, dẫu tiếng cười đó chuẩn bị cho tình tiết bi thương hơn. Ở Chăm thì, không.

Ariya Bini - Cam, ba lần tác giả cho nhân vật cauk khóc với hai lần ia mưta nước mắt rơi, nhưng tuyệt không có lấy tiếng cười. Chỉ một lần, nhưng đó là tiếng cười mà nhân vật thèm khát đi tìm để chạy trốn cô đơn nội tâm: Dwah pơng xơp thei đom klau Tìm nghe tiếng ai nói cười. Nhưng, không có!

Cũng thế, trong Ariya Xah Pakei, hia khóc: một lần, cauk hia khóc than: hai lần, ia mưta nước mắt: bốn lần có mặt; riêng klau cười: số không tròn trĩnh! Còn Ariya Cam - Bini, có klau đấy, nhưng đó là klau bilei cười chê, mới khổ!

Kuw hwơc đa gơp gan ra klau

Ta ngại hàng xóm cười chê

Gơp gan ra klau tok tai

Hàng xóm cười chê thây kệ!

Còn ở đầu bên kia thì đậm đặc: hia cauk than khóc: một lần, hia khóc: bảy bận, ia mưta nước mắt: cũng bảy kì xuất hiện! Đó là chưa tính các hạn từ hàm nghĩa tiêu cực tương đương.

Văn chương trữ tình đã vậy, văn chương thế sự chẳng khấm khá hơn. Có lẽ cuộc thế đảo điên, bi thảm hay cái khốn khó, cơ cực trong đời sống thuở ấy khiến Chăm không thể cười nổi trong văn chương chăng?! Trong khi cả 116 câu ariya lục bát Chăm của Ariya Glơng Anak không có lấy nửa tiếng cười, dẫu là cười buồn thì, Ariya Ppo Parơng thuộc thể loại thơ kí sự ghi chép hành trình dài dằng dặc tìm chữ của năm nhân vật Chăm tưởng có thể tồn tại đan xen đề huề giữa vui và buồn, cười và khóc; hay ít ra tiếng cười cũng phải chiếm tỉ lệ tối thiểu. Đằng này: không! Năm lần hia khóc với hai lượt rơi ia mưta nước mắt, mà chỉ mỗi bận cười; lại là chẳng buồn cười:

Nhu ngap lingal saung kơm oh yaum khing klau!

Họ làm cày với bừa (nhìn) chẳng muốn cười nữa!

Cười nhiều chăng, là Chăm trong Pauh Catwai. Thế nhưng ở đây người ta chỉ tìm thấy cái cười đau đớn, chua chát của trí thức ưu thời mẫn thế: cười gằn klau pagrưng hay cười rơi nước mắt klau hauk ia mưta trước cuộc thế đảo điên, tình người đen bạc.

Urang jiong di mik saung wa

Drei mư-aum cangwa kauh gai patauk

Người tìm an ủi nơi bà con

Mình đội cái nia, chặt cây về đỡ

Aw juk kadung bai wak

Khơn kan ikak hanhah bilai

Dân áo đen mà đeo túi gấm

Vận khăn sang, đánh đàng xa làm dáng

Bên cạnh các sử thi akayet, thơ trữ tình - cả thi ca dân gian lẫn tác phẩm viết - và thơ thế sự Chăm là hai mảng văn học quan trọng nhất; chính chúng vẽ những nét thật đậm lên phông nền văn chương cổ điển Chăm.

Như vậy, văn chương Chăm tuyệt đối thiếu tiếng cười? Không! Ngược lại là khác. Tiếng cười có mặt ở chỗ khác, ngỡ khuất lấp nhưng đậm đặc. Chúng vang lên sang sảng với giọng điệu khoái hoạt cực kì. Chúng tồn tại, phát triển và biến thiên khôn lường ở ngôn từ hát-nói trong các lễ hội dân gian và tín ngưỡng. Các danak, damnưy được Ong Mưdwơn, Ong Kadhar hát lên trong các cuộc lễ hội. Mà lễ hội dân tộc này thì vô thiên lủng, từ lễ hội nông nghiệp cho đến lễ hội tôn vinh thần linh, lễ có tính cục bộ gia đình, tộc họ cho đến lễ hội mang tầm xóm làng, xứ sở. Mấy trăm bài tụng ca với các dị bản ở từng palei, từng gru hay khu vực truyền vào văn chương nửa truyền khẩu nửa thành văn hơi thở lung linh huyền ảo. Chính chúng nuôi dưỡng cái cười Chăm, đưa cái cười ấy đi thẳng vào cuộc sống, tuôn chảy giữa lòng đời.

Rồi Ariya Nau Ikak với 25 cặp lục bát khái quát hóa cao đẳng tinh thần ở đời của Chăm. Cuộc sống như là chuyến đi buôn nau ikak. Cả bài thơ không có từ klau cười, nhưng cái cười cứ bàng bạc. Đó là nụ cười của kẻ hiểu thấu lẽ đời: Đến, ở và đi của con người qua cõi đời. Một con người đã làm xong bổn phận, phủi tay trả lại cõi trần những thành tích/ không thành tích, thong dong về nhà. Ariya Nau Ikak là điểm son đậm nổi ghi dấu ấn tiếng cười thâm trầm, siêu thoát trong văn chương cổ điển Chăm. Riêng cái cười vừa đời thường vừa cao cả, vừa sảng khoái vừa thanh thoát cư trú ở đường biên văn chương và cuộc sống, kết hợp nhuần nhị và thâu thái hai thế giới làm một, là cái cười trong các damnưy tụng ca Chăm. Thử đọc Damnưy Cei Xah Bin Bingu.

Damnưy gồm 69 cặp ariya, được hát trong Lễ Rija Nưgar, là lễ hội quan trọng và linh thánh. Bài tụng ca tôn vinh Xah Bin (anh em với Palak Bin), một vị tướng đẹp trai, hào hoa cùng cuộc chơi của Ngài. Đi ngựa, săn thú rừng, uống rượu, chọc gái khắp xứ với tiếng nói cười rủng rảng:

Cei nau mư-in Jamuw

Karah di canuw pakrư kamei

Dara Jamuw siam đei

Karah di tacei pakrư mư-in...

Cei nau mư-in biak tơl

Di grơp nưgar cei nau mư-in

Cei nau mư-in biak ghơh

Sunit ginrơh Xah Bin Bingu

Chú đi chơi Giang Mâu

Cởi nhẫn trao – chiếc đeo ngón giữa

Gái Giang Mâu xinh lạ

Nhẫn đeo ngón trỏ, chú biếu chơi...

Bàn chân chú đi khắp

Mọi miền đất nước, chú đi chơi

Chú đi chơi thiệt tài

Phong thái tuyệt vời: Xah Bin Bingu...

Cứ thế, các từ klau cười, khim klau mỉm cười, đom klau nói cười, đom bwei pakrư nói đùa vui, đom pakrư nói đùa,... nối đuôi xếp hàng chen chúc. Cùng có mặt với chúng là tiếng chiêng, lục lạc ngựa, tiếng chó săn sủa mồi ăng ẳng, tiếng roi quất vào không khí, nhất là tiếng nói cười của các cô gái, cả tiếng [vô thanh] của những giọt rượu rơi vào cuống họng người nữa! Tất cả đồng loạt reo vui, khoái hoạt! Chúng tạo thành tiếng cười xuyên suốt dòng văn chương-tín ngưỡng-cuộc đời này của Chăm, làm độc đáo văn chương và thăng hoa cuộc sống.

Trong sinh hoạt đời thường Chăm tràn đầy tiếng cười. Một lớp học hay nhóm nhỏ nông dân, thậm chí chỉ cần hai bác tiều phu với nhau, luôn có kẻ đầu têu đom kalak nói tếu hay đom cakơh nói tếu tục chọc cười thiên hạ. Giờ giải lao hay ca nghỉ ngắn giữa buổi cày hoặc cả lúc đi đường, tiếng cười vang lên rổn rảng. Xong, họ bắt đầu công việc.

Các tụ điểm sinh hoạt cộng đồng, vài chiếc chiếu xe ciew rideh được trải giữa sân nhà hay khoảng trống bên lề đêm lễ Rija praung, giờ rỗi của một đám tang hoặc thời gian chờ đợi cuộc họp họ, nhân vật chính như nam châm thu hút khách thính nghe chuyện, và cười. Bao nhiêu là chuyện cười, cũ hay mới được người kể hứng khởi ứng tác, thêm thắt. Chuyện Chàng mù thông minh kén vợ là một. Chàng rớt giếng là để đo giếng nông sâu, gánh cả gánh sách để ra oai với nàng là bụng mình đầy bồ chữ. Hay khi cha nàng thử tài cày, chàng ta cho cày băng cả bờ, bị hỏi vặn, anh chàng nhặm lẹ đáp ruộng là để gieo lúa còn bờ dành cho tỉa bắp. Ông già vợ tương lai có nước ngậm cám!

Câu chuyện tuổi thơ tôi theo mẹ đi nghe nghệ nhân Klơng Phac kể, lắm lúc trở mình chọc tôi cười. Chuyện khiến quý ông cười thầm, quý bà cười ha hả! Mà làng đâu phải chỉ có mỗi ông. Thế hệ này sang thế hệ khác, Chăm sản sinh hằng lô nghệ sĩ dân gian, nhất là Hữu Đức, bao giờ cũng có những ông Thauw, mỗi cuộc lễ cứ mang tiếng cười đến.

Carauk palei Hamu Tanran, Dran palei Bblang Kathaih

Sáng tác là làng Hữu Đức, bất khuất là làng Mang Thế...

(Đồng dao Chăm)

Mới bốn thập kỉ nay thôi, cười luôn là tiết mục thu hút trên sân khấu nhà quê Chăm. Hiện tượng Cei Thổ làng Tuấn Tú trong đợt Lưu diễn văn nghệ quyên góp xây trường Trung học Pô-Klong là nhất. Hơn hai mươi làng đoàn đi qua, ông đều lưu lại tiếng cười sảng khoái. Bất kể già trẻ lớn bé, ông chọc họ cười cả trong giấc ngủ và tiếng cười theo họ đến tận sáng mai.

Vậy đó, Chăm chưa bao giờ bỏ lỡ cơ hội cười, tạo tiếng cười hay tiếp nhận cái cười. Cái cười tập thể, đặc Chăm. Bởi có cái cười chỉ có thể tồn tại trong cộng đồng văn hóa ấy, hoặc khi chỉ được thể hiện qua ngôn ngữ ấy.

Đó là tiếng cười cố ý. Tác nhân với mục đích khác nhau, gây cho đối tượng thụ nhận: cười. Có cái cười không cố ý, xảy ra ngẫu nhiên giữa cuộc sống, mỗi người tiếp nhận mỗi khác đầy tính cá thể. Điều quan trọng là ta biết chớp lấy nó để... cười! Dạng cười này vượt thoát khỏi cộng đồng văn hóa hay ngôn ngữ nên, nó là của chung nhân loại. Mùa xuân năm 2000, sau vài lần trao qua đổi lại, bạn thơ nữ rất trẻ L viết một bức thư dài ngoằng cho tôi. Sau khi tự tán tụng thơ mình đã đời, cô nàng bắt đầu thuyết tôi về kĩ thuật thơ hiện đại. Nào thơ phải có “quãng tám”, rồi nào là “tiết điệu”, “dấu lặng”,... Mô Phật! Tôi cười cứ muốn xỉu. Mấy năm sau, trong những ngày rỗng hay mấy phen hết chuyện cười, tôi chậm rãi lôi bức thư kia ra đọc. Để... cười!

Bạn thơ này còn trang trí cho mình thêm cái tật cố hữu của thi sĩ Việt Nam, là dưới mỗi bài thơ luôn ghi Hà Nội, 1h23 hay Huế, 2h45 sáng, đại khái thế. Để tỏ với thiên hạ mình đang dằn vặt lao động sáng tạo dữ dội lắm. Và cũng có nghĩa đó là thời khắc lịch sử. Làm chi mà hệ trọng để phải khổ thế chứ! Ta cứ muốn tạo cái giai thoại. Tôi nói: Sau 9 giờ tối là thần kinh tôi rũ đi, và tôi buồn... ngủ. Như loài gà ấy. Tôi gọi đó là cách giải - nghiêm trọng.

Giải nghiêm trọng để có thể... cười.

Chăm hôm nay có vẻ hết biết cười klau ?

Ông bà cười nhiều, đủ sắc thái, cấp độ. Chỉ cần kê chữ cười ra thôi cũng đủ cười vỡ bụng rồi (chắc gì tôi đã liệt kê đủ), vậy mà hôm nay ta không chịu cười, mới lạ! Bạn thơ Jaya Hamu Tanran ăn nói duyên ơi là duyên, nghe cứ muốn cười, thơ thì quá ư mô phạm. Trầm Ngọc Lan cũng một giuộc, ngoài đời chọc thiên hạ cười suốt, làm thơ cứ “buổi chiều”, “lũy tre”, “nỗi nhớ” để mà buồn. Chả có lấy nửa tiếng cười thầm, nói chi cho bạn đọc cười ngất, cười đến chiều mai còn cười! Phê thiên hạ là vậy, thơ tôi có hơn gì đâu. Nghe đồn giới chữ nghĩa và tự soi lại mình, dám nói là hầu như trong thơ Inrasara có đủ cả, chỉ mỗi sự thiếu: cái cười. Mới khổ chứ. Cứ cà vạt vét tông mà nhăn trán, chả kém gì anh giáo làng gàn. Mà Chăm thì rất cần cười, hơn bao giờ hết. Khổ lắm rồi, cực nữa, vậy mà có thứ trời cho không biếu không là tiếng cười, ta lại hè nhau mà tiết kiệm. Ở Việt Nam đã vậy, qua tận Tây, Mỹ, Chăm cứ thế mà không chịu cười. Cười để giải tỏa nỗi niềm, khuây khỏa u buồn, giữ gìn sức khỏe, thanh tẩy tinh thần. Để còn sáng tạo nữa chứ.

Từ khi Dharma đọc báo cáo “Văn hóa chữ viết ở khu vực Đông Nam Á lục địa” tại Hội thảo Osaka tháng 2-2006, Harak Champaka đăng lại và gởi đến khắp bà con, tiếp đó là tham luận của ông trong hồ sơ Hội thảo lịch sử ngôn ngữ... với lời lẽ nặng như đá tảng rằng Ban Biên soạn “sai lầm mục tiêu”, “học ngôn ngữ chữ viết Chăm hoàn toàn ngoại lai với chữ viết truyền thống của họ”, “đưa di sản ngôn ngữ chữ viết Chăm đi vào hố thẳm”, “biến học sinh thành người mù chữ tiếng Chăm”, “phá hủy cả một di sản ngôn ngữ chữ viết Chăm”, “rạn nứt trầm trọng trong cộng đồng người Chăm” và bị “cộng đồng Chăm phản đối”,... cuối cùng quyết toán “Năm 1975 là năm đánh dấu cho định mệnh tăm tối nhất của akhar thrah Chăm. Biểu tượng cho định mệnh tăm tối này là sự ra đời của Ban Biên soạn tiếng Chăm ở Việt Nam”, thì trời xui đất khiến sao Chăm rộ lên quan tâm đến tiếng mẹ đẻ và đua nhau mở ra trận cãi cọ nhì nhằng. Sự vụ kéo dài suốt hai năm! Lạ hơn cả là nỗi chia bè phái rất ư là... buồn và cười! Giữa các trận đó, sau lần giải minh và đính chính vào mùa xuân năm 2007, tôi cương quyết tịnh khẩu!

Ngay tuổi mười lăm đã làm thơ tiếng Chăm đăng báo tường hay mở khóa dạy ba lớp tiếng Chăm cho bà con Caklaing vào mùa hè 1975 rồi là dạy các bạn học ở Phan Rang, sáng tác ba trường ca phục vụ cho việc dạy và học, mà chịu tu như thế thì rất lạ. Nói có chứng đèn rằng tôi nhập cuộc ngôn ngữ - chữ viết Chăm sớm nhất so với người thế hệ. Từ khởi sự mãi tận hôm nay. Tôi rành sáu câu vọng cổ câu chuyện quanh tiếng nói chữ viết Chăm cùng các vấn đề, vấn nạn của nó. Nhưng tôi không hứng thú nhảy vào cãi cọ. Tôi hiểu và, tu.

Năm 1979, đang lang bạt kì hồ, thì được mời dự hội thảo đầu tiên ở Ban Biên soạn về ngôn ngữ - chữ viết Chăm tại Phan Rang. Rồi vài cuộc khác mấy năm sau đó nữa cho đến khi vào làm việc tại Ban năm hai nhăm tuổi. Ba vị hào hứng “chuẩn hóa” chữ Chăm là Lâm Gia Tịnh, Bạch Thanh Chạy và Lâm Nài. Dĩ nhiên mọi đề xuất đều thông qua Ban, sau đó là thân hào nhân sĩ, trí thức và giáo viên Chăm. Đến năm 1990 là tạm “ổn”. Các vị sau cứ truyền thống mà kế thừa. Cạnh chữ Chăm “chuẩn hóa” còn có “chữ Chăm viết hoa” do anh Chạy bày vẽ. Mặt mũi cũng coi được, có đưa ra thí điểm, nhưng nó yểu. Đấy, Chăm có phải nhắm mắt một chiều nghe theo mấy ngài ở Ban Biên soạn cả đâu.

Vài mảnh kí ức lai rai. Năm 1980, khi sách thí điểm mở mắt khóc oe oe, ông Thiên Sanh Cảnh có thư phản đối lên cấp trên. Ngay trang đầu tiên của vần đầu tiên trong sách Ngữ văn Chăm lớp đầu tiên thôi, Ban đã biến báo LI-U thành U (cây) dừa. Ông cho mấy ngài ở Ban sai... chính tả. Ban lý giải rằng vì mới bắt đầu làm quen âm vần, nhồi ngay vào đầu con trẻ hai âm tiết thì rất tội, nên tạm làm vậy. Đứng lớp, giáo viên chịu khó nói thêm. Ông không chịu, cắt quan hệ với Ban. Năm 1981, ở một hội thảo nhỏ, tôi và Sử Văn Ngọc nêu ý kiến phản biện lối viết mới nhưng bị bác. Anh nằng nặc đòi về, tôi nói: Thôi thì cứ ngồi cho hết buổi chớ. Năm 1984, thủ báo tường của Ban, tôi có bài viết thể hiện quan điểm riêng về tiếng nói và chữ viết Chăm, bị quý bác các anh trong Ban phản đối chạy mất dép. Báo tường tắt đài ngay sau số đầu tiên.

Buồn vậy đó. Nhưng chữ Chăm cứ gắn chặt với tôi như thứ định mệnh. Rời Ban được sáu năm, lại Trưởng ban Ban Biên soạn là Nguyễn Văn Tỷ có thư giới thiệu tôi cùng Nguyễn Ngọc Đảo vào Sài Gòn “soạn” từ điển. Đại học chỉ hợp đồng đúng một tháng, với trách vụ là xem lại lần cuối phiếu từ vựng “cắt dán” từ Từ điển Chàm - Việt - Pháp của Moussay. Tôi có mặt từ ngày đầu tiên cho đến khi từ điển ra lò. Vui buồn quanh nó, có kể đến ba ngày đêm cũng không hết chuyện cổ tích bi hài cười độn nước mắt này.

Thư do Thành Phần mang đến. Lúc đó tôi đang thủ quán cà phê và tạp hóa nhà quê, làm ăn ra phết. Báo cho bà xã biết sự vụ, Hani ừ không do dự. Ngay tháng sau, tôi nhảy xe đò vào thành phố. Đó là ngày 20 tháng 8 năm 1992. Chủ trì công trình là Nguyễn Văn Lịch, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á thuộc Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Tôi đề nghị: Từ điển phải được biên soạn trong vòng năm năm, Trung tâm cần mời ba, bốn thành viên tham gia mới đảm bảo chất lượng. Tôi trình bày đề cương, tài liệu tham khảo, văn bản thô gồm các bản chép tay Chăm cổ và số từ vựng tôi thu lượm được. Cạnh đó, Trung tâm cần mở các cuộc hội thảo nhỏ để thu thập ý kiến chư vị trí thức Chăm. Cò kè bớt một thêm hai, mọi người mới nhất trí: Thời hạn biên soạn và hoàn tất trong vòng ba năm. Bổ sung Lương Đắc Thắng, Phú Văn Hẳn vào vai phụ. Riêng Thành Phần rút lui.

Đang ngon trớn, sau Tết 1994, không hiểu tác động từ đâu, Nguyễn Văn Lịch với Thành Phần nảy ý đình chỉ công cuộc. Thì nghe đồn trình độ Chăm về tiếng Chăm chỉ mới lớp Ba, không soạn nổi Từ điển. Dịch Aymonier, là đủ! Được thôi, tôi vốn nông dân chất phác thì tôi trở lại đời chân chất dân nông, chả sao cả. Nhưng trước khi quy hồi cố hương nắm đuôi cày, các bác nên ban đặc ân cho em nói lời cuối! Tôi đề nghị cuộc họp ngắn. Bùi Khánh Thế, Nguyễn Văn Lịch, Thành Phần, Phú Văn Hẳn, Lương Đắc Thắng. Tôi tập đặt câu: Bởi vì chưa nắm vững tiếng Chăm cho nên vài thành viên bị ý kiến ngoài lề lung lạc. Sau mười lăm phút đồng hồ nghe tôi thuyết, phiên họp quyết: tiếp tục!

Lại tiếp tục có áp lực từ ngoài, Từ điển không thể ra lò nếu nó chưa qua giơ tay biểu quyết của quần chúng. Sập bẫy rồi! Đích thị là điều tôi muốn. Ngay tức thì ba mươi bản photocopy bản thảo được gởi về làng. Một tháng sau, hơn trăm đại biểu về dự Hội nghị góp ý Từ điển tại trường Nội trú Dân tộc tỉnh Ninh Thuận. Câu hỏi bay đến tới tấp vào buổi sáng khiến hội trường như muốn vỡ tung. Thằng Trạm kì này ngoẻo rồi, - có tin hành lang như vậy. Nhưng rồi tất cả được tôi thoải mái mở gút chỉ sau một tiếng đồng hồ, chiều hôm đó. Tháng sau, bộ Từ điển mới cất tiếng khóc chào đời. Vui vẻ.

Nhẹ nhõm khinh khoái thế, sao ta mãi cương cứng kia chớ.

Dân Scotland nổi tiếng về khoản hà tiện, vậy mà chính từ xứ sở này nảy nòi bao nhiêu chuyện cười tầm quốc tế về tính khí đậm đà bản sắc này: Cười mình để sửa sai. Sở dĩ bài viết của Nguyễn Văn Tỷ trong Tagalau 4 khiến bà con phản ứng hơi quá, không gì cả, chỉ bởi nó thiếu tiếng cười. Nhiệt tình, thiện chí có thừa, lập luận với dẫn chứng không thiếu, nhưng ông quá căng. Thành ra thiên hạ làm căng lại! Căng quá chỉ đau tim phổi thôi, lây lan sang bao tử nữa. Cố gắng cười đi, rồi thế giới sẽ thay đổi. Còn nếu thế giới không thay đổi thì ít ra tâm hồn ta thay đổi. Từ đó thơ văn ăn theo mà thay đổi.

Brodsky làm thơ, vì yêu tiếng Nga. Heidegger: Nhà thơ là kẻ phụng sự ngôn ngữ. Hay Lê Đạt tự nhận “phu chữ”. Làm thơ không nhân danh này nọ, không vì cái ni cái nớ mà là “phu chữ”! Tôi làm thơ vì âm vang của lời. Vài tiếng Chăm có sức ám ảnh kì lạ. Nhất là các tiếng đang giãy chết, sắp nhập kho hay đang bị vùi trong cát bụi. Làm thơ để phục vụ chúng.

Nói chuyện trước ba trăm giáo viên dạy tiếng Chăm tại Ninh Thuận, tôi thử đưa ra mươi từ và hỏi: - Adei xa-ai anh chị em có biết các từ này không? - Có! - Vậy mà chúng vắng mặt trong Từ điển đấy, cả từ điển mới nhất! - Mik wa bà con có xài nó hằng ngày không? Rải rác: Người nói có, kẻ bảo ít hay không. Thử dẫn ba từ: Một từ thường ngày, một hàm nghĩa văn hóa và một đầy chất thơ.

KƠY. Ciim đơm biak kơy: con chim đậu rất nổi bật [để bắn]. Dơng maung biak kơy: [Dáng] đứng nhìn rất nổi bật. Từ này không có trong từ điển. Lạ hơn: Rất ít Chăm dùng trong sinh hoạt, dù không hiếm người còn nhớ nó. Quê không còn chim, bọn trẻ Chăm hết dùng ná cao su chăng?! Ồ, mà nếu còn, thế hệ trẻ Chăm vẫn thích nói “nổi bật” hơn. Vì “bệnh” đâu có bị triệt tiêu, nhưng ta cứ vô tư xài “bệnh” thay vì “rwak” đấy thôi.

RIƠNG JAI. Đây là từ hàm nghĩa văn hóa. Hai anh em trai trong nhà không nên lấy vợ cùng talei paga chung liên gia, hoặc ba anh em không được lấy vợ chung làng. Nếu thế: riơng jai ! Tối kị trong quan niệm của Chăm về hôn nhân. Nhưng vài chục năm nay, quan niệm bất thành văn đã mất, và từ vựng này cũng đi đời nhà ma.

NGUT NGUT vòi või. Từ rất hay, nhiều thi tính. Maung akauk ngut ngut ngóng trông vòi või. Tuổi hai mươi ở quê, chiều nào ra thăm ruộng tôi cũng thấy: Vẫn con chim ấy đậu trên cành tre ấy và, kêu chiêm chiếp. Có lẽ nó chờ ai đó, mẹ nó hay bạn nó đi xa không bao giờ trở lại. Bất chợt tôi nhớ từ mẹ tôi hay dùng: ngut ngut. Vào học Sài Gòn, dáng cành tre và tiếng kêu ấy luôn trở lại trong tâm tưởng tôi. Tháng sau về quê, tôi không còn thấy cành tre đó nữa. Bóng chim mất hút. Tôi hỏi cha, cha nói: Cành đó oằn làm vướng lối đi, cha chặt bỏ rồi. Tôi nghĩ mình cần lưu hình ảnh ấy trong kỉ niệm, nhất là lưu trữ tiếng ấy: nó sắp mất. Đúng! Hôm nay nó đã mất rồi. Câu đầu bài thơ viết vào mùa hè 1977:

Blauh ciim ghơh dơng cang ai ngut ngut

Ngauk dhan krưm ai si kauh mưng nan...

- Thôi, đừng quay gì về anh nữa em à. - Tôi nói với Thu. Nhà thơ, quanh đi quẩn lại mấy thứ vặt vãnh, chán chết. Szymborska nói đại ý làm phim về nhà thơ chỉ cần mươi phút là đủ, chả có gì hấp dẫn cả. Hắn có làm gì li kì gây cấn đâu, viết câu này, xóa câu kia. Hôm nay bỏ dấu phẩy mai lại tẩy nó. Vậy thôi, hết ngày. Tôi còn có cái may mắn ăn theo tháp Chàm, đồi cát, dệt thổ cẩm, gốm, sông Lu. Cùng lắm qua nửa tiếng đồng hồ là hết trọi trơn.

- Anh tin em đi, em có thứ độc mà các nhà đài trước đó chưa nhìn ra. - Thu nói qua điện thoại di động.

- Nhưng anh đã có hơn mươi phim riêng rồi, còn manh nào đâu cho em khai thác với khám phá.

Trên đường về Ninh Thuận, Thu đưa cho tôi kịch bản đọc trước.

Làng tôi vừa dựng lên một ngọn đồi

Làm nghĩa trang chôn xác chữ

Ngày mai.

(Chuyện 40 năm mới kể 18 bài thơ tân hình thức, 2006).

Tôi không nói gì. Đến khi Thu đòi quay cảnh nghĩa trang chữ, tôi dẫn em đến đứng trước Hầm Mỹ.

- Hôm qua mình quay cảnh này rồi mà.

- Em cứ cho máy chạy lượt nữa đi, nghĩa trang chữ nằm dưới đó đấy!

Chữ Chăm đang chết, hàng ngày. Mỗi ngày, tôi làm đám tang đưa chúng vào nghĩa trang chữ. Có vài giọt nước mắt. Không, đúng hơn đã có nỗi buồn, nỗi buồn còn to hơn trái đồi. Thi sĩ, làm gì? Hắn không làm gì cả, ngoài định phận mà hắn tự ban cho mình: canh giữ nỗi buồn kia.

Làm thế nào nói tiếng Chăm?

Anh, tôi, các bạn đều là Chăm, nên khi đặt câu hỏi Làm thế nào nói tiếng Chăm, nó như thể trò đùa. Nhưng đấy là sự thật, có đau cũng phải chịu. Tôi đang nói với các bạn về vấn đề Chăm, nhưng lại dùng tiếng Việt. Thư từ, ngoài vài người thân, còn lại tôi đều dùng tiếng Việt. Vậy mà thằng tôi ấy được cho là “người lưu giữ văn hóa Chăm” đấy!

Thuở mười tám đôi mươi, lứa chúng tôi rất khổ sở vì nói không thuần tiếng mẹ. Thế là hạ quyết tâm: Anh em phân công tôi và Lưu Văn Đảo làm Từ vựng thông dụng Việt - Chăm. Có bạn đề nghị áp dụng một chiêu rất lạ: “yuw panwơc Ywơn lac - như người Kinh nói ” vào câu nói khi không tìm được từ Chăm thay thế. Bilan hadei mưnauk drei tamư “yuw panwơc Ywơn lac” thành phố bac tháng sau tụi mình vào “như người Kinh nói” thành phố học. Đám bạn làm vậy một tháng, rồi nghỉ. Nhiệm vụ bất khả thi!

Ông anh ở Sài Gòn xa cộng đồng Chăm đến bốn mươi năm, lần đầu về quê đã mở to mắt như ma nhập. Anh nói, chú mày ạ, anh nghe thông báo hợp tác xã mà buồn thối ruột: “Mưlăm ni vào lúc chín giờ , likău da-a xã viên mai họp păk thang làng . Mik wa phải mai họp ka đầy đủ . Mưdah thay ô mai ô hợp tác xã sẽ trừ công điểm.” Chú mày phải làm cái gì chớ, không thì Chăm mất hết. Tôi nói: Chứ anh bảo thằng em phải làm gì nào? Năm 1979, tôi kế toán trưởng hợp tác nghe ra rả mỗi ngày bên tai thông báo tương cận, rầu lắm chứ. Nói rặt Chăm được không? Sara nói cũng được, nhưng bà con nghe lủng chắc?

Buổi nói chuyện vào mùa hè 2002, tôi nói tiếng mẹ đẻ, dĩ nhiên có độn ít nhiều tiếng Việt. Một nữ giáo viên hỏi: - Sao nhà thơ không nói harat Chăm? Tôi hỏi vặn lại: - Bạn nghe hết không? - Dạ không! - Hôm nay đâu phải các bạn đến để tập nói chuẩn tiếng mẹ? Vậy thì hãy chấp nhận nói độn đi, bà con ạ.

Thuở học sinh Pô-Klong, chúng tôi hay đùa các bạn Phan Rí về tiếng Chăm lai. Nhưng chỉ hai mươi năm sau thôi, cả bốn vùng Chăm nói độn ngang cựa nhau, không thua kém phân tấc. Đài Tiếng nói Việt Nam - Ban tiếng Chăm phỏng vấn một cụ nông dân tuổi xém bảy mươi. Kết quả, tiếng Việt độn vào ngôn ngữ nói cao đến xây xẩm mặt mày: 70%! Nghe Đài, Trà Vigia kêu trời, buồn chỉ muốn lủi đầu vào quán bia hơi. Tôi nói, bạn và tôi ngày qua ngày cũng làm vậy thôi mà!

Tiếng Chăm đang bị xâm thực là thật, ngày càng nhanh, không thể cưỡng. Đã có nhiều biện pháp phòng chống rồi, nhưng lẻ tẻ và thiếu hiệu quả. Đến kẻ từng yêu mê nó cũng đành tới đâu thì tới. Đấy là thân phận tiếng Chăm sống, chứ không phải tiếng Chăm của từ điển, trong luận án khoa bảng hay sách vở. Mà là tiếng Chăm đang được bà con ta dùng hàng ngày. Nó đang giãy chết, đành đạch đành đạch!

Ta không chăm sóc nó mà cứ lao đầu vào nghiên với chả cứu! Có mỗi K, Kh, G hay dar sa crauh au hay không crauh au mà chia phe kéo bè la nhau í ới thì chán lắm. Chữ viết chỉ là thứ vỏ bọc âm thanh, chả lấy gì làm to con. Suốt chiều dài lịch sử, akhar thrah chưa bao giờ gọi là nhất quán. Có chữ K thôi , mỗi thời đại, mỗi nơi viết mỗi khác. Chăm Campuchia khác Chăm Việt Nam, Chăm cuối thế kỉ mười chín khác Chăm đầu thế kỉ hăm mốt. Viết thế nào cũng được miễn hiểu nhau, ông bà tổ tiên Chăm từng như thế. Thử lôi cái chữ “nuốt” ra làm chứng. Từ điển Aymonier viết: LUAN, LUƠN, nhưng rất nhiều văn bản Chăm viết: LUON, còn Ban Biên soạn hôm nay thì: LON. Ví mà để cho cộng đồng Chăm Sài Gòn hay An Giang chọn, bà con sẽ đưa LUAN vào từ điển là cái chắc. Thế hệ thời Từ điển Moussay thì khoái LUƠN. Chăm ưa làm khác người. Cứ giở bất kì trang nào của Từ điển Aymonier ra ắt thấy Chăm lập dị thế nào! Chữ mới biruw viết năm cách; chữ hoa bingu thì gấp đôi không thêm bớt! Chẳng vấn đề gì trầm trọng cả.

Không bàn tiếng Tây tiếng U đâu xa, chỉ ngó sang tiếng Việt sát nách ta thôi: li tán, triết lí được dân viết lách viết cả hai lối (li tán, ly tán; triết lí, triết lý). Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học Quốc gia cũng thế; nhưng thầy cô chỉ dạy mỗi ly tán, triết lí. Ra đời, học trò vẫn đọc và hiểu, có mù chữ hay chết chóc ai đâu?!

Tại sao Chăm ít dùng tiếng Chăm trong nói chuyện, thư từ? Thói quen ư? Ngôn ngữ nào mà chẳng do thói quen. Thói quen nở nang từ làm biếng hàng ngày. Biết rwak, bac nhưng thường xuyên nghe nói bệnh, học, vậy là ta cứ thế mà nói. Nhanh và gọn, khỏi mất công suy nghĩ cho mệt óc. Vốn từ vựng đương chức đã thế, còn mấy từ ta không biết hay biết nhưng ít xài thì càng tệ hơn. Harak thư, gul pataum đoàn kết, ta càng bỏ mặc. Đây có thể đổ lỗi cho thiếu ý thức ngôn ngữ.

Lối nghĩ nữa. Không ít ông cha bà mẹ Chăm dạy con nói tiếng Việt trước tiếng mẹ, ở thành phố và cả tại bản quán. Ta nghĩ làm rứa con cái học môn văn tiếng Việt giỏi hơn. Sức mấy! Rồi tâm lý làm oai. Hiện tượng này ít, nhưng có. Xài nhiều tiếng Việt cao cấp thì oai hơn, chứng tỏ bụng mình chứa nhiều chữ hơn. Tâm lý chung của nhân loại ấy mà. Mấy bạn Việt ở quê mới đi Mỹ vài ba tháng, về đã xổ hai mươi phần trăm tiếng Anh [bồi]! Bên cạnh đầu óc ta vừa nhuốm tinh thần thực tiễn nữa. Có học cho lắm chữ cũng không bỏ vào nồi được.

Tiếng Chăm đang chết, làm thế nào để cứu sống nó đây?

Chăm xem chữ là tặng vật thiêng liêng của thần thánh. Không đạp lên chữ, không bước qua chữ, cả không để cho bóng của mình che mất chữ! Linh thánh là thế, yêu quý là vậy nhưng ta cứ mạnh ai nấy viết. Lạ là thế hệ những năm năm mươi trở về trước, ông cha ta chưa hề mù chữ mẹ đẻ, dù lối dạy rất thiếu... khoa học, lớp chỉ vài ba người hay mỗi trò với thầy. Nên, nếu hôm nay bác không đọc nổi văn bản chép tay, đó là tại bác dốt chứ dứt khoát không phải tại ông bà. Ta chưa sạch nước cản ka o truh G - L. Bởi quá nhiều người lo lắng đến nó, mới sinh phiền. Chín người mười ý, ai lo giữ ý nấy. Các ý đầy tính... khoa học. Trong khi ta muôn năm bỏ bê việc dùng nó hàng ngày. Hãy tưởng tượng nhà khoa học kia luôn miệng to tiếng bảo vệ chữ, đến khi được mời đứng lớp bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Chăm, cả tuần không dám viết một dòng akhar thrah, sinh hoạt gia đình thì nói tiếng mẹ đẻ độn đến 67,54%!

Tiếng Chăm hàn lâm, mô phạm cần lắm chứ, nhưng đủ chưa? Tiếng Chăm do Ban Biên soạn sáng tác để đáp ứng nhu cầu thông tin mới, dù được dạy trong trường, nhưng khi bước ra ngoài mưa gió cuộc đời, ai dùng chúng? Bà con vẫn cứ tự do chứ có chịu nói eng drei đâu! Giáo viên tiếng Chăm dạy cauh bilaung cho các em, vừa bước chân ra khỏi lớp, mấy cầu thủ nhí đã rủ nhau đá banh !

Anh em bà con ở xa: Pháp, Mỹ, Mã Lai sẽ nói tiếng Chăm như thế nào? Lai độn Mã, Mỹ, Tây là chuyện khó tránh. Vậy năm mươi năm nữa, Chăm có còn hiểu nhau? Ngay tại Việt Nam thôi, Chăm Panduranga đã khác nhiều so với Chăm Tây Nam bộ hay Sài Gòn. Anh em gặp nhau cứ tiếng Việt mà xổ tâm sự. Tiếng Chăm cứ thế mà rụng rơi.

Vào thời chưa xa, gặp vài dụng cụ chiến tranh mới, cha ông tìm cách đẻ từ mà gọi. Rất vui và không thể nói là không hay. Súng M72 (chống tăng) gọi là: phaw cuh klak súng bắn [rồi] bỏ (nó chỉ bắn một lần duy nhất rồi bỏ: lấy công dụng đặt tên). Súng M79: phaw abauh ada súng trứng vịt (vì đầu đạn giống tròng đỏ trứng vịt: nhìn hình dáng đặt tên). Máy bay trực thăng, dân quê Việt gọi máy bay cán gáo thì được Chăm ban cho cái tên ahauk talang máy xương (bởi nó “không có thịt da” như máy bay trực thăng thường). Thế đó, quần chúng Chăm bốn mươi năm trước rất ý thức về sử dụng tiếng mẹ đẻ. Cũng có trường hợp các sự vật mới được thế hệ chú bác xài thẳng tiếng Việt, nhưng thời chưa xa đó, sức sáng tạo ngôn từ vẫn còn. Còn hôm nay, hãy thử xem bốn vị Chăm chơi cờ “tiến lên”, toàn tiếng Việt là tiếng Việt! Ừa, nếu trong cuộc sát phạt này, mấy tay chơi cứ “nói” bừa tiếng mẹ thì hay biết bao. Kho từ vựng Chăm sẽ có vốn thuật ngữ “ăn chơi” mới!

Làm được chuyện to đùng trên đòi hỏi là cần rất nhiều người... điên. Như Phutra Noroya đã điên, khi to gan viết cả cuốn tiểu thuyết bằng tiếng mẹ đẻ. Như Jaya Hamu Tanran hay Phú Đạm đã điên, khi chỉ làm thơ bằng tiếng Chăm, mặc thế giới tiến tới đâu thì tiến, thiên hạ đi tận đâu thì đi.

Hay như thằng Trạm mát này đã điên. Mùa hè 1975. Sinh viên học sinh Caklaing từ các thành phố, tỉnh thành đổ tràn về quê. Số ào lên rừng ngap Ikan Krwak rồi vội vã chạy xuống. Bộ đội vào các palei Chăm ổn định an ninh. Thanh niên mất phương hướng, không việc làm. Hắn rủ vài bạn thân tập hợp lại, mở ba lớp cho khóa học chữ Chăm vỡ lòng. Đèn cọc nhỏ với tập vở cầm tay, chẳng thua gì thời Ngô Đình Diệm. Để sau hai tháng dùi mài, non 70 học viên đọc làu làu Ariya Glơng Anak, Ariya Patauw Adat. Đang thời kì quân quản, vậy mà họ cứ vô tư học, hắn cứ vô tư dạy. Và nhất là, không có ai đến hỏi han hay nhắc nhở ai cả!

Inrasara —★— HÀNG MÃ KÝ ỨC ebook©MotSAch —★— TVE-4U©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản Văn Học
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.