Quảng Đại Hồng
Biệt danh Hồng thơ. Người Pabhan Vụ Bổn lấy vợ Mỹ Nghiệp. Thầy dạy tôi cấp Một và luôn đồng hành với tôi suốt chặng đời gập ghềnh của tiếng và chữ Chăm cho đến khi ông mất vào mùa thu năm 1991. Cái chết của ông gây xúc động mạnh ở Mỹ Nghiệp, cộng hưởng dây chuyền sang làng khác. Tuổi đã nghe thuận tai, nhưng sức khỏe vẫn cứ thanh niên. Mười giờ tối, ông vừa dạy xong lớp xóa tái mù để về căn chòi nằm trong khu đất cách đó hơn cây số. Thận trọng cả đời nhưng chỉ một lần rủi ro, ông đánh ngã đèn cầy bắt cháy bình xăng. Ông bị phỏng nặng và mất hai ngày sau đó ở bệnh viện.
Suốt ba mươi năm không ngưng nghỉ, ông làm một chiến sĩ xóa mù và chống tái mù cả tiếng Chăm lẫn tiếng Việt không công và tự nguyện. Nhiều lứa tuổi trẻ chăn trâu nghèo thất học ở Mỹ Nghiệp biết ơn ông đã năn nỉ cha mẹ, đôi lúc mua giấy bút cho họ để họ có thể đọc và viết được thư cho người yêu.
Nông thôn Chăm vào những năm sáu mươi, mới bảy giờ tối mà làng xóm đã im ắng. Ngoại trừ tiếng học bài của các học trò ông. Ông dạo qua tất cả các con hẻm, ví nhà nào không vang tiếng học bài thì hôm sau chắc chắn sẽ có đòn. Thuở học trường làng, lứa chúng tôi rất khớp về lối nhiệt tình này của ông. Giờ nghĩ lại mới thương. Ông nghèo đến phải nhét giẻ làm ruột xe đạp đi mươi cây số qua Phan Rang để có chuyện cười cho bàn dân Ban Biên soạn. Ông Hồng sính thơ, tiếng Chăm lẫn Việt. Thơ hô lô tô, - bọn trẻ chúng tôi đùa ông.
Gok page thrơm padhih blauh mưnei
Jwai paguy gơp đwơc bah palei yuw kubaw
Yuw nan taik khơn taik aw
Dha gait oh haluh urang klau ka drei
Dậy sớm tập thể thao rồi tắm rửa
Chớ rượt đuổi nhau khắp xóm như lũ trâu
Như thế rách áo rách quần
Thà làm gì chớ, thiên hạ sẽ cười cho.
Chính ông đã gợi hứng tôi làm thơ và yêu văn chương.
Ông mất. Học trò ông công tác trong ngành giáo dục mấy bận đề đạt với Sở phong danh hiệu liệt sĩ cho thầy. Một liệt sĩ trên mặt trận giáo dục, ở một cấp thấp nhất: xóa mù! Có cường điệu lắm không? Tôi không nghĩ vậy. Bởi một cây muốn vươn lên khoảng xanh thì trước tiên nó phải được bám rễ trên mảnh đất chắc chắn. Con người mang hoài bão to cồ mong để lại tiếng vang. Tiếng vang dội vào đâu không biết. Hỏi có mấy ai chịu chăm sóc đám ruộng đã bạc màu, khiêm cung hì hục với khâu làm đất tẻ nhạt và đơn điệu cho cây lúa đâm nhánh trổ bông?
J M.
Lên lớp Nhì, tôi học ông. Người to, thấp đậm và cực khỏe. Giờ ra chơi, ông ưa khoe thể hình lực sĩ bằng trèo lên cây me tây trước cửa lớp Nhất. Lớp hơn bốn mươi, ông bắt mỗi đứa nộp một cây thước. Ông dùng chính dụng cụ thủ công đó phang vào mông học trò. Hết thước gỗ, ông rút thanh sắt cửa sổ, vụt đến cong sắt. Có đứa lớn hơn tôi năm, sáu tuổi. Hầu như không ai là không dính đòn. Có mỗi tôi và anh Thẩm với mấy trò nữ là không bị.
Dân làng kể ông bị bọn chăn trâu xóm bên chặn đánh, ức lắm. Một hôm ông bắt con diều hâu cuộn giẻ tẩm dầu buộc dây vào cẳng, đốt rồi thả nó bay. Thấy lạ, bọn xóm dưới chạy đến xem bị ông phục kích đánh cho trận nhừ đòn. Ông thậm ghét mấy người Kinh, Tàu đâu lạc vào palei Chăm buôn bán cắt cổ. Làm thơ và chuyển ca khúc Việt qua tiếng Chăm thì ông cực kì. Các bài hát được hát từ đầu thôn đến cuối xóm, lan sang nhiều làng khác. Xong giờ học, ông hay đọc thơ. Mãi bây giờ tôi còn thuộc.
Nhớ đồng ta dạo bộ đi
Nhớ rừng ta nhảy ngựa phi lên đồi
Cỏ xanh dòng ngựa lại ngồi
Nhìn non xanh thẳm nhìn trời mây qua
Những nghe lá rụng la đà
Tiếng chim muông hót gần xa quanh mình
Đôi vai còn nặng hai tình
Làm trai phải xẻ vai mình chia hai...
Tôi mang mấy bài xa xưa ấy ra đọc cho ông nghe, khi ông hay ghé nhà anh Tỏ ở thị xã Phan Rang vào mùa hè năm 74. Ông rất đỗi ngạc nhiên: - Tao còn không nhớ nữa. Tôi nói: - Thầy đọc em thuộc ngay mà. Các bạn học tôi mê tít ông, từ giọng hát, lối nói tục, nhất là hào khí nơi ông. Ở ông toát ra hấp lực kì lạ. Xách động thì miễn bàn, ông số dzách! Dù không mê ông mà chỉ quý tinh thần và yêu tài năng văn nghệ của ông, nhưng tôi luôn biện minh cho ông trước than oán của người xung quanh. Thuở mười tám, tôi còn viết cả bài tiểu luận dài về ông nữa: “JM., nhà cách mạng lãng mạn”. Ông đã chết, con người dọc ngang một thời kia chết mòn trong tù. Gia đình nhận được giấy báo và cho biết mã số mồ chôn ông. Nhưng khi em gái ông có ý xin thi hài anh về làm đám tang thì chịu. Đành làm Đám tạm cho ông vậy.
Châu Văn Mỗ
Thứ trưởng Bộ Phát triển Sắc tộc. Cha vợ anh Ngọc, anh họ tôi. Nên tôi thoải mái lục lọi kho sách chất đầy trên tầng lầu nhà ông, ngày tháng Đoàn thanh niên tìm tịch thu sách báo phản động, đồi trụy. Vài ngàn đầu sách báo đủ loại. Nhiều cuốn có chữ kí tặng của tác giả. Có cuốn còn chưa rọc. Đó là năm 1977, tôi bỏ học về quê, khám phá ra nó như thể bắt gặp kho báu.
Một con người kín tiếng, ít giao thiệp. Thời học sinh, tôi nghe nhiều chuyện về ông. Người kêu ông kiêu căng gặp ai không biết chào hỏi. Người kể ông công lớn trong đào tạo lứa thế hệ Chăm đầu tiên, qua hoạt động của Hội Bảo trợ do ông thành lập. Người trách ông quá cương, không linh hoạt trong ứng xử với quan lớn hơn để mang lợi ích cho cộng đồng. Ừ thì người ta nghĩ thế, kêu thế. Chứ khi tôi gặp ông và được ông xem như bạn vong niên vào giữa những năm tám mươi, tôi thấy ông hoàn toàn khác. Hỏi ông về tháng năm quan trường, ông rất ít nói về mình. Khoe khoang thành tích mình, tự bào chữa cho mình càng không. Con người đầy nhiệt tình, lo làm chứ không lo nói. Rất cụ thể và thực tế. Con người ưu tư về cộng đồng theo nghĩa rộng nhất của từ này.
Chăm làm Đam that bất tiện ư? Phân công cho ông Hồng lo. Lúc đó, ông Hội trưởng Hội Bảo thọ Mỹ Nghiệp. Ông kéo tôi vào chức Thư kí. Chăm xài lịch mỗi nơi mỗi khác ư? - Chú thấy Trạm lo được chuyện này, có gì chú phụ cho. Chăm biết quá ít về ngôn ngữ mẹ đẻ, cần giúp họ hiểu thêm về nó. - Chú tổ chức một buổi gặp mặt trí thức Chăm để Trạm thuyết trình nhé.
Và luôn đâu ra đấy. Ông làm để giải trí tuổi xế chiều, vậy mà cứ được việc.
Thành Phú Bá
Trong nỗi ngây thơ tuổi trẻ, thế hệ lứa chúng tôi có bốn thần tượng. Bốn thần tượng với tính cách người khá dị biệt. Nếu Thành Phú Bá đầm tính mà chân chất, Nguyễn Văn Tỷ trực tính và thông minh hay Lưu Quang Sang sắc sảo và uyển chuyển thì, chúng tôi cũng có Đàng Năng Quạ đặc Chăm nghĩa là tràn nghệ sĩ tính. Lạ! Bốn nỗi dị biệt ấy gặp nhau ở điểm lo lắng cho bọn trẻ và, lợi ích cộng đồng. Đó là điều trân quý ở các ông - thần tượng một thời của chúng tôi.
Mười một giờ tối mùa đông 1999, Hà Nội lạnh cắt, ca sĩ Chế Viên nhét cả đoàn bảy ông Phan Rang lên taxi bốn chỗ ngồi, qua quán đặc sản cháo vịt. Tôi mang ý làm tuyển tập Tagalau nói với thầy Bá. Ông khoái ra mặt, nhưng Sara hãy dè chừng. Chăm có mỗi em là nhà văn. Lúc đó tôi vừa vào Hội Nhà văn Việt Nam, tập Tháp nắng vừa có giải thưởng, tiếng đang rền.
Tính ông Bá cẩn trọng, không ít người cho ông ba phải hay thiếu quyết đoán. Nhưng không, người công đầu trong thành lập vun đắp kí túc xá và trường Trung học Pô-Klong từ bàn tay trắng, thì không ai dám nói thiếu cá tính. Qua bàn tay đào luyện của ông và đồng sự, vài thế hệ thanh niên Chăm đĩnh đạc bước vào trường đời. Đặc san Caung takrư Ước vọng của trường ra đời và sống đến bốn kì được cũng nhờ bàn tay chăm sóc của ông.
Đầu thiên kỉ thứ ba, để giúp ông có công ăn việc làm và nhất là để giải thoát ông mấy chuyện nhằng nhịt không đáng ở làng quê, tôi mời ông về làm quản đốc Công ty TNHH thổ cẩm Inrahani tại Sài Gòn. - Thầy cứ thoải mái, nửa tháng Sài Gòn, nửa tháng về quê sưu tầm những gì thầy thích về Chăm, - tôi nói. Nhưng tôi phần thì cứ đi và đi, phần lo điều hành công ty mới thành lập nên chểnh mảng ông thầy cũ. Vả lại, có lẽ ông nhớ quê [anh Đạm cũng hệt thế, vào thành phố chưa quá hai ngày là dze!], sau ba tháng, ông về. Ba năm sau ông được bảo lãnh qua Mỹ, để lại cho tôi món quà khó quên: Cặp bánh xe trâu quý giá. Chính nhờ nó tôi đóng được chiếc xe, một trong ba chiếc đang hiện hữu trên thế giới!
Nguyễn Văn Tỷ Lưu Quang Sang
Tôi với ông quá biết nhau. Từ ông dạy Pháp văn tôi lớp Đệ Thất cho đến khi ông chức Hiệu trưởng, từ tôi chơi với Đạt em út ông cho đến thời tôi nhân viên ông tại Ban Biên soạn, cả khi ông cùng đám học trò chúng tôi nai lưng gồng gánh Tagalau nữa. Cho đến tận bây giờ.
Năm 1982, nhân vụ cuốn Fulro? của Ngôn Vĩnh đang xôn xao dư luận, chúng tôi bàn nhau viết thư giải trình. Thư riêng ông và riêng tôi, từ góc nhìn khác nhau. Và thảo bức thư chung lấy chữ kí của mươi nhân sĩ nữa. Về Nhà vãng lai sắc tộc, về trường Pô-Klong không phải Mỹ mà do Chăm góp tiền làm, về Trung tâm Văn hóa Chàm, ngoài công lao Cha Moussay còn có công sức bà con Chăm. Thư xong, chúng tôi cho học sinh chép nhân bản gởi đi các nơi có thẩm quyền. Chuyện buồn cười, có vị kí chưa ráo mực đã vội chạy xin rút lại chữ kí. - Không sao đâu bác à, sự thật mà, - tôi nói: - Chính phủ rất cần nghe sự thật, nếu ta thật lòng. Thời bao cấp, không sợ mới lạ.
Thêm vụ nữa, khi cuốn Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn... do Phan Hữu Dật chủ biên gồm hăm ba vị khoa bảng viết về Chăm, có vài chi tiết sai sự thật tác hại đến cộng đồng, ngày 30-9-2002 ông cùng non hai chục trí thức Chăm viết đơn thư dài trình lên cấp trên giải bày vấn đề. Ông nói: - Miễn cho Sara đi, em còn nhiều chuyện lớn cần làm. Vậy mà con người đó dăm năm sau thôi bị vài Chăm tố cáo rằng đã bôi nhọ văn hóa dân tộc trong bài “Thực trạng của xã hội Chăm, một vài giải pháp chính” đăng Tagalau 4. Thường trực ưu tư về sinh mệnh dân tộc và văn hóa dân tộc, có thể sai về nhận định, nhưng ông là con người chính trực. Tham gia nhiệt tình vào Tagalau khi tuyển tập này còn trứng nước. Không số nào ông không có bài cộm, nêu vấn đề nóng hôi hổi của xã hội Chăm hiện đại.
Cứ tưởng con người như thế luôn tìm đối đầu với mấy món căng thẳng, nhưng chớ có đùa. Hiếm Chăm nào yêu và mê mệt cái đẹp như ông. Cái đẹp của hoa lá. Pô-Klong, nếu ông Bá là người đặt nền móng, ông Sang tôn tạo nó bằng kế hoạch lên dãy lầu qua hơn chục tối lưu diễn văn nghệ quanh làng Chăm, thì chính ông Tỷ là người làm đẹp nó. Cây, cả trăm cây, hàng hàng lớp lớp oằn mình mà trồi lên chống chọi nắng nhiệt đới; hoa, chục loại hoa vắt mình mà nở trong hanh gió và lũ cát Phan Rang. Nhưng rồi, hai năm sau đất nước nhập một thôi, khi Pô-Klong hết còn ông coi sóc, chúng dần cắt khẩu đến không còn một mống!
Đẹp trai và hào hoa, là ấn tượng đầu tiên tôi có về Lưu Quang Sang.
Nhưng đây là nhân vật khá nhạy cảm. Bởi ông là con người chính trị. Mà Chăm ưa đồng hóa chính trị với sự tính toán, không thiếu xảo quyệt. Cả kinh tế cũng thế. Không trách - truyền thống văn hóa Chăm dạy thế. Một truyền thống hơi bị... sai! Bởi phát triển xã hội không thể thiếu hai món này, còn chuyện kẻ bất tài mà khoái leo lên đầu thiên hạ hay tay vô lương làm kinh tế thì là vấn đề khác rồi.
Sau trục trặc nỗi “Mỹ Sơn đường về”, Hội Văn học Nghệ thuật Dân tộc thiểu số không bảo hộ cho Tagalau nữa. Tôi phải tự bươn chải. Rồi chả hiểu sao, vài nhà xuất bản quyết ngâm bản thảo Tagalau 3. Từ Tết 2002 đến Katê ngâm qua Rija Nưgar cùng năm rồi sang Tết năm sau, nay lần mai lữa. Nhà thơ Nông Quốc Chấn mất, hết người đứng tên “chịu trách nhiệm xuất bản”, Tagalau nguy cơ dẹp tiệm. Katê 2003 đang cận kề. Không thể để bà con mỏi cổ lâu hơn nữa, tôi nhờ đầu nậu chạy giấy phép, và phải chường mặt ra làm “chủ biên”. Ờ, thì cũng được đi. Nhưng cớ gì nhà xuất bản đòi hỏi tìm tên khác cho Tuyển tập; Tagalau chỉ được phép nấp bóng nó thôi. Cộng trừ nhân chia, giá thành sản phẩm kì này tăng gấp hai. Tiền đâu? May, ngay lúc đó ông Lưu Quang Sang có mặt và ứng cứu. Ông kêu gọi, và bà con một tay một chân góp vào. Tiền EURO, USD, Việt Nam đồng,... đủ cả. Trọn gói hơn mười triệu. Nhưng họa vô đơn chí, chuyến bay ra Đà Nẵng với Hani mùa thu năm đó, tất cả chúng rủ nhau bay với chiếc simsonine hàng hiệu cùng bao nhiêu tư liệu quý. Tôi cười mếu. Lại phải một thân một ngựa tự xoay xở. Katê mới - Tagalau 3 đã chào đời nhọc nhằn như định mệnh chìm nổi của nó.
Điềm tĩnh, uyển chuyển, khôn khéo, và luôn thận trọng trong lời nói cử chỉ, là Lưu Quang Sang. Tôi nghĩ ông tự tôi luyện để thích ứng với mọi hoàn cảnh. Nhưng lạ, Chăm khuynh hướng cảm tình với người chọn lề lối cứng rắn, “dũng cảm” đấu tranh trực diện với chính quyền, mà ít cảm thông với nhân vật mềm mỏng. Lưu Quang Sang lại đại diện cho phái nhu này. Ông thích làm và biết làm chính trị. Là cháu nội cụ Dương Tấn Phát, một nhân sĩ uyên thâm về văn hóa dân tộc, tác giả bộ “Luật hôn nhân gia đình Chăm”, hai đời làm Tri huyện An Phước cũ. Hiệu trưởng Trường Trung học Pô-Klong nhiệm kì hai. Lên trung ương, ông giữ chức Hội viên Hội đồng các sắc tộc Trung ương năm 1971, Dân biểu Quốc hội Sài Gòn khóa 1971-1975.
Sắm vai Dân biểu, như bao Dân biểu trước đó hay đại biểu Quốc hội sau này, ông Sang đã làm được gì cho Chăm? Chuyện này có hay không, chỉ có ông và trời biết. Chớ nói cho to: Mang lại lợi ích cho cộng đồng. Bởi ai Dân biểu cũng chả là gì cả trong guồng máy. Riêng việc ta đã không làm gì có hại đồng bào thôi cũng là ngon rồi. Và nhất là, đừng có đi bằng cái lưng để cả một dân tộc bị khinh.
Đàng Năng Quạ
Bài hát đầu tiên ông dạy chúng tôi là “Mưrat bac” lúc Trường đang ở Bauh Dơng. Xuống thị xã Phan Rang, giờ cơm thay vì “Cơm canh chia rồi...” như mấy năm đầu thế hệ đàn anh đàn chị hát, ông sáng tác ca khúc tiếng Chăm: “Lithei ia tơl anak...” Đàng Năng Quạ tiêu biểu một tinh thần Chăm đầy mặc cảm. Tự ti lẫn tự tôn. Lên sân khấu, dù yêu cầu đến mấy, ông ít chịu hát bài thứ hai. Ra miền Trung, bao nhiêu là người hâm mộ vây quanh, ông tìm trốn.
Con người đầy cá tính nhưng ít ai ghét bỏ ông. Đêm nhạc Đàng Năng Quạ dự định tổ chức vào năm 1999, đã không thành. Tôi và Trà lên kế hoạch đâu vào đấy. Từ tập hợp, biên tập ca khúc ông cho đến dịch tiếng Việt để duyệt, từ tính toán kinh phí tổ chức đến các ca sĩ biểu diễn, bằng hữu phát biểu cảm tưởng cho chí mục tặng hoa vợ ông. Cuối cùng nó đổ bể chỉ bởi một tiểu tiết không đáng có. Tappa truh tathik jơl di danaw Ra khỏi biển sâu vướng ao nước cạn. Tập bản thảo mười lăm ca khúc bị duyệt bỏ bảy bài. Thử tưởng tượng cả đời viết nhạc nhưng lại bị cắt một nửa thì còn gì là nhạc! Đêm nhạc Đàng Năng Quạ đành chịu dở dang.
Là nghệ sĩ có nghĩa luôn bị ám ảnh bởi nỗi bất tử. Không phải bản thân cái tôi nghệ sĩ bất tử, mà là tác phẩm nghệ thuật. Vượt không gian - thời gian. Bằng chất liệu nghệ thuật của thời đại ấy, trong không gian văn hóa ấy, dưới áp lực của sinh hoạt tinh thần cộng đồng dân tộc ấy, ông tạo lập được cái đẹp cho dân tộc ông và cho nhân loại, của hôm nay và cho muôn đời.
Trong các sáng tác ông, “Bhum Adei Quê em” là ca khúc sống trọn vẹn giữa lòng Chăm. Nó được hát nhiều hơn cả trong các bài hát bằng tiếng Chăm, cả sáng tác dân gian lẫn sáng tác có tác giả. Trên sân khấu đơn sơ của trường Trung học hay dưới trăm ngọn đèn màu sang trọng tại các nhà hát thành phố, góc ruộng nương quê nghèo hay trên màn hình tivi, được trình diễn hoành tráng trước đám đông hay chỉ hát thì thầm một mình trên bước đường cô độc, hát cho người yêu hay hát ru em. Từ lúc ra đời vào giữa thập niên sáu mươi của thế kỉ trước, đã hơn bốn thế hệ Chăm hát nó. Và họ còn tiếp tục hát, có lẽ.
Bằng sự mộc mạc của ca từ: habei bhong khoai lang, tamkai dưa hấu, ia tanưh ghur nước uống miền đất cát với hình ảnh sinh hoạt rất đời thường của miền quê nghèo: adei đwa padơng cang em đội (nước) đứng chờ, tuk ka ai bbơng luộc đãi anh, sang taik nhà rách, rup liwang thân gầy hay qua tâm tư, lối suy nghĩ bình dị: kathaut mưda nghèo - giàu, Cam - Bini Chăm - Bàni, ngap jalan tagok - trun mở ngõ lên - xuống, cả lối tổ chức giai điệu, tiết tấu khá đơn giản của ca khúc nữa, nhưng với giai điệu nhẹ nhàng, êm mượt người nghệ sĩ đã ban hồn vía vào “Bhum adei”, tạo cho nó sức lôi cuốn kì lạ.
Chớ lầm tưởng bởi Chăm có quá ít sáng tác nên, họ cứ bổn cũ hát lại. Không! Cùng thời điểm đó, vài nghệ sĩ nghiệp dư sáng tác bài hát trực tiếp bằng tiếng Chăm hay chuyển dịch ca khúc Việt thịnh hành sang Chăm ngữ, nhưng Bhum adei cứ lừng lững có mặt, chiếm lĩnh vị trí hàng đầu.
Biến “sát-na” một mảnh đời sống Chăm hơn nửa thế kỉ qua thành cái đẹp “thường trụ” tồn tại đến hôm nay, Đàng Năng Quạ đã hoàn thành chức phận của nghệ sĩ sáng tạo đúng nghĩa. Nên, cho dù thời đại đã khác, tư tưởng phân biệt Chăm - Bàni đã lui vào quá vãng, cuộc sống Chăm đã bớt nghèo đi thấy rõ, và cho dẫu nhạc Pop, Rap đang tràn lan sân khấu tận miền quê, nhưng: “Mai rawơng palei adei... ” vẫn chưa thôi vang vọng trong các nẻo thôn, góc ruộng quê hương Chăm.
Có thể nói không ngoa rằng: Bhum adei là một quà tặng bất tử.
Thiên Sanh Cảnh
Năm Đệ Lục, yut Đảo dẫn tôi qua giới thiệu với Thiên Sanh Cảnh tại nhà ông ở thị xã Phan Rang. Ông vừa mổ mắt và đang nằm, ngồi dậy tiếp hai nhóc thò lò mũi. Trang trọng. Tôi hỏi ông về lang likuk Ga, La, Mư, Ta,... trong tiếng Chăm, ông bảo chúng là tiếp đầu ngữ préfix. Tôi biết ông sai. Như sau này tôi thấy ông chơi xỏ anh sinh viên, khi anh này hỏi về đàn tranh: - Đó là loại đàn Chăm với Việt tranh nhau. Có khi ông cố tình nói sai để khích tướng bọn trẻ. Như ông đã khích tướng một cán bộ cao cấp thuở Bảy lăm, khi thanh niên Chăm “lên rừng” trở về. Anh C kể khi cán bộ đến xin ý kiến, không cần suy nghĩ, ông nói luôn: - Theo tôi, cứ đem tất cả ra bắn! Mấy chục mạng, chớ ít ỏi gì. Anh C, người kề cận ông thời còn làm chung Nội san Panrang, lý giải: - Một mũi tên, cụ bắn hạ ba con chim. Thứ nhất được cho ông: Chứng tỏ rằng ông không ủng hộ Fulro; hai: Ông biết chắc “Cách mạng” không đem bắn con em mình; cuối cùng: họ sẽ thả bọn trẻ ra sớm, để chứng tỏ chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước! Khôn ngoan và đáo để đến thế là cùng.
Thế ông mới đẻ được Nội san Panrang, Tiếng nói của cộng đồng sắc tộc Ninh Thuận, và nuôi nó sống trót lọt đến tám kì! Khoản này, cùng với vài cộng sự thân tín như Huyền Hoa, Nại Thành Viết, Jalau,... ông công lớn. Không kể trang thơ văn hãy còn ở tầm tỉnh lẻ, các sưu tầm dịch thuật văn bản cổ như Akayet Dewa Mưno, Ariya Glơng Anak, hay “Đám tang Chàm”, “Đám cưới Chàm”, “Cách tính lịch Chàm”,... phải được coi như những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho nghiên cứu về Chăm hiện đại.
Trong đó có các cuốn sách của tôi.
Dohamide - Dorohiêm tìm về cội nguồn cách xa .
Khái niệm “cội nguồn” là một khái niệm khá mơ hồ. Nhất là với Chăm - một cội nguồn cách xa. Có thể cách qua không gian và xa bởi thời gian. Không gian đó có thể là Phan Rang/ Phan Rí, Panduranga/ Châu Đốc, An Giang hay xa hơn: Việt Nam/ Hoa Kì, Pháp, Malaysia,... Thời gian đó có thể cả ngàn năm, một thế kỉ hay chỉ mới hôm qua, hôm kia. Biết đâu mà lần! Nhưng với Chăm, “cách xa” thăm thẳm và vời vợi hơn có lẽ chỉ là xa cách trong lòng người, giữa hồn người. Một xa cách hầu như không thể lấp. Thương thay!
Vậy là có đứa con Chăm, tự ý thức được nỗi cách xa ấy, thử và quyết lên đường. Tìm về cội nguồn. Một lên đường đơn độc. Tư liệu: không, học vị khoa bảng: không, nhìn ra bốn bề xung quanh: không.
Glơng anak linhaiy likuk jang o hu
Nhìn trước ngó sau chẳng thấy ai người
(Ariya Glơng Anak).
Mục tiêu xa như muốn làm mất hút. Nhưng chàng thanh niên ấy đã ra đi. Bằng lòng tin, tay trắng và tâm thành. Hãy nghe đứa con ấy bộc bạch:
“Đi từ những day dứt từ thuở thiếu thời của một trong vài người Chăm đầu tiên được đi học trường phổ thông tại Việt Nam vào thời điểm các thôn ấp người Chăm vẫn còn khép kín, cách biệt với xã hội Việt bên ngoài, và trên cơ sở hành trang hiểu biết về ‘bangsa’ do bản thân tiếp thu được không qua trường lớp, chúng tôi muốn đóng góp soi sáng vấn đề qua các bước đường đã đi qua, tạo thành một cuộc hành trình quay về với cội nguồn dân tộc Champa, nhân đó, cùng trao đổi các thông tin thu thập được về cội nguồn này trên cương vị là người Chăm.”
Hành trình đi tìm nguồn cội là hành trình ngược về nguồn. Từ nửa vòng trái đất, trong một đất nước giàu sang, ông tìm về nơi chôn nhau cắt rốn ông, dừng chân tại thành phố nuôi dưỡng tâm chí ông thời trẻ, rồi ngược về miền đất được xem là cái nôi của văn hóa Champa xưa, hôm nay là miền đất Panduranga nắng gió, nơi bà con anh em ông vẫn còn miệt mài bám đất bám làng. Hành trình gian nan nhưng đầy xúc động, lôi cuốn.
Qua những chặng đường tâm tư ấy, ông vẽ lại chân dung xã hội và con người Chăm, hôm qua và hôm nay. Những tên đất, tên làng, tên con người vô danh hoặc ít nhiều được biết đến, đang làm nên cộng đồng này. Với những tiểu tiết gần như rất đời thường, những con người sinh hoạt rất bình thường. Bình thường đến tầm thường, nhưng chính nó đã làm nên cái vĩ đại của cuộc sống.
Tôi gọi cuộc “tìm về nguồn cội cách xa” của Dohamide và Dorohiêm là một hành trình tâm tư. Nên đừng trách ông chỉ ngợi ca mà không bình luận. Có đứa con nào bao nhiêu năm xa cách nay trở về quê hương lại đi chê [dẫu nhẹ] cha mẹ hay anh em bà con xóm giềng đâu chứ! Cũng không nên trách, đứa con ấy đã quên người này, bỏ sót khuôn mặt nọ trong kí ức mình.
Và, không thể không nói thêm, dù tác phẩm được viết như là bút kí, nhưng không phải vì vậy mà nó đánh mất sự nghiêm xác khoa học. Hơn thế, những ngồn ngộn chi tiết xã hội được tìm thấy trong cuốn sách chắc chắn sẽ là cứ liệu ban đầu rất đắt cho các công trình khoa học mang tính hàn lâm.
Từ Dân tộc Chàm lược sử đến Bangsa Champa là cuộc hành trình dài dặc. Cuộc đi không chủ ở nơi đến mà đặt nặng ở cách đi. Hai anh em đã vượt qua được vời vợi không gian, xa xăm thời gian; quan trọng hơn, hai đứa con Chăm ấy đã vượt qua hố thẳm cách ngăn của lòng người: khoảng cách của đức tin tôn giáo, ý hệ chính trị, định kiến xã hội, ngôn ngữ và tri thức,... Và, may mắn thay họ thoáng thấy khoảng sáng của cội nguồn Bangsa Champa. Thấy và, chỉ cho mọi người cùng thấy.
Chế Linh
“Chế Linh và Từ Công Phụng đồng tộc, đồng thời, đồng quê nhưng lại khác nhau một trời một vực về tính cách và con người. Chế Linh: cực kì bình dân, anh Phụng: rất trí thức; Chế Linh: rất Chăm, anh Phụng: rặt ‘Tây’; nhạc Chế Linh phổ biến rộng rãi trong quần chúng, ngược lại các ca khúc của Từ Công Phụng chỉ được biết đến tại các phòng trà. Vân vân... Đây là hai đứa con ưu tú đã làm cho Chăm mở mặt mở mày với đời, đã mang danh từ Champa vang khắp nơi. Dù nhạc Từ Công Phụng quá trí thức nên ít người Chăm thưởng thức. Nhưng mỗi khi nhắc đến Phụng là người Chăm hãnh diện. Đơn giản anh là người Chăm.”
Đoạn văn Trà Chay Pyang viết về Chế Linh trên Chamyouth vào năm 2004, tôi tình cờ đọc. Tôi và Chế Linh thân thiện, mến nhau nữa, có thể nói thế. Nhưng tôi ít gặp mặt anh. Thuở Tiểu học, anh ghé nhà dì Đựng ở Caklaing, mọi người túa đi xem, tôi không đi nên không biết mặt. Chỉ biết anh qua ảnh bìa nhạc cánh bướm. Dạng này thì anh số dzách rồi. Có người còn làm thống kê ảnh anh chiếm non nửa số lượng tất cả ca sĩ Sài Gòn cộng lại. Khiếp! Lần đầu thấy anh khi anh cùng Hùng Cường ghé Pô-Klong biểu diễn. Rồi lần nữa, năm 1970 gì đó, anh hát ở Trung tâm Văn hóa Chàm, thị xã Phan Rang.
Katê 2008, anh cùng đoàn làm phim nước ngoài ghé Nhà Trưng bày văn hóa INRAHANI ở Caklaing, mời tôi tham gia trả lời phỏng vấn cuốn phim tài liệu về anh.
- Là nhà thơ Chăm đồng thời là nhà phê bình văn học đương đại, anh nghĩ gì về đóng góp của ca sĩ - nhạc sĩ Chế Linh cho cộng đồng Chăm và cho nghệ thuật Việt Nam?
- Bhap bini Cam biak yaih drei ka paran Cam mư-anưk sa urang yuw xa-ai Chế Linh, - tôi nói hai thứ tiếng - Bà con hãnh diện về Chế Linh. Anh luôn nhận mình là Chăm, dù đi bất cứ đâu hay nổi tiếng thế nào đi nữa, đó là điều đáng ghi nhận đầu tiên. Thứ đến, Chế Linh sáng tác cả tiếng Chăm lẫn tiếng Việt, các ca khúc phổ biến rất rộng. Sau này Chế Linh còn mở website Binguchampa nữa, bên cạnh anh chưa bao giờ từ chối đóng góp công sức vào xây dựng cộng đồng. Với nghệ thuật hiện đại Việt Nam, tiếng hát Chế Linh là bất tử.
- Nhà thơ nhận xét gì về album ca nhạc mới nhất của Chế Linh làm ở Malaysia? Nó có tạo được điều gì đặc biệt cho cộng đồng Chăm không?
- Rất đặc biệt và đầy hứng thú. Chăm không ngờ Chế Linh hát tiếng Chăm chuẩn và hay như thế, sau bao nhiêu năm xa quê hương. Đây đích thực là đứa con của Đất !
Từ Công Phụng
Đứa con xa ấy ít có dịp trở về quê hương, ngay cả khi anh còn ở Việt Nam; nay càng xa vời vợi, khi anh làm “thiểu số giữa lòng thiểu số” tận xứ Hoa Kỳ. Vời vợi không gian, vời vợi cả thẩm mỹ âm nhạc. Từ Công Phụng giữa lòng xã hội Chăm phải chăng như có một khoảng cách?
Tôi mày mò bấm nốt Do, La, Si,... lần đầu trong đời bằng ca khúc “Bây giờ tháng mấy”. Rồi qua tuổi hai mươi, định mệnh run rủi sao lần nữa, bản “Trên ngọn tình sầu” rơi vào tay, để tôi nâng cấp nhạc lý của mình. Nhưng các ca khúc anh, với tôi, vẫn cứ là xa lạ. Dù mấy đứa bạn thân tôi rất mê anh. Trà Vigia đặt các ca khúc của anh Phụng ngang hàng Cung Tiến, hay trước nữa: Đoàn Chuẩn - Từ Linh: đẹp và sang trọng.
Trầm Ngọc Lan suốt ngày ca cẩm “con dế buồn tự tử giữa đêm sương...”. Anh Cân lúc ở quê, tôi vài bận qua anh nghe ké tiếng hát mới nhất của Từ Công Phụng vừa gởi về. Quán cà phê vợ chồng anh cạnh sân banh, trang trí rất nghệ sĩ. Tôi nghĩ anh nhắm vào tính thẩm mỹ của quán hơn là khía cạnh thực dụng của nó. Trang trí, tỉa tót rất ư là mỹ thuật, chả khớp với sinh hoạt nông thôn tí nào cả. Một tâm hồn duy mỹ nên, anh khoái Từ Công Phụng không là điều lạ!
Vậy mà tôi vẫn chưa đến được với nhạc Từ Công Phụng. Không phải ở tôi kém âm nhạc, càng không phải ở tôi chưa lần gặp mặt anh mà, chính ở khuynh hướng duy mỹ, ở cái đẹp thuần túy hiện diện trong âm nhạc anh, tạo khoảng cách còn lại, với tôi. Tôi không tin lắm vào lời giới thiệu của Du Tử Lê về Từ Công Phụng, rằng nó mang tính triết lý, rằng... Vì ca ngợi anh Phụng như thế, khác chi nhà thơ họ Du tụng ca chính mình. Bởi đa phần ca từ của Từ Công Phụng lấy từ thơ Du Tử Lê!
Trong lúc Trịnh Công Sơn không bao giờ sử dụng lời của người khác (Văn Cao cho Trịnh hát thơ của chính mình, là vậy), Từ Công Phụng, ngược lại, chú tâm đến giai điệu. Tôi cho rằng chính giai điệu ấy lôi cuốn họ đến với anh. Và ở lại. Khi tôi có ý kiến ngắn về anh Phụng trên Chamyouth, một bạn trẻ gửi mail cho tôi toàn bộ sáng tác của anh. Tôi có đến hai bất ngờ: Vẫn có bạn trẻ Chăm yêu anh và sưu tầm nhạc anh. Bất ngờ hơn nữa, anh vẫn còn viết, sức sáng tạo vẫn tràn đầy. Từ đó, âm nhạc anh mới thực sự thuyết phục tôi. Không nghi ngờ gì nữa: Từ Công Phụng là một nghệ sĩ lớn với cá tính sáng tạo độc đáo mà dân tộc Chăm đã sinh ra. Bất kể anh sử dụng tiếng Việt để thể hiện tâm tình hay chuyển tải ý tưởng. Chỉ có điều hơi đáng tiếc nơi anh, cho anh và cho cả Chăm: Anh chưa một lần nhận mình là Chăm trước người yêu nhạc. Làm thế, anh không lớn hơn sao? Lớn với Chăm đã đành, lớn với cả những người ngoài từng yêu mến anh nữa.