Tôi sinh năm Đinh Dậu, một năm đại hạn, - mẹ nói. Vùng đất nắng nóng nhất nước lại chịu thêm hạn. Thế chăng mà tôi bị cọc. Gia đình tôi, cao mét sáu nhăm là cọc. May, tôi ít bệnh vặt. Nữa, tôi được học hành liên tục. Đó là ân huệ lớn. Cha ham mê sách cổ nhân. Những đêm trăng thơ mộng nơi thôn trang, nghe cha ngâm, tôi thuộc nằm lòng Ariya Glơng Anak ngay thời tôi mới năm, sáu tuổi, khi còn chưa cắp sách đến trường.
Sáu năm Trung học, bước chân tuổi trẻ tôi rong ruổi trên khắp ngõ hẻm quê hương. Tâm hồn tôi mở ngõ đón nhận những mới lạ, ngạc nhiên tiếp ngạc nhiên: câu hát, giọng nói, phương ngôn, màu áo... Tôi hồn nhiên tắm trong không khí đời sống Chăm, như thế. Rời Đại học, tôi lần nữa làm vài cuộc đi dài khắp các làng, vừa sưu tầm văn học dân gian, vừa tìm cảm hứng sáng tác. Là khoảng thời gian sáng tạo hứng thú nhất của tôi.
Tháng tư năm Bảy lăm, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều mấy sư đoàn lính cộng hòa về tử thủ Ninh Thuận. Bom đạn gầm rú, cháy kho xăng phi trường Thành Sơn, dòng người di tản đi hình con rắn, tôi cứ bị đóng cứng vào bàn làm Từ điển Việt - Chăm ! Như nửa năm sau đó: vào Tập đoàn sản xuất, rầy nâu, cơm độn, tôi mượn ở người bạn Dictionnaire Cam - Français của Aymonier - Cabaton, mải mê chép. Bản thảo Từ vựng thì bị mối xông hai năm sau đó. Còn cuốn Từ vựng học tiếng Chăm diễn trình ở Tọa đàm trí thức Chăm ở Mỹ Nghiệp năm 1990, in ronéo, nay trong tay tôi không còn bản nào. Hay Tự học tiếng Chăm được trình bày tại Hội nghị chuyên đề ở Ban Biên soạn chữ Chăm, sắp in thì người biên tập làm mất bản thảo duy nhất. Nó được viết lại để dùng làm giáo trình cho sinh viên ở Trung tâm. Tôi viết nó trong thế buộc.
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời...
Cuộc yêu của tôi là một ham mê. Bởi ham mê nên không tính toán đến thành tích hay lợi lộc. Thiếu kế hoạch và chương trình. Làm là làm chơi. Là tâm tính Chăm đặc sệt. Hơn nữa, từ tuổi hai mươi, bị Krishnamurti hút hồn, tôi luôn ở tư thế của kẻ sẵn sàng vứt bỏ tất cả. Để lên đường. Nhập nhằng giữa phá/ xây, gom nhặt/ làm mới, nghiên cứu/ sáng tạo nên hơn hai lần tôi đem cho tất cả những gì sưu tầm được. Làm lại thì luôn mất hứng thú ban đầu. Vì nhiều tài liệu quý bị thất lạc.
Nếu không tình cờ gặp ông Nông Hoàng Thụ - Giám đốc Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc ở Sài Gòn - và bị ông thúc, thì bộ Văn học Chăm chưa chắc đã mở mắt chào đời. Tư liệu có sẵn, tôi viết chúng vào những buổi tối, sau khi suốt ngày đánh vật với ngôn ngữ, trong thời gian biên soạn Từ điển tại trường Đại học. Liên tục trong ba năm liền. Và tôi đuối. Cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tôi tìm đến thi ca. Mong tìm giải thoát. Nhưng thơ không phải là phương tiện để giải thoát hay cứu rỗi mà nó đẩy tôi đối mặt với định mệnh, gay cấn hơn, quyết liệt hơn.
Tôi đùa các bạn rằng ví tôi là công dân Đức, hẳn tôi đã thành triết gia rồi. Hay nếu làm người Raglai đi thì tôi chỉ chuyên làm thơ. Đằng này, là Chăm, nên tôi phải gánh. Một trách nhiệm nặng nề, như thiên hạ nói. Bởi tôi biết, Chăm luôn khởi đầu từ bàn chân trần trắng, không mảnh tư liệu, không tiền bạc, không nguồn tài trợ. Mục tiêu thì xa hun hút. Nhưng tôi xuất phát từ niềm vui. Tôi làm bởi tôi vui thích, nó làm cho tôi vui thích, tôi biến nó thành cuộc chơi vui thích. Chứ không vì mục đích to lớn gì cả. Trên bước đường, nhiệt tình của tuổi trẻ nâng đỡ tôi, niềm vui đẩy tôi lao tới.
Tôi muốn tìm hiểu tâm hồn dân tộc mình và tôi nghĩ văn chương là biểu hiện trọn vẹn nhất. Bên cạnh cũng mong thế giới bên ngoài biết đến nền văn chương đang nguy cơ thất truyền. Thế nhưng, để đọc và hiểu được các văn bản chép tay đang nằm rải rác khắp làng Chăm với biết bao sai lệch, dị biệt này, điều kiện tiên quyết là nắm vững vốn cổ ngữ Chăm. Do đó, trong thời gian sưu tầm, tôi tự mày mò học và học ở nhiều gru cách đọc chữ Chăm cổ chép trên lá buông, giấy bản.
Văn học Chăm giàu sang và độc đáo, nhưng hỏi nó ở góc khuất nào trong văn học sử Việt Nam? Tôi mê ngôn ngữ Chăm và yêu cái âm vang của lời. Thời trẻ gặp lúc các bà Chăm ở quê cãi vã nhau, mấy bọn trẻ chạy túa đi xem, tôi cũng thế. Nhưng khác các bạn, tôi không nhìn hành vi, cử chỉ mà nghe âm vang của lời, rồi ghi. Các tục ngữ, thành ngữ bật ra. Các từ rơi vãi ra, các từ không thể tìm thấy trong bất cứ văn bản nào. Còn trong cuộc đi dài tìm chữ nghĩa, ở mọi làng Chăm, các cụ cho tôi mượn bản chép tay như của gia bảo mà không chút ngại ngần; hay đãi cơm cho tôi được ngồi chép. Buồn nỗi là tư liệu Chăm còn quá ít. Vốn văn học dân gian được truyền chẳng còn là bao. Văn bản chép tay không được nhân bản nhiều. Và rồi mất mát.
Một câu tục ngữ – một dòng ca dao
nửa bài đồng dao – một trang thơ cổ
tôi tìm và nhặt
như đứa trẻ tìm nhặt viên sỏi nhỏ
(những viên sỏi người lớn lơ đãng giẫm qua)
để xây lâu đài cho riêng mình tôi ở
lâu đài mà một ngày kia họ ghé đụt mưa – chắc thế!
(Tháp nắng, 1996)
Glơng anak linhaiy likuk jang o hu
Ariya Glơng Anak.
1980
Bạn thân của tôi, sinh viên xuất sắc của một trường Đại học lớn, niềm hãnh diện của cả palei. Đang ngon trớn Đại học, đột ngột anh bỏ về. Một khủng hoảng tinh thần nổ ra trong anh. Chuyện xảy đến xung quanh niềm tự hào dân tộc. Anh luôn kiêu hãnh là Chăm, về Chăm, với xốc nổi ngây thơ tuổi trẻ. Nhưng rồi anh bị cú sốc đầu đời. Khi một bạn học nữ yêu cầu anh nói tư tưởng của văn nhân Chăm, tác phẩm văn chương sáng giá nhất và vân vân. Một cơn gió buốt thổi tràn vào khoảng trống ngực anh. Anh bỏ về.
- Mình đã đổ thừa bừa cho khách quan, thiếu điều kiện gì đó, khi cô nàng hỏi tại sao mãi đến lúc này các bạn vẫn còn chưa có bộ văn học sử Chăm.
- Đó có phải là nguyên do không?
- Không hiểu nữa. Nhưng mình nghe trống rỗng và, mất trọng lực.
Một hiểu biết mơ hồ còn tệ hại hơn là không hiểu biết gì cả.
1995
Mười lăm năm sau. Câu chuyện khác. Một nhà văn ở Sài Gòn trên đường ra Hà Nội tạt qua Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm tại Phan Rang. Chén tạc chén thù, ông cũng nhận được niềm tự hào tương tự, từ một vị Chăm trung niên. Nhà nghiên cứu tỉnh lẻ này đã dắt tay vị khách vào tận kho sách với những bản sao chụp chất lớp, nhìn tận mắt hàng ngàn thước vi phim, từng dãy danh mục văn bản cổ chép tay. Anh hứa hẹn với người của trung ương rằng còn có cả mấy trăm truyện cổ, mấy chục ngàn tục ngữ, ca dao lưu truyền trong các làng quê Chăm nữa. Đó là một nền văn học khổng lồ đang bị mai một. Vì thiếu... kinh phí. Nhưng khi vị khách hỏi đã có chương trình cụ thể sưu tầm vốn văn học dân gian chưa? Các anh sẽ xử lý ra sao với kho tư liệu văn chương dân tộc, thì ông thấy sự thất vọng chảy tràn mắt người đối thoại. Cả nhà nghiên cứu này cũng không phác nổi chân dung dù mơ hồ nhất về văn học dân tộc.
Hai câu chuyện. Hai thời điểm. Hai thế hệ. Niềm kiêu hãnh bị tổn thương kia đã gây cho tôi cái xót xa sâu đậm, lâu dài. Năm tháng trôi qua. Nó đục ruỗng hồn tôi. Và hôm nay đã sẹo lớn.
Giai thoại kể người Chăm cất giấu trong hang núi thuộc vùng Kanak Cà Ná cả kho sách lớn từ hai thế kỉ nay. Nền hang được phả dày bằng lớp cát trắng phát sáng. Cửa hang đóng kín mít bởi một tảng đá to chỉ có người Raglai làng Kunhuk thuộc dòng họ gia nhân trung thành của hoàng tộc Champa cuối cùng mới mở được - bằng bài phù chú bí hiểm với lễ vật là một con dê mọc nửa gang sừng. Còn bao nhiêu kho báu nữa đang phải chịu phủ mờ dưới mốc bụi thời gian? Câu thơ Pauh Catwai mang chở dự cảm đến nao lòng:
Tơl thun tapai kaik lan
Cauk ka nưgar thơk nau mưjwa
Đến năm thỏ cắn bùn đất
Khóc cho đất nước trôi đi âm thầm
Những trận gió miền Trung thổi nhăn từng nếp trán tuổi già khuất lấp dần kí ức mù sương mờ nhạt miền cổ tích, truyền thuyết. Cả sức bay bổng thanh xuân trong cõi dân ca cũng bị trì nặng bởi lo toan thường nhật. Từng tờ bản thảo chép công phu bóc rời khỏi ciet sách gia đình, lưu lạc. Trùng trùng điệp điệp. Chúng lưu lạc nơi đâu?
Hơn mười sáu thế kỉ sinh thành và tồn tại, có chữ viết từ thế kỉ thứ tư, lại được trời phú cho tâm hồn yêu văn học nghệ thuật, người Champa đã truyền lưu cho lớp hậu sinh cả gia tài chữ nghĩa. Hai trăm năm mươi minh văn, ba ngàn văn bản lưu lạc ở một đảo thuộc Ấn Độ Dương hơn thế kỉ vừa được tìm thấy, một thư mục ghi mỗi câu đầu bản chép tay dày 200 trang do trường Viễn Đông Bác cổ phát hành năm 1980. Chưa là gì cả so với những gì người Chăm để lại.
Ôi, cái cả quyết đến liều lĩnh của ngài Paul Mus! Dù uy tín ngài lớn cỡ nào, nhưng khi ngài phán rằng văn chương Chăm có thể chỉ thu tóm trong vài mươi trang sách, nghĩa là không có gì đáng nói cả thì chả có một Chăm nào tin ngài. Ngay với thằng tôi mười lăm tuổi đầu đang ngồi lớp Đệ Tứ ở một trường nghèo trong một tỉnh nghèo trên một đất nước nghèo đang bị chiến tranh tàn phá. Tôi không tin, nhưng lấy gì làm chứng cho nỗi không tin kia? Thế là vì tự ái tuổi trẻ, tôi đã đi. Một dân tộc sản sinh ra bao nhiêu là cụm tháp kì vĩ thế kia thì không thể nào không là gì cả trong văn học được.
Tôi đi. Dù trong tay không lấy mảnh văn bản nào. Chỉ với mớ chữ nghĩa được ông ngoại và cha dạy thuở chân đất. Tôi phải đi. Dù chưa thấy trên lối đi bóng cây cho tôi đụt nắng. Tôi biết trước mặt mình là một khu rừng hoang đựng chứa bao nhiêu hoa quả lạ, ngọt. Tôi đi, với hưng phấn kì lạ. Những mùa hè, những ngày chủ nhật xuất trại kí túc xá Pô-Klong. Theo bạn học về quê tìm đến những khuôn mặt nông dân - trí thức mà tuổi trẻ tôi xem như vĩ nhân. Có thấy Thiên Ve lý giải Ariya Glơng Anak, có nghe Não Cùi dân Thành Tín diễn tả trận thư hùng giữa Xamưlaik với Mưno dưới chân núi Chà-bang, có nghe Nguyễn Tùng người Phước Nhơn ngâm đọc Ariya Nau Ikak với giọng ngâm đặc kì Chăm ra sao thì mới thấy hết niềm đam mê cùng sức tưởng tượng sáng tạo của người dân quê Chăm dành cho văn chương như thế nào. Tôi nghe, mở to mắt mà nghe.
Thành kiến rằng Chăm ích kỉ không cho nhau mượn sách thì rất ư sai bậy. Văn hóa Chăm chưa phát triển ngành in, được một tác phẩm cầm tay là việc thiên nan. Mới năm mươi năm trước thôi, muốn có Akayet Dewa Mưno, họ phải chở sang nhà người chép sách cả xe trâu thóc. Nghề chép sách thế giá là vậy. Các bản thảo như là gia bảo, Chăm cất cẩn thận vào ciet paung treo lên xà ngang ngay giữa nhà. Định kì, ciet sách được mang ra phơi nắng, cúng bái thành kính với lễ vật đơn sơ. Sách luôn được sử dụng, để quá tháng không dùng, sách trở thành sách hoang tapuk bhaw. Chữ nghĩa không dễ trao tay cho kẻ lười nhác. Nhưng với cậu bé thư sinh, ăn mặc xuề xòa, đôi mắt rực sáng lên khi thấy sách thì, không!
Tháng 4-1975. Nghỉ học nguyên một năm để chờ học lớp cuối Trung học niên khóa mới, tôi với Trăng, Tiến có những ngày thật thơ mộng ở quê nhà. Ngày mùa, chúng tôi vác bó cạm, xoong chảo ra đồng bẫy chuột và ăn ngủ luôn ngoài đồng. Mỗi người một thế giới riêng tưởng tượng và giao cảm. Trăng chuyên nói tếu, cái tếu rất Chăm nghĩa là cực kì tục. Tiến đọc thơ và thao thao về thiên tiểu thuyết dự án. Còn tôi mơ mộng về chữ nghĩa đang nằm rũ dưới lớp bụi năm tháng. Ciet sách của thân sinh Trăng có cả trăm tác phẩm văn chương. Chữ viết của cụ vừa chân phương vừa hoa mỹ nên kẻ mới nhập làng chữ như tôi rất khoái. Khác hẳn với lối viết tháu của người Bầu Trúc mà yut Toán dẫn tôi thâm nhập vào tháng Mười một lịch Chăm đầy gió sau đó. Quả là một loại chữ viết hành hạ người đọc đầy cố ý.
Tháng Giêng năm 1993
Phan Rí. Tôi theo ông Lương Đức Thắng, mỗi người một chiếc xe đạp mượn, ngược gió đạp qua làng Yok Yang tìm gặp một thầy Kadhar. Uy tín của ông Thắng vẫn không làm vợi đi bộ mặt khó đăm đăm của thầy Kadhar, trưa hôm đó. Lối đóng thùng bảnh bao hệt công tử thành phố của tôi đã làm ông khó chịu chăng? Chắc thế.
- Các vị chỉ có bòn rút chữ nghĩa ông bà rồi đem bán cho ngoại nhân. Ông nói rồi bỏ ra sau nhà thay quần áo vừa đi rừng về và ở luôn phòng trong. Bà vợ năn nỉ mãi ông mới ra tiếp khách. Ông không cho chúng tôi tư liệu hay thu băng bài hát mà chỉ đọc một đoạn ariya. Nội dung triển khai một ý lớn trong Ariya Glơng Anak:
Adat kayuw phun hapak jruh tanan
O kan jruh pak bikan, drei tacei wơk di drei
Đạo của cây là gốc ở đâu thì rụng ở đấy
Nếu rụng nơi nào khác là mình tự hại
Ông bảo đấy là bài thơ rút từ văn bản cổ của cố ngoại. Một giọng thơ đầy tự hào của anh nhà nông “thất học”. Tôi nhẹ gật. Dù tôi biết đấy là sáng tác mới, có lẽ của chính ông. Lục bát Chăm không gieo vần như lục bát Việt hiện đại, nghĩa là chữ cuối dòng sáu hiệp với chữ thứ sáu dòng tám mà hiệp ở chữ thứ tư. Và gieo cả vần bằng lẫn vần trắc. Một số thành tố trong bài thơ tự khai điều đó. Ông muốn giấu mặt để bài thơ có mặt. Tuyệt tác văn chương là linh khí trời đất kết tủa. Người Chăm nghĩ thế, nên hầu như toàn bộ nền văn chương này khuyết danh. Cả các sáng tác cận đại. Một cái tên ngẫu nhĩ thì không là gì cả trong vô cùng không gian và vô tận thời gian. Albert Einstein có thể là Jean Einstein hoặc cũng có thể là Albert Umstin. Chết chóc ai đâu kia chứ!
Để tăng tính sấm kí, Chăm sẵn sàng đẩy Pauh Catwai lùi xa đến năm trăm năm dù nó chỉ mới được viết vào đầu thế kỉ mười chín. Cũng chẳng ai lấy làm lạ khi có quý ông cả quyết Akayet Inra Patra có trước Truyện Kiều đến sáu thế kỉ dù tác phẩm này chỉ ra đời trước truyện thơ của Nguyễn Du chưa tới hai trăm năm. Cơ sự này đã gây cho tôi bao nông nỗi.
Năm 1977. Vào Sài Gòn làm sinh viên, hành trang tôi mang theo là hai va-li đầy những Nietzsche, Dostoievski cùng trăm bản chép tay Chăm. Quả là một gã hoang tưởng nặng. Rồi chưa đầy năm, tôi bỏ giảng đường. Lại là tự do Chăm, thứ tự do vô chính phủ. Vài bạn cũng bằng ngần ấy thời gian đã bỏ Đại học để rồi hổng chân ở thực tế. Lang thang. Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang, Sài Gòn. Đọc Long Thọ và Krishnamurti. Con số không to tướng di động không định. Bao nhiêu công lao bỏ lại Sài Gòn không cho ai. Bạn bè sinh viên tổ chức vượt biên hụt. Bao nhiêu sách, bản chép tay thất tán đâu không hiểu. Chúng rơi vào tay ai? Có ai biết yêu quý, nâng niu nó như nhân vật tội nghiệp của chúng ta không?
Người lưu lạc xô văn chương lưu lạc
(Tháp nắng, 1996)
Điều trần ai nhất là trong đống bản chép tay ấy có một tác phẩm đã thất truyền: Ariya Bini - Cam, truyện thơ mà Phan Đăng Nhật liệt vào một trong những truyện tình hay nhất của văn chương nhân loại. Chiến tranh từ bên ngoài và nội chiến, nỗi sợ mất mát gia bảo, tình trạng cát cứ của các gru, rồi hơn hai trăm năm lưu lạc. Chừng ấy sách vở chữ nghĩa góp nhặt được dù chưa thấm tháp vào đâu cũng đủ nói lên cái giàu sang của văn học Chăm. Nhưng nó có giàu sang đến độ khổng lồ như nhân vật thứ hai ở đầu truyện đã khẳng định?
Giữa bạt ngàn chữ và lời, đâu thuộc phạm trù văn chương? Văn chương có thể là bản tụng ca thánh thần nơi cõi siêu việt hay chỉ nói về sinh hoạt thường nhật của chị thợ dệt, anh nông dân; có thể mở ra viễn tưởng thiên đàng trần gian hay tiếc nuối một thời đã mất; hát ca về kì tích oanh liệt của một dân tộc hay chỉ muốn cảm thông với trượt ngã của một sinh thể yếu đuối; khai phá vào vùng tư tưởng u uyên hay mong nắm bắt cái đẹp đơn giản thoáng qua; phô bày cái thiện hay tố giác cái ác; xã hội hay tự nhiên; sâu lắng hay thanh thoát; vòng vo hay trực diện... Dù gì thì gì văn chương cần lay động tim ta, thức giấc trí ta qua cái đẹp của lời. Các sách dạy về cách tính Xakawi Lịch không là văn chương dù chúng được thể hiện bằng văn vần. Các bài phù chú, công văn của triều đình, bài cúng tế,...
Kho tàng Chăm, khoảng một trăm trong hai trăm năm mươi minh văn từ thế kỉ thứ hai đến thế kỉ mười lăm. Sử thi, trường ca trữ tình, thơ thế sự, thơ triết lý, gia huấn ca... Văn chương bình dân với hơn trăm bài tụng ca damnưy do các Ong Kadhar hay Ong Mưdwơn hát trong các lễ Rija, Pơh babbơng yang, Tamư kut... Dù chúng được ghi thành văn bản nhưng trong lúc diễn ngâm, nghệ nhân vẫn có thể tái tạo linh hoạt. Rồi ca dao panwơc pađit, tục ngữ panwơc yaw, câu đố panwơc pađau, truyện cổ, truyền thuyết dalikal. Và cả các sáng tác cận đại nữa. Là di sản thâm trầm của tổ tiên.
- Nhưng so với kiến trúc và điêu khắc thì nó không thể ngang tầm. - Anh bạn nghiên cứu sinh hiu hiu tự đắc kèm cái rung đùi, như sẵn sàng chực thưởng ngoạn sắc mặt tôi lúc thất thế.
- Đúng hơn là chưa ngang tầm. Văn chương là phần khuất của ngọn núi. Nó tồn tại sinh động trong tâm hồn dân tộc. Nó không lộ thiên qua dạng vật chất nên khó nhận ra. Này nhé, ta đã có chương trình cụ thể và quy mô sưu tầm - nghiên cứu văn chương bình dân chưa? Ta đủ người có khả năng đọc và phân loại các văn bản chép tay hiện có? Cả các bản chép tay đang bị treo mòn trong ciet sách gia đình? Chưa, phải không? Vậy mà văn chương Chăm vẫn cống hiến giọng riêng, lạ. Sử thi Chăm mang màu sắc thần thoại Ấn Độ thấm đượm triết lý Bà-la-môn và Hồi giáo, là điều chưa hề có trong văn học sử Việt Nam. Chuyện tình trái ngang, bi đát bởi hà khắc tôn giáo Bà-la-môn - Hồi giáo là hiện tượng chỉ có mặt trong văn chương Chăm. Cả dòng thơ chính luận, triết luận như Glơng Anak hay Pauh Catwai cũng thế.
Luôn luôn đúng chưa hẳn hay hơn phạm sai lầm nếu sai lầm đưa ta đến tỉnh ngộ.
Akayet sử thi Chăm có văn bản thì có vẻ dễ xơi, miễn nhà nghiên cứu rành chữ truyền thống akhar thrah. Thế mà chúng vẫn cứ gây thất thố. Giữa các thuật ngữ văn học có mặt trong văn bản: ariya, dulikal, damnưy, kabbon, thể loại akayet là gì? Có ba tác phẩm bằng thơ được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Chăm: Akayet Dewa Mưno, Akayet Inra Patra, Akayet Um Mưrup. Akayet được Aymonier dịch là commencement sự bắt đầu, còn Moussay dịch là tác phẩm bằng thơ oeuvre poétique. Sau này ông đã dịch lại là sử thi, như ông đã gọi Dewa Mưno là một épopée. Aymonier đã nhầm lẫn vì ở các thi phẩm này đều “bắt đầu” bằng từ akayet. Còn lối dịch của Moussay vào năm 1971 thì không được tinh xác lắm. Vì một ariya hay damnưy Chăm cũng là một tác phẩm bằng thơ. Như vậy, dịch akayet là épopée sử thi, anh hùng ca, tráng ca thì ổn hơn cả.
Các dân tộc Êđê, Bana, Giarai, Raglai có thể loại gọi là sử thi với tiếng bản ngữ là: khan, hơmon, hơri, jukar. Các thuật ngữ văn học này đều có quan hệ mật thiết với Chăm. Khan trong tiếng Chăm là akhan hay khan nghĩa là kể; hơmon tiếng Cham là mưmaun đọc là mưmon có nghĩa nói thầm; jukar tiếng Chăm là dulikal hay dalikal có nghĩa truyện cổ, hơri, tiếng Chăm là hari có nghĩa ngâm đọc. Sở dĩ các dân tộc này vẫn còn giữ chất truyền khẩu của sử thi bởi vì lúc đó họ chưa có văn tự ghi chép thành văn bản. Do đó, họ “thuần” hơn, mang tính kể nhiều hơn đọc pwơc, ngâm hari. Cả người Chăm ở Bình Định, Phú Yên cũng mang đậm chất dân gian trong sử thi.
Người Chăm vùng xuôi và khu vực Panduranga đã ý thức chép truyện thành văn bản. Câu chuyện Dewa Mưno được chuyển thể và chép lưu truyền từ đầu thế kỉ mười bảy. Bước ngoặt thể hiện ngay ở câu đầu của sử thi nổi tiếng này:
Dulikal Dewa Mưno twơk twei ariya
Truyện (cổ) Dewa Mưno được sáng tác (chuyển) theo thể thơ
Như vậy trước khi có sử thi thành văn, Dewa Mưno được kể như truyện cổ tích. Cũng vậy, một văn bản ở Pháp có tên Pram Dit Pram Lak mà Moussay cho là sử thi trong lúc người Chăm ở Phan Rang vẫn còn gọi là truyện cổ dalikal. Văn bản thể hiện nó bằng văn xuôi. Nhớ là Đam San của Êđê rất giống Dam Xơng hay Dam Xen của Chăm ở cốt lõi nhưng cách kể hay thể hiện thì hoàn toàn khác, đến nỗi Dam Xơng của Chăm nay chỉ được coi như một truyện cổ rất ngắn tồn tại mờ nhạt trong tâm thức Chăm. Trong khi nó lại là niềm hãnh diện lớn của dân tộc Êđê.
Dalikal truyện cổ Chăm là thể loại văn học được chú ý sưu tầm, ghi chép sớm hơn cả. Từ cuốn Contes Tjames in năm 1887 đến ấn phẩm mới nhất của Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm - Ninh Thuận. Việc tưởng dễ nuốt nhưng vô cùng khó nhằn. Thế là các vị đi sau cứ sao đi chép lại, nhầm lẫn giữa truyện cổ và sáng tác thành văn, các nguồn sưu tầm không được ghi đầy đủ hoặc chú thích qua loa, không có đối chiếu dị bản ở các vùng, miền người Chăm sinh sống. Các ghi chú sai lạc, tùy tiện. Ngay cả ấn phẩm mới nhất, khá dày dặn là Truyện cổ dân gian Chăm cũng không hơn gì. Dễ gây cho người đọc như đang cầm tay ấn phẩm phổ thông chứ không phải công trình sưu tầm folklore nghiêm túc. Khía cạnh này, người sưu tầm sau đạp cứt jwak aih nhà nghiên cứu trước. Thế mà các nhà làm tổng, tuyển tập chưa phân tích kĩ đã vội đưa chúng vào bộ sách to đùng và dày cui rồi gán chúng là văn học Chăm.
Hà Nội cuối năm 1995
Trời khá rét. Với dân xứ nóng thì thật bất tiện. Nhưng sự hưng phấn được cùng anh em Viện Nghiên cứu Đông Nam Á qua thăm làng dệt Vạn Phúc đã làm tôi quên cái lạnh ngập tràn đường phố thủ đô. Đến đón tôi và Hani là Trương Sĩ Hùng.
- À Inrasara. Ông đã phê tôi đấy nhé. Nhưng ông phê đúng.
Đó là câu đầu tiên anh làm quen với tôi. Thật quý hóa tinh thần vị phó tiến sĩ văn học kiêm thi sĩ này. Anh viết tiểu luận về văn học Chăm khá dài [dòng] trên tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, dựa vào một ấn phẩm không đáng tin cậy: Truyện thơ Chàm do Tùng Lâm và Quảng Đại Cường dịch, Nhà xuất bản Văn hóa in năm 1982. Cứ gì anh! Đặng Nghiêm Vạn cũng đã cho in bảy bản dịch rút từ ấn phẩm này trong Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam. Rồi cả Tổng tập văn học Việt Nam đồ sộ là thế vẫn chép lại chúng.
Lỗ hổng tri thức về nền văn học dân tộc Chăm quá lớn. Có khờ mới đi trách người thiên hạ. Tiếc là người làm công tác tuyển chọn và cả nhà nghiên cứu chưa biết rằng dân tộc này đã có văn học thành văn. Bảy tác phẩm trên thuộc dòng này nên chúng có bản gốc là điều không thể cãi. Vậy mà Tùng Lâm và Quảng Đại Cường đã chẳng đưa ra nổi một văn bản gốc nào làm chứng. Nghề chữ nghĩa sai một li đi một dặm là vậy.
Truyện thơ Chàm. Nghe cái tên thôi cũng làm nức lòng anh em Ban Biên soạn, từ lão làng là bác Lâm Nài cho đến cái thằng tôi mới hai lăm tuổi đầu. Bảy truyện chứ ít ỏi đâu! Trước đó, trắng. Cả trước 1975 nữa kia. Trung tâm văn hóa Chàm quy tụ non chục trí thức Chăm xung quanh Moussay cũng chỉ cho ra đời vài tập lẻ bằng akhar thrah. Glơng Anak và Dewa Mưno chỉ được Thiên Sanh Cảnh dịch cho đăng nhiều kì trên nội san Panrang ra thất thường. Háo hức buổi đầu bao nhiêu chúng tôi thất vọng bấy nhiêu khi đọc xong nó.
- Mỗi dịch giả đáng nhận vài phát roi vào mông. Có đúng nguyên văn câu nói của già làng Lâm Nài không, chỉ nhớ rằng sau đó ít lâu, Quảng Đại Cường ghé Ban đã tự thú anh “dịch” chúng theo trí nhớ. Ở Bắc khi đó làm gì có văn bản Chăm!
- Thế còn các phần sau? Cậu đào đâu ra?
- Bác thông cảm! Em phải “nâng cao” cho phù hợp với nhân sinh quan thời đại. Thôi thôi, các bác bỏ qua cho. Em đọc ngay đây để hầu các bác sáng tác mới nhất của em. Thế là anh đọc, như kẻ lên đồng, nhập hồn và múa may. Tôi bất ngờ trước tài năng thơ dị kì này. Được biết trong các anh em Chăm ra Bắc tập kết, anh là khuôn mặt sáng giá. Chỉ vì ngộ nhận nhỏ mà ra nông nỗi. Lúc này, anh chỉ biết trôi giạt và làm thơ tụng ca những người tình mộng chập chờn trong dòng đời quá cay nghiệt.
Có thể phân văn học Chăm ra làm hai thời kì lịch sử lớn mà mốc ranh giới là giữa thế kỉ mười bảy, cụ thể hơn, thời Ppo Rome (1627-1651). Các sử thi akayet xuất hiện vào giai đoạn đầu, xa hơn là sự phát triển phồn thịnh của văn bi kí. Đó là giai đoạn vương quốc Champa còn tồn tại như là một nhà nước có chủ quyền, có sức mạnh quân sự và chính trị đáng kể trong khu vực. Nghệ sĩ chưa bị lịch sử đụng chạm đến, sẵn sàng ca hát về những nhân vật của thần thoại, các giai nhân và anh hùng tưởng tượng để làm vui lòng vua chúa hay phần nào đó an ủi tâm hồn con người ở tầng lớp dưới xã hội bị ảnh hưởng bởi di căn chế độ thế cấp Bà-la-môn giáo. Cuộc biến động lớn cũng đã xảy ra, nhưng nhà văn chưa ý thức sứ mạng mình. Cùng lắm là ý thức tôn giáo được phát khởi với Akayet Um Mưrup mang ít nhiều dấu ấn thực tế xã hội, nhưng sau đó không có sáng tác nào đi theo truyền thống này.
Triều đại Ppo Rome sụp đổ mở ra một thời kì mới của văn học Chăm.
Bước sang thế kỉ mười tám, hai tác phẩm lớn ra đời: Ariya Xah Pakei và Ariya Bini - Cam. Trong khi tác phẩm trước kể về chuyện tình (đúng hơn, sự theo đuổi một chiều) của người con gái thuộc dòng dõi quý tộc với hoàng thân để nói lên nhân sinh quan Chăm, không dính dáng gì đến thực tế lịch sử lúc bấy giờ, thì tác phẩm sau (dù cũng là tác phẩm trữ tình) dự cảm biến cố lớn. Giấc mơ tình ái đổ vỡ của vị hoàng thân Chăm với công chúa Islam, sự mất niềm tin của quần chúng Chăm với văn hóa Ấn Độ, xung đột tôn giáo dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của vương quốc, được kể bằng bút pháp điêu luyện của một nghệ sĩ bậc thầy. Có thể nói đây là tác phẩm đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp trong văn học sử Chăm, cả về đề tài, nghệ thuật lẫn ý thức lịch sử của người cầm bút. Đến cuối thế kỉ này và đầu thế kỉ sau, cả nền tảng xã hội Chăm bị đảo lộn toàn triệt.
Giai đoạn thứ hai bắt đầu bằng sự chiếm đóng của quân đội Tây Sơn trên toàn cõi đất nước. Champa, trên danh nghĩa vẫn tồn tại, nhưng về thực chất, nhà vua đã hoàn toàn mất quyền hành. Tên nước và biên giới bị sửa đổi nhiều lần và liên tục. Vài cuộc nổi dậy lẻ tẻ không định hướng của các phong trào quần chúng bị dập tắt. Ariya Glơng Anak ra đời khởi phát cao trào sáng tác mới trong một xã hội sôi động những biến cố đang chực nổ tung. Đó là cao trào văn học trong giai đoạn cuối cùng của lịch sử vương quốc. Nhà văn khám phá ra vị thế của mình trong lịch sử, biết đặt vấn đề trước chuyển biến của thời cuộc, và nhất là đã tỏ thái độ. Trong khi Ariya Twơn Phauw, Ariya Kalin Thak Wa diễn tả với ít nhiều phê phán cuộc chiến bi thương được phát động bởi các nhà cách mạng đang cố vùng vẫy trong tuyệt vọng; và trong lúc Ariya Ppo Cơng, Ariya Ppo Parơng... kể lại lạnh lùng tình hình xã hội lúc bấy giờ với những cưỡng bức, bất công, những lo sợ, khốn khổ, những cuộc li tán, những cái chết, tội ác và hình phạt... thì tác giả Ariya Glơng Anak, với thái độ của một triết nhân, đã đặt lại vấn đề từ nền tảng: Cần khôi phục đất nước hay truy tìm sinh lộ cho dân tộc trên mảnh đất yêu thương và đau khổ này? Câu hỏi được nêu lên đúng lúc và đúng trọng tâm. Và hỏi có nghĩa là đã trả lời.
Ariya Glơng Anak có một giá trị cao vượt cả về nghệ thuật văn chương lẫn nội dung tư tưởng. Riêng khía cạnh xã hội, nó có tính đánh động thật sự.
Ngoài dòng văn học trên, truyền thống văn học ngợi ca công đức của các vị khai quốc hay các nhân vật lịch sử dần dần rút vào tháp ngà tôn giáo, nhưng không phải vì thế mà nó không được tinh luyện bằng nét đẹp riêng.
Sau biến cố Lê Văn Khôi, dân Chăm được tờ chiếu của Thiệu Trị chiếu cố, từ khắp vùng rừng núi trở lại cuộc sống an bình của nông thôn. Thực dân Pháp tới, đất nước Việt Nam bị đặt dưới sự đô hộ của Pháp. Giai đoạn này, một tác phẩm trữ tình xuất hiện: Ariya Cam - Bini, kể về cuộc tình thủy chung, mãnh liệt nhưng bi thương của đôi tình nhân Chăm - Bàni và kết thúc bằng cái chết đầy tính tố cáo của cả hai. Tiếp đó là Ariya Mưyut cũng nằm trong truyền thống thơ ca trữ tình ra đời nhưng kém giá trị hơn.
Song song với hai khuynh hướng sáng tác trên, một tác phẩm thuộc dòng văn học mới ra đời, đã tạo biến cố trên văn đàn Chăm lúc đó: Pauh Catwai. Bằng giọng thơ đanh thép và lối suy tư bộc trực, Pauh Catwai - đằng sau sự phê phán đổi trắng thay đen của nhân tình thế thái trong một xã hội rã mục - đụng chạm đến cốt lõi của vấn đề xã hội Chăm lúc bấy giờ (và cả ngày nay): Cần phải bảo vệ nền văn hóa của cha ông để lại. Tác phẩm gợi hứng cho nhiều sáng tác sau đó: Hatai Paran, Dauh Tơy Lơy, Ar Bingu... liên tiếp xuất hiện. Cũng là lối đặt vấn đề và sử dụng thủ pháp nghệ thuật đó, nhưng hầu hết tác phẩm này dần đi vào bí hiểm. Chúng mang bộ mặt của sấm kí nhiều hơn là chịu chuyên chở thực tại cuộc sống. Người cầm bút đang tự cách li với nguồn suối nuôi dưỡng nghệ thuật. Văn học Chăm bước vào giai đoạn suy thoái trầm trọng sau đó.
Văn chương Chăm sau văn bi kí đậm chất cung đình là các sử thi, sau đó là trường ca trữ tình và thơ thế sự. Hơi thở ấy vắt qua Mưdwơn Jiaw đọng lại ở thời hiện đại là sáng tác đáng nhớ cuối cùng. Nếu sử thi là cốt truyện vay mượn từ Ấn Độ, Mã Lai với địa danh, tên người và ngay cả cốt cách, lối ứng xử của nhân vật... đều mang đậm chất ngoại lai xa lạ; dung lượng văn chương hay tư tưởng còn xa mới đứng ngang tầm với các sáng tác phẩm cùng thể loại trong khu vực; thì các trường ca trữ tình Chăm lại có phẩm chất khác hẳn. Bảy trường ca nổi tiếng này ra đời vào khoảng thế kỉ XVII-XIX trong bối cảnh xã hội Chăm bị phân hóa, chia xé bởi hai tôn giáo lớn: Hồi giáo và Bà-la-môn giáo. Trong đó Ariya Bini - Cam nổi trội ở giá trị lịch sử, tính khái quát và nhất là giọng thơ tuyệt kì của nó.
Truyện thơ kể mối tình một chiều của vị hoàng thân Chăm với cô gái Islam đến từ Mecca để truyền đạo Hồi vào Champa. Qua những vùng đất trải dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Một chặng đường khốn khó, gập ghềnh, đau khổ như tâm tình của vị hoàng thân tài hoa thiếu may mắn. Chàng yêu đất nước nhưng lại mê đắm người con gái kiêu kì kia. Chàng biết nếu chấp nhận nàng thì phải chấp nhận tôn giáo nàng mang đến, là từ bỏ người thân, gia đình. Chàng biết nếu chấp nhận Islam vào Champa là chấp nhận chiến tranh nồi da xáo thịt. Lòng chàng rối vò, đời chàng xáo trộn. Chàng bất lực nhìn cuộc chiến nổ ra. Cuộc tình đổ vỡ, cùng đổ vỡ với nó là tổ quốc yêu thương của chàng.
Nhiều đoạn thơ đẹp nhất của văn chương Chăm như hội tụ nơi đây. Sự đảo lộn thứ lớp thời gian dẫn truyện phát triển theo dòng hồi ức của vị hoàng thân khốn khổ này là sáng tạo rất hiện đại của thi phẩm về mặt thi pháp vô tiền [khoáng hậu] trong văn chương Chăm. Càng hiện đại hơn là thể thơ ariya sử dụng đã bứt ra khỏi thể ariya cổ điển cứng ngắc của dòng sử thi, vỡ mảnh đất mới cho thể ariya hiện đại Chăm cơ hội bung phá sau này.
Vượt trên tất cả là thơ thế sự và thơ triết lý. Suy tưởng, phải chăng đấy là đặc trưng đậm nổi của văn chương Chăm? Nếu Pauh Catwai thương đời mà ngạo đời, cộc lốc mà đẫm tình người với mỗi cặp lục bát gần như là một châm ngôn thì Glơng Anak lại hội đủ tố chất của một kiệt tác: Tính thời sự, tính triết lý và vẻ đẹp của văn chương.
(Văn học Chăm khái luận, 1994).
Vậy đó, ngài khách quan luôn là cái giành to sẵn tay cho ta đổ thừa. Hỏi, đến hôm nay, có một Chăm nào làm việc trong trơn tru thuận lợi? Chúng ta sinh ra trên đống đổ nát, lớn lên từ bùn đất, Jiơng di ia kakwơr jiơng di barabauh Hình thành từ giọt sương từ bọt nước.
Rồi tôi ngóc đầu dậy và tôi trườn lên
Rồi tôi rướn mình khỏi hố hang quá khứ
Như kẻ bị thương mò tìm lối ra khỏi đống tan hoang thành phố
Tôi tìm lại tôi - tìm thấy bóng quê hương
(Tháp nắng, 1996)
Tôi đã làm việc sau ngày cày thuê nhọc mệt, sau buổi đi câu lãng đãng, trong cuộc hội nghị vô bổ, trước ngọn đèn cầy leo lét hay dưới ánh điện sáng trưng, trên chiếc bàn gỗ nát nơi chòi rẫy dưa hay trong văn phòng sang trọng của Đại học, giữa đám đông và trong cô đơn, trước một tin vui sắp tới hay sau nỗi buồn nát mật. Nghĩa là bất kì ở đâu, hoàn cảnh, tư thế nào vẫn có thể làm việc và sáng tạo. Hãy làm việc với nụ cười - nụ cười của Inra Patra!
Lần đầu gặp một nhà sử học khá nổi tiếng. Nghe tên nhưng chưa bao giờ biết mặt dù qua ảnh, nên cuộc hẹn gây cho tôi phấn chấn quá mức cần thiết. Anh bước mạnh vào nhà hàng bình dân cạnh khách sạn bình dân, cùng vài người quen thân. Chúng tôi bắt chặt tay nhau giây lâu.
- Phú Trạm hả?
- Vâng.
Thế thôi. Anh bắt đầu thuyết. Các chương trình nghiên cứu của anh về văn học, tôn giáo, lịch sử. Anh nêu hàng loạt tên tuổi sẽ là cộng tác viên tương lai. Làm như mỗi Chăm là một nhà nghiên cứu không bằng! Đi lớt phớt vài palei, anh hoàn toàn mù thông tin về xã hội tôi đang sống. Có chăng là mớ thông tin chắp vá và sai lệch. Tôi câm lặng nghe, cố gắng chịu đựng đầy phép lịch sự. Tôi nghĩ nên bỏ qua cho anh. Sự phấn khích nhất thời dễ làm ta lệch lạc. Anh hỏi tôi về chương trình sưu tầm văn học dân gian. Tôi nói tại sao chỉ văn học dân gian?
- Tôi sắp cho ra đời bộ văn học Chăm. - Tôi tuyên bố lớn lối như vậy.
- Ôi trời đất! - Anh la lên. - Không thể làm nổi, không thể...
Anh tiếp tục thuyết. Lúc này, tôi nghe anh như nghe qua lớp sương mù. Tôi thấy tuổi trẻ tôi bập bềnh trôi từ làng này sang làng khác với những nông nổi, sai lầm, té ngã rồi hi vọng. Trên con đường chữ nghĩa gập ghềnh, có không ít bạn đồng hành tài năng, nhưng bởi không có cơ duyên, hầu như tất cả rẽ ngoặt hay rớt lại. Brodsky: “Không phải chúng ta lựa chọn những cuốn sách sẽ viết mà chính chúng lựa chọn chúng ta.” Nhà trên không biết tôi đã bắt đầu từ hơn hai mươi năm rồi. Khởi sự từ một dự án to lớn giữa vùng sương mù mơ hồ.
“Những dự án mang tham vọng quá trớn có thể bị chối từ trong nhiều lĩnh vực nhưng không thể bị chối từ trong lĩnh vực văn chương. Văn chương chỉ còn sức sống nếu chúng ta tự đặt ra cho chính mình những mục tiêu bất khả lượng đạt, vượt quá tất cả những hi vọng về sự thành tựu. Chỉ chừng nào các nhà thơ và nhà văn tự đề ra cho chính mình những công tác không có bất cứ ai dám tưởng tượng đến, thì văn chương mới đạt được tác dụng của nó...” - Italo Calvino.
Không chỉ trong sáng tạo, tôi thấy tôi trong ý tưởng đó cả trong sáng tác lẫn nghiên cứu văn học dân tộc. Suy tư nhỏ lẻ, ta mãi ở lại trong căn chòi thấp bé, biết bao giờ mở ra biển lớn! Lệ Chăm làm nhà là vậy, mua dần mỗi năm mỗi ít nguyên vật liệu: rui, kèo, cát, xi măng, trong lúc cả gia đình nheo nhóc con cái phải chạy qua mái hè hàng xóm đụt mưa. Tôi có một so sánh tréo ngoe, nhưng không sao. Người đọc khao khát hiểu biết về nền văn chương Chăm mong được nhìn thấy sườn nhà, dù là trên bảng thiết kế. Tôi cung cấp nó cho họ. Bộ Văn học Chăm tạm ổn.
- Cần gì thêm bổ sung cho ngôi nhà.
- Nhiều chứ và còn dài dài. Cần đi vào từng đề tài, thể loại. Góp nhặt từng mảnh vữa rơi rớt bị vùi lấp dưới vùng mù sương kí ức của bác nông dân với đôi mắt đượm buồn. Rồi từ nguyên vật liệu này, biết đâu sườn nhà khi xưa có thể phải dàn dựng hay điều chỉnh lại ở khá nhiều góc cạnh. Cần tấm lòng, phương pháp và sự kiên trì chứ không nhất thiết phải là tiền. Tiền, tiền, tiền. Không có khoản tiền nào chi trả cho hai bà láng giềng của tôi chịu cãi nhau để từ đó bật ra tục ngữ, thành ngữ được! Chúng xảy ra bất chợt và bất kì đâu, vương vãi trong gió cát. Tôi lượm nhặt chúng.
Cuộc về nguồn của tôi là một cuộc trường kì yêu, trường kì đi, trường kì ghi chép. Chớ có dại dột đi cãi nhau với đối tượng được nghiên cứu như anh bạn nhỏ con của tôi từng làm. Bổn phận của nhà nghiên cứu là hỏi. Nếu có nói là để hỏi sâu hơn. Thầy Mạnh Tử bảo cái bệnh của thiên hạ là thích làm thầy đời. Ông thầy cũ kể chuyện lạ tầm quốc tế rằng có cô sinh viên đưa khoe ông luận văn tốt nghiệp về văn chương Chăm mới trình xong. Lướt qua luận văn, ông hỏi:
- Thế cháu có gặp Inrasara chưa?
- Dạ chưa.
- Cháu có đọc tác phẩm nghiên cứu nào của Sara chưa?
- Dạ chưa.
- Đã đọc kĩ tác phẩm cổ Chăm nào không?
- Cháu không biết chữ Chăm.
- Chứ cháu tham khảo tài liệu nào để viết?
- Một bài báo của Phan Đăng Nhật giới thiệu một tác phẩm cổ từ một tác phẩm nghiên cứu của Inrasara!
Vậy mà luận văn vẫn được điểm tám! Về cái khoản liều mạng trong khoa học của sinh viên lẫn giáo sư hướng dẫn mấy năm qua bia miệng thiên hạ đã tạc nhiều rồi, nói thêm càng phiền lòng. Cũng may, chúng yên giấc nghìn thu trong kho lưu trữ. Cầu Chúa ban phước lành cho chúng!
Chăm là dân tộc ham chơi, làm chơi, làm để chơi. Thời ruộng một vụ ăn nước trời, mùa gặt bà con chở lúa bó lên các đám ruộng gò dùng làm sân đạp, chất hàng đống theo hình vòng cung đầy mỹ thuật, vừa tránh mưa cuối năm vừa che rét bấc. Và chia đội đá bóng, đốt lửa hát hò đến cả tuần mới lục tục xổ đống lúa ra đạp. Ham chơi thì tài năng văn học nghệ thuật dễ nảy mầm. Hiện tượng Mưdwơn Jiaw - nghệ sĩ hát vãi chài pwơc jal, Mưdwơn Tìm - nghệ nhân chơi trống ginơng kì tài hay Jaya Mưyut Cam - thi sĩ một bài thơ Su-on bhum Cam không là hiếm. Nhưng chỉ có thế. Đất, nắng, gió Phan Rang đã không ưu ái họ. Và chính họ cũng không biết tự nuôi sống. Cây nghệ thuật bắt đầu bằng những nụ hoa ham chơi kinh qua bao cuộc tinh luyện nhựa ham làm mới kết trái chín muồi ở cuối vụ thu hoạch.
Tôi nói với các bạn trẻ Chăm cần cho bỏ rớt lại sau lưng thứ phức cảm tự ti-tự tôn đi; cần hơn nữa là phải vứt bỏ đi gánh nặng kiêu hãnh hão về quá khứ. Ông cha ta đã có sự nghiệp to lớn, và chúng ta hôm nay cũng cần có công trình mới.
Tôi đã được gì từ cuộc đi, đọc và viết? Nhiều, rất nhiều nữa là khác. Rõ nhất là các giải thưởng. Không ai sáng tác hay nghiên cứu với ý định sẽ ăn giải nào đó. Giải thưởng đến với tôi thật ngẫu nhiên. Cả tác phẩm nghiên cứu lẫn sáng tác. Lại là đầu tay, mới lạ.
Giải thưởng nghiên cứu năm 1994 của Centre d’Histoire et Civilisations de la Péninsule Indochinoise, Sorbonne - Pháp dành cho Văn học Chăm khái luận quả là một bất ngờ. Dự Hội thảo quốc tế về Tư liệu và cách tiếp cận Việt Nam tại Aix-en-Provence, Bùi Khánh Thế mang theo cuốn sách để giới thiệu. Về nước, ông cho biết nó sẽ được thưởng. Sau đó, năm 1996, tôi có một giải nữa của Hội đồng Dân tộc - Quốc hội khóa IX dành cho tác phẩm xuất sắc nhất trong năm của Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc là Văn học Chăm - Trường ca. Mấy năm sau là hàng loạt các giải thưởng khác nữa, to không kém. Vinh dự quá đi chớ. Cho tôi, và cho Chăm nữa. Nhưng có lẽ cái đáng quý hơn cả là lòng bà con dành cho chữ nghĩa của tôi. Nó là duy nhất và không gì thay thế được!
Ba tháng Văn học Chăm phát hành, dự Ramưwan tại Văn Lâm, bố vợ người bạn bệnh nan y sắp qua đời, mời tôi sang nhà dùng trà. Ông nói, giọng run run: Quý lắm cháu à, chưa ai trước cháu tập hợp chữ nghĩa nhiều như thế. Còn dịch và giải nghĩa chữ khó nữa. Bận này chú đọc mỗi nó. Qua bên kia, chú sẽ nói với ông bà... Tôi tím tái người. Việc “làm chơi” của tôi tác động đến tâm hồn một ông cụ thế sao? Nhưng buồn cũng lắm. Đáng buồn nhất là ngộ nhận. Ngộ nhận ngắn hay dài hạn. Thật không đáng trong xã hội chật chội này.
Janưk haniim thei ngap piơh tabơng
Siam dađơp jhak raglơng mưta bboh di bauh mưta
Lành dữ, thiện ác được tạo tác để thăm dò
lòng người
Cái nham hiểm sẽ hiện tiền, mở phơi cho người trần chứng kiến
(Ariya Glơng Anak)
Có nhà thơ hỏi tôi khai thác được gì ở văn hóa Chăm? Hỏi, làm như văn hóa Chăm là xác trâu cho diều hâu tôi sà đến rỉa rúc, trục lợi. Tôi nói tôi không khai thác mà ngụp lặn và lớn dậy từ giữa lòng nền văn hóa ấy, để sáng tạo cái mới. Văn chương khía cạnh nào đó là cách sống ở đời, là một tỏ thái độ và hối thúc tỏ thái độ. Có thể nó là một đối tượng nghiên cứu khoa học chẻ sợi tóc làm tư, nhưng điều trước tiên nó nhắm đến là qua nó, bạn có thái độ. Bạn học cách đi vào lòng nó với tất cả nhiệt tâm, thì nó mới tự mở phơi như một hiện thể chói lòa, bát ngát. Nó không là đối tượng cho trí thức háo lạ đến với nó bằng con mắt dòm ngó, soi mói vị lợi.
Văn chương Chăm bàng bạc trong tâm hồn dân Chăm. Nói như Chế Lan Viên, nhân loại còn đi xa nên nhân loại muốn có “thơ cầm tay”. Hôm nay, tôi muốn biếu bạn vài tập cầm tay rút từ bạt ngàn chữ nghĩa của nền văn chương dân tộc mình. Đó là Ariya Bini - Cam, Ariya Glơng Anak, Pauh Catwai và Ariya Nau Ikak. Chúc lên đường may mắn.
- Thế còn của Inrasara?
- Bạn hãy tự rút ra mà cầm tay. Xin giã từ.