Hàng Mã Ký Ức

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5
Tinh Thần “Tùy Tiện” Chăm & Thông Điệp Glơng Anak

❊ ❊ ❊

Luận sư Ấn Độ Chandra nói về hỏa táng của Ấn Độ, giọng tinh nghịch: “Và bạn biết những người Ấn Độ, họ không thể làm bất cứ cái gì cho có hiệu quả. Giàn hỏa sẽ không bắt lửa, nó sẽ chỉ cháy một cách nửa vời, và rồi thi hài sẽ không cháy, và mọi người làm đủ cách để nó cháy.”

Ấn Độ không làm gì ra hồn cả, luôn nửa vời. Ông thánh của họ nói thế, về dân tộc họ. Chăm cũng chẳng hơn gì. Đó là truyền thống Bà-la-môn! Xin nhắc lại: truyền thống. Nửa vời với vụ việc được coi là linh thiêng nhất: sự chết và đám thiêu. Dù quý bà Chăm chuẩn bị cho nỗi này ngay khi có đứa con thứ hai, hoặc sớm hơn nữa.

Tuổi mười lăm, tôi đã mở to mắt nhìn mẹ mừng ra mặt khi lần đầu sắm sửa được kaya angwei đồ chết. Mẹ nghía đi gói lại, rồi cẩn thận treo nó lên xà nhà. Ngang hàng với ciet sách. Như đàn ông Chăm ứng xử với sách, mỗi tháng mẹ rước nó xuống nghía, gói lại và treo lên. Trang trọng! - Cho cha mày và cho tao. - Tại sao? - tôi hỏi. - Con nít không biết gì đừng có nhì nhằng.

Nhịn ăn nhịn mặc để mua sắm và rồi mang mấy thứ quý giá đó đốt đi ở cuối đời. Đáng lắm chứ. Nhưng có mỗi củi là thứ có sẵn ngay sát bìa rừng thì dứt khoát, không! Khổ vậy đó. Ông anh họ tôi nặng tám mươi kí - lô - gam hơn, vậy mà bà con chỉ cho anh tiêu đúng mỗi xe củi. Người là người mượn nên, ăn thì đầy bụng nhưng củi lại là củi lưng xe. Trai tráng trong họ đánh xe trâu lên rừng, trước ngày đám lên có một, hai buổi. Thì lấy đâu rặt củi khô. Có buộc khăn lạy ikak khan kakuh nó cũng không chịu cháy cho ra hồn. Chân cẳng người chết thò ra ì xèo. Thế là mọi người được dịp nhốn nháo lên. Đám nhóc đành bỏ dở cuộc tranh giành bạc cắc vừa được vãi ném qua giàn lửa ppaphwơl apwei mà vâng lời quý ngài “nửa vời” để chạy vào làng ôm củi khô về tiếp cứu.

Xưa nữa, năm tôi mẫu giáo. Tháng Mười một. Mưa dầm dề. Dịch tả tràn lan. Dịch thì có người chết. Đã chết thì thiêu, không thể khác. Chăm hiếm khi chịu gởi thi hài nhờ thần đất cưu mang, để một, hai năm sau dỡ lên làm Đám khô Đam thu. Dẫu nó có lây lan tới ai, tới đâu, mặc. Gia đình có của ăn của để thì càng. Một tuần, có khi hơn nửa tháng nằm đó, trong kajang rạp. Đợi ngày lành khiêng đi thiêu. Thi hài bốc mùi, dân làng vẫn ăn uống, cấp Paxeh cứ ppahwak cho người chết ăn, đám trẻ vẫn tối tối mò qua chờ giờ ăn chực chè yaung bu. Vô tư! Lãnh đạn nặng hơn cả có lẽ là Ban đàn hát túm tụ giữa rạp tấu khúc tiễn đưa người quá cố. Nhiều đêm như thế, họ ngồi đó e... a... a... cùng với tiếng đàn kanhi não nuột. Đêm hôm khuya khoắt nghe mà gai người. Tôi cứ giành với anh Đạm phần phía trong tường mà ngủ.

Người chết, lý tưởng nhất là Đám lên Đam tagok ngày thứ Tư - thứ Năm Ở không Dauk thauh - thứ Sáu Đốn gỗ Hatak kayuw - để Thiêu Cuh vào sáng thứ Bảy hoặc ngược lại. Còn ví theo ông bà nhằm ngày không lành, đành phải chịu cảnh nằm rạp đợi. Vừa phiền hà vừa mất vệ sinh, chưa nói đến chuyện người ngoài nói xấu Chăm làm đám tang kauh akauk chặt đầu nhau. Lôi thôi quá, nhân dân tiến bộ Caklaing bèn ra tay. Hội Bảo thọ mời ông Quảng Đại Hồng thuyết về Đám khô. Nghe nói ông chỉ tán chuyện ngoài lề, vậy mà bà con vẫn thủng cái lỗ nhĩ. Để rốt cục hết thảy làng Chăm tin nghe dân Caklaing, phá lệ Đám tươi. Hú vía!

Người Chăm nói giữ kut giữ tathat giữ mồ giữ mả, bảo vệ đất thiêng của họ hàng, làng mạc. Đi xa con cháu luôn nhớ và quay về. Khik kut, tuổi trẻ chúng tôi kịch liệt phản đối tinh thần cầu an, gà què ăn quẩn này. Không dám dấn thân, không dám tha phương vẫy vùng. Làm như cánh trẻ luôn sẵn sàng xăn quần vùng vẫy!

Ông chú họ xa ở Vụ Bổn bảo đấy là do âm mưu thâm độc của Tàu. Họ không muốn Chăm ngóc đầu làm ăn buôn bán, làm tê liệt tinh thần đấu tranh bằng hù dọa lính tráng thương tật sẽ nằm kut độc bên ngoài kut chính. Bơ vơ và tủi phận lắm lắm. Khi anh chết hoang, cả khi bị thương sứt đầu, đứt móng, anh bị coi như kẻ ngoài rìa.

Chú xứng danh dán nhãn nhân dân tiến bộ Chàm, chúng tôi đùa vậy. Được cánh trẻ vỗ tay, ông liên tục đánh võ mồm: Chàm chết chỉ cần qua tối nằm nhà là chôn quách. Tội gì dỡ lên dỡ xuống làm đám thiêu. Phá bỏ kut đi, như người ta xóa đi hủ tục ngàn đời, triệt đi chứng tích của nhục nhã, khốn cùng ấy.

Tuổi trẻ tôi từng nghe lối đại ngôn như thế vang lên. Rải rác, lạc lõng. Cuộc sống plei Chăm năm sáu mươi thầm lặng, kham nhẫn, cực khổ. Hai trăm năm qua Chăm nép mình sau những hàng xương rồng. Nghèo, cực. Những căn nhà không cửa sổ. Thỉnh thoảng vài mái tôn, ngói nhô lên. Nắng và gió. Vài bụi me lơ thơ trơ lì. Ruộng ăn nước trời cằn khô sau vụ gặt. Đàn trâu gặm đất trên ruộng đồng nhỏ hẹp. Bầy dê về chuồng kêu be be gợi kỉ niệm. Cuộc chiến ít đụng đến các plei Chăm. Thỉnh thoảng vài người đạp phải mìn, chết. Tiếng khóc tiếc thương, lặng lẽ.

Ngày tháng ấy, bà mẹ Chăm lầm lũi, cặm cụi trên mảnh ruộng bạc màu chắt bóp từng đồng gởi cho đứa con ăn học xa. Để chục năm sau chúng trở về đủ lớn khôn cầm roi đánh mẹ. Lỗi tại ai? Ông Hân chú họ xa của tôi là một trong những. Ông nổi bật lên nhờ cái khoản lý sự hơn, tới cùng hơn.

- Phá bỏ kut, xã hội Chăm rồi đi về đâu?

- Cháu có ăn học mà vẫn bám váy các mụ đàn bà à? Cháu có dám nhìn thẳng vào xã hội Chàm mục rữa của cháu chưa? Cấp Paxeh, Acar không được trang bị kiến thức tối thiểu về khoa học, về chính trị xã hội... Ngay cả tri thức chuyên môn tôn giáo, tập quán hỏi các vị nắm được mấy mủng? Cấp Acar có ai đọc và hiểu Kura-ưn ? Có ai trong hàng giáo phẩm Bà-la-môn Chàm biết đến Áo nghĩa thư, Chí tôn ca ? Các bài kinh lễ hay cách thức cúng tế nơi mỗi khác, thầy mỗi khác. Xưa bày nay làm, cứ thế rù rà rù rì đến tận thế vẫn không đổi. Quy trách ai? Trí thức được nhồi cả mớ kiến thức cũng chả giúp gì được còn đẩy tình thế nghiêm trọng hơn.

- Ôi, bức tranh tôn giáo Chăm sao mà xám xịt.

- Sáng sủa sao được khi vị lãnh đạo tâm linh ta không được tín đồ dành cho một tôn trọng tối thiểu, khi kiến thức chuyên ngành luôn bị dân áo đen lấn sân. Không xám xịt sao được khi cả quyền lợi tối thiểu cũng không đảm bảo khiến các vị phải tính toán manh mún, là chuyện mà nghệ sĩ tính Chàm phải giật mình thột. Nữa...

Lợi dụng lúc chú nuốt nước bọt đánh ực, tôi vội lách vào:

- Chú đọc xong diễn văn rồi chứ! Còn đây là diễn văn của cháu nhé: Ta từ nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp không quá độ tư bản chủ nghĩa vội nhảy sang xã hội chủ nghĩa. Ngồi chưa nóng đít lại bị ném vào xã hội hậu công nghiệp. Chăm lúng túng lùng tùng nên giẫm phải chân nhau thôi.

Nữa! Nghi lễ vòng đời đâu chả có, ở Chăm thì rất ư thanh thoát nhẹ nhàng. Sinh ra phải tạng yếu, chú được làm lễ Mang vòng Buh kaung. Chiếc vòng sẽ được tháo bằng cái lễ Tháo vòng Tauh kaung rất đơn sơ khi chú khôn lớn. Nếu bị té trâu hay kinh phong giật, mẹ chú có thể hứa với Yang - Cúng dê Ngap pabaiy như để bồi dưỡng sức khỏe hay Rija harei, Rija dayơp chả khác gì buổi trình diễn văn nghệ, với đầy đủ ca - múa - nhạc cho bà con lối xóm cùng xem. Lớn lên lấy vợ, chú được tổ chức Đám cưới Đam likhah, ví dù chú túng thiếu không khả năng mâm cỗ thết đãi hai họ thì chú có thể yêu cầu làm Đám trộm Bbơng mưnhum klaik chỉ cần vài ba người theo chú qua nhà vợ sắp cưới vào lúc chiều tối. Sống đời, trường hợp chú bị Gà bay chó nhảy qua đầu, người ta sẽ làm lễ Tẩy rửa Buh kalih tuh ia tắm táp cho chú sạch bách tội lỗi. Chú toi (xin lỗi, ai mà chả), tối thiểu cũng hưởng được Đám qua đêm Đam jap brah. May mắn hơn sau một, hai năm Mang gởi tạm Ba nau paywa thần Đất, chú được cải táng làm Đám thiêu hai hay bốn ông Paxeh phục vụ hầu hạ. Sau ba ngày đêm lửa trại ngoài rừng, chú trở về nhà vĩnh viễn qua chín miếng xương trán đựng trong cái klaung bé xíu, nhẹ gánh đời. Không sướng thân chú ư?

Bỗng nhiên tôi thấy mình nổi hứng lên gân bảo vệ một cái gì đang tàn rữa và bị bàn tay tiến bộ đẩy xô tàn bạo vào bóng tối lịch sử.

(Chân dung Cát, 2006)

Chuyện chết chóc nghiêm trọng là thế, trong khi củi là khâu cốt tử nhằm giải quyết cho trót sự nghiêm túc kia cứ là vấn đề muôn thuở. Chăm chưa bao giờ biết rút kinh nghiệm chuyện gì cả. Đọc đoạn văn của đạo sư Osho, tôi cứ bấm bụng để khỏi bật cười. Đám tang của cái năm dịch bệnh kia - may thời Ngô Đình Diệm bán rẻ cho dân làng thùng dầu lửa - tang gia bối rối chạy tạm ứng mươi thùng, thi hài mới chịu từ giã người thân, nhẹ nhõm một cõi đi về nau sang.

Liên quan tới tùy tiện chủ nghĩa là vụ lịch. Lịch Xakawi được Chăm mượn Ấn Độ rồi chế biến thành lịch riêng mình. Khi Hồi giáo ghé đất Champa, dân tộc này cũng biết linh hoạt cộng tác với lịch Hồi giáo để hợp thời và hợp lòng dân. Nghĩa là nỗi tùy tiện được đẩy lên mức cao nhất. Ví có học giả Ấn nào nổi hứng qua đất này nghiên cứu cũng bó tay. Ngay trí thức Chăm bao bận thử ra sức đành đầu hàng cấp Paxeh. Thuở tiểu học, tôi hỏi mẹ hôm nay thứ mấy bị mẹ la: - Chuyện ngày tháng ở Cả sư Ppo Dhya, dân Áo đen Gaheh biết gì mà hỏi. Ngay Ninh Thuận mỗi Dhya trụ trì mỗi cụm trong ba cụm tháp thôi đã khác nhau rồi, huống chi. Tôi nhớ khi nhà có chuyện, đám tang bà chẳng hạn, mẹ qua nhà bà Cả sư ngồi cả buổi ăn trầu. Chỉ để pơng harei ngóng ngày.

Lịch linh thiêng là điều miễn bàn cãi. Thế mà mỗi vùng, mỗi thầy gru cứ tùy tiện thay đổi, tùy ý làm khác và tùy nghi dùng - vô tư. Xakawi bak nưgar Lịch khắp xứ là vậy. Chẳng chết ai. Katê rơi ngay vào tháng Mười, chưa đầy tháng sau ngày nhập học. Đụng đầu Katê, trường Trung học Pô-Klong cho học sinh nghỉ “Tết”. Không cho không được. Nhưng Panrang rồi Parik rồi Pajai ăn ba Katê mỗi nơi mỗi khác, cách biệt tới cả tháng. Vẫn ổn thỏa và vui vẻ cả làng. Chẳng ai lấy đó mà nhăn trán làm điều! Thiên Sanh Cảnh sinh thời có mỗi ước mơ: Đời tôi thống nhất được lịch cho Chăm bốn vùng là “xuôi tay nhắm mắt mơ người” được rồi. Khó nỗi là ông nói đâu dẫn chứng rành mạch đó, như thật. Chăm nghĩ, đó chỉ là một trong những suy diễn pacannư thôi! Vâng, bác nói phải thì tụi em nghe. Cũng đãi cơm, cũng gật gù. Nhưng khi bác đi rồi, tụi em cứ nếp cũ mà hành sự. Thế là mạnh ai nấy làm. Xã hội Chăm vẫn đều đều tiến bước.

Mãi mùa hè 1990, một hội nhí là Hội Bảo thọ Caklaing do Châu Văn Mỗ làm Hội trưởng, Quảng Đại Hồng thủ ghế phó, tôi mới ba mươi tuổi đầu được tín nhiệm dồn phiếu chức thư kí, xắn tay áo vào cuộc. Vừa thoát khỏi thời ba khoán gay cấn, Hội quyết nhóm họp các chức sắc Cam Ahier Chăm Bà-la-môn cả khu vực về bàn thống nhất Xakawi. Đó là việc làm to con và to gan. Nhưng tại đó, anh em bà con hả lòng hả dạ, chỉ qua hơn giờ đồng hồ tâm tình. Lưu ý, tâm tình chứ không là bàn cãi, thảo luận đầy tính khoa học.

Ray ni anưk Bini anưk Cam

Pwơc karei harei mưlơm o laik saung gơp

Đời nay cả Chăm lẫn Bàni

Lịch tính sai, tháng ngày không hợp

Hơn trăm năm trước, tác giả Ariya Harei Mưlơm lớn tiếng rủa, ai dùng sai Xakawi thì sẽ bị tàn mạt cả dòng họ. Chăm hiện đại có học, đã biết sợ. Sau cuộc nhất trí đó, nhóm ông Trượng Văn Sinh, anh Sử Văn Ngọc, Châu Văn Trợ lĩnh sứ mệnh biên soạn lịch rồi đi vào Phan Rí, Ma Lâm thương thuyết theo tinh thần “tình cảm là chính”. Chớ dại dột mà đi cãi lý với nói chuyện khoa học chi chi cho nhọc, cứ nỗi Chàm mình mà vận dụng. Như nghệ với vôi, mọi người một lòng một dạ, mỗi vùng chịu nhích qua một tí. Không phải em trúng hay bác trật đâu. Cánh Pajai Malâm bác ăn Katê tháng Mười một, bên Kraung Tuy Phong thì tháng Chín, thôi thì ta dồn về tháng Mười đi, mỗi bên chịu xê qua xích lại xíu là được. Mỗi thao tác giản đơn đó thôi, Xakawi từng là nỗi ám ảnh trí thức hàng trăm năm qua ăn không vô cơm, đã trùng khớp ngon lành.

Nhưng rồi, mươi năm sau, truyền thống tùy tiện chủ nghĩa Chăm đã làm cú lặp lại ngoạn mục: Xakawi lại khắp xứ! Cả trong Cam Ahier lẫn Cam Awal Chăm Bàni. Nhưng thế nào rồi vài năm nữa cũng có cuộc họp khác để gom nó về một mối cho coi, giải quyết nhàn cư cho bao người.

Đâu đã hết! Chuyện chữ viết akhar thrah mới nhiêu khê. Akhar thrah - nói có chứng đèn: Chăm trân trọng hàng đầu. Nhưng suốt chiều dài lịch sử, nó chưa bao giờ gọi là nhất quán. Tại sao tổ tiên Chăm không chịu ngồi lại để bày cách thống nhất? Đơn giản lắm: Chăm có thể khác nhau ở mọi thứ, nhưng tùy tiện chủ nghĩa thì ta rất đồng bộ. Nó làm cho Chăm là Chăm. Thế mới là đậm đà bản sắc. Ba bận thuyết về ngôn ngữ, dù ngẫu hứng sanh sự tới đâu, tôi chưa hề ngớ ngẩn đụng vào vụ “chuẩn hóa” chữ mẹ đẻ cả!

Nhắc lại tin đồn thất thiệt về “dân Caklaing sanh sự”, tôi mới có bức thư giải minh này:

Sài Gòn, ngày...

Bồ thân mến ...

Bồ bảo dân Caklaing sanh sự, đúng lắm. Mình cũng giơ tay nhất trí cao về định kiến này mà. Khoái nữa là khác. Làng có cái địa danh được đặt tên cho đập cổ nức tiếng cả vùng (Banơk Cakling Đập Nha Trinh), cũng là làng vị vua anh minh nhất trong lịch sử vương quốc chọn làm nơi sinh, thì khỏi nói rồi. Dân Caklaing già trẻ lớn bé mãi ưỡn ngực về sự vụ đó, không chừa ai. Nhưng mình muốn tin cho bồ biết chuyện khác, tày trời hơn. Đây là làng cá biệt nhất, bảo thủ ngoan cố đồng thời sáng tạo li kì nhất, đang sở hữu trong tay hầu hết Guiness Chăm. Tiêu cực hay tích cực, đáng hãnh diện hay tủi hổ, tùy góc nhìn.

Này nhé, dân làng suốt hai mươi năm nội chiến từng ngày không có lấy nổi một sĩ quan cấp úy (đến trung sĩ là - nghỉ), không mống nào dũng cảm/ liều lĩnh vượt biên để làm Chàm kiều! Là chuyện lạ đầu tiên. Tiếp, cầm đầu cả ngàn thanh niên Chăm lên rừng đi làm Cá Rô sau năm Bảy lăm là dân làng này, xuất phát điểm từ cái rẫy người làng này, và kẻ cuối chót trụ đến ngày “chiêu hồi” cuối cùng cũng là nó; nhưng nửa đời hư, mình chưa bao giờ thấy dân Caklaing đánh nhau với người Kinh lân cận.

Nó hiện đại mà vẫn truyền thống, như lối nói dễ dãi của ta. Thế hệ mình, tỉ lệ học hành [hiện đại] của dân Caklaing là nhất trong lúc tỉ lệ người biết chữ mẹ đẻ [truyền thống] cũng là số một. Caklaing là làng đầu tiên và duy nhất trong Chăm mở lớp dạy chữ Chăm sau Bảy lăm, tập hợp đông người nhất, khóa dạy kéo dài lâu ngày nhất, và đạt hiệu quả cao nhất. Caklaing là làng đầu tiên tổ chức ăn Kate palei tại làng sau một ngày lên tháp hành lễ. Tháng 10-1976, buổi sáng làm thịt trâu tế trời đất, gặp phải trâu cái có chửa, bà con kêu lên: - Xui rồi. Nhưng chả sao, Kate palei Caklaing vẫn xuôi chèo mát mái, từ đó làng làng rộ lên phong trào ăn Kate palei. Tổ chức cho “nhà khoa học Chăm” thuyết trình về ngôn ngữ Chăm cho chính trí thức Chăm nghe lại là dân Caklaing tại Caklaing. Đây là sự cố lần đầu tiên và có thể nói, thiên nan vạn nan trong xã hội Cam drei. Tổ chức nói chuyện về Đám khô đầu tiên. Thống nhất Xakawi Chăm đầu tiên. Chế độ mới chọn làm hợp tác xã nông nghiệp thí điểm đầu tiên.

Thiên hạ bảo sanh sự, không oan! Làm quan tại đây, bạn chớ mơ nỗi tham ô. Cán bộ hợp tác xã trải dài chục khóa, cũng giành giựt gay cấn như ai, nhưng đến thế thôi. Ông vẫn cứ ăn cơm vợ mà lo chuyện hàng xóm. Trăm ngàn còn không lọt mắt người Caklaing chứ đừng nói đến chuyện bỏ túi trăm triệu với bạc tỉ. Bạn mình đùa, ví nhà nước trọng dụng hết dân xứ này làm to, nạn tham nhũng tiệt nòi tại đất nước Việt Nam là cái chắc. Thư viện - Nhà trưng bày văn hóa Chăm tại làng đầu tiên, công ty thổ cẩm đầu tiên, bộ Văn học Chăm đầu tiên, và vân vân cái đầu tiên khác...

Nhưng Guiness của mọi Guiness mà mình muốn nhắc tại đất “sanh sự” này, bởi nó muôn vàn khó khăn và gần như bất khả vượt, đó chính là: kut hiện đại đầu tiên. Kut, đó là nỗi linh thiêng hơn mọi linh thiêng với Chăm Bà-la-môn.

Kut thường ở ngoài làng, cạnh làng hay bìa rừng, nơi cây cối mọc um. Sẩm tối, đám trẻ con đi ngang chỉ có ù té chạy. Nó vừa linh thiêng vừa gây khiếp hãi. Trung tâm kut là dãy bia từ năm đến bảy, chín bia kut, từ ngoài ngó vào, hiếm khi được nhìn thấy. Âm u, bí mật thế mới ra kut. Vậy mà vị Cả sư của Kut Gađak dòng họ nhà tôi đã dám cách mạng. Đúng, - cách mạng. Kut Gađak nằm ngay đầu làng Caklaing, sát cạnh Cổng Trên. Mùa nắng 1990, chú Chạy, chú Chữ được phép Dhya Hán Bằng dẫn lũ chúng tôi phát quang kut. Từ thuở Ấp Chiến lược sang Ấp Tân sinh đến Ap Doi moi (thuở nhỏ tôi đọc là ấp đòi mọi) rồi phong trào xây dựng sơn thôn, bao nhiêu bom mìn, súng đạn dồn vào đó. Ủi, đốt, cắt hàng đống cây xương rồng với dây thép gai, vậy mà suốt tuần dọn dẹp không một tiếng bom nổ! Anh em bảo: Ông bà linh. Rồi xây, lập hàng rào thành, thắp điện. Cây gađak cổ thụ trở thành cây linh, dáng phiêu bồng, quằn quại.

Chưa hết, Dhya Hán Bằng còn cho nhập kut lihin [của người chết không lành, đứa con lai, khác đạo,...] xưa nay nằm khu vực xó xỉnh của khuôn viên kut [rất tủi thân] vào nằm chung kut chính, chỉ phân biệt lấy lệ có mỗi tấm phản mỏng manh. Là chuyện tôn giáo Chăm vài năm trước mới nghe qua cũng đủ tím mặt. Qua một năm hủy phá và sáng tạo, hủy phá để sáng tạo, Kut Gađak trở thành kut đẹp, bề thế, oai phong nhất Chăm. Dĩ nhiên, nó cũng là đầu tiên.

Chandra tiếp: “Tôi vẫn mãi không nhất quán... Tôi đang để lại một cái gì đó thật khủng khiếp cho những nhà học giả: Họ sẽ không thể hiểu mô tê gì về nó. Họ sẽ phát khùng - và họ đáng bị như thế, họ nên phát khùng! Thống nhất, chỉ có những học giả mới có thể ngốc ngếch như vậy!”

Ấn Độ không thèm có bộ sử nữa là. Mãi khi người Anh đến, họ mới viết sử cho Ấn. Nhưng chớ mong loại sử đó ngấm vào tâm hồn dân Ấn. Đức Phật có thể sinh ở thế kỉ thứ năm hay thứ sáu trước Công nguyên hoặc sau đó năm trăm hay ngàn năm, chả có gì làm to chuyện. Hiếm kẻ rỗi hơi để tâm. Nhưng nếu có ai bảo đứa chăn trâu đang đứng bờ lúa kia không có Phật tính thì họ cãi cho đến hết ngày. Chăm cũng chả ngán! Địa danh Harơk Kah, Harơk Kah Harơk Dhei hay Harơk Kah Dhei chính xác ở đâu không quan trọng. Hầu hết trí thức Chăm thế kỉ XX, từ Thiên Sanh Cảnh cho đến Lâm Nài,... chắc mẩm Harơk Kah ở Quảng Bình, nghĩa là nơi cực Bắc của vương quốc Champa cổ. Một câu hát trong ca khúc hiện đại của Đàng Năng Quạ cũng khẳng định nỗi đó:

Akauk gah Harơk Kah, iku gah Panrang

Đầu ở Harơk Kah, đuôi phía Phan Rang

Chăm ngày nay còn truyền [hay tưởng tượng] rằng đó là vùng núi mọc một loài cỏ harơk khá cao, mùa gió bấc thổi, cỏ này dạt ra hai bên tạo dáng như hình đầu người chải tóc, để lộ một cái trán dhei rộng. Ông tiến sĩ Tây Dharma dứt khoát rằng Harơk Kah ở Phú Yên, nghĩa là cực Bắc của Panduranga thuộc vương quốc Champa. Chăm có đọc phải đoạn đó họ cũng à hén, đúng lắm. Nhưng chương trình chỉ ngưng tại đó thôi. Già làng Raglai tại một làng thuộc khu vực phía Nam Lâm Đồng cho nó ở phía Bắc cách làng ông ta chỉ một ngày đi đường. Một “sử liệu” giấy vàng mực đen khác còn ghi Harơk Kah ở đâu tít Hà Nội nữa. Thử đọc Ariya Ppo Parơng nhé:

Halei dahlak o ka nau bboh tơl

Camauh Harơk Kah nan pak nưgar Hanwai

Tôi đâu chưa đi thấy hết

Chốn Harơk Kah đó ở xứ Hà Nội

Harơk Kah có mặt ở cả bốn trú xứ trên hay nhiều hơn nữa, không đáng bàn. Bởi đơn giản nó vừa mang tính sử học - sự kiện vừa chỉ là địa danh ước lệ. Nó là cực Bắc của vương quốc. Khi Champa lùi tới đâu, Harơk Kah thiên di theo. Còn nếu vị nào mang tham vọng [hão huyền] toàn thể Chăm giơ tay nhất trí cao nó là đâu, thì mới thành chuyện. Ngốc vậy chứ!

Mùa mưa năm 1998, một cụ tại Kraung phiền trách tôi:

- Cậu nó cục bộ chứ, cứ nghĩ Ppo Klaung Girai sanh tại Caklaing mình. Tôi cá cậu, đang giữa mưa gió này, tôi dẫn cậu đến chỗ mẹ ngài chôn nhau ngài. Lúc đó cậu mới sáng mắt ra...

- Em cãi bác đâu. Bác vẫn trúng mà. Nguyên quán với trú quán của ông vua này vô số, chớ phải riêng quê em hay làng bác. Mà ông đâu có chịu chết, ông hóa thân lwak ywơn. Thế thôi. Ppo Riyak đẹp trai phương phi là thế, sau khi bị bão biển đánh đắm chiếc tàu, đã hóa thân thành anh tiều phu xấu xí lên tận đất Churu lấy vợ, mai danh ẩn tích.

Với Chăm, lịch sử biến thành huyền sử. Huyền sử này được mấy thế hệ nghệ sĩ tưởng tượng thêu dệt nên bao nhiêu là bài tụng ca damnưy hát khắp lễ hội. Mỗi nơi mỗi khác, mỗi gru mỗi khác. Chúng biến thiên và biến hóa vô ngần. Từ lời hát cho đến sự kiện. Ppo Klaung Garai là Ppo Pan Mưta là Cei Dalim là Cei Praung là Ppo Tang,... muôn ngàn sai biệt. Khác hẳn các ông sử gia Tây hay sử gia Chăm sùng bái Tây viết lịch sử Champa theo cách của khoa học Tây. Ở đó mà ngây ngô nghĩ rằng Chăm toàn phần tin nó. Bà con chỉ “tham khảo” nó cho vui thôi. Ồ là, có phải thế chăng mà Chăm mất đoàn kết để cuối cùng bị tiêu diệt? - Sức mấy! Chính sự sáng tạo tùy tiện đầy tùy hứng này đã làm nên sức mạnh tiềm ẩn của văn hóa Champa. Nó hun đúc tâm hồn, tâm tính Chăm, chiều sâu truyền thống Chăm. Ngược lại, bội phản nó, dân tộc đó bị triệt tiêu. Tôi không nói đất nước, mà - dân tộc.

Quê hương tan rã, tiểu thuyết của Chinua Achebe, nói trúng phóc tình trạng và tâm trạng dân tộc, đất nước ông. Ariya Glơng Anak còn hơn thế. Ra đời vào đầu thế kỉ mười chín [năm 1832, hoặc có thể trước đó khá lâu, như ông bà cho là vậy], khi lưu dân Chăm chạy loạn tản mác khắp nơi. Chăm chết như rạ Cam mưtai yuw anrơng. Trước đó chục năm, vào thời điểm khốn quẫn nhất của định mệnh lịch sử dân tộc, ba thái độ trí thức mang tính quyết định được đưa ra: Twơn Phauw, Glơng AnakPauh Catwai. Trí thức cô đơn:

Dauk sa drei sa nưgar di krưh hanrai

Di krưh tathik cwah jai, halei nưgar drei si nau

Ngồi một mình một bóng giữa cù lao

Giữa biển cồn cát bồi, đâu là miền đất ta đi?

Glơng Anak hỏi ông, và hỏi cả hiếm hoi người đang thức giữa đêm trường ác mộng này. Đây đó đã có tiếng đáp vọng lại. Twơn Phauw chủ trương bạo động [cả hành động], và đã thất bại. Hậu quả của nó thật khôn lường. Pauh Catwai: Cần bảo tồn nền văn hóa to lớn mà dân tộc đó xây dựng nên. Còn Ariya Glơng Anak ¬- bằng nhãn quan vượt thời đại - chú ý đến sự sống còn của sinh mệnh con dân Chăm.

Ariya Glơng AnakPauh Catwai dạy gì? Ông không kêu gọi cấp Paxeh, Acar ngồi lại bàn chuyện thống nhất lịch. Hoặc nhắc Cam Ahier tổ chức đám thiêu cho nghiêm túc xíu. Không! Còn có điều gì khác cấp thiết hơn, lúc đó. Trích đoạn Tiểu thuyết của Khan, năm 1833, khi nhân vật Hathaw bị dính đạn chết nơi vùng núi Cà Ná, sau trận càn.

- Ôi, con gái của tôi!

Tiếng nấc nghẹn bật ra từ đôi môi run run của Jathuma. Ông vuốt nhẹ mái tóc người chết vừa được đặt ngay ngắn. Thi thể Hathaw vẫn còn mềm.

- Ôi, nếu con đừng bỏ cha...

Không có lấy một giọt nước mắt ứa ra từ hốc mắt sâu hoắm ấy. Bác Jathuma nắm nhẹ cánh tay người chết nâng lên môi.

- Ôi, bàn tay này từ nay sẽ không bao giờ búi tóc cho cha nữa. Ôi, nếu con đừng rời bỏ cha chạy đến với người yêu. Ôi, nếu con nghe Khan và quay trở lại với cha, con sẽ không phải nằm lại nơi lạnh giá này. Ôi, anh Khan của con đâu rồi, Hathaw? Sao anh con lại bỏ con nằm một mình nơi đây? Ôi, giọt máu yêu quý của con tôi. Ước gì cha có thể đổi lấy hơi thở cho con. Ôi, con gái bé bỏng của cha...

Ông ngất đi. Khi tỉnh dậy, mặt trời đã gác núi. Rừng vang âm thanh muôn thuở. Ông nhẹ nhàng ôm Hathaw vào ngực theo tư thế mẹ bồng con, đi xuống suối. Ông lại nhẹ nhàng đặt nàng nằm lên nền cỏ xanh ướt, chậm rãi cởi áo và váy nàng dính đặc máu. Thân hình nàng hiện nguyên hình con người nguyên thủy trong niềm rung động thiêng liêng xót xa của trái tim ông. Một vết bầm tím bên dưới ngực nàng, ông vuốt nhẹ lên đó – đường vào của viên đạn.

- Trời sắp tối rồi con ạ.

Ông nấc nghẹn, ôm nàng đi xuống lòng suối. Ông kì rửa thi thể cẩn thận như chăm sóc người bị thương - người chết cũng có thể đau! Ông bế nàng đặt nằm lên nệm cỏ, cẩn thận, như người mẹ sợ đánh thức đứa con đang ngon giấc. Ông trở lại con suối vo sạch áo và váy, mang lên đắp cho Hathaw.

- Ôi, con gái tôi. Hãy tha thứ cho cha vì trời đã tối.

Ông sụp quỳ xuống, đặt tay mình lên hai bàn tay chụm lại của người chết. Bóng tối phủ nhanh khu rừng vây bủa bởi núi. Tần ngần giây lát, Jathuma tìm quơ cành cây khô chất đống. Ông bế nàng đặt lên đống củi, sửa lại dáng nằm ngay ngắn. Ông cúi hôn nhẹ lên trán nàng. Rồi, chất củi lên thi thể nàng.

- Ôi, con tôi... - Nước mắt của ông ứa ra. Tay run run, ông châm lửa. Ông nhìn đống lửa cháy cho đến khi nó tàn lụi. - Tha thứ cho cha...

Ông hốt một nắm tro cho vào bọc vải, gói lại cẩn thận. Ông áp gói tro vào ngực. Đột ngột, ông thét lên một tiếng rùng rợn, xé nát trời đêm. Rồi ông thất thểu bước đi trong bóng tối vây bủa.

Glơng AnakPauh Catwai không kêu đòi chuẩn hóa akhar thrah để mọi người viết cùng một kiểu hệt nhau. Họ càng không nuôi tham vọng viết bộ chánh sử về vương quốc Champa, để nhồi sọ con nít nữa. Mới tập tễnh abc tinh thần Tây mà vội lên giọng chê bai truyền thống xakkaray, damnưy ông bà thiếu khoa học, thì không gì trẻ con hơn. Nếu nhà ông khoái thế thì cứ làm đi, có gì mà to con la lối! Xakkaray Chăm hóa thân cư ngụ trong văn chương, lung linh sinh động trong lễ hội, để tồn tại vĩnh cửu trong tâm linh dân tộc. Nó chính là huyền sử ở cấp độ cao tuyệt. “Tôi vẫn mãi mãi không nhất quán,” Chandra nói thế. Huyền sử damnưy cũng thế. Nó là nhân đồng thời là quả của tâm hồn Chăm.

Nhưng rồi rốt cục, tùy tiện chủ nghĩa kia đưa dẫn Chăm về đâu? - Không đâu cả, mà trở về suối nguồn tinh khiết của bản thể dân tộc. Dẫu lịch sử Champa hoàn toàn vắng mặt trong mọi cuốn sách giáo khoa.

Mãi năm 2000, Lương Ninh mới chủ biên cho ra Lịch sử Việt Nam giản yếu (sách tham khảo) với vỏn vẹn mười hai trang, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành

Nhưng hầu hết Chăm đều hiểu đầy ảo diệu xakkaray dân tộc qua hàng trăm damnưy tồn tại dưới mọi hình thức lễ rija. Dù bao ngáng trở, anh chị em vẫn nhớ về nguồn cội xa thời gian và dài không gian để làm cuộc hành hương nhiều bất trắc. Tuyển tập Tagalau cứ tồn tại, cho dù cuộc văn chương chữ nghĩa có bèo bọt tới đâu.

Hôm nay, Chăm đang đứng trước nguy cơ rã tan, nghiêm trọng và bức bách ngàn lần hơn thời Glơng Anak, Pauh Catwai ! Mươi năm qua, toàn cầu hóa, APEC, WTO, môi trường xã hội nông thôn bị phá vỡ, chế độ mẫu hệ tưởng cố kết muôn năm đã nát như bột bỏ cối giã raung yuw ra ba thauk di rathung, bọn trẻ tràn vào thành phố kiếm việc, xuất khẩu lao động Mã Lai, palei trống huơ trống hoác, nạn cướp giật, HIV, hiếp dâm, dân Caklaing hiền hậu là thế cũng xảy ra vài vụ đánh lộn [với nhau/ với thanh niên Kinh lân cận], không ít cô gái Chăm mang bồ [hay bầu] về làng. Vân vân...

Đâu là thông điệp? Glơng AnakPauh Catwai chưa bao giờ ý định gởi thông điệp. Tác phẩm văn chương không dại dột làm thế. Nhưng ở vào thế mạt vận của dân tộc, ông buộc phải nói.

Glơng Anak, Pauh Catwai phải vội vã

nên viết đã rất ngắn

như thể trối trăng

(Lễ Tẩy trần tháng Tư, 2002)

Lời trối trăn ấy, suốt mấy thế hệ Chăm đón nhận, chép truyền tụng. Như anh chàng Bini trong Ariya Cam - Bini kia, trước khi nhảy vào giàn lửa theo người yêu về cõi khác, đã ném lại cho đời bức thông điệp đầy tính nhân bản, từ một cù lao xa xôi trở về, Glơng Anak để lại cho đời một tập thơ, rất mỏng. Rồi ông đi đâu không biết. Làm vô danh giữa trời đất. “Thông điệp trong cái chai lại là một bài thơ và do đó, là một dạng thông tri đặc biệt,” Hirsch viết. Thông điệp nằm đó, trong im lặng nơi đáy ciet sách của mỗi gia đình. Liên tục trong nhiều thế hệ, các hậu duệ của người đã đón nhận trang trọng thông điệp này.

Pauh Catwai đã dạy gì? Ông dạy Chăm khiêm cung, không dạy Chăm hèn.

Đơ xwan limưn jơh khơng

Tathrak mai nhu dơng libuh di thauh

Mạnh thì có chi bằng sức voi

Trượt chân ngã, khỏe tới mấy cũng như không

Tôi không hiểu nổi năm thứ tám của thiên kỉ thứ ba sau Công nguyên, tôi đã nhìn tận mắt, nghe tận tai một vị trong hội nghị đã réo đủ chục mười hai lần cái kính thưa. Ông ta, đồng tộc Inrasara, hậu duệ của Pauh Catwai, Glơng Anak. Quả thật chiều hôm ấy, tôi muốn tìm gò mối mà lủi vào dwah katoc blauh lwak ! Ai khiến ông ta thế kia chứ? Rồi một vị nữa, với bà con quê mùa thì mặt vểnh lên như chàng hiu pađak tada yuw krat, nhưng trước quý quan lại đi bằng lưng. Thê thảm! Trước hội nghị hay đại hội to nhỏ bất kì, tôi cứ mỗi kính thưa hội nghị mà chơi. Nếu có anh em văn nghệ sĩ tại đó, tôi lèn thêm phần hậu tố và thưa đồng nghiệp. Còn với sinh viên thì các bạn sinh viên thân mến. Có ai qua vụ đó mà đi thu hồi thẻ hội viên Hội Nhà văn của tôi đâu.

Glơng Anak dạy Chăm yêu thương, không dạy Chăm căm thù.

Mưbai janưk lo di tian mưk klak

Hận thù tồn đọng lắm [ở] trong lòng, hãy cất bỏ

Dạy Chăm hiểu định mệnh dân tộc, tìm về bản thể nguyên tính của Quê hương. Pauh Catwai:

Ia bhong ikan jang bhong

Hajan ngauk ralong o hu haluw

Nước hồng con cá cũng hồng

Mưa trên ngàn không có nguồn

Lâu nay câu thơ được diễn giải theo tinh thần biến và tùy. Con người tùy thời mà hành xử cho thích hợp. Ia bhong ikan jang bhong Nước hồng thì cá nên hồng, nếu cá muốn tồn tại. Đó là lời khuyên chí lý. Nhưng, nếu thế thì dòng tám sẽ mất hết ý nghĩa sâu thẳm của nó. Pauh Catwai không giản đơn thế. Ông đưa tư tưởng dấn thêm một bước quyết liệt hơn. Chính suy tư này đã đẩy ý tưởng Pauh Catwai liên tục dời bình diện. Từ thức tỉnh: O thei ngap di drei o hai/ Tamuh di hatai, drei ngap di drei Chẳng ai sai khiến mình cả/ Tự tâm mình nghĩ ra để tự mình hại mình, sang cảnh giác: Đơ xwan limưn jơh khơng/ Liphwai mai nhu dơng libuh di thauh Mạnh thì có gì bằng voi/ Khi mệt lả nó cũng ngã gục như không, để rồi đi đến cảnh cáo: Ia bhong ikan jang bhong...

Nước hồng, nước đã nhuốm hồng rồi (thời đã thế) nên lũ cá, muốn sống thì phải hồng theo nước (thế thời phải thế). Được thôi! Nhưng hãy coi chừng, hồng vốn không phải màu thực của cá (bản thể) mà chỉ nên coi đó như là một nhất thời, ảnh hưởng bởi nước (hiện tượng): Hajan ngauk ralong o hu haluw. Vì mưa ở đây chỉ là mưa ngàn (ralong: khoảng rừng thưa giữa núi và đồng bằng) chứ không phải mưa nguồn, mưa núi. Nước lũ sẽ tràn xuống một hồi rồi trôi tuột đi nhanh chóng. Dịch lại nguyên vẹn câu thơ:

Nước hồng con cá cũng hồng

Mưa trên rừng cận chứ không (là) mưa nguồn

Hãy trở lại với thiện căn con người. Không thể tuyên ngạo nghễ rằng đời đục riêng ta trong, đời say riêng ta tỉnh được. Nên, mặc dù phê phán nặng lời, Pauh Catwai luôn ngoảnh lại nhìn, sẵn sàng đưa bàn tay ra cho ta - những sinh thể yếu đuối bị cơn bão thời cuộc cuốn trôi đi, giạt vào bờ này, bờ kia. Và con người, như một loài cá, đã bị nước miền hạ lưu nhuộm hồng tất cả, đến nỗi ta không còn phân biệt được đâu là ngoại cảnh, đâu là mình; để đến khi, như từ một giấc ngủ muộn màng, tiếng sấm Pauh Catwai vọng đến lay động, quất ta thức dậy, lôi ta đi ngược dòng trở về nguồn cội - nguồn suối tinh khiết của quê hương và của nhân tính.

(Văn học Chăm - khái luận, 1994)

Chăm tiếp nhận và hiểu thế nào thông điệp?

Hirsch cho rằng “đọc thơ là một cuộc phiêu lưu trong sự cách tân, một hành động mang tính sáng tạo, một sự khởi đầu mãi mãi, một cuộc tái sinh của niềm ngạc nhiên”. Stevens gọi người đọc là “học giả của một ngọn nến”. Chăm không đọc Glơng Anak với con mắt soi mói của nhà nghiên cứu cân đong đo đếm câu chữ. Đã có kẻ làm như thế và tuyên tất cả sai bét, riêng mỗi ta đúng. Ngay lối nói ngạo mạn này đã sai lạc tinh thần thông điệp Glơng Anak rồi. Nếu bác khả năng giảng giải lang yah, tầm chương trích cú Glơng Anak ở câu, đoạn nào bất kì mà tâm bác chưa tận diệt mọi căm thù sâu kín, là nhà bác còn chưa hiểu Glơng Anak. Khi tâm hồn bác còn trì nặng nỗi oán trách nhỏ bé, suy nghĩ nhỏ bé, hay bác còn nuôi ý định âm u triệt tiêu ai đó, không biết cảm thông và tha thứ, là bác chưa hiểu tinh thần Glơng Anak. Khi bác chưa mở lòng ppalai tung tian với con người hèn yếu xung quanh, với mọi sinh thể trên thế gian mỏng manh này, là bác chưa thể sẵn sàng đón nhận thông điệp Glơng Anak.

Glơng Anak gợi mở nhiều diễn ngôn. Ông bà từng cho Glơng Anak được viết để đoán trước chuyện cũ hay cuộc hôm nay. Và họ nghĩ: Nó rất ứng! Từ sinh thời Thiên Sanh Cảnh và mãi tận bây giờ, vẫn cứ thế. Chăm diễn giải và suy luận triết lý Glơng Anak, giở Glơng Anak để đoán thời thế, mang Glơng AnakPauh Catwai ra răn dạy và cả hù dọa con cháu. Mươi năm trước, khi xếp Ariya Glơng Anak vào dòng “Thơ thế sự” trong Văn học Chăm - khái luận, tôi đã bàn về thi phẩm này trong chiều hướng triết lý thế sự. Nhưng tôi vẫn chấp nhận lối hiểu khác. Hiểu và chấp nhận lối hiểu khác mình.

Ngày mai, có thể dân tộc Chăm tan rã như đất nước đã từng rã tan hai thế kỉ trước đó. Chăm lần nữa phiêu giạt, xa và mỏng hơn, chìm khuất giữa những dân tộc xa lạ, nền văn hóa khác lạ. Nhưng khi ta còn mang trong tâm khảm thông điệp Glơng Anak, Pauh Catwai, và nhất là khi tinh thần damnưy Cam vẫn hiện hữu nơi thẳm sâu tâm hồn ta, ta vẫn cứ là Chăm. Độc đáo và độc nhất. Làm phong phú và đa dạng văn hóa và tinh thần cộng đồng bản địa nơi ta tạm trú!

Thâu thái tinh thần khoa học, đúng lắm. Nhưng khi nhà bác một mực áp đặt nó vào mọi lãnh vực, mới phiền. Có những cõi miền mà cánh tay khoa học không thể vói tới. Với tâm linh Chăm thì càng. Còn ví ta cứ mê tín và sùng mộ nó, ta muôn năm làm kẻ nô lệ không hơn. Khi tư tưởng suy đồi, tư tưởng biến thành triết lý, triết lý trở thành môn học ở Đại học, tại đó người ta cho ra lò bao nhiêu là tiến sĩ triết học mà hiếm khi sản sinh nổi một nhà tư tưởng:

“Khi Tư tưởng rời xa tố chất của mình từ đó khởi sự suy đồi, thì Tư tưởng bù đắp sự mất mát ấy bằng cách kiếm chác cho mình một giá trị như là techne, như là một công cụ giáo dục để rồi trở thành bộ môn của học đường... Dần dà triết học trở thành một kĩ thuật giải thích bằng các nguyên nhân tối hậu. Người ta không tư tưởng; họ chỉ bận tâm tới triết học...

Từ đó, triết học thường trực thấy cần thiết phải tự biện minh sự có mặt của nó trước những khoa học. Triết học tin rằng nó có thể hành động hiệu quả nhất bằng cách nâng mình lên hàng ngũ một khoa học. Thế nhưng một nỗ lực như thế là sự bỏ rơi thể tính của Tư tưởng. Triết học bị săn đuổi bởi nỗi sợ hãi mình sẽ bị mất đi sự kính trọng và giá trị, nếu không là một khoa học. Tính thể, như là tố chất của Tư tưởng, đã bị bỏ rơi bởi lối giải thích đầy kĩ thuật về Tư tưởng.” (Heidegger)

Khi tôn giáo suy đồi, nó biến thái làm một thứ tổ chức giáo hội với đủ dạng thức nhân danh Thượng đế thao túng những đầu óc ngu muội.

Năm ngàn năm trước, Adinatha - đạo sư Jaina giáo - đã dõng mãnh làm cuộc cách mạng lật đổ phế truất Thượng đế. Con người là trung tâm của tôn giáo, chứ không phải Thượng đế. Nhưng cuộc cách mạng về một tôn giáo phi Thượng đế đó “đã bị chìm mất trong sa mạc của sự khắc khổ và sự hành xác”. Hai mươi lăm thế kỉ sau, Đức Phật đi theo con đường khác: thiền định. Phiền là hàng đồ đệ đã không hiểu ngài, biến Đức Phật thành một vị thần khác, đặt ngài lên bệ thờ thay vào sự vắng mặt ấy. Từ đó, “ý tưởng này cũng bị chìm mất trong một sa mạc khác, và đó là tôn giáo có tổ chức, có định chế”. May, tư duy Chăm chưa đến nỗi suy đồi. Tôn giáo cũng thế. Đó là thứ tôn giáo phi tôn giáo: “Không cần bất cứ Thượng đế nào, không cần bất cứ giới tăng sĩ nào, không cần bất cứ tổ chức nào,” như Chandra.

Không ai hiểu từ bao giờ, trên mảnh đất miền Trung nắng gió này, dân Champa đến cư trú. Mãi năm 192, khi sử gia Tàu đặt cho nó cái tên khai sinh Linyi Lâm Ấp, người thiên hạ mới biết nó hiện hữu như là một vương quốc. Nơi ấy, dấu chân các tu sĩ Bà-la-môn được biết đến trước tiên, sau đó Phật giáo nguyên thủy, rồi thì Ấn Độ giáo đến ngồi dai dẳng. Thế kỉ thứ tám, Phật giáo Đại thừa mới quá bộ sang và được Champa cho ở lại phòng khách suốt ba trăm năm. Chỉ có vậy. Sau thế kỉ thứ mười, khi tôn giáo Đức Thế Tôn bị treo bảng hết giờ tiếp khách ở Champa thì lần đầu tiên người ta loáng thoáng thấy bóng thương nhân Hồi giáo lần mò về buôn bán trên mảnh đất giàu trầm hương và kì nam này, để đến thế kỉ mười lăm, tôn giáo của nhà tiên tri Mohamet nghiễm nhiên thành lực lượng chính trị đáng kể, lấn sân Bà-la-môn đang suy thoái khắp Đông Nam Á cùng với nền văn hóa Ấn Độ cưu mang nó. Thế nhưng Hồi giáo từ sa mạc Ả Rập nhập địa ruộng lúa Đông Nam Á, đến đất nắng Champa thì đã thay da đổi họ hẳn. Ngay cái lối đánh đàng xa cũng đã khác. Bàni Bani nguyên nghĩa Ả Rập là những đứa con trai; nghĩa Sanskrit là thương nhân, buôn bán; nghĩa Mã Lai là xa lạ, kẻ lạ, xứ lạ; là sáng tạo vô tiền khoáng hậu của Ppo Rome hồi giữa thế kỉ mười bảy. Khi nhận thấy con dân mình chỉ bởi mấy đức tin vớ vẩn mà cãi vã với rầy rà nhau suốt, ông cho vời tất cả tới, xáo chỗ ngồi và đổi áo, để cuối cùng nó ra tôn giáo Chăm không giống ai. Bởi có đâu trong vũ trụ bát ngát mà hàng giáo phẩm tôn giáo này vui vẻ qua làm lễ cho tôn giáo kia không? Có đâu trên trái đất mà tín đồ đạo này dâng lễ cúng cho giáo sĩ đạo kia tín thành như ở Chăm không? Có nơi nào một lễ lớn như Rija Nưgar hai tôn giáo cúng thần ew yang như nhau, các lễ quan trọng như Ppakap Haluw Kraung... hai bên giáo sĩ đồng lòng bắt tay hành lễ? Hay có nơi nào đã đẻ ra một hệ trung dung là Mưdwơn cùng vui vẻ lễ cho cả hai bộ phận tín đồ? Có lẽ không đâu cả. Sự hỗn dung và tiếp biến tín ngưỡng bản địa tiền tôn giáo với năm tôn giáo nhập cảng xen kẽ và chồng chéo tạo thành thực thể vừa đa dạng vừa phức hợp sinh động, hòa quyện nhuần nhị trong đời sống tâm linh Chăm.

Ở Bàni, năm điều luật cơ bản của Hồi giáo hoàn toàn bị lãng quên. Bên cạnh tin Alwah, ta còn thờ cả thần Mưa, Biển, Núi... và cúng ông bà tổ tiên; không còn nhớ chuyện hành hương Mecca; việc cầu nguyện mỗi ngày, ăn chay vào tháng Ramadan và công cuộc bố thí chỉ được thực hiện vào mùa Ramưwan có mỗi giới tu sĩ đảm đương; và nhất là Chăm Bàni hoàn toàn theo chế độ mẫu hệ nên, đám cưới, đám tang đều theo họ mẹ.

Phía Bà-la-môn, luật Manou (Manava dharma) - thừa nhận chế độ đẳng cấp qua bốn loại màu sắc varna (Chăm gọi là bar): đẳng cấp tăng lữ Bà-la-môn brahmanes, đẳng cấp chiến binh kshatrya, đẳng cấp nông dân, chăn nuôi và thương nhân vaishya, và đẳng cấp cuối cùng sudra, gồm tôi tớ, thợ thủ công - qua thời gian, đã bị Chăm chế biến đến không còn dấu vết chính thống. Sao mà rối rắm! Để tiện và gọn, Chăm chỉ còn phân tầng lớp Áo trắng Aw kauk gồm tất cả hàng giáo sĩ các loại và Áo đen Aw juk hay Gaheh là tín đồ. Những con người tài năng nhất xuất thân từ cả hai tầng lớp, đều có thể một tay một chân góp vào điều hành xã hội. Vô phân biệt.

Đó là tự do tôn giáo ở cấp độ cao đẳng. Đầu tiên, người khai sinh dân tộc là Ppo Inư Nưgar được đặt lên vị trí trên cùng. Khi Hồi giáo vào Champa, ông bà sẵn sàng dành cho Allah ngồi ghế đó, mời Ppo Inư Nưgar xuống hàng thứ hai. Ai nhất thì tôi thứ nhì. Rồi cùng đồng hạng huy chương đồng là các vua có công được thần hóa: Ppo Klaung Girai, Ppo Rome, Ppo Xah Inư... Rất ư bình đẳng! Còn hàng triệu triệu linh hồn tổ tiên vui vẻ sum vầy trong kut. Chăm có tháp bimong, chùa sang mưgik, có nghĩa trang kut, ghur, có kinh sách tapuk agal với đủ đầy nghi thức... Họ có thể đến và đi, thực hiện hay không một cách tự nguyện. Chăm có tôn giáo cho người bình dân, trí thức, cho trí tuệ và cả cho bậc trí huệ.

Đánh giá một dân tộc, không chỉ ở dân tộc đó sản sinh bao nhiêu vĩ nhân mà còn và nhất là ở họ đối xử với vĩ nhân của mình như thế nào? Ai biết đâu là đẳng cấp xuất thân của Glơng Anak, Pauh Catwai ?

Tôi không học ở Glơng AnakPauh Catwai gì cả ngoài cho tôi biết nhận mình là và học làm người Chăm, một Chăm đầy Chăm tính hay, nói như Chân dung Cát: Chăm bị con rồng liếm. Vậy thôi, cũng đã là nhiều.

Khi thất vọng với bao chuyện văn chương chữ nghĩa, hay quẫn bách qua mấy nỗi Chăm và nỗi người, trái tim tôi tan chảy giữa chán nản không lối thoát, tôi tìm về Glơng Anak. Tắm gội lần nữa nơi nguồn suối trinh nguyên của cảm xúc và tư tưởng. Tôi học lại bài học đau khổ và yêu thương ban đầu từ quá khứ. Một truyền thống quá khứ không phải là thứ trật tự lớp lang gồm những sự kiện - lịch sử đất nước kinh qua hay tổng hợp/ chiết trung các thành tựu văn hóa dân tộc đạt được - chỉ là tiện ích cho sử học nhà trường hay toan tính thực dụng cuộc sống thường nhật không hơn - mà, truyền thống được coi như một lối đi dẫn về nguồn suối uyên nguyên nơi ấy những phạm trù và khái niệm truyền thống phần nào đó được [tiếp nhận và] sáng tạo cách đích thực (Heidegger).

Đó chính là sử tính Geschichtlichkeit.

Từ giữa lòng sử tính đó, đứa con của Đất được thông điệp triệu vời để canh giữ thông điệp. Không như một thủ kho. Càng không trách vụ đội trên đầu thông điệp. Mà là đối thoại thầm thì với thông điệp và được thông điệp phơi mở và trao tay phần ẩn ngôn chưa được minh giải của nó. Từ đó, đứa con mang tinh thần thông điệp đi vào lòng đời.

Tinh thần thông điệp thể hiện sinh động qua nhiều thể cách, linh thánh và trần tục, vừa thiêng liêng cao cả vừa gần gụi đời thường, to lớn bên cạnh nhỏ bé, nghiêm trang mà xuề xòa. Ppo Klaung Girai, Ppo Rome, hay Ppo Hanim Pơr, Nai Tangya Bia Atapah,... là các vị vua tài ba, anh hùng, liệt nữ được thần thánh hóa. Công đức chư vị được ông bà truyền tụng trong các damnưy tụng lên vào những dịp đại lễ long trọng, linh thánh. Thế nhưng lý lịch chư vị được nghệ sĩ Chăm đời thường hóa tối đa. Từ Cei Xit (Ppo Rome) cho chí Cei Tathun (Ppo Klaung Girai: thế kỉ mười hai):

Inư lwak di lok dwa tơl

Inư wơk nưgar, cei dauk mưtwei...

Amik nau nưgar dauk jwa

Hu muk taha ppok ba ppamum...

Rang dauk mư-in hu bban

Tathun ngap sa tian ala rajam kadauh...

Cei dauk ppablei bak pluh

Ribuw jien rituh raung muk taha...

Mẹ hai lần hóa thân

Mẹ về quê hương, bỏ chú lại...

Mẹ bỏ xứ điêu tàn

Có bà thương, ẵm chú bú nhờ...

Người chơi người có bạn

Tathun ta kết bạn với giàn bầu...

Bán ốc, chú ngồi nán

Cho đủ số bạc, nuôi bà già...

Cả lối hành xử và sinh hoạt của các Ppo, Cei, Bia cũng thế. Ppo Tang Ahauk thất bại, ông tìm lãng quên đời, quên người Tamư darak pwơc jhak/ Mưnhum alak Ong Wơr Palei Vào chợ, ông nói ngang/ Uống rượu tràn, ông quên quê hương. Cei Xah Bin Bingu, vị tướng tài ba thời Ppo Rome, thì khác. Rũ bỏ triều đình, chỉ có cái liếc mắt với tiếng cười nói của đàn bà mới làm nguôi ngoai buồn ông Cei nau mư-in Jamuw/ Karah di canuw ppakrư kamei/ Dara Jamuw siam đei Chú đi chơi Jamơu/ Nhẫn đeo tay, chú ta cởi tặng/ Gái Jamơu xinh lắm.... Ppo Hanim Pơr thất bại và thất tình:

Hajan hơc hư jwai mưnhi

Dalam thun ni ai krưh mưyut

Hajan hơc hư jwai taduw

Bilan biruw ai krưh mưyut

Mưa ơi mi đừng rơi

Đầu năm nay anh đang yêu khổ

Mưa ơi mi đừng bỏ

Vào tháng mới anh đang yêu đau

Ông đánh bạn cùng mây trời và chung rượu Ppo nau mư-in biak tơl/ Grơp nưgar Ppo nau mư-in Ngài đi chơi đủ cả/ Khắp miền xứ sở, Ngài rong chơi... Mưnhum di cawan ak thruk/ Mưnhum di jaluk hak cei takrư Uống bằng chung chẳng thỏa/ Nghe khoái lạ, chú tu bằng bát. Hay dấn mình vào cuộc cờ bạt mạng, bất kể với người Thượng hay Kinh Mư-in jien saung Ywơn wơk ka/ Mư-in laung kadha biai gơp mư-in Chơi bạc với người Kinh/ Thử phép linh rồi mới ăn tiền. Như thể ông đang sống ở thế kỉ cuối của thiên kỉ thứ hai vậy!

Có rất ít dấu vết sử học trong damnưy Chăm. Quá khứ, hiện tại và tương lai, sự thật và tưởng tượng vô ngại đi-về trong cái nói của ngôn ngữ thi ca. Thi ca của lễ hội linh thánh. Đây là sáng tạo đặc kì của các Mưdwơn, chủ lễ điều hành cuộc lễ vừa là một nghệ sĩ thượng thặng, khả năng chơi thuần thục mọi nhạc cụ, ca sĩ đồng thời là vũ công. Chính danh, ông là thi sĩ chân tính. Tiếp nhận truyền thống trong tinh thần mở, ông sáng tạo và tái tạo lịch sử. Trong không gian linh thiêng của lễ, làm môi giới mời thần thánh đi về cõi người, nhiếp dẫn con người tiếp cận cõi miền thiêng liêng, qua cái nói của ngôn ngữ thơ ca. Cái nói này thay đổi qua mỗi thời đoạn của cuộc đời ông, thậm chí qua mỗi cuộc lễ. Thay đổi, nhưng nguyên lai tính yếu của huyền sử vẫn xuyên suốt. Đó là lẽ dịch và hằng. Dịch mà hằng. Dịch để hằng.

Chẳng có gì trầm trọng cả. Trong giai đoạn khốn cùng của lịch sử, những lúc chìm tận đáy đau khổ và tuyệt vọng, Chăm vẫn biết cười. Cả tôi cũng vậy. Ở mọi nơi tôi đến, tôi cứ nhận mình là Chăm - khoái hoạt! Tôi không cho Chăm ngon hơn dân tộc nào đó, cũng không phải thông minh hơn, cao đại hay ưu việt hơn. Tôi không hiểu tại sao mình khoái hoạt. Cũng chả thấy cần thiết phải tìm hiểu tại sao. Còn nếu có ai đó chối mình là Chăm, thay tên hoặc dùng dao lam cạo họ Chăm trên thẻ căn cước, là quyền của họ. Tôi không quan tâm sự chọn lựa đó. Khi chọn lựa là có sự tính toán lui tới, thiệt hơn. Tôi, không! Tôi yêu thương, vô ngại trong tình thương. Giữa cao ốc Sài Gòn toàn Kinh hay trong chòi rách gia đình Miên miền Tây, tôi vẫn sự sự vô ngại. Một bạn văn ở Úc lần ghé nhà tôi chuyện bao đồng, đùa là: “Tôi thấy Sara rất hãnh diện khi kể mình có bà vợ hơn tám tuổi.” Ông đúng. Tôi kể nó một cách vui vẻ, khoái hoạt. Vậy thôi. Hầu như tất cả mọi chuyện, tại bất kì đâu, với bất kì ai. Trước hội trường nghịt người hay chỉ với vài bạn thâm giao. Hoặc tôi thoải mái ở đó, hoặc tôi bỏ đi. Tôi không bao giờ mặc cảm hay ức chế điều gì đó.

Tôi chưa bao giờ cảm thấy mình khổ cả.

Giai thoại vui: Ông anh thi sĩ Jalau trong một chầu lai rai, than rằng chưa có ai khổ như anh. Tay bạn hôm Cần Thơ xa nhà ghé mượn tiền, mình đưa hết cho nó, ba buổi sáng thèm cà phê muốn chết đi được. Kay Amưh mới nói là giữa anh em mình thôi, tôi chưa thấy ai khổ như Sara! Thế là anh sắp đặt một hơi một thể vụ tôi làm rau muống, gánh phân, giã gạo, đạp xe qua mấy làng xó xỉnh chích heo chạy bữa qua ngày. Tôi nói tôi chưa bao giờ khổ cả! Không ai từng nửa lần thấy tôi than phiền về vụ đó. Tôi luôn làm công việc nào bất kì với tối đa nhiệt tình. Vui vẻ và khoái hoạt.

Sau đó ném bỏ tất cả. Và đi.

Như Glơng Anak đã ra đi. Nhẹ nhõm và vĩnh viễn.

Inrasara —★— HÀNG MÃ KÝ ỨC ebook©MotSAch —★— TVE-4U©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản Văn Học
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.