Bối cảnh lịch sử của Hiệp sĩ Thánh chiến là một thời kỳ phức tạp mà huy hoàng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Ba Lan, giai đoạn hậu kỳ Trung thế kỷ, kéo dài từ cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XV. Được thống nhất nhờ những hoạt động chính trị và quân sự sáng suốt của các đức vua Władysław Lokietek (1260/1 - 1333) và Kazimierz Vĩ Đại (1310 - 1370), đến cuối thế kỷ XIV, sau khi đức vua Kazimierz Vĩ Đại qua đời, quốc gia phong kiến Ba Lan lại phải trải qua những thử thách nghiêm trọng, với nhiều lục đục nội bộ.
Dưới triều vua Ludwik của Hungary (1326 - 1382), các quận công đánh nhau để tranh giành đất đai và quyền bính. Hai năm sau khi vua Ludwik băng hà, được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ muốn thống nhất quốc gia và củng cố chế độ tập quyền, thứ nữ của ông là công chúa Jadwiga lên ngôi nữ vương Ba Lan[1]. Những nhà chính trị sáng suốt đương thời đã tìm mọi cách kết mối duyên lành giữa vị nữ vương trẻ trung, xinh đẹp với đại quận công Litva đương thời là Władysław Jagiełło (135 2/62 - 1434). Và họ đã thành công. Năm 1386, sau khi chịu lễ rửa tội để cải đạo, W. Jagiełło đã kết hôn với nữ vương Ba Lan Jadwiga để trở thành vị vua của liên minh vương quốc Ba Lan - Litva.
Sự ra đời của liên minh Ba Lan - Litva hùng mạnh, có lãnh thổ mênh mông, trải dài từ sông Odra ở phía tây tới các sông Oka và Doniec ở phía đông, với giới hiệp sĩ đông đảo và những đội quân thiện chiến, đã trở thành chướng ngại vật chính, ngăn cản sự bành trướng của dòng tu Ki-tô giáo mang tên Giáo đoàn Thánh chiến. Hình thành từ cuối thế kỷ XII tại Palestine trong các cuộc thập tự chinh, đến thế kỷ XIV - XV, giáo đoàn của các hiệp sĩ Ki-tô giáo chủ yếu là người Đức này bắt đầu quay trở về xâm lấn vùng Đông và Nam Âu.
Năm 1226, sau thỏa thuận giữa đại thống lĩnh Hermann von Salza của Giáo đoàn Thánh chiến với quận công Ba Lan Konrad Mazowiecki, Giáo đoàn được phép ngụ cư trên vùng đất Chelmno của Ba Lan. Bộ phận ở miền đông vùng Baltic tách ra thành một giáo binh đoàn độc lập, tiến hành những cuộc chiến tranh nhằm lấn chiếm đất đai của Phổ (năm 1283) và vùng đất giáp biển Baltic (gồm cả thành phố Gdańsk) của Ba Lan (năm 1309), hình thành một quốc gia ngày càng bành trướng, trải dài từ sông Wisla đến sông Narwa, chắn đường thông đến biển Baltic của cả Ba Lan, Nga và Litva. Do chiếm được vị trí địa lý thuận lợi, Giáo đoàn vừa mở rộng giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế, vừa áp dụng chính sách đàn áp rất hà khắc đối với cư dân bản địa trong các vùng đất bị chúng chiếm đóng. Phần lớn cư dân trong vùng phải phiêu bạt, chạy trốn sang phía đông sông Niemen, những người còn sót lại ở quê hương bản quán thì sục sôi căm hận, chỉ chờ dịp là nổi lên khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa chống quân Thánh chiến nổ ra năm 1409 trên vùng đất Żmudź đang bị Giáo đoàn chiếm đóng, đã mở đầu cho ngòi lửa chiến tranh âm ỉ từ lâu giữa liên minh Ba Lan - Litva (được sự hỗ trợ của các dân tộc Slav khác) với Giáo đoàn Thánh chiến. Đỉnh cao của nó là trận đại chiến diễn ra gần Grunwald. Ngày 15/7/1410, trên những cánh đồng của các làng Grunwald, Lodwigowo và Stębark, đội quân đông tới hai mươi chín ngàn người của liên quân Ba Lan - Litva - Nga đã xáp chiến với đạo quân hai mươi mốt ngàn người của Giáo đoàn Thánh chiến. Trận đánh kết thúc bằng chiến thắng huy hoàng của phía Ba Lan - Litva. Đó là một trong những trận đánh lớn nhất và nổi tiếng nhất ở châu Âu thời Trung cổ.
Theo quan niệm của tác giả, cuộc đụng đầu lịch sử giữa các dân tộc Slav với thế lực xâm lược của Giáo đoàn Thánh chiến mang ý nghĩa triết học của cuộc đối kháng chính - tà, tạo nên cốt lõi của lịch sử nhân loại. Toàn bộ diễn biến của tiểu thuyết, cùng với bao thăng trầm của số phận các nhân vật chính và phụ dường như chỉ để chuẩn bị cho cái kết cục hùng vĩ: chính thắng tà, hòa bình thắng chiến tranh, người giữ nước thắng kẻ xâm lược.
Để sáng tác Hiệp sĩ Thánh chiến, Henryk Sienldewicz đã dày công nghiên cứu các sử liệu về thế kỷ XIV - XV, trước hết là bộ Lịch sử Ba Lan đồ sộ của nhà sử học Jan Dlugosz, người sống gần như cùng thời với các sự kiện được mô tả. Nhờ sử dụng một cách chọn lọc tinh tế những chất liệu sử học, dân tộc học, truyền thuyết, thần thoại, dân ca, thổ ngữ… Henryk Sienkiewicz đã tái tạo được một bức tranh sống động và trung thực, với đầy đủ sắc màu, âm hưởng của quá khứ hào hùng của dân tộc Ba Lan.
Tác phẩm dựng lên trước mắt người đọc một quốc gia phong kiến tập quyền thời Trung cổ ở châu Âu, với các giai tầng xã hội khác nhau: vua và hoàng hậu, các quận công và quận chúa, các hiệp sĩ vùng biên ải, đám quan lại giàu có, các trang chủ quý tộc, những người nông dân nghèo khổ, các hiệp sĩ Thánh chiến đầy ngạo mạn, tàn bạo và quỷ quyệt… Sự phân hóa các giai tầng xã hội được khắc họa rất sắc nét Vương triều quốc gia và triều đình của các quận công vùng Mazowsze theo đuổi những đối sách chính trị khôn khéo; giới quý tộc già chăm lo cho sự cường thịnh của gia tộc, giống nòi; giới hiệp sĩ trẻ hăng máu ham thích chinh chiến, phiêu lưu; đám thị dân lo làm giàu bằng đủ mọi mánh lới tích cóp; những người nông phu, tá điền vốn chỉ quen với ngôi nhà nghèo nàn cùng mảnh ruộng phát canh của mình, nhưng khi tổ quốc cần lại sẵn sàng chiến đấu bằng ngay cả những thứ nông cụ cầm tay sẵn có…
Bằng việc sử dụng thủ pháp mô tả thông qua các cuộc phiêu lưu của những nhân vật chính, tác giả đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng thể và rất toàn diện. Tác giả tập trung hơn cả đến giới hiệp sĩ - “cái cốt” của tinh thần dân tộc thời bấy giờ, người quyết định vận mệnh dân tộc trong các cuộc chiến chinh thời phong kiến Trung cổ. Hơn mười nhân vật hiệp sĩ được mô tả với những cá tính rất sâu sắc và phong phú. Bên cạnh giới hiệp sĩ là giới trang chủ quý tộc, những cột trụ tập hợp dân cư địa phương theo tinh thần gia trưởng, tộc trưởng. Giới tiểu quý tộc này mạnh lên nhờ sự hỗ trợ của Giáo hội. Còn chính Giáo hội, tuy bị phân hóa thành nhiều giáo đoàn, nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử, trong mối tương tác với phía “đời”, đúng như trong mối quan hệ lịch sử cụ thể của quốc gia phong kiến Ba Lan thời bấy giờ.
Chủ đề chiến tranh tự vệ của các dân tộc chỉ muốn được sống yên vui nhưng không được hưởng hòa bình được Henryk Sienkiewicz khắc họa rõ nét trong Hiệp sĩ Thánh chiến. Vào thời buổi nhiễu nhương ấy, con người phải tập trung toàn bộ sức mạnh của mình để tự vệ. Trong một thời đại như thế, sức mạnh là tiêu chuẩn chính đặc trưng cho giá trị đích thực của đàn ông, là cơ sở của vinh quang và lòng kính trọng. Toàn bộ tác phẩm là sự chuẩn bị đầy công phu như một cuộc “tích gió” cho cơn bão dữ dội sẽ nổ bùng ra trong vài chương cuối sách, đồng thời cũng là khúc trường thiên ca tụng sức mạnh quả cảm của những con người đầy nghĩa hiệp mà rất đỗi thủy chung.
Mối tình tay ba Danusia - Zbyszko - Jagienka cũng là một sáng tạo độc đáo, được Henryk Sienkiewicz xử lý tài tình. Vượt ra khỏi những lối mòn thông thường, tác giả đã xây dựng một tam giác tình yêu trong sáng, thanh cao, giàu hy sinh, không vẩn một chút ghen tuông, mà vẫn rất hợp lý, rất “đời thường”. Những giải pháp mà Henryk Sienkiewicz sử dụng để giải quyết các tình huống “nút” quả là độc đáo, bất ngờ, mang đến bao thú vị cho người đọc.
Quá trình giao lưu để tiến đến hình thành một nền văn hóa giàu có, đầy bản sắc của dân tộc Ba Lan cũng đã được Henryk Sienkiewicz mô tả xuất sắc trong Hiệp sĩ Thánh chiến. Những yếu tố tích cực của văn hóa phương Tây được giới hiệp sĩ trẻ Ba Lan nhanh chóng hấp thu. Cái mới tập trung ở bốn trung tâm cung đình lớn, những phong tục mới, tiêu chuẩn đạo đức mới, các dạng thức sinh hoạt xã hội mới… góp phần làm thay đổi bộ mặt của quốc gia phong kiến tập quyền. Những lễ tiết cung đình, những tiệc rượu, những hội võ, những cuộc săn bắn quy mô lớn… được mô tả bằng ngòi bút sinh động, tài hoa, trở thành những mẫu mực của nghệ thuật miêu tả sinh hoạt vốn là một mặt mạnh của văn xuôi Henryk Sienkiewicz.
Những sinh hoạt thời “tiền chiến” đó được hội tụ chung quanh hai tiêu điểm của cái “elip xã hội” thời ấy: Bogdaniec và Spychow - hai trang ấp điển hình của làng xã Ba Lan Trung thế kỷ. Chúng quy tụ các đại diện điển hình của những giai tầng xã hội mang văn hóa phong tục khác nhau, tạo nên một sự so sánh ngầm mà lại rất “nổi” về hai định hướng tương phản nhau, phân hóa giới hiệp sĩ quý tộc Ba Lan đương thời. Trang Bogdaniec được hồi phục từ đổ nát bởi lao động hòa bình của những bàn tay con người được quý trọng hơn vàng ròng; trong khi trang Spychow thì lại bị tàn hoại vì ngọn lửa chiến tranh không bao giờ tắt. Đó là hai khuôn mặt điển hình của giới trang chủ quý tộc đã góp phần làm thay đổi cấu trúc kinh tế - xã hội của quốc gia phong kiến Ba Lan thời ấy, để rồi vài chục năm sau trở thành lực lượng nhiều đặc quyền đặc lợi nhất.
Một mặt thành công đáng kể nữa của Hiệp sĩ Thánh chiến là việc tác giả đã dày công nghiên cứu thể nghiệm để sáng tạo nên một ngôn ngữ diễn đạt độc đáo. Nổi bật xuất sắc nhất là đối thoại của nhân vật, với những từ ngữ được sử dụng hết sức chuẩn xác, mang đẫm màu sắc thời Trung cổ mà vẫn dễ hiểu với người Ba Lan thời hiện đại. Henryk Sienkiewicz đã rất thành công trong việc khai thác các chất liệu thổ ngữ của vùng Sląsk để dựng lại đối thoại của các nhân vật sống từ năm trăm năm về trước. Tiếc thay, đó lại là những sự tinh tế đến lắt léo về ngôn từ mà dẫu cố công vật vã và trăn trở trong suốt ba mươi năm, người dịch vẫn khó lòng chuyển đạt trọn vẹn sang tiếng Việt.