Đội ngũ Litva gồng mình trước đoàn quân khủng khiếp của người Đức. Hàng đầu tiên, được trang bị tốt nhất, gồm những dũng sĩ mạnh mẽ nhất, ngã rạp xuống đất thành một dãy dài. Những người ở hàng tiếp sau điên giận trước quân Thánh chiến, nhưng lòng can đảm, sự kiên định và cả sức người cũng không thể cứu họ khỏi thất bại và cái chết. Mà làm sao khác được, khi một bên là những hiệp sĩ bọc kín trong áo giáp thép, cưỡi những con ngựa được che chắn bằng sắt thép, còn một bên là những con người tuy cao to và mạnh mẽ, nhưng cưỡi những con ngựa nhỏ bé và chỉ có làn da trần che chở?… Những chiến binh Litva kiên cường vô vọng tìm cách chạm đến làn da bọn Đức. Những mũi giáo mác, kiếm, lưỡi hái, gậy buộc đá hoặc đóng đinh, tất cả đều nảy bật ra trên các tấm giáp sắt như va phải mặt các phiến đá hoặc tường thành. Sức nặng của người và ngựa Đức đè bẹp những đám người bất hạnh của đại quận công Witold, những lưỡi kiếm và rìu chém ngang người họ, những lưỡi việt phủ đập gãy xương cốt họ, những móng ngựa đạp lên thân xác họ. Trong vô vọng, đại quận công Witold ném ngày càng nhiều các đơn vị mới vào cái hàm thần chết này, nhưng kiên cường mấy cũng vô ích, điên cuồng mấy cũng chẳng thể cứu vãn được, chí coi thường cái chết và cả những dòng sông máu tuôn chảy cũng không thể làm được điều gì! Đội quân Tatar, Besarabia và Woloch tan tành trước, rồi chẳng mấy chốc, bức tường binh lính Litva bị phá vỡ và một sự hoảng loạn đầy hoang dã chế ngự toàn thể chiến binh.
Phần lớn tàn quân trốn chạy về phía hồ Luben, đuổi theo sau là các lực lượng chính của quân Đức, cuộc tàn sát khủng khiếp đến nỗi toàn bộ bờ hồ phủ đầy xác chết.
Bộ phận thứ hai của quân đội đại quận công Witold, nhỏ hơn, trong đó có ba trung đoàn Smolenśk, đã lùi về phía cánh quân Ba Lan, bị ép bởi sáu chiến đoàn quân Đức, rồi sau đó là cả bọn Đức từ sau cuộc truy đuổi trở về. Các chiến binh vùng Smolenśk được trang bị tốt hơn nên đã chống cự hiệu quả hơn. Trận chiến biến thành một cuộc tàn sát. Máu tuôn ra trên từng bước chân, trên mỗi tấc đất. Một trung đoàn Smolenśk đã bị đốn gục gần như hoàn toàn. Hai trung đoàn khác chống đỡ trong tuyệt vọng và điên loạn. Nhưng không gì có thể ngăn được người Đức chiến thắng. Một số chiến đoàn gần như phát cuồng. Từng hiệp sĩ tay vung cao lưỡi rìu hoặc thanh kiếm, thúc cựa vào bụng ngựa hoặc đứng nhổm hẳn người trên lưng chiến mã, lao thẳng vào những đám đông nhiều kẻ thù nhất. Những nhát chém bằng kiếm và lưỡi việt phủ của chúng gần như siêu phàm, đốn gục cả hàng người, giết chết, đập nát những con ngựa và các hiệp sĩ Smolenśk, cuối cùng tiến đến tiền quân và trung quân của Ba Lan, mà suốt một tiếng đồng hồ cả hai khối quân đã chiến đấu với quân Đức do Kuno Lichtenstein chỉ huy.
Nhưng đối với Kuno, ở đây mọi chuyện không dễ dàng như thế, bởi hai bên ngang ngửa nhau hơn về vũ khí và chiến mã, cũng được luyện tập kỹ năng hiệp sĩ như nhau. Những mũi đòng nhọn hoắt của quân Ba Lan đã cản được quân Đức và đẩy bật chúng về phía sau, nhất là khi chúng đánh vào ba chiến đoàn mạnh nhất: chiến đoàn Kraków và Gończ do hiệp sĩ Jędrek xứ Brochocice chỉ huy, cùng chiến đoàn hoàng gia do hiệp sĩ Powała xứ Taczew thống lĩnh. Tuy nhiên, trận chiến diễn ra khốc liệt nhất sau khi các ngọn đòng bị gãy, hai bên đều dùng đến kiếm và rìu. Lúc đó, khiên đập vào khiên, người đấu với người, những con chiến mã ngã quỵ, những ngọn chiến kỳ ngả nghiêng, mũ sắt, giáp che vai, áo giáp bị vỡ nát dưới đòn đánh của lưỡi việt phủ và búa chiến, giáp sắt bị loang lổ máu, các kỵ sĩ bị đốn ngã rơi khỏi yên ngựa như những cây thông bị chặt. Những hiệp sĩ Thánh chiến đã từng trải qua trận chiến với quân Ba Lan gần Wilno biết rõ dân này “khó đánh” và “bướng bỉnh” thế nào, nhưng những người mới và những vị hiệp khách ngoại quốc đều bị nỗi kinh ngạc gần như sợ hãi chế ngự. Có kẻ bất giác phải kìm ngựa, thử nhìn xem, nhưng trước khi kịp nghĩ ra phải làm gì, thì đã chết dưới đòn đánh của quân Ba Lan. Giống như một trận mưa đá từ một đám mây màu đồng trút xuống ruộng lúa hắc mạch không chút tiếc thương, những cú đánh, đòn đâm, những nhát chém tàn nhẫn của kiếm, của rìu chiến, rìu thường, không kịp thở và không thương xót, nghe như tiếng búa đập sắt trong lò rèn, cái chết như một cơn gió lốc thổi tắt ngóm mạng sống, những tiếng rên rỉ bật ra từ lồng ngực, những đôi mắt tắt lịm và những mái đầu trẻ trung với mớ tóc vàng hoe chìm vào màn đêm vĩnh cửu.
Bay tung lên trời những mảnh sắt vụn, những mẩu gỗ, lông đà điểu và lông công. Móng guốc của chiến mã trượt trên những bộ giáp phục đẫm máu và các xác ngựa la liệt trên mặt đất. Những kẻ bị thương ngã xuống đều bị giẫm nát dưới móng ngựa.
Nhưng không ai trong số các hiệp sĩ Ba Lan hàng đầu bị ngã xuống, họ vẫn tiến về phía trước trong một đám đông ken sát vào nhau, miệng gọi to tên của các vị thánh bảo trợ hoặc hô các chiến lệnh của gia tộc, hệt như ngọn lửa lan trên thảo nguyên khô cằn, nuốt trọn mọi lùm cây bụi cỏ. Hiệp sĩ Lis xứ Targowisko đã là người đầu tiên hạ gục hiệp sĩ Gamrat - viên lãnh binh can trường của thành Osteroda, người khi bị mất khiên, đã cuộn chiếc áo khoác trắng vào tay để che đỡ những nhát chém.
Lưỡi kiếm của Lis đã chém phăng tấm áo khoác và miếng giáp che vai, chặt đứt rời cánh tay y đến tận nách, nhát thứ hai đâm vào bụng, lưỡi kiếm thọc đến tận xương sống. Quân lính thành Osteroda hét lên vì sợ hãi trước cái chết của viên chỉ huy, nhưng Lis đã lao vào chúng như một con đại bàng giữa bầy sếu, khi các hiệp sĩ Staszko xứ Charbimowice và Domarat xứ Kobylany nhảy tới để hỗ trợ ông, cả ba bắt đầu tàn sát kinh khủng, như đàn gấu lột vỏ đậu rào rào khi lọt vào cánh đồng gieo đậu non.
Cũng tại đó, hiệp sĩ Paszko Złodziej xứ Biskupice đã giết chết đồng đạo nổi tiếng Kunc Adelsbach. Trông thấy một người khổng lồ xuất hiện trước mặt với chiếc rìu đẫm máu cầm ở tay, trên đó cùng với máu là cả những mảnh xác người, Kunc đã run sợ trong lòng và muốn đầu hàng làm tù binh. Nhưng trong cơn hỗn loạn, Paszko không nghe thấy lời y nói, đã vung rìu lên chém vỡ đôi cái đầu đang đội mũ sắt, như thể ai đó cắt một quả táo thành hai nửa. Rồi tiếp sau đó, ông hạ thủ tiếp hiệp sĩ Loch xứ Mecklenburg, Klingenstein, Swab Helmsdorf từ một gia tộc bá tước giàu có, Limpach xứ Moguncja, và Nachterwitz cũng từ Moguncja, cho đến khi quân Đức sợ hãi bỏ chạy dạt về cả hai bên, ông vẫn tiếp tục chém chúng như chém một bức tường thân xác người, chốc chốc lại thấy ông nhổm người trên yên, rồi nhoáng ánh chớp của lưỡi rìu và lại thêm một chiếc mũ trụ của Đức rơi xuống chân ngựa.
Ở đó hiệp sĩ hùng mạnh Jędrzej xứ Brochocice đã chém đến gãy cả thanh kiếm của mình trên đầu một hiệp sĩ mang gia huy hình chim cú trên khiên và đội mũ trụ có hình đầu cú, bèn tóm lấy tay kẻ thù, bẻ gãy nó và tước gươm, rồi kết liễu đời y. Ông bắt sống hiệp sĩ trẻ Dynheim, kẻ mà ông thấy không đội mũ sắt, nên thương tình không giết, vì y gần như là một đứa trẻ và ngước nhìn ông bằng ánh mắt trẻ thơ. Sau đó ông ném y cho Andrzej, hộ vệ của mình, mà không biết rằng ông đang bắt chính con rể, bởi vì sau này trang hiệp sĩ trẻ tuổi ấy đã lấy con gái ông làm vợ và ở lại Ba Lan mãi mãi.
Dĩ nhiên lúc này, quân Đức điên cuồng rất muốn đánh tháo chàng hiệp sĩ trẻ tuổi Dynheim, người xuất thân từ gia tộc giàu có danh giá xứ sông Ren, nhưng các hiệp sĩ tiên phong Sumik xứ Nadbroż và hai anh em xứ Płomyków, Dobko xứ Ochwio, Zych Pikna buộc chúng phải đứng tại chỗ, giống như mãnh sư khống chế một con bò rừng, đẩy lùi chúng trở lại chiến đoàn Thánh Jerzy, gieo rắc sự hủy diệt và tàn phá trong đội ngũ chúng.
Còn chiến đoàn hoàng gia do hiệp sĩ Ciolek xứ Zelechów chỉ huy đã chiến đấu chống lại các vị hiệp khách, ở đó bằng sức mạnh siêu phàm, hiệp sĩ Powała xứ Taczew đã đánh đổ biết bao người và ngựa, những chiếc mũ sắt bị nát vụn như vỏ trứng, một mình ông đánh lại cả đám đông, và bên cạnh ông là hiệp sĩ Leszko xứ Goraj, một hiệp sĩ Powała khác từ xứ Wyhucz và Mácisaw xứ Skrzynno, cùng với hai hiệp sĩ người Séc là Sokół và Zbysławek. Cuộc chiến đấu ở đấy kéo dài khá lâu, bởi một chiến đoàn ấy bị ba chiến đoàn Đức tấn công, nhưng khi chiến đoàn thứ hai mươi bảy của Jan xứ Tarnów kéo đến tiếp viện, thì lực lượng trở nên cân bằng hơn và người Đức đã bị đẩy lùi gần một nửa tầm tên bắn kể từ nơi diễn ra cuộc đụng độ đầu tiên.
Chiến đoàn lớn của Kraków do đích thân hiệp sĩ Zyndram chỉ huy còn đẩy lùi bọn chúng xa hơn nữa, và dẫn đầu những người tiên phong là vị hiệp sĩ kinh hồn nhất trong tất cả các hiệp sĩ Ba Lan, Zawisza Czarny, với gia huy Sulima. Sát cánh chiến đấu cùng ông là người em trai Farurej, hiệp sĩ Horian Jelitczyk xứ Korytnica, Skarbek từ Góra, hiệp sĩ Lis nổi tiếng xứ Targowisko, Paszko Zlodziej, Jan Nalęcz, và Stach xứ Charbimowice. Dưới bàn tay kinh hồn táng đảm của Zawisza, bao hiệp sĩ can trường đã phải mất mạng, như thể họ đã gặp phải chính thần chết trong bộ giáp phục màu đen, trong khi ông đánh nhau mà hàng lông mày nhíu lại, hai cánh mũi khít chặt, bình tĩnh, cẩn trọng như thể ông đang làm một việc bình thường; đôi khi ông di chuyển chiếc khiên đều đều để đỡ đòn đánh, nhưng mỗi khi thanh kiếm của ông lóe sáng đều có tiếng hét kinh hoàng của kẻ bị trúng thương đáp lại, còn ông thậm chí không thèm nhìn mà bước đi làm việc tiếp theo, như một đám mây đen lừng lũng, thi thoảng lại phóng ra một tia sét chớp nhoáng.
Chiến đoàn Poznań, với con đại bàng không đội vương miện trên quân kỳ, có đức tổng giám mục và ba giám mục người Mazowsze tham chiến, cũng chiến đấu sinh tử. Mọi người đều gắng hết sức thi nhau về sự gan góc và dũng cảm tấn công, ở chiến đoàn Sieradz, chàng trai trẻ Zbyszko trang Bogdaniec đã lao mình như mãnh thú vào đám quân địch đông nhất, ngay kề bên chàng là ông Maćko lớn tuổi nhưng mang đến sự kinh hoàng, đánh nhau thận trọng như một con sói chiến, cắn cái nào chết chắc cái ấy.
Ông đưa mắt khắp nơi tìm kiếm Kuno Lichtenstein, nhưng không thể tìm thấy gã trong đám người đông đặc, ông bèn để mắt đến những kẻ khác có giáp phục đẹp hơn, và thật bất hạnh cho hiệp sĩ nào phải đấu với ông. Không xa cả hai hiệp sĩ trang Bogdaniec là chàng Cztan đáng sợ của trang Rogowo đang nổi điên khùng ghê gớm. Sau cuộc va chạm đầu tiên, mũ sắt của anh đã bị vỡ nát, giờ đây anh đầu trần chiến đấu, bộ mặt tua tủa râu ria đầy máu của anh khiến quân Đức kinh hãi, bởi thấy anh chúng ngỡ không phải gặp con người, mà là một vị thần rừng ghê gớm nào đó.
Hàng trăm, rồi hàng ngàn hiệp sĩ dàn ra bao phủ kín vùng đất ở cả hai phía, và rốt cuộc, khi hàng ngũ quân Đức bắt đầu chao đảo dưới những đòn đánh của đội quân Ba Lan đầy cuồng nộ, thì đã xảy ra một chuyện quyết định số phận của cả trận chiến.
Đó là sau khi truy đuổi quân Litva quay về, bị chế ngự bởi cơn cuồng chiến và say sưa với thắng lợi, các chiến đoàn quân Đức đã đánh thọc sườn vào cánh quân Ba Lan.
Nghĩ rằng toàn bộ quân đội hoàng gia đã bị đánh tan và trận chiến đã chắc chắn chiến thắng, chúng quay trở về thành những cụm lớn, lộn xộn, với tiếng la hét và tiếng hát hò, thì bất ngờ khi thấy trước mặt một cuộc tàn sát dữ dội và người Ba Lan gần như đã chiến thắng các đơn vị quân Đức.
Vì vậy, các hiệp sĩ Thánh chiến cúi đầu kinh ngạc nhìn qua các thanh chắn của mũ sắt xem chuyện gì đang xảy ra, và sau đó, kẻ nào đang dừng ngựa liền thúc cựa vào bụng ngựa và lao ngay vào một cuộc chiến hỗn loạn.
Hết toán này đến toán khác tới tấp lao vào tấn công, cho đến khi hàng ngàn người tràn tới đánh bại các chiến đoàn Ba Lan đã quá mệt mỏi. Quân Đức hét lên sung sướng khi thấy quân cứu viện kéo đến, và với nhiệt huyết mới, chúng hăng hái chiến đấu chống quân Ba Lan. Một trận chiến khủng khiếp sôi sục trên toàn bộ chiến tuyến, mặt đất tuôn chảy hàng suối máu, bầu trời u ám đầy mây và tiếng sấm gầm trầm đục dậy lên, dường như chính Đức Chúa cũng muốn hòa lẫn vào giữa các chiến binh.
Phần thắng bắt đầu nghiêng về phía quân Đức… Đã có những xáo trộn trong hàng ngũ Ba Lan, các đội quân Thánh chiến đang hả hê bắt đầu đồng thanh cất lên bài ca chiến thắng:
♫ - Christ ist erstanden…[285] ♫
Thế rồi, chính lúc đó đã xảy ra một chuyện khủng khiếp.
Đó là một tên Thánh chiến đang nằm trên mặt đất đã dùng dao xẻ toạc bụng con ngựa mà hiệp sĩ Marcin xứ Wrocimowice đang cưỡi, trong tay ông đang giương lá đại quân kỳ có hình đại bàng đội vương miện - lá cờ thiêng liêng của tất cả binh mã của chiến đoàn Kraków. Con chiến mã và người cưỡi bất ngờ ngã lăn ra, lá quân kỳ ngả nghiêng rồi đổ gục.
Ngay lập tức, hàng trăm cánh tay sắt vươn ra định cướp lấy lá cờ, tiếng gào rống vui mừng bật ra từ tất thảy các lồng ngực của quân Đức. Chúng nghĩ rằng thế là kết thúc, rằng giờ đây nỗi sợ hãi và hoảng loạn sẽ chế ngự người Ba Lan, rằng thời khắc đánh bại, giết chóc và tàn sát đã điểm, chúng chỉ còn truy đuổi và săn lùng những người chạy trốn.
Nhưng chờ đợi chúng là cả một sự thất vọng khủng khiếp và đẫm máu.
Tuy toàn quân Ba Lan tuyệt vọng đồng thanh hét lên khi thấy lá quân kỳ đổ xuống, nhưng trong tiếng thét và trong sự tuyệt vọng ấy không có nỗi sợ hãi mà chỉ có cơn thịnh nộ. Như bị ngọn lửa cháy bỏng rơi vào áo giáp, những người đàn ông khủng khiếp nhất của cả hai đội quân đã lao mình như đàn mãnh sư tới chỗ quân kỳ, và cơn bão bùng lên ở chính nơi ấy. Người và ngựa quần tụ lại thành một xoáy lốc quái dị, trong xoáy lốc ấy, chỉ thấy những cánh tay vung lên, tiếng gươm kiếm chạm nhau chan chát, tiếng rìu bổ phầm phập, tiếng sắt thép miết vào sắt thép, tiếng gầm gừ, rên rỉ, tiếng ồn ào hoang dã của những người đàn ông đang tàn sát nhau, hòa thành một thứ thanh âm kinh khủng, như thể ma quỷ bị nguyền rủa bỗng chợt gào rú lên từ thẳm sâu địa ngục. Một đám bụi mù mịt bốc lên, chỉ thấy những con ngựa kinh hoàng không người cưỡi, với những đôi mắt vằn máu và những cái bờm rối bời đầy hoang dã.
Nhưng điều đó kéo dài không lâu. Không một tên Đức nào còn sống sót để thoát khỏi cơn bão ấy, và chỉ lát sau, lá quân kỳ vừa giành được đã lại tung bay trên đầu đoàn chiến binh Ba Lan. Gió thổi phần phật, ngọn cờ bay, trải rộng tuyệt vời như một bông hoa khổng lồ, như một dấu hiệu hy vọng, như biểu thị cơn tức giận của Chúa đối với người Đức và chiến thắng dành cho hiệp sĩ Ba Lan.
Toàn quân chào đón quân kỳ bằng tiếng hò reo chiến thắng, và họ hăng hái đánh quân Đức, mỗi chiến đoàn như thể gia tăng gấp bội sức mạnh và số binh sĩ.
Bị đánh không thương tiếc, không kịp thở, không được nghỉ để lấy hơi, bị dồn ép từ mọi phía, bị băm chém không tha bằng đao kiếm, bằng rìu, bằng lưỡi việt phủ, bằng chùy, quân Đức lại bắt đầu nao núng và lùi bước. Đây đó cất lên những tiếng van xin. Đây đó một hiệp khách ngoại quốc bị lọt vào giữa cơn cuồng loạn, mặt trắng bệch vì sợ hãi và kinh ngạc, thất thần trốn chạy về bất cứ nơi nào mà con chiến mã không kém phần kinh hoảng đưa tới. Hầu hết những chiếc áo choàng trắng mà đồng đạo Giáo đoàn khoác ngoài giáp phục của họ đã nằm lại trên mặt đất.
Nỗi lo âu nặng trĩu tràn ngập trái tim của các thủ lĩnh quân Thánh chiến, bởi chúng hiểu rằng toàn bộ sự giải cứu chỉ còn nằm ở vị đại thống lĩnh, người mà lúc này đã chuẩn bị dẫn đầu mười sáu chiến đoàn phản công.
Còn ông ta, từ trên cao nhìn xuống cuộc chiến, cũng hiểu rằng thời khắc đã điểm, bắt đầu di chuyển cánh quân thép của mình, hệt như một cơn lốc đang cố vần xoay để di chuyển một đám mây mang mưa đá nặng nề, trĩu nặng sự thất bại.
Nhưng trước đó hiệp sĩ Zyndram xứ Maszkowice cưỡi con chiến mã đang lồng lên đã xuất hiện trước đội quân thứ ba của Ba Lan, cho đến lúc này vẫn chưa tham gia trận chiến, bởi ông đã cảnh giác trước mọi điều và theo dõi rất sát mọi diễn biến của cuộc chiến.
Có vài đội lính đánh thuê người Séc trong đoàn bộ binh Ba Lan. Trước khi xáp chiến, một trong số các đơn vị đó đã dao động, nhưng họ cảm thấy xấu hổ đúng lúc, đã giữ nguyên vị trí và thay viên chỉ huy, giờ trong lòng họ đang bùng cháy ham muốn chiến đấu, mong lấy sự can đảm bù đắp cho phút yếu đuối nhất thời của mình. Lực lượng chính bao gồm các trung đoàn Ba Lan, bao gồm những hiệp sĩ lang thang nghèo khổ, có ngựa nhưng không có giáp phục thép, những lính bộ người thành thị và rất đông các nông phu, trang bị những ngọn giáo dài có ngạnh, những chiếc rìu nặng và lưỡi hái lắp cán dài bằng gỗ.
- Sẵn sàng! Chuẩn bị! - Hiệp sĩ Zyndram xứ Maszkowice la lớn, lướt nhanh như chớp dọc suốt hàng quân.
- Sẵn sàng! - Các viên chỉ huy cấp dưới nhắc lại mệnh lệnh.
Vậy là những người nông phu hiểu rằng với họ, thì giờ đã điểm, họ liền tựa cán giáo, liềm và lưỡi hái xuống đất rồi làm dấu thánh, nhổ toẹt nước bọt vào hai bàn tay to lớn chuyên nghề đồng áng của mình.
Tiếng nhổ nước bọt đầy đe dọa lan dọc khắp hàng quân, rồi mỗi người cầm ngay lấy vũ khí và hít một hơi thật dài. Đúng vào lúc đó, một kỵ binh mang lệnh đức vua chạy vội đến chỗ hiệp sĩ Zyndram, hổn hển thì thầm điều gì vào tai ông, còn ông lập tức quay về toán lính bộ, vung cao kiếm và hô lớn:
- Tiến lên!
- Tiến lên! Cả hàng! Thẳng! - Tiếng các chỉ huy thét lên.
- Nào! Bọn chó đẻ! Nện vào chúng!
Họ bước đi. Để thật đều và giữ thẳng hàng, tất cả cùng đồng thanh lặp lại:
- Lạy Đức Mẹ Maria Hiển Linh, Chúa ở cùng bà!
Và họ bước đi hệt như một trận lũ cuốn, với các trung đoàn lính đánh thuê và các người hầu ở đô thị, nông dân từ Małopolska, Wielkopolska và những người Śląsk đã tìm đến nương náu trên lãnh thổ vương quốc từ trước chiến tranh, cả những người Mazury từ Elk chạy trốn quân Thánh chiến. Cả cánh đồng sáng rực và lóng lánh những mũi giáo mác, lưỡi lê.
Và họ đã đến.
- Giết! - Tiếng các chỉ huy hét lớn.
- Uch!
Muôn người đều hét lên một tiếng như tiều phu khi vung rìu lên, rồi lấy toàn bộ hơi sức chém xuống.
Tiếng la hét vang lên tận trời cao.