Cuối cùng, tôi cũng đã tìm được một mái nhà cho riêng mình — một ngôi nhà nhỏ tranh nghèo; căn phòng nhỏ với bức tường quét vôi trắng và sàn nhà rải cát, kê bốn chiếc ghế sơn cùng một cái bàn, một chiếc đồng hồ, một cái chạn với vài ba chiếc đĩa lớn nhỏ, và một bộ ấm chén bằng sành sứ. Phía trên là một căn gác có diện tích tương đương gian bếp, kê một chiếc giường gỗ mộc và một tủ ngăn kéo; gian phòng nhỏ là thế, nhưng lại quá rộng so với tủ quần áo nghèo nàn của tôi — dẫu lòng tốt của những người bạn hiền hậu và rộng lượng đã giúp tôi sắm thêm một ít đồ dùng cần thiết khiêm tốn.
Trời đã về chiều. Tôi đã cho đứa trẻ mồ côi làm công việc giúp việc vặt cho tôi ra về, với thù lao là một quả cam. Tôi đang ngồi một mình bên lò sưởi. Sáng nay, ngôi trường làng đã khai giảng. Tôi có hai mươi học trò. Nhưng chỉ có ba em biết đọc: chẳng em nào viết hay làm được toán. Vài em biết đan, và một số ít biết may chút ít. Các em nói thứ tiếng địa phương nặng đặc tiếng vùng miền. Lúc này, tôi và các em vẫn còn gặp khó khăn trong việc hiểu ngôn ngữ của nhau. Một số em vô phép, thô lỗ, khó bảo, lại thêm phần dốt nát; nhưng những em khác thì ngoan ngoãn, có lòng ham học, và bộc lộ những tính nết khiến tôi vừa lòng. Tôi không được quên rằng những đứa trẻ nhà quê ăn mặc thô kệch này cũng mang dòng máu thịt tốt đẹp chẳng kém gì con cháu của những dòng dõi danh giá nhất; và rằng những mầm mống của sự cao quý bẩm phong, thanh nhã, thông minh, tình cảm tốt đẹp, cũng có khả năng tồn tại trong trái tim các em chẳng khác nào trong tim những kẻ cao sang quyền quý. Nhiệm vụ của tôi sẽ là vun xới những mầm mống ấy: chắc hẳn tôi sẽ tìm thấy niềm vui phần nào khi hoàn thành sứ mệnh đó. Tôi không mong đợi quá nhiều niềm vui ở chặng đường đời đang mở ra trước mắt: thế nhưng, nếu tôi biết tiết chế tâm can và phát huy năng lực đúng mực, chắc chắn nó sẽ mang lại cho tôi đủ đầy để sống qua từng ngày.
Liệu tôi có thực sự vui vẻ, bình tâm và thỏa mãn trong suốt những giờ phút tôi đã trải qua ở cái căn phòng học trống trải, khiêm nhường kia trong suốt buổi sáng và buổi chiều nay không? Để không tự dối lòng, tôi buộc phải trả lời — Không: Tôi cảm thấy cô đơn đến cùng cực. Tôi cảm thấy — phải, tôi đúng là một kẻ ngốc — tôi cảm thấy bị hạ nhục. Tôi ngờ rằng mình đã thực hiện một bước đi đẩy tôi lún sâu thêm thay vì nâng tôi lên trong bậc thang xã hội. Tôi đã tỏ ra yếu đuối và hoảng sợ trước sự dốt nát, nghèo đói và thô tục của tất cả những gì tôi nghe và thấy xung quanh mình. Nhưng xin đừng vì những cảm xúc ấy mà tự căm ghét hay khinh miệt bản thân quá mức; tôi biết những cảm xúc đó là sai trái — đó là một bước tiến lớn đạt được; tôi sẽ cố gắng vượt qua chúng. Ngày mai, tôi tin là mình sẽ phần nào khắc phục được chúng; và có lẽ chỉ vài tuần nữa thôi, chúng sẽ hoàn toàn bị khuất phục. Vài tháng nữa, rất có thể, niềm vui được chứng kiến sự tiến bộ và đổi thay theo chiều hướng tốt đẹp hơn ở học trò của mình sẽ thay thế cảm giác ghê sợ bằng sự thỏa lòng.
Trong lúc này, hãy để tôi tự hỏi mình một câu hỏi — Đằng nào thì tốt hơn? — Đầu hàng trước cám dỗ; lắng nghe tiếng gọi của đam mê; chẳng phải nhọc công cố gắng — chẳng chút đấu tranh; — mà buông mình chìm đắm trong chiếc bẫy nhung lụa; chìm vào giấc ngủ trên những đóa hoa phủ kín nó; tỉnh giấc ở một xứ sở phương Nam, giữa những xa hoa của một biệt thự nghỉ dưỡng: giờ này đang sống ở Pháp, làm tình nhân của ông Rochester; nửa thời gian cuồng say vì tình yêu của chàng — bởi vì chàng sẽ — ồ đúng vậy, chàng đã từng yêu tôi say đắm trong một khoảng thời gian. Chàng thực sự đã yêu tôi — sẽ chẳng có ai yêu tôi được như thế nữa. Sẽ chẳng bao giờ tôi còn được biết đến sự tôn sùng ngọt ngào dành cho sắc đẹp, tuổi trẻ và sự duyên dáng — bởi sẽ chẳng bao giờ tôi còn tỏ ra sở hữu những nét cuốn hút ấy trước bất kỳ ai khác. Chàng từng say mê và tự hào về tôi — đó là điều mà không một người đàn ông nào khác ngoài kia sẽ làm được. — Nhưng tôi đang lê la đi đâu, và tôi đang nói những gì, và trên hết là đang cảm thấy gì vậy? Tôi tự hỏi, liệu làm nô lệ trong cõi thiên đường hão huyền ở Marseilles — giờ thì phừng phừng cơn sốt hạnh phúc hão huyền — giờ lại nghẹn ngào trong những giọt nước mắt cay đắng của sự ân hận và hổ thẹn, bên nào tốt hơn, hay trở thành một cô giáo làng, tự do và lương thiện, tại một góc núi lộng gió ở trái tim lành mạnh của nước Anh?
Phải; giờ đây tôi cảm thấy rằng mình đã đúng khi kiên định với nguyên tắc cùng luật lệ, đồng thời khinh miệt và đè bẹp những ham muốn điên cuồng của một phút giây mê muội. Thượng đế đã hướng dẫn tôi đến một sự lựa chọn đúng đắn: Tôi tạ ơn sự quan phòng của Ngài vì sự dẫn dắt ấy!
Sau khi đưa những suy tư lúc hoàng hôn của mình đi đến kết quả này, tôi đứng dậy, đi ra cửa, và nhìn ngắm ánh hoàng hôn của ngày mùa, cùng những cánh đồng yên ả trước ngôi nhà nhỏ của tôi, nơi mà cùng với trường học, nằm cách ngôi làng nửa dặm đường. Những chú chim đang cất lên những tiếng hót cuối ngày —
“Bầu trời dịu êm, sương mai ngọt ngào.”
Trong lúc ngắm nhìn, tôi tưởng mình đang hạnh phúc, để rồi ngạc nhiên khi thấy chẳng bao lâu sau mình lại bật khóc — và tại sao chứ? Vì số phận đã tước đoạt tôi khỏi việc gắn bó với người chủ của mình: vì con người mà tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại nữa; vì nỗi đau đớn tuyệt vọng và cơn cuồng nộ chí mạng — hậu quả từ sự ra đi của tôi — mà giờ đây, có lẽ đang lôi kéo chàng rời xa con đường chính đạo, đi quá xa để còn hy vọng có ngày quay trở lại chốn xưa. Nghĩ đến đây, tôi quay mặt đi khỏi bầu trời chiều diễm lệ và thung lũng Morton cô quạnh — tôi gọi là cô quạnh, bởi vì trong khúc uốn của nó mà tôi có thể nhìn thấy, chẳng có tòa nhà nào hiện ra ngoại trừ nhà thờ và nhà xứ lấp xấp sau những tán cây, và tận cùng phía chân trời là mái nhà của Vale Hall, nơi người giàu có Oliver và con gái ông sinh sống. Tôi che mắt lại, tựa đầu vào khung cửa bằng đá; nhưng chẳng mấy chốc, một tiếng động khẽ khàng gần chiếc cổng lùa ngăn cách khu vườn nhỏ của tôi với đồng cỏ phía bên ngoài đã khiến tôi ngẩng đầu lên. Một con chó — chính là con Carlo già, con chó săn của mục sư Rivers, như tôi nhận ra ngay lập tức — đang dùng mõm đẩy chiếc cổng, và bản thân St. John đang tựa người vào đó với hai tay khoanh trước ngực; trán anh nhíu lại, ánh mắt anh đăm đăm, nghiêm nghị đến mức suýt thành giận dữ, hướng thẳng vào tôi. Tôi liền mời anh bước vào.
“Không, tôi không ở lại được; tôi chỉ mang đến cho cô một gói đồ nhỏ mà các em gái tôi gửi cho cô thôi. Tôi nghĩ trong đó có một hộp màu, bút chì và giấy vẽ.”
Tôi bước lại để nhận lấy: đó là một món quà đáng quý. Anh quan sát khuôn mặt tôi, tôi nghĩ là với vẻ khắc khổ, khi tôi đến gần: dấu vết của những giọt nước mắt chắc hẳn vẫn còn hằn rõ trên đó.
“Cô thấy công việc của ngày đầu tiên vất vả hơn mình tưởng chứ?” anh hỏi.
“Ôi, không! Trái lại, tôi nghĩ rồi đây mình sẽ hòa hợp với lũ trẻ rất tốt thôi.”
“Nhưng có lẽ chỗ ở của cô — ngôi nhà nhỏ này — đồ đạc — đã làm cô thất vọng chăng? Quả thực chúng quá đỗi nghèo nàn, nhưng—” Tôi ngắt lời —
“Nhà của tôi sạch sẽ và kín gió; đồ đạc vừa đủ và tiện dụng. Tất cả những gì tôi thấy chỉ khiến tôi biết ơn chứ không hề nản lòng. Tôi hoàn toàn không phải là kẻ ngốc nghếch hay ham muốn vật chất đến mức phải tiếc nuối sự vắng bóng của thảm trải sàn, ghế sofa và đồ bạc; hơn nữa, năm tuần trước tôi chẳng có gì cả — tôi là kẻ lưu vong, kẻ ăn mày, kẻ lang thang; giờ đây tôi có bạn hữu, có mái nhà, có công việc. Tôi kinh ngạc trước lòng nhân từ của Thượng đế; sự hào phóng của bạn bè; sự ban phát của số phận dành cho tôi. Tôi không hề oán thán.”
“Nhưng cô có cảm thấy sự cô độc là một sự áp bức không? Căn nhà nhỏ phía sau cô kìa, tối tăm và trống trải.”
“Tôi hầu như còn chưa có thời gian để tận hưởng cảm giác yên bình, nói chi đến chuyện đâm ra thiếu kiên nhẫn trước sự cô đơn.”
“Rất tốt; tôi hy vọng cô cảm thấy đúng sự bằng lòng mà cô vừa bày tỏ; dù sao đi nữa, sự khôn ngoan của cô sẽ nhắc nhở cô rằng còn quá sớm để đầu hàng trước những nỗi sợ hãi dao động của vợ Lot. Trước khi tôi gặp cô, những gì cô đã bỏ lại phía sau là gì, dĩ nhiên tôi không biết; nhưng tôi khuyên cô hãy kiên quyết chống lại mọi cám dỗ lôi kéo cô nhìn lại phía sau: hãy kiên định theo đuổi con đường hiện tại của mình, ít nhất là trong vài tháng.”
“Đó là điều tôi định làm,” tôi đáp. St. John tiếp lời —
“Thật khó khăn để kiểm soát những chuyển động của lòng mình và xoay chuyển xu hướng tự nhiên; nhưng tôi biết từ kinh nghiệm bản thân rằng điều đó có thể làm được. Thượng đế đã ban cho chúng ta, ở một mức độ nào đó, quyền tự định đoạt số phận của chính mình; và khi năng lượng của chúng ta dường như đòi hỏi một sự nuôi dưỡng mà chúng không thể có được — khi ý chí của chúng ta gồng mình hướng tới một con đường mà chúng ta không được phép đi theo — chúng ta không cần phải chết đói vì kiệt quệ, cũng chẳng cần đứng ì ra trong tuyệt vọng: chúng ta chỉ cần tìm kiếm một nguồn dưỡng chất khác cho tâm trí, mạnh mẽ không kém thứ thực phẩm cấm kỵ mà nó từng khao khát nếm trải — và có lẽ còn tinh khiết hơn; đồng thời đục đẽo cho bước chân phiêu lưu một con đường thẳng tắp và rộng rãi chẳng kém con đường mà Định mệnh đã chặn đứng đối với chúng ta, dẫu có gập ghềnh hơn.”
“Một năm trước, bản thân tôi từng vô cùng khốn khổ, bởi vì tôi nghĩ mình đã phạm sai lầm khi bước chân vào con đường tu hành: những nhiệm vụ đều đều của nó khiến tôi chán ngản đến chết đi được. Tôi khao khát một cuộc sống thế tục năng động hơn — những lao động kích thích hơn của một sự nghiệp văn chương — số phận của một nghệ sĩ, nhà văn, diễn giả; bất cứ thứ gì còn hơn là làm một linh mục: phải, trái tim của một chính trị gia, một người lính, một kẻ tôn sùng vinh quang, một kẻ ái mộ tiếng tăm, một kẻ khát khao quyền lực, đã đập rộn ràng dưới tấm áo choàng thầy tu của tôi. Tôi suy ngẫm; cuộc đời tôi quá đỗi khốn khổ, nó phải được thay đổi, hoặc là tôi phải chết. Sau một khoảng thời gian tăm tối và đấu tranh, ánh sáng đã ló dạng và sự giải thoát đã buông xuống: sự tồn tại chật chội của tôi bỗng chốc trải rộng ra thành một đồng bằng vô tận — năng lực của tôi nghe thấy tiếng gọi từ thiên đường trỗi dậy, tụ hội toàn bộ sức mạnh, giang rộng đôi cánh và bay vút lên vượt ngoài tầm với. Thượng đế có một sứ mệnh dành cho tôi; để mang nó đi xa, để truyền đạt nó thật tốt, tài nghệ và sức mạnh, lòng dũng cảm và tài hùng biện, những phẩm chất tuyệt vời nhất của một người lính, nhà chính trị và nhà diễn giả, tất cả đều cần thiết: bởi vì tất cả những điều đó quy tụ nơi người truyền giáo chân chính.”
“Tôi đã quyết định trở thành một người truyền giáo. Từ phút giây đó, trạng thái tâm trí của tôi thay đổi; xiềng xích tan rã và rơi khỏi mọi năng lực, không để lại điều gì của sự nô lệ ngoài vết thương nhức nhối của nó — thứ mà chỉ có thời gian mới chữa lành được. Cha tôi, quả thực, đã áp đặt quyết định đó, nhưng kể từ khi ông qua đời, tôi không còn vướng phải chướng ngại chính đáng nào nữa; vài công việc đã được giải quyết, người kế nhiệm ở Morton đã được bố trí, một hai mối tơ vò của tình cảm đã được tháo gỡ hoặc cắt đứt — một cuộc chiến cuối cùng với sự yếu đuối của con người, mà tôi biết mình sẽ vượt qua, bởi vì tôi đã thề là mình sẽ vượt qua — và tôi sẽ rời châu Âu để đến phương Đông.”
Anh nói những lời này với giọng điệu đặc trưng của mình: trầm lắng nhưng đầy sức nặng; khi dứt lời, anh không nhìn tôi, mà nhìn về phía mặt trời lặn, nơi tôi cũng đang hướng mắt về đó. Cả anh và tôi đều quay lưng về phía con lối mòn dẫn ngược qua cánh đồng ra tới chiếc cổng nhỏ. Chúng tôi không hề nghe thấy tiếng bước chân nào trên lối đi mọc đầy cỏ ấy; tiếng nước chảy róc rách trong thung lũng là âm thanh ru hời duy nhất của giờ phút và khung cảnh ấy; thế nên chúng tôi hoàn toàn có thể giật mình khi một giọng nói vui tươi, ngọt ngào tựa chuông bạc cất lên —
“Chào buổi tối, ông Rivers. Và chào buổi tối, chú Carlo già. Con chó của anh còn tinh mắt nhận ra bạn bè nhanh hơn cả anh đấy, thưa anh; nó đãể vểnh tai và ngoe nguẩy cái đuôi khi tôi còn ở dưới chân cánh đồng, vậy mà giờ anh lại đang quay lưng về phía tôi đấy.”
Đó là sự thật. Dù ông Rivers đã giật mình thon thót ngay từ tiếng vọng âm nhạc đầu tiên ấy, tựa như một tia sét xé toạc đám mây trên đỉnh đầu, anh vẫn đứng đó, khi câu nói vừa dứt, trong đúng tư thế mà người vừa lên tiếng đã bắt gặp — cánh tay tựa lên cổng, khuôn mặt hướng về phương tây. Cuối cùng, anh quay người lại với vẻ chậm rãi có chừng mực. Một ảo ảnh, theo tôi thấy, vừa hiện lên bên cạnh anh. Xuất hiện trong khoảng cách chưa đầy ba bước chân là một bóng hình khoác tấm áo trắng tinh khôi — một dáng vóc trẻ trung, duyên dáng; đầy đặn nhưng đường nét thanh tú; và khi, sau cúi mình vuốt ve Carlo, bóng hình ấy ngẩng đầu lên, hất chiếc khăn voan dài ra sau, một khuôn mặt với vẻ đẹp hoàn mỹ liền bừng nở dưới ánh nhìn của anh. Vẻ đẹp hoàn mỹ là một cách nói mạnh mẽ; nhưng tôi không rút lại hay đính chính nó: những đường nét ngọt ngào nhất mà khí ôn hòa của xứ Albion từng tạo tác; những sắc thái hồng và trắng tinh khiết nhất mà những cơn gió ẩm ướt và bầu trời mờ sương của xứ sở ấy từng sản sinh và che chở, đã minh chứng cho danh xưng ấy trong trường hợp này. Không một nét quyến rũ nào thiếu vắng, không một khuyết điểm nào có thể nhận thấy; cô thiếu nữ sở hữu những đường nét thanh tú và đều đặn; đôi mắt được tạo hình và tô điểm như ta vẫn thấy trong những bức tranh xinh đẹp, to tròn, thẫm màu và tràn đầy biểu cảm; hàng lông mi dài và rợp bóng bao bọc lấy một đôi mắt đẹp bằng một nét ma mị dịu dàng biết bao; đôi mày được kẻ vẽ tạo nên sự thanh tú nhã nhặn; chiếc trán trắng ngơ ngác mịn màng, mang lại vẻ điềm tĩnh cho những nét đẹp sống động của sắc màu và ánh sáng; gò má bầu bạt, tươi tắn và mịn màng; đôi môi cũng tươi tắn không kém, ửng đỏ, khỏe mạnh, được tạo hình ngọt ngào; hàm răng đều đặn và sáng ngời không tì vết; chiếc cằm nhỏ lúm đồng tiền; món trang sức là mái tóc dày dặn phong phú — tóm lại là mọi ưu điểm, khi kết hợp lại, hiện thực hóa lý tưởng về cái đẹp, đều hoàn toàn thuộc về cô. Tôi ngắm nhìn sinh linh kiều diễm này mà lòng đầy kinh ngạc; tôi ngưỡng mộ cô bằng cả trái tim mình. Thiên nhiên chắc hẳn đã tạo nên cô trong một phút giây thiên vị, và quên đi phần phân phát keo kiệt như mẹ kế thường ngày, đã ban tặng cho đứa con cưng này sự hào phóng của một bà cụ tổ.
St. John Rivers nghĩ gì về thiên thần hạ giới này? Đương nhiên tôi tự đặt cho mình câu hỏi ấy khi thấy anh quay sang nhìn cô; và cũng tự nhiên không kém, tôi tìm kiếm câu trả lời cho thắc mắc ấy trên nét mặt anh. Anh đã kịp dời ánh mắt khỏi nàng tiên nữ Peri, và đang đập xuống một cụm cúc dại khiêm nhường mọc bên cổng.
“Một buổi chiều đáng yêu, nhưng đã muộn để cô đi dạo một mình,” anh nói, trong lúc dùng giày giẫm nát những bông hoa trắng muốt đang cụp lại.
“Ồ, chiều nay tôi vừa từ S—— trở về thôi” (cô nhắc đến tên một thị trấn lớn cách đó chừng hai mươi dặm). “Ba tôi bảo rằng anh đã mở trường học, và cô giáo mới đã tới; thế nên sau bữa trà, tôi liền đội mũ, chạy ngược thung lũng đến đây để thăm cô ấy: đây là cô ấy phải không?” vừa nói cô vừa chỉ về phía tôi.
“Đúng vậy,” St. John đáp.
“Cô nghĩ mình sẽ thích Morton chứ?” cô hỏi tôi, với vẻ hồn nhiên và bộc trực trong giọng điệu lẫn phong thái, đáng yêu dẫu có chút trẻ con.
“Tôi hy vọng là vậy. Tôi có rất nhiều lý do để làm điều đó.”
“Cô có thấy học trò của mình chăm chỉ như cô mong đợi không?”
“Hoàn toàn đúng thế.”
“Cô có thích ngôi nhà của mình không?”
“Rất thích.”
“Tôi sắp xếp đồ đạc cho cô có đẹp không?”
“Quả thực rất đẹp.”
“Và đã chọn cho cô một người giúp việc tốt là Alice Wood chứ?”
“Quả thực là vậy. Em ấy dễ dạy và tháo vát.” (Thế ra đây là cô Oliver, tiểu thư thừa kế, xem ra vừa được ưu ái về tài sản lẫn nhan sắc! Không biết chòm sao hạnh phúc nào đã ngự trị khi cô ra đời nhỉ?)
“Đôi khi tôi sẽ lên đây giúp cô dạy học,” cô nói thêm. “Thỉnh thoảng đến thăm cô sẽ là một sự đổi gió cho tôi; mà tôi lại thích đổi gió. Ông Rivers, tôi đã có những ngày tháng vô cùng vui vẻ khi ở S——. Tối hôm qua, hay đúng hơn là rạng sáng nay, tôi đã khiêu vũ cho đến tận hai giờ. Trung đoàn thứ —— đã đóng quân ở đó kể từ sau các cuộc bạo động; và các sĩ quan ở đó là những người dễ mến nhất trên đời: họ khiến cho tất cả những chàng thợ mài dao và thợ bán kéo trẻ tuổi của chúng ta phải hổ thẹn.”
Tôi có cảm giác như môi dưới của anh St. John trề ra và môi trên cong lên trong khoảnh khắc. Miệng anh trông thực sự mím chặt lại, và phần dưới khuôn mặt trở nên nghiêm nghị và vuông vức một cách bất thường, khi cô gái cười vang truyền đạt thông tin này cho anh. Anh cũng ngước mắt lên khỏi những bông cúc dại, và hướng chúng về phía cô. Đó là một cái nhìn không mỉm cười, một cái nhìn dò xét, đầy ngụ ý. Cô đáp lại nó bằng một tràng cười thứ hai, và tiếng cười ấy rất hợp với tuổi trẻ, với đôi má ửng hồng, những chiếc lúm đồng tiền và đôi mắt sáng rực của cô.
Khi anh đứng đó, im lặng và nghiêm nghị, cô lại quay sang vuốt ve con Carlo. “Carlo tội nghiệp yêu quý tôi,” cô nói. “Nó không hề nghiêm nghị và lạnh lùng với bạn bè; và nếu nó biết nói, nó sẽ chẳng giữ im lặng đâu.”
Khi cô vỗ về đầu con chó, cúi người với vẻ duyên dáng bẩm sinh trước người chủ trẻ tuổi và khắc khổ của nó, tôi thấy một ánh hồng bừng lên trên khuôn mặt của người chủ ấy. Tôi thấy ánh mắt trang nghiêm của anh tan chảy trong thứ lửa đột ngột và chớp lóe với cảm xúc không thể cưỡng lại. Bừng sáng và rực lửa như thế, trông anh đẹp trai chẳng kém gì cô khi đứng trước một người phụ nữ. Lồng ngực anh phập phồng một nhịp, tựa như trái tim rộng lớn của anh, vốn đã mệt mỏi vì sự kìm kẹp độc đoán, nay bỗng bung nở bất chấp ý chí, và thực hiện một cú nhảy vung mạnh mẽ để giành lấy sự tự do. Nhưng tôi nghĩ anh đã kìm hãm nó lại, giống như một kỵ sĩ kiên quyết đang kìm giữ con ngựa chiến đang chồm lên. Anh chẳng đáp lại bằng lời nói cũng chẳng bằng hành động nào trước những cử chỉ dịu dàng hướng về phía mình.
“Ba bảo rằng dạo này anh chẳng bao giờ đến thăm chúng tôi nữa,” cô Oliver tiếp lời, ngước mắt lên nhìn. “Anh hoàn toàn trở thành một vị khách xa lạ tại Vale Hall rồi đấy. Buổi tối nay ba ở nhà một mình, và sức khỏe không được tốt lắm: anh có muốn quay về cùng tôi để thăm ông ấy không?”
“Bây giờ không phải là thời điểm thích hợp để quấy rầy ông Oliver,” St. John đáp.
“Không phải thời điểm thích hợp ư! Nhưng tôi dám chắc là đúng lúc đấy chứ. Đây chính là lúc ba rất cần có người bầu bạn: khi các xưởng làm việc đã đóng cửa và ông chẳng còn bận bịu việc gì nữa. Nào, anh Rivers, hãy đi đi chứ. Tại sao anh lại cứ phải rụt rè và ủ dột đến thế?” Cô tự lấp đầy khoảng trống mà sự im lặng của anh để lại bằng câu trả lời của chính mình.
“Tôi quên mất!” cô kêu lên, lắc lắc mái tóc xoăn xinh đẹp cứ như đang tự trách bản thân. “Tôi thật là phù phiếm và thiếu suy nghĩ! Xin anh hãy tha lỗi cho tôi. Tôi đã quên bén mất rằng anh có những lý do chính đáng để không muốn tham gia vào những lời trò chuyện nhảm nhí của tôi. Diana và Mary đã rời khỏi anh rồi, Moor House thì đóng cửa, và anh lại cô đơn xiết bao. Tôi chắc chắn là mình rất thương hại anh. Nào, hãy đến thăm ba đi.”
“Không phải tối nay, thưa cô Rosamond, không phải tối nay.”
St. John nói gần như một cỗ máy: chỉ có bản thân anh mới hiểu được sự cố gắng nhường nào để anh có thể thốt ra lời từ chối ấy.
“Thôi được, nếu anh đã cứng đầu như vậy, tôi sẽ để anh đi; vì tôi không dám ở lại lâu hơn nữa: sương đã bắt đầu rơi rồi. Chào buổi tối!”
Cô chìa tay ra. Anh chỉ khẽ chạm vào. “Chào buổi tối!” anh lặp lại, bằng một giọng trầm và rỗng tuếch như tiếng vọng. Cô quay người bước đi, nhưng chỉ một thoáng sau lại quay lại.
“Anh không khỏe à?” cô hỏi. Thật hợp lý khi cô đặt câu hỏi đó: khuôn mặt anh trắng bệch chẳng khác nào tà áo của cô.
“Tôi hoàn toàn khỏe,” anh thốt lên; và kèm theo một cái cúi đầu, anh rời khỏi cổng. Cô đi một hướng; anh đi một hướng khác. Cô quay đầu lại nhìn theo anh hai lần khi cô bước đi thoăn thoắt tựa tiên nữ xuống cánh đồng; còn anh, khi sải những bước kiên quyết băng qua, tuyệt nhiên không ngoảnh đầu lại lấy một lần.
Cảnh tượng về nỗi đau khổ và sự hy sinh của người khác đã kéo tâm trí tôi ra khỏi sự chiêm nghiệm độc tôn về nỗi niềm của chính mình. Diana Rivers từng miêu tả anh trai mình là kẻ “vô tình như cái chết.” Quả thật cô không hề phóng đại.