Mặt Nạ Tử Thần Đỏ

Lượt đọc: 188 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chiếc Hòm Gỗ Bí Ẩn
E. A. Poe

❊ ❊ ❊

Đó là chuyện của mấy năm trước, tôi đã đặt vé tàu biển từ Charleston đến thành phố New York. Con tàu mà tôi định đi là con tàu chở thư rất đẹp có tên là Độc Lập, do ông Hoocdi làm thuyền trưởng. Nếu thời tiết thuận lợi thì ngày Mười lăm tháng Sáu, tàu sẽ nhổ neo. Để có thời gian sắp xếp lại một chút căn phòng mà tôi đã đặt, tôi liền lên tàu vào ngày Mười bốn.

Nhìn danh sách hành khách, tôi thấy tàu đã kín chỗ, số khách nữ đông hơn bình thường. Trong số các hành khách ấy, tôi nhận ra tên của một vài người quen, và rất mừng khi phát hiện ra tên của Coolins Waigate. Anh ta là một họa sĩ trẻ, bạn khá thân thời sinh viên của tôi. Hồi còn ở đại học, chúng tôi khá thân thiết với nhau, anh ta rất có tài, mẫn cảm, cuồng nhiệt và hơi cao ngạo một chút. Tính khí anh ta hơi đồng bóng, có lúc tỏ ra yếm thế, xa lánh mọi người, lúc lại cực kì nồng nhiệt. Tuy vậy, với tính cách đó, anh ta vẫn là người có một trái tim nồng hậu và chân thành hiếm có trên đời.

Trên danh sách hành khách, tôi phát hiện anh ta đặt vé cho bốn người: anh, vợ anh và hai cô em gái. Buồng ở trên tàu cũng khá rộng rãi, mỗi buồng đều kê hai giường (tầng trên và tầng dưới). Nhưng giường hơi hẹp, chỉ đủ cho một người nằm, không thể nằm chung được. Lúc ấy, đầu óc tôi hơi kì cục, rất tò mò với việc nhỏ nhặt linh tinh của người khác. Tôi phải xấu hổ mà thừa nhận với bạn đọc rằng, tôi có những phỏng đoán rất khác lạ và hoang đường đối với chuyện đặt giường kì cục trên của anh ta. Tôi không quan tâm tới chuyện của anh ta, nhưng lại rất muốn làm rõ những bí ẩn kì cục đó. Cuối cùng, tôi cũng hiểu ra, thật kì lạ là tại sao mình lại không nghĩ ra được câu trả lời cho một chuyện đơn giản như thế!

“Đương nhiên là trong số đó phải có một người hầu chứ. Cô ta sẽ phải ngủ dưới sàn tàu, sát với giường của vợ anh ta.” Tôi nghĩ. “Mình ngốc thật, chuyện dễ vậy mà cũng không nghĩ ra!”

Sau đó, tôi cẩn thận xem lại danh sách, nhưng rõ ràng trên bảng danh sách khách đi tàu không hề ghi là có mang theo người hầu.

“Chắc chắn là có kèm thêm một người hầu, có lẽ dòng chữ ấy đã bị gạch bỏ rồi. Ồ, vậy nhất định là phải có rất nhiều hành lí, một cái hòm gỗ thông to bí ẩn chẳng hạn.” Tôi tự giải thích với mình. “Những đồ đạc quý giá mà anh ta luôn phải đích thân mang theo bên mình, thứ mà anh ta luôn phải để mắt tới. Ồ! Tôi biết rồi, đó chắc hẳn là một bức tranh lớn, bức tranh mà anh ta có thể bán với giá cao ngất ngưởng cho một lái buôn Do Thái tầm cỡ ở Italia cũng nên!”

Tôi rất hài lòng với đáp án này, tạm thời thôi không đoán mò nữa.

Nhưng chỉ vài hồi sau, tôi liền biết hai tiểu thư đi cùng đều là em gái của anh ta. Tôi cũng quen hai cô em gái của anh ta, cả hai đều rất đáng yêu, xinh đẹp và lương thiện. Nhưng còn người vợ mới cưới của anh ta thì tôi chưa gặp lần nào. Có điều, anh ta cũng rất nhiệt tình kể về cô ấy trước mặt tôi với một tình cảm tha thiết và vô cùng sâu đậm. Anh ta miêu tả cô ấy là người tuyệt sắc giai nhân, vừa thông minh, xinh đẹp, lại đa tài, nên tôi rất hồi hộp, càng muốn nhanh chóng được làm quen với cô ấy.

Ngày Mười bốn tôi lên tàu, cũng là ngày anh ta lên tàu. Điều này là do thuyền trưởng nói cho tôi biết, vì vậy tôi cố nán lại hơn một tiếng đồng hồ, với hi vọng gặp được cô dâu mới. Nhưng đáng tiếc là sau đó tôi lại nhận được tin không vui.

- Phu nhân ngài Waigate không được khỏe nên xin tạ lỗi. Ngày mai, trước khi tàu chạy, bà ấy mới lên tàu.

Hôm sau, tôi từ khách sạn ra thẳng bến tàu, đến gặp thuyền trưởng. Ông ấy nói với tôi là do tình thế (đó thật ra là một sự giải thích ngốc nghếch), thời tiết xấu nên tàu phải khởi hành chậm lại một, hai ngày. Tôi lập tức thấy có điều gì đó không ổn trong lí do ông ta đưa ra. Thà ông ấy cứ nói thẳng là con tàu còn bị kẹt gì đó chưa chuẩn bị xong nên hoãn thời gian khởi hành lại một, hai ngày gì đó cho xong. Tôi thầm nghĩ vậy.

Ông ta còn nói khi nào chuẩn bị xong, ông ta sẽ bảo người tới báo cho tôi biết. Điều này làm tôi rất buồn, vì lúc ấy gió nam đang thổi nhẹ, không có dấu hiệu của biển động. “Tình thế” mà ông ta nói là gì, ông ta vẫn không chịu tiết lộ. Chẳng biết làm thế nào, tôi đành quay về, tìm cách giết thời gian vậy.

Gần hết tuần lễ trôi qua mà vẫn chẳng thấy thông báo từ ông thuyền trưởng. Sau đó vài hôm, cuối cùng cũng có người tới báo ngày tàu nhổ neo. Tôi lập tức đến ngay bến cảng, thấy tàu đã chật cứng người, cảnh tượng trước khi khởi hành vô cùng huyên náo. Mười phút sau khi tôi có mặt, anh Waitage cùng hai cô em gái, cô vợ mới cưới mới lên tàu. Anh chàng họa sĩ tính tình hơi cô độc, nhưng may là tôi đã quen với kiểu lạnh nhạt của anh ta rồi, nên cũng không bận tâm nữa. Anh ta thậm chí còn không giới thiệu tôi với vợ mình mà đùn đẩy trách nhiệm ấy cho cô em gái - tiểu thư Mania, một cô gái thông minh và dịu dàng. Cô ấy đành vội vã nói vài lời xã giao giới thiệu với chúng tôi.

Phu nhân Waitage che mạng kín mặt. Khi cô ấy vén mạng che mặt ra đáp lễ cử chỉ cúi chào lịch sự của tôi, tôi phải thừa nhận là đã vô cùng ngạc nhiên. Nếu không phải do kinh nghiệm nhiều năm mách bảo, tôi cũng không thể hoàn toàn tin được vào những lời anh ta từng miêu tả về vẻ đẹp của vợ mình. Cô ấy nhan sắc tầm thường, chẳng hề có những nét xinh đẹp và quý phái như anh ta vẫn mô tả bằng những lời lẽ vô cùng say đắm. Phải chăng vì quá mê cô ấy mà anh bạn tôi đã dễ dàng châm chước khi nhận xét về nhan sắc của cô vợ trẻ?

Phải nói thực là cô vợ của anh ta không xinh nhưng cũng không thể coi là xấu, tuy vậy, theo tôi thì còn lâu mới đẹp. Cô ấy ăn vận rất tao nhã và đúng mốt. Có thể cô ấy chinh phục bạn tôi bằng chính sự duyên dáng, sức hút của một tâm hồn trong sáng và đầy sức truyền cảm. Cô ấy rất ít nói, chỉ chào hỏi tôi vài câu xã giao rồi nhanh chóng đi vào buồng cùng chồng mình.

Tính hiếu kì của tôi lại bị kích thích. Điểm thắc mắc chính của tôi vẫn là không có người hầu đi theo. Thế là tôi lại cố ngó xem có hành lí gì thêm không. Một lát sau, có một cỗ xe ngựa chạy tới bến tàu, chở theo một thùng gỗ thông to hình chữ nhật và dường như đó chính là thứ mà mọi thành viên trong gia đình bạn tôi đều đang ngóng đợi. Chiếc thùng gỗ đặc biệt đó vừa được đưa lên là tàu liền nhổ neo, qua doi cát, vượt khỏi sự kiểm soát của cảng, nhanh chóng thẳng tiến ra biển.

Đúng như tôi nghĩ, chiếc thùng bí ẩn mà tôi tò mò chú ý có độ dài khoảng sáu thước Anh[1] và rộng gần hai thước rưỡi[2], tôi phải ước lượng tương đối chính xác để viết ra cho đúng. Hình dáng của nó khá đặc biệt, vừa nhìn thấy, tôi đã thầm hài lòng vì mình đoán khá đúng. Bạn đọc còn nhớ không, tôi đã đoán trong đó có thể là một vài bức tranh lớn, hoặc ít ra cũng là một bức danh họa lớn được cuộn lại. Bởi tôi biết, anh ta đã phải mất mấy ngày liền thương lượng với ngài Nikolinya, mà cái thùng này, theo tôi thấy thì kích thước cũng chỉ để vừa bức tranh phục chế Bữa tối cuối cùng của Leonardo Da Vinci. Bức tranh ấy có hai bản sao vô cùng nổi tiếng, một do họa sĩ trẻ Rubini ở Florence vẽ, một do anh ta vẽ lại, hiện đang thuộc quyền sở hữu của Nikolinya. Chính vì vậy, tôi cho là vấn đề đã được giải quyết, bức tranh được chuyển sang cho anh ta rồi. Tôi rất vui vì thấy rằng mình thông minh đến vậy. Tôi nghĩ mình là người đầu tiên phát hiện ra bí mật mà anh ta vẫn đang cố tình che giấu. Lần này hiển nhiên là anh ta muốn giấu tôi để đưa tranh sang New York, mà vẫn cứ hi vọng tôi không biết chuyện này. Tôi quyết định bắt nọn một vố để anh ta nhớ đời.

[1]. Tương đương 1,85 mét.

[2]. Tương đương 0,75 mét.

Nhưng còn một việc khiến tôi càng thêm tò mò là cái thùng đó lại không được chuyển vào căn buồng lớn, mà được chuyển ngay vào phòng riêng của Waitage, còn kê sát vào giường ngủ của anh ta. Nó gần như chiếm hết chỗ trống của căn buồng, khiến vợ chồng họ đi lại rất bất tiện, nhất là mùi hắc ín sơn trên hòm với đủ loại hình rồng phượng bốc ra rất khó chịu. Với tôi, đó là thứ mùi kinh khủng, rất dễ gây nôn ọe. Thế mà họ không những chịu đựng được cái mùi kinh khủng đó, lại còn tỏ ra quan tâm đặc biệt tới chiếc hòm, cứ như thể nó đang chứa đầy châu báu. Trên nắp có đề tên người nhận: “Phu nhân Adelaie Cadis, Albani. New York. Ngài Colinius Waitage. Mặt này lên trên, xin nhẹ tay!”

Tôi biết phu nhân Cadis chính là mẹ vợ của Waitage, nhưng tôi cho rằng địa chỉ này chỉ là giả để cố ý đánh lừa tôi. Tuy vậy. tôi vẫn thấy có điều gì đó khó hiểu, vì nếu trong đó chỉ là những bức tranh thì tại sao lại phải gửi tới tận Albani xa xôi?

Ba, bốn ngày đầu, thời tiết trên biển rất đẹp, có điều bị ngược gió nên sau khi bờ biển đã khuất, tàu liền chuyển sang hướng bắc. Do thời tiết tốt nên hành khách rất vui vẻ, thường tụ họp nhau trò chuyện, tán gẫu, chỉ trừ Waitage và hai cô em gái, họ luôn tỏ thái độ miễn cưỡng khi tiếp xúc với mọi người. Cách xử sự của họ rất cứng nhắc, buộc tôi phải cho rằng họ không lịch sự cho lắm. Biểu hiện của anh ta thì càng khiến tôi không dám tới gần, nét mặt anh ta u uất, rầu rĩ, cứ như sắp khóc đến nơi. Tôi cũng chẳng lạ gì tính cách ấy nữa nhưng hai cô em gái của anh ta thì tôi không sao hiểu nổi. Phần lớn thời gian các cô ấy đều ở trong buồng, mặc dù tôi đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng họ vẫn không chịu nói chuyện với bất kì ai.

Trong số những người thuộc gia đình Waitage, vợ anh ta có vẻ dễ gần nhất, cô ấy rất thích nói chuyện phiếm, nhưng ở trên tàu, việc này lại không lấy gì làm hay cho lắm. Cô ấy rất nhiệt tình với các phu nhân trên tàu, mau chóng trở nên thân thuộc với họ. Nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên là cô ấy đã vài ba lần tham gia vào những câu chuyện cợt nhả với đám đàn ông. Không thể phủ nhận là cô ấy mang lại sự vui vẻ cho mọi người. Tôi nói “mang lại sự vui vẻ” vì không biết phải nói thế nào cho phải. Tôi nhanh chóng phát hiện trong phần lớn trường hợp, ngoại trừ các quý ông ra, các quý bà đều cười nhạo chứ không phải cười vui với cô ấy. Các quý ông rất ít khi bàn luận về cô ấy, nhưng các quý bà thì chỉ qua một vài lần tiếp xúc đã nhanh chóng quả quyết: “Cô ta là người bộc tuệch, tốt, nhan sắc bình thường, vô duyên và ít học.” Điều khiến người ta không sao hiểu nổi là anh bạn tôi ăn phải bùa mê thuốc lú gì mà lại lấy người như vậy? Câu trả lời: vì tiền! Nhưng tôi biết trường hợp của Waitage không hẳn là như vậy. Anh ta từng tâm sự với tôi là anh ta chẳng hề nhận tiền bạc hoặc bất cứ của cải gì từ cô ấy. Họ đến với nhau và cưới nhau chỉ vì tình yêu, cô ấy rất đáng để anh ta yêu. Tôi thừa nhận mình nghi ngờ những lời này của anh ta. Liệu thần kinh của anh ta có vấn đề không? Hay là tôi đã suy nghĩ quá nhiều? Anh ta là người nho nhã, thông minh, mẫn cảm và yêu cái đẹp. Còn cô ấy lại quá thô tục, quá tầm thường, đương nhiên là cô ấy rất kính trọng anh ta, nhất là khi không có mặt anh ta, cô ấy thường dùng các từ “ngài Waitage, người chồng yêu quý” để nói về anh ta, có vẻ rất tức cười. Từ “chồng” có vẻ như luôn luôn - nói theo cách của cô ấy - luôn luôn nằm trên đầu lưỡi của cô ấy. Nhưng mọi người trên tàu đều phát hiện ra rằng, anh ta rõ ràng luôn muốn tránh mặt vợ, phần lớn thời gian đều giam mình trong phòng. Thực tế là hầu như cả ngày anh ta đều ở trong đó, mặc cho vợ tự do tới các khoang khác trên tàu, buôn chuyện với khách khứa cho vui.

Theo những gì nghe và thấy được, tôi tự nhận định: Chàng họa sĩ kia chắc là do sự trớ trêu không thể giải thích nổi của số phận, hoặc do dự say mê bồng bột nhất thời, do ảo tưởng và sự cuồng nhiệt chi phối, nên đã lấy nhầm phải một cô vợ hoàn toàn không tương xứng. Và kết quả là anh ta đã rất nhanh chán ngán cô ta. Từ đáy lòng, tôi rất đồng tình với anh ta, nhưng không thể vì thế mà tha thứ cho việc anh ta cố tình giấu giếm tôi về những bức tranh trong chiếc hòm gỗ bí ẩn. Tôi quyết định phải làm cho rõ chuyện này.

Một hôm, anh ta rời phòng lên boong tàu với tôi. Theo thói quen, tôi thân mật khoác tay anh ta cùng đi dạo trên boong tàu như mọi lần trước đây. Tinh thần u uất của anh ta đang dâng cao như vậy nên tôi cho rằng khi đi thơ thẩn cạnh tôi, anh ta chẳng khá lên chút nào là một lẽ đương nhiên. Anh ta chẳng chịu nói gì, cư xử rất thất thường, nếu buộc phải nói thì cũng chỉ là vài câu rầu rĩ. Tôi thử trêu chọc anh ta, nói vài lời bông đùa để phá vỡ bầu không khí lặng lẽ thì chỉ thấy anh ta cười gượng gạo, trông rất đáng thương. Nghĩ tới cô vợ của anh ta, tôi thấy lạ rằng sao anh ta có thể giả vờ như thế được. Cuối cùng, tôi đánh liều thử chạm vào điểm yếu của anh ta xem sao. Tôi quyết định dùng cách ám chỉ hoặc nói bóng gió về cái thùng gỗ hình chữ nhật kia, để cho anh ta dần dần hiểu ra rằng, tôi không phải là kẻ dễ bị dắt mũi trong vụ lừa đảo kì lạ này. Trước tiên, tôi nói tới hình dáng và kích cỡ không bình thường của chiếc hòm gỗ hình chữ nhật kì dị đó, để ám chỉ hành động che giấu vụng về mà tôi đã biết tỏng của anh ta. Đồng thời, tôi mỉm cười và còn nháy nháy mắt, chọc nhẹ ngón cái vào mạng sườn của anh ta.

Phản ứng kì lạ của anh ta trước hành động đầy thiện ý này của tôi đã khiến tôi khẳng định một cách chắc chắn rằng anh ta bị điên rồi. Ban đầu, anh ta trừng mắt nhìn tôi, vẻ như không hiểu tôi nói gì, mắt anh ta mở to, con ngươi như lồi hẳn ra ngoài. Sau đó, mặt anh ta đỏ tưng bừng rồi đột ngột tái dại đi. Sau đó, như hiểu ra ẩn ý trong những lời bóng gió đó, anh ta đột nhiên cười phá lên, càng cười càng to. Anh ta cứ cười như vậy đến hàng chục phút, khiến tôi vô cùng kinh ngạc, chẳng hiểu ra sao nữa. Cuối cùng, anh ta ngã vật xuống sàn tàu. Khi tôi đỡ dậy, anh ta đã mê man bất tỉnh, giống như một xác chết. 

Tội vội gọi bác sĩ tới cấp cứu, mãi mới làm anh ta tỉnh lại được. Sau khi tỉnh lại, anh ta ú ớ hồi lâu, chẳng ai hiểu gì. Sau đó, chúng tôi mỗi người một tay đưa anh ta lên giường. Hôm sau, có vẻ như anh ta đã hoàn toàn hồi phục, nhưng tôi biết đó chỉ là thể xác thôi, chứ đầu óc anh ta thì đã suy sụp hoàn toàn. Trong suốt cuộc hành trình về sau, tôi nghe theo lời cảnh báo của thuyền trưởng, luôn tìm cách tránh mặt anh ta. Về việc thần trí anh ta có bất thường hay không thì cách nhìn nhận của thuyền trưởng cũng giống tôi, nhưng ông ta khuyên tôi chớ nên nói chuyện này cho bất cứ ai trên tàu.

Từ sau khi anh bạn tôi đổ bệnh, một vài việc liên tiếp xảy ra càng kích thích trí tò mò trong tôi trở nên mãnh liệt. Do uống quá nhiều trà đặc, thần kinh của tôi vô cùng căng thẳng, buổi tối rất khó ngủ. Bằng chứng là hai đêm qua tôi hầu như thức trắng. Cửa phòng của tôi mở thông sang buồng lái và nhà ăn, tất cả các phòng đơn nam trên tàu đều như vậy cả. Ba buồng mà anh bạn tôi đặt lại khuất ở đằng sau, ngăn cách với buồng lái bằng một cánh cửa lùa, cánh cửa trượt giữa hai khoang ấy trượt ra và tự mở liên tục, cũng chẳng ai muốn tự chuốc lấy phiền hà mà ra đóng nó lại. Phòng tôi nằm ở vị trí khá hay, mỗi khi cửa phòng tôi và cánh cửa lùa ngăn hai khoang cùng mở (do trời nóng nên tôi luôn mở cửa phòng) là tôi lại nhìn thấy rõ hết cả lối đi chung và khoang sau, mà cả ba phòng anh bạn tôi thuê đều nằm trong khu vực ấy. Có hai đêm (không phải hai đêm liền), khi tôi không ngủ được, vào khoảng mười một giờ, tình cờ tôi thấy vợ của Waitage nhẹ nhàng lẻn ra khỏi phòng chồng, vào gian phòng trống kia. Cô ta ở đó đến tận sáng hôm sau, khi chồng gọi mới quay về. Hiển nhiên là họ ở riêng, mỗi người một phòng, chắc là đang tính chuyện li hôn hẳn. Như vậy là tôi đã tìm ra bí mật của gian buồng trống.

Còn một tình huống khác cũng làm tôi cảm thấy hứng thú. Trong hai đêm tôi bị mất ngủ đó, sau khi cô vợ của Waitage vào gian buồng trống không lâu, tôi nghe rõ có tiếng nói chuyện nho nhỏ và các tiếng động khẽ, nhưng rất kì lạ, tiếng đó lại vọng ra từ phòng Waitage. Tôi dỏng tai lên nghe ngóng, cuối cùng cũng hiểu được cái gì đằng sau tiếng động đó. Hóa ra anh chàng họa sĩ đã dùng đục và búa để cạy cái thùng hình chữ nhật kia ra. Tiếng vọng nghe rất trầm và đục, hiển nhiên là đầu búa đã được bọc vải mềm.

Một lát sau, tiếng gõ im bặt. Tôi cố dỏng tai lên mà cũng chẳng nghe thấy gì nữa. Có thể anh ta đã mở được nắp hòm rồi đặt nó lên giường. Sở dĩ tôi đoán được như vậy là nhờ nghe thấy tiếng nắp thùng khẽ va vào thành giường. Anh ta đặt nó xuống giường rất cẩn thận. Sau đó thì hoàn toàn im lặng, cho tới sáng cũng không nghe thấy động tĩnh gì nữa. Cả hai đêm đều như vậy. Nhưng có một việc, tôi có thể khẳng định rằng mình đã nghe thấy tiếng sụt sịt, nức nở rất nhỏ, âm thanh như bị nén lại, nhỏ tới mức khó có thể nghe thấy một cách rõ ràng. Nhưng đó cũng có thể chỉ là do tôi tưởng tượng mà thôi. Và tôi đành cố tin đó chỉ là ảo giác của mình. Không nghi ngờ gì nữa, anh chàng họa sĩ này vẫn chìm đắm trong trạng thái cuồng nhiệt của nghệ thuật nên vô thức làm mọi việc theo thói quen mà thôi. Anh ta mở chiếc hòm chẳng phải là để cặp mắt được thỏa mãn trước kho báu nghệ thuật vô giá đó sao? Nhưng việc này thì có gì mà khiến anh ta phải sụt sịt? Do đó, tôi xin nhắc lại, đó có thể hoàn toàn là do ảo giác của tôi, bởi tôi đã uống quá nhiều trà đặc mà thuyền trưởng mời. Trong hai ngày ấy, khi trời gần sáng, tôi nghe rõ tiếng đậy nắp thùng, cả tiếng búa bọc vải đóng đinh lại như cũ. Xong đâu đấy, anh ta mới ăn mặc chỉnh tề, bước ra khỏi phòng, tới buồng phu nhân để gọi cô ta ra.

Chúng tôi đã lênh đênh trên biển được bảy ngày. Khi tới mũi Hatteras thì có gió tây nam thổi rất mạnh. Biển động dữ dội, nguy cơ sắp có một cơn bão lớn ập tới. Nhưng chúng tôi đã chuẩn bị từ trước, bởi thời gian này thời tiết luôn bất thường. Con tàu khá chắc chắn, dù trải qua sóng to gió lớn mà vẫn vững vàng. Nó bị xô đẩy lung tung, nổi lên chìm xuống trước những tình huống cực kì nguy hiểm nên chúng tôi không thể tiến thêm được, buồm trước và buồm sau của tàu đều đã rúm cả lại.

Chúng tôi cứ để tàu trôi dạt vô định như thế suốt bốn mươi tám giờ liền. Con tàu này quả nhiên rất chắc chắn, từ đầu đến cuối không hề bị rò rỉ. Nhưng cuối cùng, do gió giật mỗi lúc một dữ, cơn lốc cực mạnh tràn tới đã xé tơi tả những cánh buồm to phía đuôi tàu. Con tàu lắc lư quá mạnh, mấy con sóng cực lớn cùng ập vào chúng tôi. Trong sự cố ấy, có ba người cùng người đầu bếp bị cuốn xuống biển, mất tăm. Mạn trái tàu bị sóng đánh móp nhiều chỗ. Chúng tôi chưa kịp định thần thì những cánh buồm phía trước đã bị các con sóng chồm lên, xé tan ra thành từng mảnh nhỏ. Ngay lập tức, thuyền trưởng ra lệnh cho chúng tôi dỡ bỏ cánh buồm ở mạn tàu đối diện, để con tàu thoát khỏi nguy cơ bị chìm vì nghiêng lệch, để có thể tiếp tục cuộc hành trình mong manh này thêm được vài giờ nữa.

Gió vẫn giật mạnh, con tàu rung lên bần bật, các thiết bị trên tàu hầu như đã bị hư hỏng nặng. Chúng tôi ở trong tình trạng nguy khốn, vô cùng tuyệt vọng. Cứ như vậy, đến ngày thứ ba thì cột buồm phía buồng lái cũng bị gió lốc quật giật ác liệt, làm nó tơi tả.

Thế nhưng cơn bão vẫn tiếp tục gào rú, gió lốc vẫn hung hãn giật từng cơn, xem ra không có dấu hiệu sẽ ngừng lại. Vào khoảng năm giờ chiều ngày thứ ba, kể từ khi tàu gặp bão, cột buồm phía buồng lái bị gió quật gãy, làm cả con tàu lớn tròng trành, nghiêng hẳn đi do bị lắc mỗi lúc một dữ dội. Đang lúc bối rối thì người thợ sửa chữa tàu chạy lên báo hầm tàu đã bị nước tràn vào tới mười phân rồi. Điều khiến chúng tôi càng lúng túng hơn là bơm nước đã bị hỏng, không dùng được nữa.

Tất cả trở nên vô cùng hỗn loạn và tuyệt vọng. Nhưng còn nước còn tát, chúng tôi vẫn cố dùng tay tát nước để tàu nhẹ bớt đi, mặt khác quẳng hết những hàng hóa không cần thiết xuống biển. Hai cột buồm còn sót lại cũng bị hạ luôn, riêng chiếc máy bơm vẫn chẳng thể làm được gì, mà nước qua lỗ thủng tràn vào tàu ngày càng nhiều. Gần tối, gió giảm, biển cũng lặng hơn một chút, chúng tôi mới bớt hoảng sợ, trong lòng vẫn còn ôm chút hi vọng mong manh là có thể thoát nạn bằng xuồng cứu sinh. Khoảng tám giờ tối, trời quang mây tạnh, gió cũng đã tan, vầng trăng tròn vành vạnh chiếu xuống con tàu tả tơi. Nhìn bầu trời cao vời vợi, chúng tôi phấn chấn hẳn lên.

Sau những thảm họa kinh hoàng tưởng như không vượt qua nổi, các thủy thủ với sự nỗ lực phi thường đã đưa được con tàu tới eo biển Ôracốc. Và trong sự phấn khởi vô biên, chúng tôi đã mở một tiệc mừng nho nhỏ, trước khi xuống xuồng cứu sinh rời bỏ con tàu.

Thuyền trưởng cùng mười bốn hành khách còn lại trên tàu quyết tâm dùng một chiếc xuồng cứu sinh nhỏ ở đuôi tàu để thử vận may. Sau một hồi nỗ lực tột bậc, chúng tôi cũng đã gặp thuận lợi, điều này phải được coi là một kì tích. Trên xuồng có vợ chồng thuyền trưởng, mấy người nhà của Waitage, một sĩ quan người Mexico cùng vợ và bốn đứa con, tôi và một nô bộc người da đen.

Đương nhiên, ngoài vật dụng thiết yếu không thể thiếu được là ít thực phẩm và quần áo ra, không thể chở thêm được gì. Ai ngờ, xuồng vừa đi được vài mét, anh Waitage bình tĩnh đứng dậy, yêu cầu thuyền trưởng cho xuồng quay lại, để anh sang tàu đưa chiếc thùng gỗ bí ẩn hình chữ nhật kia xuống. Điều ấy khiến mọi người vô cùng kinh ngạc.

- Thưa ngài, xin ngài ngồi xuống cho! - Thuyền trưởng nghiêm khắc nói. - Nếu ngài không ngồi yên sẽ làm xuồng bị lật đấy. Chẳng phải mép xuồng của chúng ta đã chạm mặt nước rồi sao?

- Chiếc hòm gỗ của tôi! - Anh ta vẫn đứng đó hốt hoảng gào lên. - Xin hãy giữ lại chiếc hòm gỗ ấy cho tôi, nghe không? Thuyền trưởng! Ngài không thể và không được từ chối tôi. Chiếc hòm ấy rất nhẹ, không hề nặng đâu. Xin Chúa hãy cứu rỗi cho linh hồn của ngài! Hãy cho xuồng quay lại, để tôi lấy cái hòm ấy. Thuyền trưởng, tôi cầu xin ngày đấy!

Thuyền trưởng im lặng, có vẻ đã bị lung lạc và cảm kích trước lời cầu xin của anh ta. Nhưng ngay sau đó, ông ta trấn tĩnh lại, lạnh lùng và nghiêm khắc nói:

- Thưa ngài! Ngài điên rồi! Tôi không thể nghe theo lời ngài được. Hãy nghe tôi, ngồi yên xuống, nếu không ngài sẽ làm xuồng chìm luôn đấy. Chớ động đậy! Hãy ngăn anh ta lại, giữ lấy anh ta! Anh ta muốn nhảy xuống biển, tôi biết mà, anh ta nhảy mất rồi!

Thuyền trưởng vừa dứt lời, anh chàng họa sĩ đã nhảy khỏi xuồng. Mà chúng tôi lại đang ở phía cao của con tàu chìm. Bằng nội lực phi thường, anh ta cố sức tóm được sợi dây thừng đang rủ xuống, loáng cái đã leo lên được sàn tàu, xông vào trong khoang như một gã điên.

Lúc ấy, xuồng chúng tôi lại bị gió thổi dạt về phía đuôi tàu, rất dễ bị lật vì bão vẫn chưa ngừng hẳn. Chúng tôi đành phó thác số phận cho biển cả, để xuồng trôi tự do. May thay, nó vẫn giữ được thăng bằng tuy rằng phải chở quá tải. Chiếc xuồng như một cọng lông nhỏ tròng trành trong bão tố, bị gió đẩy vượt lên mũi tàu. Trong chốc lát, chúng tôi đã chứng kiến khá rõ những khoảnh khắc cuối cùng của người họa sĩ, mà dường như vận mệnh đã an bài như vậy. Khoảng cách giữa chiếc xuồng và con tàu bị gió đẩy ra ngày càng xa. Lúc ấy, chúng tôi còn nhìn thấy gã điên (đành phải gọi anh ta như vậy) xuất hiện với chiếc thang dây trên tàu, một mình kéo chiếc hòm gỗ trên boong với một sức mạnh phi thường. Trong nỗi kinh hoàng, chúng tôi còn thấy anh ta lấy sợi dây thừng to quấn mấy vòng vào chiếc hòm, rồi quấn tiếp vào người vài vòng nữa, sau đó nhảy xuống biển cùng với cái hòm. Chốc lát, cả hai đã chìm nghỉm, mãi mãi không thấy đâu nữa!

Chúng tôi đau buồn dừng chèo, thương xót nhìn ngó nơi anh ta vừa chìm xuống, mãi sau mới có thể tiếp tục chèo đi. Tất cả yên lặng hàng giờ liền. Cuối cùng, không chịu được, tôi đành lên tiếng:

- Thưa thuyền trưởng, ngài có để ý là anh ấy bị chìm ngay không? Điều đó không đáng để suy nghĩ sao? Thật ra, khi thấy anh ấy buộc mình vào cái thùng gỗ cùng nhảy xuống biển, tôi vẫn cho là anh ấy còn chút hi vọng thoát được cơ.

- Đương nhiên sẽ bị chìm xuống rồi. - Thuyền trưởng trả lời. - Mà chìm ngay lập tức. Nhưng rồi họ sẽ nổi lên. Chỉ có điều, phải chờ sau khi muối trong đó tan ra hết đã.

- Muối?! - Tôi ngạc nhiên kêu lên.

- Hừm! - Thuyền trưởng chỉ vào vợ và em gái của người đã chết, ngầm đưa mắt ra hiệu cho tôi. - Chờ khi chúng ta có thời gian thích hợp, tôi sẽ nói tới chuyện này sau.

Chúng tôi đã trải qua vô vàn gian nguy, có thể nói là ngàn cân treo sợi tóc. Rất may chiếc xuồng cứu sinh được ông trời phù hộ, trải qua bốn ngày gian nan, cuối cùng chúng tôi cũng sống dở chết dở cập bến ở bãi biển của đảo Roanoke. Chúng tôi ở đó một tuần lễ, được những người trục vớt tàu đắm đối xử khá tốt, cuối cùng cũng lên một con tàu khác, đến được New York.

Một tháng sau khi con tàu Độc Lập biến mất, tôi hẹn gặp ngài thuyền trưởng Hoocdi. Câu chuyện chúng tôi đề cập tới đương nhiên là xoay quanh vụ tai nạn kia, đặc biệt là số phận thê thảm của anh bạn họa sĩ đáng thương.

Chàng họa sĩ đã mua vé tàu cho mình, vợ, hai cô em gái và một gia nhân. Vợ anh ta, đúng như miêu tả, là một phụ nữ rất xinh đẹp và tài hoa. Sáng ngày Mười bốn tháng Sáu (ngày tôi lên tàu lần thứ nhất), cô vợ anh ta đột nhiên mắc bệnh hiểm nghèo mà đột tử. Người chồng trẻ vô cùng đau khổ, tuyệt vọng. Nhưng lúc ấy do tình hình cấp bách, không cho phép anh ta kéo lùi thời gian đi New York, anh ta buộc phải đưa xác người vợ yêu quý của mình về cho cha mẹ cô ấy. Nhưng anh ta cũng biết, chuyển thi hài lên tàu là việc bị chính phủ nghiêm cấm. Và tất nhiên là các hành khách cũng sẽ không đời nào cho phép anh ta công khai làm việc đó. Phải tới chín mươi phần trăm số người sẽ hủy chuyến đi, chứ không muốn đi cùng với một cái xác chết trên tàu.

Trong tình thế nan giải như vậy, trước lời khẩn cầu tha thiết của Waitage, thuyền trưởng cũng mủi lòng, đồng ý cho anh ta thỏa nguyện với một vài điều kiện bắt buộc.

Thuyền trưởng Hoocdi quyết định bôi dầu thơm chống thối rữa ở một số bộ phận của xác chết rồi đặt vào chiếc hòm gỗ thật vừa vặn, xung quanh chèn bằng muối, để thi hài không bị bốc mùi và phân hủy, sau đó chuyển lên tàu như một thùng hàng. Tất nhiên là ông ta nhận lời tuyệt đối không tiết lộ về cái chết của phu nhân Waitage. Bởi mọi người đều biết anh ta đặt vé cho cả vợ nên dứt khoát phải có người đóng thế phu nhân. Việc thuyết phục cô hầu gái làm việc này cũng khá dễ dàng. Buồng đặt cho người hầu sẽ bị bỏ trống. Cô vợ giả, tối đến tất nhiên là sẽ phải tới phòng đó ngủ. Không những thế, ban ngày cô ta còn phải diễn thật đạt vai bà chủ. Trước khi làm việc này, thuyền trưởng đã điều tra kĩ, trên tàu không được có ai nhìn thấy khuôn mặt thật của cô vợ anh chàng họa sĩ trước đó. Do mọi việc được bố trí chu đáo nên không một ai nghi ngờ. Về phần mình, tôi cảm thấy vô cùng ân hận vì đã nghi ngờ bạn mình, cho dù sự nghi ngờ đó không phải là không có căn cứ...

Tuyển chọn: Hà Quỳnh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.