Trong trận quyết đấu đó, ta thề rằng sẽ giết chết ngươi! (Hắn đã nổ súng, ta vẫn có thể bắn!)
- Đêm cắm trại -
1
Chúng tôi hạ trại tại một thị trấn nhỏ. Ai cũng hiểu rõ cuộc sống nhà binh là như thế nào. Sáng sáng ra thao trường, tập cưỡi ngựa; ăn cơm trưa tại nhà đội xếp hoặc quán ăn của người Do Thái; tối uống rượu, đánh bài.
Cái thị trấn nhỏ này chẳng có quán rượu, cũng chẳng có các cô gái trẻ, do vậy chúng tôi đành phải lần lượt tới phòng nhau tụ họp. Ở đó, ngoài lính tráng ra thì chẳng có gì hay ho nữa cả.
Chỉ có một quân nhân thường tụ tập chúng tôi lại. Người này khoảng ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi, do đó chúng tôi coi anh ta như một ông già. Anh ta là người hiểu nhiều biết rộng, hơn xa chúng tôi về các mặt. Hơn nữa, anh ta thường xuyên buồn rầu ủ dột, tính khí nóng nảy, nói năng đốp chát và có ảnh hưởng rất lớn đến ý thức của bọn trai trẻ chúng tôi. Trải nghiệm của anh ta chứa đầy ý vị thần bí. Anh ta có vẻ như là người Nga, nhưng lại mang một cái tên của người nước ngoài. Trước đây, anh ta từng là kị binh, rất có uy tín, chẳng ai hiểu được vì sao anh ta lại xuất ngũ, chuyển tới sống tại cái thị trấn nhỏ bé, đáng thương này. Ở đây, cuộc sống của anh ta đầy gian nan. Có điều, anh ta tiêu tiền rất hoang. Ra khỏi nhà, anh ta luôn đi bộ, mặc bộ lễ phục cũ màu đen, nhưng lại thường xuyên mời cơm binh lính đơn vị chúng tôi. Tuy chỉ có dăm ba món ăn do một người lính xuất ngũ làm nhưng rượu sâm banh thì lại chảy như suối. Chẳng ai rõ anh ta có bao nhiêu tài sản, cũng không ai hay thu nhập của anh ta là bao nhiêu, và cũng chưa ai đủ can đảm để hỏi những chuyện đó. Anh ta có rất nhiều sách, đa phần là sách về quân sự, tiếp đó là tiểu thuyết. Anh ta sẵn lòng cho mọi người mượn sách và không bao giờ nhắc người mượn chuyện hoàn trả. Và anh ta mượn sách người khác cũng chưa bao giờ nghĩ tới chuyện trả lại. Công việc chính hằng ngày của anh ta là tập bắn. Bốn bức tường trong căn phòng của anh ta lỗ chỗ các vết đạn, giống hệt một cái tổ ong. Anh ta sưu tầm vô số súng lục, đó cũng chính là đồ vật trang trí duy nhất trong căn phòng đơn sơ của anh ta. Tài thiện xạ của anh ta khiến người ta khó tin là thật. Nếu anh ta muốn đặt một quả lê lên đầu một ai đó rồi nổ súng bắn trúng quả lê thì tất cả chúng tôi chẳng ai do dự giơ đầu ra cho anh ta đặt quả lê lên.
Chúng tôi thường xuyên bàn luận về chuyện quyết đấu, Silvio (tôi gọi anh ta như vậy) không bao giờ tham dự vào. Nếu hỏi anh ta đã từng quyết đấu chưa thì anh ta chỉ lạnh lùng đáp rằng đã từng, nhưng không nói gì thêm. Hiển nhiên, khi được hỏi những chuyện ấy, anh ta cũng chẳng vui vẻ gì. Chúng tôi đều cho rằng, chắc hẳn ai đó đã thiệt mạng một cách đầy bất hạnh bởi tài thiện xạ của anh ta và trong thâm tâm anh ta rất lấy làm ân hận. Chưa bao giờ chúng tôi nghi ngờ anh ta có những chuyện phải xấu hổ, phải giấu giếm. Có những người, chỉ cần nhìn bề ngoài của họ đã khiến ta không thể nghi ngờ gì về điều đó. Vậy mà có một việc khiến chúng tôi hết sức khó hiểu.
Một bữa nọ, hơn chục lính tráng chúng tôi đến ăn cơm tại nhà Silvio. Giống như mọi khi, chúng tôi uống khá nhiều rượu. Cơm nước xong xuôi, chúng tôi mời chủ nhà cầm cái đánh bài cùng. Anh ta nhất mực từ chối, bởi lẽ chẳng mấy khi anh ta đánh bài. Song cuối cùng anh ta cũng bảo người mang bài tới và ném năm mươi đồng tiền vàng lên mặt bàn, rồi ngồi xuống chia bài. Chúng tôi ngồi xung quanh anh ta, bắt đầu cuộc sát phạt. Silvio có một thói quen là khi đánh bài ăn tiền, tuyệt đối không mở miệng trò chuyện, không tranh luận, cũng không giải thích nhiều. Nếu người chơi tính nhầm tiền, anh ta sẽ trả ngay số tiền còn thiếu hoặc ghi số tiền thừa lại. Chúng tôi đều hiểu rõ điểm này nên cứ mặc anh ta.
Nhưng bữa ấy, trong số chúng tôi có một quân nhân vừa được điều tới chưa lâu cũng đến đánh bài. Do không chú ý, lúc không cần tăng tiền đặt cọc, anh ta lại tăng thêm. Silvio cầm phấn, theo thói quen của bản thân cũng tăng thêm tiền cọc. Người lính mới kia cho rằng mình nhầm nên cố giải thích cho anh ta hiểu. Silvio chẳng nói chẳng rằng, tiếp tục chia bài. Người kia không giữ được kiên nhẫn, lấy giẻ lau xóa đi con số mà anh ta cho là không cần thiết. Silvio cầm phấn viết lại. Người kia do đã uống chút rượu, lại thua bạc, bị bạn bè đàm tiếu, sôi máu lên và cảm thấy mình bị sỉ nhục nặng nề. Trong cơn giận dữ, anh chàng vớ cây nến trên bàn ném về phía Silvio, may mà Silvio tránh được. Chúng tôi bàng hoàng, Silvio giận tái mặt, đứng bật dậy, hai mắt tóe lửa, quát:
- Mời anh ra ngoài! Hãy cảm ơn Chúa, vì may cho anh là chuyện này xảy ra ở nhà tôi!
bị thu hút bởi danh tiếng của tôi, anh ta cũng muốn kết bạn cùng tôi nhưng tôi đối xử với anh ta hết sức lạnh nhạt. Thành thử anh ta cũng chẳng tiếc nuối gì mà không xa cách tôi.
Tôi hận anh ta đến tận xương tủy. Thành công mà anh ta thu được trong đội chúng tôi, và trong nhóm phụ nữ khiến tôi hoàn toàn rơi vào tuyệt vọng. Tôi tìm cớ thi đấu với anh ta. Tôi khôi hài, anh ta cũng đáp lại bằng những lời khôi hài nhưng những câu đùa của anh ta luôn khiến tôi bất ngờ, chúng còn hài hước và dí dỏm hơn của tôi. Vì thế, trong khi anh ta cứ vui đùa thì tôi vun đắp hận thù. Sau đó, trong buổi dạ tiệc do một vị địa chủ người Ba Lan tổ chức, anh ta nhận được sự đón chào nồng nhiệt và hâm mộ của tất cả các phu nhân, tiểu thư, đặc biệt là của nữ chủ nhân, người trước kia từng có tư tình với tôi. Tôi liền nói thầm với anh ta một câu thô tục nhưng thẳng thắn. Anh ta giận tím mặt, thẳng tay cho tôi một cái bạt tai. Chúng tôi liền cầm lấy kiếm, các phu nhân và tiểu thư sợ xanh mặt. Mọi người kéo chúng tôi ra, trong đêm hôm đó, chúng tôi quyết đấu.
Trước lúc hừng đông, tôi và ba người làm chứng của mình đứng đợi ở nơi hẹn trước. Tôi bồn chồn chờ đợi đối thủ của mình. Vầng dương mùa xuân từ từ nhô lên, không khí cũng dần ấm áp trở lại. Tôi nhìn thấy bóng dáng anh ta từ xa. Anh ta mặc quân phục, dao đeo ở thắt lưng, đến cùng một người làm chứng nữa. Chúng tôi bước về phía anh ta. Tay cầm mũ nhà binh, anh ta bước lên phía trước, trong mũ đựng đầy quả anh đào. Những người làm chứng đo khoảng cách hai mươi bước giữa hai chúng tôi. Đáng lẽ tôi phải là người nổ súng trước, nhưng do tức giận và hoang mang, tôi hết sức nao núng, không dám chắc rằng mình sẽ bắn trúng. Để bản thân có thời gian trấn tĩnh lại, tôi đề nghị anh ta nổ súng trước, nhưng đối thủ của tôi không đồng ý. Chúng tôi đành phải bốc thăm. Lần này vận may đã không mỉm cười với anh ta, anh ta bốc được số một. Anh ta ngắm kĩ, nổ súng bắn trúng vào mũ của tôi. Tới lượt tôi nổ súng. Cuối cùng thì tính mạng của anh ta cũng nằm trong tay tôi. Tôi nhìn chằm chằm vào mặt anh ta, mong sẽ tìm thấy một chút, một chút sợ hãi trên gương mặt ấy. Anh ta đứng trước mũi súng của tôi, chọn từng trái anh đào chín ra khỏi mũ ăn rồi nhổ, từng hạt, từng hạt anh đào bay xuống chân tôi. Anh ta chẳng thèm bận tâm, khiến tôi tức điên người. Tôi thầm nghĩ, có vẻ anh ta không coi trọng sự sống chết, vậy thì bắn chết anh ta cũng có nghĩa lí gì đâu? Trong đầu tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ ác độc. Tôi buông súng.
- Xem ra, anh vẫn chưa đến lúc phải chết. - Tôi nói. - Anh mau đi ăn sáng đi. Tôi không muốn làm phiền anh nữa.
- Không phiền gì cả. - Anh ta nói một cách dửng dưng. - Xin anh mau nổ súng cho! Có điều, phát súng này của anh cũng có thể để dành đó, lúc nào tôi cũng sẵn sàng đón nhận.
Tôi bèn nói với người làm chứng, rằng hôm nay mình không muốn nổ súng. Và cuộc quyết đấu của chúng tôi kết thúc như vậy. Tôi xuất ngũ, tới thị trấn nhỏ này. Bắt đầu từ đó, không ngày nào tôi không nung nấu ý định trả thù. Giờ thì thời cơ đã tới...
Silvio lấy từ trong túi ra bức thư anh ta nhận được ban sáng. Một người (có vẻ là người được anh ta ủy thác) từ Matxcova viết thư cho anh ta, thông báo rằng cách đây không lâu con người kia đã kết hôn với một thiếu nữ trẻ đẹp.
- Chắc anh cũng đoán được con người được nhắc tới trong thư là ai. - Silvio nói tiếp. - Tôi sẽ đi Matxcova. Chúng ta hãy cùng chờ xem, khi vừa kết hôn, anh ta có còn tỉnh queo, không thèm để tâm đến sống chết, giống như khi ăn anh đào nữa hay không.
Nói tới đây thì Silvio đứng dậy, ném chiếc mũ của mình xuống đất, đi đi lại lại trong phòng, giống như một con hổ bị nhốt lâu ngày trong chuồng. Tôi ngồi chăm chú nghe anh ta kể chuyện, thấy xúc động vô cùng, trong lòng trỗi dậy những cảm xúc kì lạ, hết sức mâu thuẫn. Một người hầu bước vào, bẩm rằng xe ngựa đã chuẩn bị xong. Silvio nắm chặt tay tôi, chúng tôi ôm hôn tạm biệt nhau. Anh ta lên xe, trên xe chất hai chiếc rương da, một đựng súng, một đựng các đồ dùng hằng ngày. Chúng tôi tạm biệt nhau một lần nữa. Rồi cỗ xe ngựa phóng đi như bay, rời xa thị trấn nhỏ bé này.
2
Vài năm sau, do kinh tế gia đình sa sút, tôi buộc phải chuyển tới một thôn xóm nghèo ở thị trấn nọ. Dẫu phải cai quản, điều hành công việc, tôi vẫn thường bồi hồi nhớ lại những tháng ngày sôi nổi, vô tư trước đây. Tôi không thể nào quen được việc ngày tháng cứ bình lặng trôi đi. Sau bữa cơm trưa, tôi chuyện trò cùng trưởng thôn, ra đồng kiểm tra việc đồng áng, thăm những mảnh ruộng mới làm. Thôi thì như vậy cũng giết được thời gian. Nhưng khi trời dần ngả về chiều, tôi không biết mình phải đi đâu, làm gì... Vài cuốn sách hiếm hoi mà tôi lôi từ xó bếp và nhà kho ra cũng đã được đọc tới thuộc lòng...
Những câu chuyện mà nữ quản gia Kirilopna kể lại, tôi cũng đã nghe không biết bao nhiêu lần. Nghe các bà mẹ hát chỉ càng khiến tôi thêm sầu lòng. Tôi muốn uống rượu vang, có điều uống rồi lại đau đầu. Nhưng thật lòng, tôi sợ mình sẽ biến thành bợm rượu, chỉ vì mọi thứ quá tẻ nhạt. Quả tình tôi đã gặp không biết bao nhiêu người trong cái huyện này đã biến thành bợm rượu. Tôi cũng chẳng có láng giềng gần gũi, quanh nhà tôi chỉ có những tên sâu rượu, nói chuyện với chúng không nghe than phiền thì cũng nghe nấc nghẹn. Tôi nhốt mình trong nhà, cô đơn, nhưng còn hơn làm bạn với những tên nghiện rượu.
Cách nhà tôi đôi dặm có một đồn điền rất giàu có. Đồn điền này là của một vị bá tước phu nhân, nhưng trong đồn điền chỉ có một người quản gia sinh sống. Bá tước phu nhân mới chỉ tới đồn điền của mình có một lần, đó là vào năm đầu tiên sau khi xuất giá, và cũng chỉ lưu lại chưa đầy một tháng. Nhưng vào mùa xuân năm thứ hai sau khi tôi đã sống những tháng ngày nhạt nhẽo thì bỗng nghe tin đồn rằng bá tước phu nhân sẽ cùng phu quân về đồn điền nghỉ hè. Quả đúng như vậy, đầu tháng Sáu hai người họ đã tới.
Đối với những người dân quê thì sự xuất hiện của người hàng xóm giàu có quả là một chuyện trọng đại. Hai tháng trước sự kiện này, các địa chủ và tá điền đã bàn tán xôn xao. Và họ sẽ còn tiếp tục bàn tán sau khi sự việc xảy ra được... ba năm. Còn tôi, tôi phải thừa nhận rằng, khi nghe nói mình sẽ có một người hàng xóm trẻ đẹp, tự nhiên tâm trạng tôi cũng đầy phấn khích. Tôi nóng lòng muốn được gặp người đó. Vì vậy, ngày Chủ nhật đầu tiên sau khi bá tước phu nhân tới, vừa xong bữa trưa, lấy tư cách là người hàng xóm gần nhất của họ và với thái độ đầy thành kính của một kẻ bề dưới, tôi mạo muội tới thăm vợ chồng bá tước phu nhân.
Người hầu dẫn tôi tới thư phòng của ngài bá tước, rồi sau đó vào báo cho họ biết. Thư phòng rộng rãi, được bày biện vô cùng xa hoa. Cạnh tường là một hàng giá sách, trên mỗi giá sách đều có một tượng bán thân bằng đồng. Sát vách lò sưởi bằng đá là một tấm gương lớn. Sàn nhà được lót bằng nỉ xanh, trải thảm. Tôi vốn sống ở những căn phòng nhỏ, lạnh lẽo, đơn sơ, nên không quen lắm với sự bài trí đắt tiền, hoa mĩ. Hơn nữa, đã lâu không được thấy sự giàu sang của người khác, thành thử trong lòng tôi không tránh khỏi có chút sợ sệt và cảm giác kính cẩn. Được diện kiến bá tước giống như những người tỉnh lẻ trông ngóng để được tiếp kiến quan đại thần. Cửa bật mở, một người đàn ông chừng ba mươi hai, ba mươi ba tuổi, vô cùng tuấn tú bước vào. Vị bá tước này cởi mở, điềm đạm, thân thiết bước tới trước mặt tôi. Tôi lấy can đảm, định giới thiệu bản thân thì bá tước đã mở lời trước.
Chúng tôi ngồi xuống ghế. Giọng nói của bá tước rất tự nhiên, thân thiện, khiến tôi chẳng mấy chốc không còn cảm thấy gò bó nữa. Tôi đang dần khôi phục được trạng thái bình thường thì đột nhiên bá tước phu nhân bước vào phòng, càng khiến tôi lúng túng hơn lúc đầu. Bá tước phu nhân quả là trang quốc sắc thiên hương. Bá tước giới thiệu tôi với phu nhân của ông. Tôi cũng rất muốn tỏ ra hào hoa, lịch thiệp, nhưng càng ra vẻ lại càng mất tự nhiên. Với thiện ý giúp tôi có thời gian bình thường trở lại và quen với môi trường giao tiếp mới, hai vợ chồng bá tước bắt đầu chuyện trò, coi tôi như một người láng giềng thân thiết, không hề câu nệ. Lúc ấy, tôi đi đi lại lại trong phòng, thưởng ngoạn sách và các tác phẩm hội họa. Tôi không am tường lắm về hội họa, nhưng có một bức tranh khiến tôi phải chú ý. Bức tranh vẽ phong cảnh Thụy Sỹ. Nhưng điều khiến tôi kinh ngạc là ở chỗ bức tranh bị hai viên đạn xuyên thủng, viên này bắn đè lên viên kia.
- Bắn tuyệt quá, kỹ năng hoàn hảo! - Tôi tấm tắc khen.
- Đúng vậy. - Bá tước tỏ vẻ đồng tình. - Kỹ năng hết sức hoàn hảo. Chắc anh cũng bắn giỏi lắm nhỉ?
- Vâng, cũng không tồi lắm. - Cuối cùng họ cũng nói tới đề tài quen thuộc của tôi, tôi vui mừng đáp. - Trong khoảng cách ba mươi thước, nếu bắn vào quân bài thì tôi không trượt phát nào, dĩ nhiên là phải dùng khẩu súng quen thuộc.
- Thật sao? - Bá tước phu nhân chăm chú nghe rồi hỏi. - Anh bạn, anh làm được như vậy thật?
Bá tước nói đầy vẻ thiện chí:
- Có thời gian thì chúng ta cùng thi tài xem sao chứ nhỉ? Năm xưa tài nghệ của tôi cũng khá lắm, chỉ có điều đã bốn năm rồi tôi không sờ vào súng ống nữa.
- Ồ, nếu vậy, tôi dám cược rằng, trong khoảng cách hai mươi bước, ngài cũng sẽ không bắn trúng quân bài nào đâu. Trò này ngày nào cũng phải tập luyện, đó là kinh nghiệm xương máu của bản thân tôi đấy. Trong đội tôi ngày trước, tôi cũng có thể coi là tay bắn giỏi. Một lần nọ, suốt cả tuần liền tôi không đụng gì đến súng cả, vì súng của tôi phải mang đi sửa. Ngài đoán xem thế nào? Lần đầu tiên cầm lại súng, bắn một cái bình trong phạm vi hai mươi lăm bước, tôi bắn liên tiếp bốn phát đều không trúng. Chỗ chúng tôi hồi đó có một đại úy kị binh khá hài hước, thích trêu đùa. Anh ta nói với tôi: “Này chú em, xem ra chú em không nhẫn tâm bắn vỡ cái lọ đó nhỉ!” Đúng vậy thưa ngài, không thể xem nhẹ việc luyện tập. Nếu không chẳng mấy chốc sẽ sao nhãng mất. Tôi quen một vị cao thủ, ngày nào trước bữa trưa, anh ta cũng phải bắn ít nhất ba phát. Đó là thói quen rồi, cũng giống như việc uống một cốc rượu trước bữa ăn vậy.
Bá tước và phu nhân thấy tôi tự nhiên trở lại thì đều tỏ ra rất vui mừng.
- Kỹ năng bắn của người ấy ra sao? - Bá tước tò mò.
- Thưa ngài, hãy nghe tôi kể. Giả dụ một lúc nào đó, anh ta chợt nhìn thấy một con ruồi trên tường. Thưa bá tước phu nhân, bà thấy nực cười lắm ạ? Nhưng quả thực là như vậy, tôi chỉ nói sự thật. Anh ta nhìn thấy con ruồi thì liền gọi: “Cuska, mang súng lại đây!” Cuska đưa cho anh ta khẩu súng nạp đầy đạn. Anh ta nổ súng, con ruồi dính chặt vào tường.
- Ồ, tài tình quá! - Bá tước buột miệng. - Anh ta tên là gì?
- Thưa ngài, là Silvio.
- Silvio? - Bá tước ngồi dựng dậy, kêu lên. - Anh cũng quen Silvio ư?
- Thưa ngài, sao tôi không quen được chứ! Chúng tôi là bạn thân của nhau. Mọi người trong đội tôi, ai cũng coi anh ấy là người anh em. Nhưng đã năm năm rồi, tôi không có tin tức gì về anh ấy. Xem ra ngài cũng biết anh ấy nhỉ?
- Quen chứ, rất quen là khác. Anh ta chưa kể cho anh nghe sao? Chắc là chưa rồi, tôi nghĩ chắc là chưa. Anh ta chưa kể cho anh nghe một câu chuyện rất li kì sao?
- Thưa ngài, phải chăng đó là chuyện anh ta bị một tay công tử ăn chơi cho một cái bạt tai trong buổi dạ tiệc?
- Anh ta có nói với anh tên người kia không?
- Không, thưa ngài, anh ấy chưa hề nói với tôi tên người ấy... Mà không, thưa ngài... - Tôi đã đoán được chuyện gì xảy ra, liền nhanh nhảu. - Xin ngài thứ lỗi, tôi không hề hay biết... Chẳng lẽ người đó lại chính là ngài sao?
- Chính là tôi. - Bá tước đáp với vẻ mặt rất khó tả. - Bức tranh anh vừa xem chính là vật kỉ niệm cho lần gặp mặt cuối cùng của chúng tôi.
- Thôi anh ơi! - Bá tước phu nhân lên tiếng. - Đủ rồi, đừng nói nữa. Em sợ phải nhắc lại những điều đó.
- Không. - Bá tước thản nhiên. - Anh phải kể lại đầu đuôi sự việc. Anh bạn đây đã biết anh đắc tội với bạn anh ấy thì anh cũng phải kể cho anh ấy nghe, Silvio đã báo thù thế nào.
Bá tước kéo ghế dịch lại chỗ tôi. Đầy tò mò, tôi háo hức đợi nghe câu chuyện.
- Năm năm trước, tôi cưới vợ. Tháng đầu tiên, cũng chính là tháng trăng mật, tại chính nơi đây, vợ chồng tôi sống tại chính ngôi làng nhỏ này. Trong căn nhà này, vợ chồng chúng tôi đã sống những khoảng thời gian đẹp nhất trong đời. Nhưng cũng chính tại đây, có một việc chúng tôi không bao giờ muốn nhắc lại. Một ngày nọ, hoàng hôn buông xuống, hai chúng tôi cưỡi ngựa đi hóng gió. Không hiểu sao, con ngựa của vợ tôi giở chứng, làm cô ấy sợ, cô ấy giao dây cương lại cho tôi, một mình dạo bước về nhà, còn tôi cưỡi ngựa về trước. Về tới sân, tôi thấy một chiếc xe ngựa du lịch. Người làm bẩm với tôi, có một người đang ngồi trong thư phòng, anh ta không chịu tiết lộ danh tính, chỉ nói tìm tôi có việc. Tôi bước vào chính căn phòng này, trong ánh sáng lờ mờ, tôi thấy một người đầy bụi đường, râu ria tua tủa, đứng cạnh lò sưởi. Tôi bước tới trước mặt anh ta, cố gắng hồi tưởng xem mình đã gặp anh ta ở đâu.
Chúng tôi đều cho rằng chuyện này rồi sẽ có hậu quả, chắc chắn người đồng đội kia của chúng tôi sẽ không thoát khỏi cái chết. Quân nhân này đã khẳng định, bất luận người cầm cái muốn thế nào anh ta đều vui lòng làm theo, rồi đi ra. Tiếp tục đánh thêm vài phút nữa, nhưng chúng tôi đều thấy rằng chủ nhân chẳng còn tâm trạng nào nên lần lượt từng người một bỏ bài xuống. Suốt đường về, chúng tôi bàn tán xôn xao về sự việc vừa xảy ra.
Ngày hôm sau, trên thao trường, khi chúng tôi đang thắc mắc về số phận người trung úy xấu số kia thì anh ta xuất hiện. Chúng tôi liền hỏi chuyện tối qua rốt cuộc sao rồi, anh ta thật thà kể rằng vẫn chưa hề nhận được bất cứ thông tin nào của Silvio. Điều này khiến chúng tôi thấy lạ vô cùng. Chúng tôi tới thăm Silvio, gặp anh ta đang luyện súng trong vườn, bắn liên tiếp vào quân bài át cơ dán trước cửa. Anh ta tiếp đón chúng tôi như thường ngày, có điều không hề nhắc tới chuyện hôm trước. Ba ngày trôi qua, anh chàng trung úy vẫn sống nhăn. Chúng tôi ngạc nhiên hỏi nhau: Lẽ nào Silvio không quyết đấu ư? Quả vậy, Silvio không quyết đấu. Anh ta thỏa mãn với lời giải thích sơ sơ của anh chàng trung úy, và giờ đây quan hệ của họ lại như bình thường.
Việc này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới danh tiếng của anh ta trong đám thanh niên chúng tôi. Hèn nhát, thiếu dũng khí là điều mà những người trẻ tuổi không thể tha thứ, bởi tuổi trẻ thường coi dũng cảm là phẩm chất cao đẹp nhất của loài người, chỉ cần có dũng cảm thì bất kì khuyết điểm nào cũng có thể tha thứ được. Nhưng sau đó, chuyện này cũng dần bị lãng quên. Silvio lại có được uy tín như ngày nào.
Sau chuyện đó, tôi không còn thân thiết với anh ta như trước nữa. Tinh thần lãng mạn bắt rễ trong tôi. Trước đó, người mà tôi ngưỡng mộ nhất chính là anh ta. Với tôi, cả cuộc đời anh ta là một câu đố, anh ta chính là nhân vật chính của bộ tiểu thuyết thần bí. Đổi lại, anh ta cũng rất có cảm tình với tôi, chí ít anh ta cũng nhìn tôi bằng con mắt khác. Khi nói chuyện với tôi, anh ta không dùng những từ ngữ cay độc, thái độ chân thành, không có chuyện gì là không kể với tôi, và luôn tỏ ra vui vẻ nữa. Nhưng sau đêm hôm đó, tôi cho rằng uy tín của anh ta thế là đã tan tành cả, danh tiếng bị chôn vùi không thể nào lấy lại được nữa. Tôi không sao thoát khỏi ý nghĩ đó, do vậy không thể đối xử với anh ta như trước, trông thấy anh ta tôi thậm chí còn thấy hổ thẹn. Silvio là người tinh ranh, lão luyện, không thể không nhận ra điều ấy, và cũng không thể không đoán ra được nguyên nhân. Dường như anh ta tỏ ra rất khổ tâm vì điều này. Đã hai lần, tôi phát hiện anh ta có ý định giải thích, nhưng tôi đều tránh mặt, thế nên anh ta cũng không tìm gặp tôi thêm nữa. Từ đó, chỉ lúc nào đi cùng đồng đội tôi mới chạm mặt anh ta, có điều không bao giờ dốc bầu tâm sự như trước nữa.
Có những chuyện mà người sống ở nông thôn hoặc các thị trấn nhỏ thấy hết sức bình thường thì người thành phố lại dửng dưng không bao giờ hiểu được. Đơn cử như việc đợi thư từ, bưu phẩm trong ngày phát thứ: cứ thứ Ba và thứ Sáu hằng tuần, phòng làm việc của chúng tôi đều chật ních binh lính, có người đợi tiền, có người đợi thư, có người đợi báo. Thư từ, bưu phẩm thường được bóc ngay tại chỗ, mọi người cùng trao đổi tin tức, thư từ, bầu không khí vô cùng nhộn nhịp, sôi nổi. Thư từ và bưu phẩm của Silvio cũng được gửi tới theo địa chỉ của đơn vị chúng tôi, khi thư tới, anh ta thường có mặt. Một lần nọ, anh ta nhận được một bức thư, vội vàng mở ra đọc. Anh ta đọc ngấu nghiến, mắt sáng lên. Các quân nhân đều bận đọc thư của mình, không hề chú ý tới anh ta.
- Các bạn. - Silvio nói với tất cả mọi người. - Do tình hình đột xuất, tôi buộc lòng phải nhanh chóng rời khỏi nơi này. Tối nay tôi sẽ khởi hành, mong các bạn bớt chút thời gian tới nhà tôi dự bữa cơm cuối cùng! Mong các bạn đến dự. - Anh ta quay người nói với tôi. - Nhất định phải đến đấy!
Nói xong, anh ta vội vàng đi ngay. Chúng tôi bàn bạc với nhau việc tới nhà Silvio tụ họp, rồi ai về phòng người ấy.
Đúng giờ hẹn, tôi tới nhà Silvio, gần như toàn bộ quân nhân trong đơn vị tôi đều đã tập trung ở đây. Tất cả đồ đạc của anh ta đều đã thu dọn xong, chỉ còn trơ lại bốn bức tường chi chít vết đạn. Chúng tôi lần lượt ngồi xuống. Tâm trạng của chủ nhà vô cùng phấn khởi, tâm trạng đó chẳng mấy chốc cũng lây sang chúng tôi. Tiếng nút chai mở bôm bốp, rượu tràn li, chảy xèo xèo. Chúng tôi thành tâm chúc anh ta thượng lộ bình an, vạn sự như ý. Lúc mọi người rời bàn tiệc, mặt trời đã ngả bóng. Khách lục tục ra về, Silvio tạm biệt mọi người. Lúc tôi chuẩn bị ra về, anh ta giữ tôi ở lại.
- Tôi cần nói chuyện với anh. - Anh ta nói khẽ. Vậy nên tôi đành ở lại.
Khách khứa đã về cả, chỉ còn lại hai chúng tôi ngồi đối diện nhau, hút thuốc, không nói một lời. Silvio tỏ ra có nhiều tâm sự, giờ anh ta không còn cái vẻ vui mừng đến phát cuồng như lúc nãy nữa. Khuôn mặt nhợt nhạt đầy vẻ u ám, đôi mắt lấp lánh sáng, miệng liên hồi nhả khói nồng nặc, bộ dạng anh ta trông giống hệt một con quỷ dữ. Sau vài phút, Silvio phá vỡ bầu không khí nặng nề.
- Rất có thể từ nay về sau chúng ta không còn được gặp nhau nữa. - Anh ta nói vẻ trầm ngâm. - Trước khi chia tay, tôi muốn dốc bầu tâm sự cùng anh. Chắc anh cũng đoán ra, hiếm khi tôi coi trọng sự đánh giá của người khác về bản thân mình. Nhưng do tôi vô cùng quý mến anh nên tôi thấy rất phiền lòng khi trong tâm trí anh âm ỉ những suy nghĩ không đáng có.
Anh ta ngừng lời, thay thuốc cho chiếc tẩu. Tôi cúi xuống nhìn, chẳng nói chẳng rằng.
- Chắc hẳn anh lấy làm ngạc nhiên tại sao tôi không thách đấu với gã quèn nát rượu ấy. - Anh ta tiếp lời. - Chắc hẳn anh cho rằng, tôi phải cầm lấy vũ khí, tính mạng hắn nằm trong tay tôi, và tôi gần như không hề bị nguy hiểm. Mặc dù tôi có thể coi việc mình chế ngự được bản thân là sự khoan dung độ lượng, nhưng tôi lại không muốn dối lòng mình. Ví thử như tôi có thể trừng phạt hắn và không phải chịu bất cứ mối đe dọa nào thì dù có thế nào đi chăng nữa tôi cũng không bỏ qua cho hắn đâu.
Tôi sững sờ nhìn Silvio. Nghe những lời tâm sự thẳng thắn ấy, tôi ngẩn người ra. Silvio vẫn tiếp tục:
- Thế này nhé, tôi không có quyền bắt mình mạo hiểm. Sáu năm về trước, tôi bị một cái bạt tai, kẻ thù của tôi hiện vẫn còn sống.
Những lời này khiến tôi tò mò hết sức.
- Vậy anh không quyết đấu với hắn ư? - Tôi gạn hỏi. - Chắc hẳn phải có việc gì đó đã khiến hai người xa cách?
- Chúng tôi đã từng quyết đấu. - Silvio đáp. - Đây chính là kỉ vật của lần quyết đấu đó.
Silvio đứng dậy, lấy chiếc mũ đỏ viền vàng, dây mũ cũng màu vàng (là loại mũ cảnh sát Pháp vẫn thường đội). Anh ta đội mũ lên đầu, trên mũ, cách trán khoảng một tấc có một cái lỗ to.
- Anh chắc cũng hiểu. - Silvio tiếp tục thổ lộ. - Tôi đã từng phục vụ trong đội kị binh. Tính tôi anh cũng đã rõ, vốn hiếu thắng, vì từ nhỏ đã vậy. Vào thời chúng tôi, đánh nhau, gây sự với người khác được xem là mốt thời thượng. Biệt danh của tôi hồi đó là “kẻ quậy phá”. Chúng tôi khoe khoang tửu lượng với nhau, tửu lượng của tôi vô cùng kinh khủng, bỏ xa nhiều nhân vật được miêu tả trong văn thơ. Trong đội tôi, quyết đấu xảy ra như cơm bữa, lần nào dường như cũng không vắng bóng tôi, không phải là người làm chứng thì cũng là đương sự. Đồng đội sùng bái tôi, song trong mắt các ngài đội xếp thì tôi là cái gai cần được nhổ bỏ.
Tôi đang tận hưởng niềm hân hoan do danh tiếng của mình mang lại một cách yên ổn (hoặc cũng có thể nói là rất bất an cũng vậy), thì đúng lúc đó có một thanh niên tôi không tiện nói tên, xuất thân từ gia đình danh giá lại lắm tiền được điều tới đội chúng tôi. Trong đời chưa bao giờ tôi được may mắn như anh chàng đó. Cần nhấn mạnh lại là anh ta vừa trẻ vừa thông minh, đẹp trai, hoạt bát, dũng cảm, danh tiếng ngời ngời, vung tay tiêu tiền mà không bao giờ thiếu. Anh thử hình dung xem, trong đội chúng tôi, anh ta sẽ có ảnh hưởng lớn tới chừng nào. Vị trí dẫn đầu của tôi bị lung lay nghiêm trọng. Anh ta cũng bị thu hút bởi danh tiếng của tôi, anh ta cũng muốn kết bạn cùng tôi nhưng tôi đối xử với anh ta hết sức lạnh nhạt. Thành thử anh ta cũng chẳng tiếc nuối gì mà không xa cách tôi.
Tôi hận anh ta đến tận xương tủy. Thành công mà anh ta thu được trong đội chúng tôi, và trong nhóm phụ nữ khiến tôi hoàn toàn rơi vào tuyệt vọng. Tôi tìm cớ thi đấu với anh ta. Tôi khôi hài, anh ta cũng đáp lại bằng những lời khôi hài nhưng những câu đùa của anh ta luôn khiến tôi bất ngờ, chúng còn hài hước và dí dỏm hơn của tôi. Vì thế, trong khi anh ta cứ vui đùa thì tôi vun đắp hận thù. Sau đó, trong buổi dạ tiệc do một vị địa chủ người Ba Lan tổ chức, anh ta nhận được sự đón chào nồng nhiệt và hâm mộ của tất cả các phu nhân, tiểu thư, đặc biệt là của nữ chủ nhân, người trước kia từng có tư tình với tôi. Tôi liền nói thầm với anh ta một câu thô tục nhưng thẳng thắn. Anh ta giận tím mặt, thẳng tay cho tôi một cái bạt tai. Chúng tôi liền cầm lấy kiếm, các phu nhân và tiểu thư sợ xanh mặt. Mọi người kéo chúng tôi ra, trong đêm hôm đó, chúng tôi quyết đấu.
Trước lúc hừng đông, tôi và ba người làm chứng của mình đứng đợi ở nơi hẹn trước. Tôi bồn chồn chờ đợi đối thủ của mình. Vầng dương mùa xuân từ từ nhô lên, không khí cũng dần ấm áp trở lại. Tôi nhìn thấy bóng dáng anh ta từ xa. Anh ta mặc quân phục, dao đeo ở thắt lưng, đến cùng một người làm chứng nữa. Chúng tôi bước về phía anh ta. Tay cầm mũ nhà binh, anh ta bước lên phía trước, trong mũ đựng đầy quả anh đào. Những người làm chứng đo khoảng cách hai mươi bước giữa hai chúng tôi. Đáng lẽ tôi phải là người nổ súng trước, nhưng do tức giận và hoang mang, tôi hết sức nao núng, không dám chắc rằng mình sẽ bắn trúng. Để bản thân có thời gian trấn tĩnh lại, tôi đề nghị anh ta nổ súng trước, nhưng đối thủ của tôi không đồng ý. Chúng tôi đành phải bốc thăm. Lần này vận may đã không mỉm cười với anh ta, anh ta bốc được số một. Anh ta ngắm kĩ, nổ súng bắn trúng vào mũ của tôi. Tới lượt tôi nổ súng. Cuối cùng thì tính mạng của anh ta cũng nằm trong tay tôi. Tôi nhìn chằm chằm vào mặt anh ta, mong sẽ tìm thấy một chút, một chút sợ hãi trên gương mặt ấy. Anh ta đứng trước mũi súng của tôi, chọn từng trái anh đào chín ra khỏi mũ ăn rồi nhổ, từng hạt, từng hạt anh đào bay xuống chân tôi. Anh ta chẳng thèm bận tâm, khiến tôi tức điên người. Tôi thầm nghĩ, có vẻ anh ta không coi trọng sự sống chết, vậy thì bắn chết anh ta cũng có nghĩa lí gì đâu? Trong đầu tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ ác độc. Tôi buông súng.
- Xem ra, anh vẫn chưa đến lúc phải chết. - Tôi nói. - Anh mau đi ăn sáng đi. Tôi không muốn làm phiền anh nữa.
- Không phiền gì cả. - Anh ta nói một cách dửng dưng. - Xin anh mau nổ súng cho! Có điều, phát súng này của anh cũng có thể để dành đó, lúc nào tôi cũng sẵn sàng đón nhận.
Tôi bèn nói với người làm chứng, rằng hôm nay mình không muốn nổ súng. Và cuộc quyết đấu của chúng tôi kết thúc như vậy. Tôi xuất ngũ, tới thị trấn nhỏ này. Bắt đầu từ đó, không ngày nào tôi không nung nấu ý định trả thù. Giờ thì thời cơ đã tới...
Silvio lấy từ trong túi ra bức thư anh ta nhận được ban sáng. Một người (có vẻ là người được anh ta ủy thác) từ Matxcova viết thư cho anh ta, thông báo rằng cách đây không lâu con người kia đã kết hôn với một thiếu nữ trẻ đẹp.
- Chắc anh cũng đoán được con người được nhắc tới trong thư là ai. - Silvio nói tiếp. - Tôi sẽ đi Matxcova. Chúng ta hãy cùng chờ xem, khi vừa kết hôn, anh ta có còn tỉnh queo, không thèm để tâm đến sống chết, giống như khi ăn anh đào nữa hay không.
Nói tới đây thì Silvio đứng dậy, ném chiếc mũ của mình xuống đất, đi đi lại lại trong phòng, giống như một con hổ bị nhốt lâu ngày trong chuồng. Tôi ngồi chăm chú nghe anh ta kể chuyện, thấy xúc động vô cùng, trong lòng trỗi dậy những cảm xúc kì lạ, hết sức mâu thuẫn. Một người hầu bước vào, bẩm rằng xe ngựa đã chuẩn bị xong. Silvio nắm chặt tay tôi, chúng tôi ôm hôn tạm biệt nhau. Anh ta lên xe, trên xe chất hai chiếc rương da, một đựng súng, một đựng các đồ dùng hằng ngày. Chúng tôi tạm biệt nhau một lần nữa. Rồi cỗ xe ngựa phóng đi như bay, rời xa thị trấn nhỏ bé này.
3
Vài năm sau, do kinh tế gia đình sa sút, tôi buộc phải chuyển tới một thôn xóm nghèo ở thị trấn nọ. Dẫu phải cai quản, điều hành công việc, tôi vẫn thường bồi hồi nhớ lại những tháng ngày sôi nổi, vô tư trước đây. Tôi không thể nào quen được việc ngày tháng cứ bình lặng trôi đi. Sau bữa cơm trưa, tôi chuyện trò cùng trưởng thôn, ra đồng kiểm tra việc đồng áng, thăm những mảnh ruộng mới làm. Thôi thì như vậy cũng giết được thời gian. Nhưng khi trời dần ngả về chiều, tôi không biết mình phải đi đâu, làm gì... Vài cuốn sách hiếm hoi mà tôi lôi từ xó bếp và nhà kho ra cũng đã được đọc tới thuộc lòng...
Những câu chuyện mà nữ quản gia Kirilopna kể lại, tôi cũng đã nghe không biết bao nhiêu lần. Nghe các bà mẹ hát chỉ càng khiến tôi thêm sầu lòng. Tôi muốn uống rượu vang, có điều uống rồi lại đau đầu. Nhưng thật lòng, tôi sợ mình sẽ biến thành bợm rượu, chỉ vì mọi thứ quá tẻ nhạt. Quả tình tôi đã gặp không biết bao nhiêu người trong cái huyện này đã biến thành bợm rượu. Tôi cũng chẳng có láng giềng gần gũi, quanh nhà tôi chỉ có những tên sâu rượu, nói chuyện với chúng không nghe than phiền thì cũng nghe nấc nghẹn. Tôi nhốt mình trong nhà, cô đơn, nhưng còn hơn làm bạn với những tên nghiện rượu.
Cách nhà tôi đôi dặm có một đồn điền rất giàu có. Đồn điền này là của một vị bá tước phu nhân, nhưng trong đồn điền chỉ có một người quản gia sinh sống. Bá tước phu nhân mới chỉ tới đồn điền của mình có một lần, đó là vào năm đầu tiên sau khi xuất giá, và cũng chỉ lưu lại chưa đầy một tháng. Nhưng vào mùa xuân năm thứ hai sau khi tôi đã sống những tháng ngày nhạt nhẽo thì bỗng nghe tin đồn rằng bá tước phu nhân sẽ cùng phu quân về đồn điền nghỉ hè. Quả đúng như vậy, đầu tháng Sáu hai người họ đã tới.
Đối với những người dân quê thì sự xuất hiện của người hàng xóm giàu có quả là một chuyện trọng đại. Hai tháng trước sự kiện này, các địa chủ và tá điền đã bàn tán xôn xao. Và họ sẽ còn tiếp tục bàn tán sau khi sự việc xảy ra được... ba năm. Còn tôi, tôi phải thừa nhận rằng, khi nghe nói mình sẽ có một người hàng xóm trẻ đẹp, tự nhiên tâm trạng tôi cũng đầy phấn khích. Tôi nóng lòng muốn được gặp người đó. Vì vậy, ngày Chủ nhật đầu tiên sau khi bá tước phu nhân tới, vừa xong bữa trưa, lấy tư cách là người hàng xóm gần nhất của họ và với thái độ đầy thành kính của một kẻ bề dưới, tôi mạo muội tới thăm vợ chồng bá tước phu nhân.
Người hầu dẫn tôi tới thư phòng của ngài bá tước, rồi sau đó vào báo cho họ biết. Thư phòng rộng rãi, được bày biện vô cùng xa hoa. Cạnh tường là một hàng giá sách, trên mỗi giá sách đều có một tượng bán thân bằng đồng. Sát vách lò sưởi bằng đá là một tấm gương lớn. Sàn nhà được lót bằng nỉ xanh, trải thảm. Tôi vốn sống ở những căn phòng nhỏ, lạnh lẽo, đơn sơ, nên không quen lắm với sự bài trí đắt tiền, hoa mĩ. Hơn nữa, đã lâu không được thấy sự giàu sang của người khác, thành thử trong lòng tôi không tránh khỏi có chút sợ sệt và cảm giác kính cẩn. Được diện kiến bá tước giống như những người tỉnh lẻ trông ngóng để được tiếp kiến quan đại thần. Cửa bật mở, một người đàn ông chừng ba mươi hai, ba mươi ba tuổi, vô cùng tuấn tú bước vào. Vị bá tước này cởi mở, điềm đạm, thân thiết bước tới trước mặt tôi. Tôi lấy can đảm, định giới thiệu bản thân thì bá tước đã mở lời trước.
Chúng tôi ngồi xuống ghế. Giọng nói của bá tước rất tự nhiên, thân thiện, khiến tôi chẳng mấy chốc không còn cảm thấy gò bó nữa. Tôi đang dần khôi phục được trạng thái bình thường thì đột nhiên bá tước phu nhân bước vào phòng, càng khiến tôi lúng túng hơn lúc đầu. Bá tước phu nhân quả là trang quốc sắc thiên hương. Bá tước giới thiệu tôi với phu nhân của ông. Tôi cũng rất muốn tỏ ra hào hoa, lịch thiệp, nhưng càng ra vẻ lại càng mất tự nhiên. Với thiện ý giúp tôi có thời gian bình thường trở lại và quen với môi trường giao tiếp mới, hai vợ chồng bá tước bắt đầu chuyện trò, coi tôi như một người láng giềng thân thiết, không hề câu nệ. Lúc ấy, tôi đi đi lại lại trong phòng, thưởng ngoạn sách và các tác phẩm hội họa. Tôi không am tường lắm về hội họa, nhưng có một bức tranh khiến tôi phải chú ý. Bức tranh vẽ phong cảnh Thụy Sỹ. Nhưng điều khiến tôi kinh ngạc là ở chỗ bức tranh bị hai viên đạn xuyên thủng, viên này bắn đè lên viên kia.
- Bắn tuyệt quá, kỹ năng hoàn hảo! - Tôi tấm tắc khen.
- Đúng vậy. - Bá tước tỏ vẻ đồng tình. - Kỹ năng hết sức hoàn hảo. Chắc anh cũng bắn giỏi lắm nhỉ?
- Vâng, cũng không tồi lắm. - Cuối cùng họ cũng nói tới đề tài quen thuộc của tôi, tôi vui mừng đáp. - Trong khoảng cách ba mươi thước, nếu bắn vào quân bài thì tôi không trượt phát nào, dĩ nhiên là phải dùng khẩu súng quen thuộc.
- Thật sao? - Bá tước phu nhân chăm chú nghe rồi hỏi. - Anh bạn, anh làm được như vậy thật?
Bá tước nói đầy vẻ thiện chí:
- Có thời gian thì chúng ta cùng thi tài xem sao chứ nhỉ? Năm xưa tài nghệ của tôi cũng khá lắm, chỉ có điều đã bốn năm rồi tôi không sờ vào súng ống nữa.
- Ồ, nếu vậy, tôi dám cược rằng, trong khoảng cách hai mươi bước, ngài cũng sẽ không bắn trúng quân bài nào đâu. Trò này ngày nào cũng phải tập luyện, đó là kinh nghiệm xương máu của bản thân tôi đấy. Trong đội tôi ngày trước, tôi cũng có thể coi là tay bắn giỏi. Một lần nọ, suốt cả tuần liền tôi không đụng gì đến súng cả, vì súng của tôi phải mang đi sửa. Ngài đoán xem thế nào? Lần đầu tiên cầm lại súng, bắn một cái bình trong phạm vi hai mươi lăm bước, tôi bắn liên tiếp bốn phát đều không trúng. Chỗ chúng tôi hồi đó có một đại úy kị binh khá hài hước, thích trêu đùa. Anh ta nói với tôi: “Này chú em, xem ra chú em không nhẫn tâm bắn vỡ cái lọ đó nhỉ!” Đúng vậy thưa ngài, không thể xem nhẹ việc luyện tập. Nếu không chẳng mấy chốc sẽ sao nhãng mất. Tôi quen một vị cao thủ, ngày nào trước bữa trưa, anh ta cũng phải bắn ít nhất ba phát. Đó là thói quen rồi, cũng giống như việc uống một cốc rượu trước bữa ăn vậy.
Bá tước và phu nhân thấy tôi tự nhiên trở lại thì đều tỏ ra rất vui mừng.
- Kỹ năng bắn của người ấy ra sao? - Bá tước tò mò.
- Thưa ngài, hãy nghe tôi kể. Giả dụ một lúc nào đó, anh ta chợt nhìn thấy một con ruồi trên tường. Thưa bá tước phu nhân, bà thấy nực cười lắm ạ? Nhưng quả thực là như vậy, tôi chỉ nói sự thật. Anh ta nhìn thấy con ruồi thì liền gọi: “Cuska, mang súng lại đây!” Cuska đưa cho anh ta khẩu súng nạp đầy đạn. Anh ta nổ súng, con ruồi dính chặt vào tường.
- Ồ, tài tình quá! - Bá tước buột miệng. - Anh ta tên là gì?
- Thưa ngài, là Silvio.
- Silvio? - Bá tước ngồi dựng dậy, kêu lên. - Anh cũng quen Silvio ư?
- Thưa ngài, sao tôi không quen được chứ! Chúng tôi là bạn thân của nhau. Mọi người trong đội tôi, ai cũng coi anh ấy là người anh em. Nhưng đã năm năm rồi, tôi không có tin tức gì về anh ấy. Xem ra ngài cũng biết anh ấy nhỉ?
- Quen chứ, rất quen là khác. Anh ta chưa kể cho anh nghe sao? Chắc là chưa rồi, tôi nghĩ chắc là chưa. Anh ta chưa kể cho anh nghe một câu chuyện rất li kì sao?
- Thưa ngài, phải chăng đó là chuyện anh ta bị một tay công tử ăn chơi cho một cái bạt tai trong buổi dạ tiệc?
- Anh ta có nói với anh tên người kia không?
- Không, thưa ngài, anh ấy chưa hề nói với tôi tên người ấy... Mà không, thưa ngài... - Tôi đã đoán được chuyện gì xảy ra, liền nhanh nhảu. - Xin ngài thứ lỗi, tôi không hề hay biết... Chẳng lẽ người đó lại chính là ngài sao?
- Chính là tôi. - Bá tước đáp với vẻ mặt rất khó tả. - Bức tranh anh vừa xem chính là vật kỉ niệm cho lần gặp mặt cuối cùng của chúng tôi.
- Thôi anh ơi! - Bá tước phu nhân lên tiếng. - Đủ rồi, đừng nói nữa. Em sợ phải nhắc lại những điều đó.
- Không. - Bá tước thản nhiên. - Anh phải kể lại đầu đuôi sự việc. Anh bạn đây đã biết anh đắc tội với bạn anh ấy thì anh cũng phải kể cho anh ấy nghe, Silvio đã báo thù thế nào.
Bá tước kéo ghế dịch lại chỗ tôi. Đầy tò mò, tôi háo hức đợi nghe câu chuyện.
- Năm năm trước, tôi cưới vợ. Tháng đầu tiên, cũng chính là tháng trăng mật, tại chính nơi đây, vợ chồng tôi sống tại chính ngôi làng nhỏ này. Trong căn nhà này, vợ chồng chúng tôi đã sống những khoảng thời gian đẹp nhất trong đời. Nhưng cũng chính tại đây, có một việc chúng tôi không bao giờ muốn nhắc lại. Một ngày nọ, hoàng hôn buông xuống, hai chúng tôi cưỡi ngựa đi hóng gió. Không hiểu sao, con ngựa của vợ tôi giở chứng, làm cô ấy sợ, cô ấy giao dây cương lại cho tôi, một mình dạo bước về nhà, còn tôi cưỡi ngựa về trước. Về tới sân, tôi thấy một chiếc xe ngựa du lịch. Người làm bẩm với tôi, có một người đang ngồi trong thư phòng, anh ta không chịu tiết lộ danh tính, chỉ nói tìm tôi có việc. Tôi bước vào chính căn phòng này, trong ánh sáng lờ mờ, tôi thấy một người đầy bụi đường, râu ria tua tủa, đứng cạnh lò sưởi. Tôi bước tới trước mặt anh ta, cố gắng hồi tưởng xem mình đã gặp anh ta ở đâu.
- Ngài quên tôi rồi sao, bá tước? - Anh ta nói, giọng run run.
- Silvio! - Tôi kêu lên. Nói thực lòng, lúc đó tôi có cảm tưởng máu trong người mình đông cứng cả lại.
- Chính là tôi đây. - Anh ta tiếp lời. - Đến lượt tôi nổ súng rồi! Tôi đến để đòi món nợ khi xưa. Ngài đã chuẩn bị xong chưa?
Trong túi quần bên trái của anh ta có một khẩu súng. Tôi đo khoảng cách hai mươi bước, đứng vào góc đó, rồi khẩn khoản yêu cầu anh ta nổ súng ngay khi vợ tôi còn chưa về. Anh ta chần chừ không nổ súng vội, mà muốn thắp nến lên. Tôi sai người thắp nến. Tôi đóng chặt cửa, dặn dò người làm không cho ai vào, sau đó thỉnh cầu anh ta hãy nổ súng. Anh ta rút súng ra, ngắm bắn... Tôi đếm thời gian... Tôi nghĩ đến vợ mình... Một phút đáng sợ trôi qua. Silvio hạ súng xuống.
- Thật đáng tiếc. - Anh ta lên tiếng. - Trong súng của tôi không chứa hạt anh đào, đạn nặng quá. Tôi luôn cảm thấy, chúng ta không phải đang quyết đấu mà là đang giết người. Tôi không quen nổ súng vào người không cầm vũ khí. Chúng ta làm lại lần nữa nhé, gắp thăm để xem ai nổ súng trước.
Đầu ong ong, mãi tôi mới đồng ý. Cuối cùng chúng tôi lấy thêm một khẩu súng nữa, nạp đầy đạn, vo hai mảnh giấy. Anh ta cho hai mảnh giấy vào chiếc mũ bị tôi bắn thủng trước đây, tôi lại bốc phải số một.
- Bá tước, ngài may mắn quá đi thôi! - Anh ta cười nhạt, điệu cười khiến tôi suốt đời không thể nào quên.
Tôi cũng không rõ khi đó đã xảy ra chuyện gì, tại sao anh ta bắt tôi phải làm vậy. Dù sao tôi cũng nổ súng, bắn vào bức tranh này.
Bá tước chỉ tay vào bức tranh bị bắn thủng. Mặt bá tước đỏ bừng như lửa, mặt phu nhân lại trắng bệch như tờ giấy. Tôi không kìm được, buột miệng kêu lên một tiếng.
- Tôi nổ súng. - Bá tước kể tiếp. - Ơn Chúa, tôi đã bắn trượt. Vậy nên Silvio... Nói thực lòng, lúc đó trông anh ta rất đáng sợ... anh ta ngắm bắn.
Đột nhiên cửa bật mở, Masa chạy vào thét lên, ôm lấy cổ tôi. Cô ấy tới, tinh thần tôi cũng phấn chấn hẳn lên.
- Em yêu! - Tôi nói với vợ mình. - Em không thấy là bọn anh chỉ đang đùa thôi sao? Sao em lại phải sợ đến vậy? Đi uống nước đi rồi quay lại đây, anh sẽ giới thiệu em với người bạn và cũng là đồng đội cũ này.
Masa vẫn không tin.
- Thưa ngài, những điều chồng tôi nói có đúng không? - Cô ấy quay sang hỏi Silvio lúc này trông vô cùng đáng sợ. - Có phải ngài và chồng tôi đang đùa không?
- Thưa phu nhân, chồng bà luôn thích đùa. - Silvio đáp. - Lần nọ, anh ta đùa, tát tôi một cái. Rồi anh ta tiếp tục đùa, bắn thủng mũ tôi. Nay lại vẫn đùa, bắn tôi nhưng không trúng. Giờ thì tới lượt tôi...
Nói rồi anh ta ngắm bắn... ngay trước mặt vợ tôi. Masa quỳ sụp dưới chân anh ta.
- Đứng dậy, Masa, thật không ra thể thống gì nữa! - Tôi hét toáng lên như bị điên. - Xin ngài đừng đùa giỡn với người phụ nữ đáng thương này! Rốt cuộc, ngài có nổ súng hay không?
- Không! - Silvio đáp. - Vậy là tôi hài lòng rồi, tôi đã thấy ngài sợ hãi, thấy ngài hổ thẹn. Tôi buộc ngài phải nổ súng, thế là đủ rồi. Ngài rồi sẽ nhớ mãi đến tôi, tôi để lương tâm ngài tự phán xét.
Nói đoạn, anh ta bước ra ngoài, nhưng đến cửa thì dừng lại, quay nhìn bức tranh đã bị tôi bắn thủng, dường như không thèm ngắm, bắn một phát vào bức tranh rồi bỏ đi. Vợ tôi chết ngất, ngã lăn xuống sàn. Người hầu không ai dám cản đường, chỉ biết nhìn anh ta với ánh mắt sợ hãi. Tôi còn chưa kịp hoàn hồn, anh ta đã ra tới bậc thềm, gọi xà ích đánh xe tới rồi lên xe bỏ đi.
Vậy là tôi đã biết phần kết câu chuyện mà khúc mở đầu của nó đã từng khiến tôi ngỡ ngàng. Sau này, tôi không bao giờ có cơ hội gặp lại nhân vật chính của câu chuyện nữa. Nghe đâu, trong cuộc khởi nghĩa Alecxander Ipsilanti, Silvio dẫn đầu một nhóm quân đội vận động đấu tranh giải phóng dân tộc và đã hi sinh giữa một chiến dịch.
Đêm trong ngôi biệt thự ma quỷ
Bây giờ tỉ mỉ nhớ lại, chiều tối hôm đó, tôi đã đi qua hơn chục hay thậm chí là hơn hai chục cái kho thóc, để tăm tia một ngôi nhà ấm cúng, vậy mà vẫn không tìm được một nơi ưng ý, bởi lẽ các con hẻm ở quận Ustơ vừa hoang vắng lại vừa lầy lội. Cho tới khi trời sắp tối, tôi mới phát hiện ra ngôi biệt thự bỏ hoang trong một khu vườn lem luốc bùn lầy, cách đường cái một đoạn. Trời vừa mưa như tháo cống, từ trên các cành cây, nước mưa vẫn còn nhỏ giọt tí tách, tí tách...
Mái nhà xem ra vẫn còn nguyên vẹn nên bên trong nhà không có lí do gì lại không thoáng đãng, sạch sẽ. Dù gì thì ngôi biệt thự trông cũng khô ráo, như bất kì ngôi nhà nào mà tôi có thể thấy ở nơi nào đó.
Lòng đã quyết, thoạt tiên tôi cẩn trọng lia mắt soi từ đầu này con đường tới đầu kia, rồi rút lẹ từ trong áo ra một đoạn sắt, cạy để mở cửa. Cánh cửa chỉ được khoá lỏng lẻo bằng một cái móc sắt hai vòng. Bên trong, không gian vừa tối tăm, ẩm ướt vừa nặng nề. Tôi quẹt một que diêm, vòng sáng lửa diêm lờ mờ phát ra cũng đủ cho tôi thấy đâu đó trước mặt có một hành lang tốì om. Đúng lúc đó, diêm khẽ nổ lách tách rồi tắt phụt. Trong thời khắc âm u đó, tại một con hẻm hoang vắng, dường như chẳng có bất cứ lí do gì để tôi phải sợ rằng sẽ có người đi ngang qua, tuy nhiên tôi vẫn cẩn thận đóng chặt cửa lại. Sau đó tôi quẹt một que diêm khác, rón rén bước vào hành lang tối tăm. Cuối hành lang là một căn phòng nhỏ. Tuy các cánh cửa đều đã bị chặn bằng những thanh gỗ nhưng rõ ràng là không khí ở đây có phần thoáng đãng hơn. Không những thế, trong phòng còn có một lò sưởi, dẫu nó đã gỉ ngoét. Suy tính một chốc, tôi quyết định chặt một thanh gỗ chắn cửa bằng con dao mang theo bên người và nhóm lửa lên. Chẳng mấy chốc tôi đã đun được một ấm trà trên ngọn lửa cháy leo lét ấy, còn hong khô cả bộ quần áo ẩm ướt do gặp phải cơn mưa chiều. Lát sau, tôi chất đầy củi vào lò, đặt đôi giày vào nơi dễ hong khô nhất, đoạn vươn tay vươn chân chuẩn bị đánh một giấc.
Chắc chắn là tôi ngủ chưa được bao lâu, bởi lúc chợt tỉnh giấc, lửa trong lò vẫn cháy bừng bừng. Nằm trên tấm gỗ không bằng phẳng quả thực không thể ngủ được giấc dài, toàn thân ê ẩm, chỉ hơi cựa nhẹ là tỉnh. Tôi trở mình định bụng ngủ tiếp, bỗng nghe thấy tiếng bước chân trên hành lang, tôi hơi hoảng. Như tôi đã nói lúc trước, cửa sổ được bịt chặt bằng các tấm gỗ, trong phòng cũng không có bất cứ cánh cửa nào khác, thậm chí còn không có cả góc khuất để nép mình. Thế nhưng tôi vẫn đủ lì lợm để nghĩ rằng bây giờ cũng chẳng có con đường nào khác, chỉ còn mỗi cách ngồi dậy đối mặt với thực tế. Điều đó cũng có nghĩa là, tôi sẽ bị áp giải về lại nhà tù Ustơ. Hai hôm trước, tôi vừa mới trốn được ra khỏi đó, và vì rất nhiều nguyên nhân, tôi không hề muốn sớm quay lại nơi khổ ải đó.
Kẻ lạ mặt kia không hề tỏ ra vội vã, nhưng không lâu sau có vẻ như bị ánh lửa thu hút, người ấy chầm chậm bước vào từ hành lang. Khi mới bước vào phòng, dường như anh ta không mảy may chú ý đến tôi lúc này đang cố thu mình vào một góc, mà bước thẳng tới bên lò sưởi, giơ tay lên trên lửa. Toàn thân anh ta ướt sũng. Tôi thầm nghĩ, dẫu là trong một đêm mưa to gió lớn thế này cũng không còn ai ướt hơn gã được nữa. Anh ta không đội mũ, nước trên mái tóc dựng ngược nhỏ giọt xuống mắt, rơi vào đống tàn củi, phát ra những âm thanh lách tách xì xì đầy oán hận.
Bỗng nhiên tôi nghĩ rằng anh ta không phải là một công dân hợp pháp, chắc cũng giống tôi - là một kẻ lang bạt, không nơi nương tựa. Nghĩ vậy, tôi liền cất tiếng chào anh ta. Chẳng mấy chốc, chúng tôi bắt đầu trò chuyện cùng nhau. Anh ta luôn miệng ca cẩm thời tiết vừa lạnh lẽo vừa ẩm ướt. Anh ta ngồi so vai rụt cổ cạnh lò sưởi, răng va vào nhau lập cập, mặt trắng bệch như xác chết.
- Đúng vậy. - Tôi lên tiếng. - Đây quả không phải là thời tiết thích hợp để đi xa. Nhưng tôi vẫn thắc mắc, dường như ngôi biệt thự này thường xuyên không có người ghé qua, mà thực ra nó vẫn là một ngôi nhà rất ổn đấy chứ…
Bên ngoài, những bông hoa hướng dương trắng bệch và những cây cỏ dại cao lớn đang nghiêng ngả trong gió mưa.
- Xem nào. - Anh ta nói với tôi. - Trong quận này không còn nơi nào kiên cố hơn đây đâu. Và cũng chẳng có vườn hoa nào sánh được với vườn hoa chốn này. Trước kia, chính chỗ này đã từng là một phòng khách lịch sự. Nhưng giờ chẳng còn ai ở đây cả, ngay đến những tên lưu manh cũng rất ít khi chọn chỗ này làm chốn dừng chân tạm bợ. Những nơi tụi ăn mày ăn xin thường lui tới sẽ thấy quần áo rách, vỏ hộp, thức ăn rơi vãi khắp nơi... Nhưng ở đây tuyệt nhiên không hề có.
- Sao lại vậy? - Tôi hỏi.
Trước khi trả lời, anh ta thở phì ra một hơi đầy vẻ bất an.
- Quỷ! - Anh ta đáp. - Quỷ, trước đây hắn ở nơi này. Đó là một câu chuyện vô cùng thương tâm, tôi không muốn kể lại nữa. Dù sao thì kết cục vẫn là hắn bị dìm chết, chính trong cái hồ nước kia. Toàn thân hắn lấm láp đầy bùn, nổi bập bềnh khi người ta vớt hắn lên. Có người thấy hắn trôi dạt trong hồ nước. Có người lại thấy hắn tại lối rẽ gần trường học, nơi hắn thường đợi con trai hắn. Dường như hắn đã quên khuấy rằng, họ đã chết theo cách như vậy, và cuối cùng chính hắn cũng bị chết đuối. Người ta đồn rằng hắn vẫn thường lai vãng quanh ngôi biệt thự này, cứ đi đi lại lại... Chỉ cần nghe thấy tiếng bước chân hắn ở ngoài cửa, người ta đã không sao ngủ được, giống như bị chứng mộng du. Đúng vậy đấy, hắn đã bị chết đuối ở chính cái hồ nước kia, nhưng giờ hắn vẫn cứ giữ thói quen đi đi lại lại.
Kẻ lạ mặt nói rồi lại thở dài. Khi gã bước đi, tôi nghe thấy tiếng nước tí tách nhỏ giọt từ đôi bốt của hắn.
- Nhưng những hạng người như chúng ta mà mê tín thì hết đường. - Tôi đáp. - Chúng ta mà gặp phải ma quỷ thì toi, vì nếu vậy những đêm mưa gió, chúng ta chỉ còn nước vạ vật nơi đầu đường, xó chợ.
- Đúng thế! - Anh ta đáp. - Đúng thế, chẳng thể nào có chuyện đó. Bản thân tôi cũng chưa bao giờ tin có chuyện ma quỷ lộng hành.
Tôi cười nhạt, tiếp lời:
- Tôi cũng không tin. Chẳng biết người khác thế nào, chứ tôi chưa gặp ma quỷ bao giờ.
Thêm một lần nữa gã nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ lùng, rồi cất tiếng:
- Đúng thế, hi vọng rằng anh sẽ không bao giờ gặp phải. Một số người sẽ không bao giờ gặp phải. Người nghèo, không đủ tiền tìm chốn nương thân đã đủ khốn khổ rồi, ma quỷ lại còn đến làm họ khiếp đảm nữa.
Tôi chua chát nói:
- Tiền bạc là thứ khiến tôi ngủ không ngon giấc, chứ không phải là lũ ma quỷ. Như bây giờ, những kẻ lắm tiền, hay dòm ngó chuyện của người khác, chẳng dễ dàng gì có được một đêm an giấc.
Nước vẫn không ngừng thấm qua quần áo của anh ta, chảy lênh láng khắp phòng, cơ thể anh ta toả ra một mùi lạnh lẽo, ẩm ướt. Tôi ngạc nhiên kêu lên:
- Lạy Chúa lòng lành, anh bạn của tôi ơi, người anh không khô được sao?
Nhưng anh ta chỉ phát ra tràng cười ghê rợn, nghe như tiếng ho khan khi trả lời:
- Khô ư? Khô ư? Không bao giờ ta có thể khô được... cho dù trời nắng, mùa đông hay mùa hạ. Những người như chúng ta không bao giờ khô được! Nhà ngươi đã hiểu chưa?
Anh ta đút hai cánh tay dính đầy bùn đất vào trong lửa, rồi khuỷu tay cũng ngập trong lửa, ánh mắt nhìn tôi đầy dữ tợn và điên cuồng. Tôi vơ vội lấy hai chiếc giày của mình, hét toáng lên rồi bỏ chạy, lao vào màn đêm mịt mù.