Mưu Trí Chốn Quan Trường
1. LƯU CẨN KHÓC SƯỚT MƯỚT ĐỂ GIỮ MẠNG SỐNG

Mưu Trí Chốn Quan Trường

Lượt đọc: 89 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương I TÀI "KHÓC" CỦA NGƯỜI LÀM QUAN

❊ ❊ ❊

Con trai không hay khóc, bởi vì chưa đụng đến chỗ thật đau". Tuy đó chỉ là câu tục ngữ, nhưng đường đường là một đấng nam nhi, sức dài vai rộng mà lúc nào cũng khóc lóc, thì còn gì là phong thái, là trang nghiêm nữa. Có điều, trong giới quan trường, có lúc cần phải "khóc", khóc thật "nghề", chứ không như mấy mụ dữ dằn trên đường phố, ngồi đánh phạch một cái xuống đất rồi lăn lộn, tru tréo như giống lang, loài sói. Đương nhiên, cũng không như lũ con gái hay thẹn thùng, cúi đầu lau nước mắt bằng chiếc khăn lụa. Để giành được thắng lợi trong chốn quan trường, thì dù là nam nhi cũng không tránh khỏi có lúc phải khóc. Lúc bấy giờ tiếng khóc phải hết sức tinh tế. Có viên quan ngẩng cao đầu mà khóc, nước mắt cứ ròng ròng. Đó là "khóc" để thể hiện phong độ của đấng trượng phu, khóc phải thật giống, mặt mũi đẫm lệ. Khóc để đạt tới mục đích, lấy khóc làm vinh vây!

Những bậc chính khách thường là người khéo biết vận dụng nước mắt. Nước mắt không phải là vũ khí riêng của phụ nữ. Nước mắt của con trai, nhất là của các chính khách, thường có tính sát thương rất cao, miễn là phải khóc thật tình cảm, rất phong độ, đặc sắc, làm cho những người chung quanh phải nghiêng ngả. Truyện cổ Trung. Quốc kể rằng: "Lưu Bị khóc để được, cả giang sơn". Giang sơn chỉ cần khóc mà có, nữa là một chức quan nhỏ nhoi, đáng kể gì!

Phương pháp và phong cách khóc cũng thiên hình vạn trạng. Tuy vây, cũng có những nguyên tắc nhất định trong cái khóc của các chính khách. Phải giả khóc như thật, khóc rất tình cảm, mọi người mới cảm động, quan trên mới đồng tình. Lưu Bị lấy cái "khóc" để đoạt giang sơn. Như vậy, nếu biết khóc cho khéo thì hiệu quả lắm thay!

Khóc không phải là phong thái riêng của phụ nữ. Nếu con trai biết khóc thật to thì hiệu quả có kém gì con gái? Từ xưa đến nay, trong chốn quan trường, những người khéo khóc không phải là hiếm. Khéo khóc thì được cả giang sơn, được quan trên quí mến, thăng quan tiến tước cho. Khóc có tồi đi nữa thì cũng giữ được tính mạng trong chốn quan trường đầy sóng gió.

Sức mạnh của tiếng khóc thật vô cùng vô tận.

Triều Minh có đại gian thần là Lưu Cẩn.

Lưu Cẩn cực kỳ gian ác, một tay muốn chống trời, tàn sát người ngay. Đứng trước mặt hoàng đế thì hắn giống như con dê non, hiền lành, không cao giọng cáu kỉnh, hệt một tên thái giám, Nhưng đối với văn võ quần thần trong triều, nhất là những người không cùng chính kiến thì hắn ác độc như rắn rết.

Lưu Cẩn hoành hành ngang ngược, coi mạng người như cỏ rác. Đối với triều chính thì dối trên lửa dưới, văn võ trong triều hết lời oán thán, các đại thần vô cùng bất mãn. Thế, rồi, đại học sĩ Lưu Kiệt, Tạ Thiên, Vương Khâu và một số người chống đối khác cùng nhau liên hợp dâng biểu lên Võ Tông hoàng đế triều Minh hạch tội Lưu Cẩn. Lưu Cẩn là thân tín của Võ Tông, nhưng vì có nhiều đại thần dâng sớ, nên Võ Tông cũng không thể làm ngơ. Bề nào Võ Tông cũng thấy khó xử.

Suy đi tính lại, Vỗ Tông đành phải thỏa hiệp với bọn Vương Khâu sẽ xử lý Lưu Cẩn vào buổi chầu sáng hôm sau.

Nào ngờ tường có vách mạch có tai, người cùng phe cánh là sứ bộ thượng thư Tiêu Phương nghe tin liền mật báo với Lưu Cẩn.

Thấy sắc thái Tiêu Phương khác thường, Lưu Cẩn biết có chuyện chẳng lành. Sau khi nghe Tiêu Phương kể hết mọi chuyện, Lưu Cẩn rũ ra như một tàu lá, khuỵu ngay xuống đất. Hắn cảm thấy chơi với vua như chơi với hổ vậy. Giống như mọi tên gian thần khác, hắn quyết không thể bó tay chịu chết. Suy nghĩ một hồi, hắn liền quyết định dùng tiếng "khóc" làm vũ khí biện hộ cho mình.

Vì sao Lưu Cẩn lại chọn tiếng khóc?

Lưu Cẩn nói với đồng đảng:

- Thánh thượng còn trẻ, chỉ có khóc mới đánh trúng vào những tình cảm yếu đuối của Người. Chúng ta cứ khóc rống lên thì làm gì mà hoàng thượng chẳng động lòng.

Đêm hôm đó, Lưu Cẩn cùng một số thái giám đến chỗ hoàng đế. Trời đã khuya, hoàng đế đang thay áo đi ngủ, bỗng thấy các thái giám vào, lấy làm khó hiểu.

Lưu Cẩn nhìn thây Võ Tông đang ngỡ ngàng, liền bảo nhau quỳ thành một hàng trước sập rồng rồi khóc thật to.

Võ Tông lúng túng, chưa hiểu có chuyện gì.

Lưu Cẩn khóc rất thương tâm. Nước mắt lã chã. Hắn vừa khóc vừa cầu xin:

- Hoàng thượng ban ân... ban ân...

Võ Tông nói:

- Đêm hôm khuya khoắt, vì sao các ngươi khóc?

Lưu Cẩn trả lời trong tiếng nức nở:

- Hoàng thượng, xin Người cứu mạng nô tài. Người không cứu nô tài thì nô tài bị bọn Vương Khâu xé xác ra mất!

Thường ngày hoàng thượng sủng ái bọn thái giám vô cùng. Lúc này chúng đang phủ phục dưới đất, khóc lóc thảm thiết, nên tự nhiên hoàng thượng cũng rơi lệ.

Thế là cả thái giám lẫn hoàng thượng đều khóc. Trong chốn quan trường thời cổ, rất hiếm thấy như vậy. Bọn thái giám khóc rất thương tâm, khiến hoàng thượng động lòng trắc ẩn. Nghĩ đến những lúc sướng lòng mát ruột do được bọn thái giám hầu hạ hết mực, hoàng đế nói:

- Trẫm chưa xuống chỉ bắt bớ các ngươi, thì việc gì các ngươi phải đua nhau khóc lóc như vậy!

Lưu Cẩn mừng rỡ, biết mình đã sống, thái độ của hoàng thượng thì mềm mỏng và dịu dàng nhưng hắn vẫn làm ra vẻ xót xa, biện hộ cho mình:

- Nô tài cùng nhiều người khác biết hoàng thượng khoan hồng đại lượng, là minh chủ ngàn năm, tất không nghe lời gièm pha của bọn tiểu nhân gian thần. Bọn nô tài vốn không sợ chết, hoàng thượng có giết, chúng nô tài không hề oán giận. Chỉ nghĩ rằng, chúng nô tài mà không còn nữa thì lấy ai hầu hạ hoàng thượng? Vạn nhất chọn phải đứa bất lễ bất nghĩa thì không những hoàng thượng mất vui mà còn phải lo nghĩ! Đó mới là tội của lũ nô tài.

Lưu Cẩn là loại thái giám, không những biết can dự triều chính, giết hại lương thần mà còn khéo biết làm cho Võ Tông khoan khoái, dễ chịu. Hoàng đế Võ Tông thường chỉ thích hai thứ: Chim săn và gái đẹp. Lưu Cẩn liền sai rất nhiều quan viên trong đại nội tìm kiếm khắp nơi những loài chim săn và gái đẹp đưa về để hoàng đế hưởng lạc. Mỗi lần hoàng đế buồn phiền thì Lưu Cẩn đều có cách làm cho hoàng đế trở lại vui vẻ. Bởi vậy Lưu Cẩn không những là người được hoàng đế tin dùng, mà còn là kẻ "thân thiết" không thể tách rời.

Tiếng khóc của Lưu Cẩn hiệu nghiệm vô cùng. Võ Tông hoàng đế suy nghĩ: "Bọn học sĩ Vương Khâu, ăn không ngồi rồi, nên lúc thì dâng tấu chương, khi thì muốn tố giác. Ngay như mình chỉ muốn chơi mấy con chim ưng, đùa cùng vài cô gái, chúng cũng khuyên đông khuyên tây, làm như trong thiên hạ chỉ có bọn họ là có văn hóa, còn những người khác đều là lũ ngu đần, mê muội cả". Nghĩ tới đây, Võ Tông buột miệng nói luôn:

- Nhiều lúc bọn Vương Khâu cũng thái quá.

Lưu Cẩn thấy đã đến lúc có thể xen vào, liền thút thít nói:

- Dưới gầm trời này, đất là đất của vua, người là người của vua. Hoàng thượng có bốn biển, tất cả đều là của thánh thượng, có chơi mấy con chim săn thì đã làm sao? Nhưng bọn Vương Khâu đi đến đâu cũng rêu rao thánh thượng chơi bời thối chí, phương hại quốc gia! Tệ hơn nữa, họ câu kết trong ngoài, hòng ức hiếp hoàng thượng. Song lại sợ nô tài cản trở nên mới đặt chuyện, đưa nô tài và những người khác vào chỗ chết. Quả là ác độc!

Nói xong Lưu Cẩn liền phủ phục dưới đất mà khóc rống lên.

Bấy giờ hoàng đế còn ít tuổi, chưa có chủ kiến gì! Lũ thái giám hằng ngày vốn được sủng ái, hoàng đế không nhẫn tâm nhìn chúng khổ sở, liền nói:

- Đứng dậy, Trẫm không giết các ngươi, vậy còn khóc gì nữa!

Có mấy người định đứng lên, Lưu Cẩn liền kéo họ lại và khóc thảm thiết.

Võ Tông thấy vậy lại hỏi:

- Còn chờ gì nữa mà không đứng dậy, lại còn khóc?

Lưu Cẩn nấc liền mấy tiếng rồi mới nói:

- Thánh thượng, nếu không trừ bọn Vương Khâu, Lưu Kiện đi, thì giang sơn nhà Đại Minh liệu còn được bao lâu nữa!

Võ Tông nói:

- Bọn họ chỉ không thích trẫm vui chơi, chứ chẳng có ý gì đâu, các ngươi đừng lo.

Lưu Cẩn vừa lau nước mắt vừa nói:

- Thánh thượng thấy một mà chưa thấy hai. Mấy vị lão thần đó tỏ ra xem thường thánh thượng vì thánh thượng còn trẻ. Hôm nay dâng tấu không cho chơi chim, ngày mai dâng sớ can ngăn săn bắn, cứ thế, e đến một lúc nào đó sẽ dâng sớ không cho thánh thượng ăn cơm cũng nên. Trong con mắt họ, liệu còn có ai nữa đây. Tự cho mình là già cả, muốn làm gì thì làm. Họ chỉ sợ nô tài bẩm báo để hoàng thượng tỏ tường mọi chuyên, mới tìm cách thanh toán nô tài. Nô tài có phải chết cũng chẳng oán thán gì, chỉ lo cho hoàng thượng... Người nghĩ xem, giả dụ Tư lễ giám đồng lòng với hoàng thượng thì liệu bọn họ có dám bứt bách hoàng thượng như vậy không?

Võ Tông chỉ vốn không định giết thái giám, nhưng sau khi nghe những điều Lưu Cẩn vừa khóc vừa nói, liền có thêm những quyết định khác. Không những bọn hoạn quan gian ác không bị giết mà còn hạ ngay lệnh cử Lưu Cẩn nắm Tư lễ giám, kiêm nhiệm đề đốc đoàn doanh binh mã. Đồng thời, ra lệnh bắt đại thần Vương Khâu, buộc từ chức về quê các đại thần: Lưu Kiện, Tạ Thiên, Hàn Văn.

Lưu Cẩn khóc, một cái khóc thật cao minh. Không những tính mệnh được bảo toàn, mà còn cắn ngược lại, khiến cho một số lương thần bị bức hại, thực hiện dã tâm chống trời bằng một bàn tay.

2. LƯU BỊ KHÓC ĐỂ ĐƯỢC CẢ GIANG SƠN

Lưu Bị là một "minh chủ" chỉ biết khóc lóc để tự giải vây cho mình, quả là mất sĩ diện. Lý Tông Ngô viết trong Hậu Hắc Học: "Lưu Bị là loại mặt dầy. Theo Tào Tháo, Lã Bố, Tôn Quyền, Viên Thiệu, hết chỗ này đến chỗ khác, ăn đậu ở nhờ, làm điều xấu xa nhưng cứ tỉnh bơ. Sinh thời lại hay khóc". Người viết Tam Quốc diễn nghĩa, miêu tả Lưu Bị thật khôi hài. Mỗi lần gặp chuyện khó khăn, liền khóc một trận để thay đổi tình thế.

Lưu Bị thừa biết hiệu quả của tiếng khóc, nên rất hay khóc, Ngay đến người dân thường cũng biết: "Giang sơn của Lưu Bị do khóc mà có". Khóc để được cả giang sơn, thì khóc là điều cao minh, điều kỳ diệu. Qua Tam Quốc diễn nghĩa, mọi người có ấn tượng là Lưu Bị rất biết khóc. Khóc để mạo nhận mình là bậc minh đế.

Sau trận Xích Bích, theo sự sắp xếp của Gia Cát Lượng, Lưu Bị dùng quỉ kế đoạt lấy Kinh Châu, một trọng điểm về quân sự. Chu Du tức đến vỡ cả vết thương, quyết tâm đem quân sống mái với Lưu Bị một phen. Lỗ Túc khuyên nên bãi binh giảng hòa. Chu Du bảo Lưu Bị chiếm cứ Kinh Châu là họa lớn ngăn cản Đông Ngô xưng bá, liền sai Lỗ Túc đi đòi lại. Lúc đầu Lưu Bị lấy lý đo giúp đỡ người cháu là Lưu Kỳ để dây dưa không trả lại Kinh Châu. Sau khi Lưu Kỳ qua đời, Lỗ Túc lại sang đòi. Gia Cát Lượng lại cho rằng: "Thiên hạ là của chung, chẳng phải của riêng ai" để tự biện hộ, lập văn khế khi nào lấy được Tây Xuyên mới trả Kinh Châu, về sau, Lưu Bị lấy em gái của Tôn Quyền, là rể quí của Đông Ngô, Tôn Quyền lại sai Lỗ Túc đến đòi lại Kinh Châu. Lưu Bị mặt dày đã thi thố hết tài năng, liền phải gặp quân sư để hỏi kế:

- Lỗ Tử Kính năm lần bảy lượt đến đòi Kinh Châu, nhờ có tiên sinh nói giùm đã phải về không. Nay hắn lại đến, quân sư có kế gì hay?

Gia Cát Lượng nói:

- Nếu Lỗ Túc nhắc đến việc Kinh Châu, thì chúa công cứ òa lên khóc, khóc thảm thiết, thần sẽ xin ra khuyên giải, chẳng hề gì đâu!

Lỗ Túc vào phủ, hai bên cùng ngồi. Túc nói:

- Hoàng Thúc hay là rể Đông Ngô, tức như chúa công tôi, người nhà với nhau, tôi xin được nói luôn.

Lưu Bị nói:

- Sao Tử Kính quá khiêm nhường như vậy? Có gì xin cứ nói.

Túc nói:

- Tiểu nhân phụng mệnh Ngô hầu, chỉ vì việc Kinh Châu mà đến đây. Hoàng Thúc mượn Kinh Châu cũng đã lâu rồi, nay hai nhà lại kết thân với nhau, thân tình là thế, mong Hoàng Thúc mau mau trả lại.

Lỗ Túc nói xong, chờ câu trả lời. Nào ngờ, Lưu Bị ôm mặt khóc hu hu, tưởng như trời sầu đất thảm, tiếng khóc nghe thật não nùng!

Túc sợ, hỏi:

- Sao Hoàng Thúc lại thế? Tiểu nhân có tội gì chăng?

Lưu Bị cứ khóc. Nước mắt đầm đìa, ướt cả xiêm áo. Bấy giờ, Gia Cát Lượng mới ở sau bình phong bước ra, tay phe phẩy quạt, miệng nói:

- Tử Kính có hiểu cớ làm sao mà chúa công tôi khóc thế không?

Túc nói:

- Tôi thực không biết.

Gia Cát Lượng nói:

- Có khó gì mà không hiểu. Trước kia chúa công tôi mượn Kinh Châu có hẹn bao giờ lấy được Tây Xuyên thì trả. Nhưng suy đi nghĩ lại: Lưu Chương ở Ích Châu là em chúa công tôi, đôi bên đều là máu mủ nhà Hán cả, nếu cất quân sang cướp lấy thành trì, e thiên hạ chê cười. Tây Xuyên đã không lấy được mà lại phải trả Kinh Châu thì biết ở vào đâu? Mà không trả thì e mất tình thân, năm lần bảy lượt Tử Kính lại sang đòi, việc thực khó nghĩ, bởi thế mới đau lòng mà khóc

Khổng Minh nói xong, liền đưa mắt cho Lưu Bị, Lưu Bị lại đấm ngực giẫm chân, khóc ầm cả lên.

Lỗ Túc vốn là người nhân hậu, dễ động lòng trắc ẩn, thấy Lưu Bị khóc rất thảm thiết, như người hết chỗ nương thân thật, liền đứng lên khuyên rằng;

- Hoàng Thúc chớ nên phiền não, để tiểu nhân bàn với Khổng. Minh tiên sinh xem làm thế nào cho phải thì thôi!

Khổng Minh nói:

- Nhờ Tử Kính về ra mắt Ngô hầu, xin chớ tiếc lời, hãy tha thiết bày tỏ cái tình cảnh này mà hãy khoan cho, hạn ít lâu nữa.

Lỗ Túc thấy Lưu Bị thật bi thương nên phải nhận lời. Khóc tuy là hành động vô hại, nhưng nhờ nó mới có chỗ nương thần! Rõ ràng là Lưu Bị muốn chiếm Kinh Châu nên mới giả bộ đáng thương như vậy. Khóc để giữ được giang sơn mới là cái khóc của bậc "đại anh hùng", xưa nay hiếm.

Lưu Bị thật khéo khóc, khóc rất bài bản.

Lưu Bị lấy được Tây Xuyên. Một thời gian sau, Quan Vũ để mất Kinh Châu vì chủ quan, cố chấp. Lưu Bị muốn cầm quân đi đánh nước Ngô. Gia Cát Lượng và nhiều người khác hết lời khuyên can. Việc đưa hàng trăm vạn đại quân đến đánh Đông Ngô báo thù cho anh em, là muốn cái lợi nhỏ, bỏ mất điều nghĩa lớn. Chính Tào Tháo được lợi trong cuộc tranh giành này. Lưu Bị tự xưng là dòng dõi nhà Hán, không cất quân phục hưng nhà Hán, lại vì tư thù mà đánh Đông Ngô, còn gì là khí phách trượng phu! Điều đó thật rõ, nhưng vẫn không sao quên được tình anh em "kết nghĩa vườn đào". Các quan một mực khuyên can không cho cất quân, khiến Lưu Bị suốt ngày sướt mướt.

Khổng Minh nói:

- Hoàng thượng đừng buồn như vậy! Chết có số giầu phải nhờ trời. Vân Trường ngạo mạn, cố chấp, chuốc lấy họa lớn. Hoàng thượng phải giữ gìn ngọc thể, thong thả hãy lo toan việc báo thù.

Lưu Bị nói:

- Từ khi kết nghĩa với Quan, Trương ở vườn đào, đã thề cùng sống chết. Nay Vân Trường chẳng may bị hại, cô sao hưởng phú quý một mình được. Nếu không báo thù, thì phụ mất lời thề khi xưa.

Nói xong Lưu Bị khóc rống lên rồi ngã lăn xuống đất. Các quan lay gọi mãi mới tỉnh. Tỉnh dậy lại khóc. Mỗi ngày năm lần bảy lượt, ngất lên ngất xuống. Ba ngày không ăn uống gì, chỉ ngồi khóc. Nước mắt ướt cả xiêm áo, tiếng khóc nghe thật sầu thảm. Một ngày còn chưa cất quân đi rửa thù. cho Quan Vũ thì Lưu Bị còn khóc. Đến như Gia Cát Lượng lắm mưu nhiều kế cũng không biết nên khuyên can thế nào..

Lưu Bị khóc Quan Vũ hay khóc cho chính mình? Điều đó chỉ một mình ông ta hay. Có điều, qua tiếng khóc, ông ta trở thành hình tượng thật có "nghĩa".

Lưu Bị là người khéo biết khóc, nhất là khóc để được lợi trong màn kịch muốn làm hoàng đế. Sau khi tin Tào Phi phế vua Hiến đế, tự lập làm Đại Ngụy hoàng đế, truyền đến Thành Đô, cơ nghiệp họ Lưu vào tay chủ khác, Hán Trung vương tránh sao khỏi kinh hoàng? Lúc bây giờ Lưu Bị đã đủ lông đủ cánh, muốn bỏ ngôi vương lên làm hoàng đế, nhưng chưa tiện nói ra. Xưa kia, Tào Tháo bá chiếm triều chính, song hoàng đế bù nhìn vẫn còn đó, về danh nghĩa, họ Lưu vẫn có thiên hạ. Ngày nay, Tào Phi phế chúa tự lập, làm điều đại nghịch, thì làm sao? Muốn làm hoàng đế nhưng không tiện nói, Lưu Bị lại khóc để thổ lộ nỗi niềm. Thế rồi, Lưu Bị bỏ ăn bỏ uống, ngày ngày khóc lóc thảm thiết, khóc thật đúng lúc, lại sai trăm quan mặc đồ tang trở, đặt lễ, nhìn về Hứa Xương cúng tế. Vì muốn làm hoàng đế, Lưu Bị quá lo lắng nên khóc thành bệnh, không coi được việc nước, công việc triều chính trao cả cho Khổng Minh.

Hiển nhiên, Khổng Minh hiểu rõ vì sao Lưu Bị khóc. Nhân lúc có người đêm đêm đi cất vó, nhặt được chiếc ngọc tỉ óng ánh, vàng chóe dâng nộp, cuối cùng Gia Cát Lượng đã tìm được phương thuốc chữa bệnh khóc cho Lưu Bị. Ông dẫn các quan lớn nhỏ dâng biểu xin Lưu Bị lên ngôi hoàng đế.

Lưu Bị xem biểu, và hết khóc, nhưng giả bộ giận dữ, trách mọi người đẩy mình vào chỗ bất trung bất hiếu. Mọi người phải khổ sở khuyên can mãi, Lưu Bị mới vui vẻ nhận làm hoàng đế, đổi quốc hiệu là "Đại Thục". Chẳng trách mọi người bảo: "Nhờ biết khóc mà Lưu Bị có cả giang sơn".

Lưu Bị không những khóc để làm hoàng đế "Đại Thục", mà ngay cả trước lúc nhắm mắt cũng lại dùng "ngón" cũ để giữ lấy thiên hạ Tây Xuyên cho họ Lưu. Sau khi lên làm hoàng đế, Lưu Bị một mực đòi đánh Đông Ngô, báo thù cho Quan Vũ. Kết quả là bị Lục Tốn, một nho sinh trẻ tuổi của Đông Ngô, đánh cho bại hoại. Sau này được Triệu Vân đến cứu, Lưu Bị chạy về thành Bạch Đế, chẳng còn mặt mũi nào mà về Thành Đô trông thấy quần thần nữa, liền cho đổi quán dịch thành Bạch Đế, gọi là cung Vĩnh An. Vì buồn rầu và suy nghĩ lâu ngày thành bệnh, nằm liệt gường, tự biết mình chẳng còn sống được bao lâu nữa, Lưu Bị liền triệu kiến Khổng Minh.

Sau khi Khổng Minh đến, Lưu Bị vừa khóc vừa nói:

- Trẫm từ khi gặp thừa tướng, mới xây thành đế nghiệp. Không ngờ hiểu biết nông cạn, không nghe lời thừa tướng, đến nỗi thua nặng thế này. Nghĩ mà ngượng, trẫm không dám trở lại Thành Đô cùng gặp thừa tướng. Nay bệnh tình nguy ngập, chưa biết sống chết lúc nào, đành phải mời thừa tướng ra, ủy thác việc lớn!

Nói đoạn, chẳng kịp để thừa tướng trả lời, Lưu Bị đã khóc rông lên, nước mắt ròng ròng. Gia Cát Lượng tài trí hơn người, lại hiểu vì sao chúa công mình khóc, nên cũng khóc theo và khuyên giải rằng:

- Xin bệ hạ giữ gìn long thể, để thỏa lòng trông mong của thiên hạ.

Quân thần, cả hai đều khóc, mỗi người có một tâm sự riêng.

Sau khi khóc được một hồi, sực nghĩ cứ khóc thế này thì e chết mất, giang sơn họ Lưu rồi sẽ ra sao, Lưu Bị liền cho triệu các đại thần vào, sai lấy giấy bút, viết một tờ di chiếu, đưa cho Khổng Minh, rồi lại bật khóc trước mặt mọi người và nói với Khổng Minh:

- Trẫm ít học, chỉ biết đại khái mà thôi. Thánh nhân có câu: "Con chim sắp chết thì tiếng kêu ai oán; người ta sắp mất, lời nói khôn ngoan". Trẫm vốn cùng các ngươi, thề nhau giết giặc Tào để giúp nhà Hán, chẳng may nửa đường lìa rẽ.

Nói chưa dứt câu, Lưu Bị đã òa lên khóc làm người nghe cảm thấy ớn lạnh. Khóc một thôi, một hồi rồi Lưu Bị lại nói tiếp với Khổng Minh:

- Trẫm phiền thừa tướng cầm tờ chiếu này giao cho Lưu Thiền, có nhiều việc phiền thừa tướng dạy bảo thêm cho mới được.

Bọn Gia Cát Lượng khóc lạy xuống đất tạ ân tri ngộ của Lưu Bị. Lưu Bị một tay đỡ Khổng Minh dậy, một tay gạt nước mắt, nói:

- Trẫm nay nguy mất, có lời tâm phúc xin ngỏ với thừa tướng.

Gia Cát Lượng nói:

- Xin bệ hạ đừng giấu cứ nói hết, thần xin cung kính lắng nghe. Lưu Bị khóc mà nói rằng:

- Tài thừa tướng gấp mười Tào Phi, tất định được thiên hạ, làm nên việc lớn. Với con trẫm, có thể giúp được thì giúp, bằng không thì người nên làm chủ thành đô đi!

Lưu Bị khóc nửa buổi mới nói hết những điều tâm sự. Lưu Bị sợ rằng sau khi mình khuất, Gia Cát Lượng lại như Tào Phi, tự lập làm đế, thì cơ nghiệp phấn đấu cả đời kia đổ xuống sông, xuống biển, vì thế mới khóc, làm Gia Cát Lượng phải động lòng. Mặt khác nói những lo lắng trước mặt mọi người, xem xem Gia Cát Lượng sẽ xử trí ra sao!

Gia Cát Lượng nghe ra "Tiếng lòng lẫn trong tiếng khóc" của Lưu Bị rụng rời cả chân tay, mồ hồi đổ ra như tắm, lạy xuống đất, khóc mà nói rằng:

- Chúng thần đâu dám không dốc hết sức, dốc hết lòng trung trinh cho đến chết mới thôi!

Nói đoạn, Gia Cát Lượng dập đầu xuống đất, hai mắt nhòa lệ.

Lưu Bị thấy "khóc" đã đạt được mục đích. Gia Cát Lượng đã nói trước đám đông như vậy, để xem sau này nhà ngươi còn hối ước được không? Lưu Bị hết khóc, mới vội gọi hai con là Lưu Vĩnh, Lưu Lý đến trước giường, dặn rằng:

- Các con phải nhớ lời cha: Khi cha mất rồi, ba anh em chúng mày (thái tử Lưu Thiền còn ở tận Thành Đô), phải coi thừa tướng như cha, không được khinh nhờn. Trời chu đất diệt những đứa con bất hiếu vậy!

Nói đoạn, Lưu Bị sai hai người con lạy Khổng Minh. Khổng Minh nói:

- Thần dẫu gan óc lầy đất cũng không đền đáp được cái ơn tri ngộ này!

Lưu Bị dụng tâm gian trá, lấy tiếng khóc buộc Gia Cát Lượng tỏ rõ thái độ, sau đó lại cho ba con lậy Gia Cát Lượng làm cha. Như vậy, Gia Cát Lượng không những không dám cướp giang sơn của họ Lưu, mà còn phải thực bụng phò tá hoàng đế A Đẩu tầm thường, dù có phải chết!

Mọi việc sắp xếp xong, Lưu Bị không khóc nữa, yên tâm nhắm mắt.

"Tài khóc" của Lưu Bị được tôi luyện đến tuyệt đỉnh. Vị hoàng đế khéo khóc nổi danh thiên hạ đã qua đời. Gia Cát Lượng tài trí siêu quần cũng không thể không sống chết vì cơ nghiệp họ Lưu.

Có câu nói: "Người nhân nghĩa được cả thiên hạ". Còn Lưu Bị thì khéo khóc mà có thiên hạ!

3. NGÔ TAM QUẾ KHÓC " HOÀNG ĐẾ ĐÃ KHUẤT"

Ngô Tam Quế ở vào cuối Triều Minh đầu triều Thanh, là kẻ trải ngàn thu, người đời còn nguyền rủa. Quế từng được coi là viên mãnh tướng, viên đại tướng nơi biên cương. Xuất thân trong một gia tộc võ công, chỉ vì một kỹ nữ mà dẫn quân Thanh vào cõi, để trở thành tội phạm của ngàn thu. Ở Ngô Tam Quế, một kẻ từng thay triều đổi đại, gần như tập trung đầy đủ mọi mâu thuẫn ở đời. Ngô Tam Quế bị những người trung thành với triều Minh gọi là đại gian thần, quân khởi nghĩa Lý Tự Thành chửi là "chó Thanh"; các văn nhân mắng là kẻ "trở cờ ngoài biên ải vì nữ sắc"; tầng lớp quí tộc Mãn Thanh cũng chẳng tín nhiệm gì Ngô Tam Quế. Sau khi Ngô Tam Quế đoạt thiên hạ về cho Mãn Thanh, liền bị Mãn Thanh đuổi ra tận vùng Vân Nam hẻo lánh làm một Phiên vương, rồi lại bị hoàng đế Mãn Thanh diệt Phiên, cuối cùng phải xưng đế làm phản.

Là một người làm chính trị, Ngô Tam Quế giỏi dùng mưu để làm điều gian trá. Suốt đời vào sinh ra tử, liệu còn có cảnh máu chảy đầu rơi nào mà chưa từng thấy? Trước cảnh đau thương, chết chóc, Ngô Tam Quế chưa hề nhỏ một giọt nước mắt! Nhưng lúc cất quân phản Thanh, cúng tế, trước hoàng lăng triều Minh, ông ta đã khóc rống lên!

Một buổi sáng ngày 21 tháng 11 năm Khang Hi thứ 12, Ngô Tam Quế triệu tập tổng binh của bốn trấn là Mã Bảo, Cao Khởi Long, Lưu Chi Phục về vương phủ để bàn bạc. Tuần phủ Vân Nam, Chu Trị Quốc, cũng đưa bọn tùy tùng đến đúng lệnh. Ngô Tam Quế mình mặc nhung phục, uy phong lẫm liệt, oai nghiêm trên điện. Nhìn thấy mọi người tề tựu đông đủ, Ngô Tam Quế chính thức tuyên bố khởi binh chống lại triều đình. Chu Trị Quốc không nhất trí làm phản, liền bị chặt đầu.

Xử lý xong tất cả những người không phục tùng, Ngô Tam Quế tuyên bố vứt chức Phiên vương của triều Thanh, xưng là "Thiên hạ chiêu thảo binh mã đại nguyên soái", đặt quốc hiệu là "Chu", từ năm thứ hai đổi thành "Chu Nguyên Niên".

Cuối cùng Ngô Tam Quế đã giương cao cờ làm phản.

Bấy giờ Ngô Tam Quế tuy binh nhiều tướng khỏe, nhưng triều đình Mãn Thanh còn mạnh hơn nhiều, nên khả năng giành thắng lợi hết sức mong manh. Hơn nữa "Xuất quân vô cớ" nên không được trăm họ nhân dân ủng hộ. Song Ngô Tam Quế không phải là kẻ vũ phu, vốn lắm mưu nhiều kế, phải tìm một lý do đàng hoàng, không phải là dấy binh để phản nhà Thanh. Vậy nên chỉ còn một lý do duy nhất là cất quân khôi phục giang sơn Đại Minh.

Nhưng làm vậy gây cho mọi người thêm khó hiểu. Nếu lúc bấy giờ Ngô Tam Quế đóng quân ở Sơn Hải quan, không phản lại triều Minh, đưa quân Thanh vào quan, thì liệu giang sơn người Hán có rơi vào tay kẻ khác không? Ngày nay, triều Thanh đã bình định thiên hạ, lại giương cao ngọn cờ "triều Minh" nữa chăng? Thực tình Ngô Tam Quế chỉ muốn công khai sửa đường sạn đạo để ngấm ngầm tiến vào Trần Thương. Ngô Tam Quế phản lại triều Thanh hoàn toàn vì oán hận, nhưng lại muốn có một lý do đàng hoàng. Vì vậy Ngô Tam Quế mới lợi dụng tinh thần chống đối triều Thanh của những người còn trung thành với triều Minh và dân chúng tộc Hán để chơi trò đánh lộn đỏ, đen.

Giương cờ vì người đã khuất, mà không có hành động cụ thể đi kèm thì coi như vứt. Ngô Tam Quế liền chọn "tiếng khóc", khóc để tỏ quyết tâm khôi phục giang sơn cho triều Minh.

Ngô Tam Quế là kẻ đại gian nhưng lại muốn là người trung thành. Trước hết, Ngô Tam Quế cùng với ba quân kéo đến cúng bái trước lăng của hoàng đế Vĩnh Lịch triều Minh, tuyên bố với người chết cầm quân bắc phạt.

Đứng trước lăng hoàng đế Vinh Lịch, Ngô Tam Quế nói với chư tướng:

- Các vị quan tướng, chúng ta là những quân nhân hưởng lộc của triều Minh. Nay loài chó Thanh đã nuốt tươi giang sơn Đại Minh của chúng ta - Là quan quân của triều Minh trước đây, chúng ta không báo thù cho tiên vương thì thật là uổng danh lắm lắm!

Ngô Tam Quế tự xưng là quan quân của triều Minh, vậy thì mười, năm trước vì sao không ra sức vì triều Minh? ông ta biện giải rằng:

- Trước đây bọn giặc vào Kinh, đô thành thất thủ, Ngô mỗ muốn bảo tồn lực lượng, giành lại giang sơn cho triều Minh nên mới giả hàng bọn chó Thanh. Ngày nay binh sĩ của ta đều quyết tâm báo thù cho tiên vương, tống cổ lũ cướp Mãn Thanh ra khỏi biên ải, chúng ta đến bái biệt chúa thượng của chúng ta. Mọi người phải phục sức như chúa thượng xưa kia để gặp Người!

Ngô Tam Quế chỉ lên đầu của mình, rồi nói:

- Đây không phải là mũ của triều Minh chúng ta! - Lại chỉ vào người và nói tiếp. - quần áo này cũng không phải. Tất cả chúng ta hãy thay đổi áo mão như quân vương của chúng ta!

Ngô Tam Quế cỏi bỏ quần áo của triều Thanh, khoác lên người quần áo của Triều Minh như trước đây, coi như đoạn tuyệt hẳn với chính quyền Mãn Thanh. Chiêu này tỏ ra rất có hiệu quả. Lập tức được một số tướng cũ của triều Minh ủng hộ. Nhưng phần sau mới là vở diễn hay nhất.

Ngô Tam Quế chọn ngày lành, đổi mặc Hán phục của triều Minh, cùng ba quân tướng sĩ đến triều bái hoàng đế đã khuất của triều Minh. Ngô Tam Quế đầu quấn khăn vuông, mình mặc áo tang bước đến trước mộ hoàng đế Vĩnh Lịch triều Minh, khóc rống lên một tiếng rồi ngất xỉu luôn. Sau khi được các tướng sĩ vực dậy, ông ta tự mình rót rượu, tung hô vạn tuế ba lần, rồi phủ phục xuống bái lậy, nước mắt ròng ròng chẳng buồn lau, người như bò dưới đất, tiếng khóc không dứt, khóc thật thảm thiết. Ngô Tam Quế cứ thế, ngất đi ngất lại đến mấy lần. Tỉnh rồi lại khóc, khóc đến ngất đi mới thôi.

Ai nấy não lòng não ruột.

Quả không hổ là một cao thủ diễn trò trong chốn quan trường. Phải chăng vì tình cảm chân thành mà Ngô Tam Quế khóc người đã khuất đến chết đi sống lại như vậy? Đương nhiên là không. Bởi vì vị hoàng đế đã khuất mà hôm nay ông ta khóc thương, chính là người bị ông ta bắt sống. Để được lòng triều Thanh và để trừ hậu họa, chính ông ta đã ngầm hạ lệnh giết chết hoàng đế Vĩnh Lịch. Mười ba năm sau, lại là ông ta, khóc trước phần mộ của người đã khuất. Chẳng phải là việc khôi hài bậc nhất hay sao?

Vì sao Tây Bình vương Ngô Tam Quế phải thương tâm như vậy? Tại sao ông ta lại khóc mãi trước nấm mồ người đã khuất do chính tay ông ta giết? Bi thương ấy từ đâu dẫn tới?

Thật dễ hiểu. Giang sơn người Hán mất vì tay Ngô Tam Quế, hoàng đế Vĩnh Lịch cũng do Ngô Tam Quế xử quyết. Chẳng qua gần đây triều Thanh định tiêu diệt các Phiên. Ngô Tam Quế mất quyền, nên mới làm phản, không giương cao ngọn cờ khôi phục triều Minh, thì không ai ủng hộ! Giương cờ phục Minh là danh chính ngôn thuận. Nhưng bản thân Ngô Tam Quế là tội phạm của triều Minh, người người chửi rủa! Vì thế ông ta mới dùng đến phương sách khóc người chết để giải vây cho mình!

Đương nhiên, Ngô Tam Quế không khóc hoàng đế Vĩnh Lịch. Nếu là khóc thật thì vì sao mười ba năm trước lại phải nhỏ cỏ nhố tận gốc? Ngô Tam Quế mượn cớ khóc người chết để khóc chính mình vậy!

Là tội đồ thiên cổ của triều Minh, Ngô Tam Quế phải giết hàng loạt người khác để đầu hàng triều Thanh. Sự hi sinh chết chóc của hàng vạn quân sĩ triều Minh và nhân dân tộc Hán là cái giá để Ngô Tam Quế đổi lấy chức "Tây Bình vương", trấn thủ một phương với cuộc sống vinh hoa xa xỉ và đồi trụy. Sự giầu có phú quý đánh đổi bằng tiếng đời nguyền rủa đó, Ngô Tam Quế lại muốn nó vĩnh hằng!

Nhưng chốn quan trường cũng giống nơi chiến trường, phải tranh giành đấu đá đến cùng. Sau khi đã đủ lông đủ cánh, Khang Hi liền hạ chiếu thư bãi Phiến, giấc mơ vĩnh hằng của Ngô Tam Quế lập tức tan vỡ. Bỗng nhiên ông ta mất chức vương hầu, mất luôn cả vinh hoa phú quý, cùng vợ con già trẻ, tay không kéo nhau về nơi biên cương hẻo lánh. Rồi từ đây, mạng sống của mình, của vợ con sau này sẽ ra sao, biết đâu mà nói trước. Nghĩ tới đó, tránh sao khỏi phải khóc!

Ngô Tam Quế khóc người chết là để biện hộ cho hành động đầu hàng triều Thanh của mình, quyết không phải là sự hối hận về những lầm lỗi trước đây. Những giọt nước mắt của Ngô Tam Quế lúc quì trước lăng mộ của hoàng đế Vĩnh Lịch, là muốn rửa sạch những tiếng đời phỉ nhổ, biện hộ cho món nợ máu chồng chất đối với triều Minh.

Ngô Tam Quế khóc rất thống thiết, làm cảm động cả ba quân, họ tạm thời lãng quên tội ác của Ngô Tam Quế với triều Minh. Họ đã nghĩ Khang Hi là kẻ thất tín, cướp đoạt những gì mà đáng ra họ phải được. Lúc bấy giờ liệu có ai còn nghĩ rằng mười ba năm trước hoàng đế Vinh Lịch đã chết vì tay ai? Thông soái khóc, ba quân đồng cảm. Ngô Tam Quế khóc cũng chẳng kém gì Lưu Bị khóc. Ngô Tam Quế khóc, mười vạn tướng sĩ đồng tâm hiệp lực, cùng nhau giương cao ngọn cờ chống lại triều Thanh.

Ngô Tam Quế khóc lóc trước lăng, không phải vì ân hận đã bí mật xử quyết hoàng đế Vĩnh Lịch, mà đó là hành động để cảm hóa ba quân tướng sĩ, khích lệ họ đồng tình quyết chiến với triều Thanh.

Người thành công sở dĩ thành công được là vì biết đưa những người khác vào tròng. Ngô Tam Quế đâu có tấm lòng nhớ đến triều trước, càng không phải vì muốn thu hồi giang sơn cho Chu Minh Vương, nhưng Ngô Tam Quế phải dùng tiếng "khóc" để biểu thị lòng trung với Chu Minh Vương thì mới được ba quân ủng hộ. Nếu Ngô Tam Quế không khóc đến sống đi chết lại trước lăng mộ của hoàng đế Vĩnh Lịch, mà chỉ dựa vào những lời nói suông, ba câu khẩu hiệu hùng hồn,, thì làm sao mà kéo nối ba quân ra trận chống lại triều Thanh.?

4. "TÀI KHÓC" CA GIA CÁT LƯỢNG

Lưu Bị được coi là hoàng đế biết khóc, nhưng không phải là người duy nhất. Thừa tướng của ông ta cũng là một cao thú có "tài khóc". Trong chốn quan trường, ba nước ở thế chân vạc, Gia Cát Lượng là hóa thân của trí tuệ. Riêng việc ông ta giúp đỡ Lưu Bị khóc để có được giang sơn, đã không ai sánh kịp.

Lần khóc đạt tới đỉnh cao nhất của Gia Cát Lượng là. "khóc Chu Du", Bị Gia Cát Lượng chọc tức đến ba lần, Chu Du ngẩng mặt nhìn trời mà than: "Trời đã sinh ra Du, sao còn sinh ra Lượng". Kêu mấy lần như vậy rồi ông ta mất. Một đời hùng tài bị Gia Cát Lượng chọc tức đến chết lúc mới có ba mươi chín tuổi đầu. Sau khi Chu Du qua đời, tướng lĩnh bên Đông Ngô nghiến răng nghiến lợi hận Gia Cát Lượng lắm, tiếc là chưa được lột da, xẻo thít cho bõ.

Sau khi nghe tin Chu Du bỏ mạng, Gia Cát Lượng quyết định sang sông viếng tang Lưu Bị nói:

- Tướng sĩ Đông Ngô hận chưa giết được quân sư. Tốt nhất quân sư không nên đi.

Gia Cát Lượng nói:

- Chu Du chết là do mệnh trời, người Đông Ngô nghĩ là do hạ thần! Nếu không đi thì sao giải được mối hiềm nghi đó, trận tuyến liên hợp với Đông Ngô sẽ tan mất. Tào Tháo đem quân đánh xuống phía nam thì chúng ta biết trốn vào đâu?

Lưu Bị nói:

- Đúng là như vậy, nhưng trong lúc tướng sĩ Đông Ngô đang tức giận, không đi vẫn là hay.

Gia Cát Lượng nói:

- Khi Chu Du còn sống, thần còn chẳng ngại nữa là, Chu Du chầu trời rồi, còn lo gì nữa? Chỉ cần có tướng Triệu Vân cùng năm trăm quân sĩ đi với thần là đủ!

Gia Cát Lượng chuẩn bị lễ vật rồi sang sông.

Đoàn người của Gia Cát Lượng vừa đến Sài Tang, đã có thám tử của Đông Ngô báo với Lỗ Túc, nói:

- Lưu Hoàng Thúc cử Khổng Minh đến viếng tang đô đốc.

Một tin chấn động cả Đông Ngô!

Vừa nghe tin, Cam Ninh đã hét lên:

- Hay lắm! Hôm nay ta đã có thể trả thù rửa hận cho đô đốc rồi!

Từ Thịnh, Đinh Phụng cùng nhiều quan tướng khác, tay để vào đốc kiếm, chỉ chờ Gia Cát Lượng đến là giết luôn.

Lỗ Túc nói:

- Gia Cát Lượng đến viếng đô đốc, các ngài không nên làm bậy, kẻo miệng thế chê cười chúng ta là lũ hẹp hòi!

Miệng nói vậy, nhưng trong lòng ông ta cũng, căm Gia Cát Lượng lắm!

Sau khi Khổng Minh đến, Cam Ninh, Đinh Phụng cũng như mọi người đều muốn giết luôn cho bõ hận, nhưng khi nhìn thấy Triệu Tử Long, uy vũ ngời ngời, cầm kiếm theo hầu, nên lại không dám. Triệu Vân, một mình cứu A Đẩu trong đám vạn quân, chuyện đó đến nay còn làm cho các đại tướng Đông Ngô phải sởn tóc gáy.

Khổng Minh sai bày lễ vật trước linh vị Chu Du, thân tự rót rượu, rồi quỳ xuống, khóc rống lên.

Gia Cát Lượng vừa khóc, vừa gọi to:

- Công Cẩn, tôi đây, Công Cẩn, tôi đến đây.,.

Khóc lóc một hồi rồi mới lấy văn tế ra, Gia Cát Lượng đọc lời điếu, nước mắt giàn giụa. Lời điếu nghe rất thảm, tướng sĩ Đông Ngô hết thảy đều nhỏ lệ. Văn tế rằng:

Than ôi! Công Cẩn, chẳng may chết sớm!

Sng chết số trời, ai không thương xót!

Rót rượu cúng ông, lòng ta xót xa,

Hồn ông linh thiêng chứng giám cho ta!

Nhớ ông thuở nhỏ, thân với Bá Phù,

Nhường nhà cho ở, trọng nghĩa khinh tài.

Lúc ông còn tr, đã có chí cao,

Gây dựng nghiệp bá, xứng mặt anh hào.

Sức ông cường tráng, trấn giữ Ba Khâu,

Cảnh Thăng mất vía, Tôn Sách yên lòng.

Ông thật phong độ, sánh với TiểuKiều,

Rể tôi nhà Hán, tướng trẻ, tài cao.

Tính ông khí khái, không chịu hàng Tào,

Khi đủ lông cánh, dần dần bay cao.

Ông rất tinh khôn, Tưởng Cán đến dụ,

Chén rượu thảnh thơi, Tào man mắc mẹo.

Mới ba mươi tuổi, văn võ thao lược.

Ha công phá Tào, địch quan khiếp nhược,

Sử sách lưu danh đời sau biết được.

Thương ông tha thiết, giọt lệ tuôn trào.

Kể sạo, cho xiết, trăm thảm nghìn sầu,

Trời mây mù mịt, nhạn bay về đâu?

Lòng ta rầu rĩ, ngàn vạn thương đau!

Ba quân sùi sụt, ch cũng lệ sầu!

Lượng tôi tài mọn, xin mẹo cầu mưa

Giúp Ngô chống Tào, phò Hán yên Lưu,

Lập thế ý dốc, trợ giúp cứu nhau.

Đến nay ông mất, ruột xót lòng đau.

Ô hô Công Cẩn! Gọi chẳng thấy đâu!

Ông mất thật rồi! Ta vĩnh biệt nhau.

Âm dương cách biệt, ái kẻ tri âm?

Hồn ông khôn thiêng, soi thấu tăm can.

Thương thay! Phục duy thượng hưởng!

Gia Cát Lượng tế xong, gục xuống đất khóc, nước mắt giàn giụa như suối, đau đớn vô cùng. Các tướng Đông Ngô ai cũng động lòng. Cam Ninh, Đinh Phụng, vốn được Chu Du hết mực tin yêu, là những người rất căm giận Khổng Minh, nay thấy vậy trong lòng đều nhủ thầm: "Người ta nói Khổng Minh không hòa với Công Cẩn, nay xem tình thương xót thế này, mới biết họ toàn nói nhảm cả!".

Lỗ Túc thấy Khổng Minh thương khóc, cũng ứa nước mắt, nghĩ: "Khổng Minh vẫn là người tử tế, chỉ vì Công Cẩn hẹp hòi, tự rước lấy cái chết đó thôi!".

Gia Cát Lượng khóc lóc thảm thiết khiến vợ của người quá cố là Tiểu Kiều cũng hết sức thương cảm. Nàng lấy di vật của chồng: Một chiếc đàn cổ quý giá, đem trao cho Gia Cát Lượng và nói:

- Sinh thời, Chu Lang hết mực khâm phục tài năng của ngài, tiếc rằng hai người không được cùng thờ Đông Ngô - Chu Lang dặn rằng, nếu chẳng may Chu Lang mất thì thể nào ngài cũng đến viếng tang, hãy giao chiếc đàn cho ngài, thể hiện mối tình thân thiện, mong Lưu Hoàng Thúc và chúa công tôi luôn giữ được mối tình hữu nghị, cùng nhau phá Tào, Xin ngài nhận cho tấm lòng của Chu Lang...

Gia Cát Lượng khóc trước linh vị để đạt được hai mục đích: Khóc để rửa được tội chọc chết Chu Du; khóc để hòa hoãn mâu thuẫn với Đông Ngô, giữ được liên minh chính trị giữa hai bên, khiến Tào Tháo không dám nhòm ngó Kinh Châu - Người sau có thơ rằng:

Một bức tế văn nhớ chuyện xưa,

Ba chén rượu nhạt, kể tâm tình,

Bá nghiệp trước kia về tiên ch,

Mun nuôi Đông Ngô chuyện bất bình.

Lưu Bị và Gia Cát Lượng là quân thần, những nhà chính trị khéo biết khóc. Họ dùng tiếng "khóc" để biện hộ cho mình. Rõ ràng nước mắt là gian, nhưng lại giả bộ rất chân thành, nên tiếng khóc của Gia Cát Lượng đã đạt được hiệu quả cao,

Có lần Khổng Minh khóc đạt tội trình độ rất cao, là lần "gạt lệ chém đầu Mã Tốc". Khóc để biện hộ cho việc dùng người sai lầm của mình.

Nhai Đình thảm bại, Gia Cát Lượng cơ hồ khó mà thoát được cái chết. Gia Cát Lượng giả bộ trấn tĩnh, diễn vở "không thành kế" lừa được Tư Mã Ý. Mã Tốc biết mình hết số, mới về kinh chịu tội, tự trói mình quì trước trướng.

Khổng Minh tự biết tội khó tránh, nên giả bộ trấn tĩnh mắng rằng:

- Ngươi khoe từ nhỏ học nghề binh pháp, tinh thông chiến pháp. Ta mấy lần đinh ninh dặn ngươi rằng Nhai Đình là nơi căn bản của ta, không được lơi là sao nhãng. Ngươi tự nguyện đem tính mệnh cả nhà ra cạm đoan việc ấy. Nay đã thua trận. Ngươi còn điều gì để nói nữa không?

Gia Cát Lượng biết mình không phân biệt hiền ngu, nên mới hao binh tổn tướng, dẫn tới thảm bại. Nhưng lại muốn trốn tránh trách nhiệm, Gia Cát Lượng nói với mọi người là sai Mã Tốc trọng trách ấy không phải tư tình, mà vì Mã Tốc từ nhỏ đã lầu thông binh thư, am tường mưu lược.

Mã Tốc tuy biết tội, nhưng do có thân tình với Gia Cát Lượng nên ngụy biện rằng:

- Quân Ngụy thế mạnh, rết khó chống trả, bởi vậy mới thất bại.

Rõ ràng ngụy biện như vậy là không đánh lừa được ai, nên Gia Cát Lượng đã lớn tiếng mắng rằng:

- Nói láo! Nếu ngươi biết nghe lời Vương Bình, thì làm gì có vạ này! Nay đã hao binh tổn tướng, mất đất hãm thành toàn là lỗi tại ngươi cả. Nếu không chiếu quân pháp, thì sao cho chúng biết sợ? Ta giết ngươi, chớ có oán ta. Sau khi ngươi chết rồi, ta sẽ chăm sóc gia đình ngươi. Ngươi không phải bận tâm!

Nói đoạn, quát tả hữu lôi Mã Tốc ra chém.

Mã Tốc khóc, nói:

- Thừa tướng coi thần như con, thần cũng coi thừa tướng như cha. Tội thần thật không dám chối rồi, song chỉ mong thừa tướng nghĩ đến tình xưa mà chăm sóc các con thần thì thần dẫu chết xuống chín suôi cũng không ân hận gì!

Nói xong Mã Tốc liền khóc rống lên.

Khổng Minh gạt nước mắt, nói:

- Ta với ngươi tình nghĩa như anh em. Con người cũng như con ta, không phải dặn nhiều.

Lệnh tả hữu điệu Mã Tốc ra ngoài Viên Môn để chém đầu. Lúc đó có tham quan Tưởng Uyển từ Thành Đô mới đến xin được bảo lãnh và để nghị ngừng chém, Khổng Minh vừa khóc vừa nói:

- Nay Mã Tốc có tội, nếu bỏ phép tắc thì đánh nhau với Tào Tháo ra sao? Bình định thiên hạ thế nào được! Nên vẫn phải chém!

Một lát, võ sĩ dâng đầu Mã Tốc dưới thềm. Khổng Minh khóc mãi không thôi. Nghĩ đến người được coi như con lại bị chính mình ra lệnh chém đầu, Khổng Minh lòng đau như cắt.

Ba quân hết thảy động lòng, nhưng không ai hiểu được vì sao Gia Cát Lượng lại khóc, Tưởng Uyển liền hỏi:

- Mã Tốc mắc tội, đã chính pháp rồi, thừa tướng sao lại còn khóc?

Gia Cát Lượng biện bạch rằng:

- Ta không phải là khóc Mã Tốc đâu. Mã Tốc với ta tình nghĩa cha con, hắn phạm tội đáng để chém đầu, có gì phải ân hận? Ta nhớ khi tiên đế lâm chung ở thành Bạch Đế có dặn rằng: "Mã Tốc nói khoác quá sự thực, không nên đại dụng". Nay đúng như lời ấy. Vì thế nhớ đến tiên đế, ta đau lòng mà khóc đó thôi!

Nói xong, nước mắt lại chảy ra như suối.

Gia Cát Lượng khóc rất thống thiết, nói rằng ân hận vì không nghe lời tiên đế! Thực ra ông ta khóc là để biện hộ việc không phân biệt được người hiền tài. Mã Tốc chỉ là người biết bàn việc quân cơ trên giấy, chứ thực lực có tài cán gì đâu! Thường ngày Mã Tốc hay xun xoe, nghe đâu làm đấy, được Gia Cát Lượng xem trọng, định bụng cho hắn ra Nhai Đình lập công, để dễ cất nhắc, nhưng Mã Tốc đã phụ lòng, làm Gia Cát Lượng phải mất mặt trước ba quân tướng sĩ. Gia Cát Lượng có lòng tự trọng cao, thật khó xử trước những sơ suất như vậy, nên mới dùng tiếng khóc của mình hòng che giấu thiếu sót đó.

Như Gia Cát Lượng, một nhà chính trị kiệt xuất, mà có khi nước mắt vẫn có tác dụng, huống hồ ở những quan viên bình thường? Chẳng trách người sau đã coi "khóc" là một phạm trù chủ yếu trong lĩnh vực tình cảm.

5 - TĂNG QUỐC PHIÊN KHÓC ĐỂ ĐƯỢC TIẾNG LÀ"NGƯỜI CON CÓ HIẾU"

Tăng Quốc Phiên là một pho tượng cuối, cùng trong chốn quan trường hơn hai ngàn năm ở Trung Quốc. Người Trung Quốc thời kỳ cận đại, nhất là người Hồ Nam, bất kể là quyền quý hay chính khách, chí sĩ nhân sĩ hay thanh niên học sinh, người người đều rất khâm phục ông ta về nhiều mặt: cầm quân, trị nước, làm quan hoặc cách cư xử thường ngày. Lý Hồng Chương, Trương Chi Đồng, Viên Thế Khải, Tưởng Giới Thạch, đều phải cung kính cúi đầu mà lạy. Ngay như Lương Khải Siêu, Dương Xương Tế, Trần Độc Tú, Mao Trạch Đông đều tỏ lòng tôn sùng.

Tăng Quốc Phiên được coi là mẫu người trung hiếu tiết nghĩa trong chốn quan trường. Và tiếng thơm "người con có hiếu" là do khóc mà nổi danh.

Vì công danh lợi lộc, đã hơn mười năm Tăng Quốc Phiên chưa có dịp về nhà. Được tin người mẹ qua đời, triều đình liền cho ông về chịu tang. Trải bao gian nan vất vả, Tăng Quốc Phiên về gần tới quê hương sau nhiều năm xa cách. Xa xa, nhìn thấy ngọn đèn báo tang treo cao bên cửa, trong khoảnh khắc mông lung, Tăng Quốc Phiên cảm thấy lòng đau như cắt. Xa nhà hơn chục năm ròng, trong chốn quan trường đầy những giành giật, sự nghiệp chưa được là bao, thì mẹ già đã từ giã ra đi.

Nghĩ tới đó, Tăng Quốc Phiên bước gấp về nhà. Cha già chống gậy đi từng bước ra đón. Tăng Quốc Phiên nhào tới, chỉ kịp nói mấy tiếng "con là đứa bất hiếu, về chậm mất rồi..." và nước mắt cứ thế lã chã tuôn trào.

Bà con đỡ dậy và được mấy người em dìu đỡ mới đến được nơi thờ cúng mẹ. Dưới ánh đèn leo lắt, chiếc màn trắng lay động, Tăng Quốc Phiên lảo đảo lần đến bên linh vị, chỉ kịp kêu một tiếng "mẹ à" rồi ngất xỉu luôn.

Cả nhà họ Tăng náo loạn. Nhân có một vị thầy thuốc đến bắt mạch cho và nói.

- Đừng ngại. Vì đau buồn quá mà sinh bệnh. Dần dần rồi ông ta sẽ tỉnh thôi!

Không hiểu là Tăng Quốc Phiên hôn mê thật hay giả. Chỉ biết lần hôn mê đó đã rất thành công. Một đồn mười, mười đồn trăm, tiếng đồn Tăng Quốc Phiên là người con hiếu đễ được truyền từ một vùng quê Hồ Nam đến tận kinh thành. Đối với các quan viên trong xã hội phong kiến Trung Quốc, danh tiếng người có "hiếu" là quan trọng lắm. Tăng Quốc Phiên hôn mê ngay dưới linh vị của người mẹ, có nhiều phần là vì tình cảm bi ai trước việc, người mẹ đã qua đời, nhưng cũng không thể không nói tới một phần vì muốn có tiếng thơm để đời.

Mọi người đỡ Tăng Quốc Phiên lên giường. Có người ấn vào huyệt nhân trung, có người đặt khăn thấm nước lạnh lên đầu, có người cạy răng đổ nước gừng vào miệng. Sau một hồi cứu cấp, Tăng Quốc Phiên dần dần tỉnh lại. Tỉnh lại rồi, việc đầu tiên là nước mắt giàn giụa, vùng vẫy để đến bên linh cữu, nhìn người mẹ lần cuối. Thi thể mẹ đã được khâm liệm nhập quan, nhưng chưa đóng đinh, còn chờ Tăng Quốc Phiên.

Tăng Quốc Phiên nhìn khuôn mặt mẹ qua ánh nến, thấy đau đớn bội phần. Hai mắt bà nhắm nghiền, tư thái ung dung tự tại. Nghĩ mình bận bươn chải nơi chốn quan trường, không chăm sóc được mẹ già những lúc ốm đau, chưa làm tròn trách nhiệm của một người con, lúc này tuổi tác đã quá năm mươi, chưa làm nên trò trống gì, chưa có gì rạng rỡ cho gia tộc, nhiều thứ bi thương dồn nén trong lòng bỗng như trào ra cùng một lúc, ông không sao kìm chế được những ý nghĩ đó, tình cảm đó, nên đã khóc rống lên ngay bên linh cữu người mẹ.

Tiếng khóc thê thảm làm xao xuyến cả bà con láng giềng, ai nấy đều cảm động vì lòng "hiếu thảo". Cả phủ đều òa lên khóc.

Quan thị lang Tăng Quốc Phiên khóc để giãi bày nỗi lòng mình với người đời: tuy không chăm sóc được mẹ già lúc đau ốm, nhưng lòng hiếu thảo đã xúc động tối trời đất.

Khóc một lúc xong, Tăng Quốc Phiên mới hỏi tới bệnh tình của người mẹ.

Người cha cho biết:

- Trong lòng u uất, sốt cao và hôn mê.

Tăng Quốc Phiên trách cứ người nhà sao không nói gì trong những bức thư lần trước! Người nhà cho biết: Bà dặn không được làm ảnh hưởng đến người con đang làm việc cho hoàng thượng. Tăng Quốc Phiên nghĩ mà thấy xấu hổ đến khôn nguôi.

Tống Quốc Huệ là em gái của Tăng Quốc Phiên báo cho biết:

- Ba tháng trước nhận được thư, biết anh đi làm chủ khảo ở Giang Tây, lại được hoàng thượng cho nghỉ về thăm nhà một tháng, ai nấy đều mừng lắm. Ngày nào mẹ cũng mong anh, bệnh đã đỡ dần. Thế rồi vui quá hóa mệt, lại phải nằm, suốt ngày cứ lẩm bẩm: "Đừng ngăn mẹ... mẹ muốn gặp thằng Khoan ..." (tên lúc nhỏ của Tăng Quốc Phiên).

Tăng Quốc Phiên nghe thương cảm quá, cố nén không được, lại khóc rống lên và chợt hiểu tình cảm mẹ con mới là cái quí nhất trên đời, còn chuyện đấu đá, giành giật ở chốn quan trường, nơi kinh thành đô hội, thật chẳng đáng một xu. Thế là nước mắt lại tuôn ra như suối, đau đớn vô cùng, Tăng Quốc Phiên gục xuống quan tài, miệng gào lên:

- Mẹ ơi! Con về muộn mất rồi!

Trong nhà thờ, tiếng khóc lại ầm lên. Cô em gái khóc đến ngất ngay bên quan tài. Hàng xóm láng giềng, bạn bè chốn quan trường hết thảy đều cảm động về lòng hiếu thảo của Tăng Quốc Phiên.

Mọi người khuyên Tăng Quốc Phiên nghỉ ngơi, ông nói, giọng nghẹn ngào:

- Hơn mười năm đệ là kẻ bất hiếu, chưa hầu hạ được một bát thuốc khi mẹ già ốm đau. Hôm nay trở về, đệ khóc bên linh cữu của mẹ để tỏ lòng thương xót của mình, đâu dám để cho bà con hàng xóm chê cười?

Tiếng thơm "người con hiếu đễ" của Tăng Quốc Phiên do "khóc" mà có vậy!

6. CỐC CHÍNH CƯƠNG GÀO KHÓC ĐỂ ĐƯỢC CẤT NHẮC

Quan viên thời cổ khéo khóc, còn quan viên thời nay thì thế nào? Trong Quốc dân đảng, có một viên quan cao cấp cũng khéo biết lựa thời mà khóc. Tuy tiếng khóc đã làm mất thể diện của đấng mày râu nhưng nhờ tiếng khóc mà được cất nhắc sau này.

Ngày 21 tháng Giêng năm 1949 là một trong những ngày cuối của Quốc dân đảng. Để kéo dài sự thoi thóp, Tưởng Giới Thạch tuyên bố từ chức lần thứ hai, Lý Tông Nhân thay mặt tổng thống thu xếp mọi việc. Lúc Tưởng Giới Thạch tuyên bố" từ chức có mặt Lý Tông Nhân, Tôn Khoa, Ngô Trung Tín, Thiệu Lược Tử, Cốc Chính Cương và Tưởng Kinh Quốc...

Tưởng Giới Thạch suy nghĩ nhiều trông mặt hốc hác, khô cứng. Không khí hội trường băng giá. Tưởng Giới Thạch cầm tờ tuyên bố liên danh giữa ông và Lý Tông Nhân, bắt đầu đọc. Trong đó có trích dẫn điều thứ 49 trong hiến pháp nước Trung Hoa Dân Quốc. Bản tuyên bố viết: "Khi tổng thống không còn khả năng điều hành chính sự, thì phó tổng thống thay mặt. Vì vậy kể từ ngày 21 tháng này, phó tổng thống Lý Tông Nhân sẽ thay quyền tổng thống".

Tiếp đó Tưởng Giới Thạch diễn thuyết. Vị tổng thống bại trận nói:

- Tình thế vô cùng nghiêm trọng. Chưa có được hòa bình. Nhân dân lầm than! Nhằm cứu nhân dân thoát cảnh nước sôi lửa bỏng, tôi nhất định phải từ chức. Chỉ cần hòa bình được thực hiện, nhân dân được yên bình, cá nhân tôi tiến hay thoái không có gì đáng nói.

Giọng nói của Tưởng Giới Thạch trầm trầm và yếu ớt, mất hẳn cái khí thế hào hùng của mỗi lần ông huấn thị trước đây, hình như lần này có cái gì đó bất đắc dĩ và đau khố lắm! Tiếp đó, Trương Quần đọc lời tuyên bố của Tưởng Giới Thạch. Nghe xong cả hội trường im phăng phắc, ai nấy đều cảm thấy rất nặng nề. Họ suy tính xem nên phát biểu thế nào.

Bỗng có một người khóc ầm lên. Nước mắt đầm đìa có lẽ tưới ướt được cả hội trường. Tiếng khóc như tiếng lợn kêu khi bị chọc tiết. Tiếng khóc làm cho mọi người buồn cười nhưng không dám cười, có người muốn tức giận nhưng không có cớ! Người đó rống lên mấy tiếng rồi mới gào to:

- Tổng thống không nên từ chức, tổng thống, không nên...

Người đó chính là Cốc Chính Cương trong phái cốt cán trẻ.

Cốc Chính Cương đầm đìa nước mắt, khóc mãi không thôi, chẳng kể gì đến những ánh mắt khinh miệt của những người khác! Khóc rồi lại nói lớn:

- Nước không thể một ngày thiếu chủ. Tổng thống phải ở lại...

Nét mặt lạnh băng của Tưởng Giới Thạch có phần dịu đi một chút. Ông ta nghĩ: "Thì ra vẫn còn có người trung thành với ta. Còn có người dám nói những lời động viên ta trong giờ phút gay cấn. Thật là hiếm thấy. Những người như thế cần được trọng dụng".

Tưởng Giới Thạch liếc nhìn Cốc Chính Cương. Anh ta vẫn đang khóc. Rõ ràng không phải là sự diễn trò, mà khóc vì đau đớn thực sự. Tổng thống cảm khái muốn phần, tự nhủ thầm: "Thật là một hảo hán!".

Cốc Chính Cương lại gào lên mấy tiếng. Cả hội trường đang yên ắng bỗng sôi động hẳn lên. Người ta thầm thì với nhau những chuyện gì đó. Trương Quần nói với Tưởng Kinh Quốc:

- Một người trung thành, một nhân tài hiếm có...

Thiệu Lực Tử liền nói với Tôn Khoa:

- Rõ là cái đồ nhơ bẩn!

Người chung quanh muốn đánh giá thế nào cũng được, Cốc Chính Cương vẫn quyết định lấy "tiếng khóc" để biểu lộ sự trung thành tuyệt đối với gia tộc họ Tưởng của tổng thống. Bởi vậy, Cương khóc rất thảm thiết, ruột gan như bị đứt ra từng đoạn.

Cốc Chính Cương diễn chưa hết trò thì người em của hắn cũng hét toáng lên: - Đừng tuyên bố như vậy. Đừng làm chó mọi người dao động. Tình thế thật bất thường, tổng thống không thể từ chức…

Trương Đạo Phiên cũng gào to:

- Tổng thống không nên từ chức, hạ quan cực lực phản đối. Từ chức là bất lợi.

Cốc Chính Cương ủng hộ uy tín của Tưởng Giới Thạch bằng tiếng khóc. Tuy khóc làm mất vẻ trang nghiêm của đấng nam nhi, nhưng khóc lại rất được việc, đặt được nền móng vững chắc cho tiền đồ trong chốn quan trường.

Tưởng Giới Thạch vô cùng cảm kích khi nghe tiếng khóc của Cốc Chính Cương. Nhưng vốn là nhà chính trị mưu cao chí sâu, ông ta biết kìm nén, không biểu lộ tình cảm thành ra lời. Chờ khi vở diễn của Cốc Chính Cương kết thúc, ông mới nói bằng một giọng trầm trầm:

- Với tư cách là một lãnh tụ tôi đã quyết định, mọi việc không có gì thay đổi. Hôm nay tôi sẽ rời Nam Kinh. Công việc của chính phủ xin giao lại để Lý Tông Nhân thay mặt tổng thống xử lý.

Có người nói, việc họ Tưởng từ chức là việc làm hình thức. Nhưng thực tế, ông ta đã rời khỏi trung tâm quyền lực. Mặt khác, chốn quan trường cũng đầy rẫy những cuộc đấu tranh quyết liệt như ngoài chiến trường, nên không ai dám chắc rằng đến một ngày nào đó, ông ta lại giương cờ quay trở lại. Lúc này quân Cộng sản đã chiếm được nửa giang sơn Trung Quốc. Chính phủ Mỹ đã mất hứng với ngài tổng thống họ Tưởng. Trong tình thế đó, dám biện hộ cho Tưởng Giới Thạch trong hội nghị thường vụ của đảng là một việc làm rất có lợi nhưng đồng thời cũng chuốc lấy nhiều sự hiềm nghi khác.

Tiếng khóc của Cốc Chính Cương có phần khác thường. Ông ta chọn giờ phút quan trọng nhất, lúc Tưởng Giới Thạch tạm thời thất thế, họ Cốc khóc để tỏ rõ lòng trung! Trong suốt cuộc đời của mình, không bao giờ Tưởng Giới Thạch quên được tiếng khóc đó. Đã mấy ai nịnh bợ được hơn thế? Không ít những chính nhân quân tử đã miệt thị hành vi đó. Họ bảo rằng làm như vậy là mất nhân cách tôn nghiêm, làm gì còn khí phách nữa! Nhưng Cốc Chính Cương lại được họ Tưởng trọng dụng. Nửa cuộc đời còn lại, trong chốn quan trường ở Đài Loan, ông ta như cá gặp nước.

Sang ngày thứ hai, sau lúc Tưởng Giới Thạch bị "hạ bệ", họ Cốc xin từ chức để tỏ mình là người trung thành bậc nhất. Chẳng chờ tổng thống Lý chấp thuận hay không, Cốc bỏ Nam Kinh, chạy về "ẩn cư" ở Thượng Hải và phát biểu nhiều bài "Tưởng tổng thống không thể bỏ mà đi".

Nhiều người cho rằng lần này Cốc Chính Cương "khóc" không được tự nhiên lắm. Ngay cả một số yếu nhân của Quốc dân đảng được xem là trung thành với Tưởng Giới Thạch cũng bảo vở diễn của Cốc Chính Cương lần này quá ư lộ liễu. Nhưng không ai dự đoán được là với "vai hề" ngớ ngẩn đó mà Cốc Chính Cương được thăng tiến vùn vụt như diều gặp gió.

Sau khi bại trận chạy ra Đài Loan, Tưởng Giới Thạch cải tổ mạnh mẽ trong đảng Quốc dân. Trước hết ông thành lập "Hội đồng cải tổ trung ương" có mười lăm người. Cha con họ Tưởng đã dốc sức hoạch định đủ mười lăm người, toàn là tâm phúc của họ Tưởng. Rất nhiều nguyên lão, cốt cán của đảng quân phiệt bị rớt. Cốc Chính Cương, nhờ có "tiếng khóc" lần đó mà đậu.

Tháng 10 năm 1952, Quốc dân đảng tổ chức "đại hội lần thứ VII", được Tưởng Giới Thạch chấm tên, Cốc Chính Cương làm ủy viên thường vụ ban chấp hành trung ương, và suốt trong ba mươi năm sau đó, họ Cốc là nhân vật có một không hai trong đảng.

Thực tình thì Cốc Chính Cương chẳng tài cán gì, chỉ giỏi giong buồm theo gió. Chuẩn mực trong chốn quan trường của Cốc là "ai cho bú thì gọi người đó là mẹ". Ban đầu, Cốc sà vào vòng tay của Uông Tinh Vệ. Họ Uông bồi dưỡng, biến Cốc thành ủy viên ban chấp hành trung ương.. Lúc Uông Tinh Vệ thất thế, Cốc nhảy vào lòng Tưởng Giới Thạch, bấy giờ quyền lực đang mỗi ngày một thịnh.

Tháng 2 năm 1949, Tưởng Giới Thạch bị hạ bệ lần thứ ba, Lý Tông Nhân lên thay! Nhưng Cốc Chính Cương khéo biết sự đổi ngôi đó là tạm thời, chẳng chóng thì chày rồi sẽ hết. Vì thế Cốc mới "khóc" để biểu lộ lòng trung, Tưởng Giới Thạch rất khoái!

Trái hẳn với Cốc Chính Cương, một số vị được coi là chính nhân quân tử, khi sang tới Đài Loan thì chẳng còn gì là hay nữa! Như đảng viên kỳ cựu, một nhà uyên bác, Vu Hữu Nhiệm, đúng vào cái hôm mà Cốc Chính Cương khóc, ông lên tiếng đòi Tưởng Giới Thạch phóng thích Trương Học Lương và Dương Hổ Thành, nên khi sang đến Đài Loan ngài liền mất chức! Những năm cuối cùng, Vu Hữu Nhiệm phải làm nghề cầm đồ kiếm sống, cuộc đời thật vất vả.

Số phận Trần Nghi, chủ tịch tỉnh Triết Giang lại càng thê thảm,

Bên bờ Tây Tử Hồ, một lần vị Chủ tịch này lên lầu mở tiệc khoản đãi Tưởng Giới Thạch, Họ Tưởng tỏ ra không hứng thú lắm. Trần Nghi buột miệng nói một câu có phần phạm thượng làm cho Tưởng Giới Thạch phát cáu. Lập tức một tháng sau ông ta bị mất chức. Sau đó, ông ta bị Mao Nhân Phượng bí mật bắt sang Đài Loan, bắn chết năm 1956.

Còn những người khác thì sao ? Một người như Hồ Tông Nam, có công đánh đến tận Diên An, sau khi sang Đài Loan chẳng khác gì chiếc diều gặp nước; Tiểu Gia Cát Bạch Sùng Hi thì bị giam lỏng; quyền cao chức trọng một thời như bộ trưởng bộ quốc phòng Hà Ứng Khâm trở thành chuyên gia "Hội chữa trị đạo đức"; chư hầu bá chiếm một phương như Diêm Tích Sơn ẩn cư trên núi ngoại ô Đài Bắc; Tống Tử Vốn lưu vong sang Mỹ; Khổng Tường Hi sống nốt tuổi già trong một ngôi biệt thự tận Mỹ với bà vợ là Tống Ái Linh; Trần Quả Phu quyết bỏ chính trường đi dưỡng bệnh; Trần Lập Phu đến Niu Yoóc lấy thú chọi gà tiêu ma ngày tháng...

Những đảng viên kỳ cựu trong Quốc dân đảng, bọn cốt cán, quân phiệt, đặc vụ đầu sỏ, dạo ở đại lục chẳng ai thua kém gì Cốc Chính Cương, nhưng khi ra đến Đài Loan bọn họ đều bị sổ toẹt!

Còn Cốc Chính Cương nhờ có mấy tiếng khóc mà nửa phần đời còn lại ở Đài Loan được mở mày mở mặt trong chốn quan trường. Thực là "Con trai không hay khóc, bởi vì chưa đến lúc mà thôi!".

Người dịch: Ông Văn Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.