1. VIÊN NÃI KHOAN KHÔNG NHẬN CON

Mưu Trí Chốn Quan Trường

Lượt đọc: 113 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VII CÁI "KHÉO" TRONG LỜI NÓI CỦA NGƯỜI LÀM QUAN

❊ ❊ ❊

Khéo nói tức là ngôn ngữ uyển chuyển dễ lọt tai. Có hai cách thể hiện sự khéo nói. Mình khéo nói hoặc là khéo léo dùng miệng lưỡi người khác nói hộ mình.

Các bậc làm quan thường phải sành về ngôn ngữ. Nói, thì ai cũng phải nói, nhưng nói hay hay dở, hiệu quả sẽ như một trời một vực. Nói hay, nói khéo, có thể hết khổ, có thể được người khác tin, có thể được cấp trên cất nhắc và sủng ái. Nói dở, thân bại, danh liệt, nhiều lúc chết người. Đúng là "họa ra từ miệng".

Điều cần nói nhưng không nhất thiết phải nói. Biết mà không nên nói! Nói, và nói nhiều nhưng chưa chắc chất lượng đã cao. Biết nói, và nói thật hay thật khéo thì không nhất thiết phải nhiều. Nếu biết kết hợp cả hai, trên cơ sở những điều có thể nói, chọn đúng thời cơ, ra sức nói hay, nói khéo, mới đánh động được người nghe, thu được hiệu quả nhất định, đạt được mục đích nhất định. Nhưng có lúc muốn đạt mục đích, nếu chỉ "khéo nói" thì chưa đủ. Còn phải nói đúng lúc, sử dụng một số thủ đoạn, để người đại diện của mình nói được những điều mình nghĩ, có khi kết quả sẽ gấp bội. Phải học ăn học nói, nhất là trong chốn quan trường.

Viên Thế Khải có người đồng tông và thân tín là Viên Nãi Khoan. Nãi Khoan có con là Viên Anh. Viên Anh là thanh niên quá khích và có mối quan hệ mật thiết với những người cách mạng.

Biết Viên Thế Khải tích cực chuẩn bị phục hồi đế chế. Viên Anh bực bội, kể lại mọi chuyện với người cách mạng, còn nói:

- Thật là lũ chó má! Chẳng kể trăm họ sống chết ra sao, chúng điên cuồng chuẩn bị cho ngày lễ đăng cơ của Viên Thế Khải vào Nguyên đán tới. Tuy đệ là họ Viên, nhưng cảm thấy nhục thay cho hành vi vô đạo của Viên Thế Khải. Mong sao đến lúc đó có người khởi nghĩa trừ nghịch, đệ cũng có thể góp một phần nhỏ bé vào cuộc chơi!

Ngày 18 tháng Giêng năm 1916, "phần nhỏ bé" của Viên Anh là một trái lựu đạn. Lựu đạn nổ trong Tân Hoa Cung. May mà Viên Thế Khải không mất mạng. Họ Viên ra lệnh khám xét, lục soát tìm thủ phạm để nghiêm trị.

Kết quả điều tra cho thấy Viên Anh, con của Viên Nãi Khoan là thủ phạm và đã trốn khỏi Bắc Kinh. Viên Thế

Khải lửa giận ngùn ngụt, chẳng biết trút vào đâu, liền sai tả hữu cho đòi Viên Nãi Khoan vào cung. Chưa biết nếp tẻ ra sao, vừa nhìn thấy phụ thân của "tội phạm", họ Viên đã mắng tới tấp. Cuối cùng, Viên Thế Khải còn cao giọng thét:

- Ta làm hoàng đế là thuận ý trời, hợp lòng người. Người ngoài còn dâng thư cầu ta làm hoàng đế. Nay người họ Viên lại làm điều đại nghịch, trái đạo, hòng sát hại ta là thế nào? Có chi, nhà ngươi lại sinh ra một đứa con đốn mạt như vậy! Làm mất mặt họ Viên chúng ta!... Nhà ngươi theo ta nhiều năm, ta không nỡ truy cứu trách nhiệm, cứ yên tâm. Nhưng phải có một điều kiện: Từ nay ngươi không được nhận hắn là con nữa. Không cho hắn mang họ Viên!

Viên Nãi Khoan biết còn mình đã giẫm phải tổ kiến lửa. Bị triệu vào cung, Khoan lo sợ vô cùng. Mặt xám ngoét, cả người rũ xuống như tầu lá, chưa hiểu Viên Thế Khải sẽ xử trí ra sao. Lúc này nghe Viên Thế Khải phán xong, Khoan đổi sợ thành vui. Chợt nẩy ra một ý nghĩ, biến đổi hẳn 180° và biện giải rằng:

- Thằng bé Viên Anh vốn không phải là hậu duệ họ Viên. Hắn vốn là một đứa bé cầu bơ. Thần thấy hắn xinh xắn liền nổi lòng từ bi, đưa về nuôi dưỡng. Hắn đâu có xứng với họ Viên chúng ta! Chỉ tiếc là thần có mắt như mù, không biết hắn là kẻ phản cốt. Thật đáng tội chết! Đáng tội chết!

Viên Nãi Khoan nói năng rành rẽ. Một chuyện dối trá như thật, làm Viên Thế Khải nguôi giận, chà một tiếng, rồi mới nói:

- Thì ra thế! Ta đã biết trước, họ Viên đâu có loại giống má bại hoại như vậy!

Viên Nãi Khoan lần theo ý nghĩ của Viên Thế Khải, biện hộ một cách khéo léo, mới thoát hiểm được.

Trong chốn quan trường, thượng cấp hạ cấp, tránh sao khỏi những lúc va chạm. Đụng phải quan trên là chết rồi! Là hạ cấp, phải làm sao mới tránh khỏi đòn roi giáng xuống, mới bảo vệ được quyền lợi và địa vị đây? Lời lẽ phải khéo léo, mò tìm ý nghĩ của thượng cấp, bắt được lòng dạ của thủ trưởng, rồi theo đó mà tán dương! Có khi phải giả như ngớ ngẩn để làm nổi bật lên cái cao minh của thượng cấp. Có thế, hạ cấp mới thoát hiểm, giữ được quan, giữ được lộc, thậm chí còn được thượng cấp thăng quan tiến tước cho!

2. NÓI KHÉO ĐỂ THU ĐƯỢC TIỀN

Lúc liên quân tám nước tiến công Bắc Kinh, Từ Hi thái hậu chạy về miền tây. Bọn liên quân vào cung cướp sạch những gì có thể cướp được! Sau này, Thái hậu hồi loan, muốn sửa sang lại cung điện, liền triệu Viên Thế Khải đến bàn bạc.

Lúc bấy giờ, trăm họ cũng vừa chịu cảnh chém giết, cướp bóc nặng nề của liên quân, nên chẳng còn trông mong gì được. Viên Thế Khải nghĩ cách quyên tiền của quan viên các cấp.

Một hôm, Viên Thế Khải cho mời các quan viên dưới quyền đến, muốn mượn tiền riêng của từng vị để tu sửa cung điện, sau này sẽ hoàn lại. Viên Thế Khải nói một chặp rất hay. Nhưng, không những không muốn mở hầu bao, mà ai nấy còn khóc lóc kêu túng. Viên Thế Khải ghét cay ghét đắng cả lũ ti tiện, quyết định phải dùng mưu với chúng.

Viên Thế Khải lặng lẽ cử thân tín đến quầy gửi tiền ở Thiên Tân, nói dối là sẽ gửi một khoản tiền lớn vào quầy. Trong lúc bàn về vấn đề lợi tức, người chủ quầy muốn có tín nhiệm với khách hàng, liền đem sổ sách ra làm bằng, còn kể vanh vách tên các vị quan gửi bao nhiêu tiền và được lãi bao nhiêu. Tổng tiền lên tới mấy trăm vạn lạng. Các tình tiết trên, người khách ghi nhớ hết.

Viên Thế Khải ăn chắc vì đã nắm được tình hình. Sau đó, các quan có tiền gửi được mời đến phủ. Họ Viên nghiêm giọng nói:

- Các vị không có tài khoản, túng quá nhỉ? Nhưng bọn chủ quầy kể cũng ác, chúng dám mượn tên các vị để gửi tiền, hòng khống chế giá cả làm loạn thị trường. Để trừng phạt bọn chúng, ta đã quyết định dùng tạm số tiền mà chúng dám mạo tên các vị để gửi, hòng làm mất danh dự các vị.

Những vị có tiền đành im như thóc. Ngậm bồ hòn mà kêu là ngọt. Viên Thế Khải được một khoản tiền lớn để sửa sang nội thất trong cung. Từ Hi thái hậu hết sức mừng rỡ.

Người tiếp bước Viên Thế Khải sau này là Trực Hệ9 quân phiệt, thủ lĩnh là Ngô Bội Phu cũng dùng kế vét tiền của bọn phú hào kiểu như Viên Thế Khải.

Trước khi Ngô Bội Phu đi dẹp loạn Trương Tác Lâm, cũng đã buồn bã vì thiếu quân phí. Chợt một ý thật hay đã đến. Ngô Bội Phu liền gửi giấy mời đến các quan viên trực thuộc "lập tức về kinh bàn việc nước". Trong giấy mời còn ghi rõ các chức danh trong bộ tổng tư lệnh như "cố vấn", "tư nghi", "tham tán" v.v..

Cơ mưu của Ngô Bội Phu là lấy "mồi ngon để nhử cá".

Ai chẳng muốn thăng quan, phát tài! Nhận được giấy mời, mọi quan viên đều hoan hỉ. Họ cho Ngô Bội Phu là người cao minh, biết cầu hiền như khát nước. Khác hẳn với cung cách làm cho mọi người bực bội trước đây trong phủ tổng thống của Lê Nguyên Hồng! Bởi vậy, những người đã may mắn được đại tài đại lộc như Trương Anh Hoa, Phan Phục, Vương Chiêm Nguyên, Trần Quang Viễn đều vội vã đến Bắc Kinh dự họp, hòng được chức quan cao hơn, phát tài hơn!

Ngô Bội Phu vui mừng đón họ.

Chờ cho mọi người đông đủ, Ngô Bội Phu mới đi thẳng vào để:

- Được các vị giúp đỡ, Tử Ngọc mỗ (tự của Ngô Bội Phu) thấy cảm kích vô cùng. Thực vì quân phí không đủ, nên mới mời các vị giúp đỡ vậy. Tử Ngọc muốn mỗi vị ứng cho 100 vạn. Với các vị thì chỉ như muối bỏ biển, nhưng đất nước có lợi lớn! Sau này, cuộc chiến thắng lợi sẽ phát hành công trái để trả các vị.

Ngô Bội Phu nói xong, phủi tay đi thẳng. Các vị tài chủ biết mình bị lừa, ai nấy như quả bóng hết hơi. Lúc này Ngô Bội Phu đang nắm đại quyền trong tay. Tiền là quý, nhưng mạng sống còn quý hơn nhiều. Mọi người phải ưng thuận.

Hoành hành bạo chính, việc như cướp giật giữa ban ngày, nhưng cũng có "lý" có "cứ".

Đó là biết nói và nói rất khéo!

3. TRƯƠNG TÁC LÂM "BẰNG ĐƯỜNG VÒNG ĐỂ RA CHỖ SÁNG"

Cuộc đời Trương Tác Lâm đầy chông gai và trắc trở. Xuất thân từ một vùng quê rồi trở thành "Đông Bắc vương". Đưa quân vào quan, thao túng chính phủ Bắc Dương, Trương Tác Lâm tự phong là đại nguyên soái hải, lục quân, một thời kiêu hùng chẳng ai sánh kịp.

Bước ngoặt lớn lao của con người ly kỳ ác hiểm này là từ một tên "thổ phỉ" lắc mình một cái thành mệnh quan triều đình. Chính là nhờ vào mưu mô trí tuệ mới "bằng đường vòng để ra chỗ sáng" vậy!

Năm 1900, tuy tuổi mới hai nhăm, nhưng Trương Tác Lâm đã có tiếng trong lũ phỉ ở vùng Đông Bắc, với một thế lực không nhỏ. Năm đó, triều Thanh phục chức cho Thịnh Kinh tướng quân Tăng Kỳ, để tướng quân về Phụng Thiên thu xếp công việc. Sau khi chiến tranh Trung Nga kết thúc, Trương Tác Lâm thấy nghề thổ phỉ đã hết thời. Muốn phủi tay xuống núi, quy thuận triều đình, làm ăn "ngay thẳng".

Nhưng quy thuận bằng cách nào? Trực tiếp báo với Tăng Kỳ quan lớn ở miền Đông Bắc của chính phủ rằng mình muốn hoàn lương chăng? Tăng Kỳ sẽ nghĩ như thế nào? Quan lớn tin cho là tốt. Ngộ nhỡ không tin, thì liệu quan lớn thừa dịp mà cho cả lũ vào rọ hay không? Còn nếu quan lớn cho quy thuận thì hai tiếng "thổ phỉ" vẫn còn rất chối tai! Quan lớn sợ rằng mình còn nhiều chất thổ phỉ....

Toan đi tính lại, Trương Tác Lâm tìm được diệu kế, tự đề cao, tự tiến cử: Tìm cướp phu nhân, khoản đãi tử tế rồi mới thả. Tự phu nhân sẽ nói tốt cho mình với Tăng Kỳ. Trong bài: "Sự nẩy sinh, phân hóa và kết cục của các bang lục lâm ở đông Tam tỉnh, cuối triều Thanh" của Ninh Võ tiên sinh, miêu tả tình hình Trương Tác Lâm tuyên bố kế hoạch đó với các huynh đệ, thủ hạ. Trương Tác Lâm nói với lũ phỉ:

- Có thể mọi người đều biết cả rồi! Phụng Thiên tướng quân Tăng Kỳ đưa gia quyến chạy về Cẩm Châu, Nghĩa Châu đã lâu. Về sau, Tăng Kỳ trở lại Phụng Thiên, gia quyến thì vào quan. Nghe nói gần đây Tăng Kỳ cho người đón gia quyến về Phụng Thiên. Lúc này, tàu hỏa chỉ chạy đến Câu Bang Tử. Sắp tới, gia quyến Tăng Kỳ tất phải qua đây. Rõ là một cơ hội trời cho. Chúng ta phải cướp cả người lẫn vật dụng. Nhưng không được làm bừa. Bấy giờ ta sẽ có lệnh. Mọi người phải nhớ kỹ. Ai vi phạm sẽ phải xử bằng khẩu súng này.

Theo kế hoạch, Trương Tác Lâm là người tốt. Người anh em kết nghĩa Thang Ngọc Lân là kẻ xấu.

Mùa thu ở Liêu Tây, bầu trời thật thoáng đãng. Bốn chiếc xe ngựa chở gia quyến Tăng Kỳ đang lăn bánh. Chung quanh có binh lính vũ trang và gia nô đi hộ tống. Thỉnh thoảng, từ trong xe lại có tiếng cười giòn giã vang lên.

Trương Tác Lâm chờ đã lâu. Rồi lệnh cũng phát ra. Từ trong những đám cao lương, lũ hung thần, ác quỷ lao vào mấy chiếc xe. Súng nổ mấy tiếng. Bọn lính lập tức giao súng, chịu trói.

Rương hòm đựng vàng bạc châu báu được mở ra. Đồ đạc bị xáo trộn. Tiếng cười của lũ quỷ sứ thật đình tai, nhức óc. Tên trùm thổ phỉ giật rách chiếc rèm che cửa chỗ Tăng phu nhân. Hắn híp mắt đứng nhìn.

Tăng phu nhân tưởng không thoát được họa lớn. Đúng lúc đó thì nghe bên ngoài có tiếng thét lên:

- Đứa nào dám vi phạm luật lệ của Trương Vũ Đình.

Đó chính là Trương Tác Lâm. Lâm cùng lũ tay chân bước tới trước xe của Tăng phu nhân và tỏ ra hết sức kinh hoàng gào lên:

- Thang Ngọc Lân có mắt mà như mù. Ngươi dám giấu ta, cướp bóc xe của gia quyến đốc quân. Ngươi sẽ phải chết.

Dứt lời, liền quỳ xuống trước xe, tạ tội:

- Thủ hạ của Trương Vũ Đình đã mạo phạm phu nhân đốc quân. Thật đáng muôn chết. Xin phu nhân bớt giận.

Tưởng như mọi thứ đã hết. Nay được hồi sinh, phu nhân vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Nhìn kỹ Trương Tác Lâm lại càng thấy lạ. Trước đây nghe nói trùm phỉ Trương Tác Lâm người to ngựa khỏe, hung hãn cực kỳ. Nay không ngờ, đứng kia chỉ là một chàng thanh niên hai sáu, hai bảy tuổi, nho nhã và ôn hòa.

Tăng phu nhân chưa hết kinh ngạc, lại nghe Trương Tác Lâm nói:

- Trương Vũ Đình đúng là thổ phỉ. Nhưng là thổ phỉ có luật lệ. Đình mỗ chuyên giết lũ phú hộ bất nhân. Chưa bao giờ cho phép chà đạp phụ nữ. Phu nhân, ngay cả xe bảo vật của phu nhân, không kẻ nào dám tơ hào mảy may, sau xin hoàn lại. Bây giờ xin mời phu nhân vào thôn nghỉ ngơi, để được giết gà giết lợn tạ tội làm kinh động đến phu nhân.

Nghe xong, Tăng phu nhân cảm thấy yên tâm lắm lắm.

Chẳng dè, khi đến chỗ nghỉ của Trương Tác Lâm thì Tăng phu nhân nhiễm bệnh nặng. Trương Tác Lâm cho mời Từ Tử Nghĩa, thầy thuốc nổi tiếng trong vùng đến trị bệnh và sai người chăm sóc phu nhân chu đáo.

Bệnh tình của phu nhân có chuyển biến tốt. Phu nhân vô cùng cảm kích. Từ Tử Nghĩa có người dặn trước, luôn luôn tìm cách ca ngợi Trương Tác Lâm trước mặt phu nhân. Để cứu được phu nhân, Trương Tác Lâm đã mắc tội với anh em, đã gian nan vất vả như thế nào. Còn kể nhiều chuyện nghĩa hiệp của Trương Tác Lâm.

Cũng thời gian đó, ngày nào cũng ba lần đến thăm hỏi phu nhân, Trương Tác Lâm tỏ ra vô cùng chu đáo.

Tăng phu nhân ngày càng thêm quý Trương Tác Lâm.

Từ Tử Nghĩa lại lựa lời nói với phu nhân:

- Trương Tác Lâm tuy sống trong rừng núi đã lâu, nhưng vốn là một nhân tài hiếm có. Từ lâu, Lâm đã có ý bỏ chỗ tối ra chỗ sáng, về với triều đình, đem tài năng phụng sự sơn hà xã tắc. Nhưng tiếc là chưa có ai tiến cử!

Tăng phu nhân tự nghĩ: "Nếu chiêu mộ được Trương Tác Lâm thì không những phu quân lập nên công trạng, đồng thời cũng bớt được mối hại cho dân". Phu nhân đồng ý nói chuyện với Trương Tác Lâm.

Trương Tác Lâm vẫn lấy lễ mà bái Tăng phu nhân, rồi cúi đầu đứng nghe. Tăng phu nhân cảm thấy hết sức hài lòng và vui vẻ, nói:

- Lúc ở trên thành ta nghe nói có nhiều băng lục lâm chống đối tướng quân. Nhất là nhà ngươi, tiếng tăm ghê gớm lắm! Lần này, đường qua đã gặp, mới biết ngươi là người đại nghĩa. Nghe Từ tiên sinh nhắc đến tâm nguyện của ngươi, ta hết sức đồng tình. Là một thanh niên tài năng, lại có lực lượng, nếu sớm biết cải tà quy chánh, bỏ chỗ tối ra chỗ sáng thì triển vọng nhiều lắm. Trước mắt, nếu bình yên về đến Phụng Thiên, ta nhất định sẽ nói với tướng quân thu nhận nhà ngươi vào lực lượng quân Phụng Thiên. Các ngươi vừa có công vừa có đường sống. Ngươi thấy như vậy có được không?

Trương Tác Lâm chỉ chờ có thế. Lâm cám ơn rối rít và nói:

- Nếu Trương Tác Lâm được đưa anh em theo về với tướng quân, cứu nước cứu mình thì không bao giờ dám quên ơn của Tăng phu nhân.

Tăng phu nhân khỏi bệnh. Trương Tác Lâm cho điểm lại đồ đạc, rương hòm, súng ống cùng đội bảo vệ được trả lại bằng hết. Tự thân hộ tống Tăng phu nhân về đến phủ Tân Dân. Tăng phu nhân vô cùng cảm kích. Trước lúc lên đường, phu nhân còn đem tặng lũ bộ hạ của Trương năm đỉnh bạc nén. Trương Uyển Ngôn từ chối, nói:

- Lũ tiểu nhân chỉ mong có dịp được mở mày mở mặt, được đội ơn phu nhân suốt đời!

Về đến Phụng Thiên, Tăng phu nhân kể chuyện dọc đường với tướng quân; chuyện Trương Tác Lâm muốn bỏ chỗ tối ra chỗ sáng. Phu nhân ca ngợi Trương Tác Lâm là người ôn hòa nho nhã, hiểu lễ nghĩa, đầy lòng hào hiệp, khác hẳn lũ thổ phỉ, thảo khấu kia. Tăng Kỳ cảm kích trước tấm lòng nghĩa hiệp của Trương Tác Lâm, liền bẩm rõ với chính phủ nhà Thanh tình hình Trương Tác Lâm muốn được chiêu an. Sau khi được triều đình ưng thuận, Tăng Kỳ lệnh cho Tăng Uẩn ở phủ Tân Dân biên chế Trương Tác Lâm vào phòng doanh của tỉnh.

Ít lâu sau, Tăng Uẩn biên chế số quân của Trương Tác Lâm thành đội du kích tuần phòng của Tân Dân. Trương Tác Lâm là Quản đới quan. Từ đó, chấm dứt cuộc đời thổ phỉ.

Xa và gần, cong và thẳng là những mặt đối lập. Đi bằng con đường xa và cong có khi ít trở ngại, dễ đạt được mục đích hơn con đường gần và thẳng. Nhất là trong chốn quan trường, tự biện hộ là phương pháp ít hiệu quả, tạo nên những ác cảm:

- Chà! Xem cái người này! Tự cho mình là mẫu mực, bất quá chỉ là bãi cứt chó, thối hoắc!

Còn với phương thức vòng vo một chút, biết để cho người khác thì thốt ra miệng, tán dương mình, biện hộ cho mình, thì thường là hiệu quả rất lớn. Để đạt mục đích, những người tinh tường trong chốn quan trường thường dùng biện pháp lắt léo, để người khác biện hộ cho mình. Đấy là thủ đoạn tốt nhất để bằng đường cong thông ra đường sáng.

4. ĐOẠN KỲ THỤY CẮT BỎ ĐUÔI SAM

Sau khi tốt nghiệp xuất sắc trường võ bị Bắc Dương, Đoạn Kỳ Thụy được chính phủ nhà Thanh cho đi lưu học ở Đức.

Thời đó, lưu học sinh Trung Quốc ở Đức rất ít. Mọi người đặc biệt chú ý và nhạo cười chiếc đuôi sam của Đoạn Kỳ Thụy:

- Phía sau ót người kia có cái đụn tóc vừa to vừa dài giống hệt đuôi con lợn!

- Thật là vui, người kia đeo cái đuôi con lợn để làm gì nhỉ?

Ở ngoài đường, mọi người nhìn ngắm Đoạn Kỳ Thụy như vừa thấy một động vật kỳ lạ.

Đoạn Kỳ Thụy không ngờ, chiếc đuôi sam là vật tiêu biểu của một "lương dân" nhà Đại Thanh lại được mọi người vừa chú ý vừa buồn cười như vậy! Ông cảm thấy buồn buồn và nghĩ ra một kế: giấu đuôi sam vào trong chiếc mũ đội đầu.

Nhưng mỗi lần làm động tác quân sự trên thao trường thì mũ rơi, đuôi sam lại lòi ra. Ai nấy được một trận cười thoải mái. Đoạn Kỳ Thụy khóc dở mếu dở. Đuôi sam là một cái gì thật nhục nhã. Đoạn Kỳ Thụy định bụng cắt bỏ.

Hôm đó, Đoạn Kỳ Thụy một tay cầm kéo, một tay mân mê mãi chiếc đuôi sam quen thuộc đến lạ lùng. Cho đến khi giơ kéo lên định cắt, thì bỗng nghe có tiếng thét lớn:

- Chi Tuyển (Đoạn Kỳ Thụy)! Đệ điên rồi chăng? Dám cắt đuôi sam đi sao?

Vừa khéo, động tác cắt tóc của Đoạn Kỳ Thụy bị Ấm Xương, viên công sứ triều Thanh ở Đức, nhìn thấy. Theo luật nhà Thanh, xử phạt tất cả những ai không để đuôi sam. Những ai dám cắt tóc cũng bị xử phạt. Khi đó Ấm Xương vừa thét vừa chạy đến giằng chiếc kéo trong tay Đoạn Kỳ Thụy.

Đoạn Kỳ Thụy cũng gào lên:

- Thà phát điên lên còn hơn là chịu nhục! Huynh không được làm thế. Đệ cắt tóc của đệ. Việc gì đến huynh?!

Ấm Xương thừa biết nổi khổ tâm của Đoạn Kỳ Thụy, nên vừa lắc đầu vừa thở dài:

- Chi Tuyền, người đời thường nói "Không gắng chịu cái nhục bé thì hỏng mất việc lớn!" Quân đội chi tiền cho đệ đi học. Muốn cắt tóc phải báo với triều đình. Đệ cắt tóc mà không báo, ngộ nhỡ triều đình trách phạt thì sao? Lúc đó, không những du học không thành, mà ngay đến lộ phí về nước chắc gì đã có. Đệ phải cân nhắc kỹ xem đâu nặng, đâu nhẹ?

Đoạn Kỳ Thụy hiểu như vậy, nhưng vẫn kiên quyết:

- Nhưng đệ không muốn để người khác nhạo báng!

Ấm Xương nói:

- Sao đệ không điện về xin phép rồi hẵng cắt?

Đoạn Kỳ Thụy liền điện đến ban quân cơ, nhờ chuyển tấu với triều đình, xin được cắt tóc. Nghe tấu xong, triều Thanh tỏ vẻ bực tức và không phê chuẩn.

Đoạn Kỳ Thụy thấy rằng may mà nghe lời khuyên của công sứ, chứ không hậu quả thật khôn lường. Thế rồi, Đoạn Kỳ Thụy liền đến tòa công sứ, gặp Ấm Xương, giọng nói thật xúc động:

- Tạ ân công sứ đại nhân! Nếu không nghe lời khuyên của huynh, e đệ đã mất sạch!

Không ngờ Ấm Xương chợt bật cười và nói:

- Huynh cũng phải tạ ơn đệ nữa chứ!

Đoạn Kỳ Thụy ngẩn người, liền hỏi:

- Huynh nói gì, đệ không hiểu?

Ấm Xương nhấp một ngụm trà, và từ tốn nói:

- Nếu đệ được triều đình chuẩn y cắt tóc, thì huynh cũng theo đó làm luôn. Nếu không được phép, thì việc gì huynh phải gây hận với triều đình. Đó là điều huynh phải cám ơn!

Đoạn Kỳ Thụy chợt hiểu. Từ đó càng thêm lòng kính phục Ấm Xương.

Thật đã rõ tính cách của Đoạn Kỳ Thụy cùng sự giảo hoạt của Ấm Xương.

Trong chốn quan trường việc dễ cũng nhiều mà việc khó cũng lắm! Nhiều lúc gặp những việc làm không được, nhưng vẫn phải làm! Phương pháp tốt nhất của chúng ta là: đẩy mâu thuẫn xuống dưới, chuyển việc khó cho lũ bộ hạ. Cấp dưới làm tốt thì ta cũng có công. Bởi vì, có sự "lãnh đạo và quan tâm của ta" thì hạ cấp mới làm được như vậy. Ta biết lãnh đạo đấy chứ! Nếu công việc không tốt thì ta cũng còn đường mà nói: "Ta đâu có sai lầm! Ta không hề biết việc này." Cái khôn khéo là ở chỗ đó!

5. VIÊN THẾ KHẢI KHÉO LỢI DỤNG CẤP TRÊN

Sau cuộc chiến tranh Trung Nhật vào năm Giáp Ngọ, năm 1889, quân đội lạc hậu của triều Thanh đã thất bại thảm hại. Chính phủ nhà Thanh liền quyết định huấn luyện lục quân theo kiểu mới.

Từ mùa đông năm 1984, chính phủ triều Thanh đã lệnh cho Diêm vận sứ là Trương Lô, chiêu mộ tráng đinh, huấn luyện Tân quân ở ga nhỏ Thiên Tân, gọi là "Định Võ quân". Sau khi nắm được kế hoạch của triều đình, Diêm vận sứ nghĩ cách nắm lấy chức vụ Biên luyện tân quân đốc biện. Vì vậy, mới mời một trợ thủ là Vương Uyển Sinh, người Ninh Ba thông thạo đường lối và huấn luyện. Họ vạch kế hoạch huấn luyện, gửi về ban Đốc biện quân vụ kinh thành các đại thần Cung Thân vương, Khánh Thân vương, thân quý tộc Mãn là Vinh Lộc cùng duyệt qua.

Bấy giờ, Viên Thế Khải vừa từ Triều Tiên về nước. Họ Viên biết tin và muốn nắm chức Biên luyện tân quân đốc biện. Liền bỏ nhiều vàng ra mua chuộc và kết nghĩa anh em với Vương Uyển Sinh. Tiếp đó còn dùng tiền để sai khiến lũ danh kỹ kinh thành như Thẩm Tứ Bảo, Hoa Mị Khanh, Hoa Bảo Cẩm, Lâm Quế Sanh, Tái Kim Hoa, thay phiên nhau, dùng nữ sắc để "oanh tạc" Vương Uyển Sinh.

Sau một hai chiêu như vậy, Vương Uyển Sinh đã mềm lòng, liền trao ngay cho Viên Thế Khải toàn bộ kế hoạch biên luyện tân quân của Diêm vận sứ sau khi đã được sửa chữa và bổ sung.

Viên Thế Khải vốn chẳng biết gì về đường luyện quân.

Nên nhận được kế hoạch Vương Uyển Sinh trao cho như nhận được báu vật. Đêm ngày nghiền ngẫm, ghi nhớ những trọng điểm, thuộc làu làu bản kế hoạch đó. Sau này, Viên Thế Khải sao chép thành bản kế hoạch khác, dâng lên Vinh Lộc.

Vinh Lộc cảm thấy ngờ ngợ: "Anh chàng này học được cách luyện binh từ bao giờ thế?" Đến lúc hỏi tỉ mỉ mới thật không ngờ, Viên Thế Khải giảng giải, cặn kẽ, nói năng lưu loát. Vinh Lộc hết sức vừa ý, nhận định Viên Thế Khải là một thiên tài hiếm hoi, giỏi cách luyện quân. Vinh Lộc đưa Viên Thế Khải đi gặp hai Thân vương Cung và Khánh. Sau hồi vấn đáp, hai Thân vương cũng đánh giá rất cao Viên Thế Khải. Cho rằng Khải cao minh và tường tận hơn nhiều người khác! Thêm vào đó, khả năng diễn đạt lại hết sức lưu loát. Họ đưa kế hoạch luyện quân của Viên Thế Khải trình lên ban quân cơ. Ban quân vụ nhận xét: "Hết sức đầy đủ, thỏa đáng". Và ngày mùng 8 tháng 12, Viên Thế Khải tiếp nhận Định võ quân và được lệnh mở rộng, cải biên. Viên Thế Khải chia Định võ quân thành mười doanh; gồm 4750 người, và mở rộng tới 7000 người, đổi tên là "Tân kiến lục quần".

Ở nơi luyện quân, Viên Thế Khải kết hợp giữa ân và uy, định ra "mười hai điều quân luật". Riêng tội chém đầu đã có mười tám khoản. Binh sĩ vô cùng cực khổ. Giám sát ngự sử Hồ Cảnh Quế lúc đó, liền tham tấu Viên Thế Khải, "mưu mô tiếm quyền", "giết chóc vô cớ", "ăn chặn quân lương". Triều đình nhà Thanh liền cử ban Đốc biện quân vụ, Binh bộ thượng thư, Đại học sĩ đại thần Vinh Lộc đi xem xét.

Viên Thế Khải hay tin cảm thấy bàng hoàng, suốt ngày lo lắng. Nhưng khi được tin phụng mệnh tra xét là Vinh Lộc, lập tức Viên Thế Khải cảm thấy mừng rỡ. Vinh Lộc đem theo Trần Long và mấy viên quan khác cùng đến tiểu trạm. Viên Thế Khải cho 7000 quân quỳ thành hàng thẳng tắp để nghênh đón và tiến hành thao luyện ngay sau đó.

Vinh Lộc rất vui. Lục quân hàng ngũ chỉnh tề, quân lính trẻ khỏe, sĩ khí bừng bừng, càng thêm tin tưởng Viên Thế Khải, Vĩnh Lộc hỏi người đứng cạnh:

- Tân kiến lục quân và cựu quân thế nào?

Quan tùy tòng đáp:

- Cựu quân kém cỏi. Tân quân bừng bừng sinh khí!

Vinh Lộc gật đầu tán thưởng:

- Ngươi nói đúng. Người này phải được bảo toàn thì công việc mới tốt!

Sau khi về kinh, Vinh Lộc sai người thảo bản phúc tấu. Bản tấu ghi rõ: về việc giết người, Viên Thế Khải có giết vài người bán rau ở ngoài doanh trại. Những điều khác Hồ Cảnh Quế tham tấu là đúng, nhưng có phẩn nặng nhẹ khác nhau. Vụ án này nên được tiếp tục giải quyết.

Vinh Lộc lắc đầu và nói:

- Giải quyết tiếp thì nhẹ ra cũng phải cách chức Viên Thế Khải. Tân kiến lục quân vừa mới thành lập, không tránh khỏi bị đảo lộn. Chi bằng khởi tấu hoàng thượng xử lý khoan dung, để khích lệ, Tân quân vẫn được thao luyện như cũ.

Cuối cùng, Vĩnh Lộc có bản tấu: "Tra xét rõ thấy vô căn cứ. Ngừng việc xét hỏi". Toàn bộ tội lỗi của Viên Thế Khải lập tức bị xóa sạch. Không những thế, họ Viên còn được ca ngợi là: "chăm chỉ, năng động", "hết lòng vì công việc", một tướng lĩnh "hiếm thấy".

Để cấp trên nói tốt cho mình, Viên Thế Khải mới thoát khỏi đòn đánh trong chốn quan trường.

Sau khi huấn luyện xong Tân kiến lục quân, uy thế của họ Viên ngày một mạnh. Làm cho một bộ phận quý tộc Mãn hằn thù và ghen ghét. Họ nói:

- Viên Thế Khải có cục xương phản nghịch sau ót. Rồi thế nào cũng bán đứng Khang, Lương và hoàng đế. Sau này ắt phản lại nhà Đại Thanh. Không nên trọng dụng loại người này!

Những câu nói đại loại như vậy, nhanh chóng truyền đến tai Từ Hi thái hậu. Thái hậu bắt đầu lo lắng về Viên Thế Khải. Rồi một hôm, thái hậu không đừng được nữa, liền mật sai con của Dịch Khám là Tái Chân đi Thiên Tân thị sát tình hình Viên Thế Khải.

Tai mắt của Viên Thế Khải biết tin liền thông báo gấp. Sau khi thám thính ra cha con Khánh Thân vương Dịch Khám thích tiền như mạng sống, thấy gái như mèo thấy mỡ, Viên Thế Khải liền cho chuẩn bị nào là gái đẹp, nào là tiền, vàng để cung phụng cho Tái Chân.

Sau khi đến Thiên Tân, Tái Chân ngày nào cũng sơn hào hải vị, gái đẹp kề bên. Lúc nào cũng tiếng sênh tiếng sáo, tiếng cười tiếng hát, vô cùng thích thú. Làm gì còn thì giờ để nghĩ tới chuyện khác!

Thoáng cái, đã đến lúc Tái Chân phải về kinh phục mệnh. Viên Thế Khải đem tặng nhiều vàng, bạc, châu báu và nói:

- Đại nhân vất vả. Tiểu nhân hầu hạ chưa được chu đáo. Mong đại nhân lòng như hải hà, nhận cho món lễ mọn này và không khiển trách phạt.

Chuyến đi Thiên Tân của Tái Chân thật là thỏa lòng mát dạ. Tái Chân ưng ý Viên Thế Khải lắm!

Sau khi về đến Bắc Kinh, Tái Chân phục mệnh, yết kiến Từ Hi thái hậu, tâu rằng:

- Nô tài thấy Viên Thế Khải là người trung thành hết mực. Tối tối thường bày hương án, khấu đầu cầu chúc Lão Phật gia vạn thọ vô cương.

Vì vậy, Từ Hi thái hậu thêm tin tưởng Viên Thế Khải. Coi Viên như là một đại tướng tâm phúc của mình.

Viên Thế Khải thăng quan nhanh chóng hơn!

Viên Thế Khải đánh đổ các quan trên bằng tiền và gái đẹp. Họ biện hộ, giúp Viên Thế Khải thoát khỏi những cơn hiểm nghèo.

Rõ ràng là trong chốn quan trường thời xưa, bọn quan lại luôn tìm cách lấy lòng quan trên, để không những có thể biến dữ thành lành, mà còn được từng bước từng bước thăng quan!

6. NGÔ TRĨ HUY KHÉO MUA DANH

Trong chốn quan trường các thời đại, lũ quan lại thật muôn hình vạn trạng. Lũ tham quan ô lại nhiều như cát biển. Số quan thanh liêm chính trực yêu dân như con đã ít lại càng ít. Nhân dân trăm họ, ghét cay ghét đắng số quan xấu nêu trên.

Bởi vậy các quan viên liêm khiết, hết lòng vì công việc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, thường được lưu danh cho đến muôn đời. Còn lũ tham quan làm hại địa phương, gây nhiều tội ác đều bị trăm họ phỉ nhổ. Chính vì vậy mà hầu hết bọn quan lại thường biện giải cho mình, nói: "Ta là viên quan tốt". Ngay cả đến lũ chức dịch xôi thịt ở làng quê cũng có anh nào thừa nhận mình là viên quan tới đâu. Phương thức, phương pháp biện giải thật đa dạng, nhưng mục đích chỉ có một: ta là viên quan tốt!

Thời Dân Quốc, Ngô Trĩ Huy được coi là viên quan tương đối thanh liêm. Không nhận lễ, không chúc thọ. Cần gì thì ông giúp, nhưng tịnh không nhận một thứ gì của ai. Ông thường nói: "Không tham những đồng tiền phi nghĩa. Không nhận lộc mà mình không có công."

Năm 1925, Ngô Trĩ Huy sáu mươi tuổi. Người Vô Tích ở Thượng Hải tổ chức ngày lễ mừng thọ cho ông. Trong phòng khách, người ta chăng đèn kết hoa treo đầy những thiếp mừng thọ. Lễ vật sắp xếp đầy bàn. Nhưng quan khách chờ mãi mà vẫn chưa thấy chủ nhân xuất hiện. Đúng lúc đó thì có thư của Ngô Trĩ Huy từ Hàng Châu gửi đến, thư viết:

Gửi các vị có mặt. Đệ mồ côi mẹ từ nhỏ. Sống với bà ngoại, bà không chịu nói đến ngày sinh, tháng đẻ, nên chưa bao giờ được có cái gọi là "Kỷ niệm ngày sinh". Đệ cứ như người trong mơ, trong mộng, sống trên cõi đời này, không hề biết đó là ngày, tháng, năm nào! Có người đăng tin lên báo thay đệ làm lễ mừng tuổi sáu mươi, đệ mới biếttuổi đã sáu mươi. Đó gọi là lời bịa đặt, thường xuyên xảy ra ở Trung Quốc. Ha ha! Đệ cũng tin rằng mình đã ở tuổi sáu mươi, nhưng không dám chọn lấy một ngày, mở tiệc trà, gọi là mừng ngày sinh nhật. Đệ chúa ghét chúc thọ, làm ngày sinh nhật, toàn là những việc miễn cưỡng. Đệ tuy đã ở tuổi sáu mươi, kể cũng nên làm một cái lễ gì đó cho vui, nhưng lại không dám phiền đến cả những người không quen biết! Nên viết mấy chữ để cảm tạ chư vị tiên sinh. Hôm nay, đệ đã tới Hàng Châu, không được thù tiếp các vị. Tiếc lắm lắm!

Kính thư.

Mấy dòng lời lẽ lung tung của Ngô Trĩ Huy làm cho những người đồng hương dở khóc dở mếu. Bữa tiệc mừng thọ sáu mươi biến thành bữa ăn tập thể của những người đồng hương Lữ Lô, Vô Tích.

Năm 1945, Ngô Trĩ Huy tám mươi tuổi, giáo thụ Vệ Tụ Hiền chủ biên tờ "Thuyết văn tạp chí" định ra một kỳ "Ngô Trĩ Huy bát thập đại khánh chuyên tập". Ngô Trĩ Huy liền ngỏ lời cự tuyệt một cách hài hước rằng:

- Đệ vốn là người lén đến cõi đời này. Trước khi ra đời, tổ mẫu từng báo mộng cho ngoại tổ mẫu hay, trong một đầm nước ở dưới âm gian người ta câu được một đứa trẻ, thừa lúc Diêm vương ngái ngủ mới thoát được ra ngoài cửa quỷ, bên vai trái còn có vết tích của chiếc lưỡi câu. Sau khi đứa trẻ ra đời, đừng bao giờ làm lễ sinh nhật. Vì hắn mắc tội với Diêm vương, nếu để lộ ra, Diêm vương sẽ cho người tróc nã về quy án.

Trên vai trái của Ngô Trĩ Huy có một chỗ bầm đen chừng một tấc. Câu chuyện có căn có cứ, nghe như thật. Thân hữu, đồng hương góp được hơn 10 lạng vàng ròng mừng ngày sinh "lần thứ tám mươi" của ông, ông không nhận. Về sau, số tiền đó được tặng cho trường trung học nơi quê hương, xây dựng phòng nghỉ cho học sinh.

Từ đó, mọi người luôn nói, Ngô Trĩ Huy là bậc nguyên lão thanh liêm.

Ngô Trĩ Huy khéo léo lợi dụng dịp chúc thọ, cự tuyệt tiệc tùng để mua danh thanh liêm cho mình. Hành động quái kiệt đó nhanh chóng được lan truyền. Các quan viên quân chính Quốc dân đảng đua nhau làm theo. Ngay như Tưởng Giới Thạch cũng chịu ảnh hưởng. Nhiều lần họ Tưởng đã thanh minh trên báo: "Tránh phô trương lãng phí, không nên có các hoạt động mừng thọ". Hàng năm, để tránh ngày "mừng thọ", họ Tưởng thường cùng Tống Mỹ Linh bỏ về Lư Sơn.

Nhưng người đời không ai bảo họ Tưởng, người đứng đầu bốn gia tộc lớn ở Trung Quốc, là vị quan thanh liêm!

Cùng một phương pháp, nằm trong tay các đối tượng khác nhau thì hiệu quả cũng khác nhau!

Từng người có con đường riêng của mình. Trong chốn quan trường đua nhau để biện giải, để chứng minh mình là quan tốt, để được cấp trên tín nhiệm, dân gian biểu dương. Nhưng thực ra, một vị quan thanh liêm, một vị quan tốt, đâu cần phải tự mình biện giải, tự mình thanh minh!?

7. LƯU KIỆN QUẦN VÀ LONG VÂN

Trong thời gian kháng chiến, Uông Tinh Vệ phản quốc theo địch, đường đi từ Côn Minh chuyển sang Hà Nội - Việt Nam. Lại từ Hà Nội đến Thượng Hải. Cuối cùng thì thành lập chính phủ ngụy Quốc dân ở Nam Ninh. Trong thời gian này, Long Vân vẫn thư từ lại với họ Uông. Người ta kháo nhau, có nhiều khả năng Long Vân ủng hộ cuộc "vận động hòa bình" của Uông Tinh Vệ. Điều đó làm cho chính phủ Quốc dân Trung Khánh hết sức chú ý. Sau khi chính phủ Quốc dân dời về Trùng Khánh, Vân Nam trở thành một trong những khu vực quan trọng về sức người, sức của. Nếu để Vân Nam hưởng ứng cuộc "Vận động hòa bình" của họ Uông, thì hậu phương lớn của cuộc kháng chiến sẽ có nhiều biến chuyển. Chưa biết viễn cảnh của cuộc kháng chiến rồi sẽ ra sao?!

Vì vậy, họ Tưởng đã lần lượt cử Lý Tông Nhân, Đường Sinh Trí, là những người bạn thân tình lâu năm, đến để khuyên nhủ, thuyết phục Long Vân, mong muốn Long Vân đứng hẳn về bên trung ương, tránh để Uông Tinh Vệ và người Nhật lợi dụng. Trong ba vị thuyết khách thì Lưu Kiện Quần là người ăn nói tinh tế nhất, có sức thuyết phục nhất.

Sau khi đến Côn Minh, Lưu Kiện Quần nghiên cứu thực tình về nhiều mặt và được biết:

(1) Năm 1937, lúc đến Nam Kinh tham gia hội nghị quốc phòng toàn quốc. Long Vân và Uông Tinh Vệ gặp nhau nhiều lần. Sau khi về lại Côn Minh, vì chuộng tài họ Uông, nên Long Vân vẫn thư từ lại ra chiều thắm thiết.

(2) Ít nhiều, Long Vân có những mối bất đồng với chính phủ trung ương!

(3) Trong lúc thời cục khẩn trương như hiện nay, tuy Long Vân chưa có biểu hiện gì rõ rệt, nhưng lũ quan viên có chức có quyền chung quanh, nhất là lũ thân tín cùng bọn văn nhân chủ trương Long Vân bảo toàn lực lượng, lui về trấn giữ quê hương, cao nguyên Chiêu Thông, về phía đông bắc Vân Nam. Có mấy người đã cho di chuyển tài sản về đó.

Qua những thực tế trên, Lưu Kiện Quần rút ra kết luận: Nếu Long Vân làm theo ý kiến lũ bộ hạ thì Vân Nam bị bỏ ngỏ, giặc Nhật tất biết điều này! Mặt khác, tuy Long Vân chưa công khai chống lại trung ương thì hoàn cảnh kháng chiến của chính phủ Trùng Khánh cũng đã nguy khốn lắm lắm!

Thế rồi, Lưu Kiện Quần xin ra mắt Long Vân. Trước hết, Lưu Kiện Quần nói về thế lớn trong thiên hạ, lấy thực tế để chứng minh phe trục Đức, Ý, Nhật sẽ thất bại. Đồng minh nhất định thắng lợi. Và dù cục thế có tồi tệ đến đâu đi nữa, giặc Nhật cũng không thể chinh phục được Trung Quốc, nói chi đến thống trị Trung Quốc. Long Vân là người tinh tế, không thể thuyết phục được bằng những khẩu hiệu rỗng tuếch, nên Lưu Kiện Quần vừa nói vừa hỏi, cho đến khi ông ta bằng lòng mới thôi! Mãi đến khi đã thực thông cảm, Lưu Kiện Quần mới hỏi thẳng;

- Long chủ tịch, nghe nói ngài rất khâm phục Uông Tinh Vệ?

- Đúng thế - Long Vân đáp.

Lưu Kiện Quần vừa nhìn Long Vân vừa lựa ý mà nói:

- Ngài cho Uông là một nhân tài là rất đúng! Gần như từ nam chí bắc, chỗ nào cũng đầy dẫy những nhân vật hàng đầu có tinh thần dựng nước theo chân các bậc tiền bối. Nhưng cái tài tình của một cá nhân và đại sự quốc gia lại là hai lĩnh vực khác nhau. Nói đến cái tài của Uông thì không phải chỉ có ngài, mà bỉ nhân cũng rất khâm phục. Ngay như việc diễn thuyết đấy thôi! Đã mấy lần bỉ nhân nghe Uông nói về những vấn đề hết sức bình thường. Câu, chữ của Uông thật tinh luyện, từ giọng nói đến điệu bộ cái gì cũng tuyệt vời! Còn như văn chương, thi cú của Uông thì bỉ nhân cùng những người khác không sao học được! Nói Uông là một nhân tài, đúng, không ai phủ nhận được. Nhưng về đại nghĩa của dân tộc, chuyện đúng sai thiên cổ, Uông lại thiếu hẳn sự tinh tường. Việc đã đến nước này, chúng ta chỉ còn biết tiếc cho cái tài tình của Uông mà thôi!

Lưu Kiện Quần nói một mạch, rồi đưa mắt thăm dò Long Vân. Khi cảm thấy ông ta vẫn chưa chán, Quần liền lấy hết dũng khí, đi thẳng vào vấn đề trọng tâm.

- Thời cuộc hiện nay thật nguy khốn. Hoàn cảnh của ngài cũng trăm khó ngàn khăn. Sau khi đến Côn Minh, bỉ nhân thấy tình hình miền tây Vân Nam cũng ngày một căng thẳng. Trước tình hình đó, nghe tin một số bộ hạ của ngài cho rằng nên tập trung thực lực, lui về giữ Chiêu Thông, chờ xem tình hình biến đổi. Bỉ nhân cho rằng ai chủ trương như vậy thì người đó không xứng với đất nước, càng không xứng với ngài! Ngày nay, giặc từ ngoài đến phạm, nếu ngài lui quân về quê, bỏ ngỏ mặt tiền, thiên hạ sẽ coi ngài là loại người nào? Chỉ nói riêng về lợi và hại: giặc Nhật vào, tuy không thắng, ngài đã là tội phạm thiên cổ; còn như giặc Nhật thắng lợi thì chính phủ càng thêm nguy khốn. Cứ lấy kinh nghiệm của Đông Bắc mà bàn thì giặc Nhật sẽ chia Vân Nam thành bốn, năm tỉnh nhỏ. Người khác ra làm chủ tịch có thể nói để cầu vinh. Còn ngài, thưa rằng không biết lúc bấy giờ ngài nên làm chủ tịch ở tỉnh nào cho hợp đây? Liệu người Nhật có chịu dùng ngài không? Biện pháp của lũ người này là ngay từ đầu chúng đã muốn diệt ngài, diệt đến cùng, diệt thật thảm.

Long Vân cười rồi hỏi lại:

- Kiện Quần, xin hỏi vậy ông có biện pháp gì không?

Kiện Quần trả lời luôn:

Long tiên sinh, thực không đáng để ngài phải hỏi. Bỉ nhân vốn chỉ là một thư sinh! Bỉ nhân cho rằng, lúc này ngài nên tập trung phần lớn binh lực phối hợp với quân trung ương, quyết một trận sống mái với quân thù. May mà thắng thì ngài là anh hùng dân tộc. Chẳng may thất bại thì ngài hãy thu thập tàn quân về giữ Chiêu Thông. Với địa lợi của Điền, Kiềm10 sẽ đánh du kích với giặc ba năm, năm năm nữa, chẳng phải hay hơn sao? Chưa nói đến thắng bại thế nào, chỉ biết rằng chức chủ tịch lưu vong của Vân Nam, chức tổng tư lệnh đội du kích bí mật đều phải là người của ngài. Biện pháp của bỉ nhân có thể là thắng là bại. Không biết ngài cảm thấy thế nào?

Long Vân chưa tỏ thái độ gì cả, chưa đưa ra ý kiến của mình. Sáng từ 7 giờ, lúc này đã là 11 giờ, hai người ăn điểm tâm, rồi lại ăn cơm trưa. Long Vân không tỏ ra mệt mỏi, có nhiều suy tư. Lưu Kiện Quần biết là buổi nói chuyện có phần kết quả, nên nhân lúc Long Vân chưa có quyết định gì đã nói thêm:

- Long tiên sinh, ngài biết bỉ nhân là người mai danh ẩn tích, không màng chính sự. Hôm nay, có điều gì đáng nói, không đáng nói đều đã nói hết với ngài. Một vài ngày tới, mong ngài suy nghĩ thấu đáo. Nếu ngài nhất trí với những kiến giải đó, bỉ nhân tình nguyện móc nối với Trùng Khánh. Về phần bỉ nhân ngài đã rõ cả. Còn như đối với trung ương, với Tưởng ủy viên trưởng, bỉ nhân tin rằng mình có thể làm rõ mọi chuyện. Còn như ý kiến của bỉ nhân bị phủ nhận, cũng mong ngài nhắn tin cho biết. Trong vòng một, hai hôm bỉ nhân xin rời khỏi Côn Minh.

Sáng hôm sau, Long Vân cho xe đón Lưu Kiện Quần dùng cơm sáng. Rồi Long Vân lấy ra một phong thư gửi Tưởng Giới Thạch, trao cho họ Lưu nhờ chuyển giùm và bằng một giọng hết sức thân thiện, ông nói:

- Ta hoàn toàn nghe theo ý ông. Vì đất nước, vì ta, xin đi Trùng Khánh cho một chuyến. Ta và ông là bè bạn. Hãy đừng giữ ý. Từ nay ta có gì không phải, ông cứ nói thẳng ra!

Đoạn đối thoại trên lấy từ "Truyện ký văn học" xuất bản ở Đài Loan và trong bài "Tôi và Long Vân" của Lưu Kiện Quần. Lưu Kiện Quần khéo léo vào chuyện từ chỗ bái phục họ Uông, nên ngay từ đầu đã lôi cuốn được sự chú ý của Long Vân. Kế đó, Lưu Kiện Quần biết đồng tình với hoàn cảnh của Long Vân, cùng một lập trường mà suy tính, làm cho Long Vân có cảm giác gần gũi hơn, trên cơ sở đó mới đưa ra những kiến giải của mình. Đó là lối biện thuyết có tình có lý "thấm đượm lòng người", làm cho người khác phải tâm phục, khẩu phục.

Cũng cần phải nói thêm, trong giới sử học còn nhiều băn khoăn, có nhiều cách nói về quan hệ giữa Long Vân và Uông Tinh Vệ, nhưng cũng cần phải thấy rõ, chưa bao giờ Long Vân công khai tỏ sự hưởng ứng với cuộc "hòa bình vận động" của Uông Tinh Vệ. Trước sau, Long Vân vẫn là người đứng trong trận tuyến kháng Nhật, kiên trì kháng chiến cho đến thắng lợi.

Vì người và việc khác nhau, phương thức và biện pháp bất nhất, nên người hướng dẫn phải là người nêu được những vấn đề thật bức xúc, làm cho người việc có sự cộng hưởng, thu hút được đối phương, sau đó mới nhìn thẳng vào thực tế, để tuần tự hoặc gấp gáp, vòng vo hoặc trực tiếp nêu thẳng vấn đề trọng tâm ra. Người hướng dẫn phải là người đứng vào lập trường của đối phương, mổ xẻ vấn đề có tình có lý, nói rõ đường lợi hại, làm cho đối phương tự nhiên cũng có những suy nghĩ như mình mà phán quyết, phân biệt, thì mới đạt tới mục đích của việc hướng dẫn. Điều quan trọng là người hướng dẫn phải nắm chắc hoàn cảnh của đối phương, thấu hiểu tâm lý đối phương, tùy bệnh mà cắt thuốc thì mới có hiệu quả.

8. NGÔ TUẤN THĂNG LƯỠI ĐẦY MIỆNG CÙNG KHÉO BIẾT NÓI

Ngô Tuấn Thăng người Lịch Thành, Sơn Đông. Từ bé đã theo cha đi về Quan Đông, và lưu lại thôn Trịnh Gia, Liêu Ninh. Lớn lên, gia nhập đội ngũ thổ phỉ của Trương Tác Lâm. Lại theo họ Trương "cải tà quy chánh", từ "thổ phỉ" trở thành quân giới. Vì biết trung thành với chủ, nên Trương Tác Lâm quý mến, cất nhắc thành sư trưởng sư 29. Năm 1921, thăng nhiệm thành Đô đốc Hắc Long Giang, tỉnh trưởng, kiêm nhiệm luôn sư trưởng sư 29.

Qua cuộc chiến tranh đầu tiên giữa các phe phái vào năm 1922, Trực hệ Tào Côn, Ngô Bội Phu đánh bại Phụng hệ Trương Tác Lâm, khống chế chính phủ trung ương Bắc Kinh.

Nhằm đánh tan quân Trương Tác Lâm, khống chế phạm vi thế lực Phụng hệ, Tào Côn và Ngô Bội Phu dùng "kế li gián", ép đại Tổng thống đang bị khống chế, Từ Thế Xương hạ lệnh bổ nhiệm Ngô Tuấn Thăng làm Đốc quân Phụng Thiên.

Sau khi nhận được "giấy ủy nhiệm", Ngô Tuấn Thăng nhất mực từ chối và biểu thị: Nhờ có Trương đại soái nên mới có ngày hôm nay, họ Ngô không hề muốn phản lại Lão trưởng quan.

Kỳ thực, Trương Tác Lâm tuy bại, nhưng thực lực vẫn còn tương đối. Với lực lượng của Ngô Tuấn Thăng thì dù có muốn thay chân họ Trương ở Phụng Thiên cũng chẳng xong. Một kẻ giảo hoạt, ranh mãnh như Ngô Tuấn Thăng thừa biết điều đó, nên mới cố ý cự tuyệt đề nghị của Trực hệ.

Nhưng Trương Tác Lâm thì hết lòng ngờ vực.

Hôm thứ hai sau khi nhận được sắc phong của chính phủ Bắc Kinh, Ngô Tuấn Thăng vội vàng đến Sơn Hải Quan tấn kiến Trương Tác Lâm. Vừa nhìn thấy Ngô Tuấn Thăng, Trương Tác Lâm đã quay ngoắt lại đi vào phía trong.

Trước kia, mỗi lần gặp Ngô Tuấn Thăng, Trương Tác Lâm bao giờ cũng niềm nở, khoản đãi thuộc hạ cũ cực kỳ chu đáo. Còn lúc này thì khác hẳn, tỏ vẻ lãnh đạm vô cùng.

Ngô Tuấn Thăng ra bộ oan uổng, theo sát Trương Tác Lâm. Bấy giờ Trương Tác Lâm mới quay lại, nét mặt câng câng, lên giọng châm chọc:

- Tuấn Sinh à! Thế nào rồi? Sao lại đến vào lúc này? Người không nên xem thường mệnh lệnh nhà nước mới phải! Nhưng đã đến rồi thì cũng chẳng sao. Có điều, sau lúc giao tiếp rõ ràng, ngươi nên về Phụng Thiên nhận chức để nhân dân trong vùng được yên tâm. Ừ nhỉ... từ nay ta phải nghe lệnh nhà ngươi. Ngươi bảo ta ở đâu ta phải ở đấy!

Mấy câu nói của Trương Tác Lâm như cho Ngô Tuấn Thăng "nếm" đủ mùi vị. Ngô Tuấn Thăng phớt lờ mọi chuyện. Trước hết, đứng nghiêm theo kiểu nhà binh, chào Trương Tác Lâm, đúng phận cấp dưới đối với cấp trên, sau đó mới chậm rãi lên tiếng một thôi:

- Đại soái! Đệ chẳng muốn có cái gì gọi là giao tiếp cả. Ngô mỗ là người thế nào, huynh còn lạ gì!

Ừ hừ! Đệ có đến mấy trăm khoảnh đất cấy, mấy trăm mẫu đất hoang ở vùng Hắc Long Giang. Hàng ngàn căn phòng ở Liêu Nguyên, Cáp Nhĩ Tân, Thông Liêu và Thẩm Dương. Đệ có đủ để sống trọn đời! Còn tiền, tiền thì ở ngân hàng Nhật Bản, ngân hàng Triều Tiên. Trong Quan ngân hiệu miền đông Tam tỉnh, đệ còn tốn đến mấy nghìn vạn khoản. Mấy chục nhà máy nữa. Ừ hừ! Tài sản của đệ chẳng kém gì của huynh đâu!

- Ừ hừ! Còn về cái điều mà hiện nay chính phủ Bắc Kinh đang giở trò thì chắc huynh phải hiểu chứ! Chúng cũng giở cái trò này ra ở Quảng Đông. Hôm nay chúng trừ Lục Vinh Đình. Ngày mai diệt nốt Trần Bỉnh Chúc. Kết cục là đi đời ráo!

- Ừ hừ! Đại soái. Vai huynh rộng hơn vai đệ, mới gánh được nhiều thứ. Giao thiệp với người Tày, với đại biểu các tỉnh, văn quan võ tướng, đệ một ngày cũng không kham nổi. Xin chịu tất tần tật. Ừ hừ! Đệ mải lo thu xếp công việc gia đình nên bây giờ mới tới được. Huynh ở Đại Liên, đệ theo đến Đại Liên. Huynh đi Thẩm Dương, đệ theo tới đó. Huynh chỉ hướng đông thì Ngô Tuấn Thăng này tuyệt không sang bên tây.

Ngô Tuấn Thăng đầu lưỡi rất to. Khi nói chuyện, miệng đầy nước bọt và hay động tới chữ "ừ hừ". Mọi người gọi họ Ngô bằng biệt hiệu "Ngô lưỡi đầy miệng". Tuy là lưỡi đầy miệng, nhưng những lời họ Ngô nói ra làm cho Trương Tác Lâm hởi lòng, hởi dạ. Những nét u sầu trên khuôn mặt Trương Tác Lâm như biến sạch. Lâm cười thoải mái và nói:

- Thì ra người anh em Tuấn Thăng vẫn một lòng theo ta - ngừng một lát lại hỏi: - Thế những người khác sao không tới?

Ngô Tuấn Thăng vội vã đáp:

- Đại soái xuất quân bất lợi, đang bực, thì ai dám tới! Chỉ cần huynh lên tiếng là anh em đến ngay! Mọi người đang tay đao tay búa muốn được cùng nhau làm một chuyến nữa!

Trương Tác Lâm hết cả ngờ vực. Càng tin tưởng Ngô Tuấn Thăng hơn!

Trong chốn quan trường thường có những lúc cấp dưới làm nguy hại đến địa vị của cấp trên. Lúc đó, cấp trên thường tỏ ra phẫn nộ lạ thường. Cho rằng cấp dưới có ý làm hại mình để tiếm chức đoạt quyền! Nếu tình thế xảy ra như vậy, cấp dưới phải hết sức cẩn thận. Còn như xử lý không khéo, thì nhẹ ra cũng khuynh gia bại sản, mất quan; nặng thì nguy hiểm đến tính mạng.

Điểm mấu chốt của vấn đề là phải nắm chắc thời thế, được, mất đánh giá rõ ràng. Nếu thay được thì thay ngay. Nước thì chảy xuống chỗ trũng. Là người, thường muốn bước lên cao hơn. Trong chốn quan trường, chức vị càng cao, quyền thế càng lớn. Chẳng nhẽ cái đến tay lại chịu để mất hay sao? Bằng suy đi tính lại, thấy sức mình chưa địch nổi với cấp trên, thì tốt nhất là cuốn cờ im trống, tra kiếm vào bao rồi chủ động đến trước mặt cấp trên, dùng ba tấc lưỡi che giấu dã tâm, thề cùng tiến cùng thoái, cùng sống cùng chết một chỗ với thủ trưởng. Như vậy, mới hòng giữ được địa vị và càng được cấp trên tín nhiệm!

9. LƯ HÁN KHÉO LÉO ĐỂ ĐƯỢC "CÁ"

Năm 1945, khi Tưởng Giới Thạch làm cuộc chính biến lật đổ họ Long, Long Vân hối thúc người em kết nghĩa là Lư Hán, bấy giờ cầm quân chủ lực Vân Nam giải giáp giặc Nhật ở Việt Nam, nhanh chóng trở giáo quay về "cần vương". Mặc cho Long Vân khổ tâm chờ đợi ở Hoa Sơn Côn Minh, Lư Hán vẫn bặt vô âm tín. Buộc Long Vân phải rời khỏi Côn Minh trong cảnh bi thương và phẫn nộ.

Trước khi vào Việt Nam, Lư Hán từng được Long Vân dặn riêng rằng: "Nếu hậu phương có biến thì phải nhanh chóng quay về cứu viện." Vậy thì vì sao Lư Hán lại không quay về "cần vương"?

Đúng vào hôm nổ ra chính biến lật họ Long, ngày mùng 3 tháng 10, Lư Hán nhận được thư tự tay họ Tưởng viết cho, thư nói:

Vĩnh Hành (Lư Hán) ngô huynh huân giám:

Kháng chiến thắng lợi, đất nước cần thống nhất quân lệnh, chính lệnh. Nhằm tăng cường trung ương, củng cố địa phương, đặc cử Chí Chu huynh (Long Vân tự) là viện trưởng quân sự Tham nghị viện, để bảo toàn khi tiết cuối đời của Chí Chu huynh. Và ủy huynh là chủ tịch tỉnh Vân Nam, ủy Lý Tông Hoàng (người Hạc Khánh, Vân Nam) là trưởng ban dân chính. Trong lúc huynh chưa nhận nhiệm vụ thì Hoàng là quyền chủ tịch. Mong sớm thi hành để an lòng dân chúng. Sau khi giải giáp giặc Nhật ở Việt Nam, sẽ nói chuyện ở Trùng Khánh vậy. Trung Chính thư tay, ngày mùng 2 tháng 12

Mới hay rằng lãnh, Lư Hán liền bàn bạc ngay với trưởng ban quân pháp phương diện quân số 1 là Phạm Thừa Khu, trưởng ban nhân sự Chu Trọng Tường. Họ nghiên cứu từng câu từng chữ trong thư của họ Tưởng và thấy "có vấn đề". Phạm Thừa Khu phân tích thấy: Lư Hán vốn là Tư lệnh phương diện quân số 1, nhưng trong thư chỉ nói: "ủy huynh là chủ tịch tỉnh Vân Nam. "là" và "kiêm" về chữ đã khác nhau nhưng trong thực tế còn khác nhau một trời một vực. Không những ai cũng hiểu, Lư Hán phải giải ngũ, mất hết binh quyền.

Đây là mấu chốt của vấn đề, là nước cờ thâm độc nhất của Tưởng Giới Thạch. Hơn nữa thư cũng không nói rõ bao giờ sẽ đi nhận chức chủ tịch. Chỉ nói: "Sau khi giải giáp giặc Nhật ở Việt Nam, sẽ nói chuyện ở Trùng Khánh vậy!" Cuối cùng thì có chuyện gì ở Trùng Khánh đây? Tất cả đều mơ hồ. Xem ra, không những không cho nắm binh quyền, mà ngay đến chức quan văn ở tỉnh cũng không ổn!

Sự biến Côn Minh, nhanh chóng lan truyền đến đạo quân Vân Nam ở Việt Nam. Đa phần các tướng lĩnh phẫn nộ, đòi đem quân đánh về Vân Nam.

Nhưng đánh về thế nào được. Từ lâu, Tưởng Giới Thạch đã bố trí quân trung ương, với ưu thế tuyệt đối, suốt dọc biên giới Vân và Việt. Bên ngoài, Lư Hán tỏ ra trấn tĩnh. Nhưng thực chất đã nhiều lần tính kế cùng lũ thân tín cao cấp. Kết cục vẫn phải án binh bất động.

Cuối tháng, Tưởng Giới Thạch điện triệu Lư Hán đến Trùng Khánh tham gia hội nghị chỉnh quân phục viên. Lúc bấy giờ Lư Hán đã hiểu rõ toàn bộ sự việc vừa xẩy ra ở Côn Minh. Nên trước lúc lên đường lại cùng tham mưu trưởng phương diện quân Mã Anh và Phạm Thừa Khu bàn bạc đối sách. Phạm Thừa Khu cho rằng chuyến đi này có quan hệ tới tiền đồ từ nay của Lư Hán. Khu nói:

- Tưởng Giới Thạch tính tình đố kỵ, bài xích người khác cánh. Nhân đà thắng lợi, muốn đánh đổ các quần hùng. Cứ theo thư tay của ông ta thì không những binh quyền bị lột bỏ mà ngay cả chức chủ tịch cũng chỉ là hư danh. Lý Tông Hoàng tự ủy nhiệm Tuần Hổ là chánh văn phòng tỉnh, rêu rao trị Vân Nam theo ba nguyên tắc, lập cương lĩnh, chuyên quyền, độc đoán, nghiễm nhiên như một vị chủ tịch. Lý Tông Hoàng còn là bí thư ban chấp hành tỉnh đảng bộ. Đảng quyền nắm trong tay, không còn coi ai ra gì. Theo luật, chủ tịch tỉnh phải kiêm chức tư lệnh bảo an tỉnh, chỉ huy đoàn đội địa phương. Theo lệ, đồng thời với lệnh ủy nhiệm chức chủ tịch tỉnh phải có lệnh kiêm chức tư lệnh bảo an tỉnh. Nhưng lần này, ngay đến những luật lệ tối thiểu đó cũng không có. Hiện nay ở Vân Nam lại mới thiết lập bộ tổng tư lệnh quân cảnh vệ tỉnh, đứng đầu là Quan Lân Trưng. Trước đây ở Tân Cương có thành lập bộ tổng tư lệnh quân cảnh vệ, sau khi Thịnh Thế Tài về Trùng Khánh nhận chức bộ trưởng bộ Nông, Lâm. Các tỉnh thành khác trong cả nước không đâu làm như vậy. Đủ thấy, chẳng khác gì Tân Cương, họ canh chừng Vân Nam khá là nghiêm ngặt! Chủ tịch tỉnh lúc này không những quân quyền bị mất, mà ngay cả chút quyền về an ninh địa phương cũng đã rơi vào tay người khác. Một vị chủ tịch trơ trụi không quyền, không thế! Tình thế đã vậy, ứng phó không khéo hậu quả khôn lường. Cổ nhân dạy rằng muốn giữ được thân phải nắm phần chắc, bỏ cái viển vông, lấy điều thất bại làm răn! Lòng dạ họ Tưởng đã như vậy, chỉ bằng khi đến Trùng Khánh ta cứ xin từ chức, dò xem thái độ của họ ra sao? Nếu họ đồng ý, ta từ luôn, giữ được cái tiếng thanh cao! Ngược lại, lúc họ kiên quyết không chuẩn y, ta mới bàn xem nên làm thế nào. Sẽ có thượng, trung và hạ sách.

(1) Thượng sách, Tưởng cho xóa bỏ bộ tổng tư lệnh quân Vân Nam. Cho thành lập bộ tư lệnh bảo an, do chủ tịch kiêm chức tư lệnh, chỉ huy quân vũ trang trong tỉnh, bảo đảm an ninh chính trị.

(2) Trung sách, Tưởng vẫn để chức tổng tư lệnh quân cảnh vệ tỉnh, nhưng cho thành lập bộ tư lệnh bảo an do chủ tịch kiêm chức tư lệnh, thống soái đoàn đội địa phương.

(3) Hạ sách, Tưởng không bỏ bộ tư lệnh quân cảnh vệ, cũng không cho thành lập bộ tư lệnh bảo an quân Vân Nam. Chủ tịch chỉ là một chức vụ trơ trụi không binh, không tốt.

- Nếu Tưởng Giới Thạch cho làm thượng sách, thì việc nên làm ngay. Nếu chỉ cho trung sách, thì công việc cứ từ từ. Còn như hạ sách thì kiên quyết không làm, kẻo mang vạ sau này!

Lư Hán, tâm tình hết sức nặng nề, suy đi tính lại suốt đêm, những kiến nghị của Phạm Thừa Khu. Mọi việc thấy cũng hay nên quyết định dùng thử.

Vừa đến Trùng Khánh, Lư Hán gặp mặt Tưởng Giới Thạch. Sau mấy câu hàn huyên, Lư Hán nêu ý muốn xin từ chức, và gửi Tưởng Giới Thạch lá đơn, được Phạm Thừa Khu chuẩn bị từ trước. Đơn từ chức ghi rõ:

Sau khi kháng chiến thắng lợi, xây dựng đất nước là cần thiết, nghỉ việc võ, sửa việc văn. Hán đã nửa đời trên lưng ngựa, bệnh tật cũng nhiều, không còn phù hợp với cuộc sống trong quân ngũ nữa! Khi cuộc kháng chiến còn cn, đất nước phải được bảo vệ, là một quân nhân, từng ra sức chiến đấu không dám từ nan. Nay kháng chiến đã thắng lợi, cần phải phục viên, chỉnh quân, chính là lúc xingiải giáp về quê. Công việc tiếp nhận quân Nhật đầu hàng ở Việt Nam đã đến đoạn chót, quân đội trực thuộc được điều về dần (bấy giờ quân đoàn 62 do phương diện quân số 1 chỉ huy được điều ra Đài Loan để tiếp nhận. Quân đoàn 52 sẽ được điều lên bắc, hai quân 60, 93 đang nằm trong kế hoạch điều động), chỉ cần lưu lại quân đoàn 53 để kết thúc mọi việc. Bản chức cũng không phải trở lại Việt Nam nữa. Là một quân nhân, không màng chính trị. Bản chức không thích hợp với công việc hành chính ở Vân Nam, chỉ mong sao đơn này được chấp nhận. Bản chức vô cùng cảm kích chờ lệnh...

Tưởng Giới Thạch những định buộc Long Vân rời khỏi Côn Minh xong sẽ giải quyết triệt để những vấn đề ở Vân Nam, trung ương phải khống chế được Vân Nam. Trưởng ban dân chính Lý Tông Hoàng tạm thay chức chủ tịch của Lư Hán, và một khi thời cơ chín muồi để Lý Tông Hoàng "chính thức" làm luôn. Nào ngờ, vừa "thay" chức chủ tịch được ít lâu, Lý Tông Hoàng đã làm nhiều điều càn rỡ, khiến các phe phái ở Côn Minh hết sức phản đối. "Đuổi cổ Lý Tông Hoàng ra khỏi Vân Nam" là tiếng hô đả đảo của các thế lực ở Vân Nam. Tình hình Vân Nam có phần lộn xộn, cần có người đứng ra thu xếp, vỗ về. Trước tình thế đó, Tưởng Giới Thạch hiểu rất rõ, ngoài Long Vân ra, thì Lư Hán là người duy nhất giúp ổn định được tình hình. Vì thế, phải thay đổi chút ít, để Lư Hán về lại Vân Nam. Chẳng dè, Lư Hán lại xin "từ chức". Gặp điều bất ngờ, Tưởng Giới Thạch vội vã nói với Lư Hán:

- Ta mời huynh đến đây không phải để nghe huynh từ chức! Lúc này chưa phải là lúc nghỉ ngơi. Lý Tông Hoàng làm nhiều điều thất đức ở Vân Nam, chính huynh phải quay về giữ chức chủ tịch để yên lòng dân chúng. Phương diện quân là cơ cấu tác chiến chống Nhật. Nhân sự đầu hàng xong, cũng là lúc nó phải kết thúc. Hai quân 60, 93 (quân Vân Nam) sẽ điều đi trấn giữ tuyến đường sắt Giao Tế, Sơn Đông, vẫn thuộc quyền chỉ huy của huynh.

Tưởng Giới Thạch càng tiến, Lư Hán càng thoái. Lần nữa, Lư Hán càng khẩn thiết xin được từ chức. Tưởng Giới Thạch vẫn kiên quyết không cho. Cuối buổi trò chuyện, Tưởng Giới Thạch đem trả lại tờ đơn. Lư Hán vẫn cố ý kiên trì xin nghỉ. Tưởng Giới Thạch tỏ ra chân thành hơn, muốn Lư Hán vứt bỏ mọi nỗi băn khoăn, đừng nghĩ tới chuyện từ chức, để mấy hôm sau lại cùng nhau bàn chuyện quân, chính. Lư Hán đành phải nói lời tạm biệt rồi xin cáo lui.

Về đến nơi ở, Lư Hán vội vã cùng các mưu sĩ nghiên cứu nội dung buổi nói chuyện với họ Tưởng. Tưởng Giới Thạch đã không cho từ chức thì nên kiêm luôn cả hai chức quân và chính? Hay là bỏ quân theo chính? Căn cứ vào nội dung câu chuyện, mọi người cho rằng: kiêm luôn cả hai chức là không được. Và tình thế cũng không cho phép nắm trọn được quân Vân Nam. Hai quân 60 và 93 không còn khả năng quay lại Vân Nam, không theo sự điều động thì hậu quả khôn lường. Sau khi nhận chức chủ tịch lại rời Vân Nam theo lên Sơn Đông, chỉ huy quân tác chiến lại quân Cộng thì hại nhiều hơn là lợi. Nếu có sa sẩy thì quân quyền cũng mất, chủ tịch cũng mất, mất cả chì lẫn chài.

Lúc này, Lý Tông Hoàng đang làm mưa làm gió ở Vân Nam (lời bình của dân về Lý lúc đó), Tưởng chưa định đưa Lý lên ngôi chủ tịch, chi bằng ta bỏ quân theo chính, dù chẳng được tay gấu cũng còn được cá. Hai sư 60, 93 tuy không ở gần, quân chính thiếu đường hỗ trợ, nhưng lại có lợi cho cả hai.

Qua phân tích như vậy, Lư Hán đã có chủ định. Khi gặp Tưởng Giới Thạch lần hai, Lư Hán quyết bỏ quân theo chính, từ chối thẳng thừng việc chỉ huy quân lính ở miền Bắc. Tưởng Giới Thạch đưa ra phương án: sẽ điều một trong hai quân 60, 93 lên miền bắc. Lư Hán nói:

- Quân lính là của nhà nước. Cần điều đi bao nhiêu cũng được.

Tưởng Giới Thạch hết sức vui mừng, vỗ liền mấy cái vào vai Lư Hán rồi nói:

- Tốt lắm! Tốt lắm! Huynh thực là một quân nhân mẫu mực!

Đồng thời, Tưởng Giới Thạch cũng có phần nhượng bộ: cho phép thành lập bộ tư lệnh quân bảo an Vân Nam, Lư Hán kiêm chức tư lệnh. Nhưng vẫn giữ nguyên bộ tư lệnh quân cảnh vệ. Sau khi tiếp nhận đầu hàng, Lư Hán được điều chỉnh nhân sự trong hai sư 60 và 93. Việc bổ nhiệm nhân sự các phòng ban trong tỉnh, Lư Hán trực tiếp bàn bạc với Hành chính viện trưởng Tống Tử Văn mà quyết định.

Như vậy, cả hai bên đều có sự nhượng nhịn, cùng giành được thắng lợi. Lư Hán đồng ý quay về Vân Nam nhận chức.

Ngày nhận chức, Lư Hán đã trịnh trọng tuyên bố trong lời tuyên ngôn:

Vân Nam từ cách mạng Tân Hợi đến nay đã hơn ba mươi năm, trong nước thì loạn lạc, bên ngoài thì giặc giã. Đất đai biên cương, quan viên hành chính ít có biến động. Lần này trung ương điều chỉnh nhân sự trong tỉnh, người người chưa quen, cho là việc khác thường. Thực ra, trung ương cải tổ chính quyền các tỉnh là việc làm bình thường của nhà nước. Việc điều chỉnh nhân sự cũng là việc bình thường.

Bản quan vốn đang tiếp nhận quân Nhật đầu hàng ở Việt Nam thì nhận được lệnh của Uỷ tọa (chỉ Tưởng Giới Thạch) về làm chủ tịch tỉnh nhà. Sau khi nhận lệnh không khỏi bàng hoàng vì trách nhiệm quá ư nặng nề! Bản quan suốt đời trong quân ngũ, thật không am tường chính trị! Tháng trước, nhận lệnh tham dự hội nghị phục viên, chỉnh quân, bản quan từng xin Uỷ tọa được rời bỏ mọi chức vụ, lui về nghỉ ngơi, nhân lúc có hội nghị phục viên, chỉnh quân sau lúc đất nước vừa giành được thắng lợi. Nhưng Uỷ tọa không cho phép. Vì thế, hội nghị xong, theo lệnh phải về ngay Vân Nam tiến hành cải tổ, ổn định lòng dân. Nguyên thủ quốc gia có lệnh, tất phải phục tùng, trở lại Vân Nam nhận chức.

……….

Bề ngoài thì Lư Hán đã giải thích cho cuộc binh biến lật đổ Long Vân của họ Tưởng và nói lên điều bất đắc dĩ của mình là phải rời bỏ quân ngũ, chấp chính ở Vận Nam.

Sau khi Lư Hán về lại Vân Nam, tình thế dần dần được ổn định.

Cuộc đấu tranh trong chốn quan trường có khác gì việc ươm cây và thả cá. Những người có liên quan phải xử lý như thế nào đây? Thật là vô bổ nếu chỉ biết kêu ca và oán thán! Đứng trước một thực tế vô tình, đầu óc phải tỉnh táo để xem xét. Đáng cong thì phải cong, đáng thẳng mới được thẳng. Nếu đối thủ còn chưa dồn mình vào chỗ chết, thì quyền hành lợi lộc cái gì đáng bỏ phải bỏ, đừng tiếc nuối. Cái gì có thể giữ được thì gắng mà giữ. Như người xưa từng nói: Tuy không được cái tay gấu, nhưng cũng còn được con cá.

Người dịch: Ông Văn Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.