1. "MỘT MÌNH CỐI KIA CÓ TÀI NĂNG GÌ"

Mưu Trí Chốn Quan Trường

Lượt đọc: 107 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương II CÁI “GIAN” CỦA NGƯỜI LÀM QUAN

❊ ❊ ❊

"Quan trường như hí trường", tức là mọi quá trình ở chốn quan trường đều là giả, giống như một vở diễn trước công chúng vậy! Một vị thủ tưởng nổi tiếng ở nước Anh đã nói:

- Khi làm thủ tướng tôi không còn là tôi. Sau khi về nhà tôi mới thật là tôi.

Nếu không phải là người thấu hiểu sâu sắc thì không thể nói được như vậy.

Kì thực quan trường chưa hẳn là hí trường. Bởi vì những thứ nơi hí trường đều là những thứ giả, còn nơi quan trường thì thực hơn. Một "vai diễn" ở hí trường mãi mãi vẫn là một vai diễn, còn "vai diễn" nơi quan trường nếu diễn không khéo thì lập tức bị hạ ngục, thậm chí hôm nay là "vai diễn" có giá nơi quan trường, nhưng hôm sau đã thành tên "tử đồ" treo cổ bên chiếc cột nhục nhã của lịch sử. Nếu không thế thì đã chẳng có câu nói: "Quan trường là nơi ác hiểm ?".

Quan trường không hoàn toàn giống như hí trường.

Chỉ cần tên gian thần trong vở diễn bước ra sân khấu một lát, thì đến đứa trẻ lên ba cũng có thể nhận ngay ra hắn. Nhưng nơi quan trường thì khác, không bao giờ tên quan gian chịu lộ mặt ngay. Thật trái ngược nhau: những kẻ đại gian đại ác ở chốn quan trường thì bề ngoài đều giống những người trung tín hiếu nghĩa. "Đại gian như trung" là muốn ám chỉ lũ gian thần còn ẩn mình thật kín. Đem chuyện cổ chốn quan trường Trung Quốc mà xem mới thấy: phàm là gian thần đều muốn làm thánh đồ, miệng luôn nối: "tử viết thi vân", "tề gia trị quốc bình thiên hạ". Người đời nhầm tưởng họ là hóa thân của trung hiếu, những nhà Nho học mẫu mực. Tần Cối là kẻ đại gian đại ác của triều Tống, thế mà được tiếng không những là "tân khoa trạng nguyên" mà còn là "sứ giả của hòa bình", là vị thần hộ vệ cho triều đình Nam Tống bé nhỏ. Còn những kẻ khác như Vương Thế Sung, Sái Kinh, Chu Bang Ngạn, Lý Lâm Phủ đều được nhầm tưởng là những tài tử văn nhân.

Rất khó phân biệt được gian thần, vì từ xưa tới nay gian thần rất khéo ngụy trang. Họ đều là những kẻ treo đầu dê bán thịt chó. Đằng sau chúng thường là những hoàng đế hoặc tàn bạo, hoặc hồ đồ hết chỗ nói. Không có Đường Huyền Tông hôn quân vô đạo thì Lý Lâm Phủ, Dương Quốc Trung sao có được quyền nghiêng triều dã? Sái Kinh, Cao Cầu làm nhiều điều ngang ngược vì có Tống Huy Tông ăn chơi vô độ. Nếu không phải vì Triệu Cấu lo ngại hai vua Huy, Khâm giành lấy giang sơn, trở lại miền Nam, cướp mất ngôi vị hoàng đế của mình thì dễ gì Tần Cối đã thành công trong "nghị hoà". Người xưa nói "một mình Cối kia có tài năng gì" là có lý lắm! Càn Long tự cho mình là "đế vương hoàn hảo", nhưng thực ra dưới trướng ông ta vẫn có một Hòa Thân gian trá, ngày một "đâm chồi nẩy lộc" đây thôi!.

Gian thần khó phân biệt! Bọn chúng đều là những kẻ "đại gian như trung", "ác độc như hiếu đễ". Gian thần chưa đổ vì sau lưng chúng còn có cây đại thụ mục ruỗng, Nhưng lịch sử là một chiếc gương công bằng, dù cho gian thần có "gian" đến mấy thì cuối cùng cũng phải lộ nguyên hình. Tần Cối bao giờ cũng gặp may, nhưng sau khi chết đi thì đời đời vẫn nguyền rủa, chẳng thế lực nào ngăn cấm được lòng dân. Câu chuyện cứ thế được lưu truyền mãi mãi, người ta còn ngâm vịnh: "Rừng xanh có phước chôn người trung, gang sắt vô tình tạo kẻ nịnh!".

Gian thần "gian trá" đã thành công như thế nào đây ?

Đằng sau mỗi gian thần thường có một vị hôn quân lơ là triều chính. Có ô dù che chở như vậy bọn gian thần mới thành công được. Lỗ Tấn nói:

- Hoàng đế Khang Hi không thích có gian thần, cũng không thích có trung thần. Ông thích trong triều có năng thần.

Vì sao vậy ? Nếu trong triều có gian thần như Tần Cối thì chẳng hóa ra ông là hôn quân ? Có trung thần như Bỉ Cán tất ông sẽ là bạo chúa! Khang Hi là hoàng đế tinh anh. Liệu trong lịch sử quan trường hàng hơn ngàn năm nay ở Trung Quốc có được mấy vị hoàng đế kiệt xuất như. Khang Hi? Ngược lại, hôn quân, bạo chúa thì rất nhiều. Xét về một ý nghĩa nào đó, bạo chúa và hôn quân ví như chiếc nôi ấm ốp che chở những gian thần của Trung Quốc. Như Tần Cối, nếu không có Triệu Cấu chống đỡ ở phía sau, làm lá chắn cho thì liệu hắn có dám giết Nhạc Phi không?

Ai mới là hung thủ giết Nhạc Phi ? Đao phủ đầu tiên phải kể đến hoàng đế Nam Tống là Triệu Cấu, thứ mới đến Tần Cối.

Khoảng giữa triều Minh, Văn Chinh Minh, một văn sĩ của Tô Châu, có đề mấy câu ở miếu Nhạc Vương, Hàng Châu. Chưa bàn đến chuyện văn chương hay, dở, chỉ biết ở mức độ nào đó, bài văn muốn thanh minh cho Tần Cối, khẳng định hung thủ sát hại Nhạc Phi là hoàng đế Triệu Cấu. Tần Cối chỉ là trợ thủ mà thôi! Lời văn như sau;

Xem tấm bia kia, chữ mấy hàng,

Bùi ngùi nhớ lại, cảnh tang thương,

Công thành thân liệt, lời khôn chuộc,

Tiếc thương chuyện cũ, những đoạn trường!

Tiếc thay Trung Nguyên mất!

Nh thay Huy, Khâm nhục;

Trung Nguyên đòi lại, thân này làm sao ?

Sai lầm việc cũ bến Nam,

Đâu riêng một Cối làm nên chuyện này!

Về mặt nghệ thuật, câu chữ của Văn Chinh Minh chưa phải đã cao minh lắm, giá trị thẩm mỹ cũng bình thường, nhưng dụng ý thì quá rõ ràng, ông ta biện hộ cho Tần Cối, cho rằng hung thủ và kẻ chủ mưu giết chết Nhạc Phi chính là Triệu Cấu, "Trung Nguyên đòi lại, thân này làm sao? Sai lầm. Việc cũ bến Nam tức là muốn nói: nếu Nhạc Phi thắng lợi trong cuộc chống lại quân Kim, nghênh đón hai vị hoàng đế Huy, Khâm trở về thì liệu chiếc ghế chạm rồng của hoàng đế Triệu Cấu sẽ ra sao? Vì sao Văn Chinh Minh biện hộ cho Tần Cối? Và đã đủ sức thuyết phục chưa?

Văn Chinh Minh cho rằng: Triệu Cấu hiểu rất rõ, nếu Nhạc Phi đánh bại người Kim, thu hồi giang sơn, hai vị hoàng đế Huy, Khâm trở về miền Nam, thì chiếc ngai vàng của hoàng đế Triệu Cấu sẽ không còn nữa! Triệu Cấu không bao giờ muốn như vậy. Vì thế, Triệu Cấu mới đồng ý cho giết vị tướng cầm quân chủ lực chống lại người Kim là Nhạc Phi, đồng ý giảng hòa với triều Kim, ngăn cản không để các hoàng đế Huy, Khâm trở về. Vậy thì trong án oan của Nhạc Phi, Tần Cối có vai trò gì? Văn Chinh Minh cho rằng:" Đâu riêng một Cối làm nên chuyện này!". Tức là: Tần Cối một mình không thể giết chết Nhạc Phi. Chính Triệu Cấu đã xuống chỉ cho Tần Cối làm việc đó.

Lời biện hộ tạm coi là được. Tần Cối tuy là quyền nghiêng triều dã, nhưng hắn muốn làm điều gì mà không được Triệu Cấu gật đầu thì sao có thể hoàn thành được. Trong chốn quan trường không phải lúc nào Tần Cối cũng thuận buồm xuôi gió. Đã hai lần Triệu Cấu bãi miễn chức của ông ta. Lần bãi miễn thứ hai, Tống Cao Tông (Triệu Cấu) cho dán chiếu lệnh bãi miễn Tần Cối ngay nơi triều đường, tỏ ý không dùng lại nữa! Chuyện đó xảy ra vào năm Thiệu Hưng thứ 2 (năm 1131). Cho mãi tới tháng 2 năm Thiệu Hưng thứ 5 (năm 1134), vì Kim chủ qua đời, Tần Cối chủ trương giảng hòa, mới được phục chức. Rõ ràng sinh mạng chính trị của Tần Cối hoàn toàn nằm trong tay. Triệu Cấu. Vậy Tần Cối không bao giờ dám giết các trung thần trong triều từng được nhân dân ủng hộ, nếu không có sự đồng ý của Triệu Cấu.

Câu nói "một mình Cối kia có tài năng gì" của Văn Chinh Minh được nhiều người tán thưởng, vì sao vậy? Chỉ cần có chút ít tri thức thì cũng hiểu rằng quan hệ trong chốn quan trường phong kiến Trung Quốc là quan hệ "quân quân thần thần, phụ phụ tử tử", tức là "vua muốn quan chết thì quan không thể không chết". Từ góc độ đại nghĩa quân thần mà xét, Nam Tống vốn là thời kỳ phong kiến chuyên chế, hoàng đế Triệu Cấu không phải là kẻ hồ đồ, ngu xuẩn mà là hoàng đế biết hưởng lạc và thông minh hơn người. Có cuốn sử nói, Triệu Cấu như con rối trong bàn tay Tần Cối1 là điều không phù hợp với thực tế lịch sử. Tất nhiên, sau hai lần bãi miễn, Tần Cối đã rút ra được những bài học, có thêm kinh nghiệm. Sau lần phục chức thứ ba, ông ta hòa hợp rất nhanh với Triệu Cấu, Triệu Cấu chỉ hơi ra hiệu là Tần Cối đã thi hành ngay! Nhạc Phi là vị thống soái quân sự lỗi lạc hiếm hoi trong lịch sử Trung Quốc. Trong cuộc đấu tranh chống lại người Kim, ông được nhân dân hết lòng ủng hộ, quan chức lên tới phó sứ Khu mật viện. Cho dù Tần Cối có bịa ra "tội danh gì đi nữa", thì cũng chẳng có cách để sát hại Nhạc Phi.

Năm Thiệu Hưng thứ 10 (năm 1149), Tần Cối mượn thế người Kim hòng đề cao mình, liền bị Khu mật viện biên tu Hồ Toàn, hàm bát phẩm, dâng sớ lên Tống Cao Tông yêu cầu hoàng đế cho chém đầu Tần Cối, Vương Luân để tế trời đất. Khi đó, khắp triều đình bàn tán sôi nổi, Tần Cối căm giận vô cùng, liền cho bắt Hồ Toàn, dù chưa đủ tội danh, áp giải ra Chiêu Châu. Ngoài ra còn bắt thêm và xử tử hình một em bé mười bốn tuổi dám viết câu: " Nên chém Tần Cối để tế trời", về sau dư luân phản đối mạnh quá, chúng đành đầy em bé ra một nơi hoang vắng. Tần Cối rất căm ghét Hồ Toàn và Vương Nghị, nhưng không giết được họ. Còn Nhạc Phi là một tướng lĩnh cao cấp, ảnh hưởng sâu rộng mấy ai sánh kịp. Bởi vậy, nếu không có lệnh của Triệu Cấu, Tần Cối đâu có dám tự ý giết hại Nhạc Phi.

Mâu thuẫn của Nhạc Phi và Tần Cối là mâu thuẫn trong vấn đề "nghị hoà" hay "đánh Kim". Mà Nhạc Phi không phải là người duy nhất chủ trương đánh Kim. Vậy thì tại sao những người kia không hề bị xử lý? Lời biện hộ "một mình Cối kia có tài năng gì" của Văn Chinh Minh kể cũng có lý. Chỉ có thể giải thích Triệu Cấu rất mâu thuẫn với Nhạc Phi. Một là Triệu Cấu sợ Nhạc Phi thắng quân Kim thì Huy, Khâm sẽ trở về và ngôi vị hoàng đế của ông ta sẽ mất; hai là danh vọng của Nhạc Phi đã vang dội núi sông, người đương thời đều hâm mộ Nhạc nguyên soái. Tống Cao Tông cho rằng đã đến lúc thế lực quân sự của Nhạc Phi trở thành mối uy hiếp vương triều Nam Tống; ba là ý kiến hai người bất đồng trong việc lập thái tử.

Triệu Cấu chỉ sinh được một người con, từng được lập làm tiểu hoàng đế, nhưng chẳng bao lâu đã chết yểu. Lúc còn ở Dương Châu, Triệu Cấu từng bị quân Kim đánh úp đột ngột, vì kinh hãi quá nên sinh lý thay đổi, từ đó hết khả năng có con. Các quan khuyên nhủ mãi Triệu Cấu mới chọn một đứa trẻ trong tông tộc họ Triệu lên sáu tuổi, là "Bá Tông", làm thái tử. Về sau, Triệu Cấu lại nghe lời một phi khác chọn một đứa trẻ nữa của họ Triệu đưa vào cung, gọi là "Bá Cửu". Vì vậy, đã nổ ra một cuộc đấu tranh giành giật đế vị ngay nơi hoàng cung. Lúc đầu Nhạc Phi tán thành lập "Bá Tông" làm hoàng, thái tử, nhưng sau nước Kim muốn Triệu Cấu nhanh chóng hàng phục, đã cho đưa người con của Tống Khâm Tông là Triệu Thậm về Khai Phong, lập làm hoàng đế triều Tống. Bấy giờ, Nhạc Phi mới có suy nghĩ khác, ông cho rằng nên lập Triệu Thậm làm hoàng thái tử. Vì thế, mới có sớ dâng lên Tống Cao Tông. Việc này được ghi lại như sau:

Nhạc Phi tấu:" Rợ Lỗ muốn lập con Khâm Tông đã đến Nam Kinh, muốn thay đổi tai mắt người miền Nam. Xin cho hoàng tử ra ngoài để ổn định lòng dân"

Khi đó Hiếu Tông mới hơn mười tuổi.

Cao Tông nói:" Khanh cm quân ngoài, chuyện đó khanh không phải lo"

Ngoài ra, giám quan lúc đó là Trương Giới cũng ghi:

"Bàng Cử (Nhạc Phi tự là Bàng Cử) quân báo cho hay Tù trưởng Lỗ đã đưa Bính ngọ nguyên tử về kinh. Triềuđình nên lập dòng chính làm vua, nếu không sợ L sẽ can thiệp!"

Lại "trước đây" Phi (chỉ Nhạc Phi)xin lập dòng chính. Chỉ dụ "Khanh trung thành, cầm quân bên ngoài, chuyện đó khanh không phải lo".

Trương Giới bình luận rằng: "Tiếc thay! Bàng là đại tướng mà vượt chức, dám nói vậy là tự chuốc lấy cái chết!

"Bính ngọ nguyên tử" nói ở đây là thái tử Triệu Thậm, Triệu Thậm được lập làm thái tử vào năm Bính ngọ, năm Thanh Khang đầu tiên.

Từ những tư liệu đó ta thấy Nhạc Phi muốn lập Triệu Thậm làm hoàng đế. Nhạc Phi trung thành hết mực với Khâm Tông, nên xung đột gay gắt với lợi ích của Triệu Cấu. Vì vậy việc Nhạc Phi đề nghị Triệu Cấu chuyển ngôi vua sang cho con của Khâm Tông là có cơ sở. Nhạc Phi đã tâu những điều như vậy, lại là người cầm quân ở bên ngoài, nên Triệu Cấu mới quyết định sát hại.

"Một mình Cối kia có tài năng gì", Văn Chinh Minh nói vậy muốn chỉ thẳng ra Triệu Cấu mới là hung thủ chính sát hại người anh hùng dân tộc Nhạc Phi. Còn Tần Cối chỉ là trợ thủ làm theo ý chỉ của bề trên.

Sau khi Nhạc Phi nhận lệnh bài thứ mười ba của Triệu Cấu trở về Hàng Châu liền bị dẫn giải đến Đại Lý Tự để thẩm tra. Ngự sử trung thừa Hà Trù và Vạn Sĩ Mạo là hai vị quan chuyên xem xét tội trạng các quan lại, nên Tần Cối để Trù thẩm vấn Nhạc Phi.

Hà Trù nhìn thấy bốn chữ thích trên lưng Nhạc Phi "tinh trung báo quốc", lại đọc những "cáo trạng" của bọn Vương Tuấn và toàn bộ những tài liệu có liên quan đến vụ án đều cảm thấy những tài liệu đó là giả, chưa thể ghép vào tội "làm phản". Trù nói lại với Tần Cối, Cối buồn bã nói:

- Ý hoàng thượng lại cứ muốn như thế!

Hà Trù không thuộc phe đảng của Tần Cối, nhưng có lúc cũng nghe theo Tần Cối. Lúc này, muốn ông ta thẩm vấn vụ án "làm phản" của Nhạc Phi, mà tài liệu là vu khống, nên ông ta cũng chẳng muốn giậu đổ bìm leo mà làm gì! Nên Hà Trù nói với Tần Cối thế này:

- Đệ thực lòng cũng chẳng muốn ủng hộ Nhạc Phi. Nhưng cứ nghĩ đang lúc kẻ thù ở trước mặt, vô duyên vô cớ đem giết đại tướng đi, e tổn thương đến ba quân tướng sĩ! Nghĩ về lợi ích an ninh lâu dài của đất nước thì không nên làm như vậy!

Tần Cối phải chịu những lời nói của Hà Trù, nhưng Cối và hoàng thượng đều muốn giết Nhạc Phi. Bởi vậy, Tần Cối liền cử Hà Trù đi sứ sang nước Kim, sai tay chân là Vạn Sĩ Mạo, tìm hình bắt bóng, ngụy tạo nên một số "tội trạng" để giết chết người anh hùng hào kiệt Nhạc Phi.

Nhạc Phi mất đi, tội ác tầy trời của Tần Cối chẳng thể đùn đẩy cho ai. Nhưng kẻ chủ mưu, tên hung thủ chính, lại là hoàng đế Cao Tông của Nam Tống là Triệu Cấu!

Người bạn đồng liêu của Nhạc Phi là Hàn Thế Trung hiểu rõ hơn ai hết về vụ án oan nghiệt này. Cùng là võ tưởng, nhìn cái chết oan uổng của Nhạc Phi, Hàn Thế Trung cảm thấy lạnh hết cả gáy. Sau khi Hàn Thế Trung bị bãi miễn chức quan Khu sát sứ, ông đã chất vấn Tần Cối, Vương Luân xem những tài liệu tố giác đó có bao nhiêu là thật. Tần Cối ấp úng trả lời:

- Những tội trạng đó đều "có thể là có" chứ!

Hàn Thế Trung không hài lòng một chút nào với Tần Cối. Ông giận dữ nói:

- Tướng công, ngài nói: "có thể là có" thì làm sao để thiên hạ tin tưởng đây?

Vì sao Tần Cối lại ấp úng như vậy? Vì ông ta thừa biết Nhạc Phi chết là oan uổng! Nhưng vì Triệu Cấu lại muốn vậy. Vả bản thân ông ta cũng muốn nghị hòa với quân Kim, mà Nhạc Phi là vật cản, vậy dù có tội hay không, Nhạc Phi vẫn phải chết.

Lời biện hộ "Một mình Cối kia có tài năng gì" là sự mổ xẻ rạch ròi trong giới quan trường thời trung cổ ở Trung Quốc.

2. "CÁI TÀI " CỦA QUAN GIAN

Bọn quan gian thường là có "tài". "Tài" của quan gian thể hiện ở năng lực làm việc, ở tính quyết đoán, giải quyết công việc nhanh gọn. Người không có năng lực làm việc là người không nắm được điểm chính, không biết sự việc phát triển theo hướng nào kẻ đó chỉ là loại hồ đồ và đã hồ đồ thì không thể hành động gian trá, giảo hoạt được!

Theo lịch sử, tên quan gian số một thời xưa chính là Lã Bất Vi tuy ông ta cũng chưa phải là kẻ quyết đoán, thông tuệ cho lắm!

Lúc trước, Lã Bất Vi chỉ là một thương nhân. Nguyên tắc kinh điển của thương nhân là gì? Là rẻ mua đắt bán. Lã Bất Vi đã giầu to nhờ theo nguyên tắc đó. Dù vậy, Lã Bất Vi vẫn không bao giờ thỏa mãn, mà luôn luôn tìm mưu tính kế để có quyền lực cao hơn, để giầu có hơn.

Lã Bất Vi là kẻ sáng suốt, biết đem nguyên tắc của nghề buôn áp dụng vào chốn quan trường.

Lã Bất Vi tìm được cơ hội để buôn quan bán tước!

Nắm 625 trước Công nguyên, Tần Chiêu vương lập người con thứ hai là An Quốc quân làm thái tử. Lúc bấy giờ, An Quốc quân lập nàng phi xinh đẹp, sủng ái nhất là Hoa Dương phu nhân làm chánh phu nhân. An Quốc quân có hơn hai mươi người con, Tử Sở là một. Mẹ của Tử Sở là Hạ Cơ. Vốn chẳng thích gì Hạ Cơ, nên An Quốc quần cho Tử Sở đến Hàm Đan làm con tin ở nước Triệu.

Tử Sở là con của một người thiếp thấp hèn lẽ mọn, lại là con tin ở nước Triệu, nên đời sống cực kỳ khó khăn, xe ngựa tiền tài thứ gì cũng thiếu, luôn luôn như người bất đắc chí. Nước Tần từng nhiều phen đánh phá, làm nhục nước Triệu, nên Triệu Hiếu Vương những định băm nát Tử Sở ra, nhưng được Bình Nguyên quân khuyên can nên Tử Sở mới còn sống. Song địa vị của Tử Sở thực là thảm hại. Vua Triệu coi Tử Sở chỉ là một con chó vô dụng; văn võ quan viên nước Triệu luôn luôn buông lời trách móc, bất kể lúc nào, một người dân thường cũng có thể mắng mỏ. Tử Sở tuy xuất thân từ nơi hiển quí, nhưng trong hoàn cảnh đó, đành phải im hơi lặng tiếng, chịu sự lăng nhục.

Ai ai cũng khinh miệt Tử Sở. Riêng cặp mắt tinh đời của Lã Bất Vi là nhận biết được giá trị của món hàng. Là một nhà buôn, Lã Bất Vi sớm nhận ra Tử Sở là một báu vật cực kỳ quý hiếm! Vi cho rằng đây là thời cơ ngàn năm có một, một cuộc kinh doanh lớn về chính trị, thực hiện phương châm "mua rẻ bán đắt". Từ lâu, Lã Bất Vi đã tốn công nhọc sức tìm kiếm cơ hội thực hiện mưu đồ chính trị, thì nay thời cơ đã tới. Sau khi nhìn thấy Tử Sở ở Hàm Đan, với con mắt khác thường, Lã Bất Vi đã nhìn thấy món hàng rẻ mà rất giá trị. Ông ta liền nghĩ ra một kế hoạch chính trị vĩ đại: bỏ ra một món tiền nhỏ mua gọn nước Tần hùng mạnh nhất.

Lã Bất Vi thôi nghề buôn bán, vội vã về nhà lấy tiền.

Sau khi biết chuyện, ông bố phản đối hết lời, Lã Bất Vi nói:

- Cầy ruộng cấy lúa, thả gà chăn lợn, một năm lợi nhuận là bao ?

Chẳng phải suy nghĩ gì lâu, ông bố trả lời luôn:

- Gấp đôi.

- Không làm ruộng nữa mà buôn bán châu báu ?

- Lãi gấp trăm lần.

Lã Bất Vi lại hỏi bố:

- Bỏ ra một ít vốn, dựng nên một vị quân chủ, bình định cả một đất nước thì lợi nhuận sẽ rạ sao đây ?

Ông bố trả lời luôn:

Lợi nhuận, là vô cùng tận.

Sau khi được bố đồng ý, Lã Bất Vi đem theo một số tiền lớn rồi quay lại Hàm Đan. Lã Bất Vi chi tiền lo lót để được gặp "món hàng quí" là Tử Sở. Lã Bất Vi nói với Tử Sở:

- Ta có thể làm cho hoàn cảnh của ngài, địa vị của ngài trở nên cao sang vượt chúng!

Tử Sở đang cơn khôn quẫn, được Lã Bất Vi tới thăm lấy làm cảm kích vô cùng. Nhưng lại nghĩ: "Chẳng qua Lã Bất Vi chỉ là một tên "gian thương" giảo hoạt mà thôi. Còn mình là con cháu hoàng gia mang dòng máu cao quí". Tử Sở xem thường Lã Bất Vi. Tuy nhiên về mặt xã giao, Tử Sở cũng lựa lời, từ chối khéo. Tử Sở nói:

- Ông cứ lo cho bên nhà trước đi đã, chờ khi xong xuôi đâu đấy ông hãy lo cho bên này.

Cách nói vui vui, không có ác ý đó, muốn nói: ông chỉ là một thương nhân bình thường, làm gì có đủ điều kiện mà nói như vây ?

Lã Bất Vi thừa biết ẩn ý đó, song lại giả bộ không hiểu, nên cười nói:

- Ngài chưa biết cái lắt léo, kỳ diệu ở bên trong, hoàn cảnh bên đệ phải dựa vào hoàn cảnh bên ngài được phát đạt mà bốc lên theo!

Cuối cùng thì Tử Sở cũng hiểu được ý tứ của Lã Bất Vi. Thế rồi hai người sát lại gần nhau để tâm sự.

Lã Bất Vi nói:

- Tần Chiêu Vương tuổi đã cao, thế nào An Quốc quân cũng kế thừa vương vị. An Quốc quân sủng ái Hoa Dương phu nhân. Bà là người giúp An Quốc quân lập hoàng thái tử đắc lực nhất, nhưng bà lại không, sinh con. Anh em của ngài có đến hơn vài chục, ngài ở vào khoảng giữa, lại lâu ngày làm con tin ở Triệu. An Quốc quân chẳng mặn mà gì với thân mẫu của ngài. Bởi vậy, mai đây giả dụ An Quốc quân làm đến Tần vương thì liệu ngài có được chọn làm thái tử không ?

Tử Sở nói:

- Đúng là đệ chẳng có hy vọng gì!

- Nhưng nếu ngài là con của Hoa Dương phu nhân thì chẳng phải chức thái tử nằm chắc trong tay ngài sao?

Tử Sở cảm thấy chán ngán vô cùng, nói:

- Đành là vậy. Nhưng đệ đâu có phải là con của Hoa Dương phu nhân!

Lã Bất Vi liền bàn mấy câu:

- Đệ tuy chẳng có gì nhưng cũng tình nguyện đem ngàn vàng đến nước Tần làm thuyết khách cho ngài để được Hoa Dương phu nhân nhận ngài làm con. Nếu được như vậy thì cái chân thái tử nằm chắc trong tay ngài!

Nghe xong mưu kế của Lã Bất Vi, Tử Sở vội vã dập đầu bái tạ, rồi ứa nước mắt và nói:

- Nếu thực hiện được kế sách của ông, sau khi lên ngôi ở nước Tần, đệ xin chia đôi nước Tần để chúng ta cùng hưởng.

Lã Bất Vi liền đưa cho Tử Sở năm trăm lạng vàng làm tiền giao du kết bạn với những người quyền quí. Còn mình thì đem theo năm trăm lạng cùng nhiều châu báu quý hiếm khác đến nước Tần làm thuyết khách.

Sau khi đến Hàm Dương, Lã Bất Vi sau hồi điều tra tỉ mỉ, liền quyết định bắt đầu đến thăm người chị của Hoa Dương phu nhân. Họ Lã tặng bà một ít châu báu và một món quà khác giá trị hơn nhiều, nói là của Tử Sở gửi biếu. Đồng thời thông qua người chị, gửi biếu Hoa Dương phu nhân nhiều vàng bạc, châu báu còn quí gấp bội.

Hoa Dương phu nhân lấy làm lạ. Bà nhớ có Tử Sở ở nước Triệu nhưng đã bị giết rồi, ngờ đâu hôm nay còn có lễ hậu dâng bà. Vì vậy bà cho mời Lã Bất Vi vào để hỏi, bà nói:

- Tình hình Tử Sở ở nước Triệu ra sao rồi?

Lã Bất Vi thưa:

- Tình hình khó khăn lắm. Trước đây nhiều lần nước Tần tiến đánh nước Triệu, nên Triệu vương giận lắm, chỉ chực đem giết Tử Sở. May nhờ được các đại thần khuyên can nên mới thôi!

Lã Bất Vi ngừng một lát rồi lại nói tiếp, lời lẽ có nhiều chỗ bịa đặt:

- Vua Triệu không giết Tử Sở phải chăng vì sợ nước Tần tấn công nước Triệu? Thưa không phải vì sợ nước Tần mà không dám giết Tử Sở. Vua Triệu không nỡ giết vì thấy Tử Sở uyên bác, lại nhân hậu, hiếu đễ. Phu nhân không biết đấy thôi, từ ngày ở nước Triệu, hàng năm cứ đến ngày sinh của phu nhân và thái tử, Tử Sở đều cho thắp hương, rồi bái lạy về hướng kinh đô nước Tần mà cầu phúc cho hai người. Mọi người thấy Tử Sở hiếu thuận nên ai ai cũng muốn kết giao. Biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, chư hầu quí tộc đều là bạn của Tử Sở. Tử Sở thường nói với mọi người: "Ta rất quí phu nhân. Ngày đêm ta thường đẫm lệ vì tưởng nhở thái tử và Hoa Dương phu nhân". Tử Sở nhân từ, khoan hậu đến như vậy, nên vua Triệu không nỡ ra tay.

Câu chuyện bịa đặt của Lã Bất Vi thật kín kẽ, làm cho Hoa Dương phu nhân hết sức vui mừng. Chỉ chờ thế, Lã Bất Vi liền nháy mắt ra hiệu với người chị của phu nhân. Bà chị liền đem những điều Lã Bất Vi dặn trước nhắc lại từ đầu tới cuối như một con vẹt:

- Cô em gái quí mến ạ, chị thường nghe người ta nói, nhờ vào nhan sắc để thờ phụng quân vương, đến lúc nhan tàn sắc nhạt thì sự ân sủng cũng chẳng còn. Lúc này, em được thái tử An Quốc quân yêu chiều quí mến, tiếc là em không sinh được con cho thái tử. Nếu bây giờ em chọn trong đám con cháu của thái tử một đứa hiền năng hiếu thuận, rồi tiến cử lập tự, cho làm con của mình thì sau này mới không nguy hiểm. Bởi vì một khi thái tử còn thì em còn được tôn quí. Một mai thái tử qua đời, con của em được kế vị thì quyền hạn của em mới không suy suyển, đó là thượng sách. Ngày nay đang lúc vinh hoa phú quý mà em không biết lập cho mình một cái vốn thì sau này, tuổi tác thêm nhiều, nhan sắc kém đi, không còn được thái tử thương yêu như trước thì sẽ tính sao đây? Tử Sở là người thông minh, hiếu thuận, về lý chắc không được lập làm tự. Hạ Cơ là mẹ lại không được thái tử sủng ái. Nếu em làm cho An Quốc quân lập Tử Sở làm tự, thì chẳng phải em sẽ được nước Tần tôn quí suốt đời hay sao?

Hoa Dương phu nhân cảm thấy người chị nói rất có lý.

Thế rồi mỗi lúc nhàn rỗi phu nhân lại tranh thủ thỏ thẻ bên tai thái tử về Tử Sở, đi làm con tin ở nước Triệu, là người thông minh, tài cán, người người trong Triệu đều hâm mộ. Sau đó Hoa Dương phu nhân mới khóc và nói tiếp:

- Thiếp vinh hạnh được Người sủng ái, bậc nhất ở hậu cung, nhưng lại không biết đường sinh, nở. Thiếp chỉ mong sao Tử Sở được lập tự, thì suốt đời thiếp mới có chỗ dựa!

An Quốc quân nghe theo phu nhân, nhanh chóng quyết định để Tử Sở làm người kế vị, còn cho khắc ngọc phù làm tin. An Quốc quân và Hoa Dương phu nhân gửi cho Tử Sở rất nhiều tài vật, lại mời Lã Bất Vi làm thầy cho Tử Sở. Sách lược của Lã Bất Vi đã thành công. Ông ta dần dần nắm được quyền thế chính trị.

Song mục đích của Lã Bất Vi không phải là một chức tướng quốc, dưới một người trên vạn người, mà ông ta muốn làm vua của một nước. Tất nhiên điều đó là rất khó. Ông ta nghĩ tiếp: "Mình không thể làm vua, nhưng giá như con mình được làm vua thì càng tốt chứ sao?"

Lã Bất Vi lại có mưu lược chính trị mới.

Kế của họ Lã là lấy mơ thay mận.

Lã Bất Vi liền tìm chọn trong đám con gái ở Hàm Đan một cô vừa xinh đẹp vừa giỏi nghề múa hát, rồi hai người chung sống với nhau cho đến khi nàng mang thai. Đó chính là Triệu Cơ, mẫu hậu của Tần Thủy Hoàng sau này. Một hôm, khi chưa một ai được biết Triệu Cơ đã mang thai, Lã Bất Vi liền cho mời Tử Sở đến vui chơi yến ẩm. Nhìn thấy Triệu Cơ sắc nước nghiêng thành, Tử Sở mê mụ cả người, liền đứng dậy bái lạy Lã Bất Vi, hy vọng ông ta nhường lại người con gái đó cho mình. Lã Bất Vi thấy cá đã cắn câu, liền giả bộ không vui. Chờ khi Tử Sở vật nài tới lần thứ ba, mới té nước theo mưa, dâng người con gái xinh đẹp đó cho Tử Sở. Mười hai tháng sau, người đẹp sinh ra vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc là Doanh Chính. Tử Sở liền lập nàng làm phu nhân.

Năm 257 trước Công nguyên, nước Tần vây đánh kinh đô Hàm Đan của nước Triệu. Vua Triệu quyết định giết chết Tử Sở là con tin. Lã Bất Vi phải hối lộ cho viên quan gác cửa sáu trăm lạng vàng để cứu Tử Sở. Vua Triệu lại định giết vợ của Tử Sở, nhưng nàng đã được họ Lã dời đi chỗ khác.

Vì thế hai mẹ con nàng mới sống sót.

Năm 251 trước Công nguyên, Tần Chiêu Vương ốm mất. An Quốc quân trở thành vua của nước Tần, Tử Sở được lập làm thái tử. Một năm sau An Quốc quân qua đời, Tử Sở trở thành vua mới là Tần Trang Tương Vương. Sau khi lên ngôi vua Tần tôn Hoa Dương phu nhân là Hoa Dương thái hậu, lại tôn sinh mẫu là Hạ thái hậu, cử Lã Bất Vi là thừa tướng nước Tần, phong là Phụ Tín hầu, lấy mười vạn hộ ở Lạc Dương, Hà Nam làm đất phong.

Thủ đoạn chính trị của Lã Bất Vi cuối cùng cũng gặp quả báo, Tử Sở kế vị được ba năm thì qua đời. Thái tử Doanh Chính kế vị là Tần vương, tôn Lã Bất Vi là tướng quốc, gọi là "tướng phụ".

Dựa vào kinh nghiệm kinh doanh buôn bán của mình, Lã Bất Vi không những đã trở thành một "tướng phụ" dưới một người, trên cả vạn người, mà còn làm cho đứa con thân yêu của mình trở thành một quân vương.

Lúc Doanh Chính còn nhỏ, Lã Bất Vi thường tư thông với thái hậu Triệu Cơ. Hai người như cá gặp nước vui vầy hết cỡ. Tần Thủy Hoàng ngày một khôn lớn, thì lửa tình của Triệu thái hậu cũng ngày một bốc cháy. Lã Bất Vi lo ngại nguy hiểm nếu cứ tiếp tục dâm loạn cùng thái hậu. Bởi vậy ông ta lén tìm một người tên là Lao Ái có bộ phận dương vật to, khỏe đến làm môn khách. Triệu thái hậu biết, tin rất muốn có Lao Ái. Lã Bất Vi liền cho Lao Ái giả làm thái giám, rồi đưa đến cho thái hậu chơi vui.

Mọi kế sách đã xong, Lã Bất Vi làm "tướng phụ" mấy năm. Khi việc của Lao Ái và thái hậu bị lộ, thấy có liên quan tới "tướng phụ", Lã Bất Vi liền bị con của mình bãi chức "tướng quốc". Năm sau nữa, Tần Thủy Hoàng đã bức ông ta phải tự sát bằng thuốc độc.

Gian thần Lã Bất Vi đem những kinh nghiệm thành công nơi thương trường áp dụng vào lĩnh vực chính trị, thể hiện gan dạ và tài trí hơn người. Trong khi mọi người cho Tử Sở là đồ bỏ đì thi chính Lã Bất Vi lại thấy đó là món hàng quí, chỉ cần bỏ ra một ít tiền là có thể thực hiện được dã tâm chính trị to lớn của mình.

3. "SỰ GIẢ DỐI" CỦA QUAN GIAN

Sở dĩ quan gian vẫn đắc chí vì chúng có tài dối trá, bộ mặt luôn luôn thay đổi. Bất kể là ai, sang hay hèn, đều lấy quyền lực mà thao túng. Không nói thật bao giờ. Nói cách khác, chúng là lũ tiểu nhân, phản phúc khôn lường. Đã vậy, chúng lại luôn luôn giả bộ là người thành thực. Viên Thế Khải là một điển hình của loại quan gian này. Suốt cuộc đời, Viên Thế Khải là một kẻ tiểu nhân, bộ mặt luôn luôn thay đổi. Trước hết, ông ta phản bội hoàng đế Quang Tự, đến tố giác với Từ Hi thái hậu để được thăng quan. Sau đó phản lại triều đình nhà Thanh, buộc hoàng đế triều Thanh phải thoái vị, lên làm tổng thông. Cuối cùng ông ta bội phản lại nền cộng hòa, khôi phục đế chế, xưng là Hồng Hiến hoàng đế.

Năm 1895, Viên Thế Khải huấn luyện lục quân kiểu mới ở Thiên Tân, đạo quân mới này tuy qui mô nhỏ, nhưng tinh thần và sức chiến đấu nổi trội hơn các đạo quân khác, quân số tuy ít nhưng trở thành đạo quân chủ lực của nhà Thanh.

Do Viên Thế Khải có thực lực quân sự nhất định, nên lúc hoàng đế Quang Tự thực hành biến pháp, đã cử Đàm Tự Đồng đến thăm dò khẩu khí của Viên Thế Khải. Đàm Tự Đồng hỏi Viên:

- Ông thấy thiên tử hiện nay thế nào?

Viên Thế Khải nói luôn:

- Là một minh quân hiếm có!

Đàm Tự Đồng lại hỏi:

- Nếu Thiên tử muốn giao cho ông một việc hệ trọng, để lộ ra ngoài có thể bị giết cả chín họ, liệu ông có đám làm không?

Viên Thế Khải nói những câu giống như lời thề thốt:

- Quân muốn thần chết, thần không chết là bất trung. Đừng nói tới một việc, ngay như thánh thượng muốn Viên mỗ chết, Viên mỗ dù gan óc lầy đất cũng chẳng từ.

Sau khi Quang Tự biết thái độ của Viên Thế Khải, liền bí mật triệu Viên vào cung và nói:

- Biến pháp là xu thế tất yếu, không biến pháp đất nước cứ suy yếu mãi. Trẫm chuẩn bị biến pháp, Viên ái khanh thấy thế nào?

Viên Thế Khải nói:

- Thánh thượng sáng suốt, nô tài dù có phải xông pha vào nơi nước sôi lửa bỏng cũng không bao giờ xa rời bệ hạ nửa bước.

Quang Tự nói:

- Thái hậu ngăn cản biến pháp. Suốt ngày lũ tiểu nhân vây quanh thái hậu làm cho thái hậu xa lánh các hiền thần, gần gũi lũ tiểu nhân, thực là lũ đồi bại.

Viên Thế Khải cứ lặng thinh.

- Viên ái khanh!

Quang Tự phải gọi như quát lên.

- Có nô tài.

Lúc này Viên Thế Khải mới vội vã lên tiếng.

- Trẫm lệnh cho ngươi về ngay Thiên Tân, đưa quân lên bắc bao vây Di Hòa Viên, giết Vinh Lộc, bức thái hậu phải nghe theo.

Viên Thế Khải trả lời ngay:

- Tuân chỉ!

Quang Tự viết mật chiếu giao cho Viên Thế Khải.

Trước mặt Đàm Tự Đồng và Quang Tự, Viên Thế Khải ngụy trang thành người ủng hộ biến pháp. Nhưng ra khỏi Cố Cung thì Viên lại biến thành một kẻ khác. Họ Viên thừa biết thiên hạ là thiên hạ của Từ Hi, Quang Tự chỉ là một vị hoàng đế bù nhìn. Viên Thế Khải chưa ra khỏi Bắc Kinh đã đem chuyện tố giác với Vinh Lộc. Sau khi Từ Hi thái hậu biết tin, thế cờ được lật ngược, Đàm Tự Đồng và sáu người khác bị giết. Quang Tự bị cầm tù và biến pháp thất bại.

Viên Thế Khải tố giác lập công được phong làm tuần phủ Sơn Đông. Năm 1901, sau khi thay chân Lý Hồng Chương, ông ta được thăng làm tổng đốc Trực Lệ, Bắc Dương đại thần và đại thần trong hiệp hội luyện binh. Sau này ông ta còn được thăng nhiệm quân cơ và đại thần, thượng thư đối ngoại. Viên Thế Khải là kẻ "dối trá", có nhiều bộ mặt khác nhau, lại hay tố giác lập công, được Từ Hi thái hậu sủng ái, nên mới có cơ thăng quan tiến tước nhiều như vậy.

Sau khi Từ Hi, Quang Tự lần lượt qua đời, Phổ Nghi là người kế vị. Đạo quân của Viên Thế Khải trở thành mối uy hiếp triều đình nhà Thanh. Vua Thanh lấy cớ Viên Thế Khải đau chân để đưa ông ta đi dưỡng bệnh.

Ngày 11 tháng 11 năm 1911 nổ ra cuộc khởi nghĩa Vũ Xương, vua Thanh liền phái quân Bắc Dương đi trấn áp, nhưng không ai chỉ huy nổi đám quân này. Viên Thế Khải luyện quân Bắc Dương nên họ chỉ biết có Viên Thế Khải, người khác chỉ huy thì sức chiến đấu rất kém. Lại thêm các tỉnh đua nhau đòi độc lập. Triều Thanh đành phải sử dụng Viên Thế Khải, phong ông ta làm đô đốc Hồ Quảng, Khâm sai đại thần, tổng chỉ huy các quân hải lục, thủy sư Trường Giang. Nhưng Viên Thế Khải cho rằng "quan" vẫn chưa to, lấy cớ "chân đau khó trị", không đến nhận chức. Triều Thanh lại đành phải cử ông ta làm nội các tổng lý đại thần, mọi việc do ông ta định liệu.

Nắm trọn đại quyền, Thế Khải lập tức trở mặt. Nhận thấy triều đình nhà Thanh đã quá hủ bại, bất lực, ông ta lệnh cho quân Bắc Dương cứ từ từ, giả đò là tiến bộ, muốn ủng hộ nền cộng hòa. Trên thực tế, với số quân đội trong tay, ông ta muốn chính phủ cách mạng miền nam phải đồng ý để mình làm đại tổng thống. Để bảo toàn lực lượng cách mạng, ngài Tôn Trung Sơn đồng ý để họ Viên làm đại tổng thống, nếu như ông ta bức được vua Thanh thoái vị.

Ngày 12 tháng 2 năm 1912, Viên Thế Khải là kẻ hơn nửa đời người hưởng lộc nhà Thanh, nay bức Phổ Nghi phải xuống chiếu thoái vị. Tôn Trung Sơn giữ lời hứa đã tuyên bố từ chức đại tổng thống, tiến cử Viên Thế Khải thay mình. Một lần nữa, Viên Thế Khải lại đối mặt, làm đại tổng thống lâm thời, hưởng trọn thành quả thắng lợi của cuộc cách mạng Tân Hợi.

Sau khi nắm đại quyền vào tay, lúc mà thế lực cách mạng miền nam còn mạnh, Viên Thế Khải giả bộ cách mạng, đề xướng dân chủ cộng hòa. Nhưng một khi có dịp, họ Viên liền thay đổi bộ mặt khác, tàn sát các nhân sĩ cách mạng. Trước hết ông ta thao túng, mua chuộc bọn cách mạng biến chất, dùng kế điệu hổ li sơn, lừa cho công thần Trương Chấn Vũ, một nhân vật của cuộc khởi nghĩa Vũ Xương, về Bắc Kinh và giết luôn chẳng cần thẩm vấn.

Gần ngày triệu tập Quốc dân đại hội khóa một, Tống Giáo Nhân diễn thuyết, phát biểu khắp nơi, chỉ trích Viên Thế Khải, hòng gạt ông ta ra khỏi chức vụ tổng thống. Viên Thế Khải giận lắm. Trước hết, ông ta đem tiền ra mua chuộc, Tống Giáo Nhân không nhận. Cuối cùng, Viên Thế Khải chỉ thị cho thủ tướng quốc vụ viện cử Hồng Thuật Tố thuê bọn hung thủ giết chết Tống Giáo Nhân trong một nhà ga ở Thượng Hải.

Năm 1913, giả bộ là cách mạng, Viên Thế Khải lần lượt miễn chức đô đốc các tướng Lý Liệt Quân, Hồ Hán Dân, Bạch Văn Lý, thay mặt đổi lòng, bội phản đảng cách mạng ở miền nam. Những người cách mạng ở Giang Tây, Quảng Đông, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Thượng Hải ra sức phản đối và tuyên bố độc lập.

"Cuộc cách mạng lần thứ hai" thất bại. Viên Thế Khải dùng vũ lực buộc quốc hội phải bỏ phiếu để ông ta làm đại tổng thống chính thức. Viên Thế Khải đã thực hiện "dân chủ" "cộng hoà" bằng súng và đạn của lũ quân cảnh.

Viên Thế Khải không hổ là một tay anh chị trong chốn quan trường, qua mấy lần thay mặt đổi lòng, cuối cùng đã bước tới đỉnh cao của quyền lực. Nhưng như vậy có vẻ vẫn chưa đủ, Thế Khải còn muốn mặc hoàng bào, ngồi lên chiếc ghế có chín con rồng cho oai phong, lẫm liệt. Bởi vậy, còn phải hóa trang một lần nữa, vào ngày 12 tháng 12 năm 1915, chuyển từ cộng hòa sang đế chế, lên ngôi hoàng đế, nhưng lần này thì xúi quẩy, ông ta không những không thành công mà còn mất mạng.

4. CÁI “ĐỘC" CỦA QUAN GIAN

Đa phần quan gian còn là quan "độc". Bọn quan gian thường rất hiểm độc, chẳng tình nghĩa với ai bao giờ.

"Độc" là hung ác độc địa. Trong "Hậu Hắc Học", Lý Tông Ngô viết: "'độc' tức là hung ác, chỉ cần đạt được mục đích của ta, còn thì người khác có phải bán vợ đợ con ra sao, không cần biết", Nhưng phải lưu ý một điều: "độc " là bên trong, còn bề ngoài vẫn phải có một lớp nhân nghĩa, đạo đức.

Bề ngoài của số đông bọn quan gian đều rất từ thiện. Song bên trong chúng có nọc độc của con bọ cạp, hung ác cực kỳ, giết người như ngóe. Chúng giết người đều có "đầy đủ lý do".

Người xưa nói:" Không độc không là trượng phu". Tính cách của bọn quan gian là "hung ác", vì thế chúng mới thành công được. Ngay như Lưu Bang, một hoàng đế dựng nước đấy, lòng dạ cũng độc ác, nói chi đến lũ tham quan gian thần. Sau khi Lưu Bang được phong làm Hán Trung vương, Phạm Tăng là mưu thần của Hạng Vũ muốn giết Lưu Bang, liền tìm cách như giam lỏng ông ta ở Hàm Dương. Để thoát ra khỏi chiếc lồng cấm đó, Lưu Bang tìm cách lấy lòng Hạng Vũ, tỏ ý thuần phục, và cuối cùng thì để người nhà làm con tin, còn mình thì chạy về Hán Trung. Lúc hai quân đối đầu, Hạng Vũ định giết cha của Lưu Bang, ông ta chẳng hề động lòng, còn nói:

- Chúng ta kết nghĩa huynh đệ với nhau, cha đệ cũng như cha huynh, huynh có giám giết không? Nếu giết thì phải nhớ chia cho đệ một bát cháo thịt nhé!

Khi Lưu Bang bị quân Sở truy đuổi, để xe giảm nhẹ trọng lượng, Lưu Bang đã cho bỏ hai đứa con ruột thịt của mình xuống. Một thuộc hạ đã giằng lấy hai đứa trẻ đặt chúng lên xe. Lưu Bang nổi giận nói:

- Không được bỏ phí thời cơ. Thân ta liệu có giữ nổi không mà còn nghĩ đến con với cái?

Thực là độc ác hết chỗ nói.

Như Lưu Bang đã được coi là ác độc lắm, nhưng so với gian hùng thời loạn Tào Tháo thì chỉ là phù thủy con và phù thủy mẹ.

Tào Tháo tính cách gian trá. Giết người tất phải có lý do chính đáng, giết một cách "quang minh chính đại".

Sau khi hành thích Đổng Trác không thành, Tào Tháo phải cải trang trốn chạy, và bị một viên tuần tra tóm được giải về huyện. Huyện lệnh Trần Cung biết việc, liền bỏ trốn cùng. Tào Tháo, chuẩn bị cùng quay lại giết chết Đổng Trác. Cả hai chạy đến Thành Cao. Tháo tìm đến nhà người quen lánh tạm một, thời gian. Sau khi hai người vào nhà Lã Bá Xa, Bá Xa liền đi mua rượu, nhưng rất lâu chưa về, Tào Tháo sinh nghi, bèn lẻn ra sau nghe ngóng. Bỗng nghe sân sau có tiếng mài dao, lại có người nói:" Cứ trói rồi hẵng giết". Tào Tháo cho là Lã Bá Xa đi tố giác, liền xách kiếm giết sạch cả nhà. Cuối cùng, khi vào bếp, nhìn thấy một con lợn đang bị trói, mới biết mình đã giết oan người lành. Hai người bèn lên ngựa trốn chạy. Đi được một đoạn thì gặp Lã Bá Xa đi mua rượu về. Bá Xa hỏi:

- Sao lại đi vội thế?

Tào Tháo nói:

- Thân mang trọng tội, khổng dám ở lâu!

Nói chưa dứt câu đã đánh ngựa phóng luôn. Nhưng sau đó lại quay ngựa lại, giết nốt Lã Bá Xa. Trần Cung thất kinh, vội hỏi:

- Ban nãy là giết nhầm, bầy giờ lại giết, thực là bất nghĩa.

Tào Tháo biện bạch:

- Nếu không làm vậy, thì khi thấy cả nhà bị giết, thế tất ông ta sẽ cho người truy đuổi, liệu chúng ta có thoát được không? Chi bằng giết hết, giết tiệt đi để tránh hậu họa.

Trần Cung nói:

- Đành là vậy, nhưng tuyệt tình quá!

Tháo nói:

- Thà ta phụ người, chứ không bao giờ để người phụ ta.

Lòng dạ Tào Tháo là vậy, khó có người sánh kịp.

Dịch Nha, người nước Tề còn hung tàn hơn nữa. Một hôm ông ta nghe Tề Hoàn công nói:

- Quả nhân sơn hào hải vị đã ăn đủ. Duy có thịt người là chưa nếm, chẳng biết mùi vị nó ra sao?

Đó vốn là một câu nói bình thường, Tể Hoàn công cũng nói cho vui, nào ngờ Dịch Nha lại nhớ kỹ. Làm sao để có được bát thịt người thơm ngon dâng cho chủ đây? Suy đi tính lại, cuối cùng Dịch Nha đem giết đứa con của mình, làm cho Tề Hoàn công một bát thịt người vừa thơm vừa ngon. Tề Hoàn công hỏi vì sao lại làm như vậy, Dịch Nha trả lời rất nghiêm chỉnh:

- Con của tiểu nhân vốn là thần dân của bệ hạ. - Được bệ hạ dùng là vinh hạnh của nó.

Tề Hoàn công rất coi trọng tên gian quan Dịch Nha, tuy hắn chẳng tài cán gì, ngoài việc giết con để dâng vua, hắn liền được thăng thêm ba bậc.

Tùy Dạ đế Dương Quảng cũng là một tên vua độc ác. Lúc người cha còn sống, tên này đã mấy lần định cưỡng dâm người dì của mình là Trần phu nhân. Phu nhân không đồng ý. Dương Quảng và gian thần Dương Tố tìm cách giết cha rồi lên làm hoàng đế. Như vậy hắn có thể tự do, tự tại cưỡng dâm người dì.

Thương Cự cũng là một kẻ giết cha. Thương Cự sợ cha là Sở Thành Vương phế bỏ địa vị thái tử của mình, liền đem số võ sĩ ở cung thái tử bao vây Sở Thành Vương. Sở Thành Vương biết mình sẽ chết, chỉ xin con cho ăn nốt chiếc tay gấu. Thương Cự không đồng ý, hạ lệnh đem treo người cha lên và cho đánh chết tươi.

Nói đến độc thì Vương Mãng cũng là loại giết người không run tay. Sau khi lên chức đại tư mã, Vương Mãng cũng tỏ ra mình vì đại nghĩa dám diệt thân, đã bức tử đứa con của mình. Câu chuyện tưởng như chỉ đơn thuần là tàn nhẫn, nhưng thực ra việc giết con còn để chứng tỏ mình là người biết giữ "quốc pháp".

Con trai của Vương Mãng là Vương Hoạch giết một tên gia nô, theo luật pháp thì cần phải trị tội. Bấy giờ thời buổi loạn lạc, việc chạy tội dễ như trở bàn tay. Nhưng Vương Mãng muốn chứng tỏ việc chấp pháp không thể nhu nhơ, liền chẳng nói chẳng rằng, ném kiếm xuống đất, bức đứa con phải tự sát.

Lại có chuyện trong mấy ngày liền, Vương Mãng phát hiện trên cửa nhà mình luôn có vết máu, liền hạ lệnh cho thủ hạ trong ba ngày phải phá án. Thủ hạ phát hiện ra Vương Vũ là con cả của Vương Mãng làm điều đó. Vương Vũ vẫn biết cha là người mê tín, nên mới làm như vậy hòng ngăn cha. Sau khi biết rõ thủ phạm, Vương Mãng đem giam Vương Vũ vào ngục rồi giết chết bằng thuốc độc. Vợ Vương Vũ bị hạ ngục lúc đang mang thai. Sau khi sinh con cũng bị giết luôn. Vương Mãng nghi ngờ người thầy học của Vũ là Ngô Chương làm hỏng Vũ, nên hạ lệnh chém ngang lưng người thầy đó. Hơn một ngàn đệ tử của Ngô Chương bị mất tư cách làm quan.

Vương Mãng chẳng hổ danh là "con người ác độc", nhưng những việc ông ta làm thì ai cũng rõ.

Trái lại, Tăng Quốc Phiên vào cuối đời Thanh, làm việc gì cũng giấu giếm, lúc nào cũng tỏ ra ta đây là quân tử, đạo đức.

Rất nhiều người sùng bái Tăng Quốc Phiên, đều cho ông ta là hóa thân của nhân nghĩa, đạo đức. Thực ra, họ Tăng là kẻ giết người như ngóe, xứng với cái tên "Tăng Thế Đầu". Cái "độc" của Tăng được phủ kín bằng một lớp dầu chính nhân quân tử.

Tăng Quốc Phiên suốt đời tôn thờ Trình Chu lý học, coi nhân nghĩa, đạo đức của Nho gia là chuẩn mực duy nhất, lấy các điều thành, thực, cần, kính để đối xử với mọi người làm tôn chỉ. Đỗi khi Tăng còn nói:" Không là thánh hiền thì là cầm thú", "chỉ lo mà cày cấy, đừng nghĩ tới chuyện thu hoạch". Những lời nói đó được lưu truyền rộng rãi và hết sức thuyết phục.

Tăng Quốc Phiên còn có tên hiệu là "Tăng Thế Đầu", nghĩa là ông ta giết người một cách hung ác, tùy tiện như cắt một cái tóc vậy. Tăng Quốc Phiên không phải là người hoàn thiện hoàn mỹ như một số người từng tâng bốc. Ông ta là kẻ thù của nhân dân, giết người đã trở thành bản tính.

Sau khi đánh chiếm Thiên Kinh (Nam Kinh), thủ đô của Thái Bình Thiên Quốc, Tương quân đã thảm sát thật vô nhân đạo. Không chỉ quan quân Thái Bình bị giết, gia quyến họ bị giết, mà ngay cả đến những cư dân vô tội cũng bị cướp, giết bằng hết. Sử sách ghi rõ: "Quân Tương vào Thiên Kinh gặp người thì giết người, gặp nhà thì đốt nhà, xác người chết trôi nổi kín sông Hoài Hà". Đối với cuộc chém giết chưa từng có này thì ngay như Tăng Quốc Phiên cũng phải thừa nhận: "Kể từ thời Ngũ Đại chưa có cuộc chém giết nào qui mô như việc này". Xem thế thì biết, cái "chính nhân quân tử" của Tăng Quốc Phiên chỉ là cái vỏ bên ngoài, còn cái bản tính hung ác của ông ta thì được bọc bởi thứ ngôn từ giả dối nọ!

Không phải chỉ quân sĩ Thái Bình Thiên Quốc đặt cho ông ta cái tên "Tăng Thế Đầu", mà ngay từ thời luyện quân ở Hồ Nam, chính những người dân nơi quê hương đã đặt cho ông ta cái tên này rồi!

Tăng Quốc Phiên vốn là một tay học trò trói gà không nổi, vì sao lại có cái tên như vậy? Tăng Quốc Phiên muốn lập nên "công trạng" của mình, liền bỏ tiền của ra thành lập đạo quân Tương. Ông ta vứt bỏ bộ mặt học thức giả nhân giả nghĩa, cầm con dao của kẻ đồ tể để giết người. Để xây dựng uy tín cho mình, ông ta lao vào chém giết, còn mở riêng cả một phòng xử án. Không cần thẩm phán, chẳng theo pháp luật, bất biết chứng cứ, hễ bắt được ai, nhẹ thì đánh đòn, giam vào đại lao, nặng thì xử quyết luôn. Lúc đó Tăng Quốc Phiên chỉ là một đoàn luyện đại thần, một thị lang hão. Trong vòng bốn tháng lập phòng xử án, riêng ông ta đã trực tiếp giết hại hơn hai vạn người, ông ta trực tiếp phê duyệt chín mươi hai án tử hình. Tăng Quốc Phiên hung hăng tuyên bố:

- Ba bốn chục năm nay, những kẻ đáng giết thì không giết, để đến bây giờ chỗ nào cũng có chúng, thành một mối họa lớn!

Ông ta còn dâng biểu tâu vua:

- Cần phải xử tội thật nặng lũ bạo ngược này (chỉ những người nông dân dám phản kháng) thì dù có mang tiếng là tàn nhẫn, khốc liệt, cũng không từ! Tăng Quốc Phiên đâu phải là mẫu người "nhân nghĩa", ông ta đã gắn hào quang vào chiếc mũ đội đầu bằng máu tươi của hàng ngàn vạn con người. Cái "độc" của ông ta được che đậy bằng cái vỏ "nhân nghĩa" bên ngoài. Loại quan viên như thế, đáng sợ hơn nhiều, khó phân biệt hơn nhiều so với lũ quan nhỏ ác độc!

5. TÍNH "GIẢO HOẠT CỦA QUAN GIAN

Nơi quan trường thời cổ Trung Quốc xuất hiện nhiều loại quan gian đủ cỡ, đủ mầu sắc, với nhiều vai trò khác nhau.

Trình độ "gian" của quan gian tuy có khác nhau, nhưng chúng cũng có những đặc điểm chung, một trong những cái đó là tính "giảo hoạt". Phàm là quan gian thì đều có lời nói bóng bẩy, êm ái dịu dàng, nhưng thực tế là nhăng cuội, phản phúc, vô thường. Lúc bình thường thì thề non hẹn biển, lúc có việc thì xoay lưng, ngoảnh mặt, mất tăm như hòn đá ném xuống giếng. Đối với mọi người, chúng chỉ là lũ dối trá "có hạng". Loại quan gian này khi còn là tay chân của kẻ khác thì vâng vâng, dạ dạ, cúc cung tận tụy, nhũn như con chi chi, nhưng một khi đã có quyền hành trong tay, chúng mới lộ nguyên hình là loài ác thú.

"Giảo hoạt" là bản tính của lũ quan gian.

Sái Kinh thời Bắc Tống là một quan gian nổi tiếng. Lúc biến pháp của Vương An Thạch gặp thời, Sái Kinh chạy theo Vương An Thạch, ca ngợi biến pháp ích nước lợi nhà nên được thăng quan thêm một cấp. Sau khi Thần Tông qua đời, Tư Mã Quang lại được trọng dụng. Tư Mã Quang một tể tướng nổi danh thiên hạ là người phản đối biến pháp. Họ Tư Mã có học vấn nhưng lại cố chấp. Để xóa bỏ tân pháp của Vương An Thạch, Tư Mã nêu ra hàng mớ lý luận và hành động quyết đoán. Làm tể tướng chưa tới một năm, Tư Mã đã xoá bỏ xong toàn bộ tân pháp của Vương An Thạch. Tô Đông Pha cũng phản đối biến pháp của Vương An Thạch, nhưng khi thấy biện pháp của Tư Mã quá mạnh liền có lời khuyên. Nào ngờ họ Tô bị Tư Mã mắng cho một trận nên thân, ông này giận quá liền gọi Tư Mã Quang là "Tư Mã Ngưu, Tư Mã Ngưu". Cũng là một văn nhân như Tô Đông Pha, nhưng thái độ của Sái Kinh lại khác hẳn. Khi biến pháp của Vương An Thạch được hoàng đế Thần Tông tán thưởng thì Sái Kinh là người năng nổ theo biến pháp để được thăng quan. Lúc Tư Mã Quang cầm quyền, Sái Kinh là trị sự ở phủ Khái Phong. Họ Sái lập tức lắc mình một cái để biến thành kẻ ủng hộ Tư Mã Quang.

Tư Mã Quang hạ lệnh bãi bỏ "miễn dịch pháp" của Vương An Thạch, khôi phục lại " sai dịch pháp". Sau năm hôm, Sái Kinh báo rõ với Tư Mã Quang.

- Toàn bộ các huyện trong phủ Khai Phong đã hoàn thành toàn bộ công việc bãi bỏ tân pháp, khôi phục cựu pháp.

Tư Mã Quang nghe xong sướng quá, liền nói:

- Nếu các quan viên khác đều giống nhà ngươi thì chẳng còn gì ngăn cản nổi chúng ta!

Kỳ thực, miễn dịch pháp của Vương An Thạch đã được phổ biến rộng rãi. Vương An Thạch đã lao tâm khổ tứ trong hai năm soạn ra biến pháp. Nó được trăm họ ủng hộ, hoàng đế Thần Tông làm hậu thuẫn, lại được thử nghiệm trước ở kinh thành hàng mười tháng, rồi mới phổ biến ra cả nước hơn chục năm nay, liệu bỏ được nó có dễ dàng không? Và cựu pháp cũng được ngừng hơn chục năm rồi, lúc này lệnh vừa ban ra liệu có khôi phục ngay được chưa? Sự việc rõ ràng thế, nhưng Tư Mã Quang lại tin lời của bọn quan gian.

Qua việc này, thấy rõ Sái Kinh đã bày mưu tính kế, gian trá giảo hoạt, nói lời phù phiếm bợ đỡ Tư Mã Quang. Trong số tể tướng thời Bắc Tống, Tư Mã là người có năng lực, một đại thần tiếng tăm, Nhưng Tư Mã lại chỉ thích nghe những lời nịnh hót. Ngay từ một người vừa biết phản đối biến pháp, vừa có cảm tình với Tư Mã Quang là Tô Đông Pha chỉ nói mấy câu can gián mà Tư Mã đã thấy chối tai. Còn như Sái Kinh một kẻ trước đã theo Vương An Thạch, ngày nay nói toàn những lời giả dối thì Tư Mã lại cho là thực, còn chuẩn bị cân nhắc, trọng dụng. Lúc tân pháp vừa mới bắt đầu, chưa được kiểm nghiệm, Sái Kinh đã nói câu "tân pháp lợi nước lợi nhà" thế là được trọng dụng. Nếu những câu nói giả dối đó của Sái Kinh, được hai nhân vật kiệt xuất kia phân tích, phủ định thì làm gì còn có loại gian thần nổi tiếng ở thời Bắc Tống như Sái Kinh?

Sở dĩ trở thành gian thần, ngoài việc nhờ vào những hôn quân bạo chúa đứng ở phía sau, chúng còn được các quan lớn hiền minh giong trống phất cờ trợ giúp!

Bọn gian thần giỏi biết chớp thời cơ, gió chiều nào che chiều ấy, nhưng nếu như các lương thần, trung thần tay nắm trọng quyền không dùng, không tin chúng thì lũ gian thần làm mưa làm gió thế nào được?

Tên gian thần nổi tiếng xấu xa là Sái Kinh, bước một được Vương An Thạch bật đèn xanh; bước hai lại được Tư Mã Quang dìu lên mình ngựa. Hai lần dối trá, Sái Kinh đều được lợi, trách gì sau này ông ta chẳng làm càn.

Lúc Huy Tông Triệu Cát lên làm hoàng đế, Sái Kinh bị giáng chức đưa đến Hàng Châu. Điều đó làm cho hoàng đế vô cùng thất vọng. Tống Huy Tông là hoàng đế bất tài, nhưng lại giỏi về thư pháp và đồ họa. Thời bấy giờ Sái Kinh, Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Mễ Phất đều là những người giỏi về thư pháp, được gọi chung là tứ đại gia "Tô, Hoàng, Mễ, Sái". Lúc Triệu Cát còn là Đoan vương, đã từng mua tác phẩm thư pháp của Sái Kinh giá đáng hai vạn tiền. Sau khi Triệu Cát lên làm hoàng đế, liền cử hoạn quan Đồng Quan đến Hàng Châu. Sái Kinh có dịp trổ hết tài năng "gian ngoan giảo hoạt"; dâng hiến những tác phẩm quí nhất của mình; cùng những lời hay ý đẹp với Đồng Quan. Có thể nói, Sái Kinh được hoàng đế thi họa Triệu Cát gọi về kinh thành là nhờ được hoạn quan Đồng Quan bắc chiếc cầu nối bằng tiền. Quân thần gặp mặt hết chuyện về cách viết chữ, lại bàn đến đại sự quốc gia, tưởng không bao giờ dứt. Hai người còn tiếc là gặp nhau quá muộn. Sái Kinh lại được dịp phát huy thủ đoạn "giảo hoạt" đến lâm ly kỳ thú. Từ đó, Sái Kinh là trọng thần gần gũi của Tống Huy Tông. Sau khi lên làm tể tướng, Sái Kinh nắm đại quyền thời Bắc Tống hơn hai mươi năm, xem ra từ ngôn đến hành đều rất hợp với Đồng Quan. Trong quá trình đó, Sái Kinh bị bãi chức đến ba lần, nhưng vì Triệu Cát không thiếu được Sái Kinh, nên rốt cuộc Sái Kinh lại được trọng dụng, và lần trọng dụng sau quyền hạn lại to hơn lần trước.

Sái Kinh đã dựa vào Tư Mã Quang để được thăng quan tiến tước, nhưng sau khi lên chức tể tướng, lại ra tay quật lại ông ta, đến nỗi người chết thì mất tước, kẻ sống bị bãi quan, con cháu vĩnh viễn không được vào kinh. Sau khi thâu tóm triều chính, Sái Kinh trổ hết tài giảo hoạt, đưa hẳn công đường làm việc về tại nhà mình. Bất kể là ai có quan hệ với Sái Kinh, quan viên nào biết lo lót lọt vào cửa nhà Sái Kinh thì đều muốn gì được nấy!

Sái Kinh trở thành một gian thần hiếm hoi trong lịch sử không bị cô lập. Nếu không được Vương An Thạch cất nhắc thì Sái Kinh không thể bước vào chính trường; không được Tư Mã Quang trọng dụng thì Sái Kinh sao có thể giương vây múa vuốt tại chốn quan trường? Nếu không vì Tống Huy Tông thích kiểu chữ đẹp thì Sái Kinh không thể là một tên gian thần bậc nhất! Chính ba người này đã biến Sái Kinh thành tên gian thần nguy hại. Thử hỏi: Nếu như Vương An Thạch, Tư Mã Quang không nghe và không tin những lời dối trá đó thì cái "giảo hoạt" của Sái Kinh liệu có phát huy được tác dụng không?

Nói tới Tống Huy Tông, mọi người liên tưởng ngay tới lũ gian thần xuất hiện ở thời Bắc Tống. Huy Tông là vị hoàng đế thích hưởng lạc, ưa an nhàn và yêu thư họa. Tiêu chuẩn dùng người của hoàng đế không vì tài năng, mà trước hết xem người đó có hợp với mình hay không!

Nếu gian thần Sái Kinh còn ít nhiều nắm được những quỷ kế trong chốn quan trường, thì việc Huy Tông nhiệm dụng gian tướng Lý Bang Ngạn lại là việc nực cười, đáng giận, hoàn toàn như một màn kịch.

Ngay khi còn là viên quan nhỏ nhoi, Lý Bang Ngạn từng nói một cách ngông cuồng:

- Ta đã ăn hết các của ngon trong thiên hạ, ngủ hết với gái đẹp trong thiên hạ, đá đủ các loại cầu, làm đủ các loại quan!

Người này tự xưng là "Lý lãng tử". Và vị lãng tử đã được Tống Huy Tông cử làm tể tướng. Phải chăng cũng như Sái Kinh, Lý Bang Ngạn chữ viết đẹp? Không phải. Sở dĩ "Lý lãng tử được làm tể tướng vì Tống Huy Tông có một giấc mơ! Huy Tông mơ thấy một tổ tướng, một vị tể tướng rất hiền. Ông ta xây cho hoàng đế một khu vườn thật xinh! Chính giữa vườn là một căn lầu gọi là "Ỷ Thuý". Ngày hôm sau Lý Bang Ngạn vào gặp hoàng đế, Tống Huy Tông chợt nghĩ đến giấc mơ, liền hỏi:

- Lý ái khanh, đêm qua ta mơ thấy một ái khanh xây cho ta một căn lầu, nhưng không biết đặt tên là gì. Lý ái khanh xem nên đặt tên thế nào đây?

Chẳng cần suy nghĩ gì, Lý Bang Ngạn nói luôn:

- Lấy tên là Ỷ Thuý.

Huy Tông vui mừng khôn xiết. Mấy hôm sau, Lý Bang Ngạn được cử làm phó tể tướng. Đối đáp vài câu mà được làm tướng, kể chốn quan trường thời cổ Trung Quốc hơn vài ngàn năm nay, chỉ có Lý Bang Ngạn là một. Bà con gọi ông là "Lãng Tử tể tướng". Người triều Kim thở dài mà rằng:" Nhà Tống đã hết người ".

Thực ra thì Lý Bang Ngạn chẳng tài hoa gì, chỉ vì thuận miệng nói luôn hai chữ " Ỷ Thuý". Chả là trong lúc Tống Huy Tông nằm mơ thì Lý Bang Ngạn đang mua hoa bán nguyệt trong kỹ viện " Ỷ Thuý lầu" nơi kinh thành. Bởi vậy, khi hoàng đế hỏi, ông ta cũng nói cho qua chuyện. Vì vậy, bọn quan viên nơi kinh thành thường kháo nhau: "nhờ chơi nhà thổ mà Lý lãng tử được làm tể tướng!"

Nói đến giảo hoạt nơi quan trường, Tăng Quốc Phiên là một cao thủ. Sự giảo hoạt của ông ta lợi hại hơn, kín đáo hơn Sái Kinh nhiều! Trong " Hậu Hắc Học", Lý Tông Ngô đề xuất lĩnh vực thứ ba của hậu hắc là:" Hậu mà vô hình, Hắc mà vô sắc", đó là giới hạn cao nhất từ hậu đến hắc. Tăng Quốc Phiên tuy là một "gian quan", nhưng vẫn còn là "quan tốt". Cái "giảo hoạt" mà ông ta thi thố nơi quan trường có thể nói là vô sắc, vô hình.

Một lần tác chiến với Thái Bình Thiên Quốc, thủy quân dày dạn kinh nghiệm của Tăng Quốc Phiên bị đánh cho tơi tả, gần như tan rã toàn bộ. Trước mặt tàn binh bại tướng, Tăng Quốc Phiên thét to lên mấy tiếng:" Ta phụ mất ân điển của thánh thượng rồi!...", và lao đầu xuống sông. Đương nhiên là ông ta không chết, mọi người vớt ông ta lên. Như vậy, ông ta được tiếng là người trung hiếu với hoàng thượng. Từ nay về sau, giả dụ có thua trận sẽ chẳng bao giờ bị hoàng thượng xử phạt. Đồng thời qua hành động đó, ông ta muốn nói với lũ thủ hạ: cần phải trung thành tuyệt đối với thượng cấp, dù không thành công thì cũng thành nhân!

Kỳ thực, Tăng Quốc Phiên thừa biết là mình không thể chết được! Nếu muốn chết thật thì hà tất gì phải lao mình xuống nước trước mặt đám đông! Chờ khi xung quanh chẳng có một ai, hãng nhảy xuống nước mà chết, giữ trọn "chữ trung chữ hiếu" có hơn không? Hoặc giả, có thể rút bảo kiếm ra, chờ lúc không ai để ý, cứa vào cổ, giữ trọn "chữ nhân" mà chết cũng được chứ sao? Đều là những cái chết thật cứng cỏi trước mặt ba quân! Nhưng ông ta lại nhảy ào xuống trước mặt lũ quân đều thạo nghề sông nước. Giảo hoạt đến thế là cùng!

Có một dạo, Tăng Quốc Phiên đánh trận nào là thua trận ấy, bị quân khởi nghĩa của Thái Bình Thiên Quốc đánh cho tơi tả, không còn biết ăn nói với triều đình ra sao, đành phải viết một bản tấu chương với nhan đề "số trận đánh, số trận bại". Có một bộ hạ thấy vậy liền đề nghị chữa thành "số trận bại, số trận đánh". Tăng Quốc Phiên vỗ tay khen hay. Bởi vì "số trận đánh, số trận bại" tỏ ra chỉ huy yếu kém. Còn "số trận bại, số trận đánh" phản ánh rõ: tuy bại trận, nhưng không sợ hi sinh, vẫn anh dũng ngoan cường. Bản tấu chương đến tay hoàng đế, không những không bị trách phạt, mà còn được khen ngợi. Thế mới biết trong chốn quan trường, Tăng Quốc Phiên là người "giảo hoạt" như thế nào!

Điều nổi bật nhất là vào tháng 7 năm 1864, quân Tương đánh vào đô thành Thiên Kinh của Thái Bình Thiên Quốc, Tăng Quốc Phiên dung túng cho lũ bộ hạ tha hồ bắn giết, cướp đốt. Các tướng lĩnh Thái Bình Thiên Quốc đã sinh sống hàng chục năm ở Thiên Kinh, sau khi quân Tương vào thành, quân lính của Tăng Quốc Phiên xông vào cướp phá phủ Thiên Vương, lấy đi vô số chân châu bảo ngọc, sau một đêm, các tướng lĩnh quân Tương đều trở thành những phú ông. Nhưng kẻ đại phát tài chính là Tăng Quốc Phiên. Tăng Quốc Thuyên là em Tăng Quốc Phiên dung túng cho quân lính cướp bóc. Cướp được thứ gì quí hóa nhất, bọn này thường đem dâng hiến cho "cửu soái" Tăng Quốc Thuyên. Như vậy, hơn nửa số tài sản quí giá Thái Bình Thiên Quốc tích luỹ hàng chục năm trời đều trở thành gia sản riêng của nhà họ Tăng.

Triều đình nhà Thanh vốn đã để ý tới món tài sản khổng lồ của Thiên Kinh, nên hoàng đế mới hạ chiếu:

- Số của cải to lớn ở Kim Lăng được phân về các tỉnh bảo quản, chỉ dùng vào những việc ích nước lợi nhà!

Thánh chỉ trên nói rõ ràng: số tài sản to lớn ở Thiên Kinh không thể biến thành tài sản riêng của họ Tăng, phải biến thành của cải nhà nước ở các tỉnh. Miếng thịt béo bở đến miệng nhà họ Tăng còn bị cướp lại, nhưng Tăng Quốc Phiên là viên quan cực giảo hoạt. Hoàng đế Mãn Thanh ở Bắc Kinh xa xôi phỏng làm gì được ông ta? Tăng Quốc Phiên tính toán kỹ càng, chẳng chờ thánh chỉ kịp đến Thiên Kinh, ông ta đã ra lệnh quân Tương cho một mồi lửa đốt trụi Thiên Kinh sau khi đã cướp sạch sành sanh.

Ngọn lửa thiêu hủy hôm đó cháy suốt bảy ngày bảy đêm. Người đương thời ghi lại: "khói lửa bốc cao hàng mười đạo, kết tụ ở trên không như một quả núi, lâu lắm mà chưa tan".

Thiên Kinh thủ đô của Thái Bình Thiên Quốc một thời phồn hoa, bỗng chốc biến thành hoang tàn, đổ nát. Sau nạn lửa khủng khiếp đó, Tăng Quốc Phiên vội vã gửi tấu chương lên hoàng đế: "Lũ giặc trước lúc tháo chạy đã phóng hỏa đốt thành". Sau đó còn tấu tiếp: "Thu dọn sào huyệt cũ, không còn một thứ gì, vi thần cũng bị bất ngờ, thực là chuyện hiếm thấy!" Triều Thanh biết thế là giả, nhưng làm gì được Tăng Quốc Phiên! Thủ đoạn làm quan của Tăng Quốc Phiên là "giảo hoạt" trong cái "giảo hoạt".

6. TẦN CỐI VÀ TỐNG CAO TÔNG: AI LÀ KẺ CHỦ MƯU BÁN NƯỚC!

Sau khi Tần Cối từ triều Kim trở về, phản ánh với Triệu Cấu ý kiến của người Kim: "Người nam thì về nam, người bắc thì về bắc". Câu nói chứa nhiều hàm ý. Có thể hiểu là triều Tống cai trị miền nam, triều Kim cai trị miền bắc. Còn giải thích như thế nào về điều đó thì chỉ có Tần Cối mới biết được. Lần đầu gặp Triệu Cấu, Tần Cối nói triều Kim, Nam Tống mỗi bên quản một phương. Tức là nếu Nam Tống đồng ý cắt vùng đất miền bắc giao cho triều Kim, thì hai bên có thể bãi binh giảng hòa. Được Tống Cao Tông ủng hộ, Tần Cối đóng vai "nghị hòa đại thần", lấy việc "nghị hoà" làm nhiệm vụ. Ít lâu sau, Triệu Cấu thăng chức cho Tần Cối từ thượng thư lên phó tướng, rồi lên chánh tướng kiêm Khu mật viện. Cứ như vậy, Tần Cối nắm trọn quyền quân chính trong tay. Vì sao Tần Cối lại dám để xuất nghị hoà? Thứ nhất: Sau khi trở lại miền nam, Tần Cối nắm bắt được ý của Tống Cao Tông không muốn giành lại giang sơn, chỉ muốn làm một vị vua an nhàn hưởng lạc. Nắm được tâm địa của hoàng đế, lại được người thống trị cao nhất ủng hộ, nên ông ta mới dám giương cao ngọn cờ nghị hòa! Thứ đến, các quan viên trong triều, cũng giống như Tống Cao Tông, sau những năm tháng chiến tranh tàn khốc, ai nấy đều run sợ, chán ghét chiến tranh, chỉ muốn được sống trong hòa bình, yên vui. Có điều, trong số họ chẳng ai muốn lộ mặt làm "Hán gian", chịu sự nguyền rủa của người đời! Ngoài ra, triều Kim cũng cần có thời gian yên ổn để chỉnh đốn khu vực cai trị, để có điều kiện thực hiện mục đích xâm chiếm toàn bộ. lãnh thổ của nhà Tống sau này.

Trong tình thế đó, để làm vừa lòng cả Tống lẫn Kim, Tần Cối bất kể đúng sai trở thành đầu não của việc nghị hòa. Chưa đến một năm sau, Tần Cối tổ chức hơn hai mươi người trong triều thành "Cối đảng" tính chuyện đầu hàng. Từ đó về sau, Tống Cao Tông cũng như người thống trị triều Kim đều cho rằng chỉ có Tần Cối mới biết "nghị hoà". Bởi vậy, Tần Cối tuy bị Tống Cao Tông hai lần bãi chức tể tướng một thời gian, nhưng lại được phục chức ngay.

Sau khi được phục chức, Tần Cối lại càng điên cuồng, công khai yêu cầu Tống Cao Tông chỉ được bàn chuyện nghị hòa với riêng mình. Một lần nói đến chuyện nghị hòa, Tống Cao Tông bảo:

- Tần Ái Khanh! Việc nghị hòa trẫm ủy thác cho một mình khanh!

Tần Cối nói:

- Bệ hạ chưa cần kết luận vội, nên nghĩ thêm ba ngày nữa rồi hãy bàn tiếp.

Sau ba hôm, Tống Cao Tông lại đem chuyện ra bàn. Tần Cối lại yêu cầu nhà vua nghĩ thêm ba ngày nữa. Ba hôm sau, Tần Cối và Nam Tống hoàng đế đã đạt tới một hiệp nghị.

Tháng 10, năm Thiệu Hưng thứ 8, Tống Cao Tông triệu kiến Tần Cối. Họ Tần nói với hoàng đế:

- Bọn quan viên trong triều cứ lo ngày lo đêm nhưng chỉ đáng chầu rìa. Bọn họ không đáng là người quyết đoán đại sự quốc gia. Nếu bệ hạ muốn nghị hòa với triều Kim, thì xin bệ hạ chỉ bàn riêng với vị thần, không cho phép một đại thần nào can dự!

Tống Cao Tông cảm thấy Tần Cối có phần độc đoán, chuyên quyền. Nhưng quả thực, chỉ có mình Tần Cối làm được việc nghị hòa. Hơn nữa, mình đã ủy thác cho hắn việc này, nay nuốt lời thì không tiện, vì thế nhà vua đành phải đồng ý. Từ đó, Tần Cối nghiễm nhiên trở thành một đại thần về "nghị hoà".

Mọi người đều cho rằng Tần Cối là kẻ chủ mưu trong việc bán nước cầu vinh. Họ đã quên mất vai trò của Triệu Cấu. Giả sử Triệu Cấu không phải là vị vua thích an nhàn, là người có chí khôi phục cơ nghiệp Đại Tống, chịu đón hai hoàng đế Huy, Khâm quay về, thì dù có đến một trăm Tần Cối như vậy, cũng chẳng ai dám làm điều ngang ngược.

Nói chính xác hơn, Tần Cối chỉ là trợ thủ trong việc "bán nước". Kẻ chủ mưu chính là Triệu Cấu.

Khoảng năm Thiệu Hưng thứ 8, sứ thần Vương Luân và Cao Công Hội sang Kim giao thiệp về chuyện linh cữu Triệu Cát, được người Kim cho chở về nước. Trước khi rời Kim, Đạt Lại nói với hai người:

- Các ngươi trở về nói lại với hoàng đế các ngươi rằng lúc này đường đi đã rộng mở, có thể thực hiện nghị hòa được rồi đấy!

Trọng thần triều Kim, là Ngột Thuật Tắc đưa cho hai người một phong thư mang về cho Triệu Cấu. Thư viết: "Nếu Triệu Cấu biết khuất phục triều Kim, thì không những linh cữu Triệu Cát, sinh mẫu của Triệu là Vi thị được đưa về Nam Tống, mà ngay cả vùng đất Hà Nam cũng được trả lại".

Nghe được tin này, Tống Cao Tông sung sướng muôn phần, hân hoan ban cho Vương Luân rất nhiều tặng phẩm quý giá. Hôm sau, Vương Luân lại được cử sang nước Kim để đón chiếc quan tài về. Thực tế, Vương Luân muốn tỏ với triều Kim, Nam Tống hoàn toàn đồng ý với nguyện vọng của những người thống trị tộc Nữ Chân. Với chiêu bài nghị hòa, Vương Luân đang chơi trò hàng phục.

Những người thống trị triều Kim biết rõ tâm địa của Tống Cao Tông, họ liền cử Ô Lăng Tư Mưu và Thạch Khánh làm sứ thần, bày mưu tính kế, về ngay Hàng Châu tiếp nhận sự đầu hàng của Tống Cao Tông. Tin tức truyền đến Hàng Châu, triều dã náo động. Vương Thứ đang thị sát ở vùng Hoài Thương, được Triệu Cấu gọi gấp về triều bàn việc "nghị hoà". Vương Thứ thuộc phái chủ chiến.

Trên đường về Hàng Châu, ông ta đã viết xong tấu chương:

Việc tiên đế bắc chinh không trở về, làm cho trời đất, quỷ thần phải phẫn nộ. Bệ hạ có mối thù không đội trời chung với giặc. Nay sao lại nhịn nhục để tiếp sứ giả của chúng? Mọi người sẽ nghĩ thế nào đây? Bệ hạ còn định cắt đất nghị hòa với chúng? Khi đó, tài sản của thần dân sẽ ra sao? Làm thế nào để gìn giữ những vùng đất rộng lớn khác của chúng ta? Chỉ bằng giữ quách sứ giả của chúng lại.

Sau khi về đến Hàng Châu, thấy xu thế đầu hàng triều Kim đã rõ ở Triệu Cấu, ông ta lại viết tấu chương khác để phản đối "nghị hoà":

Khi bệ hạ tuần thú hai cung ở xứ bắc, mọi gian nan vất vả đều vượt qua. Ngay như sự biến Miêu, Lưu cũng không hề gì. Trời đất che chở cho bệ hạ. Ngày nay chưa khôi phục lại biên cương cũ mà tướng run, quân sợ, thật chẳng bằng ngày trước. Sao không nghĩ đến mối thù của cha mẹ, không bỏ mối nhục của tông miếu, không xét nỗi khổ của cung vì, thương tiếc máu của trăm họ, mà đã làm điều nghịch thiên, vô đạo, cung phục cho lũ Di Địch?

Về mặt thực tế, bản tấu chương muốn nói với hoàng đế rằng: đó không phải là nghị hòa mà là đầu hàng triều Kim ở phương bắc và xưng thần với họ. Nhưng cả hai bản tấu đều chung số phận: không ai ngó ngàng tới.

Những điều Vương Thứ trình tấu không phải Triệu Cấu không biết, song Triệu Cấu vốn chỉ thích an nhàn, không có lòng dạ nào lo khôi phục giang sơn! Nghe tin sứ thần triều Kim đến, dư luận ở Nam Tống thật xôn xao! Nhiều đại thần đòi gặp thánh thượng để nói rằng bọn Di Địch là không đáng tin! Ngay một số kẻ trong phái "nghị hòa" của Tần Cối cũng e ngại, sợ "quần chúng phẫn nộ, khó qua". Nhưng việc Triệu Cấu "uốn gối cầu hòa" đã được quyết định. Đối với những quan viên phản đối nghị hòa, nhà vua hoặc là cự tuyệt hoặc là đùng đùng nổi giận.

Sau khi sứ thần Đại Kim đến Hàng Châu, không những hắn không dâng trình "quốc thư", không thèm đến phủ tể tướng để bàn bạc với các đại thần Nam Tống, mà hắn còn lên tiếng yêu cầu văn võ quần thần Nam Tống phải đến chỗ hắn ở. Mọi người không chịu, cực lực phản đối. Về sau vì thời gian không cho phép, hắn mới chịu đến phủ tể tướng.

Qua bàn bạc, sứ thần triều Kim được bọn Tần Cối dẫn đi gặp Triệu Cấu. Ô Lăng Tư Mưu và Thạch Khánh xuất hiện như những người chiến thắng, chúng tỏ ra rất kiêu ngạo. Sau khi đưa trình quốc thư, còn yêu cầu Tống Cao Tông phải trả lời ngay. Triệu Cấu từ chối, bảo là để "bàn bạc với quần thần rồi trả lời sau".

Nội dung trong "quốc thư" như sau:

1. Trả lại quan tài tiên đế Triệu Cát.

2. Sinh mẫu Triệu Cấu là Vi thị được trở về.

3. Trả lại Nam Tống phần đất phía nam Hoàng Hà và phía bắc Hoài Thủy.

Ba vấn đề trên, hiển nhiên là Triệu Cấu rất mừng, tiếp nhận ngay, nhưng còn có mấy điều kiện sau nữa:

1. Phải thờ vua ở miền bắc. Xưng thần, cống nạp với triều Kim.

2. Triệu Cấu phải cởi bỏ hoàng bào nhà Đại Tống.

3. Tước bỏ hiệu Nam đế, chỉ là phiên thuộc của nước Kim.

Triệu Cấu đã muốn đầu hàng để được sống an nhàn trên nửa phần đất còn lại. Mong sao kỵ binh Nữ Chân không đánh xuống phía nam, thì điều kiện gì Triệu Cấu cũng nghe theo! Số đông các đại thần chủ trương nghị hòa của Nam Tống đều có mặt. Ngay đến những người này cũng không đồng ý quay về hướng bắc xưng thần. Nhất phẩm tể tướng Triệu Đình đứng ra phản đối. Chỉ có Tần Cối là người nhất nhất tuân theo ý chỉ của Triệu Cấu, đầu hàng vô điều kiện. Triệu Cấu đã nhiều lần nói với Tần Cối:

- Trẫm chỉ bàn riêng với khanh!

Ngay đến hoàng đế cũng ưng phủ phục quay về hướng bắc xưng thần thì còn gì để Tần Cối phải dè dặt nữa?

Ai là kẻ chủ mưu bán nước, mọi người chắc đã rõ!

Ngoài những điều kiện đầu hàng trong "quốc thư", kế tiếp còn có những điều khoản sỉ nhục khác, làm mọi người hết sức bất bình!

Sau đó ít lâu, nước Kim cử đến Nam Tống hai tên sứ giả là Trương Thông Cổ và Tiêu Triết. Trương Thông Cổ là chiếu dụ Giang Nam sứ, còn Tiêu Triết là Minh uy tướng quân. Xét về mặt quan hàm, đó là điều sỉ nhục đối với Nam Tống. Nước Kim gọi Nam Tống là "Giang Nam" như ngôn ngữ của Tống Thái Tổ đối với Nam Đường năm đó. Rõ ràng triều Kim không coi Nam Tống là một nước có chủ quyền! Nước Kim coi Nam Tống chỉ như một bang của mình. Còn "chiếu dụ Giang Nam sứ" được coi là "chiếu thư" về mặt ngoại giao. "Minh uy tướng quân" là có ý uy hiếp Nam Tống.

Trước khi bước vào biên giới Nam Tống, Trương Thông Cổ sai một viên quan thông báo cho triều đình Nam Tống nhận "chiếu thư". Khi nhận chiếu thư, viên quan phải quỳ xuống. Quan huyện phải lạy "chiếu thư". Ngay như Tống Cao Tông cũng phải cởi hoàng bào, mặc áo đại thần quỳ lạy" chiếu thư". Đồng thời họ còn yêu cầu hoàng đế Triệu Cấu cư xử với chiếu dụ sứ bình đẳng, lễ tiết như đối với một quí khách. Đó là một yêu cầu phi lý.

Triều đình bé nhỏ của Nam Tống lại một phen chấn động. Nhiều đại thần nhao nhao phản đối, dâng thư lên hoàng đế, yêu cầu chỉ trích hành vi vô lễ của triều Kim. Nhất là phái chủ chiến, cho rằng triều Kim quá ư xằng bậy, dâng sớ lên Cao Tông, tranh luận với Tần Cối, người người phản bác hành vi miệt thị của triều Kim! Đồng thời họ quả quyết rằng đằng sau cái gọi là nghị hòa hôm nay tất đã tồn tại những âm mưu thôn tính Nam Tống.

Nhưng Triệu Cấu chỉ muốn làm một vị hoàng đế nhỏ nhoi, nhàn nhã, nên không hề thụ lý một bản tấu chương phản đối" chiếu dụ" sứ triều Kim nào. Thậm chí nhà vua còn nói trước văn võ bá quan triều đình rằng:

- Để trăm họ miễn được can qua khổ ải, an cư lạc nghiệp, thì trẫm xin gánh chịu mọi điều oan khuất!

Còn hơn thế nữa, khi sứ Kim vừa đến biên giới, Triệu Cấu hạ lệnh Triệu Đồng ra đón và phải quỳ lạy "chiếu thư", tung hô ba lần vạn tuế chúc tụng hoàng đế nước Kim!

Quan binh trên suốt chặng đường nhìn thấy cử chỉ sỉ nhục hành vi mất quốc thể của Triệu Cấu, không ai là không xót xa rơi lệ. Triều dã Nam Tống cũng phẫn nộ, phê phán chính phủ Nam Tống là bất lực.

Sau khi từ Ô Mưu, Tư Mưu trở lại miền nam, Khu mật phó sứ Vương Thứ liên tiếp dâng sớ phản đối nghị hòa. Tiếp khi Trương Thông Cổ, Tiêu Triết đến miền Nam thì ông càng thêm bực. Vương Thứ là người đầu tiên yêu cầu Triệu Cấu phải trừng trị những kẻ nói đến nghị hòa và khi biết Triệu Cấu không tán thành, ông đã liên tiếp dâng sớ xin bãi miễn chức của mình. Ông quyết không làm quan ở một nước đầu hàng.

Quan biên tu lục phẩm Khu mật viện là Hồ Thuyên dâng sớ lên Triệu Cấu đòi chém Tần Cối, Tôn Cận và Vương Luân. Số viết:

"Vương Luân vốn là kẻ tiểu nhân vô lại, khi đi sứ đến Lỗ chuyên làm điều xằng bậy, người người nguyền rủa! Nay vô cớ đưa bọn Lỗ vào nước, mượn tiếng là chiêu dụ Giang Nam, nhưng thực chất là muốn cướp nước!

Nay không phí lời bàn về Vương Luân! Đến như Tần Cối, đại thần tâm phúc cũng như vậy. Bệ hạ như Nghiêu, Thuấn, Tần Cối không thể coi bệ hạ là Đường Ngu, làm bệ hạ như Thạch Tấn.

...

Tôn Cận coi là thân tình với Cối, leo tới chức tham tri chính sự, không xứng với lòng mong mỏi của muôn dân.

Thần thấy cần phải chém đầu Tần Cối, Tôn Cận! Thần quyết không thể đội trời chung với lũ Tần Cối. Phải xử chém và bêu đầu cả ba đứa! Sau đó, bắt giữ sứLỗ, trách tội vô lễ, rồi đem quân đi hỏi tội! Bằng không, thần chỉ còn cách nhảy xuống biển Đông mà chết vậy!"

Sau khi tấu chương xin chém đầu Tần Cối, Tôn Cận, Vương Luân để tạ tội với quốc dân dâng lên vua Tống, một số thái giám chính trực bí mật sao thành mấy bản truyền ra bên ngoài. Thế là trong thì triều thần, ngoài thì dân chúng truyền tay nhau đọc, dấy lên phong trào rầm rộ đòi "chém Tần". Dưới sức ép mạnh mẽ của nhân dân, Tần Cối, Tôn Cận cùng nhau dâng sớ chịu tội:

"Chúng thần đưa sứ Kim vào biên, tính kế lâu dài. Mọi việc trong triều thường phải giữ kín không dám tiết lộ. Nay Thuyên dâng tấu, cho chúng thần là kinh nhờn phép nước, nhân dân không tin tưởng. Chúng thần xin phủ phục chịu tội để yên lòng dân!".

Bọn Tần Cối biết lỗi. Nếu dân tình phẫn nộ thì khó thoát vì thế chúng mới dâng biểu lên hoàng thượng để thăm dò thái độ. Nhận được bản tấu, Triệu Cấu liền hạ chiếu cho hai người:

"Không phải bàn nhiều chuyện khanh nói. Trẫm đã quyết cứ thế mà làm. Đường đi chưa rõ, trong ngoài tất còn nghi hoặc! Lâu dần sẽ sáng tỏ, khanh không có tội gì!".

Quần chúng phẫn nộ, Tần Cối biết tội mà lo ngại, nhưng Triệu Cấu là một hoàng đế đứng ra gỡ tội cho hắn! Từ đó về sau, hắn ỷ thế hoàng đế, đẩy nhanh quá trình bán nước.

Lại nói tới đầu hàng ra sao, và nghi thức tiếp nhận sự đầu hàng.

Sau khi Trương Thông Cổ vào Hàng Châu, điều làm chính quyền Nam Kinh đau đầu nhất vẫn là tiến hành nghi thức đầu hàng như thế nào. Phần lớn các quan trong triều lúc đó đều thuộc "Cối đảng", những người thuộc phái đầu hàng. Nhưng nếu để Triệu Cấu phải quỳ lạy "chiếu thư" của triều Kim, vứt bỏ hoàng bào, thì ngay đến số này cũng không muốn. Triệu Cấu cảm thấy xấu hổ nếu phải làm như vậy, còn mặt mũi nào để nhìn lại thần dân Nam Tống! Triệu Cấu vốn đã quyết tâm khom lưng uốn gối đầu hàng. Nếu không có chuyện phải quỳ lạy nhận quốc thư trước mặt sứ thần nước Kim, thì còn gì phải bàn nữa? Có lúc Triệu Cấu đã từng hung hăng nói với gián quan Lý Nghị:

- Sĩ đại phu phải biết toan tính! Mong có ngày tươi sáng thì dù trẫm có phải quỳ lạy cả trăm lần cũng chẳng sao!

Như vậy là Triệu Cấu đã chuẩn bị tinh thần quỳ lậy để đón quốc thư triều Kim.

Triệu Cấu không sợ mất mặt, nhưng nhiều quan viên, kể cả lực lượng chủ hàng, đều không muốn tổn hại đến hoàng uy. Bởi vậy rất nhiều ý kiến được đưa ra ngay giữa ban ngày. Có người còn chủ trương để quốc thư ở nơi thờ cúng các tiên đế. Triệu Cấu quỳ lạy nhận quốc thư trông chẳng khác gì đang quỳ lạy trước các tiên đế.

Cuối cùng thì Tần Cối là người gỡ được thế bí cho Triệu Cấu. Ông ta thay mặt chủ nhân quỳ lạy trước "Giang Nam chiêu dụ sứ" triều Kim và "chiếu thư" mà hắn mang đến, với lý do "hoàng đế đang chịu tang không quỳ lạy được!"

Vào ngày 28 tháng Chạp năm đó, Tần Cối vừa là tể tướng vừa là người thay mặt hoàng đế, đến quán Hữu Bốc Xạ bái kiến Trương Thông Cổ, quỳ lạy nhận "chiếu thư" và hoàn tất mọi điều kiện khác nữa.

Tiếp nhận "chiếu thư" cũng tức là thừa nhận Nam Tống là bang thuộc của triều Kim, thừa nhận quan hệ quân thần giữa Kim và Tống. Lòng dạ bán nước của Triệu Cấu đã rõ! Chỉ cần giữ được non nước Giang Nam thì nhục nhã đến đâu Triệu Cấu cũng chịu được.

Triệu Cấu mới chính là tên bán nước.

Phần đông người ta đều hiểu Tần Cối là đại Hán gian, là kẻ bán nước, điều đó không sai, nhưng giả thử Triệu Cấu không muốn bán nước thì liệu âm mưu của Tần Cối có thành không? Nếu Tần Cối có đủ sức mạnh để thực hiện hành vi bán nước thì liệu thiên hạ có còn cần đến vị hoàng đế Triệu Cấu nữa không. Nếu như Tần Cối lừa dối Triệu Cấu để bán nước cầu vinh, thì sau khi Tần Cối chết, đường lối bán nước ở Nam Tống phải khác đi chứ? Song thực tế không phải như vậy!

Sau khi Tần Cối chết, nhiều lần Triệu Cấu thông báo với văn thần, võ tướng, thừa nhận quyết sách " giảng hoà" với triều Kim là của mình. Tần Cối tuy đã chết, nhưng hoàng đế vẫn không cho phép quần thần có ý kiến về điều ước đầu hàng " Thiệu Hưng nghị hoà". Triệu Cấu xác định rõ: đó là quốc sách cơ bản, cần phải kiên định. Rõ ràng hoàng đế Triệu Cấu giữ vai trò chủ đạo trong vấn đề uốn gối cầu hòa với triều Kim. Tể tướng Tần Cối chỉ đóng vai phụ. Kết luận đó đã được lịch sử chứng minh. Tháng 8 năm Thiệu Hưng thứ 18 (năm 1148), Triệu Cấu nói với

Tần Cối:

- Trẫm còn nhớ lúc khanh ở Lỗ về có nói:" Nếu muốn thiên hạ vô sự cần phải nam bắc rạch ròi, riêng biệt". Trẫm suy nghĩ mãi về việc nghị hòa, về ý kiến nhân dân, mãi sau mới quyết. Thoắt cái đã sáu năm, thiên hạ vô sự, rõ như khanh nói.

Thế mới biết, Tần Cối là người đề xuất vấn đề, còn toàn bộ phương châm, kế hoạch bán nước là do Triệu Cấu quyết định.

7. ĐẠI GIAN MÀ NHƯ TRUNG

Lũ gian thần trên sàn diễn thì chúng ta dễ dàng nhận biết còn như ở chốn quan trường thì rất khó. Trên vũ đài bọn gian thần thường xuất hiện với bộ mắt trát đầy phấn trắng xóa, còn nơi quan trường thì không thế, bọn gian thần thường có bộ mặt nghiêm nghị, cần kiệm liêm chính, nói điều đúng, quí lời hay, gìn giữ lễ nghĩa, nhường nhịn hiền tài, tôn kính người trên, khéo đường đối nhân xử thế. Trên thực tế những thái độ đó đều giả tạo, đều là mưu gian, nhằm phản dân hại nước, dối trên lừa dưới, tiêu diệt những người khác cánh. Loại "gian thần" miệng phật tâm xà, lòng lang dạ thú, lại mang bộ mặt hiền lành thì quả là khó phân biệt! Loại người này khi yếu thế thì chưa lộ mặt, nhưng một khi trọng quyền nắm gọn trong tay, thì mới thả sức hãm hại công thần, tàn sát lương dân.

Loại quan gian nhát gan như thỏ đế, làm láo báo hay, chỉ như lũ gà què ăn quẩn cối xay, kể cũng đáng giận, song chúng chẳng gây nên phong ba bão táp gì lớn. Còn chính bọn gian thần, đại hiểm đại ác, có bộ mặt còn hiền hơn Phật, "tên tuổi rơi vào thiên cổ", mới thật đáng sợ. Chúng làm tan rã triều chính, nguy hại đất nước. Như lúc đại gian thần Lý Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, Tần Cối kia bao giờ cũng có bộ mặt đại trung đại nghĩa! Như Vương Mãng đó, cho đến lúc đã xuống mồ mà ta cũng không dễ dàng gì phân biệt nổi, vì hắn luôn luôn đem cái "đại trung" để che giấu dã tâm thay triều đổi đại của mình!

Thời Đường Huyền Tông, Lý Lâm Phủ là nịnh thần, ác tướng nổi tiếng ở đời. Hắn thường nói ngon nói ngọt để mê hoặc Huyền Tông; ghen ghét những người hiền tài, thường đả kích bài xích để thanh trừng những người khác cánh. Đặc điểm rõ nhất ở loại người này là mặt mũi thì hiền lành, nhưng tâm địa thì thật xấu xa, họ là loại người "khẩu phật tâm xà". Để bò tới đỉnh cao của quyền lực, chúng chẳng từ một thủ đoạn nào, dù đó là mưu gian kế quỷ hiểm độc, và vô sỉ.

Trải qua bao sự luồn lọt nhọc nhằn, Lý Lâm Phủ lên tới chức thị lang, tuy chưa lấy gì làm hiển hách, nhưng quyền xét tuyển các quan ở trong tay hắn. Do có nhiều vị hoàng thân quốc thích, trọng thần danh tướng muốn mở rộng thế lực, củng cố địa vị của mình, họ đều muốn chọn những người thân tín trong số thí sinh đỗ đạt hàng năm để nắm những chức vụ quan trọng, vì vậy việc chọn lựa các quan viên trong thời Đường rất nghiêm ngặt. Đối với những người lo chạy cổng sau, một khi bị phát hiện, thì sẽ phải xử phạt rất nghiêm. Đến thời Đường Huyền Tông, những qui định đó chỉ còn là hình thức, hữu danh vô thực. Để mở rộng ảnh hưởng chính trị của riêng mình, ngay từ buổi đầu nhậm chức, Lý Lâm Phủ đã tạo cho mình một bộ mặt thanh liêm chính trực. Một số thí sinh, không biết lối cổng sau mà chạy, đem lễ vật tiền tài đến gõ cửa, phải cúp đuôi chạy thẳng vì ở cửa nhà Lý Lâm Phủ có dán một tờ giấy "ai dám mang lễ vật tới đều bị bắt giao cho bộ Hình trị tội". Thế là Lý Lâm Phủ được tiếng " quan thanh liêm". Tất nhiên đó chỉ là một thứ ngụy trang.

Theo qui chế của nhà Đại Đường, hàng năm danh sách các quan viên do bộ Lại tuyển chọn phải được niêm yết công khai. Có một lần, em Đường Huyền Tông là Ninh vương ngầm đưa cho Lý Lâm Phủ một danh sách trước lúc tuyển chọn, có ý bảo đây là thân tín của ta, cần phải chọn và phải sắp xếp vào những vị trí quan trọng.

Lý Lâm Phủ biết là phải cung phụng bọn quyền quí để giành lấy những thời cơ quí báu gây dựng vốn liếng chính trị cho riêng mình! Ninh vương được Đường Huyền Tông sủng ái nhất, đây chính là chiếc cầu nối quan trọng với người thống trị tối cao. Lý Lâm Phủ nhìn tờ danh sách mà mừng thầm, nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra khó xử, hắn lên giọng đứng đắn, nói:

- Thưa vương gia, việc này quả là khó khăn, một việc vi phạm đến luật pháp nhà Đại Đường, dễ mất mạng như chơi!... Hơn nữa, danh sách của ngài lại có đến hàng chục người!

Miệng nói như vậy, nhưng trong lòng hắn lại nghĩ khác: "nói chi tới mười người, riêng ngài, dù có tiến cử tới vài chục, hạ quan vẫn làm". Lý Lâm Phủ chẳng chờ xem phản ứng của Ninh vương ra sao, đã vội tiếp luôn:

- Đương nhiên vương gia giao cho việc này tức là đã tin tưởng ở vi thần. Thiên hạ là thiên hạ của hoàng gia, huống hồ đấy mới chỉ có mấy người! Vương gia đã có ý kiến về năng lực của mấy người này thì còn gì phải bàn nữa. Ngay như vị thần cũng lấy làm an tâm khi làm việc cho hoàng gia!

Những lời bợ đỡ trên thật tuyệt, vừa làm cho Ninh vương thích vừa tỏ rõ được lòng trung của mình. Nhưng về thủ đoạn sử dụng quyền lực của Lý Lâm Phủ không phải chỉ có thế. Tiến thêm một bước nữa, ông ta nói với Ninh vương:

- Vương gia tôn quí, để giữ gìn luật pháp của Đại Đường, không cho phép các đại thần có cớ làm việc tư túi, xin ngài viết thêm vào danh sách một vài thí sinh không quan trọng, để vi thần được quyền gạch đi. Như vậy mọi việc sẽ tốt đẹp hơn!

Ninh vương đồng ý ngay. Liền chọn ra một vài thí sinh trong danh sách, quen nhưng không thân, điền thêm vào phía dưới.

Hôm công bố danh sách thí sinh được chọn, Lý Lâm Phủ còn tuyên bố một tin quan trọng: "Người nào nhờ cậy Ninh vương nói giúp, người ấy bị loại vì đó là hành vi làm bại hoại kỷ cương triều chính". Nghe xong, người người đều sởn tóc gáy, khâm phục Lý Lâm Phủ là người to gan. Đường trên ngõ dưới, truyền tụng Lý Lâm Phủ thật chí công vô tư. Những thí sinh chữ nghĩa uyên bác nhưng bị đánh trượt cũng nói:

- Ngay như Ninh vương mà nói chuyện tình cảm cũng chẳng xong, thật hiếm có một người như Lý thị lang. Chúng mình có bị đánh trượt cũng chẳng nên oán trách.

Một số quan viên chưa có ô dù to thì nghĩ rằng: "Lý Lâm Phủ tất phải được hoàng thượng sủng ái, nếu không sao lại dám to gan như vậy! Dám công khai đụng đến cả Ninh vương!" Một số khác, tuy chức quyền cao hơn, vẫn phải tìm đến cầu thân với Lý Lâm Phủ.

Còn Ninh vương thì sao ? Tất nhiên là mừng rỡ lắm! Ninh vương coi Lý Lâm Phủ là người trung thành nơi triều chính, luôn luôn năng động, biến hóa, mỗi lần gặp vua, Ninh vương thường hết lời tán thưởng ông ta.

Câu chuyện Lý Lâm Phủ dám phản bác Ninh vương truyền đến tai Đường Huyền Tông. Đây mới là điều quan trọng! Đường Huyền Tông long nhan ngời ngời, nói với thân tín rằng:

- Lý Lâm Phủ là người chính trực, một nhân tài hiếm thấy, nhất thiết phải trọng dụng.

Lý Lâm Phủ là người như vậy, những âm mưu quỉ kế được che kín như bưng. Một kẻ phá hoại kỷ cương pháp chế, gian giảo nhưng lại được tiếng là trung. Lý Lâm Phủ một tay thao túng triều dã, song lại được Đường Huyền Tông, Đường Ninh vương hết lời tán thưởng.

Đó chính là một âm mưu thâm độc, "một mũi tên trúng hai đích".

Lý Lâm Phủ là một tên gian thần linh hoạt, nhạy bén, luôn xuất hiện dưới bộ mặt "trung" với hoàng đế. Có một năm, Đường Huyền Tông tuần du đến Đông Đô, Lạc Dương. Theo lệ thường thì phải đến đầu đông mới trở lại Tràng An, vì khi đó đồng ruộng không còn hoa màu.

Nhưng dạo đó, Đường Huyền Tông tâm tình có phần bất định, đêm đêm cứ nhìn thấy "quỉ", nên muốn được trở lại kinh thành sớm hơn. Lúc này đang là mùa lúa trổ, tổ tướng Trương Cửu Linh sợ lũ tùy tòng cùng vệ đội hoàng gia đông đảo giẫm nát mất hoa mầu, liền dâng sớ lên Đường Huyền Tông, chờ sang thu, khi mùa màng thu hoạch xong, hãy lên đường. Huyền Tông cũng không tiện nói là Đông Cung có quỉ, nên hai người quyết định không xong, phải đưa ra để quần thần bàn định. Khi mọi người. có ý kiến thì Lý Lâm Phủ không nói một câu nào. Đến lúc mọi người ra về, Lý Lâm Phủ khập khiễng theo sau. Đường Huyền Tông trông thấy liền gọi lại, hỏi chân đau làm sao. Lý Lâm Phủ quay ngay lại nói với hoàng đế:

- Dạ, chân hạ thần không đau, chỉ là muốn nói những suy nghĩ của mình với hoàng thượng.

Huyền Tông nói luôn:

- Trình bầy đi.

Lý Lâm Phủ tâu:

- Người xưa nói: "Khắp thiên hạ có chỗ nào không phải là đất của vua"? Từ Lạc Dương đến kinh thành Tràng An, bất quá chỉ như Đông Cung đến Tây Cung, hoàng đế đi lúc nào mà chẳng được, cớ gì phải đưa ra quần thần bàn với bạc? Trương Cửu Linh tuy là trọng thần trong triều, nhưng làm việc thất sách lắm! Đương nhiên, cả đoàn người ngựa đông đúc như vậy tất phải giẫm nát hoa mầu, có điều, bệ hạ có cả thiên hạ thì một ít hoa màu như vậy có đáng kể gì? Hà tất gì mà phải từ bé xé ra to? Đến cuối vụ thu hoạch ta miễn giảm cho dân một ít thuế ruộng là xong! Chẳng nhẽ long thể của hoàng thượng không bằng một ít hoa màu hay sao?

Mấy câu nói của Lý Lâm Phủ làm mặt rồng rạng rỡ. Đường Huyền Tông coi Lý Lâm Phủ là trung thần. Đồng thời, Trương Cửu Linh, một người có chức vụ cao hơn, bị chỉ trích. Đó là một mưu kế biến gian thành trung.

Sau khi thượng đài, cuộc đấu tranh chính trị đầu tiên của Lý Lâm Phủ là việc phế lập thái tử. Võ huệ phi mật tấu với Huyền Tông là thái tử Lý Kỳ thường lén chê trách hoàng đế, kéo bè kéo cánh lập "đảng thái tử". Đường Huyền Tông nghe xong lấy làm phẫn nộ, định phế thái tử Lý Kỳ. Lúc thượng triều, Trương Cửu Linh cực lực phản đối, cho rằng thái tử là người khoan dung, nhân đức, chưa có sai sót gì. Đường Huyền Tông càng thêm phẫn nộ. Lúc mọi người thảo luận ở trong triều, Lý Lâm Phủ lại như trước, không nói một câu nào, chờ khi mọi người đi rồi, ông ta mới nói với Đường Huyền Tông: - Ai làm thái tử, là việc riêng của hoàng gia, can chi quần thần bên ngoài phải bàn bạc. Thánh thượng muốn lập ai, phế ai, cứ nghĩ mà quyết, không việc gì phải nghe ý kiến các đại thần!

Từ đó, Đường Huyền Tông càng coi Lý Lâm Phủ là trung thần của mình và xa dần Trương Cửu Linh, còn giao hết mọi việc cho Lâm Phủ.

Lý Lâm Phủ sợ nhất người có thể lực, người tài, đó là mối uy hiếp của ông ta. Phàm thấy Đường Huyền Tông coi trọng ai thì lập tức Lý Lâm Phủ giăng bẫy làm cho người đó phải sập.

Lý Thích Chi là cháu của Đường Thái Tông, là người có năng lực, hiểu biết rộng trong số tông thất nhà Đại Đường. Đường Huyền Tông bổ nhiệm Lý Thích Chi làm tể tướng. Chi trở thành đối thủ nặng ký trong cuộc tranh giành quyền lực với Lý Lâm Phủ. Để nắm trọn đại quyền vào tay, Lý Lâm Phủ quyết định giăng bẫy.

Lý Lâm Phủ có nhã ý đến phủ Lý thăm Lý Thích Chi. Lúc đầu hai người con cà con kê, tâm tình như những người bạn cũ. Lý Lâm Phủ tỏ ra hết sức kính trọng Lý Thích Chi. Chờ khi đối phương mất cảnh giác, lúc câu chuyện đến chỗ hấp dẫn nhất, Lý Lâm Phủ mới chuyển thể, ghé sát vào tai Lý Thích Chi thì thầm:

- Ở Hoa Sơn có quặng vàng, đào lên được thì hay biết mấy, tiếc là hoàng thượng không biết!

Kẻ nói thì làm như vô tình, người nghe thì có ý. Lý Thích Chi đang buồn vì quốc khố rỗng không, thu không bù chi, nếu đào được mà dùng thì bổ sung được ngân khố, vừa đỡ phải rầu lòng.

Hôm sau, Lý Thích Chi đã đi gặp hoàng thượng, mong muốn được khai quặng ở Hoa Sơn. Nhà Đường vào thời Đường Huyền Tông, triều chính hỗn loạn, kinh tế suy thoái. Nghe nói Hoa Sơn có nhiều vàng, Huyền Tông mừng rỡ lắm. Hôm sau nữa, đến lượt Lý Lâm Phủ gặp hoàng thượng, Đường Huyền Tông liền đem chuyện mỏ vàng ra hỏi. Lý Lâm Phủ nói:

- Thánh thượng, Hoa Sơn có mỏ vàng thần đã biết từ lâu. Nhưng mệnh mạch của thiên triều Đại Đường chúng ta đều tụ cả ở trong núi, nếu đào bới một diện tích lớn, khí đế vương xung tán hết, chẳng phải là tham lợi nhỏ bỏ lợi lớn hay sao? Lấy được một ít vàng là chuyện nhỏ, bỏ mất giang sơn ngàn năm của Đại Đường chúng ta mới là chuyện lớn. Vì vậy chưa bao giờ vi thần bàn đến chuyện đào vàng.

Nghe xong, Đường Huyền Tông toát cả mồ hôi hột: Nếu nghe lời Lý Thích Chi thì đã mắc phải vạ lớn. Lý Thích Chi là tể tướng mà đến việc như thế cũng không biết thì trị thế báo quốc thế nào đây! Xem ra chỉ có "Lý Lâm Phủ mới thực là trung thành".

Sau khi suy nghĩ như vậy, Đường Huyền Tông liền xuống chiếu: "Từ nay, mọi tấu chương trước khi đưa cho trẫm phải được bàn bạc qua với Lý Lâm Phủ". Địa vị của Lý Thích Chi tự nhiên tụt xuống hàng ngàn trượng. Lý Lâm Phủ ngày càng được tin dùng.

Dương Quốc Trung cũng là một gian thần thời Đường Huyền Tông. Trung nhờ vào quan hệ đàn bà mới bò được tới chức tể tướng cao sang. Còn trình độ gian giảo của Trung thua xa Lý Lâm Phủ. Kế gian duy nhất của Trung là dối trên lừa dưới, coi việc triều chính như một trò đùa, chỉ biết lấy lòng Đường Huyền Tông. Năm Thiên Bảo thứ 12, Quan Trung đại nạn, trước hết là mưa to gió lớn phá hoại mùa màng, sau đó là ba tháng nắng hạn, tiếp theo là nạn sâu bệnh, Bình Nguyên Quan Trung mùa màng mất trắng. Ở trong cung thăm thẳm, Đường Huyền Tông vô cùng rầu rĩ. Một hôm, trước mặt bá quan văn võ, Huyền Tông cử Dương Quốc Trung đi thị sát tình hình. Dương Quốc Trung có sự chuẩn bị trước, liền đưa cho Huyền Tông mấy nhánh mạ thật non xanh rồi nói:

- Hoàng thượng thương yêu trăm họ, đã cảm động đến cả trời đất, nên nạn nước, nạn hạn hán, nạn sâu bệnh đều không dám phương hại đến mùa màng; Thánh thượng xem mấy nhánh mạ này tươi tốt đấy chứ?

Đường Huyền Tông vốn là vị vua không màng chính sự, nhìn thấy mấy nhánh mạ đẹp cho là thật, tưởng rằng Dương Quốc Trung là một đại trung thần tài ba. Các đại thần khác hiểu hơn ai hết, mùa màng không những thất bát nghiêm trọng mà ngay đến một biện pháp cứu nạn cũng không có, nhưng không ai dám mắc tội với Dương Quốc Trung, đương nhiên họ cũng không dám tâu trình sự thực với Huyền Tông.

Tần Cối là một viên quan mưu mô thâm độc vô cùng, lúc nào ông ta cũng tỏ ra cung thuận trước mặt hoàng đế, hết lòng trung thành, hoàng đế muốn làm việc gì, ông ta đều nhất nhất tuân theo thánh chỉ. Ví như Triệu Cấu, e xấu hổ khi phải quỳ trước chiêu dụ sứ Giang Nam của triều Kim thì Tần Cối đã quỳ thay hoàng thượng, gánh chịu lời nguyền rủa của thiên hạ. Lúc bình thường, ông ta cũng hay chú ý đến mọi việc. Một lần nhìn thấy con mặc chiếc áo cánh mầu vàng, ông ta sa sầm nét mặt, tỏ ra tức giận, mắng luôn:

- Ai cho con được mặc màu vàng? Thực không còn biết trời cao, đất dày là gì! Thay ngay áo khác!

Mọi người lan truyền tin đó, Triệu Cấu nghe được mừng rỡ, liền nói với quần thần:

- Tần ái Khanh là người cẩn thận, có lòng trung lắm thay!

Một lần, phu nhân Tần Cối vào cung nói chuyện phiếm với hoàng thái hậu. Hoàng thái hậu nói:

- Ta rất thích ăn "tử ngư"2, tiếc là gần đây trong cung hiếm thấy, mà dù có thì cũng không được to!

Tần vương thị nói:

- Ở nhà thần thiếp có. Để thần thiếp dâng lên hoàng thái hậu một "tử ngư" thật to.

Nghe xong, hoàng thái hậu tỏ ra khó chịu. Tần vương thị biết mình lỡ lời, vội lảng sang chuyện khác. Sau khi về nhà Vương thị nói lại với chồng.

- Tướng công, hôm nay thiếp mắc lỗi với hoàng thái hậu!

Tần Cối biết chuyện, liền cho người chọn hơn một trăm con cá quả tiến vào cung. Cá quả là loại cá thường thấy, to hơn tử ngư nhiều. Hoàng thái hậu nhìn cá tiến không khỏi không cười nhạt, và quay lại nói với các cung nữ:

- Ta muốn nói con đàn bà ngốc nghếch đó làm sao mà giầu có hơn ta được. Ngay đến "tử ngư" là gì cũng chẳng hiểu. Rõ thật là ngu hết chỗ nói!

Thực tế là Tần Cối đã giữ sĩ diện cho hoàng thái hậu, đồng thời bảo vệ được mạng sống cho phu nhân, địa vị của mình.

Gian thần đâu phải chỉ là những kẻ bất tài, tri thức kém cỏi! Bọn họ gian mà vẫn thành công vì họ khéo giả bộ có tấm lòng trung trước mặt hoàng đế, song trong cái "trung" ấy bao hàm cả những mưu mô cực kỳ gian trá.

Người dịch: Ông Văn Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.