1. "TA LÀ MỘT VIÊN QUAN TỐT"

Mưu Trí Chốn Quan Trường

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương X THUẬT NGỤY BIỆN

❊ ❊ ❊

Công Tôn Long là người ngụy biện giỏi trong lịch sử Trung Quốc, một nhân vật đại biểu "danh gia" trong "Chư Tử Bách Gia" thời kỳ Chiến Quốc.

"Bạch mã phi mã" là chuyện ngụy biện nổi tiếng, Công Tôn Long nêu ra trong thiên "Bạch mã luận" của mình. Ông ta nói:

- Mã là chỉ cái hình dáng, bạch là chỉ màu sắc. Bạch mã là chỉ hình dáng con ngựa và màu trắng, vừa không phải là ngựa vừa không phải là màu trắng. Cho nên nói: "Bạch mã phi mã".

Kỳ thực, bất kỳ một sự vật cụ thể nào cũng đều là sự thống nhất đối lập giữa cái chung và cái riêng. Lại nói về sự vật cụ thể là bạch mã, nó vừa mang tính riêng của bạch mã, không giống các màu sắc khác của hoàng mã, hắc mã, lại vừa mang tính chung của loài ngựa. Cái chung chỉ có thể tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà tồn tại.

Vì thế phải nói bạch mã là mã. Công Tôn Long chỉ nhấn mạnh sự khác biệt giữa cái riêng và cái chung, rồi tuyệt đối hóa sự khác biệt đó, phủ nhận quan hệ nội tại của chúng. Từ đó hình thành thuyết ngụy biện của ông ta.

Phép ngụy biện là một thủ đoạn biện hộ quan trọng trong chốn quan trường.

Ngạn ngữ cổ nói: "mặc cho người cứ cười cợt, chửi rủa, ta là viên quan tốt". Dù là người khác nhạo cười, nhục mạ thế nào đi nữa thì ta vẫn là một viên quan thật thú vị. Những kẻ muốn tiếm đoạt chính quyền quốc gia, bọn trộm cướp, bọn tham quan ô lại, lũ tôi tớ tay sai, không ai là không muốn che đậy khuyết tật của mình.

Trước khi Viên Thế Khải thực hành đế chế, cũng tìm hiểu xem dư luận xã hội đối với việc đó như thế nào. Họ Viên lệnh cho Nội sử giám hàng ngày phải trình lên báo chí của các nơi.

Để lấy lòng Viên Thế Khải, Nội giám Nguyễn Trung Khu cố ý chọn đưa lên mấy tờ báo của các vùng Kinh, Tân, Hỗ. Viên Thế Khải xem xong liền hỏi:

- Vì sao mấy tờ báo này đều có một giọng điệu là ủng hộ ta xưng đế nhỉ? Còn mấy tờ báo khác cũng nổi tiếng ở Thượng Hải sao không thấy?

Nguyễn Trung Khu khom lưng đáp:

- Dân tình hết lòng mong ngài xưng đế. Vì thế mấy tờ báo này mới hết sức ủng hộ. Còn vài tờ báo khác ở Thượng Hải phản đối việc ngài xưng đế. Bỉ nhân đã cho bộ hạ đến cấm chỉ. Một vài nhà vì kinh phí thiếu thốn đã cho báo đình bản!

Viên Thế Khải không biết Nguyễn Trung Khu đã nói bừa để lấy lòng. Ông ta vừa vuốt râu vừa cười lớn, và nói:

- Trung Khu, lòng dạ nhà người hẹp hòi lắm. Bụng dạ của tể tướng phải rộng rãi, chứa được cả một chiếc thuyền. Xem ra chức tể tướng không có phần nhà ngươi rồi! Còn ta thì chẳng cho là đúng. Mặc cho ai cứ cười cợt, chửi rủa, ta vẫn cứ là hoàng đế.

Viên Thế Khải mặt dày mày dạn, dùng một số văn nhân trong cái gọi là "sáu quân tử" của hội Trù An giúp Viên khoa trương thanh thế, tạo dư luận tiến hành đế chế. Hội này có tác dụng rất lớn.

"Sáu quân tử Trù An" là Dương Độ, Tôn Dục Quân, Nghiêm Phục, Lưu Sư Bồi, Lý Tiếp Hòa và Hồ Anh.

Một hôm, "sáu quân tử" dùng bữa. Sau một vài tuần rượu, Hồ Anh ngật ngưỡng lên giọng:

- Bên ngoài bảo sáu chúng mình là lũ "chó săn". Vậy chúng mình có phải là chó không nhỉ?

Dương Độ vốn là kẻ nhanh miệng vội đáp ngay:

- Chúng ta ủng hộ đế chế, thực hành cứu nước. Tự vấn lòng mình chẳng thấy có gì sai trái. Bọn họ có thể "loạn ngôn", chúng ta cứ coi như chẳng có gì! Còn như lấy hai chữ "chó săn" hòng biểu dương chúng ta, thì ta đây chó cũng chẳng chó mà săn cũng chẳng săn.

Tôn Dục Quân lại nói một cách khác:

- Đệ chẳng nghĩ như vậy. Đệ chỉ biết trung thành với đế chế cho đến hết đời! Đệ là chó cũng được, săn cũng được.

Nghiêm Phục là người có học. Viên Thế Khải muốn thực hành đế chế cần những người có học đi tiên phong mở đường. Đã vận động Lương Khải Siêu nhưng chưa kết quả. Nên tìm Nghiêm Phục thay thế vậy! Dương Độ nhận lệnh của họ Viên đến quan hệ với Nghiêm Phục. Nghiêm chẳng thú vị gì với chuyện này. Nhưng khi Dương Độ nâng ông ta lên thành người lập hội Trù An thì ông ta không hề phủ nhận. Thế là Dương Độ biến ông ta thành người cùng hội cùng thuyền. Khi nghe Dương và Tôn bàn tán như vậy, Nghiêm Phục tiếp luôn:

- Suy nghĩ về ý kiến hai huynh, đệ thấy đệ là chó cũng chẳng phải chó, nhưng săn thì nên săn.

Cuối cùng mới đến Hồ Anh:

- Đã thế thì đệ là chó cũng được nhưng săn thì không!

Sáu quân tử trong hội Trù An đem lời chửi của mọi người làm đầu đề câu chuyện. Họ biện luận mà cảm thấy kiêu ngạo. Họ chẳng thấy nhục mà chỉ thấy vinh.

Ngày hôm sau, những lời biện luận của "bốn con chó" đã lan truyền khắp Kinh Tân. "Quảng Trí báo" ở Thiên Tân có một bức phác họa về "chó săn": Bốn chó ngự ở bốn góc đông, tây, nam, bắc. Chó cũng chẳng chó, mà săn cũng chẳng săn: có hình đầu người thân chó, đứng yên một chỗ. Chó cũng được, săn cũng được: một con chó ngẩng cao đầu, bốn vó bon nhanh. Chó cũng chẳng phải chó, nhưng săn thì nên săn: có hình đầu người thân chó, hăng như con tuấn mã. Là chó cũng được nhưng săn thì không: một con chó nhìn ra xa, bốn vó cắm xuống đất. Viên Thế Khải ngồi giữa bức tranh.

Trong "tranh chó săn", mỗi chó một dáng vẻ riêng, trông thật sống động. Bức tranh đầy vẻ châm chọc và cười nhạo. Từ đó, Từ Lâm Đường lại có thêm một câu chuyện: "Lời lẽ của chó săn".

Chẳng kể gì lời người khác nhạo cười, lũ chó săn vẫn cùng với chủ - Viên Thế Khải khôi phục lại nền đế chế trên vũ đài lịch sử Trung Quốc.

Nguyên đán năm 1916, Viên Thế Khải quyết định dùng kỷ nguyên "Hồng Hiến" để chính thức lên ngôi. Tiếp đó, hạ lệnh, trên các văn bản ngoại giao đều phải dùng mấy chữ: "Ngày x tháng x Hồng Hiến năm đầu".

Cả nước trên dưới lập tức phản đối nền đế chế của Viên Thế Khải. Cuộc vận động phản đế của nhân dân Trung Quốc ngày càng phát triển mạnh mẽ. Họ cảnh cáo và đòi Viên "tạm hoãn cải biến quốc thể". Công sứ các nước ở Bắc Kinh cũng cự tuyệt các văn thư ngoại giao có niên hiệu "Hồng Hiến". Viên Thế Khải đành phải hạ lệnh xưng với ngoài là "Trung Hoa Dân quốc" và dùng kỷ niên là Trung Hoa Dân quốc. Đối nội, nhất thiết phải dùng kỷ niên là "Hồng Hiến", xưng đế quốc. Vì vậy, ở Trung Quốc lúc đó vừa là Dân quốc vừa là đế quốc. Tổng thống và hoàng đế tồn tại song song.

Trước tình hình đó, một vị mưu sĩ của Viên Thế Khải nói:

- Đối nội và đối ngoại khác nhau e mất sự tôn nghiêm quốc thể!

Viên Thế Khải chẳng e ngại gì, nói:

- Khỏi lo! Ngày tháng trên các văn kiện ngoại giao, trăm họ đâu có nhìn thấy. Không thể biết được! Cứ nhăng cuội như vậy cho xong! Hơn nữa, ta là hoàng đế Trung Quốc, chứ đâu phải vua chúa của nước ngoài. Người nước ngoài không thừa nhận quốc hiệu Hồng Hiến thì mặc họ! Trên đời này có bức tường nào mà ngăn được gió. Một hôm triều đình phát đi hai loại văn kiện. Một gửi trong nước, một gửi nước ngoài với quốc hiệu và kỷ niên khác nhau. Một người hay chuyện biết được điều đó, liền soạn ra một đôi câu đối để giễu cợt. Nội dung như sau:

"Lưỡng phong thư chân câu kỳ, kỳ nhất biên biểu Dân quốc, nhất biên biểu Hồng Hiến"

"Tứ cá tự ngã yếu vấn, vấn đáo để thị tổng thống, đáo để thị hoàng đế"15

Nhưng Viên Thế Khải vẫn với tâm lý "ta là viên quan tốt", chuẩn bị hưởng thụ nhiều điều tốt lành trong giấc mơ "hoàng đế tổng thống" của mình.

Xưa đi nay đến, quan trường là bể khổ. Người thanh liệu có bao lăm? Kẻ đục thì nhiều như lông thú. Những kẻ độc đoán chuyên quyền, mưu mô giành giật, bị người đời chỉ trích nguyền rủa, thì luôn lấy câu "mặc cho ai cứ cười cợt, chửi rủa, ta vẫn là quan tốt" để biện giải cho những hành vi tội ác của mình. Mới hay, hiểu được phép biện hộ quả là có lợi!

Để phục hồi đế chế, Viên Thế Khải còn mời cả một người Mỹ đến làm cố vấn.

Ông ta từng là giáo sư pháp chính, hiệu trưởng một trường đại học nổi tiếng ở Mỹ. Về sau được họ Viên trả lương cao nên mới đến Trung Quốc. Người bấy giờ gọi ông ta là "bác sĩ", "tinh thông chính trị học".

Sau khi đến Trung Quốc, ông ta ra sức giúp đỡ đề xuất những chứng cứ lý luận để họ Viên phục hồi đế chế. Ngày mùng 10 tháng 8 năm 1915, ông ta phát biểu trên báo bài "Bàn về cộng hòa và dân chủ", miệt thị Trung Quốc là "nước dân trí thấp kém. Hằng ngày người dân không biết gì về chính sự, không hiểu biết chính trị, tiến hành một nền cộng hòa là không có kết quả". Ông ta cho rằng: "Trên thế giới, quân chủ ưu điểm hơn dân chủ, ở Trung Quốc dùng chính thể quân chủ có hơn không!".

Quan điểm của ông ta được các văn nhân trong tay họ Viên đề cao, tâng bốc trở thành một trong những cơ sở chủ yếu phục hồi đế chế.

Giấc mộng hoàng đế trong tám mươi ba ngày đã kết thúc, họ Viên qui thiên. Ông người Mỹ đề xướng đế chế, bị nhân dân đuổi đánh như một "con chuột qua đường", đành phải cuốn gói chuồn thẳng!

Về nước, ông ta không hề kể chuyện những ngày ở Trung Quốc. Từ chối gặp người Trung Quốc. Biết mình đã làm những điều không hay ở Trung Quốc.

Chẳng dè một hôm, có mấy lưu học sinh Trung Quốc bắt gặp ông ta ngay trên đường phố. Họ túm lấy và một học sinh đã hỏi:

- Thưa tiên sinh! Ngài sống ở một nước cộng hòa, vì sao ngài lại cho đế chế là tốt đẹp hơn?

Và khi ông ta chưa kịp phản ứng gì, thì một học sinh khác, xem ra chẳng khách sáo gì hỏi luôn:

- Những việc ngài làm ở Trung Quốc, chẳng phải là ngài đã phản bội lại nền cộng hòa hay sao?

Ông ta đâm quẫn. Mãi sau mới lấy lại được tinh thần và nói:

- Các ông hỏi rất hay, bây giờ ta mới trả lời. Ta... đúng là ta đã sinh trưởng ở một nước cộng hòa, hít thở không khí trong lành ở nước cộng hòa. Trong đầu ta cái gì ở nước cộng hòa cũng đẹp. Nhưng khi ta đến Trung Quốc, một nước có cả ngàn năm chuyên chế, hít thở bầu không khí ở một nước chuyên chế cũ, ta lại cảm thấy chuyên chế cũng rất đẹp! Xem ra bầu không khí ở quí quốc đã làm hỏng mất đầu óc của ta, chứ ta đâu có phản bội lại cộng hòa, hoặc đảo lộn trật tự ở quí quốc.

Mấy lưu học sinh Trung Quốc giận quá. Họ quát mắng một chặp:

- Ngài định giở cái trò thối thây gì thế. Chúng ta căm giận thực sự. Mau cút đi cho rảnh!

Ông ta vội vã mất hút trong đám quần chúng.

Ông ta ngụy biện để che giấu những sai lầm trong thời gian ở Trung Quốc.

2. AI LÀ KẺ CHỦ MƯU

Tống Giáo Nhân, người Đào Nguyên, Hồ Nam, là ủy viên đồng minh cũ, là trợ thủ đắc lực của Tôn Trung Sơn. Tháng 8 năm 1912, Đồng minh hội cải tổ thành Quốc dân đảng. Tôn Trung Sơn được cử làm thủ lĩnh. Nhưng thủ lĩnh không làm việc cụ thể, mà Tống Giáo Nhân là người thay mặt xử lý mọi việc của đảng. Họ Tống mới là người lãnh đạo thực sự của Quốc dân đảng.

Tống Giáo Nhân nhiệt thành với hội nghị chính trị miền tây. Ông muốn thông qua tuyển cử ở hội nghị để Quốc dân đảng chiếm được đa số phiếu, từ đó mà khống chế hội nghị, thành lập một nội các của chính đảng theo thể chế dân chủ hiến pháp. Nước Trung Quốc bước vào quĩ đạo nền dân chủ hiến chính, bảo đảm một "sự trị an lâu dài". Vì vậy, sau khi ra đời Quốc dân đảng trở thành thế lực quan trọng phản đối nền chính trị độc tài của Viên Thế Khải,

Viên Thế Khải chăm chú theo dõi hoạt động của Quốc dân đảng; tìm trăm phương ngàn kế thao túng các chính đảng hòng làm suy yếu lực lượng Quốc dân đảng.

Mặc dù vậy, trong cuộc bầu cử của quốc hội vào năm 1912 và đầu năm 1913, Quốc dân đảng vẫn giành thắng lợi. Trong số nghị viên hai viện Tham nghị và Chúng nghị, Quốc dân đảng chiếm được 392 ghế. Các đảng phái khác chiếm 223 ghế. Quốc dân đảng hoàn toàn hài lòng, chuẩn bị lợi dụng ưu thế trong quốc hội tổ chức "Nội các chính đảng" thực sự. Có dự kiến Tống Giáo Nhân sẽ là thủ tướng nội các.

Đầu năm 1913, Tống Giáo Nhân phấn khởi rời Bắc Kinh đến các tỉnh miền nam tuyên truyền nền chính trị của chính đảng. Ở những nơi dừng chân, Tống đều phát biểu phê bình chính sách một năm gần đây của chính phủ Viên Thế Khải. Những lời diễn thuyết, những bài đăng

báo của Tống đều có tiếng vang lớn. Mọi người cho rằng Tống là người thích hợp nhất trong việc đứng ra tổ chức nội các mới.

Nhưng Tống Giáo Nhân không ngờ một việc chẳng lành sắp đến với ông.

Tối ngày 20 tháng 3, khi Tống Giáo Nhân trên đường từ Thượng Hải đi Bắc Kinh, một kẻ thâm thấp đã bắn trúng vào sườn phải của ông. Trong khoảnh khắc hung thủ đã đi lẫn vào đám đông, mất dạng.

Thấy thuốc gắp đạn ra và cho biết đạn có thuốc độc. Mãi lúc sau, Tống Giáo Nhân mới tỉnh lại và nói với Hoàng Hưng, Liêu Trọng Khải, Vu Hữu Nhiệm:

- Lần này lên bắc, mình ra sức điều hòa ý kiến giữa miền nam miền bắc, tập trung lực lượng cả nước đối phó với bên ngoài... Mình chẳng sống được bao lâu nữa. Còn nhiều điều muốn nói lắm! Các ông lấy hộ mình giấy bút và viết giùm!

Trong bức điện gửi Viên Thế Khải, Tống Giáo Nhân nói:

- Mong tổng thống thành tâm, đi đúng đường, ra sức bảo đảm dân quyền, xây dựng hiến pháp vững chắc, thì bỉ nhân có chết cũng yên lòng.

Mờ sáng hôm sau, Tống Giáo Nhân đã đi xa vào năm 31 tuổi.

Vụ án họ Tống làm chấn động cả nước. Người người đều yêu cầu truy bắt hung phạm.

Hôm xẩy ra vụ án, Viên Thế Khải tỏ ra hết sức kinh hãi và đau đớn. Ông ta thở dài, nói:

- Quốc dân đảng mất Tống Toại Sơ (tự của Tống Giáo Nhân) là mất một tài năng lớn. Sau này làm việc sẽ khó khăn đây!

Sau đó gửi cho đô đốc Giang Tô hai bức điện.

1. Nhanh chóng bắt hung thủ, tìm ra kẻ chủ mưu, nghiêm trị theo pháp luật. Không được chậm trễ.

2. Đem quân bảo vệ Hoàng Hưng, người của đảng cách mạng. Phải hết sức thận trọng.

Sau đó hai hôm, không ngờ chân tướng hung thủ đã rõ ràng.

Ngày 23, một nhà buôn đồ cổ người Hà Nam tên là Vương A Phát đến đường Tứ Mã, Thượng Hải báo cáo với ban điều tra trung ương: "10 hôm trước, khi mua hàng ở nhà người quen cũ là Ứng Quế Hình thấy Quế Hình đưa cho xem một tấm hình và bảo bất kỳ giờ nào, ngày nào, ở đâu, phải giết chết người này. Xong việc sẽ được thưởng một ngàn đồng - Tiểu nhân nói chỉ quen nghề buôn bán, không quen việc giết người. Hôm nay thấy hình Tống tiên sinh trên báo, biết đó là tấm hình người mà Quế Hình đòi giết.

Ban điều tra bắt ngay Ứng Quế Hình. Hôm sau lại bắt được hung thủ là Võ Sĩ Anh trong nhà họ Ứng. Còn tìm thấy những bức điện mật đi lại giữa Ứng và thư ký bộ Nội vụ Hồng Thuật Tổ. Từ đó có thể thấy rõ người chủ mưu ám sát Tống Giáo Nhân không phải ai khác, mà chính là tổng thống đương nhiệm Viên Thế Khải và thủ tướng chính phủ Triệu Bỉnh Quân. Hồng Thuật Tổ thư ký bộ Nội vụ là kẻ đồng phạm.

Nguyên do là Tống Giáo Nhân đang ra sức tổ chức một nội các có trách nhiệm, muốn giành lại quyền lực từ tay Viên Thế Khải, biến quốc hội thành công cụ đấu tranh với tổng thống. Liệu đại tổng thống họ Viên, người coi quyền lực như sinh mệnh, có chấp nhận để một người nào đó tranh giành với mình hay không? Đồng thời Tống Giáo Nhân lại là một địch thủ về chính trị của Triệu Bỉnh Quân - vừa là tâm phúc, vừa là đầu não cái gọi là "trách nhiệm nội các" giả hiệu của Viên Thế Khải. Họ Triệu theo gót Viên Thế Khải từ lâu, nay đã là kẻ có địa vị dưới một người trên vạn người. Liệu họ Triệu có chịu để Tống Giáo Nhân cướp mất giao ỷ của mình hay không? Chính Viên và Triệu đã sắp đặt nên vụ giết người này.

Chân tướng vụ án đã rõ. Dư luận ầm ĩ. Viên Thế Khải là chủ mưu. Nhiều đảng viên Quốc dân đảng miền nam phẫn nộ. Báo chí đưa tin "tổng thống giết người" và yêu cầu gọi, thẩm vấn Triệu Bình Quân; đòi bắt Hồng Thuật Tổ. Thậm chí nhiều người yêu cầu tổ chức binh lính đánh lại quân Viên, tấn công Viên Thế Khải.

Viên Thế Khải bị bất ngờ. Nhưng họ Viên chưa bao giờ nghĩ rằng mình phải cúi đầu nhận tội. Ngày 24 tháng 4, họ Viên cho người giết chết Võ Sĩ Anh trong ngục. Lại ngầm ra lệnh cho Hồng Thuật Tổ từ Bắc Kinh trốn đến Thanh Đảo rồi biện hộ và nhận tội.

Sau khi đến Thanh Đảo, Hồng Thuật Tổ đã phát biểu, biện hộ cho mình bằng cả mớ lý do chẳng đâu vào đâu:

- Trước kia bỉ nhân có làm một số việc nhằm hạ thấp Tống Giáo Nhân. Chỉ nhằm để hủy hoại thanh danh của họ Tống, chứ đâu phải là những chứng cứ gọi là mưu sát Tống Giáo Nhân! Đồng thời, Hồng Thuật Tổ cũng ra sức gỡ tội cho Viên Thế Khải và Triệu Bỉnh Quân, nói: - Tất cả những điều báo chí nói về việc bỉ nhân điện cho Ứng Quế Hình, trong đó có đả động tới tổng thống và thủ tướng, đều có ý bôi nhọ trung ương. Có kẻ nào đó muốn lừa dối chúng ta, mọi người đừng tin. Bỉ nhân còn muốn các cơ quan hữu quan phải điều tra làm rõ ai là kẻ làm điều xằng bậy, mưu hại tổng thống và thủ tướng.

Cùng lúc đó, được Viên Thế Khải gợi ý, Triệu Bỉnh Quân cũng lên tiếng thanh minh:

- Mấy hôm rồi, bên ngoài công bố rất nhiều những bức điện qua lại giữa Hồng Thuật Tổ và Ứng Quế Hinh, ta chưa nghe nói bao giờ và chưa từng nhìn thấy. Nhất định có kẻ nào đó (chỉ Hồng Thuật Tổ) muốn gây rối hoặc vì một lý do nào đó muốn đả kích ta vậy!

Đến khi tòa án Thượng Hải kiên trì đòi họ Triệu ra đối chất. Ông ta đã trình bầy rất rõ ràng:

- Vụ án giết Tống Giáo Nhân đã rõ. Hung thủ là Võ Sĩ Anh. Nghi tòng phạm là Ứng Quốc Hinh. Điều này có quan hệ gì với Hồng Thuật Tổ? Hiện nay chưa xác định được. Trong tình trạng đó, muốn ta ra đối chất, chẳng phải là có dã tâm muốn đoạt chính quyền hay sao!? Chí ít, cũng là hành động làm khó dễ cho ta, hoặc là ngậm máu phun người!

Tòa án và các cơ quan khác cũng thể tình tổng thống, không trực tiếp truy cứu trách nhiệm mưu sát của Viên Thế Khải. Nhưng họ lại truy cứu toàn diện về Hồng Thuật Tổ và Triệu Bỉnh Quân. Điều đó cũng làm cho Viên Thế Khải lấy làm lo ngại. Tưởng chừng như không sao thoát khỏi được tình trạng bị động đó, thì Viên Thế Khải lại có một mưu mô thật lợi hại, chuyển thủ thành công. Họ Viên cho người đem thật nhiều tiền bạc mua đứt được một nữ học sinh tên là Chu Dư Cảnh. Cô này xưng là "Nữ tử ám sát đoàn đoàn trưởng" đến tự thú với cơ quan kiểm sát Bắc Kinh. Cô ta khai mình nhận lệnh của Hoàng Hưng "Tứ quang đoàn đoàn trưởng" đến Bắc Kinh tiến hành ám sát chính trị. Quần chúng sôi động một thời. Quân cảnh ở Bắc Kinh, Thiên Tân bắt đầu lùng sục, tìm bắt các thành viên "Tứ quang đoàn" và thừa cơ bắt luôn nghị viên Tạ Trì của Quốc dân đảng. Trong xã hội lại rộ lên nhiều chuyện khác, chừng như có thật một cơ quan chuyên đi giết người nào đó. Cơ quan kiểm sát Bắc Kinh, nghe theo "khẩu cung" của Chu Dư Cảnh cho đòi Hoàng Hưng đến đối chất. Nhờ đó, dư luận trong nhân dân đã chuyển hướng, tòa án Thượng Hải thẩm tra Triệu Bỉnh Quân cũng theo một hướng khác!

Những điều ngụy biện và ngụy mưu của Viên Thế Khải và lũ tay chân rõ ràng đã đạt được mục đích: pháp luật xử vụ án họ Tống chẳng theo một pháp luật nào cả. Cuối cùng vụ án đó bị lãng quên.

Nhưng âm mưu chẳng bao giờ thuyết phục được ai và cũng chẳng che đậy nổi chân tướng của sự thật. Từ đó Quốc dân đảng hết ảo tưởng ở Viên Thế Khải. Chẳng bao lâu, "cuộc cách mạng lần 2" phản đối Viên Thế Khải độc tài lại nổ ra.

3. NGƯỜI THỨC THỜI LÀ NGƯỜI TUẤN KIỆT

Việc thay triều đổi đại trong lịch sử xảy ra như cơm bữa của người dân bình thường. Chốn quan trường thật muôn màu muôn vẻ, không sao kể xiết! Cuối đời Minh, đầu đời Thanh có người như Sử Khả Pháp, uy vũ bất khuất, một lòng báo quốc. Lại như Cố Viêm Vũ, Vương Phu Chi giữ được tính mệnh, nhưng dù có chết cũng không chịu làm quan với triều mới. Hoặc có người tiếp tục đấu tranh với triều mới. Hoặc có người chỉ làm một kẻ thất phu nơi sơn dã. Những người này cố giữ một quan niệm cũ kỹ: "Là gái không lấy hai chồng, là thần không thờ hai chúa!" Thực là những viên quan có lòng trung đáng quí! Nhưng có người lại cho đó là "cổ hủ bất biến". Và có nhiều người như Ngô Tam Quế, Cảnh Tinh Trung luôn luôn thay hình đổi dạng làm đủ các loại quan lớn bé của triều mới. Họ bảo: "Người thức thời mới là người tuấn kiệt!".

Là người chống lại triều mới cũng được, hoặc phục tùng cũng được, ai cũng có cách nói của mình, tùy hoàn cảnh mà biện giải cho mình.

Thời kỳ Dân quốc, quân phiệt cát cứ từng vùng, khắp nơi hỗn loạn. Những người cầm quyền là người có hiệu suất biến hóa "cao nhất. Nhiều người học đủ cả 72 phép biến hóa của "chú khỉ họ Tôn" hòng thích ứng kịp với thực tế thoắt thay thoắt đổi.

Đầu thời Dân quốc, Phúc Kiến đốc quân Lý Hậu Cơ đã luyện xong một "bản lĩnh" cứng rắn.

Ngày 22 tháng 5 năm 1917, hội nghị đốc quân lần thứ tư họp ở Từ Châu để xem xét mọi việc lần cuối trước khi Trương Huân khôi phục đế chế.

Trong buổi họp, nhiều trung thần nghĩa sĩ, nhất loạt đòi theo Trương đại soái, quyết khôi phục lại giang sơn nhà Thanh. Không khí thực là sôi nổi. Tình cảnh hết sức cảm động.

Để tỏ rõ lòng mình, thấy Lý Hậu Cơ đi ra khỏi đám người huyên náo, bước tới phủ phục ngay dưới chân Trương Huân. Mọi người lấy làm lạ, chẳng hiểu có chuyện gì. Họ quên cả nói chuyện, đưa mắt nhìn vào Lý Hậu Cơ. Cả căn phòng tĩnh mịch hẳn. Trương Huân cũng thấy kỳ quặc, mắt nhìn chằm chằm Lý Hậu Cơ.

Lý Hậu Cơ khấu đầu bái lậy, rồi giọng nói hết sức xúc động:

- Từ lâu, bỉ nhân đã mong nghe được câu nói khôi phục vương triều nhà Thanh của Trương đại soái.

"Hu... Hu hu!", trước mặt văn võ bá quan, Lý Hậu Cơ cứ khóc rống lên như vậy.

Tiếp đó, Lý Hậu Cơ vừa khóc vừa kể, thâu đêm suốt sáng lúc nào cũng mong mỏi phục hồi nhà Thanh, còn nói thêm:

- Lúc bỉ nhân rời Phúc Châu, lão mẫu còn nói: "Cha con trước kia vì nước mà chết trận - Lần này vào kinh, gặp việc gì liên quan đến hoàng đế là phải ra sức báo đáp. Có thế mới nổi được nghiệp cha ông, mới đền đáp được ân sâu của đất nước". Ngày nay Trương đại soái thống lĩnh ba quân, tận trung với triều Thanh, bỉ nhân xin hết lòng phò trợ, hòng trên thì xứng đáng với triều đình, dưới thì thỏa lòng mong đợi của phụ mẫu.

Sau đó, Lý Hậu Cơ mới viết rõ ràng tên họ của mình lên tấm lụa vàng mà Trương Huân đã chuẩn bị sẵn.

Lời nói và việc làm của Lý Hậu Cơ khiến mọi người hết sức cảm động. Không khí hội nghị sôi nổi hẳn lên. Trương Huân hết sức tán thưởng. Sau này, khi đế chế được phục hồi, Lý Hậu Cơ được bổ nhiệm tuần phủ Phúc Kiến.

Lý Hậu Cơ nhận chức mà cảm động vô cùng, liền mặc triều phục để tạ ân. Lại sai bộ hạ treo cao cờ nhà Đại Thanh, mở tiệc mời khách để chúc mừng.

Trương Huân phục hồi đế chế bị nhân dân cả nước phỉ nhổ. Mấy hôm sau, Lý Hậu Cơ được tin viên quan quân chính Quảng Đông gửi điện phản đối Trương Huân. Lý Hậu Cơ băn khoăn sợ sệt. Nếu Quảng Đông đem quân tấn công lên miền bắc thì Phúc Kiến sẽ bị đánh trước tiên. Lý Hậu Cơ cho triệu tập lũ bộ hạ lại bàn đối sách. Họ tìm được kế vẹn toàn: giữ thật vững và có thái độ trung lập.

Thể hiện thái độ trung lập bằng cách nào đây? Ai nấy nhanh trí sai lính hầu: trước cửa công đường treo hai lá cờ rõ to. Một bên là lá cờ ngũ sắc mà bọn quân phiệt Bắc Dương thường dùng vào những năm đầu Dân quốc. Bên kia treo cờ Đại Thanh. Trong công văn bố cáo của Phúc Kiến cũng có hai dòng chữ song sor song "Trung Hoa Dân Quốc Phúc Kiến tỉnh đốc quân" và "Khâm mệnh Phúc Kiến tỉnh tuần phủ". Phần viết ngày tháng thì ghi: Dân quốc thứ 6 và Tuyên Thống thứ 9.

Thực là điều kỳ lạ, chưa từng có bao giờ!

Đó chính là Lý Hậu Cơ đốc quân Phúc Kiến trong hội nghị Từ Châu năm nào, từng tuyên bố nghe lời lão mẫu tận trung với triều Thanh! Sau khi Trương Huân bị dẹp, Lý Hậu Cơ lại xun xoe, xin xỏ trước Đoạn Kỳ Thụy, còn gửi điện khắp nơi "nguyện một lòng ủng hộ nền cộng hoà". Lý Hậu Cơ lắc mình biến ngay thành một viên quan của Đoạn Kỳ Thụy.

Những người hay chuyện đã nói với người khác:

- Lần này, đốc quân Lý Hậu Cơ chắc cũng nghe lời lão mẫu để "nguyện một lòng ủng hộ nền cộng hòa!".

Chu Gia Bảo là trưởng quan dân chính kiêm đốc quân Trực Lệ. Biểu hiện của ông này trước và sau khi Trương Huân phục đế, giống hệt như biểu hiện của Lý Hậu Cơ. Nhưng vận khí của ông này có phần kém hơn.

Trương Huân phục để xong, thì Chu Gia Bảo được bổ nhiệm Dân chính bộ thượng thư. Chu Gia Bảo sung sướng vô cùng, thầm cảm kích "long ân rạng rỡ" và chuẩn bị về kinh nhận chức.

Trong lúc cả nước lên tiếng chống lại Trương Huân, thì Đoạn Kỳ Thụy thiết lập bộ tư lệnh quân chống đối, ngay ở công đường tỉnh Trực Lệ và tích cực tổ chức các đạo quân đi đánh Trương Huân.

Chu Gia Bảo nghĩ chức Thượng thư kia sẽ rất ngắn ngủi, vì ai nấy đều chống lại Trương Huân, thế lực vương triều nhanh chóng sẽ bị diệt. Bảo bỏ chuyến đi về kinh nhận chức và quay lại theo đường vô đạo, chống họ Trương, hòng lấy lòng Đoạn Kỳ Thụy, mong giữ cho được chức đốc quân Trực Lệ.

Đoạn Kỳ Thụy chẳng lạ gì thái độ của Chu Gia Bảo khi Trương Huân phục đế. Vì vậy, Đoạn Kỳ Thụy không những xem thường Chu Gia Bảo mà còn chỉ trích thậm tệ:

- Nghe nói các hạ sau khi nhận chức triều Thanh bổ nhiệm đã hết sức mừng rỡ, còn dâng tấu tạ ơn. Lời tấu có ghi: "Không một lúc nào quên nhà Đại Thanh", "Ngày ngày mong muốn nhà Đại Thanh được khôi phục" v.v... Lúc này trước mặt ta, nhà ngươi thề sống thể chết ủng hộ cộng hòa. Vì sao nhà ngươi lại tiền hậu bất nhất đến như vậy?

Chu Gia Bảo vội vàng biện giải:

- Bản tấu đó không phải của Chu Gia Bảo này mà là của Trương Huân tự tạo ra!

Biện giải như vậy có vẻ đúng, nhưng sai. Theo đó thì bản tấu không phải của Chu Gia Bảo, nhưng cách nhìn và tư tưởng trong đó lại hoàn toàn là của Chu Gia Bảo! Ai cũng biết rõ như vậy.

Nói xong, Chu Gia Bảo liền bỏ mũ, quỳ ngay trước mặt Đoạn Kỳ Thụy, đầu cúi xuống.

Đoạn Kỳ Thụy chẳng thích thú một chút nào, liền buông lời châm chọc:

- Hiện ta là thủ tướng, không cần các hạ phải dập đầu hành lễ vấn an. Chờ khi nhận chức thượng thư dân chính, các hạ hãy hành lễ trước hoàng đế và đại nhân họ Trương!

Chu Gia Bảo cảm thấy xấu hổ và hiểu rằng trong chốn quan trường không hề còn chỗ cho mình! Mờ sáng hôm sau, đã vội thu dọn và len lén chuồn thẳng.

Vương Sĩ Trân được gọi là con "rồng" của Bắc Dương, cũng là một ví dụ.

Vương Sĩ Trân là đại thần lục quân cuối triều Thanh. Sau khi Phổ Nghi thoái vị, ông ta đã thề rằng: "Không bao giờ phục vụ Dân quốc, làm quan với Dân quốc!". Nói là làm. Họ Vương liền bỏ về quê. Nhưng Viên Thế Khải đâu có chịu để ông ta "nghỉ ngơi".

Trong quá trình Viên Thế Khải phục hồi đế chế, rất nhiều những thân tín trước đây tỏ vẻ không tán thành. Trong số đó có Đoạn Kỳ Thụy từng được Viên Thế Khải coi là cánh tay phải. Viên Thế Khải coi đó là mối uy hiếp lớn. Vì vậy, họ Viên phải tìm mọi cách để đoạt lấy quyền lực từ tay Đoạn Kỳ Thụy.

Bước thứ nhất, Viên Thế Khải thành lập ban biện sự lục hải quân đại nguyên soái thống soái ở phủ tổng thống. Vì vậy, đã giành lại quyền lực trước đây nằm trong tay bộ lục quân cũ.

Bước thứ hai, Viên Thế Khải muốn triệt chức của Đoạn, nhưng lại sợ không có người kế nhiệm. Trưởng tử Viên Khắc Định hiến kế: "Lúc này đại quyền lục quân đã thuộc về đại nguyên soái. Đoạn hết cách làm loạn. Nhưng triệt chức vẫn là thượng sách".

Họ Viên hỏi:

- Nhưng người thay thế là ai đây?

Khắc Định đáp:

- Sao không mời Vương Sĩ Trân ở Chính Định đến? Tài năng và danh vọng của ông ta có thua kém gì Đoạn. Ông ta làm tổng trưởng lục quân thì lo gì binh lính chẳng theo?

Viên Thế Khải có phần suy nghĩ, nói:

- Con nói đúng. Nhưng ngộ nhỡ ông ta không chịu ra thì sao?

Khắc Định thấy phụ thân vừa ý, nên nói:

- Tự con đi mời ông ấy xem thế nào?

Viên Thế Khải ưng thuận ngay và tỏ ra hết sức vui mừng.

Viên Khắc Định đi xe riêng đến thẳng Vương phủ ở Chính Định, yết kiến Vương Sĩ Trân và ân cần thăm hỏi.

Hai người hàn huyên hồi lâu, cuối cùng cũng bàn đến việc nước. Khắc Định đem chuyện tình cảm nhớ nhung của phụ thân nói lại với Vương Sĩ Trân. Đồng thời ngỏ ý mời ông ta về kinh nhận chức Lục quân tổng trưởng, chứ không thì "gia phụ thâu đêm không chợp mắt!".

Vương Sĩ Trân tỏ ý cảm tạ, nhưng lại từ chối, nói:

- Chi Tuyền (tự của Đoạn Kỳ Thụy) nhiệm chức nhiều năm, kinh nghiệm phong phú, tất giải quyết được. Bỉ nhân từ Dân quốc đến nay, đã về quê, không màng thế sự. Vả nay tuổi cao sức yếu, còn làm việc sao được! Mong công tử thưa lại với lệnh tôn những khó khăn của bỉ nhân vậy!

Viên Khắc Định không hề nản, nói tiếp:

- Đoạn Kỳ Thụy hiện ốm đau luôn, ngày ngày mong được miễn chức. Gia phụ cố giữ không được, mới mong ngài ra thay thế. Xin đừng từ chối! (Rõ ràng là muốn đẩy Đoạn Kỳ Thụy đi, lại nói là: ngày ngày mong được miễn chức).

Viên Khắc Định vẫn thấy khó khăn, nên đành phải giở chiêu cuối cùng: đột nhiên bước đến quỳ trước Vương Sĩ Trân, miệng nói:

- Lão bá không về kinh nhận chức thì đứa cháu này quyết không đứng dậy!

Vương Sĩ Trân vội đỡ Khắc Định, nhưng xem ra không được. Ông buột miệng nói luôn:

- Thân già này không đáng được như vậy. Xin công tử đứng lên cho!

Khắc Định thấy tình thế dịu đi hơn, liền giả bộ khóc rống lên rồi nói:

- Gia phụ có lệnh: đứa cháu này không thể trở về khi chưa làm tròn nhiệm vụ. Lúc này việc nước như mớ bòng bong đang chờ giải quyết. Nếu lão bá không nghĩ đến đứa cháu, không nghĩ đến gia phụ thì cũng nên nghĩ đến trăm họ mà ra sức giúp đỡ gia phụ một tay.

Vương Sĩ Trân suy nghĩ, đi đi lại lại mấy vòng và cảm thấy không nên cố chấp, hứa sẽ về kinh. Viên Khắc Định lau nước mắt và cười. Vội vàng bái tạ mãi không thôi.

Viên Thế Khải quá mừng. Lập tức hạ lệnh miễn chức Lục quân tổng trưởng của Đoạn Kỳ Thụy. Cử Vương Sĩ Trân lên thay.

Sau khi họ Viên qua đời, kế nhiệm chức đại tổng thống là Lê Nguyên Hồng, lại nhiệm mệnh Vương Sĩ Trân tổng tư lệnh quân cảnh kinh kỳ, tay nắm trọng binh, đầy đủ quyền thế.

Cái gọi là lời thề "không làm quan Dân quốc" đã được thay thế bằng những lời biện hộ gọi là "vì sự sống còn của lê dân, đất nước". Trên thực tế, nhất là lũ quân phiệt lớn bé, có mấy ai làm quan vì lê dân, đất nước đâu. Nhưng cũng phải nói, liệu còn có lý do gì hay ho hơn những lý do vừa nêu trên!

Lúc Trương Huân phục hồi đế chế, tuy Vương Sĩ Trân không câu kết, bầy mưu tính kế, tham dự, nhưng với tấm lòng nhớ nhung chủ cũ, ông mong mỏi Thanh đình được sống lại. Chính vì vậy, trong thời gian Trương Huân phục đế, ông ra sức ngược xuôi diễn trò là một "trung thần của hai triều".

Vương Sĩ Trân một mặt tuân theo Thanh thất, mặt khác lại thông tin cùng với "thảo nghịch quân". Lúc triều kiến Phổ Nghi, ông ta vận áo bào, đội mũ, đi hia, làm lễ quân thần. Lúc tiếp kiến sứ giả của "thảo nghịch quân", Vương Sĩ Trân thay bộ lễ phục Dân quốc, tay bắt mặt mừng, trò chuyện. Chẳng khác gì đóng những vai nổi tiếng trên sân khấu, xong một vai lại thay đổi trang phục.

Có người hỏi vì sao phải như vậy. Vương Sĩ Trân đáp:

- Vì không muốn nhìn thấy kinh thành tan hoang, đổ nát, nên ta chẳng tiếc gì danh tiết của mình, đi lại với cả hai bên, để sớm có được hòa bình!

Lấy lòng đôi bên, vừa được tay gấu vừa được cá, còn được tiếng biết "nhẫn nhục hy sinh". Thời đó, có người đã nhạo cười ông ta: "Ngài quả không hổ là trung thần của hai triều!".

Vương Sĩ Trân còn có lòng tự trọng. Nghe có người hỏi như vậy, ông ta ngượng ngập trả lời:

- Nào có phải là trung thần của hai triều đâu. Ta chỉ là người hòa giải giữa đôi bên mà thôi!

So với mấy người kể trên thì Diêm Tích Sơn, đốc quân kiêm trưởng ban dân chính Sơn Tây còn cao thủ hơn!

Sau khi Trương Huân phục đế, trưởng quan quân chính các tỉnh, không ai là không phản đối, gửi điện, thư hặc tội. Riêng Diêm Tích Sơn chẳng có một lời, một chữ tỏ ra phụ họa hoặc phản đối Trương Huân.

Chẳng biết Diêm Tích Sơn đang chuẩn bị bán loại thuốc gì trong chiếc hồ lô của mình? Chỉ thấy lũ quan viên từ Thái Nguyên về Bắc Kinh ấp a ấp úng:

- Sau khi Diêm đốc quân biết tin nhà Đại Thanh bổ nhiệm chức tuần phủ Sơn Tây đang chuẩn bị hậu tạ thánh ân.

Nhưng có bao giờ vương triều phục chế nhận được lời tấu "hậu tạ thánh ân" của Diêm đốc quân đâu!

Trên thực tế, Diêm Tích Sơn đang tọa sơn quan hổ đấu, xem thắng thua ngã ngũ ra sao, bấy giờ mới xem thái độ trung lập của mình nên ngả về đâu! Có lần họ Diêm đã nói rõ ý kiến của mình trong lúc lũ thuộc hạ bàn tán về thời cuộc:

- Nếu phục đế thành công, đương nhiên ta sẽ là tuần phủ của đế quốc Đại Thanh. Còn nếu đế chế không thành ta cũng chẳng mất chức đốc quân ở bên Dân quốc.

Thế mới hay, lập trường nước đôi của họ Diêm quả là cao minh vậy!

4. TRÁNH VỎ DƯA GẶP VỎ DỪA!

Hàn Phục Củ, tự Hướng Phương, người huyện Bá, Hà Bắc. Vốn là thuộc hạ cũ của Phùng Ngọc Tường, là một trong "mười ba của quí". Năm 1928, lúc các phái quân phiệt Tưởng, Quế, Phùng, Diêm hợp sức "Bắc phạt", Hàn Phục Củ đã là tổng chỉ huy phương diện quân số 3, tập đoàn quân số 2 của Phùng Ngọc Tường.

Vào cuối năm đó, Phùng Ngọc Tường tiến cử Hàn Phục Củ với chính phủ Nam Kinh để ông giữ chức chủ tịch Hà Nam và miễn chức sư trưởng sư 20 của ông. Hàn Phục Củ không vui, cảm thấy như mình bị mất tín nhiệm. Thêm vào đó, Phùng Ngọc Tường tác phong gia trưởng, không nghe lọt tai những lời khác ý, sơ xuất một chút là buông lời trách phạt. Từ đó họ Hàn và họ Phùng dần dần xa cách.

Tưởng Giới Thạch thừa cơ xen vào giữa.

Mùa xuân năm 1929, Tưởng và Phùng xảy ra chiến tranh. Hàn Phục Củ nhận lệnh đem quân Tây Bắc đánh Tưởng, đến tận Hiếu Cảm, Hồ Bắc. Sau khi họ Tưởng chiếm được Vũ Hán, Tưởng Giới Thạch mời Hàn đến Vũ Hán, rồi ra sức lôi kéo, mua chuộc. Lấy cớ là úy lạo quân lính, một lúc chi cho Hàn hàng mười vạn đồng.

Tưởng ủy viên trưởng lời lẽ ngọt ngào, tính tình khẳng khái hào phóng, khiến Hàn Phục Củ càng thêm quí mến.

Thế rồi, trong cuộc chiến tranh Phùng, Tưởng tiếp đó, bị họ Tưởng mua chuộc bằng chức cao lộc hậu, họ Hàn lấy cớ "duy trì hòa bình, ủng hộ trung ương" để trở giáo, phản Phùng chạy sang bên Tưởng.

Họ Hàn được Tưởng gửi điện chúc mừng, và năm trăm vạn đồng (có người nói là một nghìn vạn) là "tiền trở giáo", kiêm thêm chức chủ tịch Hà Nam. Nhưng ngay trong lúc hai người như đang hưởng "tuần trăng mật", Hàn Phục Củ đã phát hiện họ Tưởng luôn luôn tỏ ra cảnh giác, Hàn Phục Củ mới sực tỉnh: tiền đồ thật mông lung, chưa thể lạc quan!

Thời kỳ đại chiến Trung Nguyên vào năm 1930, Hàn Phục Củ thừa cơ đánh chiếm nhiều địa bàn ở Sơn Đông, tạo thành một thế lực cực kỳ to lớn ở vùng này, Tưởng Giới Thạch mặc nhiên phải thừa nhận điều đó. Liền hạ lệnh cử họ Hàn làm chủ tịch Sơn Đông.

Sau khi làm chủ Sơn Đông, họ Hàn xem thường tất cả. Trong việc sắp xếp nhân sự, chỉnh đốn quân ngũ đã gây ra nhiều va chạm với trung ương Quốc dân đảng, Tưởng Giới Thạch. Họ Tưởng lấy làm không vui, đã cho giữ lại số tiền quân phí lên tới hàng trăm vạn đồng. Hàn Phục Củ giận quá. Bất chấp luật lệ, ông ta cho người hùng hùng hổ hổ đến chiếm cơ quan thuế vụ trung ương Quốc dân đảng đóng tại Sơn Đông, quy về Sơn Đông toàn bộ số của cải của cơ quan, không giao cho Nam Kinh một đồng, một xu nào nữa!

Tưởng Giới Thạch đang mải bận "tiễu Cộng", chỉ biết nuốt giận làm lành, cử Khổng Tường Hi đi Tế Nam thương lượng với Hàn Phục Củ. Hai bên ngã ngũ: tiền thuế phải giao sang quân phí, không được nợ đọng.

Từ đó, Tưởng Giới Thạch mới có ý định trừ Hàn. Còn Hàn Phục Củ, để bảo vệ địa vị và thực lực của mình, đã kết giao với Trương Học Lương, liên hiệp với Tống Triết Nguyên, Lưu Tương. Đồng thời trước và sau sự biến Hoa bắc còn câu kết với người Nhật. Qua đó, nhằm mục đích cùng sinh tồn trọng mớ mâu thuẫn hỗn độn với Tưởng, giữa Tưởng với Nhật và giữa các phái quân phiệt với nhau.

Năm 1937, chiến tranh chống Nhật bùng nổ, họ Hàn chấm dứt quan hệ với Nhật. Tưởng Giới Thạch cử Hàn là phó quan tư lệnh chiến khu 5, kiêm tổng tư lệnh tập đoàn quân số 3, chịu trách nhiệm tác chiến với Nhật ở Sơn Đông. Mấy tháng đầu, khi quân Nhật bắt đầu xâm phạm vào phía Sơn Đông, Hàn Phục Củ đã thân ra tiền tuyến chỉ huy binh lính đánh mấy trận lớn với quân Nhật.

Nhưng khi quân Nhật đột phá qua sông Hoàng Hà hiểm yếu, uy hiếp nghiêm trọng Tế Nam, Hàn Phục Củ không tổ chức lực lượng chống lại, mà dẫn binh lính ào ạt lui về miền nam.

Trưởng quan giáo dục Sơn Đông Hà Ân Nguyên chất vấn Hàn Phục Củ:

- Vì sao không kháng chiến.

Hàn Phục Củ đáp:

- Huynh có biết bao giờ thì Tưởng Giới Thạch thỏa hiệp với quân Nhật không? Chờ khi mấy vạn người của chúng ta hy sinh bằng hết, Tưởng sẽ đột nhiên có một hiệp định gì đó với Nhật thì liệu Hoa Bắc chúng ta có lợi lộc gì không?

Hà Ân Nguyên nghiêm giọng nói:

- Toàn diện kháng chiến, toàn quốc động viên, họ Tưởng không thể tùy tiện làm bừa!

Hàn Phục Củ lớn tiếng cho rằng:

- Tưởng Giới Thạch muốn mượn cớ toàn diện kháng chiến hòng hi sinh thực lực của chúng ta, tiêu diệt quân đội của ta. Tưởng bảo chúng ta tử thủ Hoàng Hà, chống trả quân Nhật, sẽ cho trọng pháo hỗ trợ. Nhưng đến lúc cần thì họ lại điều trọng pháo đi chỗ khác. Họ bỏ Nam Kinh, nhưng lại bảo chúng ta tử thủ Tế Nam. Họ bảo chúng ta chống lại quân Nhật bằng súng trường hay sao?

Chuyện họ Hàn bảo Tưởng Giới Thạch điều trọng pháo đi là có thật. Tháng 8 năm 1937, Lý Tông Nhân, tư lệnh chiến khu số 5, từ Từ Châu đến Tế Nam khai mạc hội nghị quân sự quyết định nhiệm vụ quan trọng của Hàn Phục Củ là ngăn cản quân Nhật vượt sông Hoàng Hà. Hàn yêu cầu bắn trọng pháo phối hợp ở bờ Nam Hoàng Hà để tiện cố thủ. Lý Tông Nhân đồng ý và cử Sử Văn Đương lữ trưởng lữ pháo binh ở Từ Châu đến đóng ở Thái An, Sơn Đông. Đầu tháng 11, Tưởng Giới Thạch được tin một lữ trọng pháo điều đến Sơn Đông chịu sự chỉ huy của Hàn, thì lấy làm khó chịu và hạ lệnh điều lữ trọng pháo đóng ở Thái An đi chỗ khác. Hàn Phục Củ biết tin đã không nén nổi bực dọc, gọi tên họ Tưởng ra mà chửi. Cho rằng Tưởng làm như vậy là không muốn chống Nhật, mà chỉ muốn mượn tay người Nhật để tiêu diệt lực lượng của mình! "Tưởng Giới Thạch là kẻ bất nhân thì Hàn mỗ cũng phải biết giữ lấy thực lực của mình!".

Hàn còn giải thích thêm cho Hà Ân Nguyên:

- Khi đến Tế Nam, Lý Tông Nhân đã nói: sau này nếu không giữ được Tế Nam thì cứ rút về khu Đông Sơn theo đường Tân Phố. Lúc này Nam Kinh bỏ ngỏ. Quân Nhật đã đánh đến Bạng Phụ. Chẳng phải là họ muốn đưa chúng ta vào chỗ chết, cho chúng ta "ăn quả lừa" hay sao? Ta không muốn biến thành cái túi rỗng! Chỉ cần giữ được lực lượng, thì đến đâu chúng ta cũng có thể tự lập. Chẳng khác gì chúng tá có cả một "ngân hàng dân sinh", đến đâu chúng ta cũng có được cái ăn, cái mặc. Cuộc kháng chiến lúc này là toàn diện, trung ương cũng chẳng có thì giờ nhòm ngó đến chúng ta.

Rõ ràng, Hàn Phục Củ vừa xuất phát từ quyền lợi cá nhân, vừa lợi dụng kẽ hở trong cuộc kháng chiến toàn diện để tìm lối thoát cho mình.

Hàn Phục Củ cho quân tháo chạy, toàn tuyến phòng thủ phía bắc Sơn Đông tan rã. Lý Tông Nhân vội vã hạ lệnh ngăn quân của Củ lại, buộc Củ phải cố thủ Duyện Châu, Thái An, không được để hậu phương ra ngoài chiến khu 5. Hàn Phục Củ cho rằng lệnh đó, buộc mình phải chiến đấu trận đầu, bất kể sống chết ra sao, nên không nghe, còn ngạo mạn trả lời Lý Tông Nhân:

- Bây giờ là kháng chiến toàn diện, tại sao lại phải phân biệt chỗ nọ với chỗ kia!

Tiếp đó Hàn Phục Củ bỏ luôn Duyện Châu và Thái An. Chỉ còn một ít quân bố phòng ở Tế Ninh. Phần lớn binh lính lui xuống miền tây nam Sơn Đông. Vùng bắc Từ Châu, Tân Phố coi như bỏ ngỏ. Tình hình Từ Châu thật nguy khốn. Lý Tông Nhân điện hỏi Hàn Phục Củ vì sao lại vứt bỏ Thái An? Hàn Phục Củ điện nói: "Nam Kinh chẳng giữ, giữ gì Thái An?". Lý Tông Nhân giận lắm, nhưng còn biết làm gì hơn.

Tưởng Giới Thạch quyết định phải bắt giết Hàn Phục Củ để giữ nghiêm quân pháp.

Tưởng Giới Thạch mưu tính cho việc đó. Họ Tưởng để Lý Tông Nhân tư lệnh chiến khu 5, triệu tập một hội nghị ở Từ Châu. Sau đó giải Hàn Phục Củ về Khai Phong tìm cách giết đi. Nhưng Hàn không đến dự hội nghị ngày mùng 7 tháng 1 năm 1938 của Lý Tông Nhân. Hà Ân Nguyên thay mặt, nên kế hoạch đó thất bại.

Ngày 11 tháng 1, Tưởng triệu tập "hội nghị tướng lĩnh chống Nhật miền bắc", và trực tiếp gọi điện mời Hàn về Khai Phong. Hàn do dự mãi. Về sau cho rằng, đây là hội nghị quân sự gồm các tướng lĩnh cấp cao, chắc Tưởng không dám làm điều phi pháp. Hàn quyết định cùng lũ thân tín như Tôn Đồng Huyên vũ trang bằng súng lục, đi hộ vệ và ngồi xe thiết giáp đến Khai Phong.

- Trước đó, Tưởng Giới Thạch đã có thông báo: nhằm tránh máy bay Nhật bắn phá lung tung, hội nghị quân sự cơ mật các tướng lĩnh cấp cao sẽ họp vào ban đêm. Đêm 11 tháng 1, Hàn Phục Củ cùng lũ tùy tòng đi đến cửa lớn hội trường, thấy có một tờ thông tri viết rằng: "Các tướng lĩnh tham gia hội nghị xuống xe từ đây". Hàn và mọi người xuống xe và đi tiếp vào phía trong. Đến cửa số 2, nhìn thấy bên trái có ghi mấy chữ: "Phòng đón tiếp các vị tùy tòng". Như vậy số vệ binh Hàn và Tôn Đồng Huyên mang theo phải ở lại đó. Đi tiếp thì đến "phòng phó quan". Lại nhìn thấy có tờ thông tri viết: "Thừa lệnh ủy viên trưởng: hội nghị quân sự cấp cao đêm nay phải hết sức cẩn mật. Các tướng lĩnh không được đem theo vũ khí vào hội trường. Vũ khí tùy thân giao cho phó quan bảo quản. Sau hội nghị mới được nhận lại". Các tướng lĩnh xung quanh đều làm như vậy. Hàn Phục Củ giao nộp lại hai khẩu súng cho viên phó quan, rồi cùng mọi người bước vào hội trường.

Tưởng Giới Thạch chủ trì hội nghị. Trước hết, họ Tưởng có lời huấn thị:

Cả nước nhất trí chống Nhật. Trách nhiệm to lớn đó phải nói là trách nhiệm không thể từ nan của mỗi tướng lĩnh chúng ta. Tuy vậy, vẫn có một tướng lĩnh cao cấp vi phạm mệnh lệnh, vứt bỏ trận địa hiểm yếu trên sông Hoàng Hà, Sơn Đông, giúp quân Nhật chiếm được một số thành phố, chiếm Sơn Đông một cách dễ dàng, tạo nên một ảnh hưởng lớn lao. Xin hỏi Hàn chủ tịch: Ông không chiến đấu, rút khỏi bờ bắc Hoàng Hà, Sơn Đông, bỏ tiếp Tế Nam, Thái An, làm cho hậu phương dao động. Ông phải chịu trách nhiệm về việc đó! Nghe Tưởng Giới Thạch chất vấn, họ Hàn thấy đầu óc quay cuồng, bắt đầu ân hận: không nên tham gia hội nghị này mới phải! Nhưng trong lòng thì không phục. Họ Hàn nói thẳng ý kiến của mình ra với Tưởng Giới Thạch:

- Mất Sơn Đông thì hạ quan chịu trách nhiệm, thế còn thất thủ Nam Kinh thì tội ở ai?...

Lời biện hộ lẩn tránh thực tế của họ Hàn làm cho Tưởng Giới Thạch tức giận vô cùng. Họ Tưởng nghiêm sắc mặt, cắt ngang lời nói của Hàn Phục Củ:

- Ta đang hỏi về việc Sơn Đông. Chưa hỏi đến Nam Kinh. Để thất thủ Nam Kinh tất phải có người chịu trách nhiệm!

Hàn Phục Củ định phản bác tiếp, thì thấy Lưu Trĩ ngồi cạnh kéo tay nói nhỏ:

- Hướng Phương, khi Ủy tọa đang nổi cáu thì tốt nhất ông nên đến nghỉ ở văn phòng của đệ một lát!

Rồi lôi luôn họ Hàn đi ra bằng lối cửa nách. Ngay lúc đó có một chiếc xe con lái đến trước mặt. Lưu Trĩ nói luôn:

- Mời ông lên, đây là xe của đệ!

Hàn Phục Củ yên vị đâu đấy, Lưu Trĩ mới nói:

- Đệ còn phải họp tiếp.

Liền thuận tay đóng luôn cửa xe lại. Khi đó, có hai người ở hàng ghế trước lần xuống ngồi vào hai bên họ Hàn. Một người rút lệnh bắt khẩn cấp ra đưa cho Hàn xem, và nói "ông đã bị bắt". Đến đó, Hàn Phục Củ như mới tỉnh mộng. Tai họa đã giáng xuống đầu.

Lập tức, Hàn Phục Củ bị giải đến Vũ Xương, giao cho bên "quân pháp" giam giữ.

Ngày 19 tháng giêng, Quốc dân đảng mở phiên tòa hội thẩm quân sự cấp cao. Hà Ứng Khâm là chánh án. Lộc Chung Lân, Hà Thành Tuấn là thẩm phán. Từ Nghiệp Đạo, Giả Hoán Thần đại diện quân pháp. Trước đó, thông tấn xã trung ương Quốc dân đảng đã đưa tin: "Tin tức quân sự: phó tư lệnh chiến khu x, tổng tư lệnh tập đoàn quân số x kiêm tổng chỉ huy lộ quân số 3 là Hàn Phục Củ đã cưỡng lệnh, tự động lui quân. Tưởng ủy viên trưởng vô cùng phẫn nộ. Khi còn ở Sơn Đông, Hàn đã bắt dân quyên góp, biển lận công khoản, làm điều phi pháp, gây nhiều tội ác tày trời. Ngày 11 đã có lệnh cách chức họ Hàn ở tiền phương, giao sang quân pháp y pháp trừng trị. Nay đã tổ chức quân pháp hội thẩm cấp cao, bắt đầu thẩm vấn".

Chiều ngày 22, hội thẩm đối với Hàn Phục Củ chính thức mở phiên đầu tiên.

Hà Ứng Khâm hỏi:

- Chính phủ nhiều lần đã cấm chỉ nha phiến, vì sao bị cáo vẫn tiếp tục mua bán?

Hàn Phục Củ đáp:

- Trước đây có người đưa biếu hơn ngàn lạng. Số phụ nữ trong nhà giữ lại dùng.

Hà Ứng Khâm lại hỏi:

- Vì sao bị cáo lại tự tiện lục soát và thay đổi súng đạn của Dân đoàn Sơn Đông?

Hàn đáp:

- Tội nhân không hề biết. Có thể đó là chủ trương của chỉ huy Dân đoàn là Trương Tương Ngũ chăng!

- Có người phản ảnh bị cáo câu kết với người Nhật. Nói bị cáo đã có hai người vợ, vì sao còn cần phụ nữ Nhật Bản nữa?

- Đó là những lúc chơi bời vui vẻ. Mọi người gọi là chơi trò Nhật Bản. Không thể gọi là "câu kết" được.

Tiếp đó, họ Hàn không trả lời thêm gì nữa. Thẩm vấn nhanh chóng kết thúc.

Trước sau 7 giờ tối ngày 24 tháng 1, Hàn Phục Củ bị giết hại trong một căn phòng ở tầng hai cạnh văn phòng hội đồng quân sự Quốc dân đảng, Vũ Xương.

Nói về phương thức biện hộ, họ Hàn là người nắm được điều mấu chốt. Một phương pháp lẩn tránh sự thực để đối phó với cấp trên, phản bác lại cấp trên, biến việc mình làm thành điều có lý, có cơ sở. Nhưng cuộc chiến tranh chống Nhật là một vấn đề rất lớn. Ở đó họ Hàn đã có những sai lầm nghiêm trọng dẫn đến đổ vỡ tất cả. Tưởng Giới Thạch có phần vì tư thù mà giết chết họ Hàn. Nhưng trong việc này, nhân dân lại ủng hộ họ Tưởng! Ngày 28 tháng 1 năm 1938, tờ "Tân văn báo" Thượng Hải có bài bình luận:

Từ cuộc kháng chiến ở Trung Quốc đến nay, với nhiều tội lỗi khác nhau, chính phủ đã xử tội chết không ít số tướng lĩnh chống Nhật. Triệu Đăng Vũ, Đông Lân Các, Hác Mộng Linh phải chết, nhiều người đã khóc. Có người còn tỏ ra thương tiếc. Lý Phục Ưng chết đi, để lại một sự bất bằng. Riêng cái "túi cỏ Thanh Thiên" (lúc họ Hàn cai trị Sơn Đông có biệt danh là Thanh Thiên) chết đi thì mọi người cho là phải!

5. "CÓ THỂ" VÀ "DUYỆT"

Mùng 10 tháng 1 năm 1944, Sơn Thành, Trùng Khánh thắp đèn đốt nến, giăng cờ kết hoa chẳng khác gì một ngày hội. Nhưng hôm nay không phải ngày tết, chẳng phải ngày lễ, vậy là ngày gì?

Một năm trước, vào ngày 11 tháng 1 năm 1943, Trung ương Quốc dân đảng đã ký với Anh, Mỹ hai điều ước "Thủ tiêu quyền xét xử ngoại kiều của Mỹ tại Trung Quốc và bàn về cách thức xử lý những vấn đề có liên quan" và "Thủ tiêu quyền xét xử ngoại kiều của Anh tại Trung Quốc và bàn về cách thức xử lý những vấn đề có liên quan". Hai bản điều ước được công bố trong cùng một ngày. Những điều đó gây nên một phản ứng rất mạnh ở Trung Quốc.

Một số chính khách Quốc dân đảng, mượn cớ tâng bốc, ca ngợi công lao của họ Tưởng. Họ còn muốn tổ chức các hoạt động kỷ niệm một năm ngày ký kết các điều ước đó.

Phải tỏ rõ "lòng thành" của mình bằng hình thức nào đây? "Ban huấn luyện nhân viên công tác đảng" do Chủ Gia Hoa - trưởng ban tổ chức trung ương Quốc dân đảng lập nên, đề nghị: trong buổi lễ kỷ niệm một năm ngày ký kết hai điều ước nên dâng lên Tưởng Giới Thạch "chín cái đỉnh".

Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, chín đỉnh là báu vật truyền quốc, tượng trưng cho chính quyền một đất nước. "Sử Ký" ghi rõ: "Vũ lấy vàng ở chín nơi, đúc thành chín cái đỉnh, tượng trưng cho chín châu". Dâng chín cái đỉnh cho Tưởng Giới Thạch là muốn coi họ Tưởng như bậc đế vương Trung Quốc. Rõ ràng đó là sự động viên, cầu mong được như vậy.

Ban tổ chức trung ương tổ chức hội nghị thảo luận đề nghị đó, để "có sự quán triệt". Mọi người hiểu ngay dụng ý của việc dâng đỉnh. Tuy không ai nói ra, nhưng việc thông qua rất thuận lợi! Chu Gia Hoa mừng rỡ, lập tức đem chuyện báo cáo với Tưởng. Tưởng Giới Thạch lấy bút phê ngay "duyệt".

Chu Gia Hoa và những người khác bắt tay vào việc hết sức khẩn trương.

Sau năm lần họp, "hội những người dâng đỉnh" quyết định: Mã Hành, viện trưởng Cố cung bác vật, thiết kế và giám sát chín đỉnh. Xưởng cơ khí Dân Sinh đúc chế. Cái giá đỉnh làm bằng thứ gỗ quí ở Xuyên. Mặt giá có khắc rồng uốn khúc, có hoa tuyết mầu xanh. Miệng đỉnh phủ bằng loại đoạn mẫu đồng thau. Trên đỉnh có khắc những hàng chữ: "Cung chúc thủ lĩnh, thiện văn thiện võ, lòng dạ mênh mông, bao dung nhân ái. Ca hát tưng bừng, dâng lên chín đỉnh, chúc phúc muôn đời!" Chín cái đỉnh hình thức lớn nhỏ, nhưng hoa văn thì nhất loạt. Mỗi chiếc đỉnh cao chừng ba mươi phân, nặng hơn một chục cân. Ngoài ra người ta còn bàn bạc về trình tự nghi lễ: (1) Nói về đỉnh. (2) Xâu tai đỉnh. (3) Dâng đỉnh. (4) Chúc tụng.

Có hơn năm trăm đại biểu. Mời bộ phận tuyên truyền quốc tế đưa tin. Mời xưởng phim điện ảnh Trung Quốc đến hiện trường quay phim chụp ảnh.

Trò hề dâng đỉnh nhanh chóng truyền lan ra khắp Sơn Thành.

Để đảm bảo hoạt động kỷ niệm dâng đỉnh vẹn toàn, thì ngay hôm đầu, hôm mùng 10 năm 1944, Chu Gia Hoa cho thực nghiệm thử.

Hôm đó, hội trường được bố trí hết sức trang nghiêm ở cửa Phục Hưng, địa bàn của đoàn huấn luyện trung ương. Đài chủ tịch trang hoàng lộng lẫy, hoa văn đủ sắc, trông chẳng khác gì "Điện Kim Loan". Phía dưới là ba chiếc ghế dài, kê liên tiếp, được phủ bằng một tấm đoạn màu vàng. Hai bên ghế là hai hàng mỹ nữ ăn mặc cực kỳ tươi tắn. Phía sau các thiếu nữ là mười tám vị đại biểu chọn lựa từ chín khu về, thay mặt cho các tỉnh. Hai bên đài chủ tịch thấy đứng tám vị Tư nghi phụ lễ, quần chúng áo dài, trước ngực ghim một bông hoa hồng xinh xắn, kế đó là một dải lụa mầu vàng trên có hàng chữ bằng mực. Phía sau lễ đài là căn nhà nghỉ, ở đó, Tưởng Giới Thạch cùng các nguyên lão của đảng như Ngô Trĩ Huy, Đái Quý Đào, Vu Tả Nhiệm, Tôn Khoa và Trần Quả Phu, Trần Lập Phu đang uống trà, chờ đợi.

Lúc cuộc diễn tập bắt đầu, thấy hai bên đài chủ tịch có Vương Đông Nguyên, Chu Gia Hoa. Chính giữa là Hà ứng Khâm thay mặt Tưởng Giới Thạch "nhận đỉnh". Tư nghi xướng lên: "Lễ dâng đỉnh bắt đầu", "Bắn pháo lễ", "Tấu nhạc!".

Tiếp theo tiếng nhạc hành khúc, hai hàng mỹ nữ từ từ bước tới bên bàn, nhẹ nhàng giở bỏ dải lụa mầu vàng, lộ ra chín hình chiếc đỉnh bóng lộn, trông lóa cả mắt. Mỹ nữ từ từ lui về chỗ cũ. Tư nghi lại xướng tiếp: "mỗ mỗ khu, mỗ mỗ tỉnh dâng đỉnh lên thủ lĩnh!".

Hai vị đại biểu ở đầu hàng bên phải, bước ra đứng nghiêm trước mặt Hà Ứng Khâm. Mỹ nữ ở hàng phải cũng bước ra hai người. Họ tết lụa vàng thành dải, rồi xâu qua tai của chiếc đỉnh đầu tiên, sau đó mới dâng đến bên bàn ở trước mặt Hà Ứng Khâm, tiếp tục nâng cao. Chu Gia Hoa và Vương Đông Nguyên bước ra nhận đỉnh. Đại biểu vái Hà Ứng Khâm ba lạy, nói lời chúc mừng. Hà Ứng Khâm trả lễ. Chu Gia Hoa, Vương Đông Nguyên đặt chiếc đỉnh lên bàn trước mặt họ Hà. Hai đại biểu và mỹ nữ lại lui về chỗ cũ. Tiếp đó, Tư nghi lại xướng: "mỗ mỗ khu, mỗ mỗ tỉnh dâng đỉnh lên thủ lĩnh".

Lúc dâng xong ba chiếc đỉnh thì thấy một viên quan thị vệ từ hậu đài bước ra nói:

- Ủy viên trưởng có lệnh mời Chu bộ trưởng!

Mọi người không hiểu xẩy ra chuyện gì. Hội trường nhất thời không có một tiếng động.

Đột nhiên từ trong nhà nghỉ nghe rõ lời chửi rủa bực dọc của Tưởng Giới Thạch bằng giọng người Triết Giang.

- Con m... nó! Thật là vô sỉ!

Một lát sau, Tưởng Giới Thạch bước ra chủ tịch đài, ngồi vào chỗ chủ tịch, nét mặt đầy vẻ giận dữ, miệng vẫn mắng tiếp:

- Hành động hôm nay là một sự sỉ nhục! Không những làm nhục ta, làm nhục đảng mà còn thất kính với vong linh của thủ tướng! Dừng lại nghỉ một hơi, sau đó giọng nói của họ Tưởng đã có phần dịu đi hơn: - Các vị đại biểu từ xa đến, thật là vất vả! Những sự việc vừa rồi lẽ ra không nên có. Rõ ràng là đồng chí phụ trách ở trung ương đã sai lầm. Ta cũng có phần trách nhiệm. Lúc trước, Chu bộ trưởng có trình văn bản dâng chín chiếc đỉnh lên. Ta đã phê chữ "duyệt" chứ không phê chữ "có thể". Nghĩ bụng nhận một chút lễ vật kỷ niệm cũng được thôi! Không ngờ việc đến nỗi hao người, tốn của, kinh động cả nước như vậy! Thật là ngu xuẩn!

Vì sao họ Tưởng lại trở mặt? Bởi vì tiếng xấu về số công nhân đúc đỉnh, về việc chọn mỹ nữ đã không cánh mà lan truyền khắp nơi, làm cho người Sơn Thành phẫn nộ, xã hội hỗn loạn. Để bảo toàn danh dự, tránh được tiếng xấu, họ Tưởng đành phải đem sự khác biệt giữa hai từ "có thể" và "duyệt" để biện hộ cho mình! Còn Chu Gia Hoa và những người khác mới biết thế nào là muốn sờ vào mông ngựa lại sờ nhầm vào vó ngựa!

Nhưng lời biện hộ của họ Tưởng thực là khập khiễng. Bởi vì chính ông ta cũng thừa nhận, biết việc dâng đỉnh. Đương nhiên, trước mặt các đại biểu ông ta cũng chỉ có thể nói như vậy. Nếu không thì giải thích sao nổi hành động của ông ta lúc bấy giờ!

6. CẮN LẠI MỘT MIẾNG

Tranh giành nơi quan trường, bắn trực diện thì dễ tránh, bắn lên thì khó phòng. Để đạt được mục đích, có người đã cố ý gây sự. Khi sự cố xẩy ra, họ lại gắng giấu mình, để tự biện hộ, thậm chí cắn lại một miếng, làm cho người khác phải lao đao. Tất nhiên là người bị hại ra sức kêu oan. Những kẻ sẵn có chủ mưu cũng dễ dàng thoát hiểm!

Ngày 20 tháng 3 năm 1926, xẩy ra "sự kiện trên hạm Trung Sơn" sau hợp tác giữa Quốc Cộng lần thứ nhất là một ví dụ.

Tình hình đại thể như sau:

Ngày 18 tháng 3, trường quân sự Hoàng Phố đóng trong tỉnh thông tri đến cục Hải quân rằng theo điện của ban giáo dục chuyển lệnh của Tưởng Giới Thạch, cần điều phái "hai binh hạm mạnh đến Hoàng Phố nghe lệnh điều động". Đại diện cục trưởng cục Hải quân, đảng viên cộng sản Lý Chi Long đã cử hai chiến hạm Trung Sơn, Bảo Bích lên đường.

Mờ sáng ngày 19, quân hạm đến Hoàng Phố, nhưng Tưởng Giới Thạch vắng mặt. Trung Sơn hạm liền báo cáo với trưởng ban giáo dục Đặng Diễn Đạt để nhận nhiệm vụ. Đặng Diễn Đạt không rõ chuyện này. Đề nghị chờ thỉnh thị Tưởng hiệu trưởng.

Ít lâu sau, Lý Chi Long lại nhận được thông tri của cục Hải quân nói đoàn tham quan Liên Xô muốn tham quan Trung Sơn hạm. (Trong thời gian Trần Quýnh Minh phản loạn, Tôn Trung Sơn cố thủ hạm Vĩnh Phong. Để kỷ niệm Tôn Trung Sơn, Vĩnh Phong hạm được đổi thành Trung Sơn hạm). Lý Chi Long liền điện thỉnh thị Tưởng Giới Thạch, nên chăng điều Trung Sơn hạm từ Hoàng Phố về thành phố để đoàn Liên Xô được tham quan? Được họ Tưởng đồng ý, sáu rưỡi chiều ngày 19, Trung Sơn hạm quay về Quảng Châu.

Khoảng ba giờ sáng ngày 20 tháng 3, người của Tưởng Giới Thạch đã đến bắt Lý Chi Long khi ông này còn đang ngủ say. Tiếp đó, Tưởng Giới Thạch điều động hàng loạt quân cảnh, cắt đứt đường giao thông trong thành Quảng Châu, thực hành giới nghiêm, bắt giữ Trung Sơn hạm và các Hải quân hạm khác. Cho bao vây ủy ban bãi công của Hương Cảng, tịch thu vũ khí của đội bảo vệ. Bao vây chỗ ở, chỗ làm việc của ban cố vấn Liên Xô. Giám sát mọi hành động của ban cố vấn. Đồng thời bắt giữ toàn bộ số đảng viên đảng Cộng sản trong trường Hoàng Phố cũng như trong quân đoàn I. Thủ tiêu chế độ đại biểu đảng trong quân đội. Canh giữ nơi ở của Uông Tinh Vệ - Vị chủ tịch chính phủ Quốc dân, chủ tịch hội đồng quân sự, đại biểu đảng trong trường, với danh nghĩa là để "bảo vệ".

Vì sao đột nhiên Tưởng Giới Thạch lại gây nên sự biến này? Trong báo cáo, hội đồng quân sự của Tưởng nói rõ:

Giờ Dậu ngày 18 tháng nay (từ 17 đến 19 giờ) bỗng có Trung Sơn binh hạm cục Hải quân vừa tới trường quân sự chính trị của Trung Cộng ở Hoàng Phố báo cáo với trưởng ban giáo dục Đặng Diễn Đạt là được lệnh của hiệu trưởng điều đến chờ lệnh. Lúc đó hiệu trưởng vắng mặt. Đặng Diễn Đạt lấy làm lạ, vì không được biết lệnh này. Hạm đội đành phải dừng lại và sẵn sàng chiến đấu suốt đêm hôm đó. Đến đêm hôm 19 mới rút về thành. Trung Chính coi đó là một hành động nguy hiểm, không thể không có biện pháp kịp thời. Một mặt cử Âu Dương Các, phó hiệu trưởng trường Hải quân tạm thời nắm quyền điều hành các hạm đội, và cho bắt khẩn cấp đại diện cục trưởng Lý Chi Long. Mặt khác, phái cử quân lính giớinghiêm khẩn cấp xung quanh Quảng Châu, đề phòng bất trắc. Sự kiện xảy ra quá gấp, nên việc xử trí thật bất thường, không kịp báo cáo trước. Nếu coi đây là tội chuyên quyền cũng phải! Nhưng nhân lúc đêm khuya, hạm thuyền đã rút. Qua việc này, phải xử quyết đúng sai, xử phạt nghiêm minh, nhằm giữ nguyên kỷ luật và lấy đó làm răn.

Như vậy là muốn nói, Tưởng "hiệu trưởng" chưa từng ra lệnh. Lý Chi Long đưa binh hạm đến, có thể là muốn tạo phản - "một hành động nguy hiểm". Còn "hiệu trưởng" thì hết sức trung thành, "vì đảng, vì nước" đã quyết đoán, thi hành một loạt biện pháp.

Đồng thời, đối với "tội chuyên quyền" của mình, hiệu trưởng cũng mong được "xử lý nghiêm minh". Nguyên nhân nào đã dẫn đến những chuyện như vậy? Vì lúc bấy giờ Tưởng hiệu trưởng chưa đủ lông đủ cánh. Hành động "chuyên quyền" đó là hành động "mạo hiểm" nhằm đem hỏa lực trinh sát đảng Cộng sản và Uông Tinh Vệ.

Vì vậy, sau hành động đó, Tưởng Giới Thạch lại bộc bạch, tự biện hộ. Ba hôm sau đó, vào ngày 22 tháng 3, khi nói chuyện với học sinh khóa IV trường Hoàng Phố, họ Tưởng đã kể:

Tuần trước, xảy ra một sự kiện, Trung Sơn hạm vô cớ đã di chuyển, ta nghĩ rằng mọi người đều nôn nóng muốn biết. Hạm này vừa tu sửa xong, thì đột nhiên di chuyển đến Hoàng Phố. Trưa ngày 19, đại diện cục trưởng cục Hải quân Lý Chi Long gọi điện đến nói Trung Sơn hạm có thể về Quảng Châu được chưa? Lúc bấy giờ ta vẫn chưa hể biết Trung Sơn hạm đã đến Hoàng Phố. Ta hỏi lại: aira lệnh để hạm tàu tới đây. Họ Lý tỏ ra ấp úng không trả lời được! Bấy giờ ta thấy rất lạ, liền nói: các ông muốn quay lại thì cứ quay lại! Sau này ta mới để ý xem vì sao Trung Sơn hạm lại đến Hoàng Phố? Đến để làm gì? Lúc ta hỏi lại thì được câu trả lời khác hẳn hôm qua. Họ Lý nói là lệnh của ban giáo dục. Lát sau lại bảo là lệnh của hiệu trưởng. Ta đòi xem lệnh. Họ Lý bảo lệnh qua điện thoại. Ngay trong đêm đó, Trung Sơn hạm đã trở lại thành phố, nhưng được biết đêm hôm trước chiến hạm luôn luôn ở trong tình trạng giới nghiêm, sẵn sàng chiến đấu. Ta đồ rằng họ Lý định làm điều gì phi pháp, nên mới cho lính lên hạm giám sát. Phải chăng ta làm như vậy là không có lợi cho trường Hoàng Phố, hoặc không có lợi cho chính phủ, cho đảng? Hiện vẫn chưa được điều tra xác minh rõ. Nhưng một số kẻ thiển cận trong xã hội thì lại hoài nghi, dao động. Lý Chí Long nói mình là đảng viên đảng Cộng sản. Ta chỉ biết người này vốn là học sinh khóa I của trường. Sự việc vừa qua, cho đến nay vẫn chưa có ai thẩm vấn lý do. Nhưng nếu quả thực họ Lý có tội thì đó chỉ là vấn đề cá nhân, không thể liên lụy tới đoàn thể. Hành vi của Lý Chi Long có điều gì bất lợi cho nhà trường, cho hiệu trưởng, hoặc là có âm mưu gì đó, ta cho rằng nhà trường không việc gì phải bi quan mà đó là sự kiện thật đáng lạc quan. Bởi vì phương châm ta dạy học trò là muốn họ phải thúc đẩy ta, muốn họ phải cách mạng. Nếu trong số học trò có người muốn cách cái mệnh của ta, thì phương châm giáo dục trên quả đã thành công vậy! Ta nhờ đó mà hiểu được điều đúng, điều sai. Liệu có lúc nào ta vi phạm chủ nghĩa Tam dân chăng? Bản thân ta đángphải cách mạng chưa? Tất cả những điều đó thật có lợi cho sự nghiệp cách mạng của một hiệu trưởng như ta! Vì thế ta mới thấy lạc quan!

Lý Chi Long đã có công hàm điều động quân hạm của quân hiệu ở tỉnh để trình lên quan hội thẩm. Nhờ có công hàm đó, Lý Chi Long là vô tội phải được phóng thích. Nhưng họ Tưởng lại không thả, cho rằng "không có lệnh điều chuyển chiến hạm lần này".

Ngày 26 tháng 3, trả lời thông tấn ký giả trung ương về vụ án Trung Sơn hạm Tưởng Giới Thạch nói tới bốn vấn đề:

Thứ nhất: Trước hôm 20 tháng 3, việc giới nghiêm trong tỉnh bắt đầu từ mấy giờ?

Tưởng đáp: Trong đêm 19 tháng 3, ta được báo cáo về hành động khác thường của Trung Sơn hạm. Hành động đó thật đáng nghi ngờ và có tính khẩn cấp, nên không kịp báo rõ với chính phủ. Ta đã cho xử lý bằng biện pháp bất thường. Cho bắt số người bị hiểm nghi, tra cứu tiếp. Số người nghi oan đã được phóng thích. Ta giải quyết vấn đề này khi chưa có lệnh của chính phủ, gần với việc chuyên quyền, ta đã trình chính phủ để được xử lý nghiêm minh. Còn hiện nay bọn chó săn của chủ nghĩa đế quốc, lũ Hán gian đang thừa cơ vu cáo, khuấy động, hòng làm khuynh đảo chính phủ, âm mưu chia rẽ các thế lực cách mạng.

Thứ hai: hành động hôm đó liệu có liên quan gì tới ủy ban bãi công của tỉnh?

Tưởng nói: Đối với phong trào bãi công chống đối chủ nghĩa đế quốc, chính phủ luôn luôn coi trọng và hết lòng ủng hộ. Ta cũng là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ bãi công chống đế quốc. Đương nhiên, ta chẳng có lý gì để ngăn cản bãi công, phá hoại phong trào công nhân! Có điều, hôm truy cứu hành động của Trung Sơn hạm, binh lính đứng đầy ở cửa ban bãi công, các nhân viên trong hội đi lại có phần khó khăn. Những lời bịa đặt bắt đầu từ đây!... Ta rất mong công hữu không để tâm tới điều đó! Quân dân nhất trí. Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về chúng ta!

Thứ ba: Tình hình cảnh giới Đông Sơn như thế nào?

Tưởng đáp: Việc cảnh giới khu thành Đông Sơn là sự nhầm lẫn của lũ bộ hạ, làm trở ngại việc ra vào của cố vấn Nga. Ta hết sức thông cảm với những nỗi lo ngại đó.

Thứ tư: Người ta cho rằng đường lối đối với Liên Xô sẽ có thay đổi. Nên hiểu thế nào?

Tưởng nói: Nga Xô là trung tâm cách mạng thế giới. Cách mạng của nhân dân Trung Quốc là một bộ phận của cách mạng thế giới. Ta tận lực vì cách mạng Quốc dân, tất nhiên ta cũng nỗ lực xúc tiến cách mạng thế giới. Làm gì có chuyện các đồng chí cách mạng phương hại lẫn nhau, không liên hợp với nhau? Kẻ thù của chúng ta đang xuyên tạc hòng lung lạc quần chúng cách mạng - Nhân dân ta tất nhiên sẽ hiểu điều đó, không đến nỗi bị chúng lừa gạt.

Tưởng Giới Thạch uốn ba tấc lưỡi, tránh chỗ nặng, tìm điều nhẹ; thậm chí còn đổ lỗi cho thuộc hạ để giữ cho mình bộ mặt của một nhà "cách mạng phái tả".

Những phần tử Quốc dân đảng phản Cộng, phái hội nghị Tây Sơn biết rõ chuyện "20-3" thì mừng rỡ lắm. Ngày 29 tháng 3 còn điện cho Tưởng Giới Thạch hoan nghênh "công trạng vì đảng vì nước" sau sự kiện Trung Sơn hạm. Còn động viên Tưởng nỗ lực trong việc "thanh lý đảng tịch".

Mùng 3 tháng 4, Tưởng Giới Thạch công khai thông điện biện hộ cho mình:

Án trấn áp Trung Sơn hạm hôm 20 tháng 3 là vấn đề cục bộ, cá nhân Trung Chính phụ trách. Đã trình lên chính phủ để phân xử theo án... nay nhận được thông điện của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai Quốc dân đảng giả hiệu Thượng Hải với ý đồ lật đổ chính phủ, hủy hoại đảng ta, không để cho đồng chí được tận tâm tận lực. Những thủ đoạn xấu xa đó thật hiếm thấy. Đó là thủ đoạn của những kẻ bợ đỡ thế lực đế quốc, cam tâm làm công cụ cho chủ nghĩa đế quốc, cả gan nói những lời bỉ ổi, phi pháp, coi Trung Chính là một thứ bù nhìn! Nay kính cáo để các đồng chí trong đảng và đồng bào cả nước, Trung Chính nguyện là tín đồ của thủ tướng, trung thành hết mực, nỗ lực vì sự nghiệp cách mạng Quốc dân. Quyết ra sức thanh trừ lũ sâu bọ có quan hệ với chủ nghĩa đế quốc, quét sạch mọi hành động phá hoại đảng và chính phủ, mọi chướng ngại của cách mạng. Quyết bảo vệ đảng, nhà nước, xứng đáng với thủ tướng, với vong linh các đồng chí đã khuất. Bộc bạch lòng thành, mong được chứng giám!

Đó gần như là một lời tâm nguyện!

Ngày 20 tháng 4, trong một bữa tiệc có nhiều quan chức nhằm thủ tiêu chế độ đại biểu đảng trong quân đoàn I, Tưởng Giới Thạch phát biểu cho rằng trước lúc xẩy ra sự kiện, "có một phái muốn vu cáo hãm hại ta, hủy hoại nhà trường, tạo nên một không khí cho rằng hiệu trưởng là không cách mạng". Tưởng Giới Thạch còn chỉ mặt điểm danh chủ nhiệm chính trị trong trường Hoàng Phố là Cao Ngữ Hãn, "mỗi lần diễn giảng đã công khai lập lờ chỉ trích nhà trường là không cách mạng. Chẳng cần ta nói, chắc mọi người cũng hiểu... dụng ý ông ta muốn một số đồng chí thiếu tin tưởng với ta!... Chỉ vì tinh thần đoàn kết trong nội bộ chúng ta có phần sút kém nên người ngoài mới có cơ hội ly gián, chia rẽ. Vì vậy, mới có sự kiện ngày 20 tháng trước".

Thậm chí họ Tưởng còn giở thủ đoạn mê hoặc người khác:

- Sau này lịch sử có thể đưa những bức thư của ta gửi các đồng chí, những lời ta thường nói chuyện để chứng minh những việc đã qua. Tất nhiên, đó là việc sau khi ta đã khuất! Những nội dung đó mới thực là ly kỳ, thực là phức tạp... còn có rất nhiều điều đau khổ không nói ra được, hoặc không thể nói rõ, mong các vị hiểu cho... hôm nay còn có những điều cần phải giữ kín, chỉ một mình ta biết thôi!

Sau khi nhìn thấy những ấn phẩm, bài nói của Tưởng Giới Thạch ở Thượng Hải, vào ngày mùng 4 tháng 6, người lãnh đạo Trung cộng Trần Độc Tú đã viết thư cho Tưởng Giới Thạch. Thư viết: "những việc tiên sinh còn giữ kín, nếu không có gì liên quan đến đảng Cộng sản Trung Quốc, thì chúng tôi cũng chẳng có quyền yêu cầu tiên sinh nói ra. Nhưng nếu là việc có liên quan đến đảng chúng tôi thì xin tiên sinh cứ nói thẳng ra, cần gì phải che giấu!

Lúc đó Tưởng Giới Thạch không nói gì. Ngày nay, tuy ông ta qua đời đã lâu nhưng thư từ và những lời ông ta nói vẫn chưa có ai đưa ra!

Không chỉ có thế, họ Tưởng còn tìm cách "cắn" trở lại một miếng đối với Uông Tinh Vệ, cấp trên trực tiếp của mình. Ngày mùng 9 tháng 4, họ Tưởng viết thư cho Uông Tinh Vệ nói:

Thượng tuần tháng 3 vừa rồi, trong lúc nói chuyện với hội nghị những người theo chủ nghĩa Tôn Văn và các hội viên liên hợp, huynh nói cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ thành công mà vẫn diệt đảng Cộng sản. Ở Trung Quốc cách mạng chưa thành công lại cũng muốn giết Cộng sản hay sao? Huynh nói như vậy là muốn ám chỉ cái gì? Các thính giả hôm đó đều lấy làm kinh ngạc. Các đảng viên, quan quân đều có ác cảm với lời nói của huynh, dễ dẫn tới trong quân, trong trường tàn sát lẫn nhau. Vì thế, mới xảy ra sự kiện hôm 20 tháng 3. Các đảng viên cộng sản nghe huynh tất phải có sự chuẩn bị. Quan quân các cấp không thể không tìm cách tự vệ! Các học viên cũ của trường, phần đông bất mãn với những hành động ấu trĩ của đảng viên cộng sản mà nuôi lòng thù hận với họ. Tất nhiên đệ sẽ giữ gìn không để xảy ra những chuyện như vậy, làm cho họ hiểu, trong lúc cách mạng chưa thành công mà giết Cộng sản có khác gì tự giết mình! Sự thực lúc đó chứng tỏ mọi người chỉ muốn tự vệ chứ không phải hành động tấn công.

Tưởng Giới Thạch muốn đẩy trách nhiệm trong sự kiện Trung Sơn hạm sang cho Uông Tinh Vệ và cho rằng đó là hành động có tính "tự vệ".

Ngoài hàng loạt những bài phát biểu, những lần nói chuyện, Tưởng Giới Thạch cũng có những hành động đáng chú ý. Đối với những người có "sai lầm" trong sự kiện Trung Sơn hạm như Vương Bạch Linh, Ngô Thiết Thành v.v... người đáng cách chức thì cách chức, có người phải xử trí. Còn tự mình thì đến nhà Uông Tinh Vệ như để "thành thực nhận tội".

Đối với những lời phát biểu của họ Tưởng, người tinh thì hiểu ngay. Chu Ân Lai nói trắng ra rằng: "Chính Tưởng Giới Thạch là người tạo ra sự kiện Trung Sơn hạm".

Lúc còn là quân đoàn trưởng quân đoàn 7 quân cách mạng Quốc dân, Lý Tông Nhân cũng nói: "Nội tình sự biến ở Trung Sơn hạm có thể chưa biết. Nhưng chính họ Tưởng là chủ mưu. Trước nhằm đả kích đảng Cộng sản, sau muốn bài xích Uông Triệu Minh. Thực khó mà hiểu được!".

Nhưng cũng chính Tưởng đã mê hoặc được khối người. Ngay như phái đoàn cố vấn Liên Xô, người lãnh đạo Trung Cộng Trần Độc Tú đều tỏ ra mình là những khán giả nhiệt thành. Khi Chu Ân Lai, Trần Diên Niên, Mao Trạch Đông định phản kích họ Tưởng lúc Tưởng còn chưa đủ sức công khai phá hoại sự hợp tác Quốc Cộng, thì Trần Độc Tú lại ra mặt biện hộ cho Tưởng, nói:

- Tưởng Giới Thạch là một cây cột bằng đá trong phong trào vận động cách mạng ở Trung Quốc. Từ ngày thành lập trường quân sự Hoàng Phố đến hôm 20 tháng 3, chưa hề thấy Tưởng có một hành động phản cách mạng nào.

Họ Trần còn biện bạch để mọi người hiểu rằng: đảng Cộng sản âm mưu phản Tưởng, tức là phản lại chính mình! Đảng viên Cộng sản âm mưu lật Tưởng, chính là muốn tự sát.

Trung ương Trung cộng do Trần Độc Tú nắm quyền đã có bước nhượng bộ lớn lao, thừa nhận những thực tế đó, làm cho Tưởng nhanh chóng tai qua nạn khỏi!

Khi sự kiện "20 tháng 3" phát sinh, Uông Tinh Vệ chủ tịch chính phủ Quốc dân thời đó đã hết sức phẫn nộ, dám chỉ trích Tưởng Giới Thạch, một thuộc hạ cả gan "múa rìu qua mắt thợ", ngay trước mặt chủ tịch, "là độc đoán, độc hành", "là tạo phản". Họ Uông triệu tập khẩn cấp các quân đoàn trưởng của sáu quân đoàn (trừ quân đoàn 1 của Tưởng Giới Thạch) như Chu Bồi Đức, Lý Tế Thâm để bàn định. Hi vọng họ sẽ tuân theo sự chỉ huy của mình, chủ tịch quân ủy, quân cách mạng Quốc dân, bắt giam ngay Tưởng Giới Thạch. Nhưng các tướng lĩnh không hề phát biểu một câu nào. Uông cảm thấy đơn độc và rút lui dần.

Sau đó, Uông chủ tịch nói:

- Sự kiện "20 tháng 3" xẩy ra, bộ chính trị, ủy ban chấp hành trung ương không hề hay biết. Khi đó ta là chủ tịch, vậy trách nhiệm của ta như thế nào? Hôm 20 tháng 3, Quảng Châu giới nghiêm, hội đồng quân sự không hề hay biết. Khi đó ta là chủ tịch hội đồng quân sự, trách nhiệm của ta đến đâu? Hôm đó, đại biểu đảng ở quân đoàn 2 đều bị bắt giữ. Khi đó ta là đại biêu chung của đảng trong quân cách mạng Quốc dân thì trách nhiệm của ta đến đâu? Lúc bấy giờ Uông mỗ cho rằng không nên đặt vấn đề sự kiện đó đúng hay không đúng. Mà phải nói làm như vậy là sai lầm. Uông mỗ cho rằng mình không thể đảm đương nổi trách nhiệm. Chính vì thế mà muốn xin từ chức!

Đúng vậy! Bất kể là về đảng, chính hay quân, mặt nào thì Uông Tinh Vệ cũng đều là cấp trên của họ Tưởng. Còn Tưởng Giới Thạch thì lại chẳng xem Uông ra gì! Nhưng ngay như những từ "vô tổ chức, vô kỷ luật", chẳng bao giờ Uông dám chụp mũ cho Tưởng là như vậy. Lòng dạ thì khó chịu, hậm hực, nhưng đành cứ buông xuôi! Có phần hơi giống với Tần Nhị Thế đối với Triệu Cao, Hán Hiến đế đối với Đổng Trác vậy.

"Đại quyền tuột dần khỏi tay" làm cho con người cảm thấy đau khổ nhất. Trong lịch sử có lẽ chỉ có một người thoát khỏi cảnh đó là Lưu Thiền thời Tam Quốc. Còn Uông Tinh Vệ đâu có được như A Đẩu! Họ Uông "đưa ra việc từ chức" chỉ là khổ nhục kế. Uông Tinh Vệ hi vọng qua đó có thể tạo được dư luận chỉ trích họ Tưởng, hạn chế Tưởng Giới Thạch bành trướng thế lực, tranh thủ được sự ủng hộ của nhiều người trong và ngoài đảng, xác lập địa vị lãnh đạo chân chính của mình.

Hiển nhiên, việc Uông từ chức tạo thành một áp lực nào đó đối với Tưởng Giới Thạch. Tăng thêm sự bất mãn của những người thuộc cánh tả với Tưởng Giới Thạch. Nhưng tiếc rằng về cơ bản mục đích của Uông không thực hiện được.

Ngược lại, đại quyền về đảng, chính, quân của Quốc dân đảng càng ngày càng tập trung vào tay Tưởng Giới Thạch: Tháng 5, trong hội nghị toàn thể ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng khóa II, họp kỳ thứ 2 đã bầu họ Tưởng là chủ tịch ủy ban chấp hành trung ương, kiêm trưởng ban quân nhân và trưởng ban tổ chức. Tháng 6, Tưởng Giới Thạch là tổng tư lệnh quân Bắc phạt.

Sau hai tháng xem xét tình hình, Uông Tinh Vệ đành ngậm ngùi, gạt lệ rời Quảng Châu lên đường sang Pháp.

7. NGHĨA KHÍ VÀ MƯU MÔ XẢO QUYỆT

Ngày 12 tháng 12 năm 1936, Dương Hổ Thành, Trương Học Lương phát động sự biến Tây An, bắt giữ Tưởng Giới Thạch, đưa ra yêu cầu: "Đình chỉ nội chiến, nhất trí chống Nhật". Tưởng Giới Thạch buộc phải tiếp nhận các điều kiện: liên Cộng chống Nhật, phóng thích chính trị phạm, đảm bảo ngừng nội chiến. Sự biến Tây An được giải quyết trong hòa bình.

Trương Học Lương là người nghĩa khí giang hồ. Để tỏ rõ cuộc "luyện binh" lần này là công tâm, không có tư thù, ngày 25 tháng 12, Trương tự mình đưa tiễn Tưởng Giới Thạch bay về Nam Kinh.

Hôm đến Nam Kinh, Trương Học Lương có viết thư gửi Tưởng Giới Thạch:

Xin Ủy tọa soi xét. Học Lương tính tình lỗ mãng, đã gây nên tội lớn bất kính và vi phạm kỷ luật. Nay theo gót về kinh, thành tâm, muốn được ngài trách phạt. Xử nặng kẻ có tội để chấn hưng kỷ cương, tương lai được đảm bảo. Phàm cái gì có lợi cho đất nước, Học Lương dù chết cũng không từ nan. Cầu xin ngài đừng vì tư tình mà phải băn khoăn, do dự. Thư không hết ý, mong được xem xét! Kính chúc vạn an!

Tưởng Giới Thạch xem xong, liền đem thư trình lên trung ương Quốc dân đảng và chính phủ Quốc dân, đồng thời có tờ trình kèm theo.

Sự biến Tây An lần này là do Trung Chính bất lực, đốc sát thiếu thấu đáo. Đệ trình chính phủ lời thỉnh cầu được miễn nhiệm các chức, xử phạt nghiêm minh, qui rõ trách nhiệm. Mong được xem xét.

Xét về Trương Học Lương, phó tư lệnh tiễu phỉ miền Tây Bắc, thay chức vụ tổng tư lệnh, để xẩy ra biến động to lớn trong địa hạt của mình, tránh sao khỏi quốc pháp, quân kỷ. Nay lại đem thân tới cửa, trói mình chịu tội. Là một thượng quan dưới quyền Trung Chính, đến kinh viết thư nhận tội bất kính, xin chịu hình phạt. Trung Chính cho rằng viên tướng này là vô tội. Mặt khác chứng tỏ quân kỷ, pháp luật trung ương ta là nghiêm minh. Nay gửi kèm cả bút lục của Trương Học Lương để chính phủ xem xét. Tội trạng nặng nhẹ, xử phạt nghiêm minh hay khoan hồng khích lệ, củi mong phân xử!

Tưởng và Trương còn trả lời trước các nhà báo. Tưởng Giới Thạch nói:

- Mọi vấn đề lúc này là phải chờ nhà nước giải quyết. Là nguyên soái tối cao của quân đội ta phải chịu trách nhiệm về sự biến Tây An. Hằng ngày, ta không lo để giữ nghiêm kỷ luật, khiến cho tà tâm nổi dậy?

Trương Học Lương bình thản nói:

- Hôm nay vui mừng được gặp các vị. Hạ quan không có gì để trình bày. Hạ quan chờ nhận tội. Hoàn toàn theo lệnh của trung ương, của Ủy tọa.

Bề ngoài Tưởng tỏ ra bao dung khoan hậu. Nhưng việc Tưởng xin từ chức là một áp lực mạnh mẽ với Trương Học Lương.

Trong nội bộ Quốc dân đảng bấy giờ có hai cách nhìn và hai ý kiến về việc xử lý Trương Học Lương: những người thuộc phái Tưởng cho rằng Trương đã ngược đãi "lãnh tụ", tội ác tày trời, cần xử thật nghiêm. Phái khác thì cho rằng, Trương đã về kinh nhận tội thì nên được khoan hồng khích lệ. Còn một số người khác thì dung hòa, phạt nghiêm cũng được, khoan hồng cũng xong. Thế nào cũng được.

Ngày 29 tháng 12, ban thường vụ trung ương Quốc dân đảng khai mạc lần họp thứ 31 để xem xét sự biến Tây An. Hội nghị ra nghị quyết về vấn đề từ chức của Tưởng:

Đồng chí Tưởng chăm lo việc nước, chăm sóc ba quân... gần đây hai quân đã vào Thiểm. Với tinh thần đại nhân, đại dũng của thủ tướng: giáo hóa bộ thuộc, thống nhất lòng quân, tuy sự biến Tây An có to lớn, nguy hiểm, nhưng cũng đã qua. Thậm chí kẻ xướng loạn đã thực sự cảm động, ân hận bộc bạch. Về sự biến lần này, đồng chí Tưởng cũng không còn gì để nói thêm. Còn việc từ chức, cần phải tha thiết giữ lại. Việc xin được xử trí thì không có gì phải bàn.

Bản nghị quyết trên mang đầy tính chất ngoại giao, ngoài việc ra sức tâng bốc uy tín "đồng chí Tưởng", cũng có một phần "xác thực", đó là "đồng chí Tưởng" "không còn gì để nói thêm".

Tiếp đó, hội nghị lần thứ 32 bộ chính trị trung ương Quốc dân đảng được triệu tập, bàn bạc nên xử lý Trương Học Lương như thế nào. Mọi người tranh nhau phát biểu và gần như đã thống nhất: "Quốc gia lấy pháp lệnh kỷ cương làm trọng. Kẻ phạm tội tuy đã đến, nhưng vẫn phải đưa ra quân pháp trị tội!".

Hội nghị lập tức đi tới quyết nghị: giao Trương Học Lương cho hội đồng quân sự xử lý theo pháp luật. Cử Lý Liệt Quân là thẩm phán trưởng, tổ chức quân pháp hội thẩm cấp cao xét xử.

Theo Lý Liệt Quân đề nghị, ban quân ủy chọn Chu Bồi Đức, Lộc Chung Lân làm thẩm phán. Ban quân pháp điều động Trần Ân Phổ, Khâu Dục Trinh và các viên thư ký Viên Tổ Hiến, Quách Tác Dân tham gia làm việc trong quân pháp hội thẩm cấp cao.

Trước cuộc hội thẩm, Lý Liệt Quân đến xin chỉ thị của họ Tưởng. Tưởng Giới Thạch mừng rỡ khi thấy Lý, liền hỏi luôn:

- Ông định xử vụ án này như thế nào?

Lý Liệt Quân cởi mở bầy tỏ ý kiến của mình, nói:

- Hành vi phản nghịch ở Tây An của Trương Học Lương là có mưu hãm hại chủ soái. Nhưng nay đã biết lỗi, đã thân tiễn Ủy viên trưởng về kinh, nên xin Ủy viên trưởng rộng lòng khoan dung là hơn!

Tưởng Giới Thạch nghe xong, trở nên đăm chiêu. Tuy không nói gì cả nhưng thái độ có phần lạnh lùng hơn!

Lý Liệt Quân biết là không phải, nên chuyển hướng nói theo một kiểu khác:

- Chính phủ Quốc dân đã bổ nhiệm Lý Liệt Quân là thẩm phán trưởng, hạ quan xin xử lý theo quân pháp.

Bây giờ Tưởng Giới Thạch mới lên tiếng:

- Ông nên thận trọng đối với vụ án này!

Lý Liệt Quân cũng đã lén hỏi Lộc Chung Lân:

- Thúy Bá, cuối cùng chúng ta phải xử vụ này như thế nào đây?

Lộc Chung Lân trầm ngâm giây lát rồi mới nói:

- Hỏi mà không xét là thượng sách. Xét mà không phán là trung sách. Một lúc phải làm cả ba thứ là hạ sách. Chúng ta cố gắng giữ lấy thượng sách. Bất đắc dĩ mới dùng đến trung sách. Còn hạ sách thì đừng đụng vào!

Tình cờ Lý Liệt Quân nhận được vụ án này. Theo ý ông, Trương Học Lương "đáng được phóng thích". Nhưng sau lần gặp Tưởng Giới Thạch làm ông bàng hoàng. Thế nào là đúng? Sau khi nghe lời đáp của Lộc Chung Lân, ông vừa gật đầu, vừa cho là phải và quyết định làm theo như vậy. Đã không trái với lương tâm, lại chẳng mắc tội với Tưởng Giới Thạch.

Ngày 31 tháng 12, hội thẩm quân pháp cao cấp mở phiên tòa tại phòng xử lớn của ban quân pháp quân sự.

Đúng 10 giờ, Lý Liệt Quân cùng các viên thẩm phán khác lên tòa. Sau khi mọi người yên vị, Trương Học Lương, miệng hơi mỉm cười được dẫn vào phòng.

Theo cách thức bên quân pháp ban quân sự, trước hết Lý Liệt Quân thẩm vấn vào những điểm quan trọng. Lý hỏi Trương:

- Vì sao bị cáo lại có hành động ở Tây An?

Trương Học Lương đáp:

- Hoàn toàn xuất phát từ yêu cầu đoàn kết chống Nhật, cứu nước.

Lý lại hỏi:

- Bị cáo có hiểu đó là hành động vi phạm quốc pháp không?

Trương Học Lương phủ nhận, nói:

- Không hiểu đã vi phạm vào điều khoản nào!

Tiếp đó Lý Liệt Quân đưa cuốn Hình pháp hải, lục, không quân cho Trương Học Lương xem và nói rõ Trương đã phạm vào điều khoản "bức bách thống soái". Sau đó lại hỏi:

- Bị cáo tự ý bức bách thống soái hay có người nào sai khiến?

Trương Học Lương không hề đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, trả lời:

- Một mình làm một mình chịu. Không có ai sai khiến cả!

Trả lời xong, họ Trương nhìn một lượt các vị thẩm phán, rồi đột ngột nói:

- Xin phép được hỏi vị thẩm phán trưởng một câu?

Lý Liệt Quân và các vị thẩm phán khác đều thấy kinh ngạc. Mãi lúc sau Lý mới nói "được".

Trương Học Lương đứng thẳng người, nói:

- Năm Dân quốc thứ hai, ngài thẩm phán trưởng từng đã khởi binh ở Giang Tây hỏi tội Viên Thế Khải?

Lý đáp:

- Có chuyện đó.

Trương Học Lương lại hỏi:

- Trách tội Viên Thế Khải tức là muốn đả đảo sự độc đoán và chuyên quyền?

Lý Liệt Quân nói:

- Đúng thế!

Sau lúc buồn cười, Trương Học Lương lại trở nên nghiêm túc, nói:

- Việc hạ quan làm ở Tây An chính là một tiếng chuông cảnh tỉnh đối với nền độc tài chuyên chính của trung ương!

Trương Học Lương không giống như một bị cáo của phiên tòa. Lời biện hộ của Trương làm Lý Liệt Quân tức giận. Họ Lý đã sẵng giọng:

- Nói láo! Ủy viên trưởng nhân cách cao thượng, sự nghiệp vĩ đại, Viên Thế Khải so thế nào được? Nhà ngươi thiếu hiểu biết, mạo muội gây ra sự biến Tây An là tự tìm đến cái chết!

Chu Bồi Đức, Lộc Chung Lân thấy tình thế căng thẳng liền dựa vào bệnh cao huyết áp của Lý mà thông báo phiên tòa tạm hoãn và dìu Lý vào nghỉ ở phòng trong.

Một lát sau, phiên tòa lại tiếp tục làm việc - Lý Liệt Quân vẫn chưa hết giận. Ông ta nghiêm nghị hỏi Trương Học Lương:

- Mục đích cơ bản của sự kiện Tây An là gì? Phải chăng ngươi có ý đồ lật đổ chính phủ? Nếu không cung khai thành thực sẽ rất bất lợi cho ngươi...!

Lộc Chung Lân thấy vậy, vội xen vào nói với Trương Học Lương:

- Hán Khanh, thẩm phán trưởng vốn người nhân hậu, hãy đừng bỏ mất thời cơ tốt đẹp này!

Trương Học Lương hiểu được ý tốt của Lộc, nên vội nói "đúng, đúng".

Lý Liệt Quân vẫn chưa hết giận lại hỏi:

- Ủy viên trưởng huân nghiệp rạng rỡ, đối xử khoan dung, thế mà ngươi lại hành động bất nhân như vậy! Hãy nói hết ra!

Trương Học Lương trả lời rành rõ:

- Tội nhân phát động sự biến Tây An là có ý đồ lật đổ chính phủ, nhằm mục đích yêu cầu ủy viên trưởng phải đoàn kết, chống Nhật, cứu nước.

Lý hỏi tiếp:

- Đã như vậy, vì sao còn tự mình đưa ủy viên trưởng về kinh?

Trương trả lời rành rõ:

- Trong sự biến đó, tội nhân tình cờ đọc được nhật ký của Ủy viên trưởng. Ủy viên trưởng bị phái ngoan cố trong đảng và những kẻ sợ Nhật bao vây. Không phải Ủy viên trưởng không muốn đoàn kết, chống Nhật cứu nước. Hơn nữa, Ủy viên trưởng đã đáp ứng những yêu cầu do tội nhân đưa ra: đình chỉ nội chiến, nhất trí chống Nhật. Mục đích đoàn kết, chống bọn xâm lược, chống Nhật cứu nước đã đạt, thì sự được mất của cá nhân đáng kể gì? Vì thế, hạ quan mới cùng về kinh nhận tội, mong có sự xử phạt nghiêm minh!

Đó là sự bộc bạch gan dạ và đầy khí phách của một trang nam nhi.

Đến đó, việc thẩm vấn những điều quan trọng đã xong. Phiên tòa nghỉ để chuẩn bị kết án. Toàn bộ bút lục được các thẩm phán lần lượt ký tên, rồi lập tức được chuyển đến chỗ Tưởng Giới Thạch để xem xét.

Sau khi họ Tưởng xem xong, tòa án được lệnh tuyên bố phán quyết theo những ý kiến được chuẩn bị sẵn: phán xử Trương Học Lương mười năm tù, mất quyền công dân năm năm - Lý Liệt Quân "theo đúng nguyên bản" tuyên bố phán quyết.

Tiếp đó, Tưởng Giới Thạch lại gửi thư lên chính phủ Quốc dân, cầu xin đặc xá cho Trương Học Lương - Trong thư kể ra nhiều lý do:

Gây sự biến Tây An, rõ ràng là phó tư lệnh tiễu phỉ miền Tây Bắc Trương Học Lương đã bị mê hoặc, xem nhẹ quân kỷ, làm điều xằng bậy. Việc xong, đã cảm nhận đức uy, bước đầu hối cải, thân đến cửa quan, dâng thư nhận tội. Việc được giao sang hội đồng quân sự, chiểu theo hình pháp hải, lục, không quân xem xét, thẩm quyết. Tòa đã tuyên phạt mười năm tù giam. Pháp luật nghiêm minh nhưng đầy tính khoan hồng! Trung Chính đang dưỡng bệnh, vốn không định trình bày gì. Nhưng nghĩ luận việc phải đúng mực. Chấp pháp mà không hại đến chữ nhân. Nhà nước định ra hình phạt để trị kẻ gian và cũng đặt ra điều xá để khuyến khích kẻ đã hối lỗi. Lần này, người đó bị mê hoặc mà phạm pháp. Tin tức lan truyền, cả nước phẫn nộ. Nếu người đó không thay đổi, tiếp tục đi vào chỗ tối tăm thì đất nước sẽ nguy nan, nguyên khí cạn kiệt, tai họa đến nơi! Nay Trương Học Lương đã van xin, bộc bạch với Trung Chính, biết đúng biết sai, biết lấy đất nước làm trọng. Biết đường thay đổi, biến họa thành phúc. Vì vậy phải lấy lý mà lượng tình, nên khoan hồng mà xá tội.Ngày nay đất nước còn lắm gian nan, cần phải có người phù nguy dẹp loạn... người đó còn cường tráng, đã trận mạc nhiều năm! Qua sai lầm lớn, nhưng đã biết tỉnh ngộ. Nên cho họ một dịp cải tà qui chính! Xưa, thủ tướng của ta trị loạn nghiêm minh, nhưng không quá chữ nhân, vì vậy, ích lợi thật lớn! Trung ương biết thương xót kẻ có tội làm cho thiên hạ vô cùng cảm động. Vì việc này mà không sợ mang tội, dám nói ra những điều ngu muội, khẩn thiết mong chính phủ xem xét con người dám cải hồi đó, đã biết tôn trọng quốc pháp, đã biết đầu thú, nhận tội mà căn cứ vào ước pháp, lại chú ý đến chữ nhân, đặc xá cho một kẻ đã mang tội hình, có dịp đái tội lập công. Nên chăng, vừa giữ được quốc pháp, vừa thể hiện được chữ nhân? Nay có thư trình lên, khẩu đầu mong được soi xét.

Tờ trình của họ Tưởng được trình lên chính phủ sau hai tiếng, kể từ lúc quân pháp hội thẩm tuyên bố phán quyết.

Sáng hôm sau (mùng 1 tháng 1 năm 1937), chủ tịch chính phủ Quốc dân Lâm Sâm gửi lại bản án để viện Tư pháp xem xét tiếp. Thế là năm mới, mọi người vẫn phải làm việc, viện Tư pháp xem xét và gửi tờ trình lên chính phủ Quốc dân.

Một buổi sáng tháng 4, ngày nghỉ tết đã hết, Lâm Sâm triệu tập cuộc họp các thành viên trong chính phủ, gửi đến từng đại biểu văn thư của Tưởng xin đặc xá cho Trương Học Lương và tờ phúc trình của viện Tư pháp để chuẩn bị lấy biểu quyết. Kết quả các thành viên chính phủ đều biểu quyết đặc xá. Ngay chiều hôm đó, chính phủ Quốc dân đã ban bố lệnh: "Trương Học Lương bị xử mười năm tù giam, nay được đặc xá, giao cho hội đồng quân sự quản thúc nghiêm ngặt.

Từ đó, Trương Học Lương tuy được đặc xá, nhưng trên danh nghĩa là "quản thúc nghiêm ngặt", Tưởng Giới Thạch gần như vẫn giam lỏng họ Trương, tước đoạt vô kỳ hạn quyền tự do của Trương. Mãi sau khi họ Tưởng qua đời, đến năm 1991, Trương Học Lương mới có được một phần tự do.

Nhìn vào toàn bộ quá trình chính phủ trung ương Quốc dân đảng xử lý Trương Học Lương, chúng ta mới thấy quỉ kế của Tưởng Giới Thạch là như thế nào!

Thứ nhất. Nguyên nhân Trương Học Lương làm "binh biến" là do họ Tưởng gây nội chiến, không chống Nhật. Nhưng Tưởng không hề đả động gì đến chuyện đó, chỉ nói là do mình "bất lực" mà thôi!

Thứ hai. Hành động của Trương là "phạm thượng", nhưng họ Tưởng không hề mắng Trương là "tội đáng muốn chết". Tuy đã biết Trương "tự thấy vi phạm kỷ luật mắc lỗi bất kính" nhưng vẫn đề xuất với chính phủ: "Xem xét nặng nhẹ, xử lý theo luật".

Thứ ba. Muốn xử tội Trương Học Lương, Tưởng Giới Thạch đã "không còn gì phải nói" nhưng "vì sao lại phải xin từ chức".

Thứ tư. Đã đưa Trương ra xử lý theo luật, mở phiên tòa xét xử, vậy sao còn phải yêu cầu xử phạt khoan hồng? Khi tòa đã tuyên án Trương mười năm tù giam, sao còn phải kể lể lý do, nói Trương là một "đồng chí tốt", xin cho giảm tội hình, "xá miễn". Rồi lại phải "quản thúc nghiêm ngặt".

Vì sao Tưởng Giới Thạch phải làm như vậy?

Một mặt, sự biến Tây An làm cho Tưởng cảm thấy "uy tín" của mình sa sút mà sinh lo. Rất muốn trả thù điều đó!

Mặt khác, trước khi Tưởng rời Tây An, ai cũng rõ Tưởng đã đảm bảo với Tống Tử Văn và Đoan Nạp về sự an toàn của Trương Học Lương.

Hơn nữa, Trương còn có hậu thuẫn là anh em quân Đông Bắc.

Chính vì những điều đó, mọi người mới nhìn thấy bộ mặt "giả nhân, giả nghĩa; khoan hồng đại lượng" của Tưởng Giới Thạch. Trên thực tế, chính họ Tưởng là tổng đạo diễn của toàn vở "thẩm Trương", "phán Trương", và "quản thúc" đối với họ Trương.

Tưởng Giới Thạch không hổ một đời gian hùng, kỹ năng dối trá và biện hộ của Tưởng đã đến mức cao siêu!

Người dịch: Ông Văn Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.