Trên đời, đâu đâu cũng có dối trá. Nói dối, không biết đã xảy ra bao nhiêu lần trong một đời người!
Trong chốn quan trường lại có nhiều người nói dối. Số lần họ dối trá còn nhiều hơn cả ngày cơm ba bữa!
Dối trá cũng có chỗ thiện, chỗ ác. Với thiện ý, thì đó là lời nói đẹp. Thầy thuốc kiểm tra thấy bệnh nhân bị ung thư, liền nói toạc ra rằng: "Ông bị ung thư rồi đó!" thì ngang bằng như nói với người bệnh: "Ông chết đến nơi rồi!". Ung thư là bệnh chưa chữa được, nên thầy thuốc chỉ báo cho người nhà bệnh nhân thôi. Cũng vậy, để cho người thân vẫn tin tưởng, sinh hoạt bình thường, người nhà đành phải nói dối:
- Thầy thuốc bảo, bệnh tình chẳng có gì trầm trọng đâu, nhanh chóng sẽ khỏi thôi!
Lại như, một quả phụ già nua đã nuôi con thành người. Con là chỗ dựa của đời họ. Về sau, người con ra trận và hi sinh ngoài chiến trường. Để cho lão mẫu có thể bình thản, hạnh phúc sống nốt quãng đời còn lại, các chiến hữu tất phải nói rằng:
- Con mẹ nhận trách nhiệm lớn. Vì bận mà chưa về thăm mẹ được. Chúng con thay mặt, thường xuyên về thăm mẹ đây!
Nhưng, nhiều lời dối trá khác là xấu xa. Chốn quan trường là nơi nẩy sinh ra nhiều điều đó.
Khi dã tâm của một viên quan sắp bị phanh phui, hoặc chưa có điều kiện để thực hiện một dã tâm nào đó, người ta phải nói dối, để phủ nhận, để tự biện hộ, để che giấu. Nói dối người khác để gạt bỏ những trở ngại hòng đạt tới mục đích xấu xa của mình.
Dối trá có khi là biện pháp để thoát khỏi một tình huống khốn quẫn nào đó. Chốn quan trường thường có nhiều điều chẳng hay ho gì. Và chẳng ai thừa nhận mình là chủ sự. Dối trá, không những có tác dụng che đậy mà đôi khi còn tăng thêm vinh quang.
Nhưng dối trá vẫn là dối trá. Thế nào rồi cũng lộ. Bởi vậy, lời nói dối có thể che đậy, lừa dối người ta được một thời, chứ không lừa được mãi!
Sau khi làm đại tổng thống, Viên Thế Khải trở nên chuyên quyền, độc đoán, nắm trọn quyền sinh sát vào tay. Nhưng như vậy vẫn chưa thỏa, vẫn chưa đủ nghiền. Hòng làm rạng rỡ tổ tiên, gia trạch đến muôn đời sau, Viên Thế Khải muốn lên ngôi hoàng đế. Hoàng đế thì muốn làm, nhưng Viên Thế Khải lại không muốn người khác "hiểu nhầm", phục hồi hoàng đế là mang tính chất cá nhân! Viên Thế Khải giả bộ xem trọng lợi ích đất nước, lợi ích nhân dân. Vì vậy, Viên Thế Khải và lũ lâu la mới cùng nhau diễn trò.
Màn 1: Viên Thế Khải đau đớn giết người quen.
Khi dã tâm phục hồi đế chế của Viên Thế Khải vừa lộ thì Cưu Bình Trị, một nhà chính trị của Hồ Bắc đã sớm đánh hơi được, liền tìm cách khuyên Viên Thế. Khải làm hoàng đế để được thơm lây.
Thế rồi, Cưu Bình Trị là người đầu tiên dâng thư lên Viên Thế Khải, viết: "Tổng thống tôn nghiêm không bằng vua một nước. Yêu cầu xây dựng đế chế lập hiến, bỏ nền cộng hoà". Viên Thế Khải mừng rỡ lắm! Không ngờ có người tri âm từ xa ngàn dặm. Viên Thế Khải thật tự hào: "Chỉ có Cưu công là hiểu ta!". Nhưng chỉ có một người là họ Cưu ủng hộ khôi phục đế chế, thì quả là chưa được. Vội quá, hóa bất lợi! Chống chế sao nổi với búa rìu dư luận! Lập tức, Viên Thế Khải giả bộ là người bảo vệ nền cộng hòa, để ra lệnh đả kích những kẻ kêu gọi "phục hồi đế chế"
Để mê hoặc người khác, Viên Thế Khải nhịn đau, sát hại người quen, ra tay với họ Cưu. Họ Viên thanh minh công khai rằng:
Cộng hòa là thể chế tốt đẹp nhất, hợp với việc trị nước yên dân! Với trọng trách là đại tổng thống được nhân dân ủy thác, xin ra sức phát huy tinh thần cộng hòa, thực hànhchuyên chế để đế chế không bao giờ được phục hồi ở Trung Quốc.
Nay có kẻ dám ngang nhiên làm điều ác hiểm. Quả là một căn bệnh đau lòng, dễ làm mọi người thối chí! Nếu bỏ qua, không tra cứu, thì tà thuyết sẽ lưu truyền, gieo rắc mầm độc, làm bại hoại nền cộng hòa, có hại đến quốc dân. Xứng sao được với các nghĩa sĩ, các tiên liệt, cùng những người bạn trong triều Thanh đã thoái vị? Cứ nghĩ đến chuyện này lại thấy phẫn nộ! Vì vậy, cần phải liệt danh những kẻ như Cưu Bình Trị, chuyển đến dân chính trưởng quan Hồ Bắc, nghiêm khắc tra xét, trừng trị theo luật, để răn đe những kẻ điên khùng khác.
Viên Thế Khải vừa muốn làm kỹ nữ, vừa muốn được dựng bia, liền đem người "tri âm" Cưu Bình Trị, là kẻ hại dân hại nước, làm vật hy sinh cho mình. Một phát súng bắn trúng con chim đầu đàn.
Màn 2. Viên Thế Khải bỡn cợt Lý Kinh Hy, lừa dối Phùng Quốc Chương.
Lý Kinh Hy là cháu của Lý Hồng Chương, trước cách mạng Tân Hợi là tổng đốc Vân, Quý. Sau khi Viên Thế Khải tiếm đoạt chức đại tổng thống, Lý Kinh Hy là nghị trưởng hội nghị chính trị. Viên, Lý là đôi bạn tâm đầu ý hợp.
Sau khi nghe tin Viên Thế Khải định xưng đế, họ Lý vội từ Thiên Tân đến Bắc Kinh hòng khuyên Viên Thế Khải không nên lội ngược dòng lịch sử.
Viên Thế Khải mừng rỡ khi được tin bạn cũ đến thăm. Liền cho đặt tiệc lớn ở Cư Nhân đường để khoản đãi.
Sau lúc cơm no rượu say, Lý Kinh Hy bỗng hỏi Viên Thế Khải:
- Bên ngoài xôn xao tin Uý Đình (tự của Viên Thế Khải) sắp xưng đế. Chẳng hay hư thực thế nào?
Viên Thế Khải nghe xong, cười ầm lên rồi đứng dậy, tay phải tì lên vai trái của họ Lý, miệng nói:
- Cửu gia (Lý Kinh Hy là người con thứ chín) nói thế nào vậy! Huynh không nghĩ rằng đệ đã ngót nghét sáu mươi rồi, sương gió đủ mùi, công danh đến độ, hà tất phải làm những chuyện mạo hiểm như vậy để làm gì. Nếu có ai bảo rằng đệ đang tính toán cho con cháu mai sau, thì huynh biết cả rồi đấy! Đệ có mấy đứa con thì chẳng đứa nào ra hồn. Thằng cả (Khắc Định), thằng Hai (Khắc Văn), suốt ngày thơ, phú ngao du với lũ bạn, đâu phải là người làm nên chuyện lớn; thằng ba (Khắc Lương), Thằng bốn (Khắc Đoan) thì tuổi nhỏ tài hèn. Cửu gia, mặc cho họ đồn đại. Là chỗ thân tình nhiều năm, hà tất khuynh lại nhẹ dạ cả tin?
Lý Kinh Hy thấy Viên Thế Khải vừa "thẳng" vừa vui, nên cũng vui lây và tin là thật.
Từ đó, trong nhiều trường hợp, Lý Kinh Hy đã "thanh minh" cho Viên Thế Khải.
Nhưng chỉ ít lâu sau, từ trong đống rác của lịch sử, Viên Thế Khải đã tìm ra cái gọi là đế chế, và quay mặt về phương nam xưng đế. Lý Kinh Hy mới biết, mình bị Viên Thế Khải chơi cho một vố. Xấu hổ đến độ, không còn muốn gặp ai. Viên Thế Khải che đậy kín đáo, dùng kế biện hộ, làm cho người bạn cũ đã tin càng tin. Bạn cũ thành người thanh minh hộ. Gian trá, giảo hoạt đến thế là cùng.
Cũng bằng thủ đoạn ấy, Viên Thế Khải lừa được Phùng Quốc Chương.
Phùng Quốc Chương là một trong "Bắc Dương tam kiệt". Sau cách mạng Tân Hợi, luôn ở Giang Tô. Viên Thế Khải vốn tính đa nghi, không còn tín nhiệm Phùng Quốc Chương như trước. Vì vậy, trước khi xưng đế, Viên Thế Khải không để Phùng Quốc Chương hay biết gì cả.
Mùa hạ năm 1915, Phùng Quốc Chương phong thanh Viên Thế Khải sẽ xưng đế. Tháng 6, Quốc Chương về kinh. Viên Thế Khải lại triệu kiến như xưa. Phùng Quốc Chương mừng lắm. Sau mấy lời thăm hỏi liền nói thẳng:
- Bên ngoài xì xào, đại tổng thống muốn xưng đế. Đang bí mật, tránh náo động ở các địa phương.
Viên Thế Khải mỉm cười, nói:
- Hoa Phủ (tự của Phùng Quốc Chương), trước sau đệ vẫn coi huynh như người nhà. Có gì nói tất. Huynh biết đấy, họ Viên ít người sống được quá sáu mươi. Năm nay. tuổi năm tám, liệu làm hoàng đế được mấy năm nữa? Huống hồ hoàng đế thì phải truyền ngôi. Huynh còn lạ gì, mấy báu vật của đệ, có đứa nào giống rồng, giống phượng đâu? Thằng cả Khắc Định là một đứa tàn phế. Thằng hai Khắc Văn là loại phong lưu danh sĩ. Thằng ba Khắc Lương là tên thổ phỉ. Liệu đứa nào trong lũ nó kế thừa được đại nghiệp đây?
Phùng Quốc Chương im bặt. Viên Thế Khải được thể nói luôn:
- Nếu người ta cứ bắt đệ phải làm hoàng đế, bức quá, ắt đệ phải đến Luân Đôn làm một Ngu công, một người tự do tự tại vậy! Đệ đã bảo thằng con học ở đấy mua sẵn nhà cửa rồi. Hoa Phủ, đừng nghĩ ngợi lung tung gì nữa. Cứ yên chí mà về Nam Kinh đi thôi!
Phùng Quốc Chương tưởng đã nghe được hết những điều máu thịt, vì vậy, ngay hôm sau, đã biện hộ cho Viên Thế Khải trên báo: "Theo điều bỉ nhân biết, thì Viên đại tổng thống không muốn làm hoàng đế!"
Mãi tới khi đế chế ra đời, Phùng Quốc Chương mới tỉnh ngộ, biết mình bị lừa.
Phùng Quốc Chương phẫn nộ, liền liên kết với thế lực quân phiệt miền Tây Nam, chống lại đế chế.
Nhìn lại quan hệ giữa Phùng và Viên, có ai ngờ Viên Thế Khải lại lừa dối Phùng Quốc Chương đến thế! Và lời thanh minh của Phùng cho Viên thật có giá trị. Trước khi xưng đế, Viên Thế Khải đã mất bao nhiêu tâm sức để che giấu dã tâm của mình.
Màn 3. Kỹ nữ, hành khất đều muốn Viên Thế Khải lên làm hoàng đế.
Mùa hạ năm 1915 vừa hết, Viên Thế Khải không còn kìm nén được dục vọng riêng tư nữa. Một hôm, họ Viên mạnh dạn thổ lộ ý nguyện của mình trước lũ thân tín: "Nếu thần dân trăm họ cứ nhất định đòi ta làm hoàng đế thì ta sẽ làm."
Ý của chủ được lũ nô tài nhanh chóng thực hiện. Chẳng bao lâu, trong ngoài thành Bắc Kinh mọc lên như nấm các đoàn tình nguyện, yêu cầu Tham nghị viện cho phục hồi lại đế chế. Như: "Toàn quốc tình nguyện liên hiệp hội", "Các tỉnh Công dân tình nguyện đoàn", có cả "Hành khất tình nguyện đoàn" v.v... Phong trào tình nguyện nhanh và mạnh. Cả nước rầm rầm rộ rộ. Trên từ vương công di lão, quan viên chính phủ, tướng quân các tỉnh, tuần an sử và chính khách, dưới đến thương nhân, dân lang thang, phu xe, kỹ nữ cùng hành khất. Trên khắp thành thị Bắc Kinh, người người đều cuồng nhiệt mong được nhìn thấy cái đế chế vừa bị sụp đổ mấy năm rồi.
"Kỹ nữ tình nguyện đoàn" và "Hành khất tình nguyện đoàn" vẫn là hai đoàn thể sáng giá nhất!
"Kỹ nữ tình nguyện đoàn" là ngọn cờ của lũ kỹ nữ trong tám ngõ hẻm lớn Bắc Kinh.
Tám ngõ hẻm lớn trong thành Bắc Kinh là nơi các quý nhân quan lớn, các danh tướng vào ra mua vui. Một dạo, chị em được nghe số khách làng chơi có máu mặt nói rằng: "Bất luận là ai dám dâng thư tình nguyện tán thành đế chế, thì nhất định sẽ được thưởng hậu". Thế là có mấy chị em gặp vận may thường được hầu hạ các yếu nhân trong chính giới, mong muốn sau này cũng được vinh hoa, liền cùng với một số khác dâng thư tán thành.
Cầm đầu là kỹ nữ Hoa Nguyên Xuân - "hào kiệt trong đám nữ", người tình được con cả của Viên Thế Khải là Khắc Định sủng ái.
Nghe đâu như khi đọc bức thư tình nguyện của lũ kỹ nữ, họ Viên đã nói với "mười ba thái bảo":
- Kỹ nữ cũng khuyên như vậy. Sau khi thành công, phải tặng thưởng cho họ cái gì đây?
Dương Độ, người nắm giữ vai trò trù bị, đứng ngay cạnh đã nói luôn:
- Chẳng khó khăn gì! Sau này hoàng thượng cứ theo danh sách những người dâng thư mà ban thưởng cho họ một phiếu kinh doanh đặc biệt. Nghề bán trôn nuôi miệng cũng được coi là một nghề của triều mới vậy!
Viên Thế Khải cả cười và gật đầu.
Về sau, Dương Độ nghĩ lại, cảm thấy có phần bất tiện, nên không đưa tình nguyện thư của kỹ nữ in chung vào tập thư tình nguyện.
Hành khất tổ chức cũng không kém phần sôi nổi. Là một tổ chức theo chủ ý của Dương Độ.
Trong lúc tổ chức những đội tình nguyện, Dương Độ nghĩ cách tìm ra một cái gì đó mới mẻ. Một hôm, ngồi xe qua phố, Dương Độ thấy hai tên hành khất đang cãi cọ. Một tên nói: "Ngươi thật chẳng coi trời đất ra gì. Nền cộng hòa dân quốc thiếu mất vương pháp. Chứ một khi hoàng đế xuất hiện thì chắc không bao giờ nhà ngươi còn được ngang ngược nữa!" Dương Độ nghe xong, chợt hiểu: "Thế là hành khất cũng cần đến đế chế!" Đó mới là điều khác lạ!
Khi về nhà, Dương Độ liền sai người đi triệu tập hết lũ thủ lĩnh hành khất từ mọi ngả đường đến, giảng cho chúng một bài "tình nguyện" thực hành đế chế và tuyên bố những ai có tên trong danh sách tình nguyện thì được một đồng. Thủ lĩnh hành khất được phát ba trăm, hạn trong ba ngày phải triệu tập xong. Có tiền là có người. Hành khất trong khắp kinh thành đua nhau kéo đến. Nội một ngày đã có hơn một vạn tên kéo đến. Người biết lỗ mỗ thì ký tên vào thư tình nguyện. Kẻ một chữ cắn đôi không biết thì điểm chỉ.
Qua thống kê, hành khất vẫn là đông nhất trong số những người dâng thư tình nguyện.
Sau lúc động viên được lũ hành khất, Dương Độ nói với Viên Thế Khải:
- Công đức của đế vương xưa rải đều cả trên những dúm xương khô, được sử xưa ca tụng. Ngày nay ân nghĩa của ngài rải đến tận tiện dân. Hành khất cũng xin khôi phục lại đế chế. Cứ thế mà suy thì điều hay đã rõ!
Viên Thế Khải cảm thấy dễ chịu trước những lời tâng bốc, mặt mày thật rạng rỡ:
- Nhà ngươi vất vả. Chi phí hết bao nhiêu tiền cứ báo lại cho đầy đủ mà lấy.
Dương Độ vội vàng tâu trình:
- Đấy là công việc bỉ nhân tự nguyện, không phải chi tiêu gì. Lũ hành khất cũng tự động làm việc này. Biết bỉ nhân là người chuẩn bị và đề xướng, chúng liền cử đại biểu là các thủ lĩnh đến dâng lên thư tình nguyện xin khôi phục lại đế chế. Chúng chỉ ước mong có nhà để trú chân, có xưởng làm nghề, được phát cơm gạo và quần áo, hết cảnh đói rét.
Đấy! Cái gọi là ý dân "tình nguyện" là vậy! Quả là những lời dối trá.
Màn 4. Các tỉnh "nhất trí" tôn vinh Viên Thế Khải lên làm hoàng đế.
Viên Thế Khải cùng lũ tay chân không những nặn ra cái gọi là dân ý, mà còn ép buộc phải cử hành hội nghị đại biểu quốc dân để biểu quyết: Thực hành đế chế hay không?
Đây là khâu then chốt. Để khôi phục đế chế một cách thuận lợi, Viên Thế Khải cùng lũ thân tín quyết định phần lớn danh sách số đại biểu.
Đại biểu quốc dân tuy đã được lựa chọn, nhưng vẫn phải thông qua "tuyển cử", coi đó là "ý dân", là việc làm "nghiêm túc":
Và ngày 11 tháng 12 năm 1915, Tham chính viện họp, quyết định đế chế. "Đại biểu quốc dân" các tỉnh về dự có 1993 người. Phiếu tán thành nền quân chủ lập hiến là: 1993, không có phiếu sai, phiếu phản đối. Thư suy tôn của các tỉnh, viết: "Suy tôn đại tổng thống hiện nay, Viên Thế Khải làm hoàng đế đế quốc Trung Quốc. Vì quyền lợi tối thượng của đất nước, hoàng thượng nắm đại quyền, thừa thiên hành đạo, truyền lại muôn đời."
Dương Độ, tham chính viện và Tôn Dục Quân đề nghị:
- Bản viện được các tỉnh ủy thác là tổng đại biểu. Với danh nghĩa đó, bản viện đã có thư suy tôn.
Lời vừa dứt, Lâm Trường Dân, chánh văn phòng viện, tuyên đọc thư suy tôn. Toàn thể thông qua.
Trưa hôm đó, Viên Thế Khải nhận được thư suy tôn và trả lại. Họ Viên tỏ vẻ rất tôn trọng dân ý, nhưng lại thoái thác: "Suy tôn là việc lớn, đại hội đại biểu quốc dân, tổng đại biểu cần thận trọng, suy tôn người khác có năng lực hơn!"
Viên Thế Khải giỏi đóng kịch, giả bộ đùn đẩy, giúp lũ tay chân có cơ rửa sạch dã tâm bội tín, bội nghĩa. Vì vậy, ngay chiều hôm đó, Tham nghị viện nhóm họp trở lại, "thông qua" thư suy tôn lần hai, đã được chuẩn bị sẵn. Thư còn trách cứ Viên Thế Khải đã bội phản quốc dân.
Mờ sáng hôm sau, Viên Thế Khải buộc phải ra một bản cáo thị. Dẫn ra toàn bộ nội dung thư suy tôn, cáo thị viết: "Thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách. Vì lòng yêu nước phải dấn thân lên trước! Quốc dân kỳ vọng ta, trách cứ ta, ta không thể thoái thác!".
Thế là vì "tôn trọng dân ý", vì "cứu nước cứu nòi", Viên Thế Khải "đành phải" lên ngôi hoàng đế.
Chốn quan trường thời Dân quốc, quan niệm về hai tiếng "Dân quốc" đã đi vào lòng dân. Vì vậy, ép buộc để có dân ý hoặc làm theo dân ý ngày được chú trọng hơn. Có thể nói, Viên Thế Khải là người có công đầu trong việc này! Từ đó, mượn cái gọi là "dân ý" để vi phạm ý dân trở thành một phương pháp hay ho nhất, thường dùng nhất trong chốn quan trường.
Người ta mượn "dân ý" để thanh minh cho những hành vi, những dã tâm xấu xa nhất của mình. Nhất thời thành công, âm mưu được thực hiện. Dù vậy, ý dân vẫn mãi mãi tồn tại. Như Viên Thế Khải kia, mưu ma chước quỷ, mượn "dân ý" xưng đế, thì cuối cùng vẫn bị người đời phỉ nhổ. Thật đáng ô hô cho cái mạng của hắn!
Mấy ngàn năm trước, Tuân Tử từng nói: "Nước nâng thuyền và nước cũng có thể lật thuyền."
Được hay mất, lòng dân là điểm mấu chốt. Những người làm quan cần phải chú ý. Kẻ nào đi ngược lại lòng dân, kẻ đó tự chuốc lấy thất bại nhục nhã!
2. AI CỬ CAO TÔNG VŨ ĐI CÔNG CÁN
Ngày 7 tháng 7, sau khi nổ ra sự biến Lư Cầu Kiều, buộc Tưởng Giới Thạch phải kháng chiến. Nhưng không bao giờ họ Tưởng mất đi ảo tưởng "mưu hòa" với Nhật để giải quyết cuộc chiến tranh Trung Nhật.Sau khi Nam Kinh bị vây khốn chưa lâu, Tưởng Giới Thạch lệnh cho vụ trưởng Vụ Châu Á - Bộ Ngoại giao Quốc dân đảng Cao Tông Vũ xin "nghỉ phép dài hạn". Lúc này Vũ là đặc phái viên, cầm giấy của Quân ủy hội và giấy giới thiệu có con dấu và chữ ký của Tưởng Giới Thạch, đi Hương Cảng và nhiều nơi khác nghe ngóng tin tức "hòa bình" từ phía Nhật Bản. Hàng tháng, Cao Tông Vũ được nhận khoản trợ cấp hoạt động, trong ngân sách bảo mật của ngành quân sự là sáu ngàn đồng (khoảng nghìn đô la Mỹ), do viện trưởng Viện Hành chính kiêm chánh văn phòng Quân sự ủy viên hội La Quân Cường giải quyết theo "thư tay" của họ Tưởng. Theo chế độ thu, chi ngoại hối khi đó, nhất loạt phải thông qua ngân hàng trung ương. La Quân Cường phải lấy danh nghĩa là Văn phòng quân ủy gửi công văn đến ngân hàng trung ương để thi hành.
Từ đó, ở Bộ Ngoại giao không còn thấy bóng dáng Cao Tông Vũ đâu nữa! Bộ trưởng ngoại giao Vương Sủng Huệ lấy làm lo lắng: "Cu cậu biến đi đằng nào rồi?"
Vương Sủng Huệ dò la và được biết: có một lần, người của Tưởng Giới Thạch đến đưa Cao Tông Vũ đi. Và từ đó chẳng có tin tức gì nữa.
Thế rồi Vương Sủng Huệ đến gặp Tưởng Giới Thạch, giọng điệu hết sức bí mật:
- Uỷ viên trưởng, ngài đã cử Cao Tông Vũ đi công cán rồi chăng? Lâu lắm không thấy ông ta có mặt ở nhiệm sở!
Tưởng Giới Thạch đưa mắt nhìn Vương Sủng Huệ, giọng nói thật nghiêm túc:
- Không, ta không biết! Lần trước, nghe đâu phu nhân họ Cao ốm đau ở Hương Cảng. Cao Tông Vũ xin nghỉ phép đi thăm. Thế nào? Hiện nay vẫn chưa có mặt ở Hán Khẩu? Cũng không xin nghỉ phép gì cả?
Vương Sủng Huệ va phải chiếc đinh còn mềm! Từ đó, không dám hỏi gì nữa!
Mấy tháng sau, có một hôm, Khổng Tường Hi, Hành chính viện trưởng, bỗng thấy một văn kiện bên Văn phòng quân ủy đề nghị chi tiền cho đặc phái viên họ Cao ở ngân hàng trung ương (Khổng còn là chủ ngân hàng). Họ Khổng phát bực, liền ngồi xe thẳng tới gặp Tưởng Giới Thạch và hỏi:
- Ngài cử Cao Tông Vũ ra nước ngoài, mà không hề cho Viện Hành chính biết qua!
Tưởng Giới Thạch vốn là kẻ vô lại nổi danh. Trước lời chất vấn của Khổng Tường Hi, ông ta vẫn bình tĩnh, mặt không biến sắc. Lại còn giả bộ kinh ngạc:
- Ồ! Việc này, việc này ta không biết. Ta có cử Cao Tông Vũ công cán gì đâu? Ừ! Để ta xem lại xem sao!
Khổng Tường Hi hầm hầm bỏ đi.
Nguyên tắc làm việc của Tưởng Giới Thạch là: "Chính trị là bí mật. Nhà chính trị, việc tay trái làm, tay phải không cần biết." Tưởng Giới Thạch lấy đó răn dạy thân tín, tả hữu.
Cuộc kháng chiến chống Nhật vừa bắt đầu. Cả nước vùng lên. Phàm ai nói đến hòa bình thì dân coi người đó là Hán gian. Nói gì tới việc đi lại với địch! Tưởng Giới Thạch là "lãnh tụ" của kháng chiến. Đương nhiên, không dám thừa nhận "con đường đại nghịch" đó rồi! Đành phải dối trá vậy. Nếu không, tin tức lan truyền thì còn mặt mũi đâu mà nhìn mọi người? Làm sao để duy trì được địa vị thống trị của mình!
3. TƯỞNG GIỚI THẠCH KHÔNG NHẬN SAI
Ngày 8 năm 1945, quân Nhật đầu hàng. Quân Đồng minh tràn vào nước Nhật. Khi xử lý tài liệu của nội các Nhật trong thời gian chiến tranh, phát hiện có văn kiện ghi chép về cuộc đàm phán giữa "người ủy nhiệm" của họ Tưởng là Mậu Bân và Tiểu Cơ Quốc Chiêu của Nhật. Nhật gọi đó là "Văn kiện Tả Đằng".Tư lệnh tối cao quân chiếm đóng Mc Arthur nghe tin lấy làm bực dọc vô cùng. Vì giữa các nước đồng minh chống phát xít có hiệp nghị: không được đơn phương giảng hòa với quân Nhật. Tưởng Giới Thạch cử người hòa đàm riêng lẻ với quân Nhật là hành động bội tín. Mc Arthur báo toàn bộ nội vụ lên Tổng thống Mỹ.
Tổng thống Mỹ lệnh cho tướng Mc Arthur tiến hành điều tra.
Cuối năm 1945, quân Đồng minh truy bắt tội phạm chiến tranh ở Nhật. Tiểu Cơ Quốc Chiêu là tội phạm chiến tranh loại A bị tống giam. Tiếp đó, tòa án quân sự quốc tế Viễn Đông xét hỏi Tiểu Cơ. Tiểu Cơ được hỏi về cuộc hòa đàm giữa hắn và đại biểu Chính phủ Trùng Khánh, Trung Quốc.
Thẩm tra viên hỏi:
- Vì sao Mậu Bân phải đổi tên thành "Tả Đằng"?
Tiểu Cơ đáp:
- Nghĩ tới công tác tình báo của Mỹ khá lợi hại, nên mới phải đổi tên thành tên Nhật.
- Có ghi chép gì cụ thể về cuộc hội đàm đó không?
- Có. Lưu giữ ở ngoại vụ.
Khẩu cung của Tiểu Cơ với nội dung "Văn kiện Tả Đằng" ở ngoại vụ là hoàn toàn nhất trí. Tòa án quân sự quốc tế Viễn Đông báo đến Mc Arthur kết quả điều tra đó.
Nhân chứng, vật chứng đầy đủ, Mc Arthur tức giận, gọi điện luôn cho chính phủ Tưởng Giới Thạch. Giọng nói của Mc Arthur chẳng lấy gì làm thú vị lắm.
Tòa án quân sự Viễn Đông, qua thẩm vấn thủ tướng Tiểu Cơ Quốc Chiêu phát hiện thấy quý chính phủ vi phạm hiệp ước, đơn phương giảng hòa với Nhật Bản. Quý quốc cần phải giải thích về vấn đề này.
Tưởng Giới Thạch tỏ ra không hiểu gì cả. Trả lời qua điện thoại:
- Đề nghị quý phương nói cụ thể hơn.
Mc Arthur bực dọc bảo thủ hạ đem "Văn kiện Tả Đằng" cùng toàn bộ lời khai của Tiểu Cơ gửi hết cho Tưởng Giới Thạch.
Tưởng Giới Thạch gọi điện phủ nhận luôn:
Chính phủ Trung Quốc không hề phái Mậu Bân sang Nhật giảng hòa. "Văn kiện Tả Đằng" lại càng kỳ quặc. Có thể là âm mưu, một kế sách tinh vi của tội phạm chiến tranh Nhật. Đúng là Trung Quốc có Mậu Bân, một nhân vật thuộc phái thân Nhật điển hình. Mậu Bân nhiều lần sang Nhật, từng viết "Võ đức luận" thổi phồng tinh thần võ sĩ đạo ở Nhật. Sau khi cuộc kháng Nhật bùng nổ, Mậu Bân phản quốc chạy sang với địch, làm Hán gian, làm phó hội trưởng hội Tân Dân. Về sau lại chạy sang chính phủ ngụy Uông Tinh Vệ, giữ chức phó viện trưởng viện Lập pháp. Sau khi quân Nhật đầu hàng vô điều kiện, Mậu Bân đã bị chính phủ Trung Quốc bắt giữ. Trước mắt đang bị thẩm vấn, kẻ này là Hán gian cực kỳ tàn ác. Không ai tin rằng, chính phủ Trung Quốc lại cử hắn đi đàm phán với Nhật! Nếu hắn thực sự hợp tác, lẽ nào còn bị chính phủ Trung Quốc bắt giam?
Tưởng Giới Thạch nói đâu ra đấy, Mc Arthur đành im lặng. Mãi sau mới nói:
- Cần phải lấy kết quả xử lý Mậu Bân báo đến tòa án quân sự Viễn Đông cho sáng tỏ vấn đề.
Thực ra lúc này Mậu Bân đang nghỉ ngơi, tự tại cùng gia đình. Những điều Tưởng Giới Thạch nói, ngoài việc Mậu Bân là Hán gian, đều là giả dối hết.
Mậu Bân được Tưởng Giới Thạch cử đi hội đàm với Tiểu Cơ Quốc Chiêu. "Văn kiện Tả Đằng" là thật.
Mậu Bân, tự Phủ Thành, người Vô Tích, Giang Tô. Trước chiến tranh kháng Nhật từng là ủy viên Ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng, giảng viên trường quân sự Hoàng Phố, đại biểu của đảng trong quân đoàn I quân cách mạng Quốc dân, từng là ủy viên tỉnh Giang Tô Quốc dân đảng kiêm Trưởng ban dân chính, về sau vì tham ô nên Tưởng Giới Thạch cách chức Bân.
Sau khi giặc Nhật xâm lược Trung Quốc, Mậu Bân bán nước cầu vinh, đầu hàng quân xâm lược Nhật. Tháng Giêng năm 1938, tại Hoa Bắc, Mậu Bân tham gia cái gọi là "Hội Tân Dân" do cơ quan đặc vụ khống chế, giữ chức hội phó, đồng thời kiêm nhiệm giám sát bộ trưởng và chỉ đạo bộ trưởng của trung ương hội.
Lúc tại chức, Mậu Bân đã viết sách ca ngợi cái gọi là "cùng vinh hoa cùng tồn tại" giữa Trung Nhật. Mậu Bân tích cực hoạt động, làm cho "Tân Dân hội" được nẩy nở nhiều ở vùng Hoa Bắc, đẻ ra lắm phân chi hội. Mậu Bân còn mở lớp huấn luyện thanh niên, nô dịch hóa nền giáo dục, đầu độc không ít thanh niên.
Tháng 6 năm 1939, Mậu Bân đi thăm Nhật, gặp Uông Tinh Vệ, Chu Phật Hải ở đó. Họ thỏa thuận tổ chức cái gọi là chính quyền ngụy họ Uông và thảo luận vấn đề vận động hòa bình. Uông Tinh Vệ kéo Mậu Bân vào bọn.
Tháng 3 năm 1940, chính phủ Nam Kinh ngụy của Uông Tinh Vệ được thành lập. Uông Tinh Vệ công bố danh sách các ủy viên chính thức trong chính phủ, tên Mậu Bân dẫn đầu. Tháng 5, Bân là ủy viên ban Hành pháp trong chính quyền ngụy của Uông. Tháng 12 năm đó, Mậu Bân là ủy viên trung ương Quốc dân đảng của Uông.
Sau khi nhập bọn, Bân có nhiều cống hiến. Bân đã lôi kéo được thủ lĩnh Tổng đội du kích biên khu Tô Lỗ Hoãn8 Quốc dân đảng vùng Tô Bắc là Hỉ Minh Dương, Lý Trường Giang về với Uông. Được hơn một vạn quân. Sau biên chế thành tập đoàn quân số 1. Có bốn sư đóng quân ở vùng Thái Châu, Giang Đô, Tĩnh Giang.
Vì có công lớn nên Mậu Bân được bổ nhiệm chức phó viện trưởng viện Lập pháp. Mậu Bân ra sức phục vụ họ Uông, nên họng súng của Quân thống đặc công đã chĩa vào Bân.
Bân cảm thấy mình bị bên Quân thống uy hiếp, liền cho người đến cầu xin và tình nguyện cung cấp tin tình báo cho Quân thống.
Mậu Bân trở thành nhân vật phục vụ cho cả hai bên.
Mùa xuân năm 1942, Uông ngụy đặc công Lý Sĩ Quần phát hiện ra đài điện bí mật giúp Mậu Bân "tư thông" với Trùng Khánh. Uông ngụy chất vấn. Mậu Bân một mực đổ cho con gái làm. Một tháng sau, Nhật Bản cử quân tổng bộ đến giải phóng cho Mậu Bân đang bị giam lỏng. Uông Tinh Vệ nể mặt người Nhật để Mậu ra khỏi viện Lập pháp, bổ nhiệm chức phó viện trưởng viện Khảo thí.
Người Nhật cứu Mậu Bân, để họ Mậu làm kẻ trung gian, thăm dò khả năng "hòa đàm" của Tưởng Giới Thạch. Mậu Bân vui vẻ nhận làm "nhịp cầu trung gian".
Mậu Bân thông báo ý đồ của Chính phủ Nhật Bản với Đái Lạp ở Trung Khánh. Đái Lạp điện trả lời đồng ý để Bân đi Đông Kinh thay mặt Tưởng Giới Thạch đàm phán với phía Nhật. Mậu Bân vốn là kẻ giảo hoạt gian trá. Hắn nghĩ: giả dụ sau này, Tưởng Giới Thạch không thừa nhận cử mình đi Nhật thì mình gánh sao cho hết tội? Thế rồi Bân trả lời ông bạn họ Đái, yêu cầu Tưởng Giới Thạch phải có lệnh cử mình đi Nhật Bản.
Tưởng Giới Thạch sơ ý viết luôn. Đái Lạp gửi điện văn "Ủy lệnh phái đi Đông Kinh" đến tay Mậu Bân. Ngày 16, tháng 3 năm 1945, từ Thượng Hải, Mậu Bân đường hoàng lên máy bay đi Đông Kinh. Đổi tên thành "Tả Đằng". Mậu Bân hoạt động ở Nhật Bản bốn mươi hôm. Sau khi xác định rõ Mậu Bân là đại biểu đại diện cho Chính phủ Quốc dân đảng Trung Khánh. Và ở Li Cung tân quán, hai bên hội đàm nhiều lần. Nội dung chủ yếu là:
1. Thủ tiêu chính quyền Nam Kinh ngụy và Chính phủ ngụy. Thu hồi các vùng đất Hoa Bắc, Hoa Đông. Thành lập chính quyền tạm thời Nam Kinh.
2. Sau khi thành lập chính quyền tạm thời, chính phủ Nhật Bản lập tức đàm phán với chính phủ Quốc dân đảng Trùng Khánh về đình chiến và rút quân.
3. Hiệp nghị đình chiến chính thức ban hành thì chính phủ Quốc dân trở về Nam Kinh.
4. Nhật Bản được hưởng lợi ích đặc biệt về mặt kinh tế ở Trung Quốc.
Nội bộ chính phủ Nhật Bản bàn cãi. Phái đối lập chỉ trích Tiểu Cơ, chưa có quyết nghị của nội các đã đàm phán với Trùng Khánh là phi pháp. Vì vậy, chuyến đi Nhật của Mậu Bân chưa có kết quả.
Sau khi giặc Nhật đầu hàng, lũ Hán gian lớn bé đều lần lượt bị bắt. Riêng Mậu Bân không ai đụng đến. Tạm lánh trong biệt thự Hoa Viên, số 158 đường Thiệu Hưng, Thượng Hải.
Vì sao Tưởng Giới Thạch phải phủ nhận mình đã cử Mậu Bân sang Nhật giảng hoà?
Trung Quốc có câu nói: "Càng phản động càng phải kín!"
Khi được Mc Arthur gọi điện chất vấn, họ Tưởng kinh hoàng thất sắc. Không ngờ bộ tư lệnh Đồng minh đã nắm được điều cơ mật quan trọng đó. Việc bại lộ thì vai trò thủ lĩnh của Tưởng sẽ mất sạch. Vì vậy, ban đầu Tưởng giả bộ làm ngơ. Cho đến khi Mc Arthur gửi "Văn kiện Tả Đằng" đến, thì Tưởng hốt hoảng thực sự! Làm gì đây? Biện pháp duy nhất là chối biến!
Đồng thời, họ Tưởng sử dụng hai biện pháp khẩn cấp. Cho Hà Ứng Khâm mời Mậu Bân đến Nam Kinh, giả nói là chính phủ chuẩn bị giao công tác mới, và bất thần như ý, cho Đái Lạp lấy lại tờ điện văn "cử Mậu đi Đông Kinh" năm trước. Còn ra lệnh cho Đái Lạp "bắt giữ Mậu Bân, xử tử theo luật."
Mậu Bân bị bắt giải về Tô Châu.
Ngày 3 tháng 4 năm 1946, Giang Tô đã mở phiên tòa xét xử Mậu Bân. Đây là án xử Hán gian đầu tiên của Tòa án Quốc dân đảng sau chiến tranh. Vì vậy, nhân dân hết sức quan tâm. Riêng ký giả các báo đã có hơn một trăm người.
Mở đầu thẩm vấn, Thẩm phán trưởng Thạch Mỹ Du, theo thông lệ, hỏi quốc tịch, tuổi tác, nghề nghiệp của Mậu Bân. Tiếp đó, kiểm sát viên Lý Thự Đông đọc cáo trạng:
... Sau lúc chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, Mậu Bân phản quốc đầu hàng địch. Câu kết với đặc công Cổ Dã Sủng giặc Nhật. Thành lập Tân Dân hội của Hán gian vào năm Dân Quốc thứ 27, làm phó hội trưởng kiêm trungương giám sát bộ trưởng. Thúc đẩy Nhật Mãn hợp tác, chống đối trung ương. Dựng phòng huấn luyện thanh niên, nô dịch hóa nền giáo dục. Mùng 6, năm Dân Quốc thứ 28 đến Nhật, thăm hỏi thân tình với lũ cận vệ địch Văn Ma, Tiểu Cơ Quốc Chiêu, A Bộ Tín Hành, Mễ Nội Quang Chính. Còn thỏa thuận vận động hòa bình cùng lũ giặc Uông Tinh Vệ, Chu Phật Hải ở Đông Kinh. Về sau lại theo Uông, làm đến phó viện trưởng viện Lập pháp, phó viện trưởng viện Khảo thí. Năm Dân Quốc thứ 29, lại lôi kéo Lý Trường Giang, phó tổng chỉ huy đội du kích thứ 4 của Giang Nam theo về Uông Tinh Vệ...
Lệnh khởi tố đọc xong, thẩm phán trưởng Thạch Mỹ Du nói: "Kiểm sát viên Lý Thự Đông đọc bản cáo trạng về hành vi của Mậu Bân theo điểm 2 khoản 1 và khoản 13 trong quy định "điều khoản trừng trị Hán gian". Tòa đã thụ lý. Mậu Bân, ngươi còn gì muốn nói?".
Thạch Mỹ Du vừa dứt lời, Mậu Bân gần như gào lên: "Ta oan uổng! Oan uổng lắm! Cho ta gặp Tưởng ủy viên trưởng!".
Tiếp đó, Mậu Bân đọc tờ tường trình đã chuẩn bị sẵn để biện hộ cho mình:
- Trong thời gian kháng chiến, Mậu mỗ tuy làm cho ngụy, nhưng không thực lòng phò ngụy. Từng ngấm ngầm đưa tin cho Quân thống trung ương, làm việc cho cục Quân thống. Mậu mỗ cứu nước bằng phản gián, làm địch suy yếu, lấy địch khống chế địch, góp phần làm địch tan rã. Tưởng ủy viên trưởng từng nói: "Kháng chiến có nhiều cách, ngoài chiến trường ra, hoạt động phản gián rất quan trọng."
Thạch Mỹ Du rung chuông và quát rằng: "Mậu Bân không được nói bừa!"
Mậu Bân tỏ vẻ bất khuất: "Mậu mỗ không nói bừa. Ta lôi kéo Lý Trường Giang về với Uông Tinh Vệ, làm đến tổng tư lệnh tập đoàn quân hòa bình số 1. Số quân của ông ta chưa đến một sư, sau biên chế thành bốn sư. Bây giờ quân của Lý Trường Giang đã đổi thành quân cách mạng quốc dân. Đó là công lớn chứ! Sao bảo là nói bừa!?
Đối với lời biện hộ của Mậu Bân, kiểm soát viên Lý Thự Đông đã bác bỏ trước tòa. Cuối cùng Lý Thự Đông nói:
"Trong sáu năm qua, Mậu Bân theo đặc công Nhật, giữ các chức vụ quan trọng trong chính phủ. Rõ ràng là theo địch chống lại trung ương. Sau này có quan hệ với cục Quân thống. Đó chỉ là cớ, vì lúc bấy giờ cuộc chiến tranh Thái Bình Dương của Nhật đã hầu như thất bại. Vậy là tội, không phải là công!
Ngày mùng 8 tháng 4, Mậu Bân được giải tới tòa án Giang Tô, nghe phán quyết. Phán quyết rằng: "Mậu Bân theo địch, chống lại đất nước. Bị tử hình, tước quyền công dân, toàn bộ tài sản, được giữ một phần cho sinh hoạt gia đình, còn thì tịch thu sung công."
Phán quyết xong, Thạch Mỹ Du nói: "Bản án này còn được tòa án tối cao phúc thẩm".
Án tử hình như tiếng sét ngang tai! Mậu Bân bất ngờ đã thét lớn: "Bản án không phù hợp thực tế. Nhất định phải xin phúc thẩm! Chỉ riêng việc Tưởng ủy viên trưởng cử ta đi Đông Kinh hòa đàm, đã cứu được ta rồi!"
Cử tọa lấy làm kinh ngạc. Thạch Mỹ Du rung chuông và tuyên bố: "Phiên tòa kết thúc!". Luật sư của Mậu Bân cũng cho rằng, bản án quá nặng. Nhưng tòa đã phán quyết, phải chờ kêu lên trên. Luật sư cho rằng, Mậu Bân thay họ Tưởng sang Nhật đàm phán hòa bình là tình tiết quan trọng, có công. Tiếc là lệnh của Tưởng ngày ấy, hiện đang nằm trong tay Hà Ứng Khâm.
Mậu Bân nhờ luật sư báo với phu nhân Hạng Tú Cẩm, đề nghị bà gặp Hà Ứng Khâm nhận lại điện báo lệnh của Tưởng Giới Thạch. Nếu không được, phiền họ Hà viết giấy chứng thực cho!
Hạng Tú Cẩm đi ngay Nam Kinh, gặp Hà Ứng Khâm nói rõ ý định.
Hà Ứng Khâm há hốc miệng ra vẻ kinh ngạc, hỏi: "Tưởng ủy viên trưởng viết lệnh cho Mậu Bân? Còn đánh thành văn bản? Có việc ấy sao? Chà! Có thể Mậu Bân tiên sinh nhầm lẫn cả rồi. Ta chưa hề nghe thấy ai nói tới điện báo của Tưởng tiên sinh. Càng không có chuyện ta cầm tờ điện báo đó!
Hà Ứng Khâm nói xong, không để ý đến lời cầu xin của Hạng Tú Cẩm nữa!
Mất chứng cứ, khẩu thuyết vô bằng. Vì vậy, sau khi đơn kháng cáo của Mậu Bân gửi lên tòa án tối cao ở Nam Kinh, ngày mùng 3 tháng 5 năm 1946 được đưa ra xem xét. Tuy thấy tòa Giang Tô xử chưa "thỏa đáng", nhưng vẫn phải y án.
5h50' chiều ngày 21 tháng 5, sau khi nhận được kết luận của tòa tối cao, chỉ vẻn vẹn có bốn tiếng, Mậu Bân bị hành quyết.
Trong số Hán gian, Mậu Bân là người bị bắt muộn nhất, nhưng là người đầu tiên được xem xét. Xem xét nhanh, kết luận nhanh, chấp hành nhanh. Một tội nặng được xét xử nhanh nhất ở Nam Kinh.
Lúc trái tim Mậu Bân ngừng đập cũng là lúc họ Tưởng cảm thấy yên tâm nhất. Trong chốn quan trường, nói dối ba lần là thành sự thật! Qua vụ Mậu Bân, Tưởng Giới Thạch luôn luôn dối trá, đùn đẩy trách nhiệm. Cuối cùng thì mượn cớ trừ luôn. Quả đúng: "Nhát gan chưa là quân tử, độc ác mới xứng trượng phu."
4. HỒ TÔNG NAM HOANG BÁO CHIẾN TÍCH
Trong số học sinh Hoàng Phố, Hồ Tông Nam được coi là "Thiên tử môn sinh", nhân vật số một. Nhiều năm, Nam thuộc thế hệ tân tiến, liên tục lãnh đạo học sinh Hoàng Phố và là quan chức trong giới quân sự Quốc dân đảng. Nam là sư trưởng đầu tiên trong quân trung ương. Quân đoàn trưởng, tổng tư lệnh tập đoàn quân, tổng tư lệnh chiến khu tiễu phỉ đầu tiên cũng là Nam. Đặc biệt là chức "chiến khu tư lệnh", vị quan cao nhất của đại chiến lược khu. Cho đến khi Quốc dân đảng chạy khỏi đại lục vẫn chưa có học sinh thứ hai nào của trường Hoàng Phố được giữ chức này. Đủ thấy, Nam là "con cưng" của Tưởng Giới Thạch!Đầu tháng 3 năm 1947, cuộc "tấn công toàn diện" của Tưởng Giới Thạch đã thất bại. Họ Tưởng cho quân co cụm lại rồi "thừa thế đánh nống ra hai đầu", tập trung giải quyết hai khu giải phóng lớn Thiểm Cam Ninh và Sơn Đông. Hồ Tông Nam chỉ huy quân đánh vào Thiểm Cam Ninh.
Diên An của khu giải phóng Thiểm Cam Ninh là căn cứ của Trung cộng, trung ương Giải phóng quân, là trung tâm sự nghiệp cách mạng ở Trung Quốc. Tiến công Diên An là điều mơ ước của Hồ Tông Nam. Chiếm Diên An để báo ân tri ngộ với "Thầy hiệu trưởng", bản thân có thêm vốn liếng mà người khác mong đến đỏ mắt cũng không có được.
Chiếm Diên An, Hồ Tông Nam như cho họ Tưởng uống thuốc an thần, tha hồ mà khoác lác.
Ngày 13 tháng 3, Hồ Tông Nam chỉ huy năm sư hoàn chỉnh, trang bị vũ khí Mỹ và một đơn vị toàn cơ giới, tất cả bốn, năm vạn người chia làm hai ngả ập đến Diên An.
Bành Đức Hoài và Vân Trọng Huân chỉ huy hơn hai vạn quân dã chiến Tây Bắc, ngoan cường cản địch suốt bảy ngày đêm rồi chủ động rút khỏi Diên An.
Ngày 19 tháng 3, Hồ Tông Nam thất bát nặng, mất hơn năm ngàn binh lính mới chiếm được Diên An rỗng không. Chưa tiêu diệt được cơ quan lãnh đạo Trung cộng, biết ăn nói thế nào với Nam Kinh? Hồ Tông Nam đành phải hoang báo: "Sau bảy ngày đêm kịch chiến, lữ đoàn 1 chiếm được Diên An vào rạng sáng ngày 19. Tù binh có hơn năm vạn. Thu được nhiều vũ khí, đạn dược. Đang tra xét làm rõ!"
Tưởng Giới Thạch được tin liền trao tặng huân chương cho Nam và gửi điện chúc mừng:
Tông Nam lão đệ, tướng sĩ kỳ công, đánh chiếm DiênAn, lập công với nước, báo được mối thù hơn chục năm của ta. Nay truyền dụ ban thưởng quân quan có công. Dẹp loạn cứu nước, đại nghiệp bền vững, mong đệ gắng sức!
Cơ quan thông tấn trung ương Quốc dân đảng đưa tin "Quốc quân đánh chiếm kinh đô của Cộng phỉ", thổi phồng chiến quả "huy hoàng". Các ký giả trong, ngoài Nam Kinh, Thượng Hải đề nghị chính phủ Nam Kinh tổ chức cho họ đi Tây An thu thập tin mới, tham quan chiến tích.
Hồ Tông Nam triệu tập hội nghị khẩn cấp bàn cách đối phó. Những người liên quan vắt óc suy tính mới nghĩ được một kế: đặt mười trạm quản lý tù binh quanh Diên An, trong vòng mười dặm. Bắt lũ thanh niên khỏe mạnh ở các thôn xóm quanh đó hơn 500 tên huấn luyện thành cốt cán. Chọn trong sư 27 ra một ngàn rưỡi binh sĩ, biên chế hỗn hợp thành mấy đội tù binh, quần áo không cùng màu, tăng cường huấn luyện, mớm câu trả lời để ứng phó với các ký giả.
Đến thời hạn tham quan, quân số trong các đội tù binh đảm bảo như số lượng đã công bố. Khi tham quan, có thể điều động quân số ở các đội bổ sung cho nhau. Về vũ khí, nên trưng dụng súng của sư 17 đóng ở Cam Tuyền, và cũng nên dùng súng chế tạo ở xưởng Hán Dương. Quân cảnh vệ Diên An có thể điều thêm một phần súng máy. Ban ngày, súng được để ở phòng trưng bày chiến tích. Đêm đến lại trả về cho các đơn vị. Súng ống đều có nhãn mới, ghi rõ ngày giờ và địa điểm thu được. Lại điều ra một số nhân lực đắp những nấm mồ giả dọc hai bờ sông Diên Thủy. Đó là phần mộ Cộng quân hoặc phần mộ các liệt sĩ trận vong bên quân Quốc dân đảng.
Đôi khi những điều dối trá lại bị lộ tẩy! Lúc tham quan, có những ký giả tinh tế và tỉnh táo đã hỏi: "Không biết Cộng quân lấy đâu ra loại súng bộ binh kiểu Trung Chính và súng máy nặng nhẹ kiểu mới như thế này?" Mấy hướng dẫn viên đành phải ậm à cho qua chuyện. Có ký giả đã hỏi tù binh: "Hình như hôm qua ta đã gặp nhà ngươi ở một trạm quản lý tù binh nào đó?" Người bị hỏi, ưỡn ngực đứng nghiêm rất quy củ. Anh ta chưa được dạy phải trả lời ra sao khi gặp những câu hỏi như thế này.
Lời hoang báo trước đây đã bị lộ tẩy. Hồ Tông Nam mất hết danh dự, trở thành kẻ xấu xa đáng ghét!
Lời nói dối có thể giải thoát được cho mình, xóa sạch những nhân tố bất lợi trước mắt, tạm thời lừa được người khác, thậm chí nhất thời được "vinh dự", cấp trên mừng rỡ mà khen ngợi, thăng quan tiến tước. Nhưng ở đời, bức tường nào mà chẳng rạn nứt. Sự thực không thể mất sạch vì những lời dối trá. Một ngày nào đó, khi chân tướng được bày ra trước mặt thiên hạ thì lời dối trá, dù có đẹp đến mấy đi nữa, cũng sẽ bị người đời phỉ nhổ.