Người xấu, nói chung là những người đã thừa nhận mình làm việc xấu, nhưng lại che giấu việc mình làm. Đã cảm thấy hổ thẹn, nhưng lại tự tha thứ vì thấy mình có "lý". Kẻ xấu dùng "lý luận" của kẻ xấu để chỉ đạo thực tiễn của mình! Lại dùng thực tiễn đó làm phong phú thêm "lý luận". Cứ tuần hoàn như thế, càng làm càng "có lý", càng "có lý" càng làm.
Lũ Hán gian trong thời kỳ chống Nhật cũng có thứ triết học Hán gian của mình. Triết học Hán gian bỉ ổi hơn nhiều so với triết học tham ô, triết học háo sắc, triết học liều mạng, triết học ăn uống.
Cao Tông Vũ là kẻ đầu tiên quan hệ với địch trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, nói:
- Ta không phải Hán gian, bởi vì sự nghiệp "hòa bình" mà ta theo đuổi, không phải là việc của Hán gian.
Uông Tinh Vệ, Chu Phật Hải đều có những mục tiêu cao cả của mình: hy sinh cá nhân, đem lại hạnh phúc cho toàn dân Trung Quốc!
Uông phu nhân thường gào lên rằng: Uông tiên sinh là người yêu nước. Nếu gọi là bán nước, Tưởng Giới Thạch mới là người bán nước nhiều nhất.
Lý Sĩ Quần: Ai cho bú thì gọi người đó là mẹ!
Phu nhân của Chử Dân Nghị ôm một đống tài liệu khiếu nại lên trên, nói:
- Chử Dân Nghị giữ được ngần này tài liệu quí và bút tích của "Quốc phụ", thực đáng có công với đảng với nước.
Đã là Hán gian thì anh nào cũng như anh nào, đều có những lời lẽ hay ho, đều khéo thoa son trát phấn, hòng chứng minh tuy mình bán nước theo giặc nhưng cũng có cái lý của nó. Đây là những kiểu biện hộ đặc biệt trong chốn quan trường thời Dân quốc: Gian nhưng cũng có cái "lý" của gian.
Cao Tông Vũ sinh năm 1907, người Triết Giang. Từng lưu học ở Nhật, nghiên cứu lịch sử tại trường đại học Cửu Châu. Sau sự biến "18-9"16, Vũ về nước làm giảng viên chính trị tại đại học Nam Kinh. Về sau có bài luận văn đáng giá về ngoại giao đối với Nhật, được Lý Thánh Ngũ, chủ biên từ Trung ương nhật báo hài lòng. Sau khi Lý Thánh Ngũ được bổ nhiệm chức cục trưởng tổng vụ cục, bộ Ngoại giao, họ Lý liền tiến cử Cao với bộ trưởng Ngoại giao Uông Tinh Vệ. Chính phủ Quốc dân bấy giờ đang chú trọng đến vấn đề ngoại giao với Nhật. Cao là người "thông thạo về Nhật", ít nhiều đã nghiên cứu về quan hệ Trung Nhật, nên Uông lấy làm hài lòng. Chẳng bao lâu, Cao được đề bạt chức vụ trưởng vụ Á Châu bộ Ngoại giao.
Trong thời gian làm việc ở vụ Châu Á, Cao Tông Vũ trung thành với chính sách thỏa hiệp với Nhật của Quốc dân đảng. Trong khi giao thiệp với quân Nhật, Cao đã bằng "tài" ngoại giao "siêu việt" của mình giải quyết êm thấm nhiều vấn đề hắc búa trong đường lối ngoại giao của chính phủ Nam Kinh. Nhiều quan chức Quốc dân đảng vô cùng xúc động, tôn Cao là một "tài năng" trong giao thiệp với Nhật.
Cao Tông Vũ thường giao thiệp với người Nhật. Người Nhật cũng rất thích Cao - Đại sứ Nhật Bản ở Trung Quốc có lúc đã nói: "Sau này không cần phải thương thảo trực tiếp với bộ trưởng Ngoại giao. Khi có việc cần giao thiệp, cứ gặp vụ trưởng vụ Á Châu họ Cao!" Cao Tông Vũ nổi tiếng, vì được người Nhật coi trọng. Có lần Tưởng Giới Thạch đã phải hỏi đến! Một hôm, Cao đến Lư Sơn yết kiến họ Tưởng. Tưởng "hết lời khâm phục, tự tay mời trà".
Quan hệ Trung Nhật ngày càng phức tạp, Cao Tông Vũ vừa được Uông Tinh Vệ đề bạt vừa được gặp Tưởng Giới Thạch, đường quan lộ của Cao thật là thênh thang rộng mở.
Sau sự biến "7-7"17, theo lệnh của Tưởng Giới Thạch, Cao Tông Vũ trà trộn đến Hương Cảng thăm dò tin tức "hòa bình" Trung Nhật. Họ Cao bắt đầu công cuộc "vận động hòa bình". Tháng 7 năm 1938, Cao đến Đông Kinh Nhật Bản, du ngoạn khoảng vài tuần. Lúc về nước, đã mang theo toàn bộ điều kiện "hòa bình" của phía quân Nhật: Tưởng Giới Thạch từ chức, Uông Tinh Vệ xuất đầu lộ diện chủ trì cuộc "hòa đàm" Trung - Nhật.
Tưởng Giới Thạch tức bực, chửi Cao Tông Vũ là đồ "chó đẻ". Còn Uông Tinh Vệ thì vui mừng hết cỡ, vội cử người tìm gặp họ Cao, tìm cách quan hệ với phía Nhật Bản. Những ngày tiếp theo, Uông Tinh Vệ đã ký với Nhật một bản hiệp định bí mật "Trùng Quang Đường hiệp định" và lập kế hoạch để họ Uông và những người khác chạy khỏi Trùng Khánh.
Sau khi họ Uông chạy đến Thượng Hải, lại từ đó sang luôn Nhật Bản, cùng Nhật ngã giá, rồi hai bên ký kết "Cương yếu điều chỉnh quan hệ mới giữa Nhật và Hoa". Sau khi "Cương yếu" đó được ký, Cao lại gợi ý để Uông cử một thành viên khác là Đào Hi Thánh đem nội dung "bản thảo" "Cương yếu" công bố với thế giới.
Sau khi Cao, Đào "trở giáo", Đào Hi Thánh trở lại Trùng Khánh tiếp tục làm quan. Còn Cao thì bỏ sang Mỹ, mai danh ẩn tích cho đến trọn đời!
Trong sự nghiệp của mình, Cao Tông Vũ đã có lời lẽ biện hộ cho hành động theo đuổi công cuộc "vận động hòa bình". Ngay từ lần đầu tiên khi đến Đông Kinh thăm dò, tin tức "hòa bình" từ phía Nhật, Cao đã nói với Dương Kiện một nghị viên quốc hội Nhật Bản:
- Trước hết bỉ nhân muốn nói rõ lập trường của mình. Bỉ nhân chuẩn bị sẵn sàng hi sinh tất cả, nhằm thực hiện cho được hòa bình. Vì đất nước Trung Quốc, cái mà bỉ nhân xem trọng nhất không phải là tác chiến với quân Nhật, mà là cuộc đấu tranh với đảng Cộng sản. Về điểm này, Ủy viên trưởng và một số quân nhân xung quanh ông ta chủ trương cuộc đấu tranh với đảng Cộng sản để sau. Chống Nhật cứu nước mới là nhiệm vụ hàng đầu của đất nước. Bỉ nhân phản đối điều đó. Bỉ nhân không phải là Hán gian (kẻ bán nước). Cái mà bỉ nhân muốn phấn đấu vẻn vẹn chỉ là hòa bình. Điều giới hạn đó là chính xác. Là Hán gian hay không, phải được xác định rõ ràng. Nếu công việc hòa bình mà không phải là Hán gian thì dù khó khăn đến mấy bỉ nhân cũng chịu được. Nhưng nếu làm như vậy mà là Hán gian thì lập tức bỉ nhân bỏ luôn. Mặc cho ai muốn nói thế nào thì nói.
Sau khi kháng chiến toàn diện bắt đầu, kháng chiến trở thành nhiệm vụ thần thánh của từng người. Nhưng nỗi khiếp nhược và lòng thù hận đối với đảng Cộng sản, làm cho Cao Tông Vũ vẫn ngoan cố bám lấy chính sách "muốn bài ngoại, tất phải yên nội trước". Đó là mệnh lệnh của Tưởng Giới Thạch mà Cao thích thú tiếp nhận, là tư tưởng chủ đạo để Cao tích cực bước vào cuộc "vận động hòa bình". Đó là những điều cực kỳ phản động.
Cao Tông Vũ nhấn mạnh: trong công cuộc "vận động hòa bình" có một "giới hạn" để phân biệt đâu là Hán gian đâu là không! Tức là Cao cho rằng hàng loạt những việc mình làm trong công cuộc "Vận động hòa bình" đều không phải là hành động của "Hán gian". Nhưng biết đâu là giới hạn? Thế nào mới là hành động của một Hán gian đây? Điều đó Cao Tông Vũ cứ ấp a ấp úng mãi. Điều mà họ Cao ấp a ấp úng, chúng ta có thể tìm thấy trong phương hướng những nỗ lực vì hòa bình của Cao.
Trong toàn bộ quá trình Cao nhận lệnh của Tưởng đến Hương Cảng để thoát khỏi Uông Tinh Vệ, Cao vẫn luôn luôn kiên trì, Nhật Bản chỉ nên tiến hành với Tưởng "hòa đàm, thực hiện "hòa bình" giữa Tưởng và Nhật". Cao còn nói thẳng với phía Nhật: "Không nên bắt cá hai tay với Tưởng và Uông. Nếu được, chỉ nên thực hiện hòa bình mà Tưởng là đối thủ". Cao theo đuổi Uông Tinh Vệ chính là muốn thực hiện bước quá độ, đã được bàn trước, "lấy Uông thay Tưởng và cuối cùng là Tưởng".
Theo Cao, chỉ có Tưởng Giới Thạch mới là đại biểu chân chính cho nhà đương cục cao nhất của Quốc dân đảng và chính phủ Quốc dân. Vì vậy, thực hiện được "hòa bình" Tưởng - Nhật cũng chính là đã thực hiện được "hòa bình" Trung - Nhật. Vì vậy, mọi sự nỗ lực là "phù hợp" với lợi ích quốc gia, không phải là hành động của "Hán gian". Do đó, có thể "hi sinh tất cả". Nếu không, sẽ lập tức bỏ tất cả! Đó chính là "giới hạn" trong nhận thức đâu là Hán gian đâu là không của Cao Tông Vũ.
Cùng với sự phát triển của chiến tranh Trung Nhật, Cao Tông Vũ thấy rõ: họ Tưởng dần dần "theo sang" phía chống Nhật; điều kiện "hòa bình" của phía Nhật Bản cũng ngày một khắt khe hơn, khả năng "hòa bình" Nhật Tưởng gần như tiêu ma hết! Thêm vào đó, Cao còn bị nội bộ tập đoàn Uông bài xích, nghi ngờ, có phần nguy hiểm đến tính mạng. Cao đã thối chí, nản lòng với cuộc "vận động hòa bình". Và để vượt qua cái "giới hạn" Uông gán cho mình là "Hán gian" "kẻ bán nước", Cao đã rời bỏ Uông!
Kỳ thực, sự biện hộ của Cao Tông Vũ cũng chẳng có gì mới lạ. Bởi vì sau khi cuộc kháng chiến toàn diện ở Trung Quốc bắt đầu, nếu Cao cứ liên hệ với địch bàn việc hòa ước thì mới có thể nói Cao phạm tội Hán gian "quan hệ với địch và bán nước. Còn như Cao ra sức thực hiện "hòa đàm" giữa Tưởng Giới Thạch và Nhật Bản thì Cao sẽ trở thành tội phạm số một của dân tộc Trung Hoa!
2. VÌ SAO GIẢNG HÒA LẠI LÀ HÁN GIAN!
Ngày 18 tháng 12 năm 1938, phó thủ lĩnh Quốc dân đảng, chủ tịch hội nghị chính trị trung ương, chủ tịch tham chính hội Quốc dân là Uông Tinh Vệ đã cùng lũ quan gian rời Trùng Khánh, qua Côn Minh bay thẳng tới Hà Nội, bước vào con đường phản quốc.Là nhân vật số hai của Quốc dân đảng, Uông Tinh Vệ phản quốc theo địch là một hiện tượng hết sức bất thường. Nó có thể gây chấn động trong và ngoài nước, ảnh hưởng đến tâm trạng quân, dân, đảng trong cả nước. Nguy hại nền thống trị Quốc dân đảng; nguy hại đến cuộc kháng chiến của dân tộc Trung Hoa.
Tưởng Giới Thạch và trung ương Quốc dân đảng xử lý vấn đề đó như thế nào?
Ngày 21 tháng 12, Tưởng Giới Thạch đang ở Võ Công, Thiểm Tây, được tin lấy làm kinh ngạc vô cùng. Ngày 24 vội vã quay về Trùng Khánh. Ngay đêm hôm đó, qua cố vấn Đoan Nạp, Tưởng thông báo với các đại sứ Anh, Mỹ đóng ở Trung Quốc rằng: "Uông Triệu Minh không có quyền đàm phán hòa bình với bất cứ ai và Trung Quốc không có ý hòa hoãn với Nhật Bản. Trung Quốc đang chuẩn bị điều kiện để chống Nhật với một qui mô lớn!".
Đồng thời với việc làm dịu dư luận quốc tế, Tưởng hạ lệnh không để các báo đưa tin. Làm cho nhiều người bình thường không biết hành động của họ Uông. Ngay các ủy viên tham chính trong hội nghị tham chính Quốc dân đảng, mười hôm sau sự việc của Uông, cũng không nắm được tin tức chính xác.
Ngày 26, trong bài phát biểu của mình, Tưởng Giới Thạch đã phản bác lời "thanh minh lần thứ ba của cận vệ" Nhật Bản hưởng ứng việc Uông Tinh Vệ chạy khỏi Trùng Khánh. Tưởng chỉ rõ: "Đây là toàn bộ ý đồ hoang tưởng của địch hòng chiếm cứ Trung Quốc, độc bá Đông Nam Á, chinh phục thế giới. Đồng thời cũng là toàn bộ kế hoạch cướp nước, thủ tiêu dân tộc Trung Hoa". Ngày 27, họ Tưởng điện cho Uông Tinh Vệ, khuyên ông ta nhanh chóng trở về Trùng Khánh.
Ngày 28, Uông Tinh Vệ điện gửi thường vụ ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng và hội nghị tối cao quốc tế, nhằm khuyên trung ương Quốc dân đảng lấy "bản thanh minh của cận vệ" làm cơ sở để hòa đàm với Nhật. Cùng ngày "Đại công báo" Hương Cảng công khai đăng tin họ Uông đi khỏi Trùng Khánh, nhưng gọi đó là "hành động cá nhân, không có ý đồ chính trị", còn cho biết Uông "nghỉ phép bốn tháng, dưỡng bệnh. Một hai ngày tới sẽ từ Hương Cảng ra nước ngoài". Đồng thời cũng khuyên Uông "nhanh chóng trở lại Trùng Khánh, tiếp tục làm việc".
Ngày 29, Uông Tinh Vệ bộc bạch hết ý đồ xấu xa của mình, công khai bán nước, theo giặc.
Dư luận trong và ngoài nước chỉ trích thái độ của Uông. Vào tết nguyên đán năm 1939, Tưởng Giới Thạch triệu tập hội nghị thường vụ lâm thời ban chấp hành trung ương, quyết nghị: "Khai trừ vĩnh viễn đảng tịch Uông Triệu Minh".
Ngoài việc khống chế dư luận, họ Tưởng còn lưu tâm đến hai vấn đề khác. Một là tiếp tục trọng dụng số cốt cán của Uông ở Trùng Khánh. Cầm chân các thủ lĩnh quân sự thân Uông ở các nơi. Hai là cử thư ký Trần Bố Lôi, ngoại trưởng Vương Sủng Huệ, thân tín của Uông là Cốc Chính Cương lần lượt gặp để khuyên Uông về lại Trùng Khánh hoặc ra nước ngoài tĩnh dưỡng. Còn mang hộ chiếu và một khoản tiền lớn đến cho.
Có thể nói, hành động của họ Tưởng của trung ương Quốc dân đảng có tác dụng bảo vệ chính quyền nhưng đồng thời cũng ổn định được lòng dân trong cuộc kháng chiến ở Trung Quốc.
Nhưng Uông Tinh Vệ chẳng chịu nghe ai, vẫn theo đuổi con đường của mình.
Cuối cùng, Tưởng Giới Thạch phải mượn tay đặc vụ nhằm "kết thúc" vấn đề. Không ngờ bọn đặc vụ lại giết nhầm viên thư ký của Uông là Tăng Trọng Minh. Uông Tinh Vệ vừa sợ vừa giận! Một tuần sau đó (ngày 27 tháng 3), họ Uông phát biểu trên "Nam Hoa nhật báo":
Một lần bị nhân đã nói về chủ hòa. Chủ hòa là chủ trương của bỉ nhân vì việc nước. Phải chăng đấy là chủ trương của một cá nhân? Không, đó là chủ trương của cơ quan tối cao, đã được thảo luận, đã có sự thống nhất. Vậy thì chứng cứ đâu? Chứng cứ có cả trăm! Chỉ xin đơn cử ra đây một việc.
Hội nghị ban thường vụ ủy ban quốc phòng tối cao lần thứ 54.
Thời gian: 9 giờ sáng ngày mùng 6 tháng 12.
Địa điểm: Ngân hàng trung ương Hán Khẩu.
Đại biểu: Vu Hữu Nhiệm, Cư Chính, Khổng Tường Hi, Hà Ứng Khâm.
Cùng dự có18: Trấn Quả Phu, Từ Kham, Ông Văn Hạo, Trần Lập Phu, Trần Bố Lôi, Từ Mô, Thiệu Lực Tử, Đổng Hiển Quang.
Chủ tịch: Uông Tinh Vệ.
Trưởng ban thư ký: Trương Quân.
Thư ký: Tăng Trọng Minh.
Từ Mô thứ trưởng báo cáo: ngày 28 tháng trước, đại sứ Đức ở Trung Quốc đã nhận được huấn lệnh của chính phủ Đức và đến gặp Khổng viện trưởng. Sáng ngày 29 lại gặpVương bộ trưởng. Huấn lệnh của chính phủ Đức ghi rõ: đại sứ Đức ở Nhật đã mạn đàm với hai đại thần ngoại vụ và lục quân Nhật. Đại sứ thăm dò phía Nhật Bản đã muốn kết thúc cục diện hiện nay chưa và với những điều kiện gì thì mới kết thúc được...
Trong bài nói của mình, Uông Tinh Vệ kể, phía Nhật thông qua đại sứ Đức ở Trung Quốc, đưa ra bảy điều kiện. Tưởng Giới Thạch, người lãnh đạo cao nhất của quân đội, cố vấn Bạch Sùng Hi, Đường Sinh Trí, Từ Thế Xương, đều tỏ thái độ tán thành. Họ Tưởng có mấy biểu hiện:
1. Nên chấp nhận việc Đức đứng ra điều đình. Không thể coi đó là điều kiện mất nước.
2. Phải giữ được chính quyền miền Hoa Bắc.
Sau đó, Uông Tinh Vệ lại nói:
Ngoài ra còn những chứng cớ gì không? Còn rất nhiều. Nhưng có những công việc chưa xong, vì vấn đề an ninh, nên phải giữ bí mật, không dẫn ra làm được. Hôm nay đem việc đại sứ Đức điều đình ra làm dẫn chứng vì chuyện đó đã xong.
Vì thế, nên mới nẩy sinh ba điều nghi vấn sau:
(1) Đem so những điều đại sứ Đức nói và lời thanh minh của nội các cận vệ hôm 22 tháng 12 (tức lời thanh minh cận vệ lần thứ ba) thì không có gì khác nhau. Nay lấy lời đại sứ Đức làm cơ sở cho đàm phán hòa bình, sao không thể xem lời thanh minh cận vệ là cơ sở cho đàm phán?
(2) Khi đại sứ Đức đi khắp nơi điều đình, Nam Kinh chưa thất thủ. Cho rằng đàm phán hòa bình có thể thựchiện được. Vì sao khi có lời thanh minh của cận vệ thì Nam Kinh, Tế Nam, Từ Châu, Khai Phong, An Khánh, Cửu Giang, Quảng Châu, Vũ Hán đều đã thất thủ, còn lại Trường Sa thì tiến hành đàm phán hòa bình làm sao được nữa?
(3) Khi đại sứ Đức đi khắp nơi để điều đình, nhiều vị trong hội nghị cấp cao quốc tế, dù ở Nam Kinh hay ở Vũ Hán đều chủ trương như nhau. Vì sao khi có lời thanh minh của cận vệ thì họ lại chủ trương khác nhau. Thậm chí còn chửi rủa người có chủ trương khác và chửi rủa chưa đủ, còn định hãm hại họ, làm tiệt đường phấn đấu của họ?
Uông Tinh Vệ đưa ra những "tin mật", nói đó là mưu mô của Nhật, là chủ trương nhất trí của nhà đương cục tối cao, lấy đó làm căn cứ cho ý kiến chủ hòa của mình. Hành động của Uông từng làm cho Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh khốn đốn một thời. Đương nhiên, Trùng Khánh cũng có những lời phản bác họ Uông, coi Uông như loài chó, ngựa. Như ủy viên giám sát trung ương Quốc dân đảng là Ngô Trĩ Huy đã có bài "tìm hiểu về "một ví dụ" đưa ra của Uông Tinh Vệ":
Họ Uông... đã trích dẫn bút lục hội nghị quốc phòng tức là tiết lộ bí mật quân sự ngoại giao, phạm tội hình... Lúc bấy giờ cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn gay gắt, đất nước tồn vong như trứng để đầu đẳng. Quan quân nơi tiến phương, đồng bào cả nước, đang tất cả vì kháng chiến... thì nhà ngươi lại lựa thời hàng giặc, làm tên bùnhìn, gây rối lòng dân, bán nước cầu vinh, vậy còn muốngiải thích gì nữa?...
Họ Uông hoàn toàn là kẻ dối trá. Chỉ muốn đứng trên mọi người. Nếu như trong vũ trụ còn có thượng đế, thì họ Uông cũng muốn đứng trên cả thượng đế. Nhưng dù họ Uông có học được phép biến hóa của Tôn Ngộ Không thì cái đuôi cũng chẳng biến đi đâu được! Rõ là đồ súc sinh, vì cái đuôi vẫn thò lò ở đó! Vậy đuôi của Uông là cái gì? Là sự thiếu từng trải (chưa già), là nhà ngụy biện không lôgic, là một thư sinh, thích tầm chương trích cú, là kẻ phàm phu thích những đồng tiền bẩn thỉu! Trước đây bỉ nhân từng coi Uông là quân tử sáng giá, quá đã bị người khác lừa dối rồi! Uông là trùm Hán gian, một chức vụ tàm tạm trong thời kỳ quá độ. Khi bị mọi người phát giác, Uông lại biến tiếp. Biến từ cực tả sang cực hữu, từ cao đến thấp, từ cực thơm đốn cực thối. Chẳng có gì mà Uông không làm! Uông tự cho rằng mình đã "nhìn thấu cả" nên phải biến nhanh. Uông nhìn thấu bên trái của cách mạng, nên cảm thấy ít ra mình cũng phải giống giống như Lê- nin. Còn Staline thì chưa phải là đối thủ. Uông cũng nhìn thấu đại kế hàng trăm năm của Đông Á (hòa bình Trung Nhật) và chí ít thì Hít Le, Misulini, đều đáng được Uông chi phối! Người ta bảo Uỗng Tinh Vệ từ lâu đã gia nhập một đoàn thể nào đó, nên mới quyết tâm làm Hán gian, chứ không hề đơn giản như Tần Cối nọ! Cho nên, ở Tây Hồ có tượng của vợ chồng Tần Cối bằng thiếc, thì có lẽ phải dành cho vợ chồng Uông một loại thép quí, chắc mới xứng chăng? Không biết việc sau này rồi sẽ ra sao! Hãy đểUông biến tiếp rồi hẵng nói!
Cười cợt, mắng mỏ, tất cả đã thành văn, ít lầu sau, điều mà họ Ngô dự đoán đã thành hiện thực: nhân dân thị trấn Quý Dương đã cho đúc một cặp tượng lõa thể lạ lùng cho vợ chồng Uông Tinh Vệ ngay ở vườn hoa.
Sau lời chỉ trích của nhiều người trong và ngoài nước, ngày 30 tháng 3, Uông Tinh Vệ mới phát biểu, công khai ngụy biện cho hành vi hàng Nhật của mình. Lời lẽ còn được xem là "hay ho". Toàn văn như sau:
Gửi người bạn cũ:
Xem thư của huynh hôm 14 tháng 3, thực cảm động! Huynh hoàn toàn tin tưởng sự nghiệp của đệ. Nhưng về quyết sách còn có phần hoài nghi. Đệ cảm tạ sự tin tưởng đó và cũng muốn trình bày thật rõ những điểm mà huynh còn mắc mớ!
Nếu quân Nhật nhất định muốn tiêu diệt Trung Quốc, thì chúng ta tất chỉ còn một đường là đánh! Ngày nay Nhật Bản đã đưa ra những điều kiện hòa bình, hiển nhiên, không phải là những điều kiện làm Trung Quốc diệt vong, vậy thì vì sao chúng ta lại không tin tưởng vào hòa bình? Người bạn cũ của đệ là Trần Gia Canh bảo: "Nói đến hòa bình là Hán gian!". Vì sao cứ bàn tới hòa bình lại là Hán gian? Nếu nói như vậy thì việc hiến pháp qui định nhà nước có quyền giảng hòa có nghĩa là qui định nhà nước có quyền làm Hán gian?! Còn cái biển "trung hiếu nhân ái, tín nghĩa hòa bình" thì cần phải giải thích là "trung hiếu nhân ái, tín nghĩa Hán gian" hay sao?
Những điều đó khỏi phải nói nữa! Bây giờ nói đến những việc huynh hoài nghi. Huynh nói: "Cả châu Âu nhanh chóng vùng lên, chúng ta phải hòa hoãn với họ thế nào đây?" Cục diện châu Âu chiến tranh hay là không cònnhư hai quả cân ngang bằng! Ngay chính phủ các nước đó còn chưa biết thế nào thì làm sao huynh biết được? Lại nữa, khi chiến tranh châu Âu bùng nổ, các nước Anh, Pháp, Nga lập tức bị hút vào đó, nước Mỹ cũng quan tâm đến cuộc chiến tranh đó nhiều hơn. Vậy thì chiến tranh châu Âu chỉ làm giảm bớt sự chú ý của các nước đối với cuộc chiến Trung Nhật. Vậy thì huynh trông mong nó mà làm gì? Lại nữa, trong chiến tranh cận đại, những người liên quan thường nghĩ tốc chiến tốc quyết, dẫn đến hậu quả khôn lường, vậy đừng bao giờ trông mong chuyện đó. Và nếu chiến tranh châu Âu kéo dài thì chúng ta nhất định cũng phải theo đó mà kéo dài hay sao? Lại nữa, dù cho chiến tranh châu Âu có thể tốc chiến, tốc quyết nhưng bên nào sẽ thắng, huynh làm sao mà đoán được? Lại nữa, cho dù huynh đoán được thắng lợi sẽ thuộc về bên nào, thì trong mối quan hệ quốc tế phức tạp như hiện nay, xung đột gay gắt giữa các nước xẩy ra bất thường, làm sao huynh đoán được mình có được lợi chút nào không. Một số người nói: "Chiến tranh châu Âu bùng nổ, Anh, Pháp, Nga đứng về một phía thì Đức, Ý nhất định thất bại. Vậy thì trước các nước Anh, Pháp, Nga, Mỹ, những nước quyết định sự thắng lợi, Nhật Bản chỉ có khuất phục nếu không muốn diệt vong! Đó là thứ lý luận lạc quan mơ hồ. Chẳng nhẽ huynh lại căn cứ vào đó để quyết định sách lượckháng chiến đến cùng hay sao?
Huynh lại nói: "Cuộc kháng chiến của chúng ta mỗi ngày một tốt hơn!" Huynh lấy thế mà vui mừng hay sao? Từ khi cuộc kháng chiến bắt đầu, nhân dân bỏ tiền bỏ sức, không nề gian nan vất vả, không hề kêu ca oán thán -Tướng sĩ thì phấn đấu hy sinh - Người trước ngã, người sau xông lên, không mật chút do dự, Đó là nguyên khí của nước Trung Hoa Dân quốc, đó là bản tính độc lập tồn tại của Trung Hoa Dân quốc. Nhật Bản coi trọng điều đó, biết là Trung Quốc không thể diệt vong nên mới đưa ra những điều kiện hòa bình. Lần này nếu cuộc vận động hòa bình mà thành công, thì đó chính là ân đức của nhân dân, của tướng sĩ trong cuộc kháng chiến ban cho vậy. Nhưng huynh phải nhớ cho kỹ: lực lượng mà chúng ta bỏ ra trong cuộc kháng chiến, và cái mà chúng ta thu được, cố nhiên khổng thể đánhgiá quá thấp, nhưng cũng không thể đánh giá quá cao, nếu như đánh giá quá cao thì coi như sức lực chúng ta bỏ ra là mất trắng, và những cái mà chúng ta đạt được là chẳng đáng kể! Nói thực với huynh rằng chính cuộc kháng chiến của chúng ta đang ngày một khó khăn hơn. Vì sao có thể nói ngày một tốt hơn? Chẳng nhẽ huynh không hề biết từ ngày kháng chiến đến nay chúng ta đã mất rất nhiều đất đai trong một thời gian ngắn? Trong lịch sử, khi triều Tống và triều Minh mất nước cũng đã xẩy ra như vậy thôi? Có điều lúc đó, mất một tấc đất là người ta đau xót, triều đình hạ chiếu hỏi tội, tướng soái bị cách chức hàng loạt! Còn nay thì sao? Chẳng ai phải bận tâm! Có một viên giám sát nói câu: "Mất đất thì chẳng thấy đau lòng, mất quân thì vẫn bằng chân như vại!" liền bị cách chức luôn! Từ đó làm gì còn ai dám ho he! Mỗi lần mất rất nhiều thành phố, thị trấn thì người ta bảo vì "di chuyển trận địa", "thay đổi chiến lược". Quan trọng hơn nữa, người ta còn nói "không còn giá trị chiến lược", "kẻ thù đã tổn thất nặng nề, đã đạt được mục đích chiếnlược, không cần thiết phải giữ nữa". Người nói không một chút buồn rầu. Người nghe cảm thấy cuộc kháng chiến mỗi ngày một tốt hơn! Lại nữa, khi triều Tống và triều Minh mất nước, còn biết đến chữ chiến và chữ thủ. Chẳng may mà chiến bại, không giữ được người ta mới đành chịu. Còn ngày nay thì đổi thành hai chữ, một là mất, một là đốt. Di chuyển trận địa, trong văn chương gọi là mất. Và phần lớn là từ đốt. Quảng Châu là một ví dụ rõ nhất về từ mất. Khắp các nơi, mất càng nhanh càng tốt, đốt càng sạch càng hay. Chính vì thế mà trong một thời gian rất ngắn, đã mất đi rất nhiều đất đai. Hơn nữa lại còn có cái gọi là du kích chiến của đảng Cộng sản. Phàm chỗ nào không mất được, không đốt được thì còn có cái gọi là du kích chiến của đảng Cộng sản. Chẳng gì thì cũng còn giữ được một chút nào đó! Huynh có đọc lịch sử, chắc cũng biết cái gọilà du kích chiến của đảng Cộng sản, chẳng qua chỉ là cái tên khác đế gọi lũ giặc cỏ. Nhân dân như những mầm non; giặc cỏ như lũ côn trùng, đi qua đâu thì nơi đó sạch không, trơ trụi. Trước kia, khi nghe thấy hai tiếng giặc cỏ thì mọi người kinh hãi. Ngày nay được thay bằng một cái tên văn vẻ hơn, đảng Cộng sản được coi là bí quyết kháng chiến đến cùng. Có điều chữ nghĩa là chữ nghĩa mà sự thực là sự thực. Huynh ở nước ngoài chỉ nhìn thấy văn từ, chữ nghĩa, cho rằng đã có bí quyết kháng chiến đến cùng, kháng chiến ngày một tốt hơn. Huynh có biết đâu nhân dân đã đau đớn khổ cực đến như thế nào? Còn có rất nhiều những đội du kích chân chính của nhân dân có thể hợp đồng tác chiến hỗ trợ cho quân chính qui. Nhưng thật là vô cùngđau khổ khi những đạo quân này bị cái gọi là du kích chiến của đảng Cộng sản trà trộn vào lôi kéo và sử dụng. Điều đó thì chắc huynh không biết? Khoảng tháng 11 năm ngoái, lúc ở Trùng Khánh, đệ có viết mấy bài "Chiến tranh toàn diện". Từng chữ là từng giọt nước mắt. Làm cho đảng Cộng sản phải lớn tiếng chửi rủa! Không rõ huynh đã biết chưa? Tóm lại, kháng chiến mỗi ngày một khó khăn. Đó là sự thực, không cần phải che giấu! Khi biết rằng cuộc kháng chiến ngày một khó khăn, nhưng không còn con đường nào khác thì nên cho dân biết tất cả những nhược điểm phát hiện được trong thời kỳ kháng chiến. Nhà đương cục đã lừa dối nhân dân, phải nói cho dân biết. Đảng Cộng sản nhân đó mà cướp bóc, làm điều thất nhân tâm, phải nói cho dân biết. Nếu không làm như vậy là giấu bệnh không chữa, vô tình lưu lại hậu họa sau này! Kháng chiến đến cùng tất biến thành kháng chiến đến cạn kiệt! Nếu ngoài kháng chiến ra còn có con đường hòa, mà điều kiện của hòa không phải là điều kiện mất nước thì chúng ta nên đem quyết tâm và dũng khí kháng chiến mà giảng hòa vậy! Đừng để mất trắng toàn bộ sức lực chúng ta bỏ ra trong cuộc kháng chiến. Tất nhiên những kết quả mà chúng ta thu được chẳng đáng là bao!
Khi đánh thì một số người không thích nghe nói chữ hòa. Vì kết quả của giảng hòa không phải là kết quả chỉnh phục được nên không khoái. Ngày nay một số người hậnquân xâm lược Nhật Bản. Chỉ muốn tiêu diệt hết lũ chúngmới hả dạ. Nên khi nghe hai tiếng giảng hòa họ buồn bựclắm! Một số người là như vậy, chẳng thể trách được!Nhưng chính phủ thì không thể để cho bọn họ chi phối.Họ căm thù giặc thì động viên họ, nhưng không thể từ chỗ cổ vũ đến chỗ cùng kiệt. Chính phủ cần phải biết đâu là thực, đâu là giả để không nhỡ việc! Dù cho số người kia cứ hò hét, nhưng chính phủ cần phải thực tế hơn. Đáng đánh thì phải đánh, đáng hòa thì phải hòa, chính phủ phải luôn luôn lưu tâm tìm cho đất nước một con đường sống. Như vậy mới hợp lý!. Ngày nay thì không phải thế. Chính phủ còn hùng hùng hổ hổ hơn số người kia nhiều lần! Ngày ngày chính phủ phải tuyên bố những lời lẽ cứng rắn, không hợp với lương tâm của mình! Những người kia chắc cũng chẳng thể lấy đó làm vui được? Có người cứ nói ra miệng là bị người khác gọi Hán gian. Trong tâm tưởng một số người nghĩ rằng, nước mất thì ai cũng có phần, còn hai chữ Hán gian xấu xa thì một mình đệ gánh chịu. Thực là khổ sở biết chừng nào? Điều đó, sẽ dẫn tới một nghịch lý: trong lòng thấy nguy mà miệng không dám nói! Đó là nguyên nhân của sự dối trá, nguyên nhân của sự thiếu trách nhiệm, nguyên nhân làm cho nước mất nhà tan!
Hoàn cảnh của đệ ở Trùng Khánh như thế nào chắc huynh đã rõ. Đệ thuê được một căn phòng, xung quanh có mấy tên vệ sĩ, luôn luôn được an toàn. Nếu máy bay địch đến thì đệ vào hầm trú ẩn. Nếu Trùng Khánh giống Nam Kinh hay Vũ Hán thì đệ sẽ di chuyển theo cơ quan. Trong Quốc dân đảng Trung Quốc, đệ giữ chức phó. Ở hội nghị quốc phòng tối cao đệ cũng giữ chức phó, những chức vụ đó không có quyền lực tối cao. Đệ nói có người nghe thì thật là hạnh phúc - Nói mà không ai nghe thì người nói không có tội. Một khi bất hạnh tới mức đổ vỡ lớn thì đệ vẫn có hi vọng, danh chính ngôn thuận, đứng ra lo liệu.Lo liệu không thành thì lấy cái chết để báo quốc. Khi còn sống đã mang tiếng xấu, khi chết đi chỉ mong giữ được cái tiếng hôm nay. Huynh nghĩ giùm đệ, hoàn cảnh của đệ là như vậy, làm sao mới rời bỏ được Trùng Khánh? Nhưng huynh phải hiểu đệ, theo cách mạng lúc tuổi vừa hai mươi, chưa bao giờ tự lo liệu cho mình, huống hồ năm nay đệ đã hơn năm mươi rồi! Nhìn cảnh đất nước tan hoang, đệ đâu có lúc nào nhàn rỗi để tự lo liệu cho mình. Từ ngày bắt đầu cuộc kháng chiến, nghĩ rằng Trung Quốc bất đắc dĩ phải kháng chiến, làm thế nào để kháng chiến giành được thắng lợi. Đồng thời cũng nghĩ cách làm thế nào để có được hòa bình. Đệ rất kiên quyết, luôn luôn kỳ vọng hòa bình được thực hiện. Ngày mùng 9 tháng 12 năm ngoái, đệ có tranh cãi gay gắt, nhưng xem ra hội nghị không bằng lòng, nên ngày 18 đệ mới rời khỏi Trùng Khánh. Từ sau ngày 29, có nhiều ý kiến mong phía Trùng Khánh suy nghĩ lại. Lúc này, chẳng nhẽ lại không biết hoàn cảnh của đệ là vô cùng khó khăn, nguy hiểm hay sao? Nếu cứ tiếp tục kháng chiến, với ý kiến chủ hòa của đệ có khác gì nước với lửa! Cho dù kết cục có hòa thì đối với động cơ chủ hòa của đệ, nhất định sẽ có nhiều suy đoán riêng tư hoặc ác ý, thì liệu đệ có tránh khỏi nguy hiểm không! Nhưng huynh cần phải biết rằng, đệ không hề để ý tới chuyện đó. Sau lần đó, đệ không nói năng gì thêm, ngoại trừ một lần trả lời phỏng vấn, và có đăng trên "Nam Hoa nhật báo". Tiêu cực đến như vậy thì chẳng mong gì Trùng Khánh nhìn ra được vấn đề! Đệ có trả lời những người được Trùng Khánh cử đến. Chỉ cần nghe theo chủ trương của đệ, thì bất kể lúc nào, dù ở bên ngoài, cánhân đệ luôn hỗ trợ cho! Huynh nghĩ xem, ngoài cái đó ra, liệu đệ còn có cách bộc bạch nào khác đây?
Trên đây là mấy lời nói về cá nhân. Nếu không vì huynh quá quan tâm thì có lẽ cũng chẳng nên nói! Bây giờ mới nói đến những việc làm đệ không được vui lắm, nói đến chủ trương của đệ. Chủ trương của đệ, trước sau chưa hề được chấp nhận. Đứng về mặt khách quan, hai nước không thể không nghĩ tới chuyện hòa hoãn. Ngay cả về chủ quan, tình thế trong nước cũng đều có những yêu cầu hòa hoãn! Cái làm đệ lo ngại, không phải là chủ trương không được dùng, mà là sử dụng nó không triệt để. Vì thù hận giữa nhân dân hai nước Trung - Nhật đã tích tụ từ lâu. Từ ngày kháng chiến lại đây, mối thù đó lại ngày một sâu nặng hơn! Muốn loại bỏ mối hận thù đó, cần phải có sự hợp tác chân thành, mà thực tế, đó là điều chẳng dễ dàng gì. Trải qua hơn hai mươi tháng chiến đấu gian khổ, cố nhiên là người Trung Quốc hiểu được sức mạnh trong khả năng tác chiến của quân Nhật. Và người Nhật cũng hiểu rằng chẳng dễ gì khuất phục được người dân Trung Quốc. Để tránh cho tướng sĩ khỏi phải đổ máu vô ích, tránh cho nhân dân khỏi cảnh khổ ải nhọc nhằn, những hi sinh mất mát vô ích, chính phủ và nhân dân hai nước cần phải biết dự liệu lâu dài hơn. Lời thanh minh của nội các cận vệ ngày 22 tháng 12 năm ngoái cũng như những kiến nghị của đệ hôm 29 đều nói đến điểm này. Tiếc rằngngười của Trùng Khánh đều xem nhẹ điều đó. Đối vớinhững kiến nghị của đệ, ngoài việc chửi rủa một cách cảmtính, họ chẳng có được một câu, chữ xác đáng nào! Ngaycả gần đây, tuy đã có nhiều biểu hiện mong muốn hòabình, nhưng cách thức tiến hành của họ vẫn chẳng khác gì trước đây, không muốn trực tiếp giao thiệp để bàn bạc! Họ chỉ nghĩ đến sĩ diện của mình và chẳng hề nghĩ tới lợi ích thiết thực của đất nước! Như vậy liệu còn mong gì vào một kế hoạch lâu dài cho tương lai của hai đất nước đây!? Chính điều đó làm đệ lo ngại. Đệ vẫn mong có một ngày nào đó họ sẽ giác ngộ ra. Đất nước mới thực sự có phúc lớn!
Nói những lời trên để trả lời thư của huynh vậy! Từ sau ngày 21 tháng 3, đệ có bài "nêu một ví dụ", xin gửi kèm theo.
Uông Triệu Minh (ngày 30 tháng 3 năm 28)
Với mớ lý luận bi quan về cuộc chiến tranh Trung Nhật, Uông Tinh Vệ tự thoa son trát phấn, cho rằng mình có lý, không là kẻ cầu hòa làm Hán gian! Hoặc giả, họ Uông thực bụng muốn "tìm đường cứu nước". Dù là gì đi nữa, những hành động của Uông, những hậu quả xấu, Uông gây nên cho dân tộc Trung Hoa, đủ để nói Uông là Hán gian. Cái án đó, chắc hàng vạn năm sau vẫn y nguyên như vậy!
Uông Tinh Vệ nói là mình lưu ở Hà Nội19 để chờ xem "người Trùng Khánh suy nghĩ lại". Thực là hoang đường - Theo Cao Tông Vũ, Mai Tư Bình, những bức ảnh do Nhật chụp và "kế hoạch mật ở Thượng Hải" thì sau khi Uông Tinh Vệ phát biểu thông điện hưởng ứng lời gọi hàng của cận vệ, "trước hết quân Vân Nam phản Tưởng đòi độc lập, thứ đến, quân Tứ Xuyên hưởng ứng". Tiếp đó, "ở vùng không có quân Nhật chiếm đóng, ở Vân Nam và Tứ Xuyên thành lập chính phủ độc lập. Quảng Đông và Quảng Tây là địa bàn của chính phủ mới".
Nhưng, các quân miền Tây Nam dự kiến sẽ hưởng ứng, đột nhiên yên hơi lặng tiếng. Thêm vào đó họ Uông còn lo sợ bị đặc vụ Trùng Khánh sát hại, nên đã cùng lũ tay chân khác rời Hà Nội, đến xây dựng "chính phủ hòa bình" dưới sự yểm trợ của quân Nhật!
3. LOGIC CỦA "BÀ ĐỠ"
Có người gọi Triệu Hân Bá là "bà đỡ nước Mãn Châu". Triệu là một tên Hán gian xấu xa ai ai cũng biết.Triệu Hân Bá sinh năm 1890, trong một gia đình địa chủ thuộc thôn Bạch Ngạn, huyện Uyển Bình tỉnh Hà Bắc (nay thuộc về Bắc Kinh). Câu chuyện trở thành Hán gian của họ Triệu có quan hệ khăng khít với một kỹ nữ xinh đẹp có tên là Nhã Tiên.
Lúc còn trẻ, Triệu Hân Bá thường thích ngâm vịnh, hát xướng và diễn kịch. Họ Triệu diễn vở "Trà Hoa Nữ" rất hay, khiến Nhã Tiên đem lòng quý mến. Triệu Hân Bá cũng đắm say trước nhan sắc quyến rũ của Nhã Tiên. Thế rồi hai người bước vào cuộc tình ái gắn bó, keo sơn!
Nào ngờ, trước đó Nhã Tiên đã là cô thiếp thứ 7 của họ Từ, một lão thần triều Thanh trước kia.
Triệu Hân Bá vừa không quên được sắc đẹp của nàng, vừa sợ họ Từ làm khó dễ, bèn đưa Nhã Tiên trốn đến Thiên Tân rồi Đại Liên. Đồng thời bỏ tiền ra mua giấy báo quan, đăng hình lên báo đưa tin làm như Nhã Tiên đã nhảy sông tự sát, họ Từ tin luôn là thật!
Sau khi đến Đại Liên, hai người gần như đã cạn túi.
Bấy giờ là lúc người Nhật đang chuẩn bị chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Trong cộng đồng kiều dân Nhật rộ lên phong trào học tiếng Trung. Nhã Tiên nói sõi tiếng Nhật, lại phát âm rất chuẩn cả tiếng Bắc Kinh. Và thế là Nhã Tiên "chuyên dạy người Nhật học tiếng" kiếm tiền nuôi sống Triệu Hân Bá.
Trong số "học sinh" của Nhã Tiên có hai viên quan Nhật nổi tiếng tàn ác.
Nhờ có mối quan hệ này, Triệu Hân Bá được Nhật Bản coi là người có thể sử dụng trong tương lai, được chính phủ Nhật cho sang Nhật học về pháp luật ở trường đại học Minh Trị Đông Kinh.
Nhã Tiên theo Triệu Hân Bá sang Nhật, được ít lâu thì bị chết trong một lần phẫu thuật. Triệu Hân Bá thương xót, khóc lóc vô cùng thảm thiết..
Năm 1926, Triệu Hân Bá tốt nghiệp, trở về nước và định cư ở Thẩm Dương. Viên võ quan cấp phó trong Công sứ quán Nhật Bản đóng ở Trung Quốc khi đó là Bản Trang Phồn ra sức tiến cử Triệu Hân Bá với Trương Tác Lâm, nói:
- Triệu Hân Bá là người siêu quần, hiếm hoi và đáng quý. Là người Trung Quốc duy nhất đậu bằng bác sĩ pháp luật ở Nhật. Triệu tiên sinh tài ba xuất chúng, học thức cao. Nếu được ở cạnh đại soái, chắc sẽ giúp đại soái lập nhiều công lớn!
Trương Tác Lâm không có biểu lộ gì. Để giúp Triệu Hân Bá có điều kiện sống, Trương cử y làm cố vấn pháp luật cho bộ tư lệnh bảo an miền Đông Bắc. Năm 1927, Trương Tác Lâm nhận chức đại nguyên soái lục, hải quân nước Trung Hoa Dân quốc ở Bắc Kinh. Triệu Hân Bá là ủy viên ban sửa đổi điều ước của bộ Ngoại giao.
Sau sự biến "18-9", được sự ủng hộ và thao túng của Nhật, Triệu Hân Bá tụ tập lũ cặn bã của dân tộc như Viên Kim Khải, thành lập "hội đồng duy trì địa phương tỉnh Liêu Ninh", làm chức năng của ủy ban tỉnh, tuyên bố tách khỏi Trương Học Lương và chính phủ Dân quốc Nam Kinh.
Lúc bấy giờ gặp ai Triệu Hân Bá cũng nói:
- Lúc này, mọi việc phải nghe theo người Nhật! Nghe họ, chỉ có sướng không có hại! Đừng bao giờ cứ u mê làm việc cho Trương Hán Khanh. Làm việc cho ông ta là tự chuốc lấy họa diệt vong!
Ngày 20, tháng 10 năm 1931, dưới sự giám sát của ban cố vấn Nhật Bản, Triệu Hân Bá nhận chức thị trưởng Phụng Thiên ngụy.
Triệu Hân Bá bán nước hàng giặc. Làm chó săn mà không cảm thấy nhục nhã. Gặp ai hắn cũng không ngớt lời biện hộ cho mình, nói:
- Ngày nay ai cũng bảo bỉ nhân làm quan bán nước. Làm như quan chức là quan trọng lắm! Cho rằng làm quan là phát tài, muốn gì được nấy! Họ không biết rằng nhiệm vụ của bỉ nhân hết sức nặng nề! Nhiều lúc mệt mỏi chỉ muốn chết! Làm như vậy là vì cái gì chứ? Chẳng phải là để già trẻ Thẩm Dương ta được an cư lạc nghiệp, nhà nhà hạnh phúc, thái bình hay sao? Còn có bán nước hay không thì cứ nhìn vào kết quả sẽ thấy!
Không chỉ có thế. Triệu Hân Bá còn đem mớ triết học Hán gian của mình lôi kéo người khác "xuống nước", Tang Thức Nghị là một trong số đó.
Tang Thức Nghị sinh năm 1885 ở Thẩm Dương. Thời trẻ du học ở Nhật. Tốt nghiệp trường sĩ quan lục quân. Là hạt nhân của Phụng hệ vào thời Trương Tác Lâm. Năm 1930 là chủ tịch Liêu Ninh.
Sau sự biến (18-9), quân Nhật tiến công Thẩm Dương. Bọn thủ hạ khuyên Tang Thức Nghị rời khỏi Thẩm Dương. Tang chẳng hề để ý, còn nói chắc như đanh đóng cột:
- Ta là chủ tịch. Quan phụ mẫu cả tỉnh, ta không thể bỏ đi trong lúc này!
Sau khi quân Nhật vào Thẩm Dương. Tang Thức Nghị bị giữ ở Tang công quán. Một viên tham mưu cao cấp trong đạo quân Quan đông của Nhật muốn dụ Tang, đã nói:
- Xin các hạ vẫn với tư cách là chủ tịch Liêu Ninh, hợp tác chặt chẽ với chúng tôi!
Tang Thức Nghị cự tuyệt luôn!
Bộ tư lệnh quân Quan đông sai Triệu Hân Bá đến dụ hàng Tang Thức Nghị.
Một hôm, Triệu Hân Bá đến thăm Tang Thức Nghị. Triệu tỏ ra quan tâm đặc biệt, nói:
- Ngày nay cơ quan tỉnh tuy vẫn như cũ, nhưng cảnh vật đã thay đổi cả rồi! Nếu Chủ tịch không nhanh chóng quyết định thì tương lai đại quyền tất phải rơi vào tay bọn Viên Thế Khải, Vu Xung Hán mất thôi! Lúc đó, e thiếu soái chẳng còn đường mà về. Hoặc về được thì dễ gì bọn chúng chịu nhả miếng mồi ấy ra!
Tang Thức Nghị vừa đọc được tin trên báo "Hội đồng duy trì địa phương Liêu Ninh" có chức năng của ủy ban tỉnh, trong lòng đã thấy không vui. Mấy câu nói của Triệu đã chạm đúng vào chỗ đau của Tang Thức Nghị. Tang suy nghĩ một lúc rồi buột miệng nói luôn:
- Đã thế thì ta quyết theo ông vậy. Bây giờ phải làm như thế nào?
Triệu Hân Bá thấy Tang Thức Nghị đã mềm lòng, liền buông lời dụ dỗ thêm:
- Xin chủ tịch dứt khoát đáp ứng các yêu cầu của phía Nhật Bản. Đồng ý nhận chức tỉnh trưởng Phụng Thiên, tin tưởng hợp tác với họ. Hơn nữa, phía Nhật Bản còn cho biết họ không hề muốn chiếm đất đai vùng đông Tam tỉnh này. Họ chỉ mong chúng ta xây dựng một chính quyền mới độc lập, tự trị, có quan hệ đi lại, thân thiện với họ.
Tang Thức Nghị chăm chú nghe Triệu nói và thẩm nghĩ: "Tang Thức Nghị ta đường đường là chủ tịch Liêu Ninh được chính phủ trung ương ủy nhiệm. Nay ta còn ở Liêu Ninh, để xem lũ người vô sỉ Viên Thế Khải, Vu Xung Hán, nhắm mắt làm bừa, múa rìu qua mắt thợ sao đây! Nhưng cứ nghe Triệu Hân Bá nói thì cũng không phải không có lý".
Tuy ngẫm nghĩ như vậy, nhưng ngoài mặt họ Tang không lộ ra chút nào là không hài lòng. Triệu Hân Bá nhìn qua lấy làm ưng ý. Lại đổ thêm dầu, nói:
- Nghe nói khi đại nguyên soái còn sống thì khu vực tự trị độc lập và miền đông Tam tỉnh, trước lúc trở cờ, lực lượng cũng chẳng hơn kém nhau là bao! Chẳng phải lúc đó, Phụng hệ, Trực hệ và Hoãn hệ đều có địa bàn riêng, từng vùng cát cứ sao? Bởi vậy, khi làm việc, chủ tịch nên linh hoạt một chút. Bằng cứ chống đối với quân Nhật thì e hậu quả khôn lường! Xin nghĩ giúp chủ tịch như vậy. Đúng sai thế nào, mong ngài xem xét.
Tang Thức Nghị trầm tư mãi - Triệu Hân Bá lại hùn thêm vào:
- Bỉ nhân suy đi tính lại thấy chủ tịch cứ ở đây cũng không hẳn là hay! Nếu không tìm kế thoát thân thì lâu lâu e dữ nhiều lành ít! Nếu như đáp ứng yêu cầu của phía Nhật, cùng họ hợp tác, cộng sự một thời, chờ lúc thiếu soái trở về chủ trì chính cục miền Đông Bắc, chủ tịch tránh được sự xung đột, khỏi phải chống đối. Còn như thiếu soái vĩnh viễn không thể trở về như phía Nhật Bản đã nói, thì lúc bấy giờ chủ tịch tiến hành độc lập, tự trị, khôi phục lại thế ba chân của một chiếc đỉnh như thời đại nguyên soái còn sống mà cát cứ từng vùng, thì nhất định đại quyền vùng Liêu Ninh vẫn nằm trong tay chủ tịch như cũ. Liệu còn ai dám tranh giành nữa không? Nếu như miền đông Tam tỉnh có thể tiến hành liên tỉnh tự trị, mà xưa nay Liêu Ninh vẫn là tỉnh đứng đầu, thì hiển nhiên, chủ tịch lại là người cầm đầu liên tỉnh tự trị!
Triệu Hân Bá sốt sắng một hồi. Lời lẽ hùng hồn hấp dẫn làm cho họ Tang nghe mà mê mẩn, trong lòng tự nghĩ: "Triệu nói cũng có lý. Nếu không, thì cũng khó tìm được lối thoát nào khác!".
Kết quả cuối cùng họ Tang dao động, bao nhiêu khí tiết dân tộc trong lòng gần như đã thay đổi. Ông nói mấy câu thăm dò Triệu Hân Bá:
- Việc này không biết phía Nhật suy nghĩ ra sao? Liệu có phải thay đổi ý nguyện ban đầu hay không?
Triệu Hân Bá nói vẻ chắc chắn:
- Xin Chủ tịch cứ yên tâm. Phía Nhật Bản không bao giờ có thái độ khác với chủ tịch. Mọi việc đã có bỉ nhân".
Tang Thức Nghị ngại thân phận không hợp với công việc, nên nói gọn một câu:
- Mọi việc trông cậy cả vào ông!
Triệu Hân Bá hết sức mừng rỡ, vội nói:
- Xin chủ tịch an tâm. Bỉ nhân sẽ hết sức để chủ tịch được vừa lòng!
Triệu Hân Bá trở về báo cáo lại mọi chuyện với bộ tư lệnh quân Quan đông.
Chiều hôm thứ hai, Triệu Hân Bá đưa Tang Thức Nghị đến bái kiến viên quan Nhật, Bản Viên. Viên liền nói thêm những lời đường mật để dụ dỗ. Cuối cùng thì họ Tang nghe lời giặc Nhật, bộc bạch mấy câu với Bản Viên:
- Trước kia hạ quan nghĩ rằng mình được chính phủ tin tưởng, thì làm việc phải thận trọng, kẻo phụ lòng nhân dân cả nước. Nay nghĩ lại cảm thấy chính phủ Trung Quốc cũng như phó tư lệnh Trương Học Lương đều không muốn chống Nhật thì hạ quan cũng không nên vi phạm tinh thần đó. Hạ quan xin hết lòng đi theo con đường thân thiện giữa hai nước, góp phần vào công cuộc hợp tác hữu hảo giữa Trung - Nhật, gìn giữ tấm lòng yêu nước của mình.
Ngày 16 tháng 12, Tang Thức Nghị phát biểu thông điện, nhận chức tỉnh trưởng Phụng Thiên ngụy, tuyên bố không thừa nhận chính quyền Liêu Ninh do tướng quân Trương Học Lương thành lập ở Cẩm Châu. Quân Đông Bắc đóng ở gần Cẩm Châu cũng nghe theo mệnh lệnh của chính quyền ngụy Phụng Thiên. Từ đó, Tang Thức Nghị theo địch, hoàn toàn trở thành con rối trong tay người Nhật thao túng.
Năm 1932, sau khi quân Nhật chiếm lĩnh Cẩm Châu và Cáp Nhĩ Tân, Triệu Hân Bá lại tích cực giúp Nhật thành lập "nước Mãn Châu" và Triệu Hân Bá giữ chức Pháp viện viện trưởng.
Khi đó, Triệu Hân Bá đã quên tất cả, tự coi Pháp viện là thiên hạ của riêng mình, để xây dựng cơ cấu, mở rộng biên chế, kéo lũ thân tín từ các nơi về, hòng tạo dựng thế lực cho riêng mình. Đối với các quan sứ Nhật Bản do đạo quân Quan đông cử đến đã không lấy lễ thái thượng hoàng mà đối đãi, còn tỏ thái độ không hoan nghênh.
Họ Triệu đã quên mất thân phận "nô tài" của mình.
Năm 1933, người Nhật lấy danh nghĩa Phổ Nghi, người chấp chính của nước Mãn Châu ngụy ủy nhiệm Triệu Hân Bá vào "Đoàn khảo sát hiến pháp Mãn Châu" sang khảo sát ở Nhật, với ý đồ loại bỏ chú lừa đã dày công kéo cối xay, đá hắn ra khỏi vòng quyền lực. Ngay năm sau, họ Triệu buộc phải từ bỏ chức vụ "viện trưởng viện Lập pháp".
Năm 1938, Triệu Hân Bá về nước, định cư ở Bắc Bình.
Một hôm họ Triệu đến thăm bạn cũ Phó Văn Úc. Nhân lúc nhàn thản Phó Văn Úc liền đem lời hơn lẽ thiệt khuyên rằng:
- Trong thế giới ngày nay làm một con người thật khó, làm một người chân chính lại càng khó. Làm một người Trung Quốc cần phải có một chút lương tâm. Đừng bao giờ bỏ mất nhân cách, bỏ mất lòng yêu nước, yêu dân tộc...
Chẳng cần để Phó Văn Úc nói hết lời, Triệu Hân Bá đã cười và nói tiếp:
- Con người sinh ra ở đời không nghĩ đến danh lợi thì còn nghĩ đến cái gì? Nhật Bản là một nước mạnh, là một dân tộc tương lai rực rỡ! Trung Quốc muốn giàu mạnh cần phải thân thiện với họ.
Triệu Hân Bá đã ngụy biện cho hành động Hán gian của mình.
Ít lâu sau, Triệu Hân Bá lại sà vào lòng người Nhật, làm cố vấn cho chính quyền ngụy Vương Khắc Mẫn Hoa. Làm Hán gian lần nữa.
Năm 1945, sau ngày kháng chiến thắng lợi, Triệu Hân Bá bị bắt giam ở Bắc Bình. Ít lâu sau, Triệu Hân Bá bỏ tiền mua chuộc bộ môn Tư pháp chính phủ Quốc dân đảng, với danh nghĩa "tại ngoại trị bệnh" rồi về nhà sống ngoài pháp luật.
Năm 1957, Triệu Hân Bá ốm chết. Kết thúc cuộc đời đầy những gian trá, ác độc.
4. "CÔNG THẦN"
Bản cáo trạng của Trần Thuấn Trinh viết: Chử Dân Nghị giữ gìn được bình gan và bút tích của quốc phụ, đáng gọi là "Công thần".Chử Dân Nghị còn có tên là "lão hồ đồ". Họ Chử theo nghề y, từng lưu học ở Pháp, đậu bằng bác sĩ. Sau khi về nước kết hôn với Trần Thuấn Trinh.
Trần Thuấn Trinh vốn là nghĩa nữ của Vệ Nguyệt Lang, thân mẫu của Trần Bích Quân. Thường xưng hô chị em với Trần Bích Quân. Vì thế, Chử Dân Nghị và Uông Tinh Vệ thành đôi bạn "cọc chèo".
Với quan hệ đó, Chử Dân Nghị luôn luôn đi theo Uông Tinh Vệ. Chử chẳng có mấy trách nhiệm về mặt chính trị. Chính kiến lại càng ít. Hoàn toàn phụ thuộc vào họ Uông. Thời Uông còn làm viện trưởng viện Hành chính thì Chử là trưởng ban thư ký của viện. Khi Uông phản quốc theo giặc thì Chử cũng luôn luôn ở cạnh.
Lúc Uông xây dựng chính quyền ngụy, cũng định để Chử làm trưởng ban thư ký trong viện Hành chính chính quyền ngụy. Người cháu xa của Trần Bích Quân là Trần Xuân Phố là phó ban. Không ngờ Trần Xuân Phố lại bất mãn nói rằng:
- Nếu cần thì để ta phụ trách, làm hẳn trưởng ban, chứ Chử Dân Nghị làm việc hồ đồ lắm! Rốt cuộc thì ông ấy hay ta là kẻ hồ đồ. Đây là món nợ kể cũng khó nói cho rõ!
Cuối cùng Uông Tinh Vệ phải để Trần Xuân Phố làm trưởng ban. Và bố trí Chử Dân Nghị chức bộ trưởng Hải quân vậy. Nhưng lại gặp phải sự phản đối của Trần Công Bác, Chu Phật Hải, hai người can rằng:
- Chử Dân Nghị làm việc không mấy khi có chủ kiến. Bọn thân tín lại đều là lũ đại lưu manh đầu đường xó chợ. Nếu để ông ta làm bộ trưởng Hải quân tất sẽ bị kẻ xấu lợi dụng, dùng hạm thuyền chạy việc tư, sinh nhiều tiếng xấu!
Uông Tinh Vệ có phần kém vui, nói:
- Các bộ khác đã xác định chức bộ trưởng phải qua bầu chọn! Cuối cùng thì vẫn phải để Dân Nghị làm một chức gì chứ!
Trần Công Bác nói:
- Tiên sinh nên để bộ Ngoại giao cho Dân Nghị, cho kiêm thêm bộ Hải quân. Chờ khi hải quân có người tài thích hợp thì miễn chức này đi.
Uông Tinh Vệ do dự hồi lâu, mới nói:
- Bộ Ngoại giao có thích hợp với Dân Nghị không?
Chu Phật Hải nói tiếp:
- Được! Được! Dân Nghị đầu to, bề ngoài phi phàm làm ngoại trưởng thích hợp lắm! Công việc đối ngoại quan trọng với Nhật thể nào cũng qua bộ Ngoại giao nhất định phải có ý kiến của tiên sinh!
Chu Phật Hải nói như vậy là có ý riêng. Nếu để họ Uông kiêm nhiệm chức bộ trưởng Ngoại giao thì việc xử lý mọi vấn đề lớn Chu Phật Hải không thể xen vào được! Nếu để Chử Dân Nghị làm bộ trưởng; thì chỉ là một sự trang trí, mọi vấn đề đối với Nhật đều do Uông Tinh Vệ và Chu Phật Hải quyết định!
Sau việc đó, họ Uông cảm thấy có phần không phải với người bạn cọc chèo. Trần Bích Quân cũng không thỏa mãn. Uông chỉ để Chử Dân Nghị làm chức phó viện trưởng viện Hành chính.
Ngoài ra, Chử Dân Nghị còn có chân trong hội đồng chính phủ Quốc dân ngụy! Ngày 22 tháng 4 năm 1946, tòa án Giang Tô đã xử tử hình Chử Dân Nghị, bộ trưởng Ngoại giao chính phủ Quốc dân ngụy về tội "Thông mưu với địch, chống lại đất nước".
Chử phu nhân Trần Thuấn Trinh vô cùng lo lắng, trở lại Nam Kinh tìm hai luật sư để giúp cứu tính mệnh phu quân.
Hai luật sư cho rằng pháp luật đã xử đúng. Bây giờ chỉ còn cách "lấy công chuộc tội" thì họa chăng mới cứu được! Chử Dân Nghị từ tay quân xâm lược Nhật Bản có được lá gan còn lại của Tôn Trung Sơn cũng như cuốn "Đại cương dựng nước" do Tôn Trung Sơn viết. Họ Chử cất giữ và bảo quản. Sau đưa vào viện Bảo tàng lưu trữ báu vật.
Tôn Trung Sơn là quốc phụ. Giữ gìn di vật của quốc phụ tất có công lớn! Phương án lấy công chuộc tội có thể thành!
Sau khi được các luật sư làm đơn xin giảm hình phạt, Trần Thuấn Trinh đưa đơn gửi tòa án Giang Tây, yêu cầu trình chuyển lên tòa án tối cao.
Đồng thời Trần Thuấn Trinh còn dùng tiền bạc hối lộ tên cố vấn quân sự Mỹ bên cạnh Tưởng Giới Thạch. Tên này từng là tham mưu trưởng bộ tư lệnh quân đội Mỹ đóng ở chiến khu Trung Quốc. Viên cố vấn Mỹ có người bạn trước kia cùng Chử Dân Nghị lưu học ở Pháp. Với quan hệ đó, cuối cùng thì Trần Thuấn Trinh tìm đến viên cố vấn, yêu cầu ông ta nói chuyện tình cảm tới Tưởng Giới Thạch.
Vì lòng hiếu kỳ, viên cố vấn yêu cầu Trần Thuấn Trinh kể rõ chuyện giữ gìn được di vật của quốc phụ.
Trần Thuấn Trinh suy nghĩ một lát rồi kể mọi chuyện với viên cố vấn.
Năm 1925, Tôn Trung Sơn đến chữa trị bệnh gan ở bệnh viện Hiệp Hòa, Bắc Bình. Bệnh viện cho biết gan bị cắt đã hỏa thiêu xong. Sau cuộc chiến Thái Bình Dương bùng nổ, quân Nhật tiếp quản bệnh viện Hiệp Hòa. Họ phát hiện ra gan của Tôn Trung Sơn vẫn được ngâm bảo quản trong bình. Ít lâu sau, bình gan rơi vào tay một viên sư đoàn trưởng quân Nhật.
Sau khi biết chuyện đó, Chử Dân Nghị đến ngay Bắc Bình tìm viên tư lệnh do quân Nhật ở Hoa Bắc vừa phái tới là Hạ Thôn Định, bàn cách lấy lại bình gan của Tôn Trung Sơn. Hạ Thôn Định vốn là chỗ thân tình với Chử Dân Nghị, nên hắn giúp được ngay.
Cuốn "Đại cương dựng nước" nổi tiếng với bút tích của Tôn Trung Sơn rơi vào tay quan tư lệnh đạo quân số 1 của Nhật là Trừng Điền. Chử Dân Nghị liền đi Thái Nguyên gặp Điền. Lúc đầu Điền không chịu. Cuốn sách đang được đóng hòm để chuẩn bị gửi về Nhật. Họ Chử phải đưa cho Điền mấy chục cân thuốc phiện mới xong.
Nghe Trần Thuấn Trinh kể xong, viên cố vấn cảm động, nói:
- Thật giống như phim ảnh ly kỳ của Mỹ, rất kích thích! Tốt! Cứ bằng vào dũng khí lúc đó của Chử tiên sinh thì chắc Ủy viên trưởng cũng phải cảm động. Thế này nhé, khi gặp Tưởng Ủy viên trưởng, hạ quan sẽ chuyển đơn xin giảm án cho ngài ấy.
Đúng vậy, cả đơn và ảnh chụp các di vật của Trần Thuấn Trinh đã được viên cố vấn trao lại cho Tưởng Giới Thạch và nói:
- Mong ngài Ủy viên trưởng xem qua. Chử Dân Nghị tiên sinh là người rất tốt. Hạ quan tha thiết mong ngài mở lượng khoan hồng đối với ông ta!
Tưởng Giới Thạch suy nghĩ rồi nói:
- Để xem xét lại những thứ đó, nếu quả Chử Dân Nghị là người như thế thực, ta sẽ suy nghĩ để tìm cách khoan hồng.
Mấy hôm sau, tòa án tối cao Nam Kinh nhận được thư riêng của Tưởng Giới Thạch. Thư viết: "Chử Dân Nghị theo giặc, tội đáng phải như vậy. Nhưng xét Chử cũng có nhiều năm bôn ba cách mạng theo gương quốc phụ. Lại biết tìm cách gìn giữ bình gan và bút tích của Người. Sau khi quân Nhật đầu hàng đã có phần thay tâm đổi nết, ra sức gìn giữ trị an ở Quảng Đông, án lại thuộc trung ương quản lý, nên về vấn đề của Chử có thể xử nhẹ đi một phần!
Ngày mùng 6 tháng 8, tòa án Giang Tô xử lại vụ án Chử Dân Nghị và phán quyết như sau: "Xét Chử Dân Nghị tuy bán nước, hàng giặc, phạm nhiều tội ác. Nhưng nhìn lại thân nhân Chử, theo cách mạng là chủ yếu. Lại biết tìm cách bảo tồn được di vật của quốc phụ, lập công lớn. Sau khi quân Nhật đầu hàng đã có biểu hiện hối hận, ra sức gìn giữ trị an ở Quảng Đông. Xét những vấn đề đó, tòa án quyết định miễn tội tử hình cho Chử Dân Nghị, đổi thành hai mươi năm tù giam.
Tưởng Giới Thạch can thiệp và tòa án đã giảm tội cho Chử Dân Nghị, làm cho quảng đại nhân dân tỏ vẻ phẫn nộ. Dư luận xã hội phê bình gay gắt. Ở Hương Cảng báo chí có bài bình luận:
Chử Dân Nghị phản quốc hàng giặc. Tội trạng rõ ràng người người đều biết. Tòa án Giang Tô tuyên phạt tử hình. Tòa án tối cao y án đã rõ! Chẳng ngờ vụ án mà ai ai cũng biết đã được thay đổi. Tòa án Giang Tô đem ra xử tiếp, án tử hình đỏi thành án tù hai mươi năm, rồi thành sáu năm. Mặc dù vẫn chưa thỏa, nhưng ngày ngày đã thấy Chử Dân Nghị tập quyền, luyện chữ, tỏ vẻ hào hứng lắm! Những điều quái gở năm nào mà chẳng có, nhưng năm nay có vẻ nhiều hơn! Chẳng ai có thể ngờ được bình gan và bút tích của quốc phụ lại có thể cứu được kẻ phản bội ghê gớm kiêm Hán gian kia!...? Chử Dân Nghị cũng chỉ là một trong số những tên Hán gian xấu xa. Chết hay sống không thành vấn đề! Đất nước Trung Quốc rộng lớn đâu có hẹp hòi gì với dúm người đó! Nhưng để giữ mạng sống cho một tên Hán gian mà làm mất đi sự tôn nghiêm của quốc pháp, dung túng cho đạo đức suy đồi, gây ra một tiền lệ độc ác, cứu sống lũ gian tà, dẫn tới gian trung lẫn lộn,quả là hết sức láo xược! Tiền đổ của dân tộc Trung Hoa rồi sẽ đi tới đâu!
Cũng có một số quan tòa, loại cứng đầu cứng cổ, đứng ra bảo vệ chính nghĩa. Kiểm sát viên Lý Thự Đông của viện kiểm sát Giang Tô, tổ chức một liên danh những kiểm sát viên viết kiến nghị phản đối thay đổi hình phạt với Chử Dân Nghị.
Trước dư luận xã hội rộng rãi như vậy, để bảo vệ uy tín của mình, Tưởng Giới Thạch không bảo vệ Chử Dân Nghị nữa!
Ngày mùng 8 tháng 9, bộ Tư pháp hành chính Nam Kinh đã tuyên bố với giới báo chí rằng: "Tòa tối cao giữ nguyên án tử hình đối với Chử Dân Nghị. Bản bộ đã xem xét bản án này và đã thông điện tới tòa án, viện kiểm sát Giang Tô để chấp hành".
Cuối cùng thì Chử Dân Nghị không sao thoát khỏi hình phạt.
5. "CÓ TỘI LÀ CÓ TỘI, VÔ TỘI LÀ VÔ TỘI"
Trần Công Bác sau khi theo chân Uông Tinh Vệ bán nước, hàng giặc, từng kinh qua những chức vụ: Viện trưởng viện Lập pháp trong chính phủ ngụy của Uông, ủy viên thường vụ hội đồng quân sự, bộ trưởng bộ Huấn luyện chính trị, thị trưởng Thượng Hải kiêm tư lệnh bảo an Thượng Hải... Sau khi Uông qua đời, đã kế nhiệm chủ tịch chính phủ Quốc dân ngụy, ủy viên trưởng hội đồng quân sự, viện trưởng viện Hành chính.Sau khi kháng chiến chống Nhật thắng lợi, Trần Công Bác hốt hoảng tháo chạy sang Nhật. Với đòi hỏi gay gắt của phía Trung Quốc, Nhật Bản phải giao Trần Công Bác để giải ngay về nước.
Vào dịp tết Thanh minh mùng 5 tháng 4 năm 1946, tỉnh Giang Tô mở phiên tòa xét xử Trần Công Bác. Thẩm phán trưởng là viện trưởng Pháp viện Tôn Hồng Lâm, kiểm sát viên trưởng Hàn Đào, các thẩm phán khác Thạch Mỹ Du và Trần Gia Thụy.
Kiểm sát viên họ Hàn tuyên đọc lời cáo trạng, kể ra mười tội lớn của Trần Công Bác:
(1) Ngầm mật ước làm mất quyền mất quốc thể.
(2) Vơ vét của cải cung phụng cho địch.
(3) Phát hành tiền ngụy làm rối loạn thị trường.
(4) Tôn địch là cha, tuyên bố tham chiến.
(5) Bắt tráng đinh làm lính cho giặc.
(6) Cho buôn bán ma túy đầu độc nhân dân.
(7) Cải biên sách giáo khoa thực hiện nền giáo dục nô
dịch.
(8) Tàn hại các bậc chí sĩ.
(9) Tham quan ô lại, chính quyền hủ bại.
(10) Dung túng ngụy quân hại nước, hại dân.
Lời cáo trạng kết luận: bị cáo hợp cùng Uông Tinh Vệ tổ chức chính quyền ngụy, theo địch - Phạm vào tội chết trong các khoản 1, 3 và 4 thuộc điều 2, trừng trị Hán gian. Mong tòa án nghiêm trị. Trần Công Bác đứng nghe trong vành móng ngựa. Lát sau đầu ngẩng hơi cao, y yêu cầu tòa cho đọc lời "tự bạch", y nói:
- Nhiều người chưa hiểu hết nội tình. Xin tòa cho phép đọc lời "tự bạch" hơn sáu vạn chữ, trước khi thẩm vấn.
Sau khi được tòa cho phép, Trần Công Bác lấy lại tinh thần đọc rõ ràng từng chữ.
Lời "tự bạch" của Trần gồm cả thảy bảy phần: lời nói đầu, trước và sau cuộc vận động hòa bình, việc tổ chức chính phủ Nam Kinh và ý kiến của Trần, cuộc vận động hòa bình thất bại và tình hình đấu tranh của Nhật Bản, Uông tiên sinh qua đời và quân Nhật đầu hàng, chính phủ Nam Kinh giải tán và phần kết luận.
Trong bản "tự bạch", Trần Công Bác không những chạy tội cho mình mà muốn chạy tội cho cả Uông Tinh Vệ nữa! Nói lúc bấy giờ phải cùng Uông Tinh Vệ tổ chức chính phủ Nam Kinh vì nghĩ rằng Tưởng Giới Thạch không muốn chống Nhật. Chính phủ Nam Kinh hòa bình chống Nhật. Nói cùng với Uông Tinh Vệ chống Nhật hơn năm năm ở Nam Kinh, khiến cho dân chúng thoát khỏi hiểm họa mà an cư lạc nghiệp.
Về quá trình theo chân Uông Tinh Vệ, Trần Công Bác nói: khi thấy Uông Tinh Vệ ngầm ký mật ước về văn thể với Nhật thì dao động, tìm cách về ẩn cư ở Hương Cảng - Về sau qua năm lần bảy lượt họ Uông chèo kéo, mới rời Hương Cảng về Nam Kinh nhận chức viện trưởng viện Lập pháp.
Trần Công Bác nói ở phần kết luận:
Quân lính hòa bình của Nam Kinh hoàn toàn nhằm chống Cộng và phòng vệ địa phương. Ngày nay các tỉnh miền Đông Nam chưa rơi vào tay quân Cộng như Sơn Đông,. Sơn Tây, làm cho chính phủ trung ương khỏi lo lắng, phải nói là có phần công sức của đạo quân hòabình. Phải nhớ rằng quân hòa bình thiệt hại khá nhiều trong công việc tiễu Cộng, không được xem nhẹ họ... Tóm lại, Trùng Khánh tán thành liên hiệp tiễu Cộng, chúng tôi cũng tiễu Cộng. Nhật Bản không thỏa hiệp với Cộng sản, chúng tôi vẫn tiễu Cộng. Dù cho vì vấn đề tiễu Cộng mà phải trở mặt với quân Nhật, chúng tôi cũng chẳng từ.
Trần Công Bác lấy việc "Tiễu cộng" và "hòa bình chống Nhật" để mọi người đồng tình, hòng gỡ được tội lỗi của mình!
Phải mất hai giờ Trần Công Bác mới đọc xong lời tự bạch của mình. Người nghe cảm, thấy mệt mỏi. Tòa tuyên bố nghỉ mười phút.
Sau đó, tòa bước sang giai đoạn biện luận. Thẩm phán. trưởng Tôn Hồng Lâm và bị cáo Trần Công Bác người hỏi kẻ đáp.
Thẩm phán trưởng hỏi về "điều ước cơ bản nhục nhã bán nước nhường quyền giữa Nhật - Trung". Trần Công Bác trả lời:
- Từ lâu tội nhân đã phản đối, và chưa từng tham gia thảo luận điều ước cơ bản đó. Trong điều ước có nói: "Xây dựng một trật tự mới ở Đông Á". Tội nhân cho rằng vì một trật tự quá ư mục nát, lại có những điều ước cơ bản đã được ký kết giữa Uông và quân Nhật, nên mới ký kết điều ước đồng minh khác với quân Nhật.
Thẩm phán trưởng lại nói:
- Nhà ngươi chưa từng tham gia phong trào vận động hòa bình, vì sao lại rời khỏi Tứ Xuyên. Khi rời khỏi Tứ Xuyên cảm thấy chưa ổn, vì sao không học theo Đào Hi Thánh quay lại Trùng Khánh mà phải từ Hương Cảng đi Thượng Hải?
Trần biện giải:
- Tội nhân tin rằng mình có thể giúp được Uông tiên sinh. Giả sử tội nhân không ở bên cạnh Uông thì làm gì có tư cách để nói với Uông rằng: "Đảng hợp lại thì đất nước tất phải thống nhất".
Tôn Hồng Lâm lại hỏi:
- Khi tổ chức chính phủ ngụy ngươi có biết mình phạm pháp không?
- Có thể nói đến hai mặt của một vấn đề. - Trần Công Bác khéo léo nói - Về mặt luật pháp coi như phạm pháp, nhưng về mặt chính trị lại mong chính phủ Nam Kinh có vai trò hòa hoãn, nhờ đó mà đàm phán trực tiếp với phía Nhật, tạo nên những điều kiện hòa bình tốt nhất. - Trần Công Bác tiếp tục trả lời: - Uông tiên sinh qua đời, mọi việc đều đổ lên đầu tội nhân này. Vì vậy, định mười tội lớn cho tội nhân e có phần gượng ép quá chăng? Như tội công khai bán thuốc phiện, đâu phải như vậy! Có tội là có tội, vô tội là vô tội. Cá nhân dù sống hay chết cũng phải làm cho sáng tỏ. Nhớ lại sau khi bị bắt ở Nam Kinh, Đái Lạp từng hỏi tội nhân: "Sao ông không viết thư gửi Tưởng chủ tịch". Lẽ nào tội nhân này phải cầu xin người khác? Huống hồ tội nhân lại bị Tưởng chủ tịch thành kiến, khó lòng được tha thứ! Vì vậy, hi vọng Tòa sớm phán quyết.
Tôn Hồng Lâm phản bác lại ngay:
- Không thể biến phiên tòa này thành nơi khởi tố của ngươi. Nói tới sự ân oán giữa ngươi và Tưởng chủ tịch.
Trần Công Bác cũng nói thêm:
- Tuy không thể nói toàn bộ là ân oán cá nhân. Nhưng cũng không thể nói là không tồn tại nhân tố đó! Các vị còn chưa biết...
- Chẳng nhẽ đây cũng là ân oán hay sao?
Tôn Hồng Lâm thấy Trần Công Bác còn muốn đưa dẫn chứng để nói về lịch sử ân oán với Tưởng chủ tịch, nên vội đưa cuốn "Trần Công Bác ngôn luận tập" ra để khống chế họ Trần. Đó là những lời đàm luận qua nhiều năm bán nước hàng giặc của Trần Công Bác. Đó là một trong những tội chứng rành rành.
Trần Công Bác cầm lấy xem. Tinh thần hết sức căng thẳng.
Tôn Hồng Lâm thấy vậy, liền chỉ định luật sư Cao Dung đứng ra biện hộ cho bị cáo.
Cao Dung nói:
- Đối với cuộc vận động hòa bình, nhân dân trách cứ có phần thiên lệch. Xã hội có hai cách nhìn, một loại cho là nguy hiểm, một loại lại coi đó là một tổ chức nhằm hòa hoãn xung đột, giảm nhẹ nỗi khổ của nhân dân. Nếu không có chính phủ hòa bình thì không biết nhân dân còn khổ cực đến đâu nữa! Từ 15, 16 tuổi, bị cáo đã đi theo cách mạng, ra sức vì đất nước. Đó là lòng yêu dân tộc. Nhờ có sự nỗ lực của bị cáo và những người khác, nhân dân mới thoát hiểm, mới được nghe quốc ca, nhìn thấy quốc kỳ, được đọc "Tam dân chủ nghĩa". Nhìn như vậy, đủ thấy bị cáo thuộc hệ những nhà yêu nước.
- "Quốc kỳ" thì có thể nhìn thấy, nhưng tiếc rằng giữa thanh thiên bạch nhật lại thấy ở đó có mảnh vải vàng hình tam giác ghi rõ: "hòa bình, chống Cộng và dựng nước!" "Tam dân chủ nghĩa thì có được đọc, nhưng nội dung "phản để" nói trong đó đã bị lược bỏ mất rồi!
Sau khi Cao Dung nói xong, thấy kiểm sát viên có phần phản bác lại quan điểm của ông ta như vậy! Sau đó, thẩm phán trưởng tuyên bố kết thúc phần biện luận, tòa sẽ tiếp tục vào ngày 13 trong tháng.
Ngày 13 tháng 4, thẩm phán trưởng Tôn Hồng Lâm tuyên đọc bản phán quyết đối với Trần Công Bác:
- Trần Công Bác thông mưu với nước địch, mưu mô chống lại tổ quốc, bị xử tử hình. Tịch thu toàn bộ tài sản. Được trừ một phần đảm bảo sinh hoạt gia đình.
Sau khi đọc xong bản án, Tôn Hồng Lâm nói với Trần Công Bác:
- Theo qui định, bản viện sẽ trình bản án này lên tòa tối cao. Bị cáo nếu không tán thành có thể gửi kháng nghị lên tòa cấp trên trong vòng mười ngày.
Trần Công Bác yên lặng đứng nghe. Điệu bộ vẫn bình thản, nói:
- Lần xét hỏi trước, tội nhân đã không trình bày nữa. Lần này muốn được tòa cho công bố cùng một lúc lời "tự bạch" cùng bản phán quyết. Nếu chính quyền cho rằng lời "tự bạch" là xảo trá, hòng chạy tội thì cứ ghi ngay mấy câu nhận xét vào đó để nhân dân giám định lại!
Tôn Hồng Lâm đưa mắt nhìn họ Trần một lát rồi quay lại bàn bạc với các thẩm phán khác trong chốc lát. Xong đó, tuyên bố: "Bản tòa đồng ý với lời yêu cầu của bị cáo!".
Trần Công Bác tỏ vẻ thỏa mãn nói:
- Được tòa cho phép công khai phát biểu trong lòng không còn điều gì phải ân hận. Tôi nhận thất bại về mặt chính trị, nhưng nhân cách con người thì không thất bại. Thực là: "Cà cuống chết đến đít mà vẫn còn cay!"
Trần Công Bác không muốn kháng cáo lên trên, nhưng phu nhân là Lý Lệ Trang vẫn đề xuất với tòa án tối cao. Kèm theo với bản kháng nghị còn có thư mật, điện mật vào năm đó của Đái Lạp, Cố Chúc Đồng, Tống Tử Văn gửi cho Trần Công Bác. Nhưng tòa tối cao đã bác bỏ tất cả, nói:
- Cái gọi là lý do đều là sự biện bác giảo hoạt, cái gọi là chứng cứ đều là bịa đặt. Vì vậy, giữ nguyên lời phán quyết của tòa cấp dưới.
Tháng 3 năm 1946, Trần Công Bác bị xử quyết ở Tô Châu.
6. AI LÀ NGƯỜI BÁN NƯỚC ÍT HƠN
Trần Bích Quân, hội viên Đồng minh cũ. Gốc gác người Phiên Ngu, Quảng Đông. Ra đời ở Nam Dương. Thân phụ là Trần Canh Cơ, một nhà buôn giàu có ở đảo Tân Lang.Năm 1907, vừa gặp Uông Tinh Vệ ở đảo Tân Lang, Trần Bích Quân đã si mê ngay. Từ đó, chẳng khác gì cây dây leo, lúc nào cũng xoắn xuýt bên họ Uông. Năm 1912, chính phủ Quốc dân ra đời, Uông Tinh Vệ và Trần Bích Quân thành hôn ở Thượng Hải. Từ đó, trên danh nghĩa là "Uông phu nhân", Trần Bích Quân nổi tiếng một thời. Còn Uông Tinh Vệ nếu không có Trần Bích Quân thì bất thành Uông Tinh Vệ. Trời đất đã tạo nên một đôi tình đầu ý hợp, hoạn nạn bên nhau, thề cùng sống chết.
Người đời thường gọi vui Trần Bích Quân là con "hổ cái" luôn luôn ra oai giúp Uông. Chính vì thế, trong "sự nghiệp" của Uông có đến ba phần là công của Trần Bích Quân. Thậm chí có người nói: "Uông là con rối trong tay họ Trần", "Uông trở thành Hán gian trách nhiệm chủ yếu là ở họ Trần". Đương nhiên, chưa thể tin tưởng hoàn toàn vào những điều đó. Nhưng Trần Bích Quân là kẻ nguy hiểm, là người phụ nữ không bình thường, là điều hết sức rõ ràng.
Sau khi kháng chiến thắng lợi, "Quân thống" gài bẫy tìm bắt Trần Bích Quân ở Quảng Châu, rồi giải về giam giữ ở Nam Kinh.
Ngày 23 tháng 11 năm 1945, chính phủ Quốc dân ban bố "Điều lệ xử lý các án Hán gian". Ngày mùng 6, tháng 12 lại công bố "Điều lệ trừng trị Hán gian". Tòa tối cao và các tòa địa phương căn cứ vào "Điều lệ tố tụng các vụ án hình sự đặc biệt" mà tra xét, xử lý các loại Hán gian. Phàm kẻ nào thông mưu với địch đều phải xử tử hình hoặc phạt tù chung thân.
Trần Bích Quân và Trần Công Bác, Chử Dân Nghị, Mai Ân Bình đều bị giải từ Nam Kinh về Tô Châu.
Ngày 25 tháng 3 năm 1946, viện kiểm sát Giang Tô đã kết thúc điều tra về Trần Bích Quân, ngày 28 đã khởi tố trước tòa hình sự. Bản cáo trạng nêu rõ tội của Trần Bích Quân như sau:
Bị cáo Trần Bích Quân, là vợ kẻ nghịch Uông TriệuMinh. Từng là ủy viên ủy ban giám sát trung ương Quốc dân đảng. Sau khi chiến tranh Trung Nhật bùng nổ đã theo Uông đến Trùng Khánh. Mùa thu năm Dân Quốc thứ 27, họ Uông câu kết với giặc Nhật mật bàn kế hoạch, bị cáo có tham gia. Tháng 12 năm đó, bị cáo cùng họ Uông đã rời bỏ Trùng Khánh, cho đến tháng giêng năm Dân quốc thứ 29, họ Uông đã tổ chức chính phủ ngụy ở Nam Kinh, ngang nhiên chống lại trung ương. Cùng với việc Uông là chủ tịch, bị cáo là ủy viên ban chấp hành trung ương đảng ngụy, là ủy viên bộ chính trị trung ương, luôn luôn sát cánh với Uông. Bị cáo luôn luôn tán thành phản bội trung ương, giúp giặc có nhiều qui kế! Sau lúc Uông qua đời, Trần Công Bác kế nhiệm chức chủ tịch ngụy, bị cáo với thân phận là một quả phụ thường đi lại giữa các vùng Kinh, Hỗ, Hán truyền bá thuyết hòa bình toàn diện để lừa dối nhân dân mưu lợi cho địch. Sau khi chính phủ dời về Trùng Khánh, việc vận chuyển vật tư viện trợ, việc tiếp tế quân giới, nhất nhất phải qua đường Quảng Châu, Hương Cảng. Bị cáo biết điều đó, nên cứ hai tháng ở Kinh lại hại tháng ở Việt, nhằm giải quyết mọi việc thuộc quân chính Quảng Đông ngụy, hòng làm giảm nguồn vật tư của chính phủ, làm suy yếu lực lượng kháng chiến của chúng ta. Lúc tỉnh trưởng ngụy Quảng Đông Trần Xuân Phố từ chức rời Việt, bị cáo liền trở lại Việt, nắm quyền trong thời gian bốn tháng. Là ủy viên đặc vụ ban chấp hành trung ương ngụy, là đặc công tổng bộ khu vực Hoa Nam điều khiển các loại tình báo, thiết lập các cơ cấu đặc công, nhằm sát hại các đồng chí hoạt động bí mật. Thời gian bị cáo thao túng ở Quảng Đông, mọi việctrong tỉnh từ nhân sự đến hành chính, kinh tế, giáo dục, nhất nhất nghe theo sự sắp xếp của địch. Bị cáo thông mưu với địch, chống đối đất nước, tội ác chất chồng, không thể tha thứ.
Ngày 16 tháng 4, tòa án thẩm vấn Trần Bích Quân. Thẩm phán trưởng là Tôn Hồng Lâm, kiểm sát viên Vi Duy Thanh và các thẩm phán khác Thạch Mỹ Du, Lục Gia Thụy, thư ký phiên tòa là Tần Đạo Lập.
Người đến dự phiên tòa đông nghịt. Có thể vì Trần Bích Quân cao ngạo hung hãn ai ai cũng biết. Có thể vì hiếu kỳ. Cũng có thể vì lòng thù hận, ai ai cũng muốn tận mắt nhìn cảnh thẩm vấn!
Trần Bích Quân mặc áo màu xanh, đeo kính gọng vàng, được nữ hiến binh đi kèm, len lỏi bước vào phòng. Bị cáo dáng vẻ ngạo mạn, miệng tươi cười, đưa mắt nhìn đám quần chúng, còn giơ tay vẫy vẫy, như mỗi lần lên diễn đàn nói chuyện vậy!
Tôn Hồng Lâm chiếu lệ hỏi bị cáo về tuổi tác, chỗ ở, sau đó mới hỏi Trần Bích Quân có bao nhiêu tài sản?
Trần Bích Quân sẵng giọng trả lời:
- Chính phủ đã tịch thu. Các ông hiểu rõ hơn ai hết. Còn hỏi cái gì?
Tiếp đó, kiểm sát viên đọc bản cáo trạng.
Đọc xong, tòa cho phép Trần Bích Quân tự biện hộ.
Trần Bích Quân từ từ lấy tờ biện hộ đã chuẩn bị và cao giọng đọc. Lần lượt phản bác từng điều trong bản cáo trạng:
Chính quyền ngụy của Uông là vấn đề chính trị. Hoàn toàn không phải là vấn đề pháp luật.
Về vấn đề chính quyền ở Việt, Trần Bích Quân nói văng mạng về "chiến tích" của mình. Nhờ đó giá gạo ở Quảng Đông mới từ 12200 xuống còn 5200 đồng.
Trần Bích Quân phản bác việc Uông Tinh Vệ bán nước: "Có thể bán Trung Quốc bằng cách nào đây? Hiển nhiên là không thể bán được những khu vực mà Trùng Khánh khống chế!".
Việc Tưởng Giới Thạch ngầm câu kết với giặc Nhật thời đầu và ngay sau khi cuộc kháng chiến bắt đầu, Trần Bích Quân nắm chắc trong lòng bàn tay, nên mới kể hết những điều chẳng lấy gì làm đẹp đẽ của Tưởng.
Trần Bích Quân nói:
- Những khu vực chính quyền Uông thống trị là những khu vực đầy hiểm họa của Trung Quốc, cũng là những khu vực Nhật Bản đã chiếm. Uông tiên sinh không hề cho chúng một tấc đất nào. Thử hỏi ai là người đã hiến đất cho Nhật? Những việc Uông tiên sinh làm là nhằm đoạt lấy quyền lợi từ tay kẻ thù, nhằm thu hồi những khu vực đất đai mà bọn bán nước, bọn quan quân cao cấp gắng chạy thoát thân, để mất.
Trong phòng xử án, tiếng quần chúng rì rầm bàn tán. Trước phiên tòa của chính phủ Quốc dân, phạm nhân công khai công kích chính phủ và lãnh tụ tối cao, bị cáo gần như biến thành quan tòa.
Thẩm phán Thạch Mỹ Du vừa sợ vừa cuống, rung chuông liên hồi để khống chế.
Trần Bích Quân chẳng ngại ngùng gì. Giọng nói cứ oang oang:
- Bảo rằng Uông tiên sinh bán nước? Làm sao Uông tiên sinh có thể bán được những khu vực do Trùng Khánh thống trị? Nhưng từ lâu các vùng đất đai rộng lớn của ba tỉnh miền Đông Bắc, của Hoa Bắc, Hoa Đông đã bị giặc Nhật chiếm mất. Chẳng phải đều do Tưởng ủy viên trưởng khoanh tay dâng cho bọn Nhật hay sao? Ngay như chuyện ở Quảng Đông đấy thôi! Khi quân Nhật tiến công, lũ quan lại của tỉnh bỏ chạy bằng hết. Bảo vệ đất nước như thế sao? Thử hỏi đó là trách nhiệm của Tưởng ủy viên trưởng hay là trách nhiệm của Uông tiên sinh?
Bằng thái độ khinh miệt, Trần Bích Quân nhìn khắp lượt các vị thẩm phán và miệng vẫn không ngừng lời:
- "Cho bị cáo tự biện hộ", nói thì hay lắm! Vì đó là quyền lợi của bị cáo mà. Nhưng vừa nói được vài câu đã định ngắt lời của bị cáo! Thân là mệnh quan của pháp viện mà ngay đến mấy điều luật cơ bản cũng không hiểu. Chẳng bõ để thiên hạ chê cười sao? Vua dốt thì thần nát. Ngoài chiến trường, Tưởng Giới Thạch dùng toàn lũ loạn quân bại tướng! Ở hậu phương, lũ quan lại đều là phường giá áo túi cơm. Các ông đúng là một lũ như vậy!
Trần Bích Quân vừa dứt lời, tiếng cười đã rộ lên ở khắp chung quanh. Có cả tiếng vỗ tay nữa! Người đàn bà này thật dẻo mỏ. Mụ giỏi đường đổi trắng thay đen, khéo léo chuyển lòng phẫn nộ của quần chúng đối với Hán gian sang phía Tưởng Giới Thạch, chính phủ Quốc dân cùng lũ quan lại. Xét về góc độ biện hộ mà nói, đây quả là một chiêu của cao thủ.
Trần Bích Quân cho rằng đã được người nghe đồng tình nên giọng nói càng cao:
- Uông tiên sinh mở đầu cuộc vận động hòa bình, tay không thu hồi những vùng đất bị chiếm, tay không mà cai trị, rồi trả về nhà nước tất cả, phải nói là có công mới đúng! Uông tiên sinh học vấn uyên bác, đại trí đại dũng. Một vĩ nhân đáng để khâm phục!
Được voi lại đòi tiên! Trần Bích Quân có phần quá đà, dùng lời xảo trá và ngụy biện, hòng đánh lộn sòng, đổi nhục làm vinh, làm cho quần chúng cảm thấy khó chịu. Đã có những biểu hiện phản đối trong đám người ngồi nghe.
Kiểm sát viên Vi Duy Thanh vội chớp thời cơ, vặn lại mấy câu:
- Bị cáo nói kẻ nghịch Uông Tinh Vệ là người đáng để khâm phục, nhưng thực ra quan niệm của họ Uông là hoang đường và nhầm lẫn. Lời nói, việc làm của Uông đã chống lại trung ương, đi ngược lại trào lưu tiến hóa của lịch sử. Học vấn đã trở thành cái vô dụng. Xưa kia Tần Cối cũng có học vấn, nhưng phẩm hạnh lại quá thấp hèn.
- Sao lại bảo Tần Cối là người có học vấn? Kiểm sát viên nói ông ta có học vấn thì thật là hết ý!
Trần Bích Quân nửa như vặn hỏi nửa như nhạo cười. Điều đó khiến kiểm sát viên phẫn nộ. Ông ta đập lại ngay:
- Tần Cối là trạng nguyên, đương nhiên là có học, ngươi hiểu không?
Trần Bích Quân tóm ngay lấy câu đó mà phản bác:
- Trạng Nguyên chỉ giỏi làm mấy bài văn, biết mở bài, thân bài, chuyển ý và kết luận, sao gọi là có học vấn được? Xem ra, ông chẳng hiểu học vấn là gì cả!
- Uông Tinh Vệ chỉ có học vấn bán nước, táng tận lương tâm!
Vi Duy Thanh đùng đùng nổi giận và trả đũa. Trần Bích Quân cũng chẳng vừa, bực tức nói:
- Quan tòa chẳng biết vịt thuốc ảnh hưởng kiểm sát viên và đám người nghe. Thực chẳng ra gì cả! Vì Uông tiên sinh đã khuất nên kiểm sát viên mới dám ngang ngược phỉ báng. Uông tiên sinh có công với đất nước, dân tộc, chẳng có gì phải xấu hổ!
Tôn Hồng Lâm thấy Trần Bích Quân đã đến bước không còn biết liêm khiết, nhục nhã là gì; trật tự trong phòng mỗi lúc một loạn, nên mới tuyên bố ngắt lời bị cáo và đề nghị luật sư của bị cáo là Cao Dung nói lời biện hộ. Đại ý Cao Dung nói vì người Nhật hoành hành, buộc bị cáo phải đứng ra duy trì trật tự trị an. Ngoài ra bị cáo bị nhiều bệnh tật, xin tòa lượng thứ, khoan hồng một phần.
4 giờ 35 phút, tòa tuyên bố hết phần biện luận.
Ngày 22 tháng 4, Trần Bích Quân bị kết tội: "thông mưu với giặc, chống lại đất nước", bị xử tù chung thân, vĩnh viễn bị tước quyền công dân.
7. "PHÁP THUẬT" CỦA PHẬT HẢI
Chu Phật Hải người Nguyên Lăng, Hồ Nam, là sinh viên ở kinh đô Nhật. Từng chịu ảnh hưởng của bác sĩ Hà Thượng Triệu, nhà lý luận Mác xít nổi tiếng của Nhật. Từng là đại biểu của nhóm Mác xít đang du học ở Nhật, tham gia đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất thành lập đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1924, lúc Quốc Cộng hợp tác, Phật Hải được Đái Quý Đào, bộ trưởng bộ Tuyên truyền Quốc dân đảng mời đến Quảng Châu nhận chức chánh văn phòng bộ. Sau đó, kiêm là giáo sư đại học Quảng Đông. Lúc này, Phật Hải vừa là quan vừa là học giả, có danh có lợi có địa vị. Hơn hẳn chàng sinh viên nghèo, bất mãn với hiện thực, lưu học ở Nhật năm nào. Sau cả năm trời "nghiên cứu", Phật Hải rút ra kết luận, chủ nghĩa Cộng sản không thích hợp với tình hình Trung Quốc, rồi làm đơn gửi ban chấp hành khu ủy khu Quảng Đông đảng Cộng sản để xin ra đảng. Từ đó, cùng với Đái Quý Đào cầm đầu nhóm hữu khuynh, biến những điều đã học được về chủ nghĩa Mác làm vốn để "phê bình chủ nghĩa cộng sản", lớn tiếng hò hét: "Công kích đảng Cộng sản là trách nhiệm của ta, là nghĩa vụ của ta". Vì thế mới được Tưởng Giới Thạch coi trọng. Được cử làm bí thư kiêm chủ nhiệm bộ môn chính trị trường quân chính trung ương, phân hiệu Vũ Hán."Sự biến 12-4" do Tưởng phát động để phản bội cách mạng. Chu Phật Hải đã mật báo để Tưởng biết tình hình hoạt động của Cộng sản ở trong trường. Vì thế, càng được Tưởng tin tưởng, coi là một trong số những tâm phúc gan dạ nhất. Chu dương dương tự đắc, viết liền hai tập "Hệ thống lý luận Tam dân chủ nghĩa" và "Vấn đề cơ bản của Tam dân chủ nghĩa", một bước trở thành "nhà lý luận" của Quốc dân đảng. Được sự trợ giúp của phái Quốc dân đảng, hai cuốn sách được phát hành ra cả nước. Cuốn đầu được chỉ định là sách tu dưỡng của đảng viên Quốc dân đảng. Năm 1931, trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Quốc dân đảng, Chu Phật Hải trúng trung ương ủy viên của đảng với số phiếu cao nhất, gọi là "trạng nguyên trung ủy". Từ đó, Phật Hải tiếng tăm lừng lẫy, quan lộ thênh thang. Về sau còn là ủy viên ủy ban tỉnh Giang Tô, kiêm phụ trách giáo dục; chủ nhiệm văn phòng Nam Xương của Tưởng.
Sau cuộc kháng chiến, Chu Phật Hải là bộ trưởng bộ Tuyên truyền, phó chủ nhiệm ban thị tòng số 2 của Tưởng, nghị viên ban Tham chính Quốc dân.
Đối với cuộc kháng chiến toàn dân, Chu Phật Hải không hề bận tâm - Vì Chu cho rằng: "Yếu tố về người, yếu tố về vật chất, yếu tố về tổ chức, mặt nào Trung Quốc cũng thua Nhật Bản. Trung Quốc khai chiến với Nhật thì không bao giờ thành công được".
Chu Phật Hải hận đến bầm gan tím ruột về việc Quốc Cộng hợp tác chống Nhật. Hải nói bằng giọng hằn học:
- Bên trong, Cộng sản chỉ mong cho thiên hạ đại loạn, bên ngoài, Liên Xô tìm cách ngồi chơi hưởng lợi, thì chiến tranh còn mở rộng, còn kéo dài. Rốt cuộc, Trung Nhật chỉ là vật hy sinh cho chúng, sẽ gục ngã vì cả hai đều bại trận!
Theo Phật Hải thì Tưởng Giới Thạch là người "tuyệt đỉnh thông minh" ở trên đời này! Trong lúc mọi người đang hò hét chiến tranh toàn diện. Tưởng Giới Thạch không thể không hò hét theo và hò hét còn cao hơn, vang hơn những người khác. Chỉ có như vậy mới bịt được miệng phái phản đối, mới được dư luận ủng hộ. Dụng tâm của Tưởng là rất lắt léo. Có điều, ý đồ đó, biện pháp đó không những khó đạt được kết quả như dự định, mà còn trở thành một thứ ràng buộc, tự Tưởng Giới Thạch phải bước vào con đường mà mình không thích. Làm giả hóa thật. Chơi với lửa có ngày bị thiêu. Tiền đồ thực chẳng rạng rỡ gì!
Đồng thời Chu Phật Hải rêu rao một tâm lý thất bại:
- Lúc Nhật Bản cảm thấy khó chịu thì Trung Quốc đã cảm thấy đau rồi. Có lẽ Nhật Bản sẽ tiêu vong, nhưng người tiêu vong trước tiên phải là Trung Quốc!
Thế rồi, chỗ ở của Chu Phật Hải trên đường Tây Lưu Loan, Nam Kinh bỗng chốc trở thành một nơi thật náo nhiệt đi đi về về của lũ chính khách, bọn quan lại, những kẻ đồng thanh tương ứng, cùng ca một bài! Người ta gọi đó là "câu lạc bộ đồng điệu", các thành viên chủ yếu là: Đào Hi Thánh, Mai Tư Bình, Cao Tông Vũ, La Quân Cường và Hồ Thích.
Bởi vì cùng mùi dễ gần, nên về mặt tâm lý, Chu Phật Hải bắt đầu xa dần với Tưởng Giới Thạch, mà với Uông Tinh Vệ ngày càng tâm đầu ý hợp hơn. Chu đưa ngọn cờ của Uông đặt vào vị trí trung tâm của "đồng điệu". Còn họ Uông cũng xem Chu là tri kỷ. Trong mặt trận kháng chiến, hai người cùng khởi xướng điệu "hòa bình vận động".
Những người hiểu về Chu và Uông đều biết rằng chính họ là một đôi oan trái. Vì vào lúc Chu Phật Hải đã bước vào con đường bỏ Cộng, phản Cộng thì Uông Tinh Vệ còn đang ra sức kêu gọi "Liên Nga liên Cộng". Và trong lúc Uông Tinh Vệ ngày càng ra mặt "phản Tưởng" thì Chu Phật Hải lại ngày càng tiếp cận, lao vào vòng tay của Tưởng Giới Thạch. Bởi vậy, mùa xuân năm 1927, khi "Ninh Hán tan vỡ", giữa họ đã nảy ra những cuộc chê cười, và chửi rủa!
Đó là lúc cả nhà Chu Phật Hải từ Vũ Hán chạy sang phía Tưởng Giới Thạch. Chu viết bài: "Thoát khỏi Vũ Hán kinh đô đỏ", chửi rủa đảng Cộng sản, thành phố Vũ Hán và nịnh bợ, tâng bốc Tưởng Giới Thạch. Khi đó Uông Tình Vệ chủ tịch Vũ Hán, đại diện cho "phái tả" đã giận dữ mắng rằng:
Chu Phật Hải thật là hư đốn! Trước hắn là đảng viên Cộng sản, bây giờ lại công kích đảng. Đã ra khỏi đảng thì thôi, lại quay lại cắn càn. Chẳng ra thể thống gì cả! Không bao giờ nên cộng sự với loại người này!
Về sau, Uông phản Tưởng thất bại phải bỏ trốn. Chu Phật Hải cũng hết lời nhạo báng, "lấy lời người đó để trị người đó", có thay đổi mấy chữ, bình cũ rượu mới, để đối đáp lại:
- Uông Tinh Vệ thật là hư đốn! Trước hắn là đảng viên Quốc dân đảng, bây giờ lại muốn trở thành công cụ của đảng Cộng sản - Đã chạy ra nước ngoài thì thôi, còn trở giáo đánh bừa. Chẳng ra thể thống gì cả! Không bao giờ nên cộng sự với loại người này!
Quan trường như thương trường, không có kẻ thù truyền kiếp, cũng chẳng có bè bạn lâu bền. Những năm gần đây họ Tưởng đã lạnh nhạt với Chu Phật Hải, coi Trần Bố Lôi kẻ hậu bối vô danh của Chu là người tâm phúc "gan dạ". Chu nghĩ: "Bên cạnh Tưởng Giới Thạch nhân tài đông vô kể, mình nhiều lắm cũng chỉ là vai phụ "chạy sau cánh gà". Còn nếu thân Uông, ủng hộ Uông thì một là có thể nhất trí trong chủ trương chống Cộng, hàng Nhật, hai là có thể thông qua cuộc "vận động hòa bình" mà kế thừa và thay Uông, thực hiện dã tâm "lấy tư cách là một vai chính để biểu diễn trên vũ đài chính trị". Còn về Uông Tinh Vệ thì ngoài Chu Phật Hải có "kiến thức về Cộng sản", Uông còn muốn lợi dụng "hòa bình" mà "lật Tưởng", thực hiện mơ ước "thà là đầu gà, còn hơn làm đuôi bò!" Uông đang cần một người giúp việc năng nổ như Chu. Vì thế, cả hai người Uông và Chu lời đã nói sẽ bay đi, bỏ quả hiềm khích cũ.
Sau lúc tay bắt mặt mừng, Chu và Uông lại lao vào với biết bao nhiêu công việc bề bộn.
Họ chăm chú theo dõi tung tích Cao Tông Vũ "mật sứ" của Tưởng Giới Thạch.
Sau khi Đào Đức Mạn "điều đình" chiến tranh Trung - Nhật thất bại, chính phủ Nhật Bản phát biểu "không coi chính phủ Quốc dân là đối thủ" và muốn tiến hành "hòa đàm" với phía Uông. Tưởng Giới Thạch có ý phản đối việc Cao Tông Vũ đi Hương Cảng thăm dò tin tức "hòa bình". Trong khi đó, Chu Phật Hải lại khuyến khích Cao Tông Vũ ra đi và nói với Cao:
- Về phía Tưởng tiên sinh, mọi chuyện đệ chịu trách nhiệm.
Được Chu đảm bảo, Cao Tông Vũ không những đi Hương Cảng mà còn đến cả Đông Kinh, Nhật Bản. Biết được phía Nhật không muốn "hòa đàm" với Tưởng Giới Thạch. Điều kiện "hòa bình" Trung Nhật là: Tưởng Giới Thạch từ chức. Uông Tinh Vệ đứng ra "hòa đàm" với Nhật.
Cao theo lệnh Tưởng xúc tiến "công tác hòa bình", nhưng không hoàn thành được sứ mạng giúp Tưởng "hòa đàm" với phía Nhật. Cao hết sức đau khổ. Sau khi về nước, Cao đến an dưỡng tại viện an dưỡng Thượng Hải. Cao viết lại những tin tình báo thu được ở Nhật thành báo cáo, cử người đưa đến Chu Phật Hải nhờ chuyển trình lên họ Tưởng. Sau khi nhận được báo cáo, Chu Phật Hải để Uông Tinh Vệ xem qua rồi mới trình lên Tưởng Giới Thạch. Chu Phật Hải hiểu rõ, với điều kiện phía Nhật hi vọng, muốn thuyết phục Tưởng Giới Thạch từ chức là điều không tưởng. Vì vậy, Chu ra sức khuyên Uông Tinh Vệ ra mặt chủ trì cuộc "vận động hòa bình" và "sau khi nói chuyện với Uông tiên sinh, liền nẩy ra ý định rời khỏi Trùng Khánh".
Chu tâm "thoát khỏi đống lửa" đã định, nhưng Cao Tông Vũ vẫn chưa đưa ra những điều kiện cụ thể gọi là phía Nhật muốn "hòa đàm" với Uông. Chu Phật Hải vội tìm Uông bàn bạc. Họ cử Mai Tư Bình đi gặp Cao, qua Cao giới thiệu, Mai Tư Bình đi gặp Tùng Bản Trọng, giám đốc phân xã Hoa Nam của đồng minh thông tấn xã Nhật Bản, trước sau mật bàn đến năm lần mới đưa ra được những điều kiện để Uông Tinh Vệ đứng ra "hòa đàm" với Nhật.
Mai Tư Bình về đến Trùng Khánh liền hội báo nội dung những lần mật đàm với Uông và Chu. Hai người này lấy làm mừng rỡ, họ vội vã căn cứ vào lần hội đàm này để lại bàn riêng về biện pháp và điều kiện cụ thể đầu hàng Nhật Bản rồi quyết định: "Ủy quyền Cao Tông Vũ, Mai Tư Bình đi Thượng Hải đàm phán bí mật với đại diện Nhật Bản".
Mai Tư Bình và Cao Tông Vũ, với những điều kiện đầu hàng của Uông và Chu đến Thượng Hải trao đổi, mặc cả với đại diện phía Nhật. Ngày 20 tháng 11 năm 1938, hai bên đã ký kết bản "Hiệp nghị Nhật Hoa" và "hòa hợp hai bên", đề nghị Uông Tinh Vệ hưởng ứng lời chiêu hàng của phía Nhật Bản, nhanh chóng chạy về Hà Nội tìm cách thành lập chính phủ mới.
Rõ ràng Uông Tinh Vệ và Chu Phật Hải không chỉ là người kêu gọi hòa bình mà còn là những kẻ tích cực, chủ động, tham gia trực tiếp phong trào "Vận động hòa bình". Trong lúc giặc Nhật gọi hàng, chính chúng là những kẻ đã thông qua Mai Tư Bình, Cao Tông Vũ ký kết những văn bản bán mình, bán nước với giặc!
Ngày mùng 5 tháng 12, lấy cớ phải thị sát công việc của đảng, phải tuyên truyền diễn giảng, Chu Phật Hải đã bay đến Côn Minh. Hôm sau, nhờ chủ tịch Long Vân, Chu Phật Hải thuê gọn một toa tàu trên tuyến đường Điền ?. Theo kế hoạch, họ Uông và những người khác sẽ đến Côn Minh vào hôm mùng 8, sau đó chạy đến Hà Nội.
Ngày mùng 7 tháng 12, đột nhiên Tưởng từ tiền tuyến trở về Trùng Khánh, cản kế hoạch bội phản của họ Uông. Đồng thời Chu Phật Hải cũng nhận được điện của Trần Bố Lôi đòi lập tức phải trở về Trùng Khánh. Chu nhất thời như chim sợ cung, lao tâm khổ tứ một hồi mới có quyết định: Vạn nhất Uông Tinh Vệ có rủi ro gì thì trước ngày 21 tự mình sẽ đến Cảng, đơn độc làm một tên Hán gian vậy!
Nhưng thật là bất ngờ, vào ngày 18 tháng 12, Uông Tinh Vệ cùng lũ tay chân bay đến Côn Minh. Hôm sau, đáp máy bay đi Hà Nội.
Sau khi Uông Tinh Vệ tuyên bố đầu hàng giặc Nhật, khác với kế hoạch ban đầu, lũ quân phiệt Điền, Xuyên, Quế không hề lên tiếng hưởng ứng gì cả! Trong nội bộ tập đoàn Uông nảy ra hai loại ý kiến. Loại một chủ trương: "Nên tập hợp đồng chí, tuyên truyền vận động hòa bình". Ý kiến khác mà chủ yếu là ý của Chu Phật Hải, chủ trương: "Nên tổ chức chính phủ (trong khu vực quân Nhật chiếm đóng) để tuyên truyền vận động hòa bình". Chu Phật Hải kiên quyết yêu cầu nên Uông Tinh Vệ phải làm theo ý kiến của ông ta!
Dưới sự bảo hộ của quân hạm giặc Nhật, họ Uông lại từ Thượng Hải đến Đông Kinh. Sau hồi mặc cả, ngã giá với quân Nhật ở Đông Kinh, Uông Tinh Vệ về nước, bắt đầu hoạt động tổ chức "Quốc phủ".
Sau những nỗ lực "cần mẫn" của tập đoàn Uông, chính phủ Quốc dân ngụy ra đời vào ngày 30 tháng 3 năm 1940 và "trở về" Nam Kinh. Lũ Hán gian trở thành những tên tay sai giúp giặc Nhật thống trị và nô dịch nhân dân Trung Quốc. Chúng đã phạm những tội ác tày trời đối với những người dân trong vùng bị chiếm. Chu Phật Hải thành kẻ độc quyền trong chính phủ ngụy. Một tay nắm trọn về ngoại giao, nhân sự, quân cảnh và tài chính... là kẻ đứng đầu trong nhiều tội ác!
Sau khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, bằng con mắt nhạy cảm, họ Chu biết trước là quân Nhật sẽ thất bại. Để tạo cho mình một con đường rút, Chu Phật Hải làm trò ảo thuật. Trước hết, Chu "liên hệ với địch"; thông qua màng lưới bí mật, xây dựng mối quan hệ bí mật với Trùng Khánh, làm một số việc cần thiết cho Trùng Khánh.
Sau ngày kháng chiến thắng lợi, Đái Lạp "mời" Chu Phật Hải về Trùng Khánh. Dư luận trong và ngoài nước đòi hỏi "nghiêm trị lũ Hán gian", Tưởng Giới Thạch buộc phải cho Quân thống áp giải họ Chu về Nam Kinh.
Kể từ ngày 21 tháng 9 năm 1945, viện kiểm sát tối cao Nam Kinh liên tục tra cứu về họ Chu trong bốn ngày. Ngày 21 tháng 10, tòa án bắt đầu thẩm vấn Chu Phật Hải. Ngày mùng 2 tháng 11 lại thẩm vấn tiếp.
Bất luận là điều tra hay thẩm vấn, đối với tội bán nước hàng giặc, Chu Phật Hải đều chối bỏ, đổ trách nhiệm cho người khác hoặc che đậy bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Chu Phật Hải chối bỏ âm mưu hàng giặc của mình, nói:
Năm Dân quốc thứ 27, tội nhân là thứ bộ trưởng bộ Tuyên truyền. Bấy giờ Uông Tinh Vệ phó thủ lĩnh Quốc dân đảng, vì vậy, tội nhân có nhiều điều kiện tiếp xúc. Lúc bấy giờ tình hình kháng chiến ác liệt, mỗi lần gặp mặt, họ Uông đều chủ trương hòa được thì nên hòa. Tình hình quốc tế khi đó, ngoài việc viện trợ vì nghĩa vụ, ngoài sự đồng tình về mặt tình cảm đối với Trung Quốc, không có sự viện trợ nào có ý nghĩa thực tế. Đồng thời về thực lực của Trung Quốc thua xa Nhật Bản, nên tội nhân không tin tưởng vào cuộc kháng chiến của đất nước. Vì vậy, nghe chủ trương của Uông, tội nhân thấy rất có lý. Bấy giờ, Uông tìm cách phái Cao Tông Vũ đến Cảng và Hỗ thám thính tình hình quân Nhật. Cao có đến Đông Kinh một lần. - Về sau, chủ tịch biết tin, bực lắm! Liền cho cắt mọi kinh phí hoạt động tình báo của Cao ở Hương Cảng. Một mặtvì thấy chủ tịch xử lý họ Cao, mặt khác vì công việc quá bận, nên có đến mấy tháng, tôi nhân không bàn đến vấn đề hòa bình nữa! Mãi đến khoảng giữa tháng 10, trước ngày Hán Khẩu thất thủ ba hôm, tôi nhân gia bay đến Thành Đô. Ở đấy ba, bốn hôm rồi mới quay về Trùng Khánh. Thật bất ngờ, trước đó mấy hôm, Mai Tư Bình đã đến Trùng Khánh. Họ Mai cho biết đã cùng Cao Tông Vũ đến Thượng Hải ký kết một hiệp định. Mai đã hai, ba lần bàn với Uông và Uông Tinh Vệ đồng ý rời Trùng Khánh đi chủ hòa. Bấy giờ tội nhân hết sức kinh ngạc, vì Uông đã đến Trùng Khánh từ lâu. Tội nhân và Uông ở Hán Khẩu đã nhiều ngày không gặp nhau. Về sau, tội nhân đến gặp Uông, được Uông cho xem bản hiệp định. Đại ý là phía Nhật Bản tôn trọng chủ quyền và nền độc lập của Trung Quốc. Chỉ mong hai phía cùng bình đẳng hỗ trợ trong quan hệ hữu hảo nhằm phát triển kinh tế và chống Cộng. Nội dung bao gồm thừa nhận nước Mãn Châu ngụy và qui định trong vòng hai năm sẽ rút hết quân. Lúc bấy giờ, Quảng Châu, Hán Khẩu đang rơi vào hiểm họa. Tội nhân nghĩ, nếu kẻ địch cứ đánh liên tục không dừng thì nhất định chúng ta sẽ mất sạch. Đối với kế hoạch tác chiến của địch, tuy tội nhân có sai lầm, nhưng vì lúc đó lo lắng như vậy, nên cảm thấy với những điều kiện đó, cơ hồ có thể hòa được... Nghĩ đến kết quả, tội nhân cho rằng, hòa cũng có thể là một cách chăng? Nhưng tiếc rằng không thể có một người nào đi thăm dò xem sao! Thống soái tối cao thì tuyệt đối không chịu, nhưng không tiện nói ra! Bây giờ chỉ có Uông là ưng mạo hiểm, muốn thăm dò bên phía Nhật Bản! Nếu thất bại, chẳng qua chỉ hy sinh mất một vàingười. Vạn nhất mà thành công thì lợi ích đối với đất nước thật là to lớn! Đó là tình hình trong và ngoài nước, quan sát thấy lúc đó là như vậy, nên tội nhân đồng ý theo Uông đi Hà Nội... Sau khi đến Thượng Hải, Uông bảo đi Đông Kinh và muốn tội nhân và Cao Tông Vũ cùng đi. Sau khi đến Đông Kinh, họ Uông có phiên dịch đi theo, đến thăm thủ tướng và thủ trưởng các bộ: lục, hải, ngoại và tài chính. Những người khác không được cùng đi. Kết quả thương thảo giữa Uông và các nhân vật trên đi đến quyết định Uông đứng ra tổ chức chính phủ.
Đối với việc tích cực chuẩn bị tổ chức chính phủ ngụy tăng cường làm tay sai cho giặc, theo Chu Phật Hải, không có ảnh hưởng gì đến trận tuyến kháng chiến, cũng không hề tăng thêm sức mạnh cho địch. Phật Hải khéo léo biện giải như sau:
Vì sao có thể nói không ảnh hưởng gì đến trận tuyến kháng chiến? Vì chính phủ ngụy được thành lập ở những khu vực từ lâu đã bị địch khống chế. Nếu ở khu kháng chiến như Côn Minh, Quế Lâm mà thành lập chính phủ thì tất yếu dân chúng sẽ dao động, ảnh hưởng đến tỉnh thần chiến đấu! Hơn nữa, hai tổ chức ngụy ở hai miền nam, bắc lúc đó cũng có ảnh hưởng gì đến công cuộc kháng chiến đâu? Sức kêu gọi của Uông phần nào có mạnh hơn hai tổ chức ngụy kia một ít, nhưng rốt cuộc Uông cũng chỉ là một gã thư sinh với hai bàn tay trắng. Không phải là quân nhân với mấy chục vạn hùng binh trong cuộc chiến, nên dù có tổ chức chính phủ đi nữa thì cũng ảnh hưởng gì đến chiến trường đâu? Thực tế thì ngụy phủ, thành lập đã hơn năm năm nay, trừ một vài bộ phậnquân đội bị quân Cộng bức đến cùng, không thể không tham gia cuộc vận động hòa bình thì ngoài mặt trận không hề có gì ảnh hưởng!
Vì sao lại có thể nói chẳng tăng thêm sức mạnh nào cho địch? Về mặt tinh thần mà nói, quân địch rất muốn lật đổ chính phủ quốc dân, thì ở hậu phương của chúng lại xuất hiện một chính phủ quốc dân khác! Làm cho mắt chúng hoa loạn, ý chí mơ hồ. Nghe nói vì thế mà rất nhiều tướng sĩ của chúng ở ngoài tiền tuyến lấy làm bực dọc. Chúng nói:
- Chẳng biết đánh nhau vì cái gì nữa!
Có thể có người cho rằng lấy tên là chính phủ quốc dân, vì nó gần gũi với nhân dân hơn. Vì tính toán như vậy nên ngụy phủ Nam Kinh vẫn lấy tên như cũ. Chính phủ Quốc dân xuất hiện ở Nam Kinh ảnh hưởng không nhỏ đến sĩ khí và tướng sĩ của địch. Cho tận đến ngày quân địch đầu hàng, có rất nhiều người Nhật cho rằng Nam Kinh thành lập chính phủ Quốc dân là nước Nhật bị lừa! Về mặt vật chất mà nói, chính phủ Nam Kinh không những không làm tăng thêm sức chiến đấu cho địch, mà ngược lại quân địch như còn bị bó chân buộc tay, không dám tự do hành động! Ngày nay viên chức chính quyền ngụy bị quản thúc, đó là điều mà pháp luật phải bàn. Bình tâm, tĩnh trí mà xét, ngoài một số người có mưu đồ làm tay sai cho địch, nói tất cả viên chức ngụy quyền đều là kẻ bán nước thì chưa công bằng! Đại tổng thống hiện naycủa Phi-lip-pin đã từng là bộ trưởng quan trọng trong ngụy phủ. Như vậy, những người làm việc trong ngụy phủ không nhất định ai ai cũng là kẻ bán nước. Nhân dân Phi-lip-pin đã phán quyết đúng mức. Ở Trung Quốc chúng ta gần như cũng không ngoài lệ đó. Về việc thu mua lương thực, xưa nay quân địch cứ tự ý mà làm, chính phủ Nam Kinh không được hỏi tới. Nay căn cứ vào điều ước Nhật Bản phải tôn trọng chủ quyền, độc lập của Trung Quốc, chúng ta thường tranh luận với đại sứ Nhật Bản. Buộc họ phải bàn bạc với chính phủ Trung Quốc, phải được chính phủ Trung Quốc đồng ý mới được làm một việc gì đó. Các nhân viên trong ngụy phủ đều hết lòng vì công việc. Lúc thì họp bàn, khi thì đàm phán, làm cho vấn đề không thể một lúc mà giải quyết được! Kẻ địch muốn số lượng nhiều, chúng ta đấu tranh để giảm bớt. Kẻ địch muốn giảm giá, chúng ta lại nâng giá, hòng đảm bảo quyền lợi cho nhân dân. Kẻ địch bị trói chân, buộc tay lấy làm tức tối. Về sau, chúng lại thi hành như trước, không thèm bàn bạc gì nữa! Về phía mình, chúng ta lại phản đối đến sứ quán của chúng. Làm cho quân lính địch và sứ quán địch xung đột với nhau! Có lúc chúng ta lại chỉ trích biện pháp sai lầm của hải quân với lục quân, có khi lại phê bình lục quân trước mặt hải quân, làm cho Lục và hải quân của chúng có nhiều va vấp. Đó là những sự thực mười mươi, không ai có thể bịa đặt ra được!
Trong chính phủ ngụy, Chu Phật Hải từng giữ các chức vụ: phó viện trưởng viện Hành chính, bộ trưởng Tài chính, giám đốc Ngân hàng trù bị trung ương, thị trưởng Thượng Hải, tư lệnh bảo an Thượng Hải. Đối với những hành vi tội ác trong lúc tại chức không thấy Chu Phật Hải mở miệng nói tới. Ngược lại còn biện hộ thêm:
Bộ Tài chính đã khống chế được ba thứ thuế: thuế muối, thuế xuất và nhập khẩu hàng hóa. Thời chính phủ Duy Tân ngụy, hàng tháng còn phải kê khai dự toán lên Hưng Á viện lĩnh kinh phí. Thời đó thuế muối thu được rất ít, thuế xuất, nhập khẩu do Hưng Á viện khống chế. Ngoài việc cung cấp một số ít cho chính phủ Duy Tân ngụy, toàn bộ tiên thuế chuyển cho quân địch sử dụng. Ngày nay chính phủ chỉ dùng, tiền để quân địch hỗ trợ việc trị an, tội nhân không chỉ một đồng nào khác cho quân địch. Ngay cả tiền hỗ trợ trị an cũng ngày một cắt giảm. Như việc dùng muối trước đây, quân địch cần bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Tội nhân liền hạn chế về số lượng. Tội nhân giao thiệp với sứ quán Nhật, hai bên bàn bạc hạn chế số lượng dùng muối của quân đội Nhật. Thời chính phủ Duy Tân có thành lập công ty nghề muối Hoa Trung. Tuy gọi là Trung - Nhật hợp tác, nhưng thực quyền nằm trong tay người Nhật. Tội nhân đã dày công suy nghĩ cùng với đồng sự trưởng Lý Hoành Phi tiến hành nhiều biện pháp: cho người Nhật rút hết cổ phần, dần dà chuyển công ty thành một đơn vị của ngành thương nghiệp. Đấy tuy chỉ là việc nhỏ, nhưng rõ ràng tội nhân đã tận tâm tận lực, giành lạiquyền lợi cho nhân dân.
Lúc bấy giờ với tư cách là phó viện trưởng viện Hành chính, tội nhân kiêm nhiệm chức ủy viên trưởng hội quản lý quân địch. Hội được thành lập với dụng ý nắm được toàn bộ số "tài sản" của người Hoa, Anh, Mỹ do quân địch khống chế. Phần nào có quan hệ tới người Trung Quốc, để bên Trung Quốc quản lý, nhằm đảm bảo lợi ích cho người Trung Quốc. Sau nhiều lần giao thiệp chúng ta đã nhận lại được một phần. Ngoài ra, với danh nghĩa bên ngoài, chúng ta cũng trả về cho chủ cũ được một phần nữa. Trong, ngoài hợp tác, cổ phần của người Hoa thì trả về nguyên chủ, cổ phần của nước ngoài, chúng ta quản lý hộ. Cơ quan sự nghiệp được trả một phần nhỏ để sử dụng. Cơ quan giáo dục được nhận lại toàn bộ phần của mình.
Với tư cách là phó viện trưởng viện Hành chính, tội nhân kiêm nhiệm chức ủy viên trưởng hội thẩm nghị về vật tư. Trước đây, quân đội Nhật Bản cần loại vật tư gì thì mua ngay thứ đó. Ở phần trên tội nhân đã kể sơ qua, chính phủ không có quyền hỏi tới. Nhân dân lại càng không biết nói với ai! Chúng ta thành lập cơ quan này nhằm khống chế, xem xét về biện pháp, giá cả, số lượng, chủng loại, thời gian v.v... xung quanh việc thu mua bất kỳ một loại vật tư nào. Quân đội địch trước được tự do hành động, nay bị hạn chế thì không chịu. Qua nhiều phân tích, bàn bạc, thậm chí có cả phỉnh nịnh nữa mới đạt được mục đích. Tội nhân lợi dụng quyền xem xét này để cái gì cần thay thì thay, cái gì cần kéo dài thì cho kéo dài! Lúc đầu, tội nhân để Hội thẩm nghị tháng họp một lần, về sau haitháng rồi ba tháng mới họp một lần. Quân đội cần quân nhu như người cần cơm ăn nước uống. Nhưng Hội thẩm nghị chưa họp thì mọi việc cứ để đấy! Thường thì sứ quán Nhật phải đến yêu cầu triệu tập họp. Tội nhân cũng trả lời cho qua chuyện. Kéo dài cứ kéo dài. Và như vậy, gây ra không ít những trở ngại cho chúng. Vì thế, quân đội Nhật, nhất là bộ phận hậu cần, sinh ghét cay ghét đắng tội nhân cùng các quan chức quan trọng khác như Trần Quân Tuệ, Viên Dũ Trụ.
Về vấn đề phát hành các loại trái phiếu. Ở vùng Hoa Trung, Hoa Nam, kẻ thù phát hành phiếu quân dụng. Chúng không hạn chế, muốn phát hành bao nhiêu thì phát hành bấy nhiêu! Phía Trung Quốc không hề biết số lượng. Số phiếu quân dụng của Nhật không hề bị khống chế bởi lượng tiền mặt nên nó thao túng được vật giá, làm đảo lộn mọi sinh hoạt của nhân dân. Để chống lại hiện tượng đó, phải phát hành một loại phiếu khác. Lúc đầu, phía Nhật Bản, nhất là bên quân đội cực lực phản đối. Về sau tuy có đồng ý, nhưng lại muốn khoanh vùng sử dụng để hạn chế ảnh hưởng. Như thế đủ thấy quận địch phát hành phiếu quân dụng là hết sức có lợi. Sau này, nhờ có nhiều biện pháp khác nữa, phiếu quân dụng của Nhật mới ngừng phát hành. Từ đó về sau, mọi nhu cầu của Nhật, đều phải dựa vào trái phiếu bên ta phát hành. Ngân hàng hai bên có quan hệ với nhau trong việc chi trả. Qua những lần thu chi chúng ta nắm được nhu cầu của phía Nhật Bản. Tội nhân có điều kiện cắt giảm bớt, không cho phép tùy tiệnnhư thời phát hành phiếu quân dụng. Qua tình hình trên, vật giá được ổn định, đời sống nhân dân được bảo đảm hơn. Với tình hình lúc đó, làm cho đồng tiền không mất giá, kinh tế được phát triển, là những việc tương đối tốt. Việc phát hành trái phiếu của ta đã có một lượng tiền vàng lớn đảm bảo. Mười sáu tấn vàng, hai trăm vạn Mỹ kim, hơn ba mươi vạn lạng bạch ngân, bạch kim cũng nhiều. Tất cả đã được giao nộp trung ương.
Khi Trần Công Bác là Chủ tịch ngụy phủ, muốn tội nhân kiêm chức thị trưởng Thượng Hải. Tội nhân cho rằng Thượng Hải là trung tâm kinh tế của cả nước, là địa điểm liên hệ giữa quân Đồng minh đổ bộ với Quốc quân, trong ngày phản công. Vì vậy, tội nhân cũng muốn nhận chức thị trưởng Thượng Hải. Tội nhân liền cho Trình Khắc Tường điện thỉnh thị trung ương. Sau khi cục trưởng Đái trả lời: "trung ương đồng ý Tưởng Tín huynh (tên gọi của tội nhân khi đó) nhận chức thị trưởng Thượng Hải", tháng giêng năm thứ 34 mới nhận chức. Tội nhân tích cực huấn luyện, bố trí ban thuế vụ, đội bảo an cùng cảnh sát, nỗ lực làm nhiều điều có lợi cho dân.
Về việc tự thú trước chính phủ Trùng Khánh ra sao, Chu Phật Hải kể khá tường tận trong lời biện hộ của mình. Họ Chu liệt kê từng loại công trạng để tỏ lòng trung với tập đoàn Tưởng Giới Thạch. (1) Xây dựng điện đài, cung cấp tin tức tình báo quân sự. (2) Bố trí phối hợp phản công quân sự. (3) Che giấu, cứu trợ nhân viên hoạt động bí mật của Trùng Khánh. (4) Giết Lý Sĩ Quần, một tên gian. (5) Giúp đỡ Trùng Khánh phát triển các mặt: công tác đảng trong khu bị chiếm, phong trào văn hóa và công tác quân sự bí mật. (6) Bảo vệ và chăm lo công tác trị an cả vùng Thượng Hải.
Cuối cùng Chu Phật Hải kết luận: "Tội nhân có công. Dù cho việc chủ hòa là có tội thì cũng nên xét cho lấy công chuộc tội".
Lúc bấy giờ có kiểm sát viên Trần Cường Tổ và thẩm phán Trầm Lý Đình, đều là những người ở tòa án tối cao phụ trách thẩm lý bản án của Chu. Họ vừa từ Trùng Khánh tới. Trần và Kim nổi tiếng là những người công bằng và sắc sảo. Hai ông phản bác đầy đủ từng điều trong lời biện hộ của Chu Phật Hải. Những lời biện bác giảo hoạt của ông ta không đủ để tòa thay lời phán quyết.
Ngày mùng 7 tháng 11, tòa án Nam Kinh tuyên phạt Chu Phật Hải tội tử hình, vĩnh viễn bị tước quyền công dân. Tài sản, trừ một phần để gia đình sử dụng, còn bị tịch thu.
Chu Phật Hải tuy bị xử tử hình, nhưng vẫn còn quyền kháng cáo lên trên. Vợ y là Dương Thục Tuệ ra sức chạy tội cho chồng.
Trước hết họ Dương cho mời mấy vị luật sư thật danh tiếng như Chương Sĩ Chiêu, Vương Thiện Tường, Dương Gia Lân. Mấy vị luật sư này trình độ rất cao, ảnh hưởng cũng rất lớn.
Sau đó, Dương Thục Tuệ cho tìm những chứng cứ có thể giảm tội cho chồng. Về người thì có: Cố Chúc Đồng, Trần Quả Phu, Trần Lập Phu, Tưởng Bá Thành, Đỗ Nguyệt Sanh, Ngô Thiệu Chú, Ngô Khai Tiên, Mã Nguyên Phóng. Có một số chứng cứ bên Quân thống. "Hai vị họ Trần" chứng thực cho Chu:
Một năm trước khi thắng lợi, họ Chu đã làm đúng kế hoạch dự định cho chiến khu 3. Đã bố trí về quân sự ở vùng Kinh, Hỗ rất cơ mật. Sau ngày thắng lợi lại giữ được hai tỉnh Giang, Triết không để rơi vào tay quân Cộng. Quốc phủ về kinh thuận lợi. Binh lính chuyển đến các vùng Hoa Bắc an toàn. Công thật không nhỏ.
Mong được tòa xem xét để thụ hình hoặc giảm hình!
Trong nhiều chứng cứ thu thập được, các luật sư coi trọng nhất là "đường dây cứu nước" do sáu vị tướng lấy cớ, hàng giặc. Đó là chứng cứ từ các vị: Bàng Bỉnh Huân, Tôn Điện Anh, Tôn Lương Thành, Trương Lam Phong, Ngô Hóa Văn và Hác Bằng Cử. Dương Thục Tuệ chỉ ra một số tiền lớn nhờ tên đặc vụ Quân thống tìm cho được sáu vị tướng đó. Trong bản khai báo ký tên chung của họ, kể rõ trong thời gian kháng chiến Chu đã giúp họ rất nhiều về các mặt: quân lương, quân giới, nơi ở, tình báo, giao thông liên lạc và nhất là điều kiện để giao thiệp với giặc Nhật. Hi vọng các mặt trên sẽ được xem xét khi cân nhắc tội trạng của Chu.
Theo qui định thời đó, Dương Thục Tuệ làm đơn kháng cáo gửi đến bộ Tư pháp.
Không ngờ, chiều hôm trừ tịch năm 1946, bản kháng cáo bị trả lại. Theo luật pháp chính phủ Quốc dân thời đó, sau 24 giờ kể từ khi bản kháng cáo được trả lại, bị cáo có thể bị đem đi xử quyết bất kể lúc nào!
Dương Thục Tuệ nhận lại bản kháng cáo, lòng đầy kinh hãi. Họ Dương liền đến tìm Trần Phương trưởng ban cơ yếu của Tưởng Giới Thạch.
Dương Thục Tuệ nói thẳng luôn:
- Nếu Chu Phật Hải có mệnh hệ nào thực, thì đừng trách Dương Thục Tuệ là kẻ không biết điều!
Trần Phương nghe xong biết có ẩn ý gì đây liền hỏi:
- Thế phu nhân có cách gì nào?
Dương Thục Tuệ cười nhạt hai tiếng rồi nói tiếp:
- Một lần Tưởng Giới Thạch viết thư cho Chu Phật Hải, nói:
- Nghe quân có ý trở về. Thực chưa vui vẻ gì đâu! Mong quân tạm thời lưu lại bên địch, lấy công chuộc tội. Tiền đồ chính trị của quân sẽ được đảm bảo. Không phải suy nghĩ gì nữa! - Dương Thục Tuệ nói tiếp Cuối thư không ký tên, nhưng có bốn chữ: "Nổi tiếng bất tài". Đó chính là thư của Tưởng tiên sinh, vì Chu Phật Hải am tường bút tích của Tưởng tiên sinh. Bức thư đó được gửi ở ngân hàng bảo hiểm Hương Cảng. Nếu Phật Hải bị chết thật, bức thư đó sẽ được công bố ngay, đừng ai trách Dương Thục Tuệ này không biết điều. Để mọi người hiểu rằng Tưởng tiên sinh chỉ khéo nói, còn ai chết mặc ai. Đối với sự tín nhiệm, với con đường chính trị của một nhà chính trị, thì điều đó kể cũng hay đấy!
Trần Phương nghe xong, toát mồ hôi hột. Vội vã lấy lòng:
- Tưởng tiên sinh đã nói, muốn giết Chu Phật Hải mà chưa được ông gật đầu, thì không một ai được phép. Nếu tòa án muốn giết Chu Phật Hải thì phải có công văn trình lên đây. Bây giờ, đệ cho giữ Phật Hải lại. Ngày mai, đầu năm mới, khi đến chúc tết Tưởng tiên sinh, đệ sẽ nhắc lại vấn đề này. Đệ xin đem đầu mình ra đảm bảo, Chu Phật Hải sẽ không bị giết. Xin cứ an tâm, mời phu nhân về ăn tết vui vẻ!
Hôm mùng 4 tết (tức 25-1-1947), Dương Thục Tuệ đến chúc tết Trần Phương. Họ Trần cho hay:
- Đệ đã giữ công văn bên tòa lại, đồng thời đã trình chuyện này với Tưởng tiên sinh. Mong phu nhân an tâm hoàn toàn.
Ngày 26 tháng 3, quả nhiên với danh nghĩa là chủ tịch chính phủ Quốc dân, Tưởng Giới Thạch có lệnh giảm án Chu Phật Hải từ tử hình xuống tù chung thân. Lệnh như sau:
Xét Chu Phật Hải phạm "điều lệ trừng trị Hán gian" trong khoản 1, trang 1 điều 2, đã bị phán quyết tử hình, tước đoạt công quyền vĩnh viễn. Nay căn cứ vào điều can phạm trình báo: sau khi giặc Nhật đầu hàng, có công duy trì trật tự trị an hai vùng Kinh, Hỗ. Xin được đặc xá. Xét can phạm sau những năm Dân quốc thứ 30, đã biết ra đầu thú, tuy chưa chính thức được phép. Ngày 19 tháng 8 năm thứ 34, cục thống kê hội đồng quân sự chuyển trình tiếp ýđồ lấy công chuộc tội. Can phạm được cục thống kê báo trước: nếu biết hưởng ứng khi quân Đồng minh đổ bộ lên miền duyên hải Tô, Triết, hoặc giả trước và sau khi giặc Nhật đầu hàng, biết duy trì trật tự vùng Ninh, Hỗ, khiến dân chúng bớt cảnh lầm than, coi như đã lấy công chuộc tội. Nay xét hiệu quả công việc đó, có thể xét can phạm được miễn tội chết. Nay giao viện Tư pháp, theo pháp luật mà xem xét, can phạm trước và sau khi quân Nhật đầu hàng, đã giữ gìn được trật tự ở vùng Ninh, Hỗ, khiến nhân dân không lâm vào cảnh lầm than, đối với trật tự xã hội, có những cống hiến nhất định. Nên chăng giữ nguyên mức hình phạt hoặc phạt tù chung thân! Theo qui định của ước pháp, điều 68, đồng ý để can phạm Chu Phật Hải với mức án từ tử hình, giảm thành tù chung thân.
Nay lệnh
Chủ tịch: Tưởng Trung Chính.
Tờ lệnh hơi đặc biệt, lời lẽ không được rõ ràng. Nghe nói, câu chữ dùng trong lệnh đặc xá chỉ hiểu được sau khi thảo luận nhiều lần, thậm chí phải đem bản thảo có nét chữ sửa chữa của Tưởng Giới Thạch ra so. Tham dự các buổi thảo luận có Tư pháp, Hành chính bộ trong chính phủ Quốc dân, viện Tư pháp cùng các bộ môn liên quan.
Ở trong tù, sau khi được tin, Chu Phật Hải sung sướng đến phát điên, phát dại.
Ngồi tù, nhớ lại thuở bình sinh,
Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh.
Nay mai ta chết tro hài cốt,
Trải khắp núi rừng, suối và kênh.
Thân ta những tưởng chết mười mươi,
Phận hẩm, duyên may, số ở trời.
Mãi mãi ghi ơn người cứu mạng,
Thênh thang, ta lại sống trên đời.
Sau khi có lệnh giảm tội, Chu Phật Hải hiểu ngay cách dùng từ có dụng ý của họ Tưởng, liền ghi mấy dòng nhật ký: "Được tin có lệnh giảm tội, Ủy tọa từng cầm bút sửa chữa hai lần, chắc là đoạn đầu có lời chê trách, đoạn sau mới tha thứ... Nay xem lệnh không thấy lời trách móc nào. Những câu những chữ Ủy tọa gạch xóa đều là những chỗ cảm thông và lượng thứ. Xem thế mới biết Ủy tọa khổ tâm, chu toàn biết chừng nào. Đọc mà cảm kích đến rơi lệ!
Tưởng Giới Thạch vì muốn bảo vệ mình, làm cho một tên Hán gian cỡ bự, đáng chết ngàn lần, được tiếp tục sống.
8. LẤY ĐẦU NGƯỜI KHÁC THAY CHO ĐẦU CỦAMÌNH ĐỂ ĐƯỢC SỐNG!
Đinh Mặc Thôn là người Thường Đức, Hồ Nam, sinh năm 1903. Thời trẻ đã gia nhập đảng Cộng sản. Về sau, phản đảng chạy sang với Quốc dân đảng. Đầu những năm 30, Đinh trực tiếp lãnh đạo một tổ tình báo ở Thượng Hải, hoạt động đặc vụ trong giới văn hóa. Năm 1934, đảm nhận chức trưởng phòng phòng 3 "Cục thống kê điều tra" trong ban Quân ủy Quốc dân đảng. Địa vị của Đinh xấp xỉ địa vị của Đái Lạp, Từ Ân.
Đái Lạp tìm cách đả kích để đá Đinh đi nơi khác.
Năm 1938, Trương Quốc Đào từ Diên An chạy đến Hán Khẩu, thoát khỏi đảng Cộng sản. Trần Lập Phu lệnh cho Đinh Mặc Thôn "chiêu đãi" Trương Quốc Đào. Đái Lạp chạy đến tố cáo với Tưởng Giới Thạch, họ Đinh tham ô chiêu đãi phí. Đinh bị truy xét. Tháng 8, Đinh bị xóa tên ở phòng 3 "Cục thống kê điều tra". Chỉ còn tên với chức danh thiếu tướng tham nghị trong danh sách "ban Quân ủy" mà thôi! Tuy rất bất mãn, nhưng biết làm gì! Đinh Mặc Thôn rầu rĩ về Côn Minh "dưỡng bệnh".
Lúc bấy giờ, Lý Sĩ Quần nguyên là Tưởng hệ Trung thống đặc vụ đã chạy sang với Nhật ở Thượng Hải, cùng một đội ngũ đặc vụ Hán gian. Người này trước là bộ hạ của Đinh Mặc Thôn, từng được Đỉnh cứu giúp. Nay thấy Đinh sa cơ lỡ vận, liền cử người Hồ Nam đồng hương của Đinh là Tiễn Kiến Ngọ đi Côn Minh mời Đinh nhập bọn. Lý Sĩ Quần còn tự nguyện mời Đinh ngồi ghế trên mình. Đinh đồng ý theo đến Thượng Hải.
Sau khi đến Thượng Hải, để không ai biết là mình bị bài xích, họ Đinh từng trịnh trọng tuyên bố với mọi người:
- Hạ quan đến đây theo lệnh của Đái Lạp, vì hậu phương lớn của ta, mọi người thấy đấy, cuộc kháng chiến xem ra yếu ớt lắm! Đảng Cộng sản chống đối đến cùng. Họ muốn lật đổ Quốc dân đảng. Không khéo Trung Quốc loạn to mất! Vì tiền đồ của đất nước, Đái Lạp muốn hạ quan đến Thượng Hải "mở đường". Một khi thời cơ chín muồi, Đái Lạp cũng sẽ tới. Từ nay đến đó, phải giữ kín chuyện này!
Nhưng khi gặp họ Đinh, Lý Sĩ Quần nói toạc ra:
- Nghe nói Quốc dân đảng không cần huynh nữa. Trong thời buổi loạn lạc, loại "tăng" như chúng ta, đâu mà chẳng có chỗ dùng? Chỉ cần có ăn. Vinh dự và trách nhiệm mà làm gì? Đệ đã nói thẳng với lũ Nhật quyết tâm làm Hán gian rồi đấy!
Tới đây, Lý Sĩ Quần lấy ra một khẩu súng lục và một xếp ngân phiếu, ném hẳn lên bàn, rồi nói:
- Thế nào? Nếu huynh đồng ý thì nhận lấy tiền mà xài rồi hai đứa cùng làm việc. Huynh vẫn là cấp trên của đệ. Mọi việc xin nghe huynh. Không làm ư? Cũng chẳng sao. Lý Sĩ Quần bây giờ là Hán gian rồi. Làm mất sĩ diện của huynh! Thì súng lục đây, xin huynh cứ giết đệ đi!
Cái lôgic "ai cho bú thì gọi người đó là mẹ" của Lý Sĩ Quần, nhanh chóng ảnh hưởng tới Đinh Mặc Thôn. Họ Đinh nhận ngay chức "đại ca".
Sau khi Đinh nhập bọn với Lý, hàng ngũ đặc công bắt đầu mở rộng. Hai người nguyên là đặc vụ của Tưởng nên quen biết rất nhiều với lũ cùng giới. Đặc vụ của Tưởng ở Thượng Hải lúc bấy giờ có: Vạn Lý Lãng, Phó Thắng Lam, Trần Minh Sở, Trương Thụy Kinh v.v... đứa chạy đến, đứa phải hàng. Đội ngũ của Đinh, Lý trở nên đông đảo. Để được người Nhật trọng dụng và giúp đỡ hơn nữa, Đinh, Lý hợp tác soạn thảo cuốn "Kế hoạch đặc công ở Thượng Hải", và trình lên tên trùm đặc vụ của Nhật - Tên này lập tức báo cáo về đại bản doanh quân Nhật.
Mấy hôm sau, tổng trưởng tham mưu đại bản doanh Nhật, huấn lệnh cho tên trùm đặc vụ: "Chi viện cho công tác đặc vụ của phái Đinh Mặc Thôn".
Kể từ đầu tháng 3 năm 1939, hàng tháng quân Nhật chu cấp cho tổ chức đặc vụ của Đinh, Lý 30 vạn đồng sinh hoạt phí, 500 khẩu súng và 50.000 cân đạn. Có tiền và súng, Đinh và Lý càng tích cực hoạt động. Ngoài việc lôi kéo lũ đặc vụ của Tưởng, còn thu nạp thêm hàng loạt lưu manh ở Thượng Hải, như Ngô Tứ Bảo, Trương Quốc Chấn, Cố Bảo Lâm v.v...
Đinh Mặc Thôn thừa hiểu, đội ngũ đặc công trong tay hai đứa, về số lượng, chỉ như một đội biệt động của Nhật. Nhằm kiếm ít tiền thì dễ, muốn có một tác dụng chính trị nào đó thì khó! Một tên Hán gian cỡ bự đã từng nhắc nhở họ Đinh:
- Cứ đem ba chữ Đinh Mặc Thôn ra kêu gọi mọi người thì chưa đủ. Chẳng có người nào biết ngươi là ai. Ngay trong Quốc dân đảng, ngoài lũ cốt cán CC, cũng rất ít người biết ngươi! Bởi vậy, đây không phải là vấn đề năng lực mà đây là vấn đề uy tín!
Lúc này Uông Tinh Vệ đã phát biểu "điện mừng" hưởng ứng lời chiêu hàng của Nhật. Đinh, Lý liền quyết định theo sang tập đoàn Uông Tinh Vệ.
Vừa khéo bên Uông cũng đang cần có một đội ngũ đặc công như vậy. Cuối cùng thì người Nhật đứng ra môi giới, hai bên đã nói chuyện được với nhau.
Đinh Mặc Thôn và Lý Sĩ Quần đưa ra những điều kiện để tổ chức đặc công tham gia vào tập đoàn họ Uông.
(1) Thừa nhận tổ chức đặc công Đinh, Lý là một đội cảnh sát ngầm của Quốc dân đảng phái Uông. Thành lập bộ tư lệnh đặc công. Từ tháng 10 trở đi bên Uông chu cấp chi phí hoạt động.
(2) Nếu thành lập chính phủ trung ương mới thì Đinh, Lý phải có chức vị ngang với cấp bộ trưởng, như bộ trưởng Nội chính, thị trưởng Thượng Hải, tỉnh trưởng Giang Tô chẳng hạn.
Uông Tinh Vệ trả lời:
- Việc tổ chức đặc công của quí ngài trở thành bộ tư lệnh đặc công là đáng quí. Vấn đề kinh phí có thể giải quyết được ngay. Nhưng các chức thị trưởng Thượng Hải, chủ tịch Giang Tô thì không thể dành cho quí bộ, vì Thượng Hải và Giang Tô là toàn bộ cơ sở của cuộc vận động hòa bình. Còn nếu để đặc công kiêm nhiệm chức bộ trưởng Nội chính thì rất khó khăn! Cảnh sát hành chính thì có thể để đặc công kiêm nhiệm. Vì vậy, có thể tách bộ phận cảnh sát hành chính ra khỏi nội chính và thành lập một bộ riêng. Thứ bộ trưởng do bên quí phương đảm nhiệm.
Đinh Mặc Thôn không hài lòng với câu trả lời như vậy. Đinh nằng nặc yêu cầu có được chức thị trưởng Thượng Hải. Lý Sĩ Quần khuyên nên thỏa hiệp.
Để lôi kéo bằng được lực lượng đặc công này, họ Uông cố tình chèo néo, hứa hẹn:
- Khoảng tháng 8 này, đại hội quốc dân toàn quốc khai mạc. Bấy giờ xin mời các vị vào trong ban tổ chức.
Thế là hai bên thỏa thuận được với nhau. Đinh Mặc Thôn chính thức trở thành môn hạ của tập đoàn Uông Tinh Vệ. Đinh, Lý và đội đặc công biến thành tổ chức đặc vụ Hán gian của Uông Tinh Vệ.
Đinh, Lý cùng đội đặc công bắt đầu gây ra nhiều vụ án đổ máu liên tiếp nhằm khống chế dư luận chống Nhật ở Thượng Hải, sát hại các chí sĩ yêu nước chống Nhật. Chúng chĩa mũi súng vào giới báo chí, phao tin đe dọa, phá hủy tòa báo, ám sát nhà báo. Tình hình ngày một đáng lo ngại.
Khi đó quân Nhật chưa tuyên chiến với Anh, Mỹ. Quân Nhật tuy chiếm đóng Thượng Hải nhưng không thể trực tiếp khống chế tô giới. Để có thể thay chân Anh, Mỹ, người Nhật để Đinh, Lý được quyền kiểm soát dọc đường tô giới. Vì vậy lực lượng tuần tra của nhà đương cục tô giới luôn luôn đụng độ với lực lượng đặc công của Đinh, Lý, làm cho không khí vùng này trở nên vô cùng căng thẳng. Nhật Bản có nhiều mâu thuẫn với Anh và Mỹ. Trong một chừng mực nhất định, Trung Quốc có thể lợi dụng tô giới để hoạt động chống Nhật. Bọn đặc vụ Hán gian gây ra nhiều vụ hành hung ở vùng tô giới. Để duy trì đặc quyền của mình, nhà đương cục tô giới buộc phải truy bắt hung thủ giao cho tòa án của chính phủ Tưởng đặt ngay trong tô giới. Vì thế Đinh, Lý lại cho người mua chuộc, lôi kéo các nhân viên của tòa án, ám sát các nhân vật chủ chốt của tòa, làm cho tòa án của Trung Quốc ngay trong tô giới cũng lâm vào tình trạng khốn đốn.
Tập đoàn Uông Tinh Vệ dựa vào giặc Nhật, chuẩn bị thành lập chính quyền trung ương ngụy. Đó là mối uy hiếp nghiêm trọng đối với chính phủ của Tưởng. Lũ đặc công của Tưởng mai phục ngay trong tô giới bắt đầu dùng thủ đoạn khủng bố nhằm đả kích tập đoàn họ Uông. Đối với đặc công phe Tưởng, Đinh, Lý cũng "lấy miếng trả miếng", hai bên triển khai chiến tranh đặc công vô cùng kịch liệt.
Chiến trường đấu tranh là Thượng Hải, vùng đất quân Nhật bao vây, nên rõ ràng đặc công Đinh, Lý chiếm ưu thế. Vì vậy, tổ chức đặc công của Tưởng bị thiệt hại rất lớn. Đồng thời trong cuộc đấu tranh đó, đặc công Đinh, Lý cũng sát hại vô số dân thường - Đầu năm 1941, chúng đã bắt bớ, sát hại rất nhiều các nhân vật trong ngân hàng của Tưởng ở Hỗ, gây nên một thảm án cực kỳ nghiêm trọng.
Đặc công của Đinh, Lý là một thể hỗn hợp giữa bọn đặc vụ chuyên nghiệp và các băng, nhóm lưu manh có hạng. Chúng ra sức phục vụ cho công cuộc "vận động hòa bình", "Quốc phủ về Kinh" của tập đoàn Uông. Ngoài ra, chúng còn vượt qua quĩ đạo ám sát chính trị. Bắt người đòi nợ, ám sát người giầu có, thậm chí cả đến thuốc phiện, đánh bạc, đầu độc, vì lợi lộc, chúng không từ một tội ác nào. Người dân Thượng Hải ngày đêm hốt hoảng, căm giận bọn chúng đến tận xương tủy.
Kháng chiến thắng lợi, Đinh Mặc Thôn và Chu Phật Hải được giải từ Trùng Khánh về giam giữ ở Nam Kinh.
Ngày 11 tháng 11 năm 1946, viện kiểm sát Nam Kinh khởi tố can phạm Đinh Mặc Thôn. Ngày mùng 8 tháng 2 năm 1947, tòa án xử tử hình Đinh Mặc Thôn dựa vào các tội: là chủ nhiệm tổng bộ đặc công của Uông, tàn sát các chí sĩ chống Nhật và rất nhiều những người dân lương thiện. Gây nhiều tội ác trong "cuộc chiến đặc công" với chính phủ Trùng Khánh.
Đinh Mặc Thôn là kẻ giết người không ghê tay, nhưng lại rất sợ chết. Đinh thừa biết tội ác chất chồng thì khó bề chạy tội. Với tư duy của một tên đặc vụ, hắn nghĩ ngay được một kế mà người khác không thể nghĩ ra, để tự cứu: lấy đầu người khác thay cho đầu của mình!
Khi bản kháng cáo được trả về, Đinh đã viết cho Tưởng Giới Thạch một bức thư như sau:
Vũ Nông tiên sinh đã nói chuyện với tội nhân hai lần ở Trùng Khánh. Trong thời gian tội nhân tham gia chính quyền họ Uông, đã giết số quân Cộng gấp hai mươi nhăm lần so với nhân viên Quân thống bị giết, nên tiên sinh cho rằng tội nhân công nhiều hơn tội. Tội nhân am hiểu qui luật hoạt động của quân Cộng. Nếu Ủy tọa cho tội nhân được sống, tội nhân sẽ có 500 cái đầu quân Cộng để chuộc tội. Nếu trong vòng hai năm, tội nhân không hoàn thành nhiệm vụ thì xin để Ủy tọa chém đầu!
Đó quả là sự biện hộ ly kì quái gở!
Xem thư xong, Tưởng Giới Thạch trầm mặc một hồi rồi gọi Trần Bố Lôi đến, nói:
- Thư của Đinh Mặc Thôn đệ xem chưa, nên để hắn sống không?
Trần Bố Lôi suy nghĩ một lát rồi nói:
- Xin để Ủy tọa định đoạt!
Họ Tưởng nói:
- Đệ không tán thành chứ gì?
Trần Bố Lôi mới nói hết ý:
- Kẻ này lòng dạ nham hiểm, phản phúc vô thường!
Tưởng Giới Thạch gật đầu, nhưng lại nói:
- Tạm hoãn việc này lại. Báo với bên tòa án tối cao, chưa vội thi hành bản án!
Nhưng trong nội bộ Quốc dân đảng lại có người ghét cay ghét đắng Đinh Mặc Thôn, chỉ muốn tiền trảm hậu tấu. Cầm đầu số đó là Trung thống cục trưởng Trần Quả Phu.
Đinh Mặc Thôn phản bội Trung thống chạy sang Quân thống, lại phản bội Quân thống chạy về với Uông Tinh Vệ, làm Trần Quả Phu phẫn nộ vô cùng. Họ Trần thấy tòa tối cao phán quyết Đinh Mặc Thôn tử hình rồi mãi chẳng thấy thi hành án. Lại phong thanh nghe tin Tưởng Giới Thạch có ý kiến, liền không kìm được lửa giận, chạy thẳng đến gặp Tưởng Giới Thạch và hỏi:
- Nghe nói Ủy tọa định miễn tội chết cho Đinh Mặc Thôn. Chẳng hay là giả hay thực?
Tưởng Giới Thạch lấy giọng, rồi nửa như không thừa nhận nửa như không phủ nhận, chỉ nói:
- Đinh Mặc Thôn có thể đối phó với Cộng sản. Có thể lấy công chuộc tội. Nếu hắn làm tốt thì có thể tha thứ!
Trần Quả Phu ngập ngừng một lát rồi nói:
- Đinh Mặc Thôn tuy có thể đối phó với đảng Cộng sản, có điều đừng trách đệ nói thẳng, nếu chỉ vì chống Cộng mà để sống một tên Hán gian xấu xa, ác độc thì e thiên hạ sẽ chê cười, thật là bất lợi lớn cho đảng chúng ta. Hơn nữa, Đinh Mặc Thôn là kẻ phản phúc vô thường, hoàn toàn không đáng tin. Để lại nguy hiểm lắm!
Tưởng Giới Thạch phẩy tay rồi nói:
- Hắn đang nằm trong tay chúng ta. Liệu có thoát đằng trời! Còn về dư luận... làm sao cho hết được!
Trần Quả Phu thấy Tưởng Giới Thạch vẫn cứ muốn giữ Đinh, lấy làm lo lắng, lại nói tiếp:
- Ủy tọa, không có Đinh Mặc Thôn, việc đối phó với đảng Cộng sản chúng ta vẫn làm được. Đừng bao giờ vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn!
Tưởng Giới Thạch yên lặng, mãi sau mới nói:
- Tổ Đảo huynh (tên của Trần Quả Phu), huynh cứ về đi và khỏi phải bận tâm về chuyện này!
Ngày mùng 5 tháng 7, Đinh Mặc Thôn bị xử quyết ở Nam Kinh.
Cái "ly kỳ quái gở" của Đinh Mặc Thôn giúp hắn sống thêm được 5 tháng nữa!