Trong chốn quan trường không còn cái gọi là nguyên tắc và chân lý. Để đạt được mục đích, bọn chính khách thường không từ một thủ đoạn nào và đêm ngày lao tâm khổ tứ tìm cách biện hộ cho những thủ đoạn đó. Bọn họ thường ngụy trang thành những người "đạo đức nhân nghĩa". Nhưng một khi quyền bính đã lọt vào tay, họ liền tìm cách loại trừ đối thủ. Họ giương dao đồ tể, ra sức sát hại những đối thủ trên chính trường.
Năm 496 trước Công nguyên, Khổng Tử chuyên dạy chữ dạy người, bỗng được vua nước Lỗ là Cơ Tống thích thú, phong cho chức tể tướng. Khổng Tử suốt đời bôn ba, cốt để khẳng định mình trước những người quyền thế. Và đây là cơ hội tiến thân, nên Khổng Tử quyết không thể lơ là. Sau khi lên làm quan lớn, Khổng Tử nhanh chóng phát hiện thấy một mối uy hiếp đối với "chức quan" của mình, đó là Thiếu Chính Mão, một học giả siêu quần, danh trùm thiên hạ của nước Lỗ.
Khổng Tử hiểu rằng Thiếu Chính Mão là viên đá ngáng chân trong chốn quan trường nên đã có ý loại bỏ. Để củng cố địa vị của mình, Khổng Tử cho người dò la tìm kiếm cơ hội giết chết Thiếu Chính Mão. Trước hết Khổng Tử thường nói dèm trước mặt nhà vua nước Lỗ:
- Thiếu Chính Mão là kẻ vô cùng ác độc, không trừ đi thì lòng người phẫn nộ.
Khổng Tử cho đặt điều loan tin ra bên ngoài, nói Thiếu Chính Mão đang muốn chiếm đoạt ngôi vua.
Sau tất cả những điều bỉ ổi đó, Khổng Tử mới đưa Thiếu Chính Mão lên đoạn đầu đài.
Ở nước Lỗ, năng lực của Thiếu Chính Mão không hề thua kém Khổng Tử. Tiếng tăm của ông ta trong dân gian còn cao hơn cả Khổng Tử. Khổng Tử giết Thiếu Chính Mão là một vi phạm lớn lao trong thiên hạ. Ngay như Nhan Hồi, một học trò được Khổng Tử quí mến cũng cho việc làm của thày có phần quá đáng. Nhưng nếu Khổng Tử không loại bỏ được đối thủ cạnh tranh thì địa vị kia cũng khó lòng bền vững được! Vì vậy, Khổng Tử cho tai mắt đi khắp nơi thu nhập chứng cứ tội ác của Thiếu Chính Mão - Tuy rằng có nhiều chứng cớ là do thêm bớt, nhưng bằng vào ba tấc lưỡi uốn éo của mình, Khổng Tử vẫn kiên quyết đưa Thiếu Chính Mão vào chỗ chết!
Khổng Tử là người đại diện cho tiếng nói "nhân nghĩa đạo đức", nhưng lại dám giết người vô cớ, hiển nhiên là Khổng Tử sẽ phải biện hộ cho những hành vi của mình. Khi Thiếu Chính Mão lên tiếng hỏi: "Ta mắc vào những tội gì?", Khổng Tử trả lời rành rõ từng câu từng chữ:
- Nhà ngươi phạm vào năm tội lớn, cần phải xử tội chết.
Thiếu Chính Mão lại hỏi:
- Năm tội lớn gì thế?
Một là lòng dạ bất chính, dụng ý xấu xa, hùa cùng lũ đen nói lời của chúng.
Thiếu Chính Mão phản bác lại ngay:
- Ừ thì hùa cùng lũ dân đen nói lời của chúng, sao gọi là lòng dạ bất chính được?
Khổng Tử không nói lại nổi, đành tuyên bố:
- Như vậy là lừa dối mọi người, ăn nói lung tung, mê hoặc dân chúng, làm cho mọi người tin ngươi là thực!
Thiếu Chính Mão nói:
- Ta nói lên tấm lòng của dân, nguyện vọng của dân, sao bảo là ăn nói lung tung?
Khổng Tử không đối đáp trực diện được, đành phải vội vã tuyên bố:
- Tội thứ ba của ngươi là: trí nhớ quá tốt, học thức uyên bác, nhưng phương hướng chính trị có nhiều sai lầm.
Người thường làm những việc xấu xa thô thiển của bọn dân đen.
Thiếu Chính Mão đập lại luôn:
- Học thức uyên bác mà là tội thì ngài mới là người có nhiều tội hơn. Ta làm việc cho dân đen nên mắc tội, thì chính ngài từng bôn ba khắp nơi vì mình, mới là người mắc tội nhiều hơn!
Khổng Tử không để cho Thiếu Chính Mão nói hết, lại vội vã tuyên bố luôn:
- Ngươi hành động rõ ràng là ác độc và cố chấp, lại không chịu nghe lời người khác khuyên can. Đây là tội thứ tư. Ngươi biết sai mà không sửa, khéo bề che giấu, biến mình thành chính nhân quân tử. Đó là tội thứ năm...
Khổng Tử nói những lời ngụy biện. Năm tội trạng kia đều là những điều dựng đứng. Nhưng Thiếu Chính Mão thân cô thế cô, có trăm miệng cũng chẳng nói kịp, nên đành chịu chết.
Việc Khổng Tử giết chết Thiếu Chính Mão có phần lộ liễu. Khổng Tử được coi là tinh hoa học vấn trong chốn quan trường, nhưng việc làm thì lại hấp tấp. Chưa nói chuyện Thiếu Chính Mão là người được nhân dân nước Lỗ tín nhiệm, ngay như "năm tội trạng" của ông ta cũng đều từ không mà biến thành có. Tất nhiên, điều khéo léo là ở chữ "không" vì từ chữ "không" mà khỏi phải đưa ra "nhân chứng vật chứng", "thời gian và địa điểm". Dụng tâm của Khổng Tử quả là ác độc!
Sau khi Khổng Tử giết Thiếu Chính Mão, tất nhiên là "không thấy ân hận gì cả", nhưng quần chúng nước Lỗ đã phẫn nộ vô cùng. Vì vậy, vai trò tể tướng của Khổng Tử trôi qua khá nặng nề. Lòng phẫn nộ của dân vẫn sôi sục. Khổng Tử coi như đã thao thao hùng biện nhưng không sao bịt được miệng dân chúng. Thậm chí còn có người tấu trình với quân vương nước Lỗ một số việc, làm cho Khổng Tử hết được sủng ái như trước. Thời gian sau, vị "đại thánh nhân" của chúng ta đành phải thu dọn hành trang, cùng học trò của mình lén chạy sang nước Vệ.
2. "THÁNH NHÂN" GIẢ THANH CAO
Khổng Tử không chỉ là người nổi tiếng trong giới quan trường mà còn là nhà hùng biện.Thầy nào trò ấy, Hựu Tử, Tăng Tử đều là những học trò đầy nhiệt huyết chính trị và có tài.
Thời trẻ, Khổng Tử thường cùng học trò bôn ba khắp chốn, mưu cầu quan tước bằng "ba tấc lưỡi của mình". Vì thế, học trò của ông cũng có nhiều tài năng như vậy. Nhất là Hựu Tử, nhiều người cho rằng, ngôn từ và hành động của Hựu Tử có phần giống Khổng Tử. Hựu Tử là học trò thấu hiểu hết ẩn ý trong từng lời nói của thầy.
Trong số học trò của Khổng Tử, Nhan Hồi là đệ tử được thầy ưng ý nhất, Tăng Tử học được" đạo làm quan" của thầy; Hựu Tử thấm nhuần từng ý tứ của thầy. Vì vậy, phàm những ai chưa hiểu được lời nói của thầy, đều nhờ Hựu Tử giải đáp cho.
Hựu Tử hỏi Tăng Tử:
- Huynh hỏi thầy, một người bị cách quan thì phải làm gì đúng không?
Tăng Tử nói:
- Chỉ nghe thầy bảo: mất quan tước là đói khổ ngay, sau khi chết cũng nhanh chóng bị nát rữa.
Hựu Tử nói:
- Người quân tử không hề nói như vậy.
Tăng Tử nói:
- Đệ nghe rõ thầy giảng như vậy!
Hựu Tử vẫn một mực:
- Người quân tử không hề nói như vậy.
- Đệ và Tử Du đều nghe rõ!
- Nếu đúng như vậy thì chắc là thầy đã dạy chúng ta một điều khác.
Tăng Tử đem mọi chuyện nói lại với Tử Du. Tử Du nói:
- Giống nhau quá! Lời Hựu Tử in hệt lời thầy. Hồi ở nước Tống, khi thấy Hoàn tư mã làm cho mình một chiếc quan tài bằng đá, ba năm vẫn chưa xong, thầy nói: "ngài xa xỉ và lãng phí như thế này, khi chết chắc cũng nhanh chóng nát rữa thôi". Chết cũng nhanh chóng bị nát rữa là lời thầy nói cho Hoàn tư mã, Kính Thúc ở Nam Cung mất quan chức về nhà liền cho người đem châu báu bảo vật vào triều hối lộ để được phục chức.
Thầy nói: "cứ hối lộ theo kiểu này thì mất quan là đói khổ ngay thôi". Mất quan tước là đói khổ ngay, đó là lời nói cho Kính Thúc.
Tăng Tử nói lại lời lẽ của Tử Du với Hựu Tử.
Hựu Tử nói:
- Đúng đấy! Đệ vẫn bảo thầy không bao giờ nói như vậy!
Tăng Tử hỏi:
- Vì sao mà huynh biết?
Hựu Tử nói:
- Thời còn làm tể tướng, thầy đã đặt mẫu cho quan và quách. Quan bốn tấc, quách năm tấc, từ đó, đệ hiểu thầy không hề chủ trương chết thì nhanh chóng phải tan rữa. Trước đây khi mất chức quan tư khấu ở nước Lỗ, thầy bỏ sang nước Sở. Nhưng trước đó thầy sai Tử Hạ đi xem xét, Nhiễm Hữu đi ngỏ lời trước. Vì vậy, đệ hiểu thầy không hề chủ trương mất quan sẽ lập tức nghèo hèn.
3. "HIẾU TỬ" GIẾT EM, GIAM MẸ
Nói một cách tương đối, cuộc đấu tranh trong nội bộ giới quan trường vào thời Xuân Thu, Chiến Quốc có phần kịch liệt hơn cả. Có khi vì tranh giành quyền lợi mà cha con, mẹ con, anh em đã tàn sát lẫn nhau. Ấn Công năm đầu, vì tranh giành quyền cao của đất nước mà Khương thị muốn giết con cả, để con nhỏ kiêu ngạo, đầy dã tâm là Cung Thúc Đoạn nắm đại quyền nước Trịnh.Với bộ mặt hiền hòa, nhưng lòng dạ thì nham hiểm và độc địa, Trịnh Trang công còn là người dung tục. Sau khi giết em, Trịnh Trang công còn thề sẽ không bao giờ gặp mẹ nữa! Có gặp, cũng phải đến lúc ở dưới hoàng tuyền. Nhưng sau đó Trang công đã ân hận, vì chẳng dại gì lại chuốc lấy tiếng bất hiếu. Cuối cùng, ông ta phải cho đào đường hầm đi gặp mẹ.
Để giành được quyền lực cao nhất, anh em không còn là anh em, họ như hai ông vua đang thôn tính lẫn nhau. Người nào cũng có lý do của mình! Câu chuyện bắt đầu như thế này:
Thoạt kỳ thủy, Trịnh Võ công kết hôn với một người bên Thân Quốc là Võ Khương. Võ Khương sinh hạ được hai người con: Trang công và Cung Thúc Đoạn. Khi sinh Trang công rất khó làm Khương thị sợ hết hồn. Vì vậy, Trang công còn được gọi là "Ngụ sinh". Từ đó, ghét Trang công bao nhiêu thì Khương thị lại yêu Cung Thúc Đoạn bấy nhiêu! Khương thị thường xin Võ công lập Cung Thúc Đoạn làm thái tử. Đến lúc Trang công kế thừa vương vị, Khương thị cầu xin phong vùng đất Chế cho Cung Thúc Đoạn.
Trang công nói:
- Chế là vùng đất hiểm yếu. Ngày trước Quắc Thúc đã chết ở đấy. Nên chọn bất kỳ một vùng đất nào khác vậy!
Khương thị nói đến đất Kinh, Trang công cho Cung Thúc Đoạn ra đó và trở thành Thái Thúc kinh thành.
Sái Trọng nói:
- Thành trì của đô thị vượt quá hàng trăm trượng, trở thành mối họa cho đất nước. Tiên vương qui định, thành to không vượt quá một phần ba số đo của kinh đô, thành trung bình không vượt quá một phần năm, thành nhỏ thì dưới một phần chín. Ngày nay kinh thành đã vượt quá qui chế của tiên vương, e có phần nguy hiểm cho bệ hạ.
Trang công nói:
- Khương thị yêu cầu như vậy. Muốn tránh họa lớn phải làm sao đây?
Sái Trọng đáp:
- Khương thị lòng tham vô đáy. Chi bằng ta nên sắp xếp trước, đừng để cho thế lực của họ mạnh dần lên. Nhưng đây lại là người em yêu quí của nhà vua thì biết làm thế nào?
Trang công nói:
- Làm nhiều việc bất nghĩa, tất sẽ chuốc lấy sự diệt vong. Không tin, ngươi cứ chờ đấy mà xem.
Ít lâu sau, Thái Thúc (Cung Thúc Đoạn) lệnh cho các thành ấp hai miền tây, bắc nước Trịnh vốn thuộc Trang công nay cũng thuộc về mình.
Công tử Lã nói:
- Đất nước không thể có cảnh vừa thuộc bên này vừa thuộc bên kia. Nhà vua nghĩ thế nào? Nếu cho nước Trịnh thuộc về Thái Thúc thì để thần còn phục dịch ông ta. Nếu không, thì nên trừ đi. Đừng bao giờ để trăm họ sinh ra hai lòng.
Trang công nói:
- Không cần phải thế! Thái Thúc sẽ tự mình hại mình thôi.
Những vùng đất vốn thuộc cả hai bên, nay Thái Thúc cũng vơ lấy cho mình, mở rộng đất đai đến tận vùng Lẫm Diên.
Tử Phong nói:
- Trừ ngay đi thôi! Đất đai càng rộng, càng có nhiều người qui thuận.
Trang công nói:
- Hắn là kẻ bất nhân bất nghĩa với quân vương, bất thân với huynh trưởng thì dù đất đai có rộng đến mấy cũng chẳng thể giữ được.
Thái Thúc ngày đêm xây dựng tường thành, tích cóp lương thảo, chế tạo mũ, áo giáp, vũ khí, biên chế bộ binh và chiến xa, lén đánh nước Trịnh. Khương phu nhân làm nội ứng, mở cổng thành đón Thái Thúc. Sau khi được tin Thái Thúc tập kích nước Trịnh, Trang công nói:
- Đến lúc rồi đấy!
Liền sai Tử Phong thống lĩnh hai trăm chiến xa tấn công kinh thành. Quân lính của Thái Thúc làm phản. Trong lúc nguy khốn, Thái Thúc chạy sang nước Yên. Trang công đuổi thẳng đến nước Yên. Ngày Tân Sửu tháng 5, Thái Thúc lại chạy sang nước Cộng.
Sau đó, Trang công an trí Khương thị ở thành Dĩnh. Và thề rằng:"Còn sống thì không bao giờ gặp nhau". Về sau mới ân hận về câu nói ấy. Một viên quan chủ quản vùng biên giới Dĩnh Cốc là Dĩnh Khảo Thúc nghe tin liền sắm sửa lễ vật đến dâng Trang công, và được giữ lại yến ẩm. Nhưng lạ thay, Dĩnh Khảo Thúc không hề gắp một miếng thịt nào. Trang công hỏi vì sao, Khảo Thúc trả lời:
- Mẹ già của thần đã được thưởng thức nhiều của ngon vật lạ do thần dâng lên. Riêng yến tiệc thì chưa bao giờ được biết tới! Vậy xin nhà vua cho thần được mang thịt về dâng lên cho mẹ!
Trang công nói:
- Ngươi còn có mẹ để dâng cơm. Quả nhân thì chẳng còn ai!
Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Thần không hiểu ý bệ hạ?
Trang công kể rõ mọi chuyện và nói lên sự ân hận của mình.
Dĩnh Khảo Thúc nói:
- Việc gì bệ hạ phải lo nghĩ! Bệ hạ cho đào một đường hầm thật dài đến chỗ thân mẫu để gặp mặt thân mẫu. Ai dám bảo là không làm được?
Trang công nghe theo ý kiến đó.
Trang công bước xuống đường hầm miệng ngân nga: "Dưới đường hầm, mẹ con gặp mặt, lòng vui khôn xiết!" Khương thị ra khỏi đường hầm, miệng cũng ngân nga: "Ngoài đường hầm, mẹ con gặp nhau, thoải mái biết bao". Thế rồi từ đấy, mẹ con lại vui vẻ như xưa.
Đời sau có người nói:
- Dĩnh Khảo Thúc mới thực là người con có hiếu. Lòng hiếu thảo ảnh hưởng cả đến Trang công.
Lời trong "Kinh Thi": "Lòng hiếu thảo của người con có hiếu là vô cùng vô tận, luôn luôn cảm hóa được muôn người", có lẽ là nói đến trường hợp này đây!
Trịnh Trang công giết em, giam cầm người mẹ để đoạt quyền lớn, nhưng cuối cùng vẫn được tiếng là đứa con "có hiếu". Thế mới biết, thủ đoạn thi hành quyền mưu của vị vua được coi là đại trí quả là cao minh vậy. Trong chốn quan trường, từ cổ chí kim chưa chắc đã có! Điểm sáng trong quyền thuật là như vậy đấy.
4. "NGHỆ THUẬT" THU HÚT LÒNG DÂN
Lung lạc lòng dân, lợi dụng lòng dân là đạo làm quan trọng yếu nhất trong chốn quan trường. Phàm là những chính khách có chí làm quan, không ai là không biết, không dùng.Thời Chiến Quốc, Mạnh Thường Quân Điền Văn nước Tề, có đến ba ngàn môn khách trong nhà. Là tướng quốc nước Tề, Điền Văn thật oai phong. Điền Văn sử dụng chính sách mua chuộc, lấy lòng các môn khách, nhưng lại không biết cách thu phục "lòng dân" trăm họ.
Một môn khách loại ba là Phùng Huyên dùng cách kích tướng để Điền Văn trọng dụng mình, sau đó mới giúp ông ta thu nợ mua nghĩa, du thuyết chư hầu, củng cố địa vị.
Chuyện là thế này: Phùng Huyên là người nước Tề, nghèo túng đến nỗi chẳng nuôi được thân, phải nhờ người nói với Mạnh Thường Quân, hòng có chỗ ở chỗ ăn trong nhà. Mạnh Thường Quân hỏi người đó:
- Ông thích cái gì?
Người đó nói:
- Không thích gì!
- Tài năng của ông?
- Chẳng có tài năng gì.
Mạnh Thường Quân cười, nói:
- Thôi được!
Những người quản gia thấy Mạnh Thường Quân xem nhẹ Phùng Huyên nên chỉ cho dọn cơm dưa.
Ít lâu sau, thấy Phùng Huyên ngồi tựa cột giữa sảnh đường vừa gõ kiếm vừa hát:
- Kiếm dài ơi! Bữa cơm chẳng có cá ta về thôi!
Quản gia đem chuyện nói lại với Mạnh Thường Quân và được lệnh:
- Dọn cơm theo chế độ của môn khách bình thường.
Được mấy hôm. Phùng Huyên lại gõ kiếm mà hát:
- Kiếm dài ơi! Ra đường chẳng có xe đi! Ta về thôi!
Quản gia nói lại. Mạnh Thường Quân liền bảo:
- Nên cấp xe ngựa cho người ấy.
Thế rồi, Phùng Huyện cầm kiếm, lên xe đi thăm người bạn:
- Mạnh Thường Quân coi ta là môn khách được cấp xe!
Vài hôm sau, Phùng Huyện lại gõ kiếm và hát:
- Kiếm dài ơi! Biết lấy gì để nuôi sống gia đình! Chúng ta lại phải về thôi!
Quản gia ghét lắm, cho Phùng Huyện là kẻ tham lam, không biết thế nào là đủ. Mạnh Thường Quân biết chuyện, liền hỏi:
- Phùng tiên sinh còn có người thân chăng?
Quản gia trả lời.
- Phùng tiên sinh còn một mẹ già.
Mạnh Thường Quân liền sai người chu cấp mọi thứ cần thiết cho lão mẫu.
Từ đó, không thấy Phùng Huyện vừa gõ kiếm vừa hát nữa.
Về sau, Mạnh Thường Quân có thông báo đến các tân khách trong phủ: người nào giỏi về đường lý tài tính nợ thì xin giúp Mạnh mỗ đến thu nợ ở đất Tiết.
Phùng Huyện liền ghi mấy chữ vào thông báo: "Đệ đi cho".
Mạnh Thường Quân xem xong, ngạc nhiên hỏi:
- Người này là ai vậy?
Quản gia nói:
- Chính là cái người: "Kiếm dài ơi! chúng ta đi về thôi!" Mạnh Thường Quân cười nói:
- Vị khách này có tài đấy! Tiếc là bấy nay ta chưa hề gặp mặt.
Liền cho người mời Phùng Huyên tới, và nói mấy câu thật khiêm tốn:
- Ta suốt ngày vùi đầu vào đại sự quốc gia, nhiều lúc mệt mỏi, đầu hôn mắt hoa, mụ mẫm cả người, thật đắc tội với tiên sinh. Tiên sinh không cho thế là đáng ghét lại còn muốn giúp ta đi đòi nợ ở đất Tiết phải không?
Phùng Huyên nói:
- Đệ tình nguyện làm điều đó.
Thế rồi, xe ngựa được chuẩn bị, hành trang, khế ước vay nợ được gói ghém cẩn thận để lên đường. Trước đó, Phùng Huyên hỏi rằng:
- Nợ nần đòi được hết thì nên mua những thứ gì đây?
Mạnh Thường Quân nói:
- Trong nhà thiếu thứ gì thì mua thứ ấy.
Phùng Huyên đánh xe đến thành Tiết, sai người đi tìm bà con vay nợ đến để đối chiếu giấy tờ. Công việc đối chiếu đã xong, Phùng Huyên giả truyền lệnh của Mạnh Thường Quân, trả lại giấy vay nợ cho từng người và cho đốt hết những sổ sách ghi nợ trước mặt bà con. Trăm họ hoan hô long trời, lở đất.
Phùng Huyên đánh xe chạy suốt ngày đêm trở lại đô thành nước Tề. Một buổi sáng đã vào cầu kiến Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân lấy làm lạ, sao lại về nhanh đến thế, liền mặc áo ra xem, và hỏi:
- Sao lại về nhanh thế? Thu được hết nợ rồi sao?
Phùng Huyên nói:
- Hôm nọ ngài chẳng nói "xem trong nhà thiếu thứ gì thì mua thứ ấy". Đệ tự nghĩ phủ ta chân châu bảo ngọc đã đầy, chó quí ngựa hay chẳng thiếu, gái đẹp cũng chật nhà. Cái thiếu duy nhất ở phủ ta có lẽ là "nghĩa". Vì vậy, đệ quyết định mua "nghĩa" cho chủ nhân.
Mạnh Thường Quân hỏi:
- Mua nghĩa? mua như thế nào?
Phùng Huyên nói:
- Ngài vẻn vẹn chỉ có một mảnh đất Tiết nhỏ bé mà không nuôi nấng vỗ về được trăm họ, ngược lại bằng thủ đoạn cho vay nặng lãi để bòn rút lợi tức trong nhân dân. Đệ đã giả truyền lệnh của ngài, xóa nợ cho họ, đốt hết sổ sách giấy tờ vay nợ. Mọi người đồng thanh hoan hô. Như vậy, đệ đã mua được "nghĩa" cho ngài.
Mạnh Thường Quân không vui lắm, nói:
- Thôi được! Cho qua đi vậy.
Một năm sau, Tề Mẫn Vương nói với Mạnh Thường Quân:
- Quả nhân không dám lấy người của tiên vương làm người của mình.
Mạnh Thường Quân đành phải chuyển về ấp phong là đất Tiết.
Đường về cách thành Tiết hàng trăm dặm đã thấy già trẻ, gái trai thành Tiết mừng rỡ đổ ra đường nghênh đón. Mạnh Thường Quân quay lại nhìn Phùng Huyên và nói:
- Cái "nghĩa" mà tiên sinh mua cho Điền Văn ta, bây giờ thấy rõ quá!
Phùng Huyên nói:
- Thỏ khôn phải có ba chiếc hang mới sống lâu. Lúc này, ngài mới chỉ có một chiếc thì chưa thể kê gối cao mà ngủ được! Đệ lại tìm thêm cho ngài hai chiếc nữa vậy!
Mạnh Thường Quân cấp mười cỗ xe, trăm cân vàng để Phùng Huyên sang miền tây du thuyết nước Lương. Phùng Huyên nói với Lương Huệ Vương:
- Tề vương đã ruồng bỏ đại thần của mình, để Mạnh Thường Quân đến các nước chư hầu. Ai nghênh đón được người này thì đất nước sẽ giàu có, quân đội sẽ hùng mạnh.
Thế là, lập tức Lương Huệ Vương đã để sẵn một chức quan cao sang, điều thừa tướng sang làm thượng tướng quân, cử sứ thần mang theo vàng hàng ngàn cân, xe ngựa một trăm cỗ kéo đến đất Tiết đón Mạnh Thường Quân. Phùng Huyên nhanh chóng về Tiết báo với Mạnh Thường Quân:
- Hàng ngàn cân vàng là món lễ vật hậu hĩnh. Xe ngựa hàng trăm cỗ là vị sứ thần hiển quí. Có thể Tề vương đã biết tin này.
Sứ thần đi lại vài ba lần, Mạnh Thường Quân vẫn kiên quyết từ chối, không chịu vào nước Lương:
Tề Mẫn Vương hay tin. Quần thần lấy làm kinh hãi.
Mẫn vương cử thái phó đem theo một ngàn cân vàng, hai cỗ xe sang trọng, một thanh bảo kiếm và một phong thư như muốn tạ lỗi với Mạnh Thường Quân:
- Quả nhân sai lầm, bị tổ tiên trách phạt, nhỡ nghe lời gièm pha của lũ gian thần, nên mắc tội với huynh! Quả nhân không đáng được huynh phò tá, chỉ mong huynh nghĩ đến tông miếu của tiên hoàng, nhanh chóng trở lại kinh đô, dìu dắt trăm họ.
Phùng Huyên lại nói với Mạnh Thường Quân:
- Mong rằng ngài xin với Tề vương lấy một phần vật dụng cúng tế tiên vương, để xây dựng tông miếu nơi đất Tiết.
Tông miếu được xây xong. Phùng Huyên quay về nói với Mạnh Thường Quân:
- Đã có đầy đủ ba chiếc hang. Ngài có thể kê cao gối mà an hưởng những ngày vui!
Trong mấy chục năm Mạnh Thường Quân làm thừa tướng nước Tề, trăm họ bình yên, an cư lạc nghiệp, đều là nhờ vào kế sách tinh thông của Phùng Huyên.
5. NHẪN NHỤC, SAU NÀY LÀM ĐẾN CHỨC THỪA TƯỚNG
Phạm Thư là người nước Sở, từng đi du thuyết ở các nước chư hầu, hòng kiếm lấy một chức quan nào đấy. Nhưng vì gia cảnh bần hàn, không đủ tiền trợ giúp, nên đành phải làm môn khách bình thường dưới trướng đại phu Tu Cổ ở nước Ngụy.
Tu Cổ phụng mệnh Ngụy Chiêu Vương, sang sứ nước Tề. Phạm Thư được đi theo. Hai người lưu lại nước Tề đã năm tháng mà chưa được Tề vương đoái đến. Tề Tương Vương nghe tin Phạm Thư là người giỏi đường biện giải, liên sai đem biếu mười cân vàng cùng thịt bò, rượu trắng. Phạm Thư nói với sứ giả:
- Nhờ bẩm lại với Tề vương, bỉ nhân chưa có một chút công lao gì, không đáng được nhà vua ưu đãi.
Sau khi biết thái độ của Phạm Thư, Tề vương càng thêm khâm phục. Nghe được tin ấy, Tu Cổ bực dọc, cho rằng Phạm Thư đã tiết lộ bí mật của nước Ngụy, nên mới được hậu ái như vậy. Tu Cổ liền khuyên Phạm Thư nên nhận lấy rượu và thịt, vàng thì trả lại.
Phạm Thư không biết mưu mô, nói:
- Bỉ nhân có công trạng gì đâu mà nhận lễ vật của người khác.
- Tu Cổ nói:
- Đành là vậy, ta nhưng không được để nước Tề xem thường, bảo chúng ta là những người vô tình, vô nghĩa, dốt đường lễ tiết!
- Phạm Thư đành nghe theo.
Khi về đến nước Ngụy, Tu Cổ bực Phạm Thư lắm, liền đem chuyện, thêm mắm thêm muối vào, kể hết với tổ tướng nước Ngụy.
Tể tướng nước Ngụy là Ngụy Tề, con thứ của Ngụy vương. Ngụy Tề tin lời gian trá liền cho gia đinh tra khảo Phạm Thư, đánh gãy cả răng hỏng cả gân cốt. Toàn thân Phạm Thư máu me đầm đìa, đành phải giả chết! Ngụy Tề đem xác Phạm Thư bó chiếu, vứt lên hố phân để những người say rượu trong đám môn khách Ngụy Tề đi tiêu vào đó, hòng làm nhục Phạm Thư, đồng thời muốn cảnh cáo những ai có ý làm loạn.
Chờ khi những kẻ say rượu đi hết, Phạm Thư từ trong chiếu nói với người gác:
- Nếu nhà người cứu được ta, sau này ta sẽ tạ ơn lắm lắm!
Người gác cũng biết chuyện nước Tề tặng vàng, nên tin lời Phạm Thư là thật, liền xin với Ngụy Tề cho vứt xác người chết đi. Ngụy Tề đồng ý.
Sau khi tỉnh rượu, Ngụy Tề đem lòng hối hận, cho người đi khắp nơi tìm xác Phạm Thư. Trịnh An Bình là người nước Ngụy biết chuyện, lại tin tưởng vào tiền đồ của Phạm Thư, nên đem ông đi trốn. Phạm Thư đổi tên là Trương Lộc.
Bấy giờ, Tần Chiêu Vương lại sai Vương Kê đi sứ nước Ngụy. Trịnh An Bình liền đóng giả làm vệ binh, hết lòng chiều chuộng Vương Kê, hai bên tâm đầu ý hợp.
Vương Kê hỏi:
- Trịnh tiên sinh, nước Ngụy ta có bậc hiền năng nào muốn theo Vương mỗ này về Tần không?
Trịnh An Bình nói:
- Bỉ nhân ở quê có người bạn là Trương Lộc cũng rất muốn gặp đại nhân để bàn chuyện thiên hạ. Lộc là người tài ba thao lược!
Vương Kê nói:
- Mời Trương tiên sinh đến chơi.
- Trương tiên sinh có mối thù lớn. Ban ngày không dám ra ngoài.
- Vậy mời hai vị cùng đến vào buổi tối!
Tối hôm đó. Trịnh An Bình đưa Trương đến gặp Vương Kê. Chuyện trò mới được một hồi, Trương Lộc đã tỏ ra là người tài năng hiếm có trên đời. Vương Kê nói:
- Hai hôm nữa, mời tiên sinh chờ hạ quan ở phía nam gò Tam Đình.
Hai người còn ngầm ước hẹn vài điều khác nữa rồi mới chia tay.
Vương Kê rời nước Ngụy, qua chỗ hẹn, lén đưa Phạm Thư về nước Tần. Đường đến Hồ Quan, Phạm Thư lên tiếng hỏi khi thấy từ phía tây có đoàn người ngựa ùn ùn kéo tới:
- Người nào đến vậy?
- Tể tướng nước Tần là Nhương hầu đi tuần thú miền đông.
Phạm Thư nói:
- Tiểu nhân không muốn gặp người này.
Vương Kê hỏi:
- Vì sao lại thế?
- Tiểu nhân nghe nói Nhương hầu là người độc chiếm triều chính nước Tần, căm ghét thuyết khách các nước chư hầu. Gặp ông ta tất bị sỉ nhục. Chi bằng tạm lánh đi vẫn hơn!
Lát sau, Nhương hầu dừng xe ở trước mặt. Qua vài lời thăm hỏi, ông ta nói:
- Vùng Quan Đông có biến cố gì không?
Vương Kê bảo là không.
Nhương hầu hỏi:
- Ông không đưa lũ thuyết khách ở các nước chư hầu về đấy chứ? Chúng chẳng có việc gì ở nước Tần cả, ngoài việc gây thêm rối loạn.
Vương Kê trả lời không dám.
Tể tướng đi khỏi. Từ trong xe, Phạm Thư nói với Vương Kê:
- Nhương hầu là người tài trí song gặp việc thì phản ứng chậm chạp. Ban nãy ông ta nghi ngờ trong xe có người, nhưng lại quên kiểm tra.
- Nói đoạn, Phạm Thư xuống xe đi bộ.
Đi được hơn mười dặm đường, Nhương hầu càng nghĩ càng nghi, liền cho người quay lại khám xe. Biết là không có người ngoài, lũ chúng mới yên tâm.
Phạm Thư lo việc như thần, Vương Kê càng thêm khâm phục.
Vương Kê báo lại với Tần vương tình hình sang sứ nước Ngụy xong, thuận miệng nói luôn:
- Trương Lộc tiên sinh người nước Ngụy là biện sĩ nổi danh thiên hạ có nói: "Tai nạn ở nước Tần như trứng để đầu đẳng. Ta có thể chuyển nguy thành an. Nhưng điều đó không thể viết thành giấy được". Thần đã để người đó theo về. Mong đại vương triệu kiến người này!
- Tần Chiêu Vương nói:
- Dùng lũ biện sĩ thành thì ít, bại thì nhiều. Ngươi bố trí cho hắn làm một việc gì đó cũng được!
Tần Chiêu Vương không tin Phạm Thư. Còn Phạm Thư thì vẫn chờ đợi để được Tần vương triệu kiến. Thấm thoát đã hơn một năm rồi.
Trong ba mươi sáu năm trị vì, Tần Chiêu Vương tiến xuống phía nam đánh chiếm Yên Dĩnh của nước Sở, cầm tù Sở Hoài Vương cho đến chết ở nước Tần. Phía đông, đánh bại nước Tề. Tề Mẫn Vương phải tước bỏ đế hiệu. Nước Tần đã mấy lần vây khốn nước Tấn. Các nước chư hầu khác, sợ Tần như sợ lang sói. Thế lực nước Tần rất mạnh. Tần Chiêu Vương không thích lũ thuyết khách trong thiên hạ, chưa tin chúng!
Thế lực nước Tần tuy rất mạnh, nhưng trong nước đã xuất hiện lực lượng quí tộc ngoại thích cầm đầu là Tuyên thái hậu và người em là Nhương hầu.
Những người này nắm quyền triều chính, trở thành mối họa tiềm ẩn trong nội bộ vương triều nhà Tần. Tần Chiêu Vương những muốn trừ đi, nhưng nhất thời chưa có kế hay. Đúng lúc đó, Phạm Thư dâng sớ lên Tần Chiêu Vương. Chiêu vương sung sướng vô cùng, liền cho Vương Kê đem xe đến đón Phạm Thư.
Cuối cùng thì Tần Chiêu Vương đã triệu kiến Phạm Thư. Phạm Thư chỉ hỏi mà không đáp, chủ yếu là thăm dò xem Tần Chiêu Vương có dứt bỏ được những trở lực từ phía các đại thần và những người ruột thịt hay không. Có thể, Phạm Thư đã nắm được tâm lý của Tần Chiêu Vương, nắm được mâu thuẫn trong nội bộ nước Tần, vì vậy, Tần Chiêu Vương nhanh chóng tiếp nhận giải pháp chính trị của Phạm Thư.
Tần Chiêu Vương nghênh đón Phạm Thư vào triều, lấy lễ chủ khách mà cung kính đối đãi. Nhưng Phạm Thư từ chối không nhận. Những người có mặt hôm đó, không khỏi thất sắc, kinh ngạc vô cùng! Tần vương lệnh cho tả hữu lui ra rồi mới quì xuống trước mặt Phạm Thư và nói:
- Mong tiên sinh chỉ giáo cho.
Phạm Thư đáp:
- Được thôi!
Một lát sau, Tần vương lại yêu cầu, Phạm Thư lại đáp rằng "được". Cứ như vậy, nói đi nói lại đến ba lần.
Tần vương vẫn cứ quì và nói:
- Tiên sinh không muốn chỉ giáo cho quả nhân chăng?
Phạm Thư cảm tạ và nói:
- Bỉ nhân không dám. Xưa kia, Lã Thượng gặp Chu Văn vương lúc còn là một ngư ông câu cá bên bờ sông Vị. Hai người chưa hề quen biết bao giờ! Nhưng chỉ vừa gặp mặt, Lã Thượng được tôn làm thày rồi cùng ngồi xe với Văn vương trở về đất Chu. Những điều đạo lý Lã Thượng đưa ra cực kỳ sâu sắc. Văn vương nhờ có Lã Thượng mà thành công, thống nhất thiên hạ, lên làm hoàng đế. Giả sử Văn vương xa lánh Lã Thượng, không cùng đàm đạo, thì nhà Chu làm gì có thiên tử; Văn vương, Vũ vương không thể hoàn thành được vương nghiệp của mình. Ngày nay, bỉ nhân là khách từ xa đến, đại vương không khỏi băn khoăn. Về phần mình, bỉ nhân muốn giải bày nhiều điều về quân thần, chính sự giữa những người thân thuộc, cốt nhục, anh em, nhưng lại chưa thấu hiểu được tâm tư của đại vương. Vì vậy để đại vương phải hỏi đến lần thứ ba mà bỉ nhân vẫn chưa dám đáp. Thực tình thì bỉ nhân không lo ngại gì cả. Biết rằng những điều hôm nay thổ lộ với đại vương, có thể ngày mai bỉ nhân sẽ chết, nhưng không vì thế mà dám băn khoăn suy tính. Nếu được đại vương dùng những lời bỉ nhân nói, thì dù có phải chết, phải đuổi cổ, thậm chí thân tàn ma dại, bỉ nhân sẽ chẳng bao giờ cảm thấy buồn phiền hoặc sỉ nhục. Ngũ đế thánh minh như vậy, nhưng vẫn phải chết. Tam Vương là người nhân ái, cũng chết; Ngũ Bá hiền năng là thế, cũng chết; Ô Hoạch là đại lực sĩ, cũng chết rồi; Mạnh Bôn, Hạ Dục là những dũng sĩ nổi danh cũng chết cả rồi. Con người ta ai rồi cũng phải chết. Nhưng nếu giúp được một chút lợi nhỏ nào đó cho nước Tần rồi hẵng chết thì đó là nguyện vọng lớn nhất của bỉ nhân vậy. Xưa kia, Ngũ Tử Tư thoát ra khỏi túi, chạy khỏi Chiêu Quan. Ngày trốn, đêm đi, tìm đến miền sông Lật. Bụng đói cồn cào, đành phải vừa quì vừa bò, xin ăn ở giữa chợ nước Ngô. Về sau đã phò tá Ngô vương, phục hưng nước Ngô, giúp Ngô vương Hạp Lư làm nên nghiệp bá. Nếu như đại vương tin dùng lời của bỉ nhân, được như Ngô vương dùng Ngũ Tử Tư khi đó, thì dù có đem bỉ nhân cầm cố vào ngục tù, bỉ nhân còn có gì phải lo lắng nữa? Như Ky Tử và Tiếp Dư cuối cùng cũng trở nên tàn phế, xoã tóc điên khùng, nhưng họ có giúp được gì cho Ân triều cùng nước Sở đâu! Nếu bỉ nhân được như Ky Tử, Tiếp Dư, lại được giúp ích cho vị quân chủ hiền minh như ngài, thì thực là vinh dự lớn lao, liệu còn gì để gọi là sỉ nhục nữa đây? Bỉ nhân chỉ sợ, sau khi qua đời, hiền sĩ trong thiên hạ cho rằng bỉ nhân tận trung mà bị giết, họ đành ngậm miệng, chùn bước, không ai dám vào nước Tần nữa! Ngày nay, trên thì bệ hạ sợ uy vũ của thái hậu, dưới thì bị bọn gian thần giảo hoạt mê hoặc. Sống trong cung cấm, xung quanh là vệ sĩ cung đình, đại vương hư hư thực thực, không có ai cùng lo trừ bỏ lũ gian tà. Ngày tháng trôi qua, lớn thì tông miếu sẽ tiêu vong, chí ít cũng mang vạ vào thân. Đó là điều bỉ nhân băn khoăn nhất! Còn như cùng khốn mà nhục nhã, tai họa mà chết chóc thì bỉ nhân chẳng sợ. Nước Tần được hùng mạnh thì dù có phải chết bỉ nhân cũng thấy cam lòng.
Tần Chiêu Vương lại quì xuống nói:
- Tiên sinh, sao tiên sinh lại nói thế! Nước Tần xa xôi hẻo lánh, quả nhân ngu muội, vô năng, được tiên sinh chiếu cố là điều vinh hạnh. Trời xanh đã muốn quả nhân phiền nhiễu tiên sinh để hòng giữ lấy tông miếu của tiên tổ! Quả nhân nguyện làm theo điều chỉ giáo của tiên sinh. Đó có lẽ cũng là ý của trời xanh mong muốn tiên sinh không bỏ rơi quả nhân trong lúc đơn độc và đầy hiểm họa. Xin tiên sinh đừng bao giờ nói thế! Trăm sự quốc gia, dù lớn dù bé; trên là thái hậu, dưới đến đại thần, tiên sinh chỉ giáo mọi điều. Đừng bao giờ nghi kỵ quả nhân.
Phạm Thư lạy hai lạy, Tần vương cũng lạy hai lạy.
Cuối cùng thì Tần vương phong Phạm Thư là tể tướng, hòng thực hiện mục đích chính trị của mình!