1. "BA LẦN PHẢN KÍCH" CỦẠ ÁN TỬ

Mưu Trí Chốn Quan Trường

Lượt đọc: 110 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương III ĐẤU TRÍ NƠI QUAN TRƯỜNG

❊ ❊ ❊

Một khi con người đã bị cuốn vào dòng xoáy của quyền lực thì cũng giống như một chiếc xe ở giữa ngã tư đường lúc giao thông hỗn loạn. Anh không va vào họ, nhưng rất có thể họ sẽ va vào anh; một động tác bình thường cũng có thể gây hiểm họa. Làm sao đây? Tất cả đều nhờ vào sự hùng tài của mình mà đánh bại đối phương, giành lấy một chỗ đứng vững chắc. Quan trường là nơi vô tình nhất; nơi cá lớn nuốt cá bé, khôn sống mống chết. Được hay mất là ở sách lược trong lúc giao tranh, và cái thực lực trong sách lược hùng tài lại là sự khéo léo khi "uốn ba tấc lưỡi". Nếu Gia Cát Lượng không có cuộc "đấu khẩu với các nho sĩ" thì làm gì có "liên minh Ngô Thục", đất nước không thể chia ba theo thế chân vạc. Rõ ràng "uốn ba tấc lưỡi" cũng làm nên một sức mạnh của "hàng vạn đạo hùng quân".

Cổ nhân nói: "Biết nói thì thành công". Nói có lý thì lời nói mới có hiệu quả, mới đạt được mục đích. Trong chốn quan trường thời cổ, Ấn Tử, một trọng thần của nước Tề là tay cao thủ có tài biện luận. "Ba lần phản kích" của Án Tử là câu chuyện nổi tiếng còn truyền tụng đến bây giờ.

Tề Cảnh công muốn liên minh với nước Sở hùng mạnh, quyết định chọn một người giỏi ăn nói sang sứ nước Sở. Chọn đi chọn lại, cuối cùng Tề Cảnh công giao nhiệm vụ nặng nề đó cho Án Tử - Tin đó truyền đi, Sở Linh Vương cho rằng nước mình hùng mạnh, nên chẳng thèm biết là có nước Tề hay không! Nghe tin Án Tử thân hình thấp bé nhẹ cân, nhưng có tài "hùng biện" nổi tiếng ở các nước chư hầu, Sở Linh Vương liền quyết định làm nhục Án Tử, tăng thêm uy phong cho nước Sở. Thế rồi quần thần hùa với nhà vua bàn mưu tính kế. Án Tử là người có tài ứng phó, nghĩ một kế chắc gì đã bõ được cười. Phải có liên hoàn kế, tấn công dồn dập, mới hòng hạ gục được Ấn Tử! Quân thần nước Sở dày công thiết kế mới có được hàng loạt phương án làm nhục Án Tử.

Án Tử y phục vừa rách vừa cũ, ngồi trên xe ngựa ọp ẹp, tiến tới cửa Đông Môn, kinh đô nước Sở, nhưng cửa không mở. Án Tử sai tùy tòng lên tiếng gọi. Người gác cửa, đã được triều đình dặn trước, liền chỉ vào cửa nách mà nói:

- Thưa ngài tướng quốc tôn kính, ngài ra vào bằng chiếc cửa này e vẫn còn rộng! Đây là cửa quốc vương chúng tôi chuẩn bị đặc biệt cho ngài, hà tất ngài còn cần gì đến cửa lớn!

Nói xong, những người giữ cửa to nhỏ với nhau, chờ xem Án Tử làm thế nào! Án Tử xem xét tỉ mỉ chiếc cửa nách, vừa thấp vừa hẹp, chẳng khác mấy với thân hình của mình. Biết thừa là Sở vương tìm cách làm nhục, Án Tử lặng người, cố gắng trấn tĩnh.

Đến mà không vào là bất lễ! Án Tử bèn nói to lên rằng:

- Hãy bẩm với Sở vương, đây là chiếc cửa của chó, người thì phải ra vào bằng cửa lớn, làm sao ta có thể đi qua được? Ta đến nước Sở cơ mà! Nếu như ta đến nước chó thì mới vào bằng cửa này chứ! Ta đi sứ nước người thì phải vào bằng cửa của người mới đúng!

Người giữ cửa chẳng biết nói thế nào, đành cho chuyển tất cả về Sở Linh Vương. Nhà vua nói:

- Án Tử quả là người tài giỏi. Ta mới định giỡn hắn, không ngờ hắn đã chơi lại ngay!

Lập tức, nhà vua hạ lệnh mở rộng cửa lớn, nghênh đón Án Tử.

Gậy ông lại đập lưng ông, Án Tử lấy cái lý đó mà đánh lại đối phương, dồn đối phương vào chân tường, chính Sở Linh Vương lại bị nhục, không thể không mở rộng cửa lớn để đón sứ vào! Đương nhiên, Sở Linh Vương không chịu dừng lại ở đó. Là vua của một nước lớn sao lại dễ dàng cam chịu trước sứ thần của một nước nhỏ!?

Lúc Án Tử bái kiến Sở Linh Vương, nhà vua cười nhạt thành tiếng hai lần! Án Tử thấp bé, còm nhom hơn nhiều, ngoài sức tưởng tượng của nhà vua.

Nhìn khuôn mặt xấu xí của vị đại thần nước Tề, Sở Linh Vương châm chọc với giọng nói hết sức ngạo mạn:

- Án tiên sinh! có phải nước Tề của các ông hết cả người rồi hay sao?

Án Tử thấy Sở vương vô lễ như vậy, đã định chửi cho mấy câu. Nhưng nghĩ mình đường đường là một sứ thần, cần phải chu đáo giữ lễ. Nếu ầm ỹ lên sẽ mất phong độ của sứ thần!

Án Tử, chậm rãi đưa mắt nhìn khắp lượt các quần thần, nét mặt trở nên nghiêm nghị, nói:

- Nước Tề đất rộng, người đông. Chỉ riêng số người trong thành Lâm Truy, hơi thở đã thành mây, mồ hôi tụ lại biến thành mưa. Ngoài đường, người người đi lại vai chen vai, chân nối chân, cớ sao bệ hạ lại nói là nước Tề không có người!?

Án Tử là người am hiểu chốn quan trường, thừa biết Sở Linh Vương mượn cớ hạ thấp mình đây, nhưng cứ tảng lờ như không! Quả nhiên Linh Vương mắc bẫy, ông ta ha ha cười, nói:

- Quý quốc nhân tài chật ních như vậy, cớ gì lại cử tiên sinh đến nước Sở to lớn của ta?

Nói đoạn, ông ta nháy mắt với lũ quần thần, và bỗng cả triều đình rộ lên tiếng cười, ai nấy nhìn Án Tử chầm chằm!

Án Tử trầm tư, lạnh băng. Bỗng lời nói như được ném ra:

- Đại vương, ngài không biết đấy thôi, nước Tề của thần có quy định, trước khi cử người đi sứ, triều đình phải xét là đi sứ nước nào. Đến nước lễ nghĩa, gặp quân vương đức cao vọng trọng, tất phải cử sứ thần là người cao to, tài hoa và tuấn kiệt; còn đến những nước thô lỗ, vô lễ, gặp những ông vua bất tài, dung tục, thì cử những sứ thần bất tài, xấu xí. Ở nước Tề, thần là người bất tài vô đức, vừa xấu vừa lùn, nên chỉ được sang sứ nước Sở...

Án Tử lấy đó đánh đó, hạ thấp mình để có mãng chửi Sở Linh Vương một trận vừa lâm ly vừa bõ tức.

Sở Linh Vương đỏ mặt, tía tai, im như thóc. Miệng ngậm bồ hòn mà cho là ngọt! Lũ quần thần cũng xanh mày xám mặt như chú gà trống sau lúc bại trận. Sở Linh Vương ngầm ra hiệu tiếp. Bọn quần thần nước Sở đành phải đưa ra chiêu cuối cùng trong liên hoàn kế.

Sở Linh Vương cho bày tiệc rượu, chiêu đãi Án Tử. Trong lúc hai người đang yến ẩm, thấy sai dịch dẫn một người con trai từ dưới đại điện đi qua. Sở Linh Vương giả bộ tức bực, ném luôn chén rượu xuống đất và quát:

- Chúng mày mù cả hay sao? Không nhìn thấy trẫm đang tiếp khách quí?

Bọn sai dịch vội vàng quì rạp xuống thưa:

- Hoàng thượng bớt giận, kẻ này phạm tội, hoàng thượng phải xét hỏi!

Sở Linh Vương tiện thể hỏi luôn:

- Hắn phạm tội gì?

Sai dịch tâu:

- Hắn ăn trộm!

- Tưởng gì! Bắt được trộm thì có gì là ghê gớm mà trẫm phải xét hỏi.

- Nhưng...

- Nhưng cái gì?

Sở Linh Vương phẫn nộ thực sự. Bọn sai dịch liền nói:

- Nhưng... kẻ trộm lại là người nước Tề

Người nước Tề - Sở Linh Vương có ý nói hai chữ "nước Tề” thật rõ, thật vang. Rồi ra vẻ đắc chí, đưa mắt nhìn Án Tử và nói tiếp:

- Người nước Tề sao lại chạy sang nước Sở mà ăn trộm? chẳng nhẽ người nước Tề đều trở thành kẻ trộm cả hay sao?

Án Tử thừa biết Sở Linh Vương bịa chuyện hòng làm nhục mình, liền tương kế tựu kế, từ thế thủ bước sang thế công:

- Sở vương tôn quí, thần nghe cây cát mọc ở Hoài Nam thì sinh ra hạt cát, nhưng trồng nó ở Hoài Bắc lại có hạt chỉ. Lá của hai cây thì giống nhau, nhưng hương vị của quả thì khác nhau, vì sao lại thế nhỉ? Chính là vì hoàn cảnh tự nhiên của hai miền thật khác nhau. Thần thực không ngờ, ở nước Tề, người Tề không ăn trộm, mà sao đến Sở chúng lại trở thành đạo tặc? Chẳng nhẽ hoàn cảnh tự nhiên của Sở đã biến người lương thiện thành giặc cả hay sao?

Án Tử khéo nói một thôi, làm cho Sở vương vô cùng lúng túng, giương mắt, cứng họng. Nhà vua lại sai người bày tiệc lớn, tỏ lòng cung kính nói với Án Tử "

- Tiên sinh là bậc thánh - Quả nhân đâu dám đùa cợt với ngài!

Tiệc xong, Sở vương cho người mang đến cho Án Tử một quả cát và một con dao con để ở trước mặt, rồi nói:

- Mời tiên sinh thưởng thức hương vị của quả cát.

Án Tử cảm tạ xong, liền thưa gửi, cùng Sở vương bàn luận thế lớn trong thiên hạ, vừa nói vừa ăn. Sở vương không hài lòng khi thấy Án Tử không hề gọt vỏ, mà cứ thế nuốt tất. Nhà vua liền nhắc:

- Ăn quả cát phải gọt vỏ, trên bàn có con dao, chính là để tiên sinh dùng.

Bấy giờ Án Tử mới thưa:

- Tạ ơn đại vương. Thần biết là ăn cát phải gọt vỏ. Nhưng thánh nhân đã dạy: "nhà vua cho quả thì không được gọt vỏ. Nhà vua cho cát thì không được bổ đôi mà ăn". Nên khi chưa được lệnh của thánh thượng, bỉ nhân đâu dám tự tiện bổ cát mà ăn!

Nghe lời giải thích của Án Tử, Sở vương càng thêm kính nể, bất giác khen rằng:

- Tiên sinh không hổ là sứ thần của một nước trọng lễ nghĩa, nhân dân nước Tề thật là hạnh phúc khi có một người như ngài!

Nói đoạn, nhà vua tự tay chọn một quả cát vừa to vừa ngọt, gọt vỏ rồi mới đưa cho Án Tử. Án Tử đưa hai tay nhận quả rồi mới từ từ thưởng thức. Sau đó mới lấy một quả khác, gọt vỏ và mời Sở vương. Sở vương xem ra thích thú. Hai người trò chuyện vô cùng hợp điệu!

Nhờ có ba lần phản kích, Án Tử đã hoàn thành nhiệm vụ sang sứ nước Sở.

2. MỜI TƯỚNG KHÔNG BẰNG KÍCH TƯỚNG

Bằng uốn ba tấc lưỡi thành công, Trương Nghi lên làm thừa tướng nước Tần. Sau khi binh quyền vào tay, Trương Nghi tìm cách phá hoại kế sách "Hợp tung" của Tô Tần, bạn học cũ, đã dày công (tìm kiếm). Sắp đặt Tô Tần và Trương Nghi không chỉ là đồng môn, mà còn là huynh đệ kết giao. Trương Nghi từng đã thề thốt, một khi có mặt ở nước Tần thì không bao giờ phá hoại kế sách của Tô Tần. Nhưng con người thao lược như Trương Nghi dễ gì chịu bỏ qua một cơ hội có thể nên danh nổi tiếng? Hơn nữa, việc Trương Nghi sang nước Tần không phải danh chính ngôn thuận, mà Tô Tần đã để Trương Nghi ra đi bằng thủ đoạn ti tiện, biện pháp kích tướng. Nỗi sỉ nhục đó, Trương Nghi tuy không nói ra miệng, nhưng luôn luôn chôn chặt trong lòng.

Đó là lúc nước Tần muốn tấn công nước Triệu, Tô Tần lo ngại cho kế sách "Hợp tung"3, liền lao tâm khổ tứ, tìm cách để Trương Nghi vào Tần hỗ trợ một tay. Nào ngờ, làm như vậy chỉ tổ giúp nước Tần như hổ có thêm nanh vuốt!

Trương Nghi du thuyết ở nước Sở không thành công, đang nằm khểnh ở nhà, thì bỗng được tin có người nước Triệu là Tất Thành đến thăm. Vừa nhìn thấy người nước Triệu, Trương Nghi đã sáng mắt lên và hỏi luôn:

- Tất tiên sinh là người nước Triệu, nghe nói thừa tướng bên quí quốc là Tô Tần phải chăng?

- Tô thừa tướng mới làm việc chưa lâu, ngài quen ông ấy?

Trương Nghi như được nước nói luôn:

- Đâu phải chỉ có quen! Chúng đệ là bạn học, còn là huynh đệ kết giao.

- Tất Thành nói:

- Đã vậy, còn không nhanh chóng đến đó kiếm một chức quan cho bỉ nhân này được thơm lây!

- Chẳng giấu gì huynh, đệ cũng đang muốn tìm đến chỗ người bạn học cũ.

Thế là hai người kết đôi cùng tiến.

Đến đô thành nước Triệu, Tất Thành nói:

- Trương tiên sinh đi tìm thừa tướng Tô Tần trước, mấy hôm nữa bỉ nhân sẽ đến tìm ngài.

Nói rồi, bỏ đi luôn.

Sau khi tìm được một nhà trọ rẻ tiền để trú chân, Trương Nghi mới đến bái kiến Tô Tần. Nhưng bao nhiêu lần đi thì bấy nhiêu lần hỏng việc! Họ chẳng nói chẳng rằng cứ đuổi người quây quậy. Cho mãi đến ngày thứ năm mới có người trả lời cặn kẽ: thừa tướng việc nước quá bận, xin được gặp lại hôm sau. Rồi mấy hôm sau lại trôi qua chẳng có tin tức gì. Mấy hôm đầu chủ quán nghe tin Trương Nghi quen biết Tô Tần thì nhiệt tình lắm. Khi biết thừa tướng không tiếp, thái độ của hắn quay hẳn mấy ngàn dặm, hắn thường châm chọc, nói lời ác ý! Lại một thời gian nữa trôi qua, cho đến khi tiền dùng đã cạn, cực chẳng đã, Trương Nghi đến tướng phủ từ biệt để đi.

Nhưng lần này thì Tô Tần sai người trả lời dứt khoát: ngày mai xin mời đến gặp. Trương Nghi lại quay về quán, nói khó để mượn một bộ cánh tươm tất hơn đi gặp Tô Tần.

Dinh tướng phủ thật là uy nghiêm. Khi Trương Nghi đến, Trung Môn vẫn cửa đóng then cài. Thị vệ chỉ cho lối vào là cửa bên. Trương Nghi giận lắm, nhưng người đang ở dưới lều tranh chẳng nhẽ lại không biết cúi đầu, nhẫn nhục? Trương Nghi định bước chân vào gian giữa, thì bị tả hữu của Tô Tần ngạo mạn ngăn lại:

- Thừa tướng ngài mải bận việc công, ngài phải chờ thôi!

Trương Nghi đành đứng chờ, trong khi các quan viên vào bái kiến Tô Tần cứ nườm nượp! Phải đến tận trưa, Trương Nghi mới được mời vào.

Trương Nghi tưởng người bạn cũ sẽ thân ra đón. Nào ngờ Tô Tần vẫn ngồi nguyên chỗ cũ! Trương Nghi trong lòng bực bội vô cùng, nhưng vẫn phải lạy một vái và nói:

- Chúc mừng Tô huynh nhất cử thành danh...

Tô Tần phẩy tay một cái, mặt vênh lên, buông thõng một câu lạnh lùng:

- Dư Tử có việc gì chăng? Không phải đến Triệu để kiếm một chức quan đấy chứ?

Trương Nghi thấy Tô Tần vô lễ, gọi cả tên cúng cơm của mình, đã giận lại càng thêm giận. Nhưng biết làm sao? Lửa giận đành nén trong lòng.

Bấy giờ thị vệ vào bẩm: Cơm trưa đã dọn.

- Để đệ chờ lâu là muốn đệ ăn cơm trong phủ. ta còn có việc muốn nói.

Thị vệ dọn cơm. Họ Trương ngồi ăn ở dưới. Tô Tần vẫn ngất nghễu ở trên. Nhưng đáng giận hơn: mân trên thì sơn hào hải vị, còn mâm dưới chỉ có rau dưa và cơm nhạt.

Nhẫn nhục đến thế là cùng! Trương Nghi những định không thèm đụng đũa. Nhưng khốn nỗi, từ sáng tới tối, từ tối đến giờ. Chưa có một hạt cơm. vào bụng, bụng cứ kêu ong ong. Hơn nữa, tiền nong còn thiếu ở quán trọ. Chỉ mong sao, dù không được quan chức, thì Tô Tần cũng nên nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ mà cho dăm, ba đồng lộ phí. Vì vậy, tuy có tức, có xấu hổ, mắt hoa cả lên, vẫn phải nín nhịn, gắng nuốt lấy vài miếng cơm rau.

Cơm nước xong xuôi, Tô Tần vẫn cứ ngất nghễu ngồi đó, chẳng thèm đếm xỉa đến ai. Trương Nghi không thể chịu được nữa, liền xông thẳng lên trên, mắng cho Tô Tần một trận"

- Ngươi là đứa tiểu nhân bạc tình bạc nghĩa. Nghĩ cảnh cùng mâm cùng bát xưa kia, xa xôi ngàn dặm, ta đến với ngươi! Nào ngờ ngươi lại làm nhục ta, không biết ngươi là giống gì thế? Chẳng trách năm đó, mẹ ngươi, vợ ngươi đều thờ ơ với ngươi! Ngươi chẳng phải là một chính nhân quân tử, chỉ là một kẻ tiểu nhân, thấy lợi đã lóa mắt!

- Tô Tần cười nhạt:

- Dư Tử, ngươi thường tự phụ là có tài thiên kinh vạn quyển kia mà! Không phải vì ta không có cách giúp ngươi, mà chỉ vì ngươi khó dùng quá!

- Trương Nghi phẫn nộ:

- Ngươi xem thường ta quá đấy? Đường đường một đáng nam nhi, việc gì ta phải nhờ ngươi?

- Đúng đấy! Ngươi sức dài vai rộng, hà tất phải chạy đến đây để kiếm miếng cơm! Nghĩ lại tình xưa, ta giúp ngươi một món tiền, liệu mà đi tìm cửa khác!

Giọng điệu của Tô Tần thật quá lạnh lùng! Trương Nghi ném cả mớ tiền xuống đất, rồi nói:

- Người quân tử dễ gì chịu nhận cơm rơi, cơm vãi!

Trương Nghi quay về quán trọ. Chủ quán tôn kính lên tiếng hỏi:

- Hôm nay tiên sinh gặp tướng quốc, nhất định kiếm được một chức quan rồi?

Trương Nghi mắng luôn:

- Đừng nhắc tới nó nữa! Đồ tiểu nhân ác độc!

Chủ quán không tài nào hiểu được, liền nói:

- Có lẽ tiên sinh đã nhầm ai rồi?

- Không! Lòng người thật khó lường!

Trương Nghi kể lại mọi chuyện với chủ quán. Chủ quán nói:

- Lòng người thay đổi cũng là chuyện thường tình! Nhưng kể ra thì ngài cũng quá nóng. Ít ra cũng nên cầm số tiền đó về thanh toán cho đệ mới phải. Còn bây giờ thì sao đây? Ngài không thanh toán được nợ thì quán đệ lấy gì mà tiếp tục...

Đúng lúc Trương Nghi đang vô kế khả thi thì Tất Thành xuất hiện, nói:

- Không biết ngài đã gặp được tướng quốc chưa? Mấy hôm nay bỉ nhân quá bận, chưa có dịp đến thăm.

- Tô Tần là kẻ tiểu nhân vô tình vô nghĩa. Trương mỗ đây, bực là chưa thể ăn tươi nuốt sống được hắn cho bõ hận này.

Trương Nghi lại kể từ đầu chí cuối câu chuyện gặp mặt Tô Tần.

- Thực không thể hiểu nổi. Đã vậy để đệ thanh toán mọi thứ tiền cho chủ quán, rồi thuê một chiếc xe khác đưa ngài về nước Ngụy được không?

- Không! Ta phải sang nước Tần.

Trương Nghi kiên quyết nói như vậy. Tất Thành hỏi:

- Chẳng nhẽ ngài cũng có bạn học là quan to ở đó?

- Không phải! Tần là một nước lớn, có sức mạnh đánh nước Triệu. Nếu ta được Tần trọng dụng thì việc đầu tiên ta khuyên Tần thôn tính Triệu, báo thù Tô Tần.

Tất Thành chỉ ra một số tiền lớn, cuối cùng Trương Nghi đã có chỗ đứng trong chính giới ở Tần. Lúc Trương Nghi tạ ơn Tất Thành, Thành mới cho biết tất cả đều có sự sắp đặt của tướng quốc Tô Tần.

Tuy trước kia Trương Nghi có nói, một khi có mặt ở nước Tần thì không bao giờ phá hoại hiệp nghị của Tô Tần. Nhưng để lập công dựng nghiệp, có điều gì người trượng phu không làm? Huống hồ, Trương Nghi còn cho rằng phương pháp kích tướng của Tô Tần chẳng vẻ vang chút nào, thậm chí còn làm nhục ông ta.

3. CẦM ĐƯỢC ẤN TƯỚNG SÁU NƯỚC VÌ KHÉO NÓI

Cũng là nói, nhưng nói thế nào mới là học vấn uyên thâm! Có người nói nhưng chưa chắc chất lượng đã cao, không thể làm cho người khác tươi mày nở mặt, ngược lại, gây cho họ những ác cảm, vì thế mới bị gạt, bị giáng chức. Bởi vậy, nói nhiều chưa chắc đã hay, mà phải biết nói, nói cho khéo, cho kín kẽ mới thực sự là cao thủ.

Tô Tần thời Chiến Quốc không những chỉ nói, mà khéo nói, có tài hùng biện, một thời ngang dọc nhờ tiếng nói của mình. Tài hùng biện của Tô Tần được lưu truyền thiên cổ, đời sau lấy làm ngưỡng mộ. Vào thời Chiến Quốc, Tô Tần nhờ ba tấc lưỡi, một tay cầm ấn tướng sáu nước lập liên minh chống Tần. Tô Tần đưa nghệ thuật nói lên tới một đỉnh cao.

Thời Chiến Quốc, nước Tần mạnh nhất, đã mấy lần xâm phạm nước khác, được gọi là "nước lang sói". Nhà chính trị Tô Tần quyết định, bằng vào tài ăn nói và trí tuệ của mình, liên hệ với sáu nước Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy tổ chức thành một mặt trận chống lại sự xâm lược của nước Tần.

Vì sao Tô Tần lại hận thù nước Tần như vậy ?

Là một nhà chính trị, đương nhiên Tô Tần muốn tìm về một minh chủ, hòng xây dựng nghiệp lớn. Lúc đầu, Tô Tần chọn nước Tần là nơi để mình thi thố tài năng. Vào đến Tần vừa lúc Tần Huệ Vương giết Thương Ưởng, và không thích những văn nhân học sĩ đi du thuyết khắp nơi, lấy cớ đang có việc riêng, nên Tô Tần không được trọng dụng, uổng cả công sức.

Ban đầu, Tô Tần lấy chủ trương "Liên hoành" để du thuyết Tần Huệ Vương. "Liên hoành" là một liên minh giữa nước Tần ở phía tây và các nước thuộc đông Thái Hàng Sơn, nhằm tấn công các nước khác. Đó là sách lược phân hóa sáu nước, buộc họ phải phục tùng nước Tần. Rất tiếc, Tần Huệ Vương chưa tiếp nhận kế sách đó. Cuối cùng, Tô Tần đành vứt bỏ "Hoành" mà chuyển sang "Hợp tung". Đó là hai chủ trương đối lập, phản ánh trình độ chính trị không vững vàng của Tô Tần, nhưng cũng chỉ rõ Tô Tần là người rất thông minh.

Tô Tần đến nước Tần với hoài bão chính trị lớn lao. Bằng tài hoa của mình, Tô Tần định thuyết phục Tần Huệ Vương dùng chiến lược "Liên hoành" làm tan rã sáu quốc gia khác, hoàn thành đại nghiệp thống nhất cả nước.

Tô Tần nói với Tần Huệ Vương:

- Đại vương, phía tây nước Tần có tài nguyên phong phú của Ba, Thục, Hán Trung; bắc có thể lợi dụng Hồ Lạc, Đại Mã; miền nam có thiên nhiên hiểm trở Vu Sơn, Kiểm Trung làm bức bình phong che chắn; đông có sự vững chắc Hào Sơn cửa Hàm Cốc, tất cả đều là điều kiện thiên nhiên giúp đại vương hoàn thành nghiệp bá. Hơn nữa, nước Tần đất đai màu mỡ, trăm họ sung túc, bình xa tham chiến trên vạn cỗ, binh sĩ dũng cảm, thiện chinh thạo chiến có hàng trăm vạn. Địa lý, hình thế hiểm yếu, dễ công dễ thủ. Như người ta nói: nước Tần là một thiên đường, điều kiện tự nhiên ưu việt, vị trí địa lý hiểm yếu, sản vật phong phú, một quốc gia hùng mạnh nhất trong thiên hạ. Đại vương tôn quí, bằng vào sự hiền minh trí tuệ của ngài, trăm vạn đại quân đều am hiểu binh pháp, dũng mãnh, đồng lòng nhất trí xung quanh ngài, ngài hoàn toàn có thể thôn tính các nước, thống nhất toàn quốc, xưng đế trị vì thiên hạ. Đây là cơ hội trời cho, đại vương cho thần thêm một ít thời gian, thần sẽ chỉ ra những thành quả to lớn biết chừng nào ?

Tô Tần vạch rõ từ đầu chí cuối những lý do chín muồi để Tần vương lên làm hoàng đế, những kiến thức đó hết sức chính xác, phi phàm, tiếc là Huệ Vương không hiểu được Tô Tần, nếu không, công lao thống nhất đất nước không thể rơi vào tay Tần Thủy Hoàng.

Tần Huệ Vương vốn ghét những phần tử tri thức như loại Thương Ưởng. Vì vậy, ông ta phản bác ngay sau khi nghe lời nói của Tô Tần:

- Ta nghe nói, chim kia lông cánh chưa đủ dài, đủ rộng thì chưa thể bay cao; phép tắc, lễ nghĩa chưa hoàn bị thì không nên dùng hình phạt; ân đức chưa đủ, tưới rải chưa đều thì không nên làm trăm họ vất vả, nền chính trị giáo hóa chưa sáng tỏ, thì chưa nên liên lụy đến đại thần. Ngày nay Tô Tần tiên sinh vừa từ xa ngàn dặm đến nước Tần, trước triều đình từng cho ta biết những điều hơn lẽ thiệt, ta cảm thấy thẹn thùng, nên sau này sẽ bàn tiếp vậy!

Tần Huệ Vương dùng những lời dối trá như thật để bịt miệng Tô Tần. Nhưng không phải vì thế mà Tô Tần thối chí, ngược lại đem nhiều sự thực để chứng minh cho lời nói của mình, Tô Tần nói tiếp:

- Thần vốn hoài nghi đại vương sẽ không thu nạp những chủ trương của thần. Nhưng đại vương đừng quên rằng, xưa kia Thần Nông đánh Bổ Toại, Hạ Vũ đánh Cộng Công, Thương Thang đánh Hạ Kiệt, Chu Văn Vương đánh Đại Sùng Hầu Hổ, Chu Vũ Vương đánh Thương Trụ, Tề Hoàn công qua chiến tranh trở thành bá chủ, ai ai cũng phải dùng đến chiến tranh. Thời cổ, xe của các sứ giả ngoại giao đi lại nườm nượp, liên kết với nhau bằng lời nói, thiên hạ thống nhất thành một thể. Ngày nay bàn tới hợp tung, nói tới liên hoành, không có nghĩa là loại bỏ yếu tố vũ khí; hơn nữa, bọn văn nhân giỏi mồm khéo nói, dùng những lời lẽ đường mật mê hoặc các nước chư hầu. Bởi vậy, chuyện gì đáng xẩy ra đã xẩy ra, đạo lý ngàn năm đã thay đổi. Văn bản pháp luật cứ hoàn thiện, thực thực giả giả, trăm họ khó mà lần ra; qui chế pháp qui càng nhiều thì dân càng khổ, trên dưới rầu rĩ, nhân dân không còn đường sống. Lời nói càng hay, đạo lý càng đẹp thì chiến tranh càng nhiều. Các biện sĩ giỏi nói hay thì quần áo tế chỉnh bôn ba đây đó, nhưng chiến tranh vẫn cứ thế, chẳng chịu dừng, thiên hạ chẳng được một ngày nào yên. Người nói thì miệng đã mỏi, người nghe đau cả tai nhưng chẳng có một chút thành công nào. Thực hành đạo nghĩa, đề cao lòng tin, nhưng thiên hạ thì cứ xa cách dần. Bởi vậy cần vứt bỏ văn từ, đề cao vũ lực, báo đáp hậu hĩnh những chiến sĩ dũng cảm, mang áo giáp cho tốt, mài dao kiếm cho sắc, quyết phân thắng bại nơi chiến trường. Có như vậy mới hoàn thành được sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Không làm gì cả mà muốn có lợi ích, ngồi yên bất động lại muốn mở rộng đất đai; ngay cả các Tam Hoàng, Ngũ Đế, Ngũ Bá cùng các minh chủ hiền quân thời cổ cũng đều muốn tọa hưởng kỳ thành, nhưng đâu có được. Cuối cùng cũng phải đánh nhau mà giành lấy cái cần thiết. Xa thì bày thế trận hai quân đối địch, gần thì quân bộ hai bên đánh giáp lá cà, như thế mới lập được công lớn. Là vua một nước, có đánh thắng được bên ngoài thì chính nghĩa bên trong mới được vun đắp, danh vọng mới tỏa ra bốn biển, trăm họ mới phục tùng, nghe theo. Ngày nay đại vương muốn thôn tính thiên hạ, ngự giá khắp nơi, chinh phục nước địch, ổn định trong nước, vỗ về trăm họ, thần phục chư hầu, mà bỏ vũ khí thì tuyệt đối không được.

Nhiều vua các nước đã xem nhẹ đạo lý quan trọng bậc nhất này, đều không biết rằng phải dựa vào đâu để thống nhất đất nước, càng không hiểu việc trị nước, bị những lời đường mật làm cho mê hoặc. Xem thế thì biết, đại vương vốn không muốn thu nạp những chủ trương của thần.

Mặc dù những lời lẽ của Tô Tần là hết sức xác đáng, nhưng đều không được Tần Huệ Vương tiếp nhận. Tô Tần còn tiếp tục dâng thư lên Tần Huệ Vương mười lần nữa, nhưng Huệ Vương đều bỏ ngoài tai.

Chiếc áo da con báo đen Tô Tần mặc đã rách, tiền dùng đã hết, Tô Tần quảy gánh, lưng đeo giá sách, chân bọc vải thô, đi đôi giầy cỏ mà rời nước Tần, hằn học trở lại quê nhà. Tô Tần gầy hẳn đi, sắc mặt đen nhẻm, trông như người mất hồn.

Người vợ vẫn ngồi trên khung cửi. Chị dâu cũng không đi nấu cơm, người mẹ cũng chẳng hỏi han một câu nào. Tô Tần liền than rằng: "Vợ không nhận chồng, chị dâu không nhận em, mẹ quên cả con, ôi, tất cả là vì ta sai lầm!"

Tô Tần vững tin rằng với năng lực biện giải của mình thì nhất định sẽ có công danh phú quý. Họ Tô đọc sách thâu đêm, trong mấy chục thư tịch, tìm ra bộ Thái công âm phù binh pháp, và ngấu nghiến đọc ngay. Tô Tần tìm ra những điều quan trọng, mang ý nghĩa thực tiễn rồi nghiền đi ngẫm lại. Mỗi lần buồn ngủ, lại lấy dùi tự đâm vào vế của mình, máu chảy lênh láng, cũng mặc. Tô Tần tự nhủ: "Có du khách nào không giành được chức cao lộc trọng đâu?"

Sau một năm, khi đã nắm vững đại thế thiên hạ trong tay, Tô Tần mới nói:

- Bây giờ là lúc có thể thuyết phục được quân vương các nước rồi!

Và thế là Tô Tần đã đến cửa khuyết Yên Ô, vào thẳng nơi cung điện nguy nga tráng lệ để du thuyết Triệu Túc hầu. Hai người trò chuyện thật là hợp điệu, mỗi lần có chỗ nào thú vị lại nghe tiếng vỗ tay đôm đốp. Triệu vương cảm động vì những lời nói của Tô Tần, liền phong ông là Võ An Quân, cầm ấn tướng. Đồng thời còn ban cho binh xa vạn cỗ, gấm vóc ngàn bó, trăm đôi bạch bích, và hai mươi vạn lạng vàng, để Tô Tần đi liên minh sáu nước, phá vỡ thế liên hoành, khống chế nước Tần cường bạo.

Sau khi Tô Tần làm tướng quốc nước Triệu, nước Tần thông qua cửa Hàm Cốc, đã đoạn tuyệt quan hệ với các nước chư hầu. Trong thời gian đó, nhờ vào thế lớn trong thiên hạ, được trăm họ ủng hộ, kế sách của Tô Tần ảnh hưởng lớn đến uy phong của vương hầu, quyền biến của mưu thần. Và cứ như vậy, lương thực không mất, binh khí không tốn, không bị gãy một cánh cung, không bị bẻ một mũi tên mà sáu nước chư hầu tương thân tương ái còn hơn cả anh em.

Tô Tần được thế, tung hoành trong thiên hạ, đến các nước du thuyết chư hầu, lũ thân tín của các quân vương đều phải im hơi lặng tiếng, thiên hạ không có một ai dám ra cùng tranh luận. Ngay như Mạnh Thường Quân nổi tiếng ở nước Tề, cũng chỉ vì mấy câu nói của Tô Tần mà bỏ hẳn ý định chạy sang nước Tần.

Câu chuyện là thế này:

- Mạnh Thường Quân nước Tề có rất nhiều môn khách thuộc loại nổi danh thiên hạ. Một hôm, Tần Huệ Vương cùng Hà Thọ nhắc đến Mạnh Thường Quân. Huệ vương nói:

- Mạnh Thường Quân là bậc hiền năng. Nước Tần có được ông ta thì quý biết mấy!

Hà Thọ nói:

- Việc đó không khó lắm đâu. Đại vương cứ cho người em của mình sang làm con tin ở Tề, thì Mạnh Thường Quân sẽ đến Tần ngay.

Tần vương liền cho em mình là Kinh Dương Quân sang nước Tề. Mạnh Thường Quân và Kinh Dương Quân vừa thấy nhau đã buồn vì gặp nhau hơi muộn! Sau mấy hôm, đã thể thốt để trở thành những người bạn tốt nhất trên đời. Mạnh Thường Quân bực vì không được đến ngay nước Tần. Phần lớn các môn khách đều cho rằng Tần là nước lang sói, đến Tần thì hậu quả khôn lường. Nhưng Mạnh Thường Quân đã bị Kinh Dương Quân mê hoặc, cứ nhất quyết ra đi. Đang lúc gây cấn như vậy, thì vừa khéo Tô Tần đi du thuyết ở Tề. Tô Tần nói với Mạnh Thường Quân:

- Ban sáng, lúc đến đây ta nghe tượng gỗ đang đấu khẩu với tượng đất. Tiên sinh có biết chúng nói gì không ?

Tượng gỗ xem thường tượng đất, nói rằng:

- Bác có ghê gớm gì đâu! Gặp một trận mưa thì biến thành bùn, chẳng còn là gì nữa cả!?

Tượng đất nói:

- Ừ thì ta vốn từ đất bùn mà nên. Mưa to lại trở thành bùn, có gì mà phải bàn luận? Đó chính là lúc ta trở lại quê nhà, chứ có gì to tát lắm đâu? Còn đằng ấy từ gỗ mà ra, gặp một trận mưa to là bắt đầu trôi nổi. Nhưng trôi về đâu thì chẳng ai biết!? Có lẽ đằng ấy nên xem lại thân phận của mình thì hơn?

Tô Tần nói:

- Tần là nước lang sói. Nếu bỏ ngoài tai những lời khuyên của môn khách, tiên sinh cứ ra đi, nếu một mai không có lối về, thì hóa ra chẳng khác gì bức tượng gỗ kia sao. Tiên sinh nên suy nghĩ kỹ!

Mạnh Thường Quân nghe Tô Tần nói mà toát cả mồ hôi, liền bỏ luôn ý định sang Tần.

Yên là nước láng giềng của Triệu, là đối tượng "liên hoành" đầu tiên của Tô Tần. Tô Tần lên bắc, sang nước Yên.

Yên Văn công đang ra ngoài, nghe tin Tô Tần đến thì mừng rỡ, lập tức về triều hòng được nghe kế sách.

Tô Tần nói:

- Nước Yên của đại vương vào hàng mạnh trong các nước chư hầu. Đất rộng hàng vài ngàn dặm, binh sĩ hàng mấy chục vạn, binh xa sáu trăm cỗ, chiến mã sáu ngàn con. Đạt được một phần cả Trung Nguyên! Đến nước Yên không thấy có binh khí cùng tiếng vó ngựa của chiến tranh. Không có cảnh ngổn ngang nơi chiến trường đầy xác chết. Trăm họ đều được an cư, lạc nghiệp. Đại vương có hiểu vì sao lại như vậy không?

Yên Văn công trả lời không biết!

Tô Tần nói tiếp:

- Nước ngài không gặp phải cảnh chiến tranh tàn phá, vì trước mặt có nước Triệu là chiếc bình phong che chắn. Vì không hiểu nên đại vương mới bỏ gần mà thân xa, không đoàn kết thân thiết với nước láng giềng, lại đi cắt đất cầu hòa với nước Tần ở tít tận đâu! Lẽ nào ngài chưa từng nghe câu nói "môi hở răng lạnh". Một khi nước Triệu bị thôn tính thì lúc đó, dù có đưa cả đất nước dâng cho Tần thì liệu vua Tần có để cho ngài sống hay không?

Yên Văn công hỏi:

- Vậy thì, theo ý tiên sinh nên làm thế nào?

Tô Tần nói:

- Ngài nên lập đồng minh về quân sự với nước Triệu, sau đó mở rộng ra với các nước khác, mọi người cùng đồng tâm hiệp lực chống lại nước Tần tàn bạo. Gìn giữ hòa bình cho hàng trăm năm sau.

Yên Văn công nói:

- Tiên sinh giữ hòa bình cho nước Yên bằng phương thức "hợp tung", ta đồng ý lắm! Nhưng không rõ các chư hầu khác ý kiến thế nào?

Tô Tần nói:

- Bỉ nhân tuy tài hèn sức mọn, nhưng vì an ninh của thiên hạ mà quyết bươn chải một phen, nguyện hoàn thành kế hoạch hợp tung của mình.

Yên Văn công vô cùng mừng rỡ, đem tặng Tô Tần rất nhiều tiền bạc.

Tô Tần rời nước Yên, chuẩn bị đi du thuyết nước Sở. Đường qua Lạc Dương, thì thấy cha mẹ bày tiệc rượu, ra ngoài ba mươi dặm, để nghênh đón. Người vợ không dám nhìn thẳng. Chị dâu thì quỳ dưới đất, uốn mình như con rắn để xin chịu tội. Tô Tần nói:

- Chị dâu, trước đây chị kiêu ngạo bao nhiêu thì lúc này trông chị ti tiện bấy nhiêu là cớ làm sao?

Người chị dâu ấy đáp:

- Lúc này chú có địa vị tôn quí, lại có nhiều tiền nữa!

Tô Tần cảm thán rằng: "Khi bần hàn thì ngay đến cha mẹ cũng không coi mình là con nữa. Lúc phú quí thì thân thuộc đều sợ sệt. Chẳng trách, ở trên đời này không có ai lại xem nhẹ quyền thế, địa vị và tiền bạc!"

Nhờ tài hùng biện mà Tô Tần bước tới đỉnh cao của quyền lực. Mới hay, đối với những người đương quyền thì không thể thiếu hùng biện được!

4. MƯỢN CHUYỆN XƯA NÓI CHUYỆN NAY LÀ LỐI BIỆN GIẢI THẬT CAO SIÊU

Đường Thuận Chi, tự là Ứng Đức, còn gọi là Nghĩa Tu, người Võ Tiến triều Minh, đỗ đầu khoa thi hội, năm Gia Tĩnh thứ 8; làm đến chức biên tu viện Hàn lâm, hữu giám đô uý sử, tuần phủ Phượng Dương...

Khoảng giữa những năm triều Minh đã có hiện tượng chuyên quyền trong nội các. Đối đầu với chúng, Đường Thuận Chi đã mượn chuyện người xưa để phê bình thời cuộc. Ông biện giải bằng thủ pháp nâng trước đập sau, phê bình mưu mô lén cứu Triệu của Tín Lăng quân để mổ xẻ cục diện chính trị tranh giành lẫn nhau trong chốn quan trường hồi đó.

Bề ngoài là viết về Tín Lăng quân, nhưng thực chất là nói về hiện tượng "có tướng tài, thiếu vua giỏi", quyền lực rơi vào tay người khác! Thư pháp biện giải đó tương đối kín đáo. Ông viết rằng:

Người bình luận về sử thường đem chuyện lên dùng binh phù của Ngụy vương để đổ tội cho Tín Lăng quân. Tacho rằng Tín Lăng quân không có tội. Nguyên do là nước Tần cường mạnh, quá ư là bạo ngược. Tần dốc toàn lực tấn công nước Triệu, Triệu tất diệt vong. Nước Triệu lại là chiếc bình phong của Ngụy. Triệu mất thì Ngụy cũng chẳng còn! Triệu và Ngụy lại là bình phong của mấy nước Sở, Yên, Tề. Triệu, Ngụy mất, thì mấy nước kia còn là gì được! Thiên hạ đứng trước những nguy cơ cực kỳ nguy hiểm! Bởi vậy cứu Triệu cũng là cứu Ngụy; cứu một nước tức là cứu sáu nước! Lén dùng binh phù của Ngụy vương để giải nạn cho nước Ngụy; mượn binh lực của một nước để cứu sáu nước, sao bảo là không được?

Và như vậy, đúng là Tín Lăng quân không có tội chăng? Không phải hoàn toàn như vậy. Điều mà chúng ta trách cứ Tín Lăng quân chính là cái mục đích của ông ấy.

Tín Lăng quân chỉ là một công tử. Trên tất cả, nước Ngụy còn có quốc vương, nước Triệu không thèm cầu cứu đến Ngụy vương; bởi vì nước Triệu chỉ biết có Tín Lăng quân, họ không thấy có Ngụy vương. Với quan hệ là thân gia, Bình Nguyên quân đã khích lệ Tín Lăng quân. Tín Lăng quân cũng vì duyên cớ đó mà muốn cứu ngay nước Triệu. Rõ ràng, Tín Lăng quân chỉ xuất phát từ quan hệ hồn nhân chứ không nghĩ gì đến Ngụy vương. Ông ta dùng binh phù không phải vì Ngụy, càng không phải vì sáu nước, chỉ đơn thuần là vì nước Triệu; nói cách khác, thậm chí cũng không phải vì Triệu mà chỉ vì Bình Nguyên quân. Nếu không phải Triệu mà là nước khác mắc nạn, dù Ngụyhay sáu nước mất chiếc bình phong che chắn thì chắc gìTín Lăng quân đã chịu cứu; nếu như nước Triệu không cóBình Nguyên quân, hoặc giả Bình Nguyên quân khôngphải là anh rể của Tín Lăng quân thì sao đây? Tin rằng, dù Triệu có diệt vong, Tín Lăng quân cũng sẽ không cứu!

Như vậy mới thấy, việc hệ trọng của nước Triệu không bằng một Bình Nguyên công tử!; đạo quân mà Ngụy vương chuẩn bị để giữ nước nhà trở thành đạo quân để thân tín của Tín Lăng quân sử dụng! Cũng may, trận đó thắng lợi. Nhưng nếu như nước Tần đánh tan đạo quân đó, thì chẳng hóa ra vì thân thích mà hi sinh mất giang sơn ngàn năm của nước Ngụy hay sao? Thần chưa biết lúc đó, Tín Lăng quân sẽ nói thế nào với Ngụy vương!

Kế sách lén dùng bình phù là do Hầu Sinh đề xuất và Như Cơ thi hành. Hầu Sinh bảo công tử lén dùng bình phù, thì Tín Lăng quân nên suy nghĩ chứ, chỉ bằng đưa cái tình thế môi hở răng lạnh mà khuyên Ngụy vương, nếu không xong thì đem cái quyết tâm liều chết với quân Tần mà chết ngay tại đó, thì làm gì mà Ngụy vương chẳng tỉnh ngộ! Nếu như Hầu Sinh vì Tín Lăng quân mà nghĩ, thì nên đến gặp Ngụy vương, khuyên Ngụy vương nên cứu Triệu; nếu không nghe thì đem cái tinh thần chết cho Tín Lăng quân mà chết ngay tại đó, thì làm gì Ngụy vương chẳng động lòng. Còn Như Cơ nếu có ý đền đáp Tín Lăng quân thì nên ngày đêm, cứ những lúc Ngụy vương nhàn rỗi mà khuyên nên cứu Triệu; nếu không nghe thì đem cái quyết tâm chết thay công tử mà chết trước mặt Ngụy vương thì nhất định thức tỉnh được nhà vua. Như vậy, nếu Tín Lăng quân không muốn phụ lòng nước Triệu, nước Ngụy thì saolại không chịu làm như thế? Có lẽ vì Tín Lăng quân chỉbiết có quan hệ hôn nhân với nước Triệu, không hề biết cóNgụy vương! Bên trong, từ người thiếp họ Cơ được sủngái, bên ngoài thì như nước Triệu láng giềng, xa hơn nữa là lũ người ngoài cửa Đông Môn man rợ, ti tiện, tất cả đều chỉ biết công tử, có để ý gì đến Ngụy vương! Vì sao lại như vậy? Cái chính là ở nước Ngụy chỉ có một ông vua đơn độc!

Chà! Từ khi đạo đức suy đồi đến nay, người người sao nhãng việc công, kéo bè kết đảng là chuyện thường tình, nhưng lại quên mất lòng trung tiết tháo, đạo lý ở đời. Có tể tướng quyền hành ngang dọc, nhưng lại không có một vị quân vương oai phong lẫm liệt. Có thù hận cá nhân lại thiếu mất lòng công phẫn chính đáng. Giống như người Tần chỉ biết có Nhương hầu mà chẳng nhớ có Tần vương. Các quân vương chỉ còn là vật trang trí trên lá cờ hiệu, đại quyền rơi vào tay người khác từ lâu rồi! Từ góc độ này mà xét, tội của Tín Lăng quân không chỉ ở việc dùng trộm binh phù. Nếu như mục đích của Tín Lăng quân là vì lợi ích của nước Ngụy, của sáu nước thì việc lén dùng binh phù cũng có thể cho qua được; còn nếu chỉ vì riêng nước Triệu, vì một thân thích ở nước Triệu thì dù có xin Ngụy vương binh phù, công khai có được binh phù, cũng là có tội.

Về phần Ngụy vương, không phải vì thế mà không có tội. Bình phù đã được cất kỹ, nhưng làm sao Tín Lăng quân lại lấy được? Tín Lăng quân không tính đến Ngụy vương mà cầu xin Như Cơ, rõ ràng Ngụy vương là người sơ lược.

Như Cơ không tính đến Ngụy vương, dám lấy trộm binh phù vì ỷ thế được Ngụy vương sủng ái, chẳng khác gì một loài mối đang đục ruỗng thân cây! Các vua chúa thờicổ đang lúc cầm quyền, thì trên dưới không một ai dám trông ngang trông ngửa, thất kính! Và nếu như vậy thì Tín Lăng quân đâu dám đi lại riêng tư với nước Triệu; nước Triệu đâu dám xin cứu viện riêng với Tín Lăng quân; Như Cơ cũng chẳng dám nghe theo, chẳng dám nói chuyện ân đức với Tín Lăng quân. Chân dẫm trên sương mà biết được mùa đông lạnh lẽo sắp về, khả năng đó đâu phải một sớm một chiều mà có được? Xét từ đó, thì không hiểu rằng mọi người quên mất Ngụy vương hay Ngụy vương tự nguyện làm vật trang trí trên lá cờ hiệu?

Vì vậy, Tín Lăng quân là một thần tử đang lo thu vén quyền thế riêng tư, còn Ngụy vương là một vị quân chủ đang mất dần quyền thế!

5. DẮT DẪN TỪ TỪ

Cúng tế là một hoạt động quan trọng nơi quan trường thời cổ, nhằm thể hiện thực lực của đất nước, quyền uy của các bậc vua chúa. Vì vậy, những người cầm quyền thời cổ rất coi trọng hoạt động này.

Đại phu Tang Văn Trọng người nước Lỗ bảo dân chúng cúng tế một con chim biển gọi là "viên cư". Đó là chuyện hoang đường, nhưng vì Tang Văn Trọng có thế lực, nên không ai phản đối.

Triển Cẩm không tin tà ma, liền có bài nghị luận, cho rằng cúng tế là việc lớn của nhà nước, chỉ có những người lập công trạng vì dân vì nước, hoặc những sự vật hết sức có lợi mới được cúng tế, coi là thần thánh.

Triển Cẩm nói:

- Tang Tôn vi phạm điều lễ tiết trong chính sự! Cúng tế là một chế độ quan trọng của đất nước, chế độ có tốt thì chính sự mới tốt... Vì vậy, khi định ra chế độ cúng tế phải hết sức thận trọng. Ngày nay vô duyên vô cớ lại tăng thêm những ngày tế lễ. Đó là việc không nên làm.

"Thánh vương bày đặt ra những ngày lễ; phàm người lập pháp có lợi cho dân thì cúng tế họ; gian nan, vất vả vì sự nghiệp mà qua đời thì cúng tế họ; người phấn đấu gian khổ cho sự bình yên của đất nước thì cúng tế họ; người có thể ngăn cản được tai họa nảy sinh thì cúng tế họ. Xưa kia, khi Liệt Sơn thị nắm quyền thiên hạ, con cháu đời sau có người tên là Trụ có thể gieo trồng cây ngũ cốc và các giống rau; khi nhà Hạ nổi lên, Chu Khí kế tục sự nghiệp đó, vì thế sau này cúng ông ta là Thần Cốc. Khi Cộng Công thị xưng bá ở Cửu Châu, người con sau này gọi là Hậu Thổ, bình trị được vùng đất Cửu Châu, về sau mới cúng tế ông ta là thổ thần. Một người có tên là Hoàng Đế đặt tên cho vạn vật, trăm họ cứ thế mà theo. Chuyên Húc4 tiếp tục sự nghiệp của Hoàng Đế; Đế Khốc biết căn cứ vào nhật nguyệt, tinh tú lập nên trật tự, trăm họ được yên vui; Nghiêu ra sức đưa luật pháp công bằng cho dân, người người đều hướng thiện; Thuấn vất vả vì dân mà chết ở bên ngoài; Cổn5 dùng phương pháp bịt lỗ để ngăn nước lũ mà chết; Vũ tiếp tục hoàn thành sự nghiệp của Cổn bằng chính đức hạnh của mình; Khiết làm tư đồ thì trăm họ vui vẻ; Minh tận trung với chức trách mà bỏ mình dướinước; Thượng Thang dùng chính sách khoan hồng cai trị trăm họ mà bỏ được lòng tà ác; Tắc cần mẫn gieo trồng ngũ cốc mà ở trên núi; Văn vương nổi tiếng vì văn đức; Vũ vương diệt Thương Trụ, trừ họa cho trăm họ. Bởi vậy có Ngu thị báo tế Hoàng Đế, tổ tế Chuyên Húc, hiệu tế Nghiêu, tông tế Thuấn; đời sau của Hạ, đế tế6 Hoàng Đế, tổ tế Chuyên Húc, hiệu tế Cổn, tông tế Vũ; người Thương, đế tế Thuấn, tổ tế Kiết. hiệu tế Minh, tông tế Thang; người Chu, đế tế Đế Khốc. Hiệu tế Hậu Tắc, tổ tế Văn vương, tông tế Võ Sĩ. Mạc là người tuân theo nghiệp đức của Chuyên Húc, nên có Ngu thị báo tế ông ta; Nanh là người tuân theo nghiệp đức của Vũ, vì thế đời sau của Hạ báo tế ông ta; Thượng Giáp Vì là người tuân theo nghiệp đức của Khiết, nên người Thương báo tế ông ta; Cao Quốc, Thái Vương là người tuân theo nghiệp đức của Tắc, bởi vậy người Chu báo tế ông ta. Như vậy, đế tế, hiệu tế, tổ tế, tông tế và báo tế là năm thể thức cúng tế của nhà nước đối với thần linh của sơn hà xã tắc, có công trạng đối với nhân dân; hoặc là những người trước kia hiền triết có đức độ được nhân dân tôn sùng, thành tín, chẳng khác gì nhật, nguyệt, tỉnh tú trên trời, nhân dân hằng ngưỡng vọng; hay như kim, mộc, thủy, hỏa, thổ ở dưới đất, là nguồn sống của mọi người; núi dài sông rộng của Cửu Châu có thể sinh ra mọi nguồn của cải cho cuộc đời. Ngoài ra những cái khác, đều không nằm trong qui chế của việc cúng tế.

Ngày nay do thiếu nhận thức, cúng tế cả những con chim biển, coi là đại lễ của đất nước thì quả là hết nhânái, thiếu trí tuệ! Người có lòng nhân ái là người biết coi trọng công đức; người có trí tuệ phải biết suy nghĩ tìm ra phương pháp xử lý sự vật. Cúng tế người không có công đức là bất nhân; không biết lại không hỏi là thiếu trí tuệ. Ngày nay chỉ sợ biển cả cũng nổi giận mất? Những chú chim biển trong nước to sóng lớn thường vẫn biết cách tránh khỏi tai họa.

Năm đó, biển cả nổi gió, mùa đông trở lại hiền hòa. Tang Văn Trọng nghe Liễu Hạ Quý nói, liền bảo:

- Ta quả thực là nhầm lẫn! Lời Quý Tử nói không thể không theo.

Nói đoạn, liền cho ghi chép những lời đó vào thanh trúc, tất cả là ba thanh.

6. NHỜ MỘT KẾ NHỎ MÀ THOÁT CHẾT!

Trương Nghi quyết chí phá hoại liên minh hợp tung giữa sáu nước của Tô Tần.

Bấy giờ, quan hệ giữa Tề và Sở vô cùng thắm thiết. Liên minh hai quân Tề, Sở đã từng đánh bại quân Tần, cướp được một mảnh đất mầu mỡ của Tần. Tần vương rất muốn phá vỡ liên minh Tề, Sở, nên nói với Trương Nghi.

- Trương tiên sinh, ngài thường nói rằng cần phải phá vỡ hợp tung của sáu nước, ngày nay quan hệ hai nước Tề. Sở thật là gắn bó, liệu có cách gì làm cho họ từ thân thành thù đây?

Trương Nghi nói:

- Điều đó hết sức đơn giản!

Tần vương hỏi:

- Ngài có cao kiến gì?

Trương Nghi nói:

- Lợi ích là yếu tố chủ đạo trong bất kỳ một liên minh nào! Có lợi thì hợp, hết lợi thì tan. Bằng cái miệng này, thần xin đến Sở, bảo đảm là Tề, Sở sẽ tuyệt giao.

Tần vương liền sai Trương Nghi đi sứ nước Sở.

Trương Nghi biết Sở Hoài Vương có một đại thần là Cận Thượng. Người này được nhà vua ân sủng vô cùng. Sở Hoài Vương nghe tất cả những gì mà Cận Thượng nói. Vào đến Sở, Trương Nghi cho xuất một khoản gọi là "chi phí ngoại giao", vàng và bạc mua gọn được Cận Thượng, sau đó mới đến gặp Sở Hoài Vương.

Vua Sở thấy Trương Nghi thì mừng rỡ nói:

- Ngài đến nước Sở ta có việc gì quan trọng không?

Trương Nghi nói:

- Tần vương ủy thác thần đến Sở vì hòa bình của hai nước, mong rằng Tần, Sở cùng bãi binh, hai nước hòa hảo!

- Biết nói thế nào nhỉ? - Sở Hoài Vương nói tiếp: - Mấy lần nước Tần xâm phạm biên giới của ta, hòng thôn tính Sở. Như vậy liệu liên minh có thành được không?

Trương Nghi nói:

- Đại vương biết một mà chưa biết hai - Tần Sở hai nước bang giao từ lâu, từ trong lịch sử xa xưa đã từng chung sống hòa bình với nhau. Ngày nay hai nước tiếp tục truyền thống đó thì chỉ có lợi mà thôi! Đại vương không biết, cũng chỉ tại bởi nước Tề, nước Tần mới phải cất quân xâm phạm nước Sở.

Sở Hoài Vương hỏi:

- Sao lại phải dắt dây tới nước Tề làm gì?

Trương Nghi nói:

- Tần vương vốn ghét nước Tề, vì từ lâu Tề đã có dã tâm lang sói muốn thôn tính thiên hạ. Vừa qua, Sở lại liên minh với Tề cùng nhau đánh Tần. Nếu đại vương đồng ý, thần nguyện làm trung gian, nối lại quan hệ liên minh giữa hai nước Tần, Sở ngay lập tức!

Sở Hoài Vương lại hỏi:

- Chung sống hòa bình, ta rất tán thành. Nhưng như thế có lợi lộc gì cho nước Sở không?

Trương Nghi trả lời rất nghiêm chỉnh:

- Thần Trương Nghi tình nguyện vất vả vì nước Sở! Theo chỗ thần biết, chỉ cần Sở tuyệt giao với Tề thì nước Tần nguyện dâng ngay cho Sở sáu trăm dặm đất vùng Thương, Vu.

Nghe nói có tới sáu trăm dặm đất, vua Sở đã ngẩn người. Ông ta giương tròn mắt, hỏi:

- Đúng như vậy chứ?

Trương Nghi nói:

- Đâu phải chuyện nói chơi! Đại vương nghĩ xem, một là: nước Tề mất sự ủng hộ của Sở thì lập tức sẽ suy yếu ngay, Sở đỡ đi một đối thủ cạnh tranh. Thứ hai: uy vọng nước Sở trong các nước chư hầu tăng lên nhanh. Thứ ba: một mũi tên trúng ba mục tiêu, lẽ nào đại vương lại nhắm mắt làm ngơ?

Sở Hoài Vương nghe xong lấy làm sung sướng vô cùng. Sai thưởng hậu cho Trương Nghi những hai trăm lạng vàng; chuẩn bị cho tuyệt giao với Tề. Văn võ triều đình vui lây, chúc mừng Sở Hoài Vương. Chỉ có Khuất Nguyên là phản đối, nói:

- Tần là nước lang sói. Trương Nghi là kẻ du thuyết không đáng tin! Đừng bao giờ đại vương tuyệt giao với nước Tề.

Bấy giờ Sở Hoài Vương tuy nhanh nhẹn nhưng đã hôn mê cả đầu óc, không chịu nghe lời nói của Khuất Nguyên. Khuất Nguyên đành phải tìm cách nói nhỏ với Sở Hoài Vương:

- Lúc này đại vương chưa nên tuyệt giao với Tề. Hãy sai người đến Tần lấy cho được sáu trăm dặm đất Thương, Vu đi đã. Được đất rồi thì tuyệt giao với Tề cũng chưa muộn. Nếu không có đất mà đã tuyệt giao với Tề thì nguy hiểm lắm!

Sở Hoài Vương ngẫm nghĩ rồi nói:

- Kế sách của Khuất đại phu thật là vẹn toàn! Cứ thế mà làm.

Cận Thượng mật báo kế hoạch của Khuất Nguyên với Trương Nghi - Nghi kinh hãi, thầm nghĩ: Khuất Nguyên quả là lợi hại. Không trừ bỏ được người này, thì đại nghiệp của Tần thật khó mà hoàn thành.

Sở Hoài Vương chưa tuyệt giao với nước Tề vội, mà sai Phùng Hầu Sửu cùng Trương Nghi sang Tần nhận đất phong đã. Trương Nghi giả đò không biết gì cả, trên suốt chặng đường cứ trò chuyện nhăng cuội hoặc uống rượu, ngâm thơ với Phùng Hầu Sửu. Vào đến Tần thì Phùng Hầu Sửu đã coi Trương Nghi như người bạn tri kỷ của mình. Lúc đến Hàm Dương, Trương Nghi giả vờ say rượu ngã xe, sai tùy tòng dìu đến y viện, bảo Phùng Hầu Sửu tạm nghỉ tại quán dịch, chờ khi khỏi bệnh mới cùng gặp Tần vương. Đồng thời, Trương Nghi sai người ngầm báo cho Tần vương cứ y kế mà làm.

Trương Nghi trốn biệt. Đã mấy lần Phùng Hầu Sửu đến thăm nhưng vẫn cửa đóng then cài. Lại không có người đưa đi ra mắt Tần vương. Cứ thế, hai tháng trôi qua, Phùng Hầu Sửu chờ đợi ở Hàm Dương! Cực chẳng đã,. Phùng Hầu Sửu đành phải dâng sớ lên Tần vương, kể rõ việc Trương Nghi hứa cắt đất liên minh, Tần vương xem sớ, lập tức triệu kiến và nói:

- Nếu Trương Nghi tiên sinh đã hứa thì quả nhân sẽ làm! Nhưng ta nghe nói nước Sở chưa tuyệt giao với nước Tề. Nước Tần không thể mất trắng sáu trăm dặm đất như vậy được, trừ phi có Trương Nghi đến đây tâu rõ, nếu không ta làm sao mà tin được!

Phùng Hầu Sửu quay ra đi tìm Trương Nghi. Một tháng nữa trôi qua. Trương Nghi vẫn biệt vô âm tín. Phùng Hầu Sửu đành phải cho người về kể hết mọi chuyện với Sở vương. Từ lâu, vì lòng thàm muốn có ngay sáu trăm dặm đất, nên Sở Hoài Vương đã gạt bỏ lời trung của Khuất Nguyên, sai Tông Vương cùng một số dũng sĩ đến biên giới nước Tề réo tên Tề Mẫn Vương mà chửi. Tề Mẫn Vương giận quá liền tuyệt giao với nước Sở; cử sứ giả cầu hòa với Tần, hòng cùng Tần đánh chiếm nước Sở.

Trương Nghi nghe tin sứ thần nước Tề đến Hàm Dương biết rằng mọi việc đã thành công, nên tuyên bố vào triều. Trên đường lại gặp Phùng Hầu Sửu, Nghi giả bộ kinh ngạc, hỏi luôn:

- Phùng huynh chưa trở về nước Sở? Đã nhận được đất chưa?

Phùng Hầu Sửu trả lời:

- Còn phải nhờ Trương tiên sinh giúp đỡ rất nhiều. Tần vương chờ tiên sinh về triều mới quyết định. Lúc này tiên sinh đã khỏe, xin bẩm báo với Tần vương ngay để Người cho phân chia địa giới, hạ thần còn kịp về nói lại với Sở vương.

Trương Nghi nói:

- Việc này ta đã nói là xong, hà tất còn làm phiền đến Tần vương! Nay đã như vậy, hai ta cùng đi gặp Tần vương thôi!

Gặp mặt Tần vương, Phùng Hầu Sửu lại nói tới sáu trăm dặm đất ở vùng Thương, Vu. Trương Nghi giả bộ kinh ngạc nói:

- Phùng tiên sinh nhầm rồi. Đất mà đệ hẹn với Sở vương là sáu dặm đất phong của đệ, chứ làm gì có sáu trăm dặm đất ở Thương, Vu.

Phùng Hầu Sửu đỏ mặt, gân cổ lên cãi:

- Bỉ nhân vâng lệnh Sở vương đến nhận sáu trăm dặm đất ở Thương, Vu. Đâu phải chỉ là sáu dặm đất phong của tiên sinh.

Trương Nghi bật cười thành tiếng, nói:

- Xin Phùng huynh đừng nóng. Nhất định là Sở vương già cả, tai điếc, nghe nhầm con số. Mỗi tấc đất ở đây đều nhuốm đầy máu binh lính nước Tần, sao lại dễ dàng cho không người khác như vậy!? Chỗ đất ngài nói là sáu trăm dặm, ngay cả khi Tần vương nhất trí thì tin rằng người nước Tần cũng không chịu.

Lúc này Phùng Hầu Sửu mới biết đã trúng kế gian của Trương Nghi. Nhưng ván đã đóng thuyền, còn làm sao được! Hầu Sửu vội vã về Sở báo lại mọi chuyện với Sở vương. Vua Sở bực tức vô cùng:

- Trương Nghi là kẻ tiểu nhân phản phúc vô thường. Lần sau, hễ gặp là giết luôn.

Sở Hoài vương ra lệnh đem quân đi đánh nước Tần.

Nước Tần điều binh khiển tướng đánh tan quân Sở ở lưu vực Đan Giang và Triết Xuyên, giết chết hơn tám vạn quân Sở, cướp đất Hán Trung. Bấy giờ hai nước Hàn, Ngụy cũng nhờ gió bẻ măng, thừa cơ tuyên chiến với Sở. Quân Tần khí thế dũng mãnh, bắt sống tướng Sở là Vân Khuất. Vua Sở giận quá, liền đưa toàn bộ binh lính đánh thẳng vào Tần, hai bên kịch chiến ở Lam Điền. Ngụy vương hay tin, liền cho quân đột nhập vào Sở, quân lính bày thành thế trận ở Đặng Thành. Nước Hàn, thừa cơ cũng tấn công Sở, Nước Sở bốn bề đều bị vây khốn, vận nước như trứng để đầu đẳng. Sở vương đành phải vội vã lui binh, cầu hòa.

Năm sau, nước Tần đánh tiếng muốn liên minh với Sở, điều kiện là đổi lấy miền đất trong Kiểm7 của Sở bằng năm trăm dặm đất ở Hán Trung. Sau khi nghe sứ thần nước Tần trình bày mọi nhẽ, Sở Hoài Vương nói:

- Về nói lại với Tần vương, quả nhân không thích đất, chỉ thích được Trương Nghi thì mới yên lòng. Nếu nước Tần chịu để Trương Nghi đến Sở thì quả nhân tình nguyện dâng cho Tần tám trăm dặm đất ở trong Kiểm.

Tin tức đến Tần, bọn quan viên trong triều sẵn lòng hiểm khích với Trương Nghi đều cho rằng phải cử ông ta đi. Một trong số đó là gian thần Tăng Kim Viên. Họ Tăng dâng sớ tâu:

- Trương Nghi là tướng quốc trong triều, vì dân vì nước cần phải sang sứ nước Sở. Tướng quốc là người hùng biện, nhất định sẽ đổi hung thành cát, giành được thắng lợi!

Lũ thái giám khác như Tiểu Lượng, Lý Quỉ, Dư Hạnh nhao nhao đồng tình lời nói của họ Tăng.

Tần vương nói:

- Trương Nghi như cánh tay của quả nhân, từng lập nhiều công lao to lớn cho nước Tần. Quả nhân không muốn mất cánh tay của mình để lấy đất đai. Hãy quên chuyện này đi!

Nào ngờ, chính Trương Nghi lên tiếng:

- Khởi bẩm đại vương, Trương Nghi nguyện đem thân sang sứ nước Sở. Dù gan óc lầy đất, thần quyết không từ.

Lời nói không những làm Tần vương, mà ngay cả đến lũ tiểu nhân gian thần, cầm đầu là Tăng Kim Viên thảy đều kinh ngạc. Tần vương nói:

- Sở Hoài vương giận khanh đến tận xương tận tủy, hận là chưa được róc thịt ăn xương đó thôi! Khanh đi tất mắc vạ lớn. Tốt nhất là đừng đi.

Trương Nghi nói:

- Vi thần có chết cũng đã đổi được tám trăm dặm đất trong Kiềm, đại vương việc gì còn phải lo cho vi thần nữa? Nhưng lần này chắc gì thần đã chết!

Tần vương nói:

- Thân vào hang cọp, lẽ nào lại không chết? Chẳng hay tiên sinh có diệu kế gì?

Trương Nghi nhìn khắp lượt quần thần rồi nói:

- Tóm lại, chắc gì thần đã phải chết. Có khi thần còn làm cho người Sở phải qui phục vương phủ chúng ta nữa!

Trương Nghi vừa đến Sở, Sở Hoài Vương hạ lệnh trói lại, chờ ngày lành tháng tốt mới mổ bụng moi gan cúng tế tướng sĩ nước Sở.

Khi đó, một tâm phúc tinh tường của Trương Nghi đã lo lót bằng cả năm trăm lạng vàng với lộng thần Cận Thượng và dặn ông ta cứ làm theo kế sách của Trương Nghi.

Cận Thượng được vàng theo ngay. Trước hết hắn gặp sủng cơ của Sở Hoài vương là Trịnh Tụ và giả bộ hốt hoảng:

- Phu nhân, hỏng hết rồi đó. Tai họa giáng đến nơi rồi!

Trịnh Tụ thất kinh, hỏi:

- Nói thế nghĩa là thế nào?

Cận Thượng đáp:

- Tần vương cử Trương Nghi đến Sở, đại vương liền cho trói lại để xử tội chết. Trương Nghi là đại công thần của nước Tần. Sau khi được tin, Tần vương đang chuẩn bị trả lại cho Sở sáu trăm dặm đất ở Hán Trung, còn đưa người con xinh đẹp của mình dâng cho vua Sở. Lúc này hai bên đang nói chuyện về điều kiện với nhau. Một khi Trương Nghi được tha thì lập tức mỹ nữ của nước Tần sẽ đến ngay. Liệu bấy giờ thì vai trò của phu nhân sẽ ra sao đây?

Trịnh Tụ cuống cuồng cả lên, nói:

- Ta phải ngăn nó bằng cách nào?

- Chỉ có một cách duy nhất là phu nhân vờ như không biết chuyện gì và khuyên can để đại vương thả Trương Nghi ra. Được nhà vua ân sủng, mà cảm kích trước tấm lòng đại ân đại đức của phu nhân, sẽ ngăn Tần không đưa mỹ nữ đến nữa. Địa vị của phu nhân vẫn vững như bàn thạch.

Cận Thượng quả quyết như vậy.

Từ đó, ngày nào Trịnh Tụ cũng khóc lóc, nước mắt đầm đìa và nói với Sở Hoài Vương:

- Đại vương định lấy đất trong Kiểm đổi lấy Trương Nghi, đất chưa mất thì Trương Nghi đã đến. Đủ thấy Tần vương là người biết trọng lễ nghĩa. Nếu đại vương giết Trương Nghi đi thì thật là nguy hiểm!

Sở vương nói:

- Vậy ý phu nhân thế nào?

- Phu quân, họa lớn đến nơi mà còn chưa biết!

- Đang lúc trời quang, mây tạnh thì làm gì có tai họa nào?

Trịnh Tụ lại nói:

- Có phải Trương Nghi là công thần của Tần không? Từ lâu, Tần vương đã có ý nuốt trứng nước Sở ta. Nếu giết Trương Nghi, Tần vương sẽ có cớ xuất quân. Quân Tần kéo đến thì liệu hai ta ra sao? Thần thiếp ngày bỏ ăn, đêm biếng ngủ là vì chuyện này. Trương Nghi biết tận trung với Tần vương, là người lấy trung, nghĩa làm đầu. Nếu đại vương không giết Trương Nghi, mà vỗ về hậu đãi thì chắc rằng ông ta sẽ trung thành mãi mãi.

Lời người phụ nữ thỏ thẻ bên tai làm Sở vương do dự. Khi đó, Cận Thượng mới nói thêm:

- Giết Trương Nghi thì Tần chẳng mất gì, Sở chẳng được gì. Nhưng rõ ràng chúng ta mất không sáu trăm dặm đất. Không những thế, Tần còn có cớ đưa quân lang sói vào đất nước chúng ta. Cúi mong đại vương liệu đường minh xét.

Cứ thế, một nam một nữ, cả hai báu vật lời qua tiếng lại, làm cho Sở vương phải động lòng, tha cho Trương Nghi về Tần. Về phần Khuất Nguyên, bấy giờ đã bị vua Sở xa lánh, không còn giữ trọng trách trong triều. Khuất Nguyên đi sứ nước Tề. Sau khi về đến nước Sở, tỏ tường mọi chuyện, Khuất Nguyên liền nói với Sở vương:

- Vì sao lại không giết Trương Nghi?

Hoài vương đã nói đến đâu, cho người đuổi theo thì đã muộn. Trương Nghi đã về đến đất Tần. Khuất Nguyên thở dài, than rằng:

- Trương Nghi đi, nước Sở chẳng mấy chốc sẽ diệt vong!

Đúng như lời Khuất Nguyên dự đoán, sau khi về đến Tần, Trương Nghi dùng mọi biện pháp để li gián sáu nước, đập tan liên minh hợp tung của Tô Tần, tổ chức thế trận liên hoành mới. Mấy nước chư hầu liên hợp lại đánh phá nước Sở. Sở vương đại bại, tướng nước Sở là Đường Muội bị giết, mở đường cho nước Tần thống nhất sáu nước.

7. LỜI NÓI KHÉO, GIỮ ĐƯỢC CHÍN CÁI ĐỈNH

Để nhanh chóng thực hiện dã tâm thống nhất thiên hạ, Tần vương liên tục đem quân tấn công vương triều nhà Chu. Chu vương ngày đêm mất ăn mất ngủ, nói chuyện đó với Nhan Luật. Họ Nhan nói:

- Việc gì đại vương phải lo lắng. Thần xin được san sẻ gánh nặng với Người!

Chu vương hỏi:

- Khanh định như thế nào?

Nhan Luật nói:

- Thần mong muốn có sự giúp đỡ của nước Tề ở phương đông.

Nhan Luật đến nước Tề thưa với Tề vương:

- Nước Tần vô lý quá, luôn luôn tấn công triều Chu, hòng cướp bằng được chín cái đỉnh. Quần thần triều Chu suy đi tính lại thấy rằng dâng chín cái đỉnh ấy cho nước Tần chẳng bằng dâng chúng cho nước Tề.

Tề vương nói:

- Nước Tề có trách nhiệm giữ gìn chín cái đỉnh và giúp đỡ triều Chu, nhưng không biết ngài nói như vậy đã đúng chưa?

Nhan Luật nói:

- Lẽ nào đại vương lại nghi ngờ thần? Nước Tần là nước lang sói. Sao lại có thể giao chín cái đỉnh đó vào tay lũ cầm thú? Còn đại vương, lẽ nào ngài không muốn vừa được danh vừa được lợi?

Tề vương hỏi:

- Ta sẽ có được danh lợi gì đây?

Nhan Luật trả lời:

- Giúp đỡ một đất nước trong cơn nguy khốn là lưu lại tiếng thơm muôn thuở. Chín cái đỉnh kia vốn là báu vật quý hiếm. Mong đại vương soi xét gấp, nhanh chóng xuất quân bảo vệ vương thất nhà Chu.

Tề vương nghe xong hết sức mừng rỡ. Liền hạ lệnh tướng Trần Cự Tư cùng năm vạn binh sĩ đi cứu viện nhà Chu. Nước Tề ra quân, khí thế hừng hực. Nước Tần thấy thế đành phải rút quân về triều.

Sau khi nước Tần thua trận rút quân, Tề vương chuẩn bị sai người đi nhận chín cái đỉnh. Đỉnh là báu vật tượng trưng cho đất nước, Chu thiên tử lại sinh ra rầu rĩ. Nhan Luật nói:

- Việc gì đại vương cứ phải nghĩ, để thần lại đi giao thiệp với Tề lần nữa.

Chu vương hỏi:

- Liệu có giữ được chín cái đỉnh ấy không?

Nhan Luật hỏi:

- Xin đại vương cứ yên tâm.

Nhan Luật đến Tề, Tề vương hỏi:

- Tiên sinh đến để thực hiện lời hứa đấy chăng?

Nhan Luật nói:

Người quân tử đã nói là làm. Nước Tề có binh hùng tướng mạnh đánh bại nước lang sói, giữ yên bờ cõi, bảo toàn tính mạng thần dân trăm họ nhà Chu, Chu vương vô cùng mừng rỡ và nguyện dâng chín cái đỉnh. Nhưng chưa biết nhà vua định đưa chín cái đỉnh ấy vào Tề bằng con đường nào?

Tề vương hỏi:

- Quả nhân định mượn đường qua nước Lương.

Nhan Luật nói:

- Ấy chết! Sao được!

- Vì sao lại không được!

- Theo thần biết thì chính nước Lương đã nhòm ngó chín cái đỉnh ấy từ lâu rồi. Đỉnh vào nước Lương thì coi như mất, bằng biếu không cho họ.

- Thế vận chuyển qua đường nước Sở vậy!

Nhan Luật lại nói:

- Lại càng không được! Từ lâu, Sở Hoài Vương đã lập mưu tính kế đoạt cho được chín chiếc đỉnh ấy. Đưa đỉnh vào Sở khác nào đưa dê béo vào miệng cọp, có đi mà không có về! Quân lính nước Sở mạnh gấp chín lần quân lính nước Tề. Vì vậy, đừng dại gì chuyển đỉnh đi qua nước Sở!

Tề vương nghe xong, mới hỏi:

- Vậy Nhan tiên sinh cho biết nên đưa chín chiếc đỉnh ấy về Tề bằng đường nào đây?

Nhan Luật trả lời luôn:

- Đại vương tôn kính, chính thần cũng đang vì chuyện đó mà nát cả óc! Nhà vua nghĩ xem, chín cái đỉnh ấy không phải là chiếc bình đựng giấm hay chiếc lọ đựng tương, để có thể ôm vào lòng hoặc tay xách, nách mang vào Tề. Càng không giống lũ chim kia hoặc tụ thành đàn hoặc chia lẻ thành từng con; đương nhiên cũng không như thỏ lủi, ngựa phi để thoáng cái đã vào đến Tề, thật khó quá!.

Tề vương hỏi:

- Nói đi nói lại, tiên sinh vẫn chưa có kế gì để chuyển được mấy cái đỉnh ấy phải không?

- Nhan Luật nói:

- Thần nghe nói trước đây khi đánh tan quân Ân Trụ, Chu vương thu được chín cái đỉnh, một đỉnh phải có chín vạn người khênh, vị chi là chín đỉnh cần có tám mươi mốt vạn người. Quần áo, khí giới cho binh sĩ cũng là một con số đáng kể lắm! Ngày nay, đại vương với ngần ấy con người thì liệu có con đường nào chứa nổi không? Thần lo thay cho đại vương lắm lắm!

- Tề vương nói:

- Coi như tiên sinh đi lại đã mấy lần, mà vẫn chưa mang được một cái đỉnh nào đến cho quả nhân, vậy thì nói như thế nào là quân tử nhất ngôn đây?

- Nhan Luật nói:

- Thần đâu dám lừa dối nước Tề! Xin đại vương nhanh chóng triệu tập quần thần lại bàn xem nên đi đường nào, chúng thần luôn luôn chờ nghe mệnh lệnh của hoàng thượng để chuẩn bị chuyển đỉnh tới.

- Tề vương nói:

- Cho qua vậy. Quả nhân không có ý lấy mấy chiếc đỉnh ấy nữa!

Nhan Luật bằng lời nói khéo léo của mình đã giữ được chín cái đỉnh, càng được Chu vương trọng dụng.

8. TRÁNH ĐIỀU SAI, TÌM ĐẾN CÁI ĐÚNG

Tấn Văn công là vị quân vương được đằng chân lân đằng đầu! Giúp đỡ Chu Tương Vương phục chức xong, ông ta đưa ra những yêu cầu cực kỳ phi lý: sau này phải lấy lễ thiên tử mà hậu táng ông ta. Chính là Tấn Văn công muốn miệt thị Chu vương thất

Chu Tương Vương biết rõ tâm địa Tấn Văn công vốn chẳng ra gì. Nhưng là người "hàm ơn", và thế lực của Tấn Văn công bấy giờ đối với các nước chư hầu rất mạnh, nên Tương vương chẳng có cách gì hơn là khéo léo biểu lộ suy nghĩ của mình: không phải là thiên tử thì sao có thể mai táng theo nghi thức đối với thiên tử được?

Chu vương thất ngày một suy tàn, nhưng Chu Tương Vương vẫn một mình gắng sức chèo chống cho qua. Không chỉ có vậy, Chu Tương Vương còn biết dùng những lời lẽ hàm súc để thuyết phụ Tấn Văn công. Mỗi khi trả lời Tấn Văn công, chưa bao giờ Tương vương dùng đến chữ "không" mà chỉ nêu lý do "vì sao chưa thể nghe theo", sau đó, từng bước từng bước làm cho Tấn Văn công không đòi hỏi như vậy nữa mới thôi.

Tương vương nói:

- Xưa kia, lúc tiên vương giành được thiên hạ, đã hoạch định đất đai ngàn dặm cho vương đô là những vùng đất chúng ta có thể trực tiếp thu hoạch sản vật ngũ cốc làm lễ vật cúng tế trời đất, bách thần sông núi; làm lương thực cho trăm họ chi dùng, kịp tránh những tai họa bất thường, hoặc khi các nước chư hầu bỏ việc triều cống. Những vùng đất khác thì phân chia cho các công, hầu, bá, tử, nam, khiến ai nấy đều được an ninh, cung thuận trời đất, thoát cảnh hiểm nghèo! Liệu tiên vương của chúng ta còn làm được gì hơn thế nữa? Thiên tử đặt các quan chế: nội quan đến cửu tân, ngoại quan không quá cửu khanh, đủ để cung phụng trời đất, thánh thần. Vậy liệu có ai dám tùy tiện đặt ra điều này điều khác, làm rối loạn qui chế phép tắc chăng? Phục trang, táng lễ của thiên tử lúc sinh thời cũng như khi đã khuất, là những thứ để thống soái trăm họ, phân biệt sang hèn, đẳng cấp mà thôi! Ngoài những thứ đó ra, thiên tử và chư hầu có gì khác biệt nhau đâu? Lúc này trời xanh đang giáng họa xuống Chu vương thất. Quả nhân bất tài, vô dụng, để liên lụy tới thúc phụ. Nếu vì việc đó, mà đem lễ tiết của tiên vương để tri ân thúc phụ thì dù có hài lòng đi nữa, thúc phụ vẫn căm giận và trách cứ quả nhân sao dám đem nghi lễ thiên tử để hàm ơn thúc phụ? Người xưa nói: Muốn thay đổi ngọc bội, tất phải thay đổi cả địa vị. Nếu thúc phụ danh trùm thiên hạ, thay tên đổi họ, xây dựng chế độ mới, đặt ra trang phục, biểu chương lúc sống khi chết, tuyên bố với thiên hạ, nhằm trấn an vỗ về trăm họ, thì quả nhân dù có bị lưu đầy hay bị sát hại ở một nơi xa xôi nào đó, liệu còn gì để giãi bầy với thúc phụ đây? Còn như thiên hạ vẫn là thiên hạ ấy, thúc phụ là công hầu của nhà Chu, giữ trọng trách do tiên vương giao phó thì không dễ gì thay đổi được nghi thức đó. Còn như thúc phụ biết ngày đêm tu sửa đức hạnh, thì cái gì đến sẽ phải đến, ngay tang lễ cũng thế thôi. Không một người nào có thể thay đổi chế độ quan trọng của tiên vương bằng những ý riêng của mình. Làm như vậy là nhục mạ thiên hạ, không xứng với tiên vương, với trăm họ! Người người sẽ ngoảnh mặt quay lưng lại với chúng ta! Còn như thúc phụ cứ xây dựng đường hầm, tiến hành tang lễ theo nghi thức thiên tử tại nơi mình ở, thì quả nhân cũng đành chịu!

Văn công nghe xong, không dám yêu cầu gì nữa. Ông ta tiếp nhận một số ruộng đất rồi rút về nước của mình.

9. TRONG SỰ MỀM MỎNG CÓ ĐIỀU CỨNG RẮN

Đứng về mặt địa lý mà xét, nước Trịnh là nước nhỏ, nằm giữa hai nước lớn đối địch nhau là Tấn và Sở, nên có nhiều khó khăn về mặt ngoại giao.

Nhà ngoại giao nổi tiếng của nước Trịnh là Trịnh Tử Gia vâng lệnh Trịnh hầu, với danh nghĩa là công tử, đại phu soạn thảo một thông điệp ngoại giao giá trị. Thông điệp kể rõ nhiều sự thực theo trình tự thời gian trong mâu thuẫn giữa hai nước lớn, nhằm phân tích đạo lý, phê phán những yêu cầu hà khắc, vô lý của nước Tấn. Tuy là một nước nhỏ, nhưng Trịnh rất kiên quyết, mang tính cảnh cáo quyết liệt, khiến người Tấn phải nhượng bộ.

Ngoại giao là thủ đoạn thường dùng trong chốn quan trường. Bất kể là chính trị, quân sự hay kinh tế đều có thể đạt được hiệu quả bằng con đường ngoại giao. Bức thông điệp ngoại giao của Trịnh Tử Gia được coi là một kiệt tác lịch sử về mặt ngoại giao thời cổ ở Trung Quốc.

Tấn Linh công liên hợp các nước chư hầu để bình định loạn lạc ở nước Tống. Tấn hầu không muốn tiếp Trịnh Bá, vì nghi Trịnh Bá hai lòng, ngấm ngầm dựa vào nước Sở. Trịnh Tử Gia cử quan liên lạc và đưa thư để báo cáo với Triệu Tuyên Tử rằng:

- Vua nước thần lên ngôi được ba năm đã mời Thái hầu cùng đến triều kiến Tương công của các ngài. Đến tháng 9, Thái hầu qua nước thần để đến nước Tấn. Bấy giờ nước thần có loạn Hầu Tuyên Đa, vì thế nhà vua không kịp đi cùng Thái hầu. Cho đến tháng 11, sau khi loạn Hầu Tuyên Đa tạm được yên, nước thần đã theo Thái hầu đến nước ngài. Tháng 6 năm thứ 12, Quý Sinh phò tá thái tử Di, vua của nước thần, lại cùng Trần hầu triều kiến thỉnh thị nước Sở, triều kiến nước Tấn. Tháng 7 năm thứ 14, vua nước thần lại sang Tấn coi như hoàn thành việc Trần hầu triều kiến nước Tấn. Tháng 5 năm thứ 15, Trần hầu mới từ nước thần đi triều kiến vua Tấn. Tháng giêng năm ngoái, Chúc Chi Vũ phò tá thái tử Di đi triều kiến vua Tấn. Tháng 8, vua nước thần lại đi triều kiến. Nhờ có nước thần, hai nước Trần, Thái ở ngay sát Sở mà không dám ăn ở hai lòng với nước Tấn. Chúng thần đã phục dịch nước Tấn như vậy, nhưng vẫn chưa được miễn tội là cớ làm sao?

Khi vua nước thần còn trị vì đất nước đã một lần triều cống Tương công, hai lần triều kiến vị vua đương thời, thái tử Di cùng mấy đại thần khác tiếp đến Giáng Đô triều kiến. Tuy chúng thần là nước nhỏ, nhưng về mặt lễ nghĩa đối với nước lớn thì hơn hẳn các nước khác.

Ngày nay nước lớn lại nói: "Ta không thật khoái các ngươi". Nếu nói như vậy, nước Trịnh của thần chỉ còn chờ chết, bởi vì nước Trịnh không thể tăng thêm lễ vật triều cống nước Tấn được nữa. Người xưa từng nói: "cắt đầu bỏ đuôi thì liệu thân mình còn được bao nhiêu?", lại nói: "con hươu lúc sắp chết không hề nghĩ đến chỗ náu thân lần cuối". Nước nhỏ phục dịch nước lớn có ân đức, thì hiểu rằng mình đã báo đáp người có ân đức; nếu nước lớn là nước bất nghĩa thì chúng thần hiểu rằng mình chẳng khác gì con hươu đang bị dồn đến chỗ nguy hiểm. Đi càng nhanh thì càng chóng tới chỗ chết. Nhưng đã bức bách đến ngần ấy thì liệu còn cách lựa chọn nào khác đây? Mệnh lệnh của các ngài không bao giờ hết, chúng thần hiểu rằng mình sẽ diệt vong, vì thế mới tập trung binh lực cả nước lại chờ đợi để nghe lệnh của ngài! Vào năm Trịnh Văn công thứ hai, vua nước thần triều kiến Tề Hoàn công, năm thứ tư thay nước Tề tiến công nước Thái. Thái là thuộc quốc của Sở, nhưng chúng thần được Sở thấu hiểu, và cho hòa hảo. Một nước nhỏ kẹp giữa các nước lớn, phải phục tùng mệnh lệnh của nước mạnh, chẳng lẽ cũng là phạm tội sao? Nếu nước lớn không thể tình cho thì chúng thần chẳng còn cách nào để từ chối mệnh lệnh của nước lớn...

Tấn đại phu Củng Sóc đã giao kết nghị hòa với nước Trịnh, để Triệu Xuyên và con rể của Tấn Linh công là Trì làm con tin ở Trịnh.

10. MAO TOẠI TỰ TIẾN CỬ

Bình Nguyên quân Triệu Thắng là công tử nước Triệu. Trong số các công tử nước Triệu, Triệu Thắng tài năng nhất. Thắng thích chiêu mộ tân khách, lúc nào cũng có đến mấy ngàn tân khách trong nhà. Bình Nguyên quân đã làm tướng vào thời Triệu Huệ Văn Vương và Hiếu Thành Vương. Ba lần rời tướng vị, lại ba lần được khôi phục, được phân phong đến Đông Võ Thành.

Nước Tần cất quân tiến công đô thành Hàm Đan, nước

Triệu. Triệu Huệ Văn Vương cử Bình Nguyên quân đi sứ tìm kiếm viện trợ, ký kết minh ước hợp tung với nước Sở. Bình Nguyên quân muốn tìm trong số môn khách lấy hai mươi người văn võ toàn tài, có mưu có dũng để cùng đi. Bình Nguyên quân nói:

- Nếu chỉ bằng phương pháp chính trị, không cần đến vũ lực thì tốt quá! Chính trị không xong thì sẽ uống máu ăn thề ngay tại triều đường, lập được minh ước hợp tung mới trở về. Những người cùng đi không phải tìm kiếm đâu xa, chọn ngay trong số thực khách của chúng ta.

Xem xét hồi lâu, tìm được mười chín người, không lấy ở đâu ra được thêm một người nữa! Khi đó, trong đám môn khách, Mao Toại bước đến trước mặt Bình Nguyên quân và nói:

- Nghe tin ngài chọn trong số môn khách hai mươi người để cùng sang nước Sở ký giao ước, nay còn thiếu một, mong rằng ngài cho Mao Toại này cùng đi.

Bình Nguyên quân nói:

- Tiên sinh đến chỗ chúng ta mấy năm rồi?

Mao Toại đáp:

- Đã được ba năm.

Bình Nguyên quân nói:

- Người hiền năng sống ở đời, giống như chiếc dùi để ở trong bọc, đầu nhọn lập tức sẽ lộ ra ngoài. Tiên sinh ở đây đã ba năm, ta chưa hề nghe một ai ca tụng tiên sinh, chứng tỏ tiên sinh chẳng có tài cán gì. Vậy tiên sinh ở nhà thôi!

Mao Toại nói:

- Xin ngài hãy để bỉ nhân vào trong bọc. Nếu được như vậy, thì cán dùi sẽ lộ ra ngay chứ chưa nói đến mũi dùi!

Thế là Bình Nguyên quân quyết định để Mao Toại cùng đi. Mười chín người kia không ai ngăn cản, nhưng họ đều nháy mắt, bĩu môi nhạo cười Mao Toại.

Khi gần đến Sở, họ vừa đi vừa tranh luận với nhau, cả mười chín người kia đều bái phục tài hiểu biết của Mao Toại. Bình Nguyên quân và vua Sở bàn bạc về minh ước, về lợi, hại trong hợp tung từ sáng đến trưa mà chưa ngã ngũ. Mười chín người kia đều nói với Mao Toại:

- Tiên sinh nghĩ thế nào!

Mao Toại chống kiếm bước lên thềm nói với Bình Nguyên quân:

- Chỉ cần năm ba câu là nói hết cái lợi, cái hại của hợp tung, đằng này từ sáng đến trưa giải quyết vẫn chưa xong là cớ làm sao?

Vua Sở hỏi Bình Nguyên quân:

- Người này là người nào?

Bình Nguyên quân trả lời:

- Đấy chỉ là môn khách trong nhà.

Vua Sở buông lời trách móc:

- Ta và chư ngươi đang bàn luận, can chi đến ngươi, còn không mau mau lui ra!

Mao Toại chống kiếm đến trước mặt Sở vương, nói:

- Đại vương ỷ thế nước Sở người đông, thế mạnh nên mới dám chê trách thần. Còn trong mười bước ở đây, đại vương không có thế mạnh của nước Sở mà ngược lại sinh mệnh của đại vương đang nằm trong tay thần. Chủ của thần còn có mặt ở đây, vì sao đại vương lại nói như vậy? Thần nhớ trước đây, Thương Thang xưng bá thiên hạ trong vòng bảy mươi dặm, Chu Văn Vương đất nước hàng trăm dặm khiến chư hầu phải thần phục, đâu phải vì binh họ nhiều, lực họ khoẻ! Chính là họ biết phát huy uy lực nhờ vào hình thế có lợi của mình. Ngày nay nước Sở tường cao, hào sâu, rộng dài hàng năm ngàn dặm, quân có trăm vạn, đó chính là cái gốc để xưng bá vậy. Nước Sở cường thịnh thực là thiên hạ vô địch. Lúc này, Bạch Khởi, một kẻ vô năng, quân có mấy vạn mà dám đánh nước Sở. Không những thế, một trận đã lấy được hai thành Dĩnh, Yên; trận thứ hai thiêu hủy Di lăng; trận thứ ba làm nhục đến tổ tiên đại vương. Đó là mối thù đời đời kiếp kiếp, ngay đến nước Triệu của thần cũng thấy hận thay. Còn như đại vương thì không thấy xấu hổ và thù hận! Hợp tung là vì Sở chứ không phải vì Triệu. Vậy xin hỏi vì sao đại vương lại trách móc thần trước mặt chủ nhân của thần?

Sở vương luôn miệng nói:

- Đúng! Đúng! Đúng như lời của tiên sinh. Riêng về danh nghĩa nhà nước đã nên hợp tung rồi!

Mao Toại hỏi:

- Việc hợp tung bây giờ đã quyết được chưa?

Sở vương nói:

- Quyết định được rồi.

Mao Toại bảo người đứng bên cạnh Sở vương:

Đưa máu gà, chó, ngựa lại đây.

Mao Toại nâng chậu đồng đầy máu, quỳ trước mặt Sở vương và nói:

- Đại vương muốn lập minh ước hợp tung thì xin uống máu trước, rồi đến chủ nhân của thần, cuối cùng là thần.

Bản minh ước hợp tung được ký kết trước điện. Tay trái Mao Toại nâng chậu máu, tay phải vẫy gọi mười chín vị môn khách kia rồi nói:

- Mời các vị uống máu trước điện. Các vị là những người dung tục vô vị, sở dĩ làm nên sự nghiệp là do biết dựa dẫm vào người khác.

Sau khi hoàn thành minh ước hợp tung, Bình Nguyên quân trở về nước Triệu, nói:

- Sau này đừng nên đánh giá các bậc nhân sĩ. Trước đây, ta đã đánh giá hàng ngàn người, hoặc ít ra là mấy trăm người, nghĩ rằng mình đã không bỏ sót một người hiền nào trong thiên hạ. Nhưng lần này, suýt nữa ta đã bỏ mất Mao Toại. Lúc ở nước Sở, Mao tiên sinh làm cho địa vị nước Triệu vẻ vang hơn nhiều! Bằng ba tấc lưỡi của mình, Mao tiên sinh gần như đã thắng được trăm vạn đại quân. Ta không dám bình luận về các nhân sĩ nữa!

Từ đó, Mao Toại được coi như thượng khách.

11. NGÀN VÀNG MUA XƯƠNG NGỰA

Sau khi kế thừa ngôi vua ở nước Yên trong cảnh hoang tàn đổ nát, Yên Chiêu Vương hết lòng chiêu hiền đãi sĩ, dùng lễ hậu lôi kéo người hiền, hòng báo thù nước Tề. Thế rồi, Chiêu vương đến bái kiến Quách Nguy tiên sinh và nói:

- Nhân khi trong nước có nội loạn, nước Tề ngầm đem quân đánh chiếm đô thành nước Yên. Quả nhân biết mình đất hẹp, người thưa, lực mỏng, khó lòng đánh lại nước Tề. Vì vậy, quả nhân muốn chiêu hiền nạp sĩ, cùng họ cai trị đất nước, cùng họ rửa mối nhục lớn cho các tiên vương. Xin hỏi tiên sinh: muốn trả thù, rửa hận thì lúc này phải làm gì?

Quách Nguy trả lời:

- Người làm vua muốn hoàn thành nghiệp đế thì phải gần gũi người hiền tài và tôn họ làm thầy; muốn hoàn thành vương nghiệp thì phải gần gũi người hiền, coi họ như bè bạn; người muốn hoàn thành nghiệp bá thì phải gần gũi họ trong quan hệ quân thần; còn những ông vua mất nước thì đối đãi người hiền như nô lệ, tùy tiện sai khiến. Phải biết khiêm nhường, tôn trọng người hiền tài, tự coi mình là thấp kém, thành thực nghe lời chỉ bảo thì những người hiền năng hơn mình gấp trăm lần mới chịu đến. Làm việc thì đi trước, nghỉ ngơi thì đến sau, nhường cho người hỏi trước, từ tốn trả lời sau, có như vậy thì những hiền tài gấp mười lần mới chịu đến. Thấy người khác làm, mình cũng làm theo, thì những người tài năng mới theo về. Từ xưa tới nay, qui tắc trị quốc an bang, chiêu hiền nạp sĩ là như vậy. Nếu thực tâm muốn chiêu nạp những người thực sự có đức có tài ở trong nước thì nhà vua phải thân đến từng nhà mà thăm hỏi. Trăm họ biết tin vua thăm hỏi những người có tài có đức thì những bậc chí sĩ tài năng trong thiên hạ sẽ lũ lượt kéo về nước Yên.

Yên Chiêu Vương hỏi:

- Thế bây giờ quả nhân đi thăm ai là hợp nhất?

Quách Nguy nói:

- Thần nghe nói, ngày xưa có một vị quân vương muốn mua một con thiên lý mã mà ba năm sau vẫn chưa mua được. Một thị thần bên cạnh tâu rằng: - Để thần đi tìm cho. Nhà vua đồng ý. Ba tháng sau, thị thần tìm được thiên lý mã nhưng nó đã chết! Ông ta liền bỏ ra năm trăm lạng vàng mua chiếc đầu ngựa đem về kể lại mọi chuyện với nhà vua. Nhà vua vô cùng bực bội:

- Quả nhân muốn mua ngựa sống chứ mua ngựa chết để làm gì? Thật phí tiền vô ích!

Thị thần trả lời:

- Bỏ năm trăm lạng vàng để mua ngựa chết. Vậy giá ngựa sống còn đắt hơn nhiều! Thiên hạ đồn đại nhà vua mua ngựa giá cao thì chẳng mấy chốc sẽ mua được thiên lý mã. Đúng như vậy, chỉ trong vòng một năm đã mua được ba con thiên lý mã. Ngày nay nhà vua thực tâm muốn chiêu hiền nạp sĩ thì nên bắt đầu từ Quách Nguy vậy. Như Quách Nguy này mà nhà vua còn trọng dụng thì những người tài năng hơn hẳn Quách Nguy thì sao? Chẳng nhẽ họ vì cách trở ngàn dặm mà không muốn đến nước Yên chăng?

Yên Chiêu Vương nghe xong, liền cho dựng một căn phòng và bái Quách Nguy làm thầy. Từ đó về sau, Nhạc Nghị, Châu Diễn, Kịch Tân lần lượt từ Ngụy, Tề, Triệu kéo đến nước Yên. Nhiều nhân tài đức độ trong thiên hạ theo về Yên. Yên Chiêu Vương còn cho bày lễ vật cúng tế người đã khuất, đi thăm những người còn sống, đồng cam cộng khổ cùng trăm họ. Cứ như vậy, hai mươi tám năm sau, nước Yên trở lên giàu mạnh, quân sĩ nức lòng, ra sức chiến đấu, phục thù cứu nước. Yên Chiêu Vương liền cử Nhạc Nghị xuất quân đánh Tề. Nước Tề bại trận, Tề Mẫn Vương chạy ra khỏi nước Tề. Quân Yên thừa thắng truy kích đến tận Lâm Truy - kinh đô nước Tề, lấy sạch vàng bạc, châu báu, đốt sạch toàn bộ cung điện, tông miếu của nước Tề. Không còn một thành trì nào của Tề là không bị quân Yên chiếm cứ, trừ hai vùng Cử và Tức Mặc.

Người dịch: Ông Văn Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.