1. THUẬT CẦU QUAN CỦA HÒA THÂN

Mưu Trí Chốn Quan Trường

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương V SÁCH LƯỢC ĐỂ LÀM QUAN

❊ ❊ ❊

Phần lớn các chính khách thời cổ ở Trung Quốc thường lấy việc làm quan, bổng cao lộc hậu là mục tiêu phấn đấu của mình, nên họ bất chấp thủ đoạn. Số đông, họ tôn sùng câu nói: được làm vua, thua làm giặc.

Suốt đời họ lập mưu, tính kế làm thế nào để được chức quan và quan to. Bằng mọi thủ đoạn kể cả những thủ đoạn ti tiện trong chốn quan trường để đạt được mục đích cao nhất!

Vào cuối đời nhà Thanh, danh tướng Hồ Lâm Dực từng nói:

- Cần có lòng dạ của Bồ Tát và thủ đoạn của đồ tể.

Thang Ân Bá, tướng bại trận tháo chạy của Quốc dân đảng, được coi là tấm gương của mọi người, nên đường công danh có nhiều thuận lợi. Lý Sĩ Quần là đảng viên đảng Cộng sản, đầu hàng Quốc dân đảng, cuối cùng thì bán nước, hàng Nhật, vốn là người của đặc vụ Uông Tình Vệ, phụ trách tổng bộ đặc công số hiệu "716", từng nói với bè bạn:

- Huynh bảo đệ là Hán gian cũng được, lưu manh cũng được, nhưng hiện nay cái mà đệ có chính là tiền.

Vô lại kiểu thế này thì hết ý. Trong chốn quan trường khó tìm được kẻ thứ hai!

Hòa Thân vốn chẳng tài cán gì. Nhưng vào thời Càn Long, ông ta là người quan cao chức trọng, độc chiếm đại quyền. Hai mươi năm cầm quyền của Hòa Thân, gia sản của ông ta bằng hơn một nửa thu hoạch quốc dân cả nước cũng trong hai mươi năm; bằng bốn mươi lần tài sản riêng của vua Louis XIV nước Pháp. Càn Long được coi là vị vua hiển minh hiếm có trong số các hoàng đế, nhưng sở dĩ Hòa Thân, ngay bên cạnh Càn Long vẫn trở thành một viên tham quan ít thấy trong chốn quan trường Trung Quốc, vì Hòa Thân biết thuật cầu quan làm hoàng đế hài lòng.

Đường thăng quan của Hòa Thân là: "Cúc cung phục dịch, làm vừa lòng hoàng đế".

Một lần, Càn Long hỏi:

- Hòa thân, ngươi là trung thần hay gian thần của trẫm?

Hòa Thân nói:

- Nô tài vừa không là trung thần, vừa không là gian thần. Nô tài tự nghĩ mình chỉ là lộng thần mà thôi! Càn Long nghe xong cười mãi không thôi!

Theo cách nói của Hòa Thân, lộng thần là biết tìm cách làm cho chủ vui vẻ, hoàng đế luôn luôn được sảng khoái, thoải mái. Hòa Thân làm đúng những điều đã nói. Hòa Thân là người khôn khéo, linh lợi, một lộng thần khéo biết chiều chuộng, mơn trớn, làm cho một vị hoàng đế hiển minh như Càn Long cũng phải mờ mịt.

Rất ít người trong chốn quan trường là thô thiển. Để có thể leo được cao hơn, bọn họ không từ một thủ đoạn nào! Ngay như Hòa Thân cũng vậy, hùng tài thao lược để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ thì không có, chỉ có mưu kế và giảo hoạt, ít ai sánh kịp.

Dù là Càn Long, một vị hoàng đế tài ba, cũng thất bại trước một kẻ ôm chân đỡ gối như Hòa Thân. Liệu có mấy ai đã vững vàng trước sự cung phụng đầy cám dỗ của hạ cấp không? Thích nghe lời ngon ngọt là một đặc điểm của con người. Bằng vào đặc điểm đó, để cầu quan là một thắng lợi của bất kỳ ai trong chốn quan trường.

Thời Đường Huyền Tông, An Lộc Sơn xuất thân từ nghề mãi võ, giỏi đường cung phụng và bợ đỡ. Mỗi lần nhìn thấy Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi, họ An chỉ bái lạy một mình Dương Quý Phi. Khi được Đường Huyền Tông hỏi nguyên do thì An Lộc Sơn trả lời:

- Hồ Nhi chỉ biết có mẹ, không biết có cha.

Dương Quí Phi vô cùng thích thú, cứ thế gọi An Lộc Sơn là "Hồ Nhi". An Lộc Sơn thừa hiểu rằng, Đường Huyền Tông rất sung sướng khi nhìn thấy Dương Quí Phi vui vẻ.

Một hôm Đường Huyền Tông hỏi An Lộc Sơn:

- Bụng nhà ngươi có cái gì ở bên trong mà to thế?

An Lộc Sơn quỳ lạy mà đáp:

- Trong bụng đầy những chữ trung và tín.

Đường Huyền Tông nghe xong lấy làm sung sướng vô cùng. Bằng thủ đoạn đó, An Lộc Sơn lấy được sự tin nhiệm, đối phó và lừa dối hoàng đế và hoàng phi. Vì vậy, khi có người mật báo rằng An Lộc Sơn mang lòng phản bội triều đình thì Đường Huyền Tông có tin đâu!.

Cũng vậy, khi có đại thần mật tâu Hòa Thân giàu có địch quốc, Càn Long vẫn bỏ qua, vì nhà vua không thể xa rời Hòa Thân, xa rời vị lộng thần luôn luôn biết chiều chuộng, làm cho mình thích thú.

So với An Lộc Sơn, ngôn từ hành động của Hòa Thân còn khôn khéo hơn nhiều! Từ bé, Hòa Thân đã thông minh khéo nói, khôi ngô, tuấn tú, dễ được mọi người cảm mến. Thời còn học ở trường con em Bát Kỳ, Hòa Thân chỉ là học sinh trung bình. Nhưng khi nghe thánh thượng thích đọc Tứ Thư, Ngũ Kinh thì lập tức Hòa Thân đã thuộc lòng như cháo chảy hai cuốn đó, hòng làm cơ sở để sau này bò lên cao hơn.

Năm 1769, Hòa Thân là sai dịch trong đội Loan nghi vệ của hoàng cung. Một lần, Càn Long vội vã ra ngoài tuần thú, nhưng chiếc "Lọng vàng" hoàng đế chuyên dùng không thấy đâu. Càn Long sinh bực, hỏi đột ngột:

- Sai lầm thuộc về ai ru?

Đây là một câu trong sách "Luận Ngữ". Những người có mặt đều ngơ ngác, đưa mắt nhìn nhau, chưa trả lời được và không biết phải làm thế nào! Hòa Thân sực nhớ ra và trả lời luôn:

- Viên quản lý không tròn chức trách!

Người trả lời bất quá chỉ mới hơn hai mươi tuổi, dáng dấp nho nhã linh lợi, Càn Long cảm thấy mến mến và tự nhủ thầm: một kẻ hậu sinh tài mạo song toàn, cần phải trọng dụng.

Ít lâu sau, vua Càn Long phong Hòa Thân chức Ngự tiền thị vệ, tổng quản đội nghi thức hoàng cung. Về sau, những việc như xe ngựa, trà nước của nhà vua, cung ứng mọi thứ trong sinh hoạt, đều do Hòa Thân lo liệu. Hòa Thân chức quan không to, nhưng vị trí thì lớn, vì thường xuyên được gần gũi hoàng đế. Càn Long luôn luôn cùng với Hòa Thân bàn luận về "Tứ Thư", "Ngũ Kinh". Hòa Thân đối đáp lưu loát, trôi chảy. Hoàng đế sung sướng vì bên cạnh có một tên nô tài học vấn uyên thâm!

Bước đầu, nghiệp làm quan của Hòa Thân đã "phát tích". Hòa Thân không phải là một nô tài bình thường. Hòa Thân luôn luôn ở bên cạnh Càn Long, ghi nhớ từng thói quen sinh hoạt, tính tình, lời nói hành động của hoàng đế. Đó cũng chính là con đường chủ yếu để ông ta thăng quan phát tài. Sau nhiều nỗ lực, Hòa Thân đã nắm trọn mọi tập tính của Càn Long. Khi nào Càn Long muốn làm gì, trường hợp nào thì muốn gì, và nói gì, Hòa Thân chỉ cần nhìn qua sắc mặt là đã đoán được tám chín phần.

Có lần, Càn Long chưa mở miệng thì Hòa Thân đã cho làm xong những việc mà hoàng đế định làm. Càn Long vui vẻ nói:

- Hòa Thân, ngươi chẳng khác gì con giun ở trong bụng trẫm vậy.

Hòa Thân nói:

- Không dám, không dám! Giun sán có hại cho sức khỏe. Nô tài đâu dám đụng chạm đến long thể của thánh thượng. Nô tài xin làm một cái "bóng" bên cạnh Vạn Tuế gia mà thôi! Hòa Thân là kẻ bất tài, may được hoàng thượng dạy dỗ mới nên người.

Càn Long được coi là một vị hoàng đế có tầm nhìn chính trị, tri thức uyên thâm. Nhưng giống như những kẻ thống trị khác, Càn Long có nhiều đam mê. Nhược điểm lớn nhất của Càn Long là ưa phỉnh nịnh, ghét những lời trực ngôn.

Hòa Thân nhằm vào nhược điểm đó của hoàng đế để được thăng quan tiến tước. Càn Long thích bàn về văn sử, chăm lo công việc chỉnh lý sách cổ. Một người như Hòa Thân, chỉ thuộc lòng "Tứ Thư" cũng được Càn Long cất nhắc làm chủ biên, biên soạn "Tứ Khố Toàn Thư". Hoàng đế đặc biệt coi trọng cuốn sách đồ sộ này, lại sợ có những sai sót lan truyền đến hậu thế, nên có lúc hoàng đế tự mình tham gia hiệu đính. Mỗi lần tìm được một chỗ sai, hoàng đế lấy làm sung sướng và tự cho mình là tài ba. Hòa Thân nắm được tâm lý của thánh thượng, nên mỗi lần đưa sách cho nhà vua duyệt, Hòa Thân cố ý để sót một số chỗ hiển nhiên, bề ngoài có vẻ khó phát hiện. Quả nhiên, Vạn Tuế gia phát hiện ra "những vấn đề rất lớn", nên càng tự cho rằng mình là một vị hoàng đế tinh thông, uyên bác nhất trong thiên hạ. Hòa Thân hiểu rõ cách cung phụng lắt léo thế này có nhiều hiệu quả hơn so với cách trực tiếp tán tụng sự uyên bác trước mặt Càn Long! Để có thể bò lên cao, Hòa Thân đêm ngày vắt óc suy tính, tìm ra đủ mọi thủ đoạn, âm mưu, Hòa Thân bằng vào sự cúc cung tận tụy của mình, ứng hợp kịp thời các thánh chỉ của Càn Long, nên được đặc biệt trọng dụng, quyền nghiêng triều dã.

Hòa Thân chẳng có bản lĩnh gì, ngoài việc khéo xét lời, giỏi nhìn mặt. Hòa Thân có công phá án tham ô của viên Tổng đốc Vân Quý là Lý Thị Khắc, nên được Càn Long hứa gả công chúa út cho con trai mình. Cô công chúa thứ mười của Càn Long quí tựa minh châu, được sủng ái vô cùng. Càn Long từng nói với công chúa rằng:

- Tiếc rằng nhà ngươi không phải là đấng mày râu, để phụ hoàng lập ngươi làm thái tử.

Hòa Thân cũng biết, làm cho công chúa út vui lòng cũng tức là làm cho hoàng thượng thích thú. Từ đó, ông tìm cách thân tình với cô con dâu tương lai.

Một hôm, Càn Long du ngoạn vườn Viên Minh, Hòa Thân được theo giá. Công chúa Cố Luân cải trang đi cùng. Trong vườn có nhiều quầy hàng. Cần thức gì có thức ấy. Hòa Thân, Càn Long và Cố Luân công chúa cùng nhau thưởng thức. Đến một quầy bán quần áo, thấy công chúa Cố Luân dán mắt vào một chiếc áo khoác bằng nỉ đỏ, lòng rất muốn mua, nhưng trong cung xưa nay chưa từng có lệ hoàng đế, thái hậu, thái tử, công chúa tự đi mua sắm vật dụng bao giờ. Công chúa cảm thấy bế tắc.

Mọi việc hôm đó, Hòa Thân đã ghi nhớ hết. Hai hôm sau, đem hai mươi tám lạng vàng mua ngay chiếc áo đó tặng công chúa.

Tay công chúa cầm chiếc áo mà lòng dạ sung sướng vô cùng. Công chúa tâu ngay với phụ hoàng là công công của mình rất được việc và đáng mến. Càn Long cũng rất thích, cho rằng mình tinh anh, nhìn thấu nhân tài. Từ đó, càng thêm tín nhiệm Hòa Thân.

Thuật thăng quan của Hòa Thân hiệu nghiệm vô cùng.

Kể từ lúc lên ngôi, Càn Long luôn luôn lấy Khang Hi làm mẫu mực, quyết tâm làm theo đại đế Khang Hi, lập nhiều công trạng. Vì vậy, luôn luôn nhắc đến Khang Hi thánh tổ. Hòa Thân lại nắm được thóp Càn Long, nên thường mượn cớ ca tụng thánh đức của Khang Hi để tán dương ân trạch bốn biển của Càn Long.

Một lần, Càn Long nhắc đến danh lam thắng cảnh vùng Tô Hàng. Nhân đó, Hòa Thân bằng nhiều lời hay ý đẹp đã chứng tỏ: "trên thì có thiên đường, hạ giới kể đến Tô Hàng". Đồng thời ca ngợi mỹ đức của thánh tổ sáu lần tuần thú Giang Nam thể sát dân tình. Hòa Thân nhìn thấy Càn Long có phần cảm động, liền quì xuống tâu luôn:

- Vạn Tuế gia văn trị võ công lừng lẫy, ấn tượng trong lòng dân chúng sánh với Hoàng Thánh tổ. Tuy đất nước đã thái bình thịnh trị, nhưng nếu được như thánh tổ, Vạn Tuế gia cũng nên tuần thú Giang Nam, để muôn dân trăm họ được thấm nhuần ân đức lớn lao đó.

Mấy câu nói thấu đến tim gan nhà vua. Càn Long quyết định tuần thú Giang Nam, thị sát dân tình, cùng Hòa Thân lập thêm công trạng.

Hoàng đế xuống Giang Nam, Hòa Thân là người sung sướng nhất, vì chính ông ta là kẻ vớ bẫm. Hòa Thân là một nhân vật quan trọng theo hầu hoàng đế, làm bọn quan lại địa phương vô cùng khiếp sợ. Hòa Thân ra lệnh cho địa phương phải nhanh chóng tu sửa hành cung, cầu đường để nghênh đón xa giá. Quan lại địa phương chỉ sợ tiếp giá không chu đáo, kinh động long nhan, nên ai nấy phải tìm cách lo lót với Hòa Thân hòng được che chở. Mọi người hiểu rằng nếu được Hòa Thân ưng thuận thì Càn Long cũng nhanh chóng bỏ qua.

Cái chính của Giang Nam tuần thú là để Càn Long có dịp du sơn ngoạn thủy. Hòa Thân cực kỳ xa xỉ, bày đặt lễ nghi hết sức tốn kém, vượt xa qui mô năm nào của Khang Hi. Nhưng như vậy, Càn Long lại cảm thấy thích thú, nên mới thăng quan cho Hòa Thân. Hòa Thân vừa đẫy túi, vừa tăng thêm uy tín. Có thể nói, được cả danh lẫn lợi.

2. MƯU DÙNG MỸ NỮ ĐỂ ĐƯỢC LÀM QUAN

Người đời nói thật đúng: "Rượu không làm say người, người tự say; sắc không làm mê người, người tự mê". Từ xưa tới nay, biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt đổ máu nơi xa trường, thà chết không chịu khuất phục, nhưng đứng trước bộ ngực của người thiếu nữ, họ đã phải bỏ mũ, cởi giáp, hàng phục vô điều kiện. Biết bao nhiêu chính nhân quân tử đầy khí tiết đã phải mềm lòng trong vòng tay người đẹp. Đường Thái Tông, Lý Thế Dân hiên minh là thế, nhưng sinh thời không quan tâm giải quyết dứt điểm với Võ Mỵ nương, bị nhan sắc của Võ Mỵ nương mê hoặc, nên sau khi qua đời, giang sơn triều Đường chuyển sang họ Võ.

"Thuật thăng quan dựa vào quần hồng" là một nghề buôn nhất bản vạn lợi, nhanh chóng hơn việc mua quan bằng ngàn vàng rất nhiều. Đem vàng hối lộ cấp trên, có khi chẳng may lại chim bay, cá lặn, tiền mất tật mang, thậm chí, còn bị tố ngược lại, mắc tội "hối lộ cấp trên", mời vào đại lao ngay! Dùng chiếc đai quần của phụ nữ thì chắc ăn hơn. Một khi quan trên đã ngậm miệng cắn câu thì thắng lợi là phần chắc! Vì nghiện sắc, mạnh hơn nghiện nha phiến rất nhiều. Rơi vào hiểm trận của tình sắc còn nguy hiểm gấp bội khi rơi vào hiểm trận trên xa trường.

Một vị quan lớn ở triều Thanh từng nói: "Lấy gì để làm quan? Duy có nữ sắc. Sắc không tự dụng, nhờ nó mà có chức quan". Nói như cách nói ngày nay cho dễ hiểu: bước vào chốn quan trường bằng cách gì đây? Phải mở đường bằng nhan sắc người phụ nữ. Nhan sắc là một thanh kiếm bằng thịt không han gỉ bao giờ! Các quan hệ phức tạp trong chốn quan trường đều được phanh phui và giải quyết nhờ vào thanh kiếm lợi hại này. Nhan sắc không phải là thứ gì để ở khuê phòng và tự mình thưởng thức. Phải dùng nó để giành lấy chức quan, giành lấy quyền lực.

Phải đem cái gọi là chiếc đai quần để công phá tường luỹ chốn quan trường, thì chắc là tường đổ luỹ tan, trăm trận trăm thắng. Lý Viên thời Xuân Thu Chiến Quốc vì sao từ một môn khách nhảy lên thành tướng đây? Chính là nhờ vào chiếc đai quần người em gái là Lý Yến.

Khảo Liệt là vua nước Sở không có con trai. Nhà vua hết sức lo lắng. Đại thần Hoàng Hiết (tức là Xuân Thân quân) còn lo lắng hơn nhiều. Bởi vì nếu quốc vương một khi không có con, chẳng may đến ngày qui tiên, thì quyền lực đất nước sẽ rơi vào tay người anh em của Khảo Liệt. Khi đó, bản thân không những không giữ được sự phú quí mà đất nước chắc sẽ có loạn to. Xuân Thân quân đi khắp nơi tìm những mỹ nữ vừa xinh xắn vừa có khả năng sinh con. Nhưng tất cả những người đó không một ai mang được thai rồng.

Xuân Thân quân hết hơi, suốt ngày thở ngắn than dài!

Việc đó đến tai một môn khách trong nhà, là Lý Viên. Lý Viên nhiều mưu lắm kế, hiểu rõ mọi chuyện trong phủ. Lý Viên bắt đầu ấp ủ một ý tưởng thật mạnh bạo!

Lý Viên có người em gái tràn đầy nữ tính, nhan sắc chim sa, cá lặn. Lý Viên quyết định nhờ vào sắc đẹp của em gái để giành lấy quyền lực. Đầu tiên Lý Viên nghĩ đưa em làm phi của Khảo Liệt Vương. Nhưng lại nhanh chóng gạt bỏ ý nghĩ ấy đi. Làm phi, dĩ nhiên Lý Viên sẽ có một chức quan gì đó, nhưng đấy không phải là lợi ích lâu dài! Bởi vậy, Lý Viên ngầm nhờ người giúp Sở vương xem qua cung số. Sở vương là người tuyệt hậu, không sinh được con. Sau hồi suy tính, Lý Viên quyết định để em gái đi lại với Xuân Thân quân. Ông này vừa háo sắc, tính dục mạnh mẽ, toàn sinh con trai. Chờ khi Xuân Thân quân làm cho Lý Yến mang bầu, mới đem nàng dâng lên Sở vương.

Đấy là một trận đánh vu hồi thắng lợi, một diệu kế trong cách ghép cây, chiết quả.

Lý Viên tuy chỉ là môn khách, nhưng vì có tài dùng kế nên sớm đã được Xuân Thân quân chú ý. Lý Viên xin được nghỉ mười ngày về thăm quê. Nhưng có ý kéo dài thời gian hàng hai mươi ngày mới quay lại. Xuân Thân quân hỏi chuyện, Lý Viên nói:

- Về nhà vừa dịp Tề vương sai sứ giả đến cầu thân với người em gái. Vì mải thù tiếp, nên mới chậm mất mười hôm.

Xuân Thân quân vốn là con quỉ về đường sắc dục, nghĩ rằng người mà Tề vương thích ắt phải là món hàng tốt, nên mới hỏi:

- Ngươi đồng ý chăng?

Lý Viên nói:

- Tề và Sở là hai nước thù địch, bỉ nhân đâu dám đồng ý!

Xuân Thân quân nói:

- Có thể mang em gái ngươi tới Sở, giúp ta mở mang tầm mắt được không?

Xem ra cá đã cắn câu, Lý Viên liền nói:

- Ý đại nhân muốn vậy, có gì mà không được?

Lý Yến vừa đến phủ, Xuân Thân quân thấy quả là tuyệt thế giai nhân và ngay đêm đó đã lập nàng làm cơ thiếp để cùng nhau chăn gối.

Chẳng mấy chốc Lý Yến đã mang thai. Lý Viên được tin liền tiến sang bước hai của kế hoạch hành động, nói với Lý Yến rằng:

- Ngươi cho rằng làm tiểu thiếp của tướng quốc hơn hay là làm vương hậu của Sở vương hơn?

Lý Yến giương mắt nhìn ông anh và nói:

- Vương hậu là đệ nhất phu nhân, mẫu nghi thiên hạ, dù có mơ ước muội cũng chẳng thực hiện được.

Lý Viên nói:

- Chỉ cần muội làm theo kế hoạch thì muốn gì sẽ được nấy.

Nói đoạn, người anh nói hết mưu kế với cô em.

Lý Yến liền theo kế đó.

Tối nào cũng vậy, Xuân Thân quân đều đến với Lý Yến một lần. Một hôm Lý Yến hết lòng mơn trớn vuốt ve, làm cho Xuân Thân quân vui sướng đến khôn cùng. Bấy giờ người đẹp mới lạnh lùng lên tiếng:

- Phu quân còn có thể đến đây mà hứng thú được chăng, khi họa lớn giáng xuống còn chưa biết?

Khác gì lấy nước lạnh giội xuống đống lửa đang ngùn ngụt, Xuân Thân quân liền hỏi Lý Yến:

- Căn cứ vào đâu mà nói?

Lý Yến đáp:

- Phu quân làm tướng quốc nước Sở hơn hai mươi năm rồi, đã mắc tội với nhiều người qua việc công cũng như việc tư. Ngày nay Sở vương còn tín nhiệm, địch thủ còn chưa dám làm gì. Nhưng Sở vương không có con, một mai nhà vua băng hà, khi đó liệu phu quân còn được tôn quí nữa không? Tránh sao khỏi bị năm xe xé xác?

Xuân Thân quân nói:

- Từ lâu ta đã nghĩ như thế. Hiểm vì quốc vương yếu ớt, xung quanh bao nhiêu là gái đẹp mà không sao sinh được một mụn con. Ta còn biết làm gì đây?

Lý Yến nũng nịu, sà vào lòng Xuân Thân quân lần nữa rồi mới nói:

- Thiếp đã có cách, chỉ sợ phu quân không chịu!

- Đây là đại sự liên quan đến cái sống cái chết, có gì mà chịu với không chịu.

Lý Yến nói:

- Thiếp đến phủ chưa lâu. Trừ thiếp và người anh thiếp ra, không ai hay biết thiếp được phu quân yêu chiều. Nay thiếp vừa mang thai. Nếu được phu quân dâng thiếp cho quốc vương, nhất định thiếp sẽ được nhà vua sủng ái. Đến khi thiếp sinh con, danh nghĩa là dòng giống của quốc vương, nhưng thực chất là con của chúng ta. Một khi con lên ngôi vua thì cả nước Sở này chính là thiên hạ của phu quân, còn ai dám làm gì phu quân nữa!

- Không được! Không được! Ta đâu dám đổi người đẹp lấy sự bình an, chịu tiếng người đời chửi rủa?

Xuân Thân quân hốt hoảng nói như vậy.

Lý Yến lại giãi bày:

- Nam nhi phải có chí hướng lớn lao, tiếc rằng phu quân nhìn còn hẹp lắm. Người không biết lo xa thì thường hay rầu rĩ. Nếu phu quân không rời được thiếp, thì sau khi sinh con, tất cũng phải chết, chỉ bằng thiếp chết ngay lúc này còn hơn.

Nói xong, còn lăn lộn chết đi sống lại đến mấy lần.

Suy tính hồi lâu, Xuân Thân quân cảm thấy mưu kế người đẹp kể là thượng sách, tỏ vẻ đồng ý và cảm kích trước tấm lòng dám xả thân vì nghĩa lớn của Lý Yến.

Lý Yến lau khô nước mắt, rồi lại sà vào lòng Xuân Thân quân mà thỏ thẻ:

- Thiếp nghĩ đến gia tộc của phu quân mà làm thế chứ đâu có muốn! Hơn nữa, như vậy là phu quân đã ăn trước nhà vua rồi đó! Những kẻ khác thì nằm mơ cũng chẳng dám!

Hôm sau, Xuân Thân quân đem giấu Lý Yến trong một phòng nhỏ, canh gác nghiêm ngặt, rồi mới vào cung kể với Sở vương, phải gian nan vất vả muôn phần mới tìm được mỹ nhân như hoa như ngọc từ bên nước Triệu đem về. Mỹ nhân rất nhiều nữ tính, thầy tướng số phán rằng sẽ đẻ được con trai. Sở vương nghe xong hạ lệnh đưa nàng vào cung ngay!

Sở vương cũng là người hiếu sắc. Vừa thấy Lý Yến như hoa đào đang độ đã ôm trọn vào lòng. Chín tháng sau, Lý Yến sinh được một đôi trẻ bụ bẫm. Sở vương, một lúc được hai chú rồng con, lấy làm sung sướng, phong ngay Lý Yến làm vương hậu, Lý Viên làm quốc cữu, tham gia đại sự trong triều.

Kế hoạch của Lý Viên đã thành công. Nhưng chức quốc cữu chưa phải là mục tiêu. Ông ta muốn nắm trọn đại quyền trong cả nước.

Nhưng, Lý Viên cứ kín như bưng. Thường ngày vẫn một hai theo tướng quốc, không hề lên mặt ta đây là quốc cữu. Nhưng trong nhà đã sẵn một lũ lâu la, hễ có dịp là hành động ngay.

Xuân Thân quân ban ngày thì mải bận quốc sự, đêm về lại lao vào yến oanh dan díu; lúc nào cũng nghĩ đến chức Thái thượng hoàng nước Sở, không biết rằng tai họa lớn đang gần ập xuống đầu.

Sở vương thì bao nhiêu sức lực dồn cả lên người Lý Yến, bắt đầu gục ốm, đường đến hoàng tuyền cũng chẳng còn xa, Xuân Thân quân hay tin lấy làm thích thú, đâu đâu cũng bô bô con mình sắp được kế thừa ngôi báu.

Nào ngờ, con bọ ngựa đi bắt con ve sầu thì đã có con sẻ theo sau.

Sở vương băng hà! Lý Viên cho người báo Xuân Thân quân vào triều phò tá ấu chúa. Xuân Thân quân vui mừng khôn xiết, lên đường vào cung. Nào ngờ thủ hạ của Lý Viên đã phục sẵn trong và ngoài cửa cung, chúng hò nhau chém chết Xuân Thân quân. Lý Viên cho ấu chúa ban bố lệnh: Xuân Thân quân rắp mưu làm phản, chu di cả chín họ.

Tiêu diệt xong thế lực của kẻ thù hùng mạnh, Lý Viên tay trái ôm cháu ngoại, tay phải dắt em gái, đường hoàng lên chức tướng quốc.

Lý Viên thấu hiểu quan hệ nơi quan trường cũng giống như quan hệ trong tình trường. Vốn chỉ là một môn khách bình thường trọng phủ tướng quốc, không hề duyên nợ gì với Sở vương, Lý Viên cương quyết dùng em gái của mình tạo nên mối quan hệ tình cảm, bầy mưu tính kế chiết cây ghép quả thành công, để từ một kẻ áo vải bước lên hàng tướng quốc hiển hách.

Người xưa nói thực sâu sắc: dùng tiền chẳng bằng dùng tình.

3. NGỬI PHÂN ĐỂ MƯU ĐỒ BÁ NGHIỆP

Trong "Hậu Hắc Học", Lý Tông Ngô chỉ ra rằng: "Hậu cứu nước, người xưa có Việt vương Câu Tiễn vậy. Cối Kê đại bại, Câu Tiễn xưng thần với vua Ngô, phu nhân làm thiếp ở Ngô cung, đó là hậu vậy. Sau này cử binh đánh Ngô, Phù Sai cho người khóc lóc cầu xin, tình nguyện xưng thần, phu nhân làm thiếp. Câu Tiễn không dung, bức Phù Sai vào chỗ chết, đó là Hắc vậy. Thế mới hay: Hậu Hắc cứu nước, trình tự trước là Hậu, kế đó là Hắc. Chúng ta có thể tham khảo câu chuyện của Câu Tiễn".

Phân tích tỉ mỉ thì thấy, Việt vương Câu Tiễn được coi là bậc thày xưa nay của Hậu Hắc Học. Hòng báo thù phục quốc, Câu Tiễn không chỉ xưng thần với vua Ngô mà còn dâng cả phu nhân cho vua Ngô! Không những thế, lúc bị vua Ngô giam cầm, Câu Tiễn còn tự nguyện ngửi phân của vua Ngô. Bấy giờ là lúc nước Việt của Câu Tiễn vừa bị vua Ngô tiêu diệt, Câu Tiễn bị cầm tù trong gian nhà đá. Một hôm được tin vua Ngô ốm nặng, Câu Tiễn xin được thăm nom. Gặp lúc vua Ngô đại tiện, dịp may hiếm có, Câu Tiễn tâu với vua Ngô:

- Khởi tấu đại vương, lúc ở Đông Hải, thầy thuốc dạy thần cách quan sát phân người để đoán bệnh. Thần mong được phép ngửi phân của bệ hạ để biết bệnh tình nặng nhẹ ra sao.

Phù Sai nói:

- Như vậy thì khổ cho ngươi quá!...

Câu Tiễn nói luôn:

- Thần được đại vương không giết. Đại vương khác gì cha mẹ hồi sinh cho Câu Tiễn. Phần con cái đối với phụ vương, cơm cháo, nóng lạnh chẳng từ. Vậy ngửi một chút phân thì có gì đáng ngại.

Ngô vương Phù Sai đại tiện xong, Câu Tiễn bưng vội thùng phân ra ngoài, mở thùng, thò tay lấy một ít phân ra ngửi ngửi trước mặt mọi người, trong khi tả hữu người thì quay mặt, kẻ thì bịt mũi!

Câu Tiễn quay vào phòng, quì trước mặt Phù Sai:

- Chúc mừng đại vương, sau ba tháng nữa đại vương sẽ bình phục.

Sai hỏi:

- Làm sao mà biết được?

Câu Tiễn nói:

- Thần từng nghe y phụ nói: "phân người có nhiều mùi vị, mùi hợp với thời tiết thì sống, ngược lại thì chết! Thần đã ngửi phân của đại vương, mùi vị vừa ngọt vừa chua, hợp với khí trời xuân, hạ. Vì thế, mà thần biết.

Ngô vương vui vẻ nói:

- Ngươi thực là người nhân nghĩa. Con trẫm hầu hạ trẫm, chắc gì chúng đã chịu ngửi phân đoán bệnh cho trẫm?

Ngô vương nói xong, nhìn thấy đại gian thần Bá Tể đứng cạnh liền hỏi luôn:

- Ngươi hay nói là trung thành với trẫm, liệu ngươi có làm được như vậy không?

Bá Tể lắc đầu, nói:

- Câu Tiễn là người nhân nghĩa hiếm có trên đời. Thần chỉ là kẻ dung tục, tầm thường! Kẻ dung tục không thể so sánh với người nhân nghĩa! Thần trung thành với đại vương, dẫu gan óc lầy đất cũng chẳng từ. Nhưng việc này thì thần chịu!

Phù Sai nói:

- Đó chẳng qua chỉ là lời thoái thác, những lời trung thành với trẫm là lời dối trá. Chẳng riêng gì Bá Tể, ngay như con của trẫm cũng vậy thôi! Câu Tiễn mới đúng là người nhân nghĩa!

Phù Sai nói thêm với Câu Tiễn:

- Ngươi không phải ở nhà đá nữa. Đến phòng khác rộng rãi mà ở. Chờ khi khỏi bệnh, ta cho ngươi về nước ngay!

Khi biết chuyện, Ngũ Tử Tư nói với Phù Sai:

- Đại vương, Câu Tiễn lừa dối nhà vua đấy! Đừng bao giờ thả hổ về rừng vậy!

Phù Sai nói:

- Chẳng nhẽ một người tự nguyện ngửi phân của trẫm lại còn lừa dối trẫm sao? Lũ các ngươi tự xưng là trung thần, nhưng liệu có ai làm được điều đó không?

Ngũ Tử Tư nói:

- Ngửi một chút phân là trở thành trung thần, hóa ra trung thần dễ dàng như vậy sao?

Phù Sai nói:

- Dễ dàng ư? Ngươi cứ thử một chút xem sao?

Ngũ Tử Tư thầm nghĩ: bằng thủ đoạn đê tiện đổi lấy tiếng tăm là "người trung nghĩa", thật mất cả sĩ diện. Trước điều sỉ nhục mà Phù Sai nêu ra, Ngũ Tử Tư đành yên lặng.

Ít lâu sau, Ngô vương Phù Sai khỏi bệnh. Câu Tiễn vừa ra sức phục dịch vừa đem vàng hối lộ đại thần Bá Tể. Trước mặt Phù Sai, Bá Tể ra sức tán tụng Câu Tiễn, nào là trung thành, nào là tôn quí vua Ngô như cha như mẹ. Ngô vương giữ lời hứa, chuẩn bị cho Câu Tiễn về nước.

Sau khi về nước, Câu Tiễn bùi ngùi nhớ cảnh nằm gai nếm mật, ngửi phân cho chủ mà ra sức phấn đấu làm cho nước Việt hùng mạnh, đánh bại nước Ngô, bắt sống Ngô vương Phù Sai. Bấy giờ Phù Sai mới nghĩ đến Ngũ Tử Tư, một trung thần chân chính. Nhưng biết hối thì đã muộn!.

Phù Sai muốn sống, nên nguyện đem thân làm nô bộc cho Câu Tiễn, tất cả vợ con đều làm tì thiếp cho vua Việt. Nhưng Câu Tiễn không đồng ý, nói:

- Lúc ngửi phân cho ngươi cũng là lúc ta nghĩ rằng: "Sẽ có một ngày ta lấy được mạng của ngươi! Trời xanh không phụ người có tâm. Thế là ngày ấy đã đến".

Phù Sai nói:

- Thần có thể ăn hết số phân của nhà vua thải ra, miễn là cho thần được sống.

Câu Tiễn cười nhạt mấy tiếng:

- Ngươi định lấy cách sống của người để chế ngự người đấy sao? Đừng hòng! Ta không những lấy mạng ngươi. Còn lấy cả vợ con ngươi về vui thú với ta, lấy cả nước Ngô để trăm họ mãi mãi là nô bộc của ta!

Phù Sai bị năm xe ngựa xé xác!

Câu Tiễn nhẫn nhục ngửi phân để báo thù phục quốc. Nhưng có người vì muốn thăng quan mà ăn gần hết một muỗng phân.

Hòa Sĩ Khai người Giám Chương, Bắc Tề, là kẻ vô lại, chẳng thân thiết với một ai! Tuy ít học, nhưng bằng vào những mánh khóe ti tiện, hắn đã làm quan. Vào những năm Võ Thành đế Bắc Tề, do khéo đường ứng hợp, uy thế và quyền lực ngày một lớn, hắn trở thành một tên vua vô sỉ. Một số quan viên trong triều, không còn biết sỉ nhục là gì, đã theo về với hắn. Một số kẻ bỏ cả lễ tiết xin làm con nuôi của hắn. Phú thương, hào thân khắp chốn xin đến làm gia môn.

Một hôm, viên quan bát phẩm Lã Bổng đến tham kiến, nhân lúc Hóa Sĩ Khai đang ốm. Lã Bổng thưa:

- Phụ vương an khang chăng?

Hòa Sĩ Khai giương mắt nhìn kẻ vừa gọi mình bằng hai tiếng "phụ vương", biết đó không phải là con. Nhẩm tính hồi lâu mới nhớ đó là quan bát phẩm từ xa tới, Hòa Sĩ Khai chớp mắt, nói:

- Con của ta có khỏe không?

Lã Bổng nói:

- Cảm tạ phụ vương đã quan tâm!

Thầy thuốc xem mạch cho Hòa Sĩ Khai rồi nói:

- Đại vương mắc bệnh thương hàn trầm trọng, uống thuốc không e chưa có hiệu quả. Phải hòa thuốc lẫn với phân tươi mà uống, bệnh mới khỏi được.

Hòa Sĩ Khai mặt nhăn như bị, nói thều thào:

- Phân người làm sao mà trị được bệnh?

Lã Bổng nói:

- Phụ vương đừng sợ, loại thuốc này cũng dễ uống thôi. Nhi thần xin uống trước.

Nói rồi, Lã Bổng bưng bát thuốc uống một hơi hết quá nửa.

Hòa Sĩ Khai phấn chấn hẳn. Hắn cảm động khi thấy Lã Bổng uống thuốc. Sau đó, hắn nhắm mắt, miễn cưỡng uống hết bát thuốc. Vì sợ quá, hắn toát cả mồ hôi, bệnh theo đó mà khỏi. Để cảm tạ Lã Bổng, hắn liền phong Lã Bổng lên chức quan ngũ phẩm. Đấy là câu chuyện sử sách chép rằng nhờ uống hết một nửa bát phân người mà được thăng ba bậc quan.

4. "NGHỀ" ĐỂ ĐƯỢC THĂNG QUAN

Muốn được thăng quan cũng phải có nghề.

"Nghề" chung là nghề bợ đỡ, nghề làm vừa lòng người trên, nghề đi cổng hậu. Nhưng nghề nói ở đây là một loại sở trường, một kỹ thuật cụ thể mà bất kỳ người dân thường nào, viên quan nào muốn một bước lên cao, đều phải có. Chỉ cần làm cho cấp trên, hoàng đế thích thú, thì coi như đã vớ được cóc vàng, được ăn thịt thiên nga.

Giở lại lịch sử chốn quan trường ở Trung Quốc, dựa vào ngón nghề điêu luyện để thân mình được quyền quí, chẳng phải như Cao Cầu đó sao? Từ một tên lưu manh đầu đường xó chợ, nhờ khéo đá cầu mà trở thành một trọng thần!.

Thời Chiến Quốc ở nước Tề có ba người: Thụ Điêu, Dịch Nha và Khai Phương. Mỗi người mỗi vẻ, người nào cũng có một nghề riêng của mình.

Sở trường của Thụ Điêu là hầu hạ người khác. Lúc gần gũi Tề Hoàn công, Thụ Điêu đã để tâm quan sát tỉ mỉ trạng thái tâm lý, thói quen cùng những ham muốn của Tề Hoàn công. Nên về sau, mỗi lời nói, mỗi hành động của Thụ Điêu đều làm cho Tề Hoàn công thích thú. Khi phải xa Thụ Điêu, Tề Hoàn công luôn cảm giác như thiếu một thứ gì đó.

Sở trường của Dịch Nha là ở tài nấu nướng. Dịch Nha chế biến sơn hào hải vị thì cực kỳ thơm ngon. Một lần ái cơ của Tề hoàn công là Trưởng Vệ Cơ bệnh nặng, bỏ cả ăn uống, chè nước, bệnh tình dai dẳng, chữa mãi không dứt. Dịch Nha liền phát huy sở trường, chế biến thức ăn ngon cùng thuốc khai vị dâng lên. Vệ Cơ dùng xong, tinh thần biến chuyển, chẳng mấy chốc bệnh đã khỏi. Từ đó, Trưởng Vệ Cơ hết lòng sủng ái Dịch Nha. Trưởng Vệ Cơ luôn luôn muốn có Dịch Nha ở cạnh. Chỉ có những món ăn do Dịch Nha làm, nàng mới nuốt được! Trưởng Vệ Cơ không những chỉ tiến cử Dịch Nha với Tề Hoàn công, mà còn để Dịch Nha được ăn nằm với mình nữa! Qua Trưởng Vệ Cơ, Dịch Nha được Tề Hoàn công mến mộ. Dịch Nha còn thân tự giết con để nấu một bát canh thịt người thơm ngon dâng vua! Tề Hoàn công càng thêm yêu quý Dịch Nha.

Còn sở trường của Khai Phương là nịnh hót.

Khai Phương vốn là con vua nước Vệ. Tề đánh Vệ. Vệ vương sai con chở đầy năm xe vàng bạc, châu báu đem dâng Hoàn công, mong cầu hòa bình. Sau khi nghị hòa thành công, Khai Phương muốn ở lại nước Tề. Tề Hoàn công lấy làm không hiểu liền hỏi:

- Ngươi là con trưởng của Vệ hầu. Một khi Vệ hầu qui tiên, theo thứ tự, ngươi ắt là người thừa kế Hầu vương, vậy vì sao ngươi lại vứt bỏ điều cao quí đó, đòi ở lại cùng quả nhân?

Khai Phương được dịp nịnh hót luôn:

Tề là nước mạnh trong thiên hạ. Quân hầu là hiển quân trong thiên hạ. Nếu vi thần được cầm roi đi theo, hầu hạ quân vương thì đó là vinh hạnh suốt đời rồi. Điều đó còn hơn tước hiệu quân vương của thần rất nhiều!

Tề Hoàn công nghe xong những lời nịnh bợ trên, thấy trong lòng như nở hoa, không biết để đâu cho hết vui mừng. Cho rằng Khai Phương thực bụng bỏ chức thái tử, tình nguyện ở lại hầu hạ bên mình, nên Hoàn công phong Khai Phương là đại phu.

Thêm bước nữa, để lấy lòng Hoàn công, Khai Phương còn dâng lên vua Tề hai người em gái của mình. Khai Phương nói:

- Hai nàng công chúa nước Vệ là những mỹ nữ nhan sắc tuyệt vời trong thiên hạ.

Nghe xong, Tề Hoàn công lập tức cầu thân với nước Vệ. Vệ vương sợ thế lực của nước Tề nên vội vã đem dâng luôn hai công chúa. Đó chính là hai nàng thiếp yêu của Tề Hoàn công: Vệ Trưởng Cơ và Vệ Thiếu Cơ.

Thụ Điêu, Dịch Nha, Khai Phương mỗi người có một sở trường riêng mà được Tề vương trọng dụng. Tề ngày càng xa rời các hiền thần, lương tướng tài ba khác.

Thời Quản Trọng còn làm tướng quốc đã kiến nghị Tề Hoàn công đuổi cổ ba tên lộng thần ra khỏi cung cấm. Nhà vua đồng ý và làm theo. Nhưng chỉ hai tháng sau, Tề Hoàn công thấy lòng mình luôn luôn trống rỗng, buồn bã khó nói, lúc nào cũng như người mất hồn, sao nhãng cả việc triều chính. Về sau lại gọi ba kẻ đó vào cung thì tâm tình mới vui vẻ hơn trước.

Nói đến "nghề" thì Lý Liên Anh triều Thanh lại càng nổi bật. Tên thái giám này từng là kẻ chẳng ra gì trước lúc vào cung. Trong hoàng cung khi đó có rất nhiều thái giám. Tuy nhiên, nhờ vào tài chải tóc khéo léo của mình mà Lý Liên Anh được vinh hoa phú quý hơn hẳn mọi người.

Lý Liên Anh xuất thân bần hàn, mồ côi cha từ bé. Sau nhờ được thái giám Thẩm Ngọc Lan đồng hương dìu dắt đưa vào cung. Hơn mười sáu tuổi, Lý Liên Anh mới vào cung, với dáng người xấu xí. Một thái giám như vậy khó lòng được gần gũi Từ Hi thái hậu. Tuy nhiên, vận may hay đến với Lý Liên Anh. Ấy là Tây thái hậu thường thích những kiểu tóc lưu hành thời đó, nhưng không có một thái giám nào làm thái hậu vừa ý. Thái hậu sợ nhất là chải tóc làm cho tóc rụng. Thái giám nào làm rụng một sợi tóc thì bị đánh một roi. Lũ thái giám chuyên chải tóc đều sợ mất mật.

Sau khi biết chuyện, Lý Liên Anh thầm nghĩ: quả là một cơ hội tốt đây. Lý Liên Anh lặng lẽ bỏ ra khỏi cung, chạy thẳng đến kỹ viện, lo học tập cung cách chải tóc của các kỹ nữ. Lý Liên Anh miệng nói rất khéo, tay làm thuần thục nên chưa đầy một tháng đã nắm trọn ngón nghề có thể đưa mình tiến lên vùn vụt.

Sau khi về cung, Lý Liên Anh tự bảo rằng mình có thể chải tóc cho Từ Hi thái hậu. Viên thái giám tổng quản chuyên lo việc chải tóc vớ được Lý Liên Anh như vớ được vàng. Quả Lý Liên Anh phi phàm thật. Ngay hôm đầu tiên hắn chải cho Tây Thái hậu kiểu tóc kỹ nữ thời thượng, được Từ Hi vô cùng mãn nguyện. Từ đó, hắn là thái giám chuyên lo chải tóc cho Từ Hi.

Lý Liên Anh nắm vững tâm lý của Tây thái hậu. Mỗi lần chải tóc, hắn thường kể những chuyện vui vui, làm phân tán sự chú ý của Từ Hi, rồi len lén bỏ mấy sợi tóc rụng vào trong tay áo. Tóc Từ Hi vừa đẹp vừa nguyên vẹn.

Từ Hi thái hậu rất thích Lý Liên Anh.

Cứ như vậy, Lý Liên Anh nhờ biết chải tóc mà trở thành đại tổng quản trong nội phủ hoàng cung. Nhờ vào sự sủng ái của Từ Hi, bọn vương công quí tộc, đại thần nhất phẩm đều phải vui vẻ với Lý Liên Anh.

Bất kể là ngón nghề nhỏ mọn đến đâu nhưng nếu được cấp trên thích thú thì vẫn có thể thênh thang cất bước đến tận đỉnh cao của quyền lực.

5. CÁCH THỨC CẦU QUAN CỦA LÝ BẠCH

Lý Bạch, một thi nhân vĩ đại của chủ nghĩa lãng mạn thời thịnh Đường, từng viết thư cho Hàn Triều Tông. Trước hết, Lý Bạch khẳng định tiếng tăm, công đức của Hàn Triều Tông đối với nhân tài. Sau đó, chẳng ngại ngùng gì, cũng như Mao Toại, Lý Bạch thể hiện tâm tư muốn ra làm quan của mình.

Trong thư, Lý Bạch kể rõ tài học và sự từng trải của mình, hận vì chưa gặp thời, mong rằng mình được Hàn Triều Tông tiếp nhận. Lý Bạch nêu gương người xưa tiếp nhận nhân tài, tán dương công đức tiến cử nhân tài của Hàn Triều Tông, và nguyện vọng "gửi thân vào tay quốc sĩ".

Là một nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa, tự do phóng khoáng, cũng phải tâng bốc người quyền quí, hòng mưu cầu được một chức quan. Đủ thấy, chốn quan trường thời cổ Trung Quốc có sức hút mạnh mẽ đối với các văn nhân.

Lý Bạch viết thư gửi Hàn Triều Tông, nói:

Bổn nhân nghe những người có học trong thiên hạ khi ngồi lại với nhau thường bình luận người này người nọ, nói: "Lúc sống chẳng cầu được phong những là vạn hộ hầu, mà chỉ hi vọng nhìn lấy một lần Hàn Kinh Châu". Vì sao người đời lại khâm phục, ngưỡng mộ ngài đến nhường ấy? Đó chẳng phải vì những câu chuyện ngài được như Chu Công, tiếp nhận, nuôi dưỡng những người hiền tài, khiến những người tài năng xuất chúng trong nước giành nhau đến với ngài, và một khi được ngài tiếp nhận thì giá trị tăng lên gấp bội, như cá chép vượt khỏi long môn là gì? Vì vậy những người hiền ôm tài ẩn cư, chờ thời đều muốn đến chỗ ngài để được danh giá và có tiếng tăm. Nếu ngài không phải vì giầu sang mà lạnh nhạt với họ, cũng không phải vì họ nghèo túng mà xem thường, thì lại sẽ có một Mao Toại trong hơn ba ngàn thực khách của Bình Nguyên quân như trước đây thôi! Giả sử bỉ nhân có cơ hội thể hiện tài năng của mình thì sẽ như chiếc dùi để trong túi vải, nhanh chóng sẽ lộ ra ngoài. Bỉ nhân là người như vậy.

Bỉ nhân là một dân thường ở Lũng Tây, lưu lạc đến đất Sở, Hán. Mười lăm tuổi thích nghề kiếm thuật, từng sung vào nơi cửa quan. Ba mươi tuổi học cách viết văn. Nhiều lần bái kiến vương công đại nhân, họ đều tán thưởng. Hành động và tư tưởng của bỉ nhân trước kia là như vậy, nay xin thổ lộ với ngài.

Công sức của ngài tựa như thiên bình, thần tướng, đức hạnh cảm động đến trời đất, văn chương chỉ rõ những quiluật tự nhiên thật sâu sắc, học vấn thấu triệt về quan hệ nhân sự và đạo trời. Mong ngài mở lòng nhân từ đón nhận bỉ nhân để bỉ nhân phát huy được mọi khả năng dù phải viết bài văn hàng vạn chữ, bỉ nhân cũng chỉ vẩy bút là xong! Ngày nay thiên hạ cho rằng ngài có quyền bình luận văn chương, có biểu chuẩn nhìn nhận nhân vật, được ngài đánh giá tốt thì lập tức trở thành người có học ưu tú. Nhưng vì sao ngài nhất định chỉ để một nơi chật hẹp trước thêm cho mọi người tiếp kiến, không để bỉ nhân được vùng vẫy, cao đầu tiến tới?

Lúc trước, trên đường đi nhận chức thứ sử ở Dự Châu, Vương Doãn đã thu nhận Tuân Từ Mình. Sau khi đến nhiệm sở lại nghênh đón Khổng Văn Cử. Còn như thứ sử Ký Châu Sơn. Đào đã cất nhắc hơn ba mươi người, có người làm đến thị trung, có người làm đến thượng thư. Trên đây đều là mỹ đức của người xưa. Còn ngài, ngài đã tiến cử Nghiêm Hiệp Luật vào triều làm thị lang. Như Thôi Tông Chi, Phòng Tập Tổ, Lê Hân, Hứa Doanh, người vì tài danh mình được ngài tán thưởng, người thì vì phẩm hạnh thanh bạch mà được ngài thích thú. Nhìn họ, bỉ nhân tự nhận thấy mình đủ lòng trung nghĩa biết ghi ân, tạc đức. Vì thế bỉ nhân mới cảm động trước chân tình của ngài đối với các hiền nhân. Chính điều đó khiến bỉ nhân không muốn nương tựa người khác, chỉ muốn gửi gắm thân phận vào tay ngài. Những lúc khó khăn, nếu ngài cần đến, bỉ nhân nguyện có chết cũng không từ nan.

Người ta không phải là Nghiêu, Thuấn, dám đâu nói chắc mình là hoàn hảo? Bỉ nhân chưa hề có ý nghĩ mưu kế, sách lược của mình là tài ba! Ngay như thi văn, sángtác bỉ nhân có tích luỹ được một phần, những muốn phiền ngài phải nghe, nhưng lại sợ những thứ cỏ rác đó không hợp với thói quen thưởng thức của ngài! Còn nếu ngài cũng muốn xem các tác phẩm đó, thì hãy cho bỉ nhân một ít giấy mực, cử đến mấy người sành chuyện viết lách, bỉ nhân sẽ cho dọn một căn phòng sạch sẽ, tĩnh mịch cho người sao chép nhanh chóng để dâng lên. Những bài viết đó hẳn còn non nớt lắm, ắt phải có bàn tay nâng niu chăm sóc mới trở nên có giá trị. Mong được ngài tiến cử, khích lệ bỉ nhân. Xin ngài soi xét.

6. TÔ ĐÔNG PHA TÂNG BỐC NGƯỜI KHÁCNHẰM ĐỀ CAO MÌNH

Tô Thức tự là Chiêm, hiệu là Đông Pha cư sĩ, người My Sơn (nay là huyện My Sơn, Tứ Xuyên). Là văn nhân kiệt xuất thời Bắc Tống, nhưng lại bất đắc chí trong chốn quan trường. Sau khi đỗ đạt tiến sĩ, hòng có chức quan kha khá, từng đã viết thư cho quan chủ khảo thời đó là Mai Nghiêu Thần, ra sức đề cao quan Chủ khảo Âu Dương Tu và quan tham bình Mai Nghiêu Thần, nói lên niềm vui sướng của "kẻ sĩ gặp người tri kỷ". Thậm chí còn mượn chuyện Khổng Tử, Chu Công để đề cao quan hệ của mình với Âu và Mai.

Tô Đông Pha tâng bốc như sau:

Bỉ nhân mỗi lần đọc đến "Si Kiêu" trong "Thi Kinh" hay "Quân Thích" trong "Thư Kinh" vẫn thầm than cho Chu Công không gặp được người tri kỷ. Chờ đến khi đọc "Sử ký", lúc Khổng Tử bị vây khốn ở nước Trần và nướcThái, ăn thì cơm rau, có khi đói đến rũ ra, nhưng tiếng đàn và tiếng ca thì không bao giờ dứt.

Nhan Uyên, Trọng Do và một số học trò cùng nhau hỏi đáp.

Khổng Tử: Không phải là hai mãnh thú: tê giác và hổ, nhưng sao cứ phải bôn ba khắp chốn, phải chăng chủ trương của ta là sai lầm. Vì sao ta lại đến bước này?

Nhan Uyên: Chủ trương của thày hết sức sâu sắc và đúng đắn, vì thế người người mới không hiểu; tuy như vậy, nhưng có điều gì đáng phải lo ngại đâu? Chính vì họ không hiểu thày, thày mới là bậc chính nhân quân tử!

Khổng Tử: Nhan Hồi, nếu ngươi có nhiều tài sản thì để ta trông nom sổ sách cho vậy.

Tuy thiên hạ không ai hiểu được chủ trương của Khổng Tử, nhưng chính học trò của ông ta lại vì thế mà thỏa mãn, mà sung sướng! Lúc này bỉ nhân mới hiểu, Chu công giầu sang chắc gì đã bằng Khổng Tử nghèo hèn. Giống như Triệu công hiền hậu, Quản Thúc, Xái Thúc là những người em thân thiết của Chu Công, nhưng họ đâu có hiểu được ông. Vậy thử hỏi, Chu công. còn biết cùng ai an hưởng phú quý đây? Trong khi đó, những người sống cùng cảnh nghèo hèn với Khổng Tử đều là những người hiền trong thiên hạ, chỉ riêng điểm này thôi cũng đáng phấn khởi lắm rồi.

Năm bảy, tám tuổi bỉ nhân mới đọc sách, mới nghe nói thiên hạ có người là Âu Dương công, đối nhân xử thế chẳng khác gì cổ nhân Mạnh Kha, Hàn Dũ; còn có Mai công (Mai Nghiêu Thần) là bạn của Âu Dương công, haingười gần gũi chí hướng, thường bàn luận nhiều về văn học. Về sau, lúc trưởng thành, bỉ nhân mới được đọc văn chương, từ, phú của hai vị, tưởng tượng ra cung cách ứng xử của hai vị và cũng mường tượng ra cái gọi là niềm hân hoan thoát tục, thần thánh mà hai vị được hưởng. Bấy giờ bỉ nhân đang võ vẽ học làm thơ, phú. Những mong có một chút nâng đỡ nhỏ nhoi nào đó, nhưng lượng sức mình, tài hèn phận mỏng, đâu dám đến gặp các vị. Đến kinh thành hơn một năm mà chưa dám gõ cửa cầu kiến. Mùa xuân năm này, sĩ tử trong thiên hạ đổ về Lễ bộ, tiên sinh (chỉ Mai công) và ngài Âu Dương công thân tự thẩm vấn lũ học trò. Bỉ nhân không ngờ mình được đứng thứ hai. Về sau, được biết ngài thích thú với văn phong của bỉ nhân, na ná phong cách của Mạnh Kha; Âu Dương công cũng tuyển chọn bỉ nhân vì văn phong không nhuốm mùi thế tục. Vì vậy, bỉ nhân mới được lưu lại. Và bỗng chốc, những người hơn mười năm qua chỉ nghe tiếng, nay trở thành tri kỷ. Khi ngẫm nghĩ lại, bì nhân nhận thấy người ta không nhất thiết phải cầu cạnh để giầu sang, nhưng cũng đừng nên giữ mãi cảnh nghèo hèn. Được làm học trò của những bậc hiền tài là vinh hạnh lắm rồi!. Giá như nhất thời có chút thành công, một đoàn xe ngựa cùng lũ tùy tòng trở lại quê hương, bà con lối xóm đổ ra xem và thán phục, thì chắc gì đã sung sướng bằng!.

"Luận Ngữ" nói: "Không oán trời, không trách người".Đó chính là thái độ của bỉ nhân biết "ung dung tự tại!Sống với số phận của mình".

Tiên sinh, danh tiếng ngài trùm thiên hạ, quan vị khôngquá ngũ phẩm, nhưng ngài vẫn ôn hòa, đáng mến; tiênsinh, văn chương của ngài khoan dung, chất phác, tha thiết đến cảm động lòng người. Chắc ngài đã thấm nhuần đạo làm người của thánh nhân! Bỉ nhân mong ngài chỉ giáo cho nhiều...

7. CÁI SỰ UYỂN CHUYỂN, HÀM SÚC TRONG LÚC CẦU QUAN CỦA TÔ TRIỆT

Thuật cầu quan của Tô Triệt chẳng khác gì người anh là mấy. Sau khi giành chức tiến sĩ, Triệt liền dâng thư cho Hàn Kỳ, danh thần Khu mật sử thời đó, để mong được làm quan trong triều. Tuy chỉ như vậy, nhưng Tô Triệt đã không tiếc công xếp câu dàn ý viết nên một bài văn. Tô Triệt nhắc đến cảnh núi non hùng vĩ, đến việc tấn kiến Âu Dương Tu, cuối cùng mới đặt vấn đề và biểu tỏ lòng ngưỡng vọng đối với Hàn Kỳ. Lời văn thì bay bổng, khẩu khí cầu quan thì hết sức hàm súc.

Tô Triệt tuy còn trẻ, nhưng vững vàng hơn người anh. Thư viết:

Những người xung quanh Thái úy cho rằng: Tô Triệt vốn thích làm văn, suy tưởng sâu sắc. Văn chương là biểu hiện khí chất của một người. Nhưng văn chương là cái khó học, còn khí chất là cái có thể tu dưỡng, rèn giũa mà nên.

Mạnh Tử nói: "Cái khí chất cương nghị, mạnh mẽ của ta là do ta rèn luyện nên". Lúc này xem lại thì thấy văn chương của Mạnh Tử khoan hậu, mênh mang giữa đất trời, tương xứng với khí phách cương trực của ông ta. Tu Mã Thiên ngao du thiên hạ, tận mắt nhìn cảnh núi non hùng vĩ, kết thân với hào kiệt vùng Yên, Triệu nên thầnthái văn chương của họ Tư Mã giản dị mà phóng khoáng, nhiều điều kỳ lạ. Chẳng phải hai người đã viết văn với cùng một bút pháp hay sao? Trong lòng họ tràn đầy những kỳ khí, hiện hình trên khuôn mặt từng người, biến thành ngôn từ của họ, xối xả thành văn, có thể bản thân họ cũng chẳng biết nữa.

Bỉ nhân tuổi tròn mười chín. Quanh quẩn với mấy người đồng hương, cùng những chuyện xẩy ra trong mấy trăm dặm. Làm gì có núi cao, sông rộng để du ngoạn, mở mang kiến thức. Các trước tác thời cổ của Chư tử bách gia đều đã đọc hết. Nhưng xét cho cùng vẫn là người cổ, chuyện cổ, chẳng làm gì để nâng cao được chí khí của bỉ nhân. Sớm muộn gì cũng sẽ mai một mất. Vì thế, bỉ nhân mới lục tìm sách vở, hòng có được những điều ly kỳ trong thiên hạ cùng những cảnh tượng hùng vĩ trong vòng trời đất bao la này. Bỉ nhân thăm lại cố đô Tần, Hán, ngây ngất trước cảnh hùng vĩ của Nam Sơn, Tung Sơn, Hoa Sơn, của dòng Hoàng Hà đang cuồn cuộn đổ về hướng bắc. Bỉ nhân xiết bao cảm động và tưởng nhớ các anh hùng hào kiệt xưa kia. Lúc đến kinh thành, ngắm nhìn cung điện đế vương tráng lệ, những kho tàng, phủ đệ, thành trì đồ sộ, mới hiểu rằng đất nước thật là xinh đẹp, hùng vĩ. Bi nhân nhìn thấy Hàn lâm học sĩ Âu Dương công, được nghe ông nghị luận và hùng biện, ông khôi ngô, xinh đẹp. Được đi lại với các đạo sĩ đại phu tài giỏi, môn khách của ông, mới biết văn chương trong thiên hạ đều tụ tập hết ở đây! Thái úy trùm thiên hạ bằng tài năng mưu lược của mình, người người được nhờ vả, còn gì phải lo lắng nữa! Các bộ tộc khắp biên cương của Tổ quốc đềusợ oai ngài, không dám làm loạn. Trong triều, ngài như Chu công, Triệu công; ra ngoài chẳng khác gì Phương Thúc, Triệu Hổ. Nhưng bỉ nhân vẫn chưa được gặp ngài.

Hơn nữa, người cầu tiến, nếu không nuôi chí lớn thì học càng nhiều càng vô ích! Bỉ nhân đã nhìn thấy Nam, Trung, Hoa Sơn hùng vĩ, dòng Hoàng Hà vừa sâu vừa rộng; được thấy Âu Dương công, mong sao được thấy cả phong thái của ngài, nghe lời khích lệ của ngài, mới coi là thấy hết cái hùng vĩ của trời đất! Mới không ân hận!

Bỉ nhân còn trẻ, chưa biết việc quan trường. Chỉ mong được một ít bổng lộc. Nay được rồi lại thấy không vui. Còn muốn quay về, chờ tin triều đình cất nhắc. Thời gian nhàn rỗi lại nghiền ngẫm về văn chương, học cách làm quan. Ngày nào được Thái úy hạ cố, thấy bỉ nhân có thể dạy dỗ được, mới thực là vinh hạnh cho bỉ nhân!

8. HÀN DŨ KHÉO BIẾT CẦU QUAN

Năm Trinh Nguyên thứ 11, Hàn Dũ trúng tiến sĩ và ba lần có thư gửi Tể tướng để cầu quan. Bức thư thứ hai viết là:

Ngày 16 tháng 2, tiến hương cống tiến sĩ Hàn Dũ cung kính gửi tới tướng công:

Mấy hôm trước, bỉ nhân đã dâng thư và thơ văn. Sau đó là mười chín ngày chờ đợi mà chưa có hồi âm. Bỉ nhân lo ngại, chưa biết phải làm gì! Nay, dù có bị trách phạt, bỉ nhân cũng xin nói hết ý nghĩ của mình để mong được ngài chỉ bảo.

Bỉ nhân nghe nói, khi một người sắp chết đuối cầu cứumột người khác thì không nghĩ rằng người đó thân tình với mình như cha con, anh em, thì mới hô hào người đó đến cứu. Nạn nhân mong được người nào đó ở gần, sẵn lòng từ tâm, cứu giúp. Dù người đó có oán thù, nhưng chưa đến đoạn hết tình hết nghĩa! Còn người đi cứu, không nghĩ rằng mình với người bị nạn có tình nghĩa như cha con, anh em nên mới chạy đến cứu. Dù cho mình với người đó có oán thù, miễn là chưa đến chỗ tuyệt tình thì vẫn nhanh chóng đến vớt lên hà hơi, tiếp sức cứu cho bằng được. Vì sao họ lại làm thế? Vì tình thế quá bức bách, cảnh ngộ quá bi đát?

Bỉ nhân ra sức học tập, gắng công mài sức đã bao năm rồi! Bất kể là đường đi khúc khuỷu hay bằng phẳng, lúc nào bỉ nhân cũng xông lên. Những lúc rơi vào cảnh ngộ nước sôi, lửa bỏng, cùng quẫn đói khát, vừa hiểm yếu vừa bức bách, bỉ nhân đều lớn tiếng kêu cứu. Có lẽ ngài cũng nghe thấy và nhìn thấy rồi. Ngài sẽ đến cứu bỉ nhân, hay chỉ khoanh tay đứng nhìn? Tả hữu sẽ nói với ngài: "Có kẻ nhìn thấy nạn nhân sắp chìm trong nước, sắp cháy trong lửa, biết cứu mà không cứu, thì ngài xem hắn có còn là người quân tử nhân nghĩa nữa không?" Nếu không phải, thì đối với một người như bỉ nhân cũng đáng để cho các bậc quân tử nhân nghĩa phải động lòng cứu giúp!

Có người nói với bỉ nhân: "Huynh nói đúng, Tể tướng cũng thể tình, nhưng chưa phải lúc thì làm thế nào?" Bỉ nhân cho rằng người đó ít hiểu sự đời. Chẳng qua là tài năng của mình chưa đáng để hiền tướng tiến cử mà thôi! Thời cơ là cái mà cấp trên bày đặt, đâu phải tại trời.

Năm, sáu năm về trước, do tể tướng tiến cử, có người từđám bình dân được đề bạt. Chẳng nhẽ khi đó với bây giờ có gì khác nhau? Huống hồ lúc này các vị như Tiết độ sứ, Quan sát sứ cùng các phòng ngự, doanh điển và các tiểu sứ đều có quyền chọn lấy phán quan ngay từ những người không chức quyền. Thế thì đường đường là tể tướng, người được quân vương tôn kính, lại không nói được một câu hay sao? Thời cổ, có thể chọn người từ đám đạo tặc, từ những kẻ quản lý kho tàng để tiến cử nhân tài. Nay bỉ nhân tuy là kẻ ti tiện, không chức không quyền, nhưng cũng có thể so sánh được với những người kia. Cảnh ngộ của bỉ nhân thật là cùng quẫn, biết giải bầy thế nào đây! Chỉ mong được thể tình lấy một phần thôi!

Hàn Dũ kính bái.

Hàn Dũ vì tình cảnh khốn quẫn mà cầu xin, hoặc bản thân vì muốn cầu quan nên phải khốn khổ trần tình?

Sau này, Âu Dương Tu và Vương An Thạch có phê phán thái độ của Hàn Dũ. Mặc dù vậy, với cách hành văn đối chiếu, so sánh, lời thư cầu quan của Hàn Dũ được viết thật sinh động, văn vẻ.

Trong thư, Hàn Dũ so sánh tình hình lúc đó và tình hình thời cổ, hành vi của mình cùng tác phong của các ẩn sĩ, để giãi bầy tấm lòng trung trinh đối với đất nước. Qua thư, thấy rõ Hàn Dũ là người viết tản văn kiệt xuất, kỹ xảo dùng ngôn từ thật cao siêu. Trong phương thức tu từ có biến hóa, vừa phẳng vừa sôi sục, như "con sóng dữ tuôn ra khỏi nguồn". Hãy xem một bức thư cầu quan khác:

Ngày 16 tháng 3, tiền hương cống tiến sĩ Hàn Dữ cung kính gửi tới tướng câng:

Bỉ nhân nghe nói, Chu công khi còn làm tể tướng, đã dốc lòng tiếp đón các hiền sĩ. Một bữa ăn phải buông đũa đến mấy lần! Lúc bấy giờ, nhiều người hiền tài đã được tiến cử trọng dụng. Loại người giảo hoạt ác độc, phản phúc vô thường, bội tín, bội nghĩa đều bị loại bỏ. Thiên hạ thái bình, an cư lạc nghiệp. Các dân tộc man di nơi biên cương đều phải quy thuận và tiến cống. Thiên tai, dịch bệnh, côn trùng phá hoại mùa màng đều bị tiêu trừ. Trăm họ chuộng điều lễ nhạc. Các loại chế độ giáo hóa, cai trị đều được chỉnh đốn. Thuần phong mỹ tục ngày một nảy nở. Bao loài thú hoang dã được thuần dưỡng ngày một nhiều. Bốn loài thú quý như long, ly, quy, phượng đã bắt đầu xuất hiện. Chu công, bằng vào tài năng thần thánh của mình, với thân tình là thúc phụ của Thiên tử, ra sức phò trợ thiên tử trị lý Chu thất, kế thừa công tích đức độ của tiên vương, lập nhiều công trạng hiển hách! Về mặt cầu hiền liệu còn có ai hơn được Chu công? Không những không hơn được Chu công mà ngay so với trăm quan thời đó, cũng chẳng ai bằng! Liệu còn có ai mưu lược, tài trí, bổ ích hơn tài đức của Chu công? Chu công cầu hiền thật bức bách. Chỉ sợ rằng mình tai không nghe, mắt không thấy, suy nghĩ chưa thấu đáo, phụ mất lời ủy thác của Thành vương, thất tín với trăm họ. Giả sử lúc bấy giờ phò trợ thiên tử trị lý đất nước, kế thừa công tích đức độ của tiên vương không có hiệu quả; Chu công chưa có tài năng thần thánh, lại không phải là thúc phụ của thiên tử, thì e chẳng có thời gian mà ăn cơm, chứ đừng nói đến một bữa ăn phải buông đũa đến mấy lần! Chính vì vậy, đến nay, người đời vẫn ca tụng đức hạnh của Thành vương và không ngừng nêu cao công đức của Chu công.

Ngày nay ngài là tể tướng, chức vụ gần như Chu công xưa kia. Thử hỏi, nhân tài thiên hạ đều được tiến cử trọng dụng cả rồi sao? Lũ người giảo hoạt, độc ác, phản phúc vô thường, mất lòng trung nghĩa cũng bị loại bỏ hết rồi sao? Thiên hạ phải chăng đã hoàn toàn thái bình, an cư lạc nghiệp? Các tộc man di nơi biên cương đã quy thuận, tiến cống? Thiên tai, dịch bệnh, côn trùng phá hoại mùa màng, đều bị tiêu trừ? Các loại chế độ giáo hóa, cai trị đều được chỉnh đốn? Thuần phong mỹ tục cũng ngày càng nảy nở? Thú hoang được thuần dưỡng, bốn loài long, ly, quy, phượng đều đã xuất hiện? Đối với những người thỉnh cầu được tiến kiến, đức độ tuy chưa thể bằng ngài, nhưng lẽ nào lại thua kém cả số quan viên ngày nay sao? Ý kiến họ đã trình bẩy, liệu có ích lợi gì không? Ngày nay, tuy ngài chưa thể mất ăn, mất ngủ như Chu công, nhưng cũng nên thu hút họ, xem xét tài năng của họ mà thu dùng. Thực không nên có thái độ lạnh nhạt, bỏ qua.

Bỉ nhân chờ ngài hồi âm đã hơn bốn mươi ngày rồi! Thư đã trình lên hai bức. Nhưng tâm tư nguyện vọng thì chưa thấu. Ba lần đến cửa thì ba lần bị ngăn lại. Bỉ nhân vì ngu muội nên bỏ đi. Bởi vậy, lại kể một câu chuyện về Chu công. Rất mong được ngài đoái xem một phần.

Sĩ nhân thời cổ, ba tháng chưa được chức quan liền đến thăm nhau. Vì vậy, khi ra ngoài họ đều mang theo lễ vật. Nhưng ai nấy đều coi trọng việc tự tiến cử? Vì nếu Chu không dùng thì họ sang nước Lỗ. Lỗ không dùng thì họ sang nước Tề. Tề không dùng thì họ đến Tống, đến Trịnh, đến Tần rồi đến Sở. Ngày nay thiên hạ chỉ có một vị quân chủ, bốn bể là một đất nước. Xa rời chỗ này đếnvới bọn Di, Địch là rời bỏ tổ quốc của mình. Vì vậy, những ai muốn thực hiện nguyện vọng cao cả, người có trách nhiệm, mà chưa có chức vị trong triều thì đều vào rừng ẩn cư. Tuy vậy, chỉ những ẩn sĩ, tự tu, không màng thiên hạ mới an tâm. Ngược lại, thân ở trong rừng nhưng lòng dạ vẫn không yên. Vì thế bỉ nhân mới tự tiến cử mình mà không cảm thấy xấu hổ. Thư từng lá dâng lên, chân từng bước lần tới cửa, không một phút nào dừng. Nhưng bỉ nhân vẫn sợ rằng mãi mãi không được đứng dưới trướng của ngài! Mong sao được ngài đoái tới một phần! Mạo muội xúc phạm tới sự uy nghiêm và tôn quý của ngài. Kinh hoàng lắm thay!

Hàn Dũ kính bái!

Hàn Dũ cho rằng thái độ cầu hiền phải như khát nước, nên mới dùng hàng loạt những câu phản vấn để chỉ ra thái độ sai lầm của tể tướng. Nhiều lần Hàn Dũ viết thư cho tể tướng đương triều. Coi như thế mới là báo quốc, biết lo cho thiên hạ. Không phải là điều tư lợi.

Câu văn của Hàn Dũ thế như "sông dài, biển rộng, cuồn cuộn tuôn trào". Trong chốn quan trường ít thấy những trường hợp như vậy.

Ngày mùng 3 tháng 7, Hàn Dũ lại cung kính dâng thư lên Thượng thư, nói:

Người có học muốn thành danh, được rạng rỡ thì đều cần phải có bậc tiền bối tài ba đức hạnh, có người danh vọng trong thiên hạ dìu dắt. Người có học được lưu truyền tên tuổi, soi sáng đời sau, đều phải nhờ vào hậu bối, nhờ những người có danh vọng trong thiên hạ làm người tiếp bước. Tuy có tài, nhưng không có người dẫn đường thìkhông thể hiển hách. Tuy có đức lớn, nhưng không có người tiếp bước thì không lưu truyền được. Hai loại người này không đồng hành: Phải hàng trăm, ngàn năm mới gặp được nhau một lần. Chẳng nhẽ trong số người trên không có ai chịu dang tay ra giúp đỡ và loại người dưới không có ai muốn được người khác tiến cử? Vì sao họ trông chờ nhau bức xúc đến ngần ấy, mà cơ hội gặp nhau lại ít ỏi như vậy? Bởi vì loại người dưới ỷ vào tài năng của mình, không chịu van xin người trên tiến cử. Còn người trên, nghĩ rằng mình đã cao sang nên không chiếu cố người dưới. Phần lớn những người tài cao rầu rĩ vì bất đắc chí. Những người quyền quý cũng chẳng có danh vọng hiển hách. Cả hai loại người đó đều sai lầm. Không cầu xin thì làm sao biết được ở trên không có người giúp đỡ. Không xem xét, tìm hiểu thì không thể nói ở dưới không có người đáng để tiến cử. Bỉ nhân tâm niệm như vậy đã lâu và chưa hề thổ lộ với ai.

Bỉ nhân nghe biết ngài là bậc tài năng phi phàm, nhân phẩm xuất chúng, tác phong đặc biệt. Ngài là người chính trực, xử thế trung thực. Tiến thoái không theo thời tục. Văn võ quan viên được ngài sử dụng theo tài năng. Lẽ nào, kẻ sĩ hiển đạt mà bỉ nhân nghe kia, chính là ngài sao? Nhưng vì sao bỉ nhân chưa hề nghe có kẻ hậu bối nào lấy lễ mà cư xử, mà ca ngợi ngài! Lẽ nào vì cầu mà không được chăng? Hay là ngài lập chí, xây dựng cơ nghiệp, chuyên tâm báo đáp nhà vua, nên mỗi lần gặp kẻ hậu tiến, không còn dịp mà đối đãi chăng?

Bỉ nhân tuy tài mọn, nhưng không cho phép mình được tụt lại phía sau! Ngài muốn tìm nhân tài mà nhân tài chưacó chăng? Cổ nhân nói: "Xin bắt đầu từ Quách Nguỵ đi".

Bỉ nhân chỉ vì mấy thứ tiền tiêu vặt, gạo củi mà lo lắng. Còn đối với các ngài thì đáng kể chi!

Nếu như ngài nói: "Ta quyết lập nghiệp, chuyên tâm báo đáp nhà vua. Nên dù có gặp người hiền, cũng chẳng còn lúc nào để thù tiếp" Bỉ nhân không dám biết điều đó. Trên đời có biết bao nhiêu kẻ hẹp hòi. Chúng không đáng được nghe những điều đó. Những người quang minh chính đại không ai chịu nghe những lời bộc bạch của bỉ nhân, thì số phận của bỉ nhân quả là hẩm hiu lắm thay! Xin dâng lên mười tám bài văn bỉ nhân đã viết. Chí hướng của bỉ nhân nằm cả ở đấy.

Hàn Dũ băn khoăn, lo ngại kính báo.

Hàn Dũ vì cầu quan mà phải tâng bốc nhạt nhẽo kẻ quyền quý và tự biện hộ cho mình. Thực không thỏa đáng. Hãy xem phần viết dưới đây:

Bỉ nhân được gần gũi các hạ đã mấy năm. Ban đầu các hạ có phần tán thưởng. Bỉ nhân vốn nghèo túng, vì miếng ăn mà phải bôn ba đây đó, không thể gần gũi sớm tối. Về sau, các hạ luôn được thăng quan tiến tước, người hầu kẻ hạ ngày một thêm nhiều. Địa vị càng cao, càng xa rời kẻ bần tiện. Môn hạ càng đông thì tình cảm càng phân tán, không còn thắm thiết như xưa. Về phần bỉ nhân, phẩm chất còn chưa hoàn thiện thì văn chương đã được nổi danh. Phẩm đức chưa hoàn thiện thì người hiền không tán thưởng. Văn chương nổi danh thì lũ người cùng tiến đâm ghen ghét. Mở đầu là sự ngăn cách và xa dần. Thêm vào đó, bỉ nhân buồn phiền vì tình cảm của các hạ không còn tha thiết, mất dần sự quý mến trước kia. Các hạ lại nghelời gièm pha của lũ người ghen ghét. Từ đó, nơi ở của các hạ không còn dấu chân của bỉ nhân nữa!

Mùa xuân năm ngoái, bỉ nhân đến thăm các hạ một lần. Các hạ ôn tồn, như đang thưởng thức những biểu hiện gần đây của bỉ nhân. Các hạ nói luôn miệng, tỏ vẻ đồng cảm với cảnh ngộ khốn quẫn của bỉ nhân. Trở lại nhà, lòng bỉ nhân vui mừng khôn xiết. Liên đem hết chuyện kể lại với mọi người. Sau đó bỉ nhân về Đông Kinh, sắp xếp việc gia đình, lại không thể sớm tối đến thăm nom các hạ. Chờ đến khi quay về, lại tìm đến thăm các hạ. Lần này, các hạ tỏ ra lạnh nhạt. Cơ hồ chẳng lưu tâm gì đến nỗi buồn của bỉ nhân. Các hạ nói ít, tình cảm mờ nhạt. Từ đó, bỉ nhân thấy buồn mà xa lánh.

Lúc này bị nhân mới chợt hiểu, rồi cảm thấy ân hận mà nghĩ rằng: Chỉ vì bỉ nhân ít đến thăm mà sinh ra lạnh nhạt. Cũng vì lẽ đó mà các hạ trở thành ít nói. Sự trách móc kém cỏi kia, bỉ nhân phải chịu phần trách nhiệm. Vì vậy, bỉ nhân phải nêu rõ nguyên cớ mà chưa dám đến thăm. Đồng thời xin dâng lên mười thiên "Phục chí phú". Có thiên vừa viết xong, còn có chỗ thêm chỗ bớt. Bởi vì, bỉ nhân muốn nhanh chóng giải tỏa những nghi vấn và nhận lỗi cùng các hạ, nên chưa kịp viết lại cho rõ ràng. Tấm lòng này được các hạ nhận cho thì bỉ nhân đã lấy làm mãn nguyện.

Hàn Dũ kính bái.

Hàn Dũ bị giáng xuống làm huyện lệnh Dương Sơn. Lúc rời kinh thành có viết thư để biện hộ cho mình. Điều đó cho thấy trong chốn quan trường phong kiến cùng những nơi thâm nghiêm khác, thường có thói quen lo lót, chạy chọt xấu xa.

Lời lẽ biện hộ của Hàn Dũ uyển chuyển và hàm súc. Luôn luôn tự trách và tự hạ thấp mình. Thân phận những viên quan nhỏ thật là ngán ngẩm "cơ hồ không sao ngóc đầu lên được".

Trinh Nguyên năm thứ 9, Hàn Dũ lại dự thi và viết thư cho người khác để loan tin một cách gián tiếp. Thái độ không kiêu ngạo, không tự ti, có chừng mực:

Gần biển khơi, trên bờ Trường Giang truyền thuyết có quái vật. Khác hẳn bất kỳ một loài thủy tộc nào. Nếu gặp nước, hắn sẽ nổi gió, làm mưa, bay lượn trong trời đất. Núi cao, biển rộng, nhất nhất vượt qua. Nhưng hết nước là hết vùng vẫy, bị cả con rái cá bé xíu xem thường, cười cợt. Giá như có ai biết thương cho số phận của quái vật là giúp hắn xuống nước được ngay. Nhưng, cũng giống như bao loài thủy tộc khác, quái vật nói: "Mình lấy làm sung sướng, nếu được tan rữa ngay trong lòng bùn cát. Chứ cái cảnh phải cúi đầu, che mắt bịt tai, đuôi vẫy đều cầu cạnh người khác, thì quả là không quen bao giờ!" Vì vậy, có những người mạnh mẽ thường vẫn nhìn thấy quái vật, nhưng cứ coi như không! Sống chết ra sao, không cần biết.

Ngày nay quái vật đang kêu cứu với một người có sức mạnh đứng trước nó. Liệu người đó có thương cho hoàn cảnh quái vật, cho nó xuống nước không. Người kia đồng tình với quái vật là số mệnh, không đồng tình cũng là số mệnh. Biết là số mệnh quyết định tất cả nhưng vẫn kêu cứu với người khác, đó cũng vì số mệnh. Ngày nay, bỉ nhân cũng có phần giống với quái vật. Vì vậy, vẫn nóimấy lời như thế, chẳng kể mình sai lầm, xuẩn ngốc đến nhường ấy! Chỉ mong được các hạ thương tình, xét tới cảnh ngộ của bỉ nhân.

9. PHẢI CÓ CÁCH ĐỂ BIỂU LỘ LÒNG THÀNH

Người xưa nói: "Thuốc đắng dã tật, nói thật mới có lợi cho việc làm". Một người muốn dấn thân vào chốn quan trường, tất phải có tài ăn nói. Nhưng, khéo nói chưa đủ, còn phải nắm vững thời cơ, đặc biệt chú ý tới những người bạo gan can gián. Ngụy Chinh vốn là trực thần thời cổ, nổi tiếng triều đường. Ông dám nói, mưu lược, tài trí, có tâm huyết, ít ai bằng. Thực ra thì từ xưa đến nay, đã có nhiều người trực ngôn, dám nói. Nhưng thủy chung như nhất, giống Ngụy Chinh thì chưa! Và số phận phần lớn những người trực ngôn, can gián thường chẳng ra gì!

Ngụy Chinh thời Đường là đại thần dám nói lời trung để can gián. Nhưng nếu không có Lý Thế Dân, vị minh quân, nhìn xa trông rộng, thì không biết kết cục của ông ta sẽ ra sao! Ngụy Chinh vốn là bộ hạ của thái tử Lý Kiến Thành, là mưu sĩ hàng đầu trong tập đoàn thái tử. Lý Thế Dân giết thái tử, nhưng xem trọng mưu lược của Ngụy Chinh mà tha mạng cho ông ta. Sau khi được Lý Thế Dân thu dùng, Ngụy Chinh có lần đã hỏi:

- Hoàng thượng muốn Ngụy Chinh là lương thần hay trung thần?

Lý Thế Dân hỏi:

- Thế nào là lương thần, trung thần? Có gì khác nhau? Từ xưa trung lương có phân biệt gì đâu!

Ngụy Chinh nói:

- Có phân biệt chứ. Lương thần là người đem hết tài năng phò tá vua hiền. Không những lương thần được đời đời truyền tụng tiếng thơm mà hoàng thượng cũng được lưu danh sử sách. Trung thần như Quan Long Phùng, Bỉ Cán, tự mình mang vạ vào thân. Nhà vua cũng mang tiếng xấu. Nước mất nhà tan. Còn được cái danh hão là dám trực ngôn can gián. Giữa trung và lương sao lại không có phân biệt?

Lý Thế Dân nói:

- Quả nhân chỉ muốn nhà ngươi là lương thần!

Trinh Quan năm thứ 12, Lý Thế Dân biết cách trị nước, làm cho nền kinh tế có nhiều chuyển biến. Lý Thế Dân chuẩn bị đến núi Thái Sơn làm "Lễ phong thiền". Hoạt động này đương nhiên là chú trọng về mặt chính trị, không hề tính đến những chi phí to lớn về tiền bạc. Trong lúc văn võ triều đình vô cùng phấn chấn thì Ngụy Chinh giội cho một gáo nước lạnh.

Lý Thế Dân tuy bực, nhưng lại nghĩ sự khác nhau giữa hai chữ trung, lương, nên nén giận, hỏi:

- Nhà ngươi bảo trẫm không thể phong thiền? Vì trẫm công chưa đủ? Đức chưa dày? Nước chưa yên? Các rợ không phục? Hay là mùa màng chưa bội thu? Trời xanh chưa giáng điềm lành?

Đứng trước những câu hỏi hóc búa như vậy, Ngụy Chinh vẫn trầm tĩnh, lạnh lùng rồi mới từ từ nói:

- Công lao của bệ hạ cái thế, nhưng trăm họ được ân huệ còn ít. Đức của bệ hạ bao la, nhưng ân trạch tưới rải chưa khắp. Đất nước bình yên, nhưng của cải trong dân chúng chưa nhiều. Các rợ thần phục, nhưng các tộc chư hầu chưa được ân thưởng là bao. Mùa màng bội thu, nhưng kho tàng còn vơi lắm. Luật trị nước đã đủ nhưng pháp lệnh còn có chỗ chưa khoan dung. Bệ hạ tuy là lương y trị lý được thiên hạ, nhưng thiên hạ như con bệnh kinh niên vừa đỡ, nguyên khí chưa hoàn toàn hồi phục, vậy có nên tăng thêm gánh nặng cho họ không? Nay bệ hạ về Thái Sơn, thiên binh vạn mã xuyên rừng vượt biển, giẫm trên những cánh đồng. Trăm họ xuôi ngược, phục dịch khốn khổ...

Nước Đại Đường ta chi phí một món tiền cực lớn để phong thiền, trong thì ảnh hưởng tới nguyên khí của trăm họ, ngoài thì các nước chư hầu không thuần phục. Sau lúc phong thiền, chẳng may trời lại giáng họa, tinh tượng biến đổi, lòng người sẽ dao động. Bấy giờ, khắp nơi bàn luận, oán hận khắp trời, e hối không kịp đâu!

Những lời khuyên can của Ngụy Chinh là những lời phân tích tình lý. Lời lẽ ôn hòa. Không ồn ã, không có ý tranh luận. Lý Thế Dân nghe xong cảm thấy hết giận. Tuy rằng chiếu phong thiền vẫn được ban ra, nhưng thời gian lui lại hai năm. Hai tháng sau, một hôm trong sao Thái Vi xuất hiện sao Tuệ Tinh báo điều dữ, nhân đó Lý Thế Dân xuống chiếu bãi bỏ mọi việc chuẩn bị cho phong thiền. Mọi người khâm phục Ngụy Chinh nhìn xa trông rộng. Vì vậy, Lý Thế Dân ví Ngụy Chinh như một tấm gương.

Người dịch: Ông Văn Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.