Trong chốn quan trường thời Dân quốc, nhân vật Hậu, Hắc đâu đâu cũng có. Tâm địa đen tối nhất thì không ai bằng Viên Thế Khải. Uông Tình Vệ có bộ mặt dày nhất. Nhưng người đứng đầu trong cả hai lĩnh vực đó lại chính là Tưởng Giới Thạch. Các nhân vật này có tâm địa đen tối nhất, da mặt dày nhất. Loại Hậu, Hắc thời xưa, chưa ai theo kịp!
Đoạn Chi Quý, người Hợp Phì, An Huy, sinh năm 1869, từng giữ các chức vụ: chỉ huy điều độ trong Tân kiến lục quân, tham mưu xứ đốc biện, thống chế đệ tam trấn, tuần phủ Hắc Long Giang, tổng tư lệnh Võ vệ quân, đô thống Sát Cáp Nhĩ, đô đốc Hồ Bắc, đốc lý quân vụ ba tỉnh miền đông, kinh kỳ vệ thú tư lệnh, tổng trưởng lục quân...
Năm 1896, khi Viên Thế Khải ở tiểu trạm luyện binh, Đoạn Chi Quý bất quá chỉ là viên đồng sự phụ việc.
Năm đó, Đoạn Chi Quý chủ động kết giao với Nguyễn Trung Khu, viên tổng văn án trong Tân kiến lục quân của họ Viên. Lại thông qua Nguyễn Trung Khu quen biết với Viên Thế Khải, vào hàng bộ hạ, nhưng chưa được trọng dụng.
Nguyễn Trung Khu liền hiến kế cho Đoạn Chi Quý:
- Nhược điểm lớn nhất trong đời của lão Viên là tham sắc. Chỉ cần dâng hiến gái đẹp là được lão thích ngay. Lo gì chẳng có ngày được mở mày, mở mặt.
Thế rồi Đoạn Chi Quý vội đến Thiên Tân, tìm đến Bình Khang Lý nhà họ Hàn, bỏ nhiều tiền chuộc được nàng kỹ nữ Liễu Tam Nhi cực kỳ xinh đẹp. Còn mời "danh sư" dạy cho cầm, kỳ, thi, họa làu thông, sắm sanh xiêm áo lộng lẫy, trang điểm hết sức hấp dẫn và thông qua Nguyễn Trung Khu, hiến dâng cho Viên Thế Khải.
Viên Thế Khải thấy Liễu Tam Nhi, phong vận tuyệt vời, quả là sắc nước hương trời. Tam Nhi thì đầu mày cuối mắt, đưa đẩy phong tình. Hai người vừa gặp mà tưởng như quen thuộc đã lâu! Dần dà, Tam Nhi được Viên Thế Khải coi là dì tư.
Viên Thế Khải lòng dạ mừng rỡ, luôn miệng tán thưởng Đoạn Chi Quý khéo biết làm việc! Chưa đến hai hôm, Viên Thế Khải đã bố lệnh, bổ nhiệm Đoạn Chi Quý là quan điều độ trong doanh vụ, quản lý việc điều động mọi tân quân.
Vì có quan hệ với Liễu Tam Nhi, nên Viên Thế Khải đã nhìn Đoạn Chi Quý với con mắt khác, tỏ ra thân thiết vô cùng. Để được họ Viên yêu mến hơn nữa, cứ mỗi buổi sáng, Đoạn Chi Quý đều đến vấn an.
Một hôm, họ Viên liền đùa vui với Đoạn Chi Quý, nói:
- Ta nghe nói con đối với cha mẹ mới hàng sáng phải đến bên giường vấn an. Ngươi không phải con ta, việc gì phải làm thế?
Đoạn Chi Quý vội vàng phục xuống lạy tạ và nói:
- Cha mẹ sinh thành, công người dưỡng dục, ân đức đều như nhau. Nếu đại nhân không hiềm gì thì bỉ nhân xin được làm nghĩa tử của người!
Viên Thế Khải cảm thấy buồn cười, sắc mặt trở nên vui vui. Đoạn Chi Quý nhầm tưởng lão Viên vừa ý, nên vội quì xuống bái lạy, miệng hô:
- Nghĩa phụ ở trên, xin nhận một lạy của con!
Viên Thế Khải chưa kịp từ chối thì đã nhận được bốn lậy. Đành phải nhận Chi Quý là con nuôi! Có người cha đỡ đầu như Viên Thế Khải, Đoạn Chi Quý trưởng thành như diều gặp gió.
2. NHẬN NGHĨA TỬ
Trương Huân thống soái "đạo quân đuôi sam" đánh thành Bắc Kinh. Thành bị hạ. Có hai nghị viên trong Chúng nghị viện là Hạ Đồng Hòa và Mai Quang Viễn cho rằng Dân quốc đại thế đã tàn, muốn có quan tước, họ hẹn nhau cùng đi bái kiến Trương Huân.Trương Huân liếc mắt nhìn họ và hỏi:
- Toàn thể nghị viên Chúng nghị viện cực lực phản đối đế chế. Các ngươi là nghị viên đều phụ họa với họ chứ? Hạ Đồng Hòa cảm thấy lo sợ, vội vã cúi đầu nói:
- Xin lão soái minh giám. Đa phần nghị viên phản đối đế chế. Nhưng trong số những người phản đối không có lũ tiểu nhân ở đó.
Mai Quang Viễn sợ đến toát cả mồ hôi. Hắn gật đầu lia lịa, miệng cũng nói như Hạ Đồng Hòa: không có lũ tiểu nhân, không có lũ tiểu nhân!
Và không nghe Trương Huân hỏi gì nữa, nên Hạ Đồng Hòa lại bộc bạch thêm:
- Lũ tiểu nhân lúc đó tuy không nói được gì, nhưng lòng dạ thì luôn nghĩ đến đế chế. Mong được lão soái thấu hiểu hoàn cảnh và nỗi khổ tâm của lũ tiểu nhân.
Trương Huân liền nghiêm giọng hỏi:
- Như vậy, các ngươi chưa quên mình là thần dân của nhà Đại Thanh đấy chứ?
Hạ, Mai, hai đứa vội quì xuống, đồng thanh đáp:
- Môn sinh đâu dám. Môn sinh đâu dám! Thấy chúng tự xưng là "môn sinh", Trương Huân cảm thấy dùng được, ra chiều niềm nở hơn, nhưng lại nói ra miệng:
- Các ngươi là môn sinh của thiên tử (thí sinh trong kỳ thi trước điện đều xưng là môn sinh với thiên tử), hôm nay cũng xưng là môn sinh với ta, ta đâu dám nhận.
Hạ Đồng Hòa thấy Trương Huân đã nguôi giận, giọng nói hiền từ hơn, nên vội đáp:
- Lão soái không cho phép lũ tiểu nhân xưng là "môn sinh", vậy thì, tiểu nhân xin được làm phận cháu, chắt. Không biết lão soái đã ưng thuận chưa?
Mai Quang Viễn cũng không vừa:
- Tiểu nhân chỉ mong làm con nuôi của đại soái, được chăng?
Trương Huân bật cười thành tiếng và tỏ ra ưng thuận. Hạ, Mai, hai người bái lậy mãi!
Ngày hôm sau, Trương Huân ban bố lệnh: sắp đặt chức quan cho hai người. Họ không thấy đấy là nhục, mà cảm thấy vinh! Từ đó, cứ động nói đến Trương Huân với ai, Mai Quang Viễn cứ luôn miệng xưng là "Trương đại soái là bố nuôi".
3. NHẬN ÔNG
Tào Côn, có cái tên thật xấu "Tổng thống mua". Lúc còn trẻ, Côn có thời đi buôn vải. Buôn bán thua lỗ nên mới phải đầu quân. Nhờ võ vẽ một ít chữ nghĩa nên Côn được tuyển vào trường võ bị Thiên Tân.Năm 1895, Tào Côn đến tiểu trạm Thiên Tân làm chân giúp việc cho Viên Thế Khải.
Tào Côn đã tìm ra nhiều biện pháp hòng được thân tình với Viên Thế Khải.
Một hôm quay lại Thiên Tân, nhân lúc vui chuyện với mấy người, được biết ở vùng Nghi Hưng Phụ có vị đề đốc Tào Khắc Trung, thường được gọi là "Tào đại soái". "Tào đại soái" quyền thế, từng là anh em kết nghĩa với Viên Giáp Tam, thúc tổ phụ của Viên Thế Khải.
Tào Côn tai nghe mà dạ mừng thầm. Thấy đây là tin tức tuyệt hảo, phải lợi dụng bằng được.
Nói làm là làm. Tào Côn bỏ ra một ít tiền mua chuộc viên tùy tòng bên cạnh Tào Khắc Trung, rồi đưa tên họ, xin được cầu kiến "Tào đại soái".
Nào ngờ, Tào Khắc Trung thật là cáo già! Cái chức "giúp việc" cỏn con của Tào Côn đâu có lọt được vào mắt ấy. Ông ta cự tuyệt không tiếp.
Tào Côn không vì thế mà nản lòng. Sau lúc quay về, liền tung ra một món tiền lớn, chuẩn bị lễ vật thật hậu, và lần nữa đến gõ cửa xin được cầu kiến vị "đại soái".
Vừa khéo hôm đó Tào Khắc Trung đang ốm, nên Tào Côn dễ dàng được vào thăm. Nhưng trò chuyện chưa được mấy câu, Tào Côn đã được mời ra ngoài, vì Tào Khắc Trung cảm thấy "cơ thể không được khoẻ".
Tào Côn vẫn không bỏ cuộc. Năm xưa khi Lưu Bị cầu hiền từng ba lần tìm đến lều tranh của Gia Cát Lượng. Còn ta, muốn cầu thân với Viên Thế Khải, sao lại không thể ba lần tìm đến "Tào phủ"? Càng nghĩ càng phấn chấn. Lần thứ ba, Tào Côn gõ cửa cầu kiến. Lần này lễ vật đem theo quí hơn lần trước rất nhiều!
Tào Khắc Trung không tiện chối từ, liền sai người truyền vào. Định bụng chỉ tiếp qua loa một chút!
Thật có nằm mơ cũng chẳng ngờ tới. Tào Côn vừa xuất hiện đã kêu ầm lên:
- Ông đây rồi! Xin ông nhận của đứa cháu một lậy!
Lời vừa dứt, đã quì xuống bái lạy sát đất.
Tào Khắc Trung kinh hãi đến ngẩn người. Vội vàng dìu đỡ Tào Côn đứng dậy.
Tào Côn ngồi vào chỗ đâu đấy mới vui vẻ kể với Tào Khắc Trung:
- Ông khỏi phải băn khoăn! Cháu đã tra xét gia phả họ Tào, đích thực cháu phải gọi ông là ông!
Tào Khắc Trung suy nghĩ lung lắm. Nghĩ mãi mà chẳng nhớ ra có đứa cháu nào tên là "Tào Côn" đâu, đâm ra nửa tin nửa ngờ. Nhưng rồi lại nghĩ, có thêm một đứa cháu họ hết mực "hiếu thuận", nhận mình là ông thì càng vui chứ sao? Ông ta trở nên vui vẻ, nói:
- Không ngờ ông lại ở hàng cao đến thế! Thôi được! Cháu đã đối chiếu gia phả rồi, chắc đúng thôi! Từ nay ông nhận cháu là cháu họ.
Nói xong, liền sai dọn rượu để chính thức nhận cháu.
Từ đó, Tào Côn thường xuyên lui tới. Có một người ông như vậy, Tào Côn dễ dàng có được quan hệ mật thiết với Viên Thế Khải. Nhờ có Tào Khắc Trung nói đỡ, Tào Côn không ngừng được đề bạt. Từ hàng giúp việc thăng đến thống lĩnh. Năm 1907, với tư cách là phó tướng được thăng tới chức thống chế đệ tam trấn, được coi là thành viên thân tín của Viên Thế Khải.
Tào Côn nguyện làm cháu để bò lên cao.
4. CHẲNG NÓI, CHẲNG RẰNG
Chắc độc giả lấy làm kỳ quặc: đã "không nói" thì "biện bác" bằng cách nào đây? Thực tình "không nói" không có nghĩa là im lặng. Mà là những lời nói nước đôi. Không có thái độ rõ ràng về một việc nào đó. Lời nói có phần mơ hồ, hiểu thế nào cũng được!Đó chính là thái độ "trung dung", mọi người thường nói tới.
Chữ "trung" trong đạo "trung dung" là "nắm lấy hai đầu, dùng cái có lợi cho dân", trong chốn quan trường gọi là không thiên, không theo hẳn một cái gì.
Chữ "dung" trong đạo "trung dung" tức là hòa khí, có ý điều hòa.
Đạo "trung dung" là thứ quyền thuật chính trị tiêu cực. Trong cuộc đấu tranh phe phái giữa những người quyền thế, đối với những mâu thuẫn cứng rắn nảy lửa, không thể giải quyết, thì người theo đạo "trung dung" là người được lợi.
Người theo đạo "trung dung" cần phải biết nhẫn nại. Thấy điều ác mà coi như không thấy. Nghe âm mưu này khác mà vờ như không nghe. Ngoài ra còn phải lặng thinh, không động lòng khi có phe phái đến dụ dỗ, mua chuộc mình. Quan cao lộc hậu, tiền tài báu vật đều vứt hết. Phàm những người theo đạo "trung dung" thường không có dã tâm, hoặc dã tâm không lớn, không làm mất lòng người khác.
Từ Thế Xương cuối đời Thanh, đầu đời Dân quốc là người như thế.
Ngày 20 tháng 10 năm 1855, Từ Thế Xương sinh ra ở huyện Cực, Hà Nam. Năm 1882 vừa tròn hai mươi tám tuổi, Từ Thế Xương đậu cử nhân. Năm 1886 lại trúng tiến sĩ, làm quan trong viện Hàn lâm. Từ đó, đường quan trường luôn luôn rộng mở. Ông là đại thần quân cơ trong triều đình nhà Thanh, tuần cảnh bộ Thượng thư, tổng đốc ba tỉnh miền đông, đốc biện chính vụ đại thần.
Thời Viên Thế Khải cầm quyền, ông là Quốc vụ khanh.
Đoạn Kỳ Thụy nhiếp chính, Từ Thế Xương là tổng thống.
Vì vậy, người đời thường gọi Từ Thế Xương là "nguyên lão ba triều", và tổng kết ra bốn kinh nghiệm làm quan:
Một là tròn trịa.
- Tức là lời nói không mất lòng ai, có đường tiến đường thoái. Làm việc hết sức chu đáo. Sau khi nhận chức vụ mới, vẫn giữ quan hệ tốt đẹp với "triều đình", không quên chủ cũ, ghi nhớ hoàng ân. Đồng thời lại trở thành "tướng quốc" của Viên Thế Khải. Vẹn cả đôi đường, mặt nào cũng có lợi.
Hai là trầm tĩnh.
- Bình tĩnh khi gặp việc. Không tranh luận, chưa tỏ thái độ, lắng nghe ý kiến người khác. Ngay đối với những việc có nhiều nguy hiểm cũng vẫn phải chịu đựng. Không nắm chắc phần thắng thì quyết không xem thường, manh động.
Ba là biết khôn khéo, chịu đựng.
- Lấy tĩnh mà chế động, đem nhu mà khắc cương. Dù lúc cần thiết vẫn nên ậm, à chờ đợi. Thà mang tiếng là nhu nhược còn hơn là giơ đầu chịu báng. Chờ khi đối thủ kiệt sức, hãy giành phần thắng. Khi thời cơ chưa đến đừng căng quá mà gãy cung!
Bốn là phải cảnh giác.
- Chăm chú theo dõi thời thế biến ảo. Quyết không chạy trước thiên hạ, nhưng cũng đừng tụt lại phía sau. Thời cơ chưa đến thì chịu khó mà chờ. Nhưng khi có dịp thì đừng bỏ lỡ!
Từ Thế Xương là người nhiệt thành với đạo "trung dung". Nhưng trong thực tế thì như thế nào?
Năm 1912, trước ngày hoàng đế nhà Thanh thoái vị, thủ lĩnh Tông xã đảng là Lương Bật mật bàn với Long Dụ thái hậu, nên ra tay trước, sát hại Viên Thế Khải.
Long Dụ thái hậu không dám quyết một việc lớn như vậy, nên mới triệu kiến Từ Thế Xương. Sau khi được hỏi ý kiến, Từ Thế Xương vẫn yên lặng cúi đầu.
Long Dụ Thái hậu có phần bực dọc hỏi lại:
- Vì sao không nói năng gì?
Từ Thế Xương liếc nhìn thái hậu rồi mới tâu:
- Thần không dám nói!
Long Dụ thái hậu lại hỏi vì thấy khó hiểu:
- Vì sao không dám nói?
Từ Thế Xương khấu đầu, tâu:
- Thần không nỡ nói.
Giọng thái hậu trở nên nghiêm nghị:
- Vì sao không nỡ nói.
Bị gặng hỏi mãi, giọng Từ Thế Xương trở nên lo ngại:
- Thái hậu quyết hỏi, khiến thần không thể yên lặng mãi. Từ lâu thần đã nói, dựa vào hổ là chuốc lấy họa! Ngày nay hổ đã ở trong nhà. Hạ được hổ, cố nhiên là phúc đức lắm. Bằng không, sẽ bị hắn hại, nguy hiểm vô cùng. Mong thái hậu minh xét. Nếu để sai sót sẽ hối không kịp.
Kỳ thực, triều đình nhà Thanh "dựa vào uy hổ (chỉ Viên Thế Khải)" chẳng phải đó là ý của Từ Thế Xương hay sao? Năm 1908, Quang Tự, Từ Hi lần lượt qua đời. Phổ Nghi kế vị. Người cha là Tái Phong làm Nhiếp chính vương. Nhằm đả kích thế lực Bắc Dương, Tái Phong cho miễn chức Viên Thế Khải, "về quê vì đau ốm". Từ Thế Xương, được coi là "quân sư" của Viên Thế Khải, là tham mưu doanh vụ xứ trong "Tân kiến lục quân" thấy tình thế nguy cấp, như nước đã tràn bờ, liền theo phương pháp thoái để mà tiến, xin được miễn chức, Triều đình nhà Thanh thấy họ Từ "là người, cần mẫn, có tài ứng biến" nên đã bác đơn của Từ.
Ít lâu sau, triều đình nhà Thanh điều họ Từ từ Đông bắc về Bắc Kinh và phong là Thượng thư Bưu truyện bộ, Năm 1910, Từ Thế Xương được Tái Phong cất nhắc là đại thần quân cơ, rồi đại học sĩ Thể nhân các, bổng lộc cao nhất trong các văn thần triều Thanh. Năm sau, triều Thanh ban bố quan chế trong nội các, chế độ làm việc, thiết lập trách nhiệm nội các. Dịch Khám là tổng lý đại thần. Na Đồng, Từ Thế Xương là hiệp lý đại thần.
Ngày mùng 10 tháng 10 năm 1911, Vũ Xương khởi nghĩa. Triều Thanh cử quân Bắc Dương đi trấn áp. Nhưng quân Bắc Dương "chỉ biết có Viên Cung Bảo (Viên Thế Khải), không để ý đến triều Đại Thanh", nên sức chiến đấu sút kém, các tỉnh miền nam nhao nhao đòi độc lập.
Từ Thế Xương biết ngay đây là vận hội lớn để người bạn gắn bó là Viên Thế Khải lại ra nắm quyền lực. Họ Từ liền vận động Dịch Khám, Na Đồng cùng mấy viên đại thần quân cơ cùng nhau bảo cử Viên Thế Khải với Nhiếp chính vương. Lại cùng nhau từ chức không thượng triều, buộc Tái Phong, cực chẳng đã, phải ký tên ra chỉ dụ: "Thụ mệnh Viên Thế Khải là Khâm sai đại thần, tiết chế các quân".
Có người nói rất trúng rằng: sau khi Viên Thế Khải mất chức thì Từ Thế Xương là "linh hồn" của ông ta ở Bắc Kinh.
Trong thâm tâm, Từ Thế Xương luôn luôn mong mỏi Viên Thế Khải sớm được trình làng. Ngày đó đã đến. Nhưng điều làm Từ Thế Xương bất ngờ là: lúc Viên xuất hiện cũng là lúc tình thế biến đổi đến mức ngoài Viên ra thì không ai cứu nổi nhà Thanh!
Chính vì vậy, khi được Long Dụ thái hậu hỏi chuyện, họ Từ cứ ậm, ừ nước đôi rằng: "không dám nói, không nỡ nói, không dám không nói".
Năm 1912, hoàng đế nhà Thanh thoái vị. Viên Thế Khải là đại tổng thống Dân quốc. Điều làm mọi người thú vị là Từ Thế Xương chạy đến Thanh Đảo làm Ngu công. Từ nói với đồng sự, mình không muốn làm quan cho Viên. Có người đùa rằng: "Viên Thế Khải về lại Bắc Kinh thì "linh hồn" lại mất chức".
Lúc Từ Thế Xương rời kinh thì những người đồng sự đã quì xuống đất khuyên can đừng đi. Long Dụ thái hậu cũng khóc sướt mướt. Viên Thế Khải đứng bên cũng ra sức níu kéo.
Nhưng Từ Thế Xương vẫn cứ ra đi!
Viên Thế Khải không thể quên được người bạn chân thành và thắm thiết. Từ Thế Xương là người có học, lòng tự trọng rất cao. Muốn ông ta ra làm việc thì không thể ngồi chờ, phải cho người đi mời vậy!
Những người có thể nhờ được, Viên Thế Khải đã nhờ. Cuối cùng thì con cả của Viên Thế Khải là Viên Khắc Định cũng được cử đi. Năm 1914, trước tấm lòng nhiệt thành của Viên Thế Khải, họ Từ không tiện thoái thác, quyết định về kinh.
Đường qua Thiên Tân, một người đồng liêu năm trước Hoa Thế Khuê đã chất vấn Từ Thế Xương:
- Những điều huynh nói với đệ ở kinh thành hai năm trước, đệ còn nhớ, mà huynh đã quên rồi sao? Vì sao bây giờ huynh lại ra làm quan cho Viên?
Một người bạn đang làm quan thời Dân quốc đã trả lời thay:
- Dù có ra làm việc thì cũng là phục vụ Dân quốc, đâu phải ra làm quan!
Hoa Thế Khuê phản bác ngay:
- Đấy chỉ là cách nói ngụy biện. Thật chẳng thỏa đáng chút nào!
Những lời trách móc như vậy dù là của ai, người khác thì dễ bỏ qua, nhưng đối với Từ Thế Xương lại là một áp lực rất lớn. Từ lấy làm băn khoăn, đành cứ "yên lặng". Ngay khi vào đến Bắc Kinh, có ra nhận chức hay không, Từ vẫn do dự chưa quyết.
Mãi tận mùng 1 tháng 5, Viên Thế Khải mới chính thức truyền lệnh bổ nhiệm họ Từ làm Quốc vụ khanh. Từ Thế Xương liền có tờ trình xin thu hồi lệnh, lấy cớ không đủ sức kham nổi công việc quan trọng. Họ Từ viết: "Thế Xương hàm ân tri ngộ. Nguyện ở lại kinh thành, hiến dâng những kế hay mỗi khi có dịp - Làm tròn nghĩa vụ của một thần dân".
Viên Thế Khải lập tức phê ngay: "Thời đại quân chủ thuộc một họ, một gia tộc, thoái thì dễ, tiến thân mới là khó. Ngày nay là chính thể Cộng hòa, thiên hạ vì việc công, tuyển chọn nhân tài hiền thục, thực hiện nghĩa vụ chung. Nên học tính trách nhiệm của Y Doãn, tạm gác tấm lòng thanh cao của Bá Di... nay đã cử ngoại giao tổng trưởng Tôn Bảo Kỳ, lục quân tổng trưởng Đoạn Kỳ Thụy nghênh đón. Mong đừng chối từ".
Từ Thế Xương giữ được sĩ diện, mới đường hoàng nhận chức Quốc vụ khanh.
Năm 1915, mật mưu xưng đế của Viên Thế Khải trở thành công khai. Từ Thế Xương thân phận là Quốc vụ khanh nhưng trước sau không hề nói một câu bàn ra hay là bàn vào.
Viên Thế Khải hết đường chịu đựng. Nên mới triệu Từ Thế Xương đến và hỏi:
- Đại ca có nghe những lời khuyên tiến từ bên ngoài? Việc ấy nên chăng?
Từ Thế Xương cúi đầu, không nói một câu nào. Viên Thế Khải lại nói:
- Chẳng nhẽ đối với việc của tiểu đệ mà đại ca lại không nghe, không hỏi gì sao?
Từ Thế Xương sửa sang áo mão và vẫn trầm ngâm. Mãi sau mới nói gọn một câu:
- Huynh không biết chuyện đó.
Viên Thế Khải tỏ ra không vui, nói tiếp:
- Bên ngoài ầm ĩ lâu thế, lẽ nào huynh lại không biết?
Từ Thế Xương vẫn lờ đi, trả lời:
- Biết thì nói biết, mà không biết thì nói không biết.
Viên Thế Khải tuy bực dọc, nhưng cũng biết đấy là sự giảo hoạt, nên không hỏi thêm gì nữa.
Từ Thế Xương giữ thái độ đó vì nghĩ rằng đế chế mà thành công thì địa vị sẽ chẳng còn. Còn như đế chế thất bại thì danh dự của mình cũng bị hủy hoại theo. Phần lớn những người theo "đạo trung dung" thì thường là những người nhu nhược. Từ Thế Xương là như vậy. Ông làm quan lâu năm, hiểu sâu sắc nhiều mối bất hòa, gầm ghè trong giới thượng lưu. Nhưng không bao giờ ông để mình bị cuốn vào vòng xoáy những cuộc đấu tranh chính trị. Đối với các quan chức, người đáng giữ thì giữ, người đáng giúp thì giúp. Ông là loại người tốt bụng. Một khi đã nhìn rõ tình thế, thì ông quyết đoán, dám làm dám chịu. Và dám làm dám chịu, vừa theo "đạo trung dung". Một lúc ông kiêm cả hai thứ. Thực là một người hiếm hoi.
Khi nhìn ra Viên Thế Khải muốn xưng đế, tức là nhìn thấy cái mốc kết thúc cuộc đời chính trị của họ Viên thì Từ Thế Xương quyết định từ chức Quốc vụ khanh. Đó là một hành động sáng suốt, đồng thời đó cũng là sự quyết đoán trong cái đạo trung dung vậy!
Khi Viên Thế Khải qua đời, trong hệ thống Bắc Dương, tên của Từ Thế Xương được xếp hàng đầu danh sách. (Các lãnh tụ cao cấp của Bắc Dương đa phần là bộ hạ cũ của Từ hoặc từng suy tôn Từ là soái). Lúc bấy giờ, Từ Thế Xương không muốn nhìn thấy đại nghiệp Bắc Dương tiêu ma dưới bàn tay của mình. Vì vậy, ông hô hào, vun đắp sự thống nhất trong nội bộ Bắc Dương, dù ông chỉ có chút hư danh là "lãnh tụ tinh thần" của họ. Nhưng ngay từ thời Viên Thế Khải còn sống, nội bộ Bắc Dương đã ngấm ngầm có sự bất phục tùng. Nên ít lâu sau, bọn quân phiệt Bắc Dương đã chia cắt. Một bên là Hoãn hệ do Đoạn Kỳ Thụy cầm đầu, bên kia là Trực hệ của Phùng Quốc Chương.
Khi đó, Từ Thế Xương không đứng hẳn về một bên nào, nên vẫn được lãnh tụ các phe ủng hộ. Ông ra sức điều giải mâu thuẫn của hai phái, nhấn mạnh sự thống nhất từ bên trong.
Năm 1917, việc khôi phục lại đế chế của Trương Huân thất bại. Lê Nguyên Hồng mất chức. Phùng Quốc Chương kế nhiệm chức đại tổng thống. Đoạn Kỳ Thụy là thủ tướng chính phủ. Phùng, Đoạn hai người bằng mặt mà chẳng bằng lòng. Chẳng ai chịu ai. Cầm chắc, họ sẽ đấu tranh ngấm ngầm với nhau.
Đoạn Kỳ Thụy nắm được thực quyền trong chính phủ, muốn biến Phùng Quốc Chương thành công cụ để thao túng. Phùng Quốc Chương cũng chẳng vừa, luôn luôn chỉ trích những khuyết điểm của Đoạn Kỳ Thụy.
Phùng, Đoạn giao đấu. Lương Sĩ Di mời Từ Thế Xương đứng ra điều giải. Họ Từ nói:
Trước kia đấu tranh công khai thì còn biết đường mà giải. Lúc này đấu tranh bí mật thì biết giải thế nào?
Từ Thế Xương luôn miệng khuyên răn những viên quan Bắc Dương đến cầu kiến:
- Tự tách ra là chết!
Từ Thế Xương quá thông minh. Ông được lòng cả đôi bên. Cuộc đấu tranh giữa hai phe phái ngày càng kịch liệt.
Trước tình hình đó, quốc hội tổ chức tuyển cử bầu tổng thống vào tháng 9 năm 1918.
Phùng, Đoạn tự biết mình không trúng nên cùng tiến cử Từ Thế Xương. Đoạn Kỳ Thụy chỉ rõ: "Bỉ nhân không mong muốn gì hơn tuyển cử được tiến hành thuận lợi. Đất nước có người chủ trì, bỉ nhân sẽ từ bỏ mọi địa vị chính trị hiện có".
Phùng Quốc Chương cũng nói rõ: "Vị tổng thống đắc cử của quốc hội mới như Đông Hải (chỉ Từ) thì ta hết sức tán thành... Sau khi rút lui, ta không ở kinh thành mà về Thiên Tân, về quê hương Hà Gian, tự cày cấy mà sinh sống". Kết quả Từ Thế Xương được 425 phiếu bầu trong tổng số 436 nghị viên trong đại hội bầu cử tổng thống.
Thật đúng là "Trai, cò quắp nhau, ngư ông được lợi". Từ Thế Xương bước lên chiếc ghế tổng thống thật nhẹ nhàng.
Sau khi được tin đắc cử chức đại tổng thống, Từ Thế Xương lập tức đến Tử Cấm Thành khấu đầu bái lạy "hoàng thượng" Phổ Nghi.
Hành lễ xong, Từ Thế Xương lại dập đầu xuống đất mấy lần, miệng nói: "Lão thần đáng tội chết. Lão thần. đáng chết!".
Phổ Nghi ngẩn người, chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao. Vội để Thế Tục là đại quản gia khi đó đỡ Từ dậy và hỏi duyên do.
Từ Thế Xương bò dậy, ấn mạnh chiếc khăn cho ra mấy giọt nước mắt rồi mới nói:
- Dân ý đưa lão thần ra trị Dân quốc. Lão thần tri ân Thái hoàng thái hậu và thái hậu tiên đế nên chưa dám. Nay thần vào cung, tham kiến bệ hạ, quỳ xin thánh huấn, nếu bệ hạ cho phép, thần mới ra làm việc. Bằng không, thần trở về quê vậy.
Và cứ thế, Từ Thế Xương bằng hàng loạt những lời lẽ như thế này, như thế kia. Phổ Nghi vẫn chẳng hiểu gì cả.
Đại quản gia Thế Tục thì chẳng lạ gì tác phong của Từ Thế Xương. Ông ta mỉm cười ra hiệu cho Phổ Nghi đồng ý. Và thế là Phổ Nghi nói với Từ Thế Xương:
- Nếu là dân ý đúng đắn thì khanh cứ nên làm theo.
Được Phổ Nghi cho phép, Từ Thế Xương vô cùng mừng rỡ. Lại quì lạy Phổ Nghi, miệng nói những lời hàm ân rồi mới lui ra.
Ngày mùng 10 tháng 10, Từ Thế Xương chính thức bước lên chiếc ghế cao quí của bậc nguyên thủ Dân quốc. Từ Thế Xương cứ "không nói", theo đạo "trung dung" để bước tới đỉnh cao của quyền lực như vậy đó!
5. NGOÀI MẶT THÌ THEO, TRONG LÒNG THÌ CHỐNG
Ngày 13 tháng 2 năm 1912, sau khi hoàng đế nhà Thanh thoái vị được hại hôm, Tôn Trung Sơn thực hiện lời hứa của mình, từ chức trước Tham nghị viện lâm thời và tiến cử Viên Thế Khải kế nhiệm chức đại tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân quốc. Để bổ khuyết cho đặc điểm của Viên Thế Khải là tôn sùng thực lực, thiếu tôn trọng pháp trị, và cũng để các trọng thần vương triều Thanh được hưởng nền dân chủ và pháp trị, Tôn Trung Sơn nói thêm ba điều kiện trong bài diễn văn từ chức của mình.(1) Chính phủ lâm thời đóng đô ở Nam Kinh - Không được thay đổi.
(2) Ngày tân tổng thống đến Nam Kinh nhận chức cũng là ngày bản tổng thống và quốc vụ viện giải chức.
(3) "Ước pháp lâm thời" do Tham nghị viện soạn thảo, cần được tân tổng thống tôn trọng.
Rất rõ ràng, Tôn Trung Sơn muốn điều Viên Thế Khải ra khỏi Bắc Kinh, vùng đất thâm căn cố đế của thế lực phong kiến. Viên xuống miền nam, làm tổng thống ở Nam Kinh, nơi quân cách mạng khống chế, để Viên khó chơi trò thực lực chính trị và khai triển quyền mưu chính trị. Với ba điều kiện kể trên, Viên Thế Khải tuy đắc cử là tổng thống, nhưng phải xuống miền nam nhận chức. Nếu không chịu xuống miền Nam thì Tôn Trung Sơn không giải chức. Viên Thế Khải cứ ở miền bắc, nắm trọn quyền hành với danh nghĩa là "đại tổng thống lâm thời vừa đắc cử" thì sẽ bị coi là không hợp pháp.
Sau khi nêu ra mấy điều kiện, trên danh nghĩa là chính phủ lâm thời, Tôn Trung Sơn cử Thái Nguyên Bồi, Uông Tinh Vệ, Tống Giáo Nhân cả thảy năm người là chuyên sứ lên miền bắc nghênh đón Viên Thế Khải. 5 người đến Bắc Kinh đón họ Viên xuống miền nam nhận chức. Viên Thế Khải thừa hiểu, điều ông ta xuống miền nam là mưu kế điệu hổ li sơn của đảng cách mạng. Đến Nam Kinh nhận chức tổng thống, tức là biến mình thành vị tổng thống đơn độc. Vì vậy, Viên Thế Khải đã có hai bức điện gửi Tôn Trung Sơn và đảng cách mạng, cự tuyệt việc xuống miền nam. Bức điện thứ nhất, viết:
Viên Thế Khải muốn xuống miền nam, để được chỉ giáo, cùng nhau phụng sự. Hiểm nổi trật tự ở miền bắc chưa thật ổn định. Quân lính đông đúc cần được bố trí lại. Tình cảm người dân Đông Bắc còn tản mạn, một sơ xuất nhỏ, sẽ ảnh hưởng đến cả nước. Vì vậy, các vị cứ lựa theo thời thế mà thứ cho sự chậm trễ kia!
Trong bức điện thứ hai, Viên Thế Khải nhấn mạnh lý do vì sao chưa xuống miền nam nhận chức. Điện viết:
Ý kiến quần dân miền bắc còn phân tán, có nhiều hiểm họa tiềm tàng. Hoàng tộc ở Bắc Kinh lo ngại khi bỉ nhân xa rời miền bắc, có nhiều ý kiến. Đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh cũng lo ngại khi bỉ nhân xa rời miền bắc, có nhiều ý kiến. Hai tỉnh Phụng Giang tình thế chưa yên. Tình hình các phần ngoại Mông cũng còn nhiều chuyện. Trong, ngoài còn lắm việc đáng phải lo. Nếu bị nhân ra đi, e mọi việc sẽ biến đổi tức khắc. Cũng định tìm người thay thế, nhưng tiếc chưa có ai đủ điều kiện và thích hợp!
Rõ ràng là Viên Thế Khải muốn đe dọa chính phủ lâm thời bằng sức mạnh của chủ nghĩa đế quốc và lũ quân phiệt phương bắc. Họ Viên còn nói:
- Nam hạ cũng không được, không nam hạ cũng không được. Khó khăn trăm bề. Nghĩ đi nghĩ lại, vì thế mà Tôn đại tổng thống phải từ chức, chi bằng ta tạm lánh mặt, chờ khi chính phủ Nam Kinh tiếp nhận xong các tỉnh, các đạo quân miền bắc, ta sẽ về lại với ruộng đồng, làm một người dân bình thường của nước cộng hòa.
Nhưng năm vị chuyên sứ đi đón họ Viên đã tới Bắc Kinh. Chính điều đó làm Viên Thế Khải lo ngại. Viên Thế Khải nghĩ tới câu nói của Tôn Trung Sơn: "Tân tổng thống phải xuống miền nam nhận chức" thì ông ta mới từ chức. Nếu vẫn kiên trì không đi, vạn nhất Tham nghị viện lâm thời, nhìn vào tình thế trước mắt mà giữ tổng thống họ Tôn lại, hoặc có một biện pháp khác thì sẽ ra sao đây. Nghĩ tới đó, Viên Thế Khải thấy cần phải đón tiếp năm sứ giả của miền nam thật long trọng. Cần phải thay đổi giọng điệu trong các bức điện lần trước. Bằng một thái độ hết sức chân thành, Viên Thế Khải đã trò chuyện với các sứ giả về đoạn đường đi xuống miền nam.
Trong khi các chuyên sứ đang chuẩn bị nghênh đón họ Viên xuống miền nam thì ngay ở Bắc Kinh đã nổ ra một cuộc binh biến.
Đêm 29 tháng 2, trong khi năm chuyên sứ đang ngủ yên trong Nghênh tân quán thì tiếng súng nổ dữ dội làm họ tỉnh giấc. Ngoài song cửa lửa khói ngút trời. Các chuyên sứ được thông báo, một đạo quân phòng thủ đã làm loạn để phản đối Viên Thế Khải rời bỏ kinh thành. Càng ngày tiếng súng nghe càng ác liệt, càng gần. Nghe nói quân phiến loạn căm ghét các chuyên sứ, muốn nói chuyện với họ bằng dao súng, vì họ cả gan cướp mất "Viên Cung Bảo" vị "quan phụ mẫu cơm áo gạo tiền" của họ. Các chuyên sứ kinh hãi lắm, liền chạy đến nhà hàng Lục Quốc để lánh nạn.
Cuộc binh biến vừa rồi đã "chứng thực" cho lời nói của Viên Thế Khải. Những là: "Trật tự ở miền bắc chưa ổn định", "Ý kiến quân dân miền bắc còn nhiều phân tán" v.v...
Đồng thời, các nước đế quốc ủng hộ Viên Thế Khải đã có ngay những phản ứng thích hợp với cuộc binh biến vừa qua: hai nước Anh, Mỹ điều quân vào Kinh, tăng cường cảnh giới vùng cảng Đông Giao Dân. Quân Nhật đổ bộ lên đảo Tần Hoàng, từ Sơn Hải Quan điều một phần binh lính vào Bắc Kinh. Quân Nga cũng điều hơn một ngàn quân từ Cáp Nhĩ Tân đến Thiên Tân. Tất cả những điều đó cũng "chứng thực" cho lời nói của họ Viên: "Trong, ngoài còn rất nhiều chuyện đáng phải lo".
Sau khi 5 sứ lên miền bắc, đã mấy lần bàn bạc với họ Viên về chuyện xuống miền nam, Viên Thế Khải không hề phản đối. Những người tinh tường đều hiểu, Viên Thế Khải sẽ không bao giờ cúi đầu nghe theo sự sắp đặt của miền nam. Nhưng họ không đoán được Viên Thế Khải sẽ chống lại những yêu cầu của miền nam bằng cách nào!
Một hôm, Viên Thế Khải nói chuyện xuống miền nam với lũ bộ tướng thân tín: - Nhớ khi xưa cầu được một chức đốc phủ địa phương đã phải vất vả lắm lắm. Ngày nay Nam Kinh cho người mời ta về làm tổng thống. Ta đâu có ý không muốn nhận chức? Nhưng hiềm nỗi mấy chục vạn quân ở miền bắc, rồi hoàng tộc nữa chưa được sắp đặt thỏa đáng, ta đi sao đành? Sau khi ta đi rồi thì ai là người trông coi ở đây? Bảo ta vứt bỏ mọi trách nhiệm xuống miền nam nhận chức, chỉ bằng đem cái chức tổng thống đó mà nhường cho người khác vậy!
Lũ bộ tướng nghe xong như bị kích động. Mọi người nhao nhao lên:
- Mặc xác chúng nó. Quốc đô đã đóng hàng mấy trăm năm, không thể cứ muốn dời là dời đâu! Bọn hạ quan đuổi lũ chuyên sứ miền Nam đi là xong chứ gì?
Viên Thế Khải trầm tư. Mãi sau mới nói:
- Ý các ngươi rất hay, tuy chưa biết ai hơn ai. Lúc này miền Nam đang có thế, nếu cứ ầm ĩ lên thì liệu giải quyết được gì! Phải có cách sao cho bọn chuyên sứ miền Nam tự biết mà rút đi thì hơn. Nếu làm được như vậy, thì dù có tổn thất chút ít cũng đáng làm! Trong hai cái hại thì hại ít vẫn hơn! Nếu một hành động mà giải quyết xong mọi việc, chịu đau một ít mà sung sướng dài dài, sao lại không làm?
Lũ bộ hạ nhất thời chưa lĩnh hội được những ý hay, chưa có được những kế giỏi.
Số bộ tướng vừa đi khỏi thì thấy một mưu sĩ lén vào phủ, to nhỏ bên tai Viên Thế Khải rằng:
Theo chỉ thị của chúa công, mọi việc đã bàn giao xong với hai viên quan đóng quân trong thành, sáng ngày mai sẽ cho quân khởi sự. Đồng thời đã bố trí những đạo quân liên quan canh giữ một số khu vực trọng điểm, tránh tổn thất trong lúc hỗn quân hỗn quan. Để tạo tiếng vang, còn điện cho quân lính đóng ở Thiên Tân, kịp thời có những động tác hưởng ứng. - Lúc khởi sự, thể nào một số nhà dân cũng có tổn thất, nhưng không để biến thành đại loạn.
Viên Thế Khải cảm thấy hài lòng. Còn dặn dò thêm những điều cần thiết. Cho chỉ một khoản tiền hơn chục vạn để bí mật bồi thường hoặc cứu tế.
Đêm hôm đó, cái gọi là "binh biến" đã nổ ra ở kinh thành.
Sau cuộc binh biến, Viên Thế Khải không bao giờ động tới chuyện không muốn xuống miền nam nhận chức với các chuyên sứ, mà thường nói đến trách nhiệm nặng nề đối với trật tự ở miền bắc, muốn tránh những hậu họa lớn hơn. Ý muốn để cho các chuyên sứ miền nam tự rút ra kết luận, bãi bỏ điều kiện phải xuống nhận chức ở miền nam.
Trong lúc nói chuyện, 5 viên chuyên sứ vẫn chưa hết bàng hoàng, Viên Thế Khải vui mừng vì đã nhận thấy điều đó. Họ điện cho chính phủ lâm thời Nam Kinh cùng Tham nghị viện, cho rằng: "nhanh chóng thống nhất chính phủ là điều quan trọng nhất hiện nay, để ổn định đại cục". Đảng cách mạng ở Nam Kinh không nghi ngờ gì, điện trả lời đồng ý để họ Viên làm lễ nhận chức ngay tại kinh thành.
Cuối cùng Viên Thế Khải đã thành công như ý. Ông ta nói với các thân tín:
- Miền nam định dùng kế điệu hổ li sơn đối với ta. Thực không biết lượng sức!
Viên Thế Khải, ngoài mặt thì theo, trong lòng thì chống, dùng mưu, biến bị động thành chủ động. Họ Viên làm cho đảng cách mạng miền nam như thấu được nỗi "khổ tâm" của mình, thừa nhận màn kịch vừa tạo dựng làm lý do để không thể xuống miền nam được! Họ Viên được mọi người ủng hộ, bảo vệ được mục đích cuối cùng!
6. "CĂN MỆNH", TRANH GIÀNH
Sau cuộc "bắc phạt" lần hai, bốn nhóm quân phiệt Tưởng, Quế, Phùng, Diêm, từng nhóm bá chiếm một vùng riêng. Tưởng Giới Thạch lo ngại về việc phân quyền của bốn phân hội chính trị các tập đoàn quân số 2, 3 và 4 của Quế, Phùng, Diêm và những thành phố mà họ chiếm hữu Vũ Hán, Quảng Châu, Khai Phong, Thái Nguyên.Nhằm tăng cường tập quyền, trong phiên họp toàn thể thứ năm khóa hai của đảng Quốc dân, Tưởng Giới Thạch đề nghị thủ tiêu phân hội chính trị các vùng, phát biểu cử Phùng Ngọc Tường là bộ trưởng Quân chính trung ương, Diêm Tích Sơn là bộ trưởng Nội chính, Lý Tông Nhân là viện trưởng quân sự Tham nghị viện. Hi vọng cả ba người sẽ lưu lại Nam Kinh.
Thực chất đây là kế hoạch "diệt Phiên", "điệu hổ li sơn" của họ Tưởng. Nhưng ngoài Lý Tông Nhân nhất trí ra, Phùng và Diêm tỏ vẻ không chịu.
Tưởng Giới Thạch liền thay đổi sách lược, chuyển mục tiêu sang phía quân đội. Lấy "vỗ về trăm họ, tránh nỗi khổ cho dân" làm lý do, họ Tưởng yêu cầu các phái quân phiệt phải chỉnh đốn quân ngũ. Lời lẽ của Tưởng thật là rõ ràng:
Bắc phạt hoàn thành, việc quân kết thúc. Giảm quân, giảm chi, góp sức xây dựng tổ quốc đã trở thành yêu cầu thống nhất trong cả nước. Riêng cách mạng chưa thành công thì việc xây dựng chính quyền, chỉnh quân lại càng bức xúc. Ngay trong nhóm quân sự miền bắc, có hai trách nhiệm thật lớn cũng chưa hoàn thành. Một là tài giảm binh ngạch, chuyển một khoản chỉ lớn sang công việc xây dựng. Mặt khác quân đội lại phải mạnh để giữ gìn an ninh xã hội và đất nước... xúc tiến thống nhất đất nước lànguyện vọng chung. Cần phải phản đối quân nhân nàomuốn bá chiến địa phương. Càng nên phản đối những aimượn cớ thống nhất để khống chế trung ương. Giảm quân có được thực hiện hay không, quân bị có được chỉnh lý hay không, đều là những vấn đề mấu chốt liên quan tới sự tồn vong của đất nước...
Phùng, Diêm và Lý đều hiểu rõ, đây là một dự định làm suy yếu thế lực ba tập đoàn quân của họ. Tưởng Giới Thạch muốn mở rộng thế lực của mình, mọi quyền lực phải vượt trên các tập đoàn quân và khi có thời cơ là tiêu diệt từng bên một. Nhưng họ lại không có cách gì để phản đối những lý do mà họ Tưởng nêu ra để yêu cầu phải giảm quân. Họ đành phải nghĩ cách lợi dụng việc giảm quân nhằm tạo nên những tình thế có lợi cho mình. Vì thế, bốn phái quân phiệt bắt đầu có những cuộc bàn bạc với nhau.
Bấy giờ số người trong các tập đoàn quân là: tập đoàn quân số 1 hơn năm mươi vạn, số 2 hơn ba mươi vạn, mỗi tập đoàn quân số 3 và 4 có khoảng hơn hai mươi vạn. Vì vậy, Tưởng Giới Thạch và Phùng Ngọc Tường là hai nhà đấu tranh chủ yếu trong các hội nghị giảm quân.
Trước hết Phùng Ngọc Tường đưa ra cái gọi là "tiêu chuẩn giảm và lưu" trong "bốn có bốn không" của mình, tức là: "Có huấn luyện thì lưu, không cần huấn luyện thì giảm. Có cách mạng thì lưu, không cách mạng thì giảm. Có chiến công thì lưu, không chiến công thì giảm. Có đầy đủ trang bị thì lưu, không đầy đủ thì giảm". Với bốn tiêu chuẩn đó, đa phần trong tập đoàn quân số 2 của ông ta được lưu lại.
Hà Ứng Khâm hỏi Phùng:
- Vậy thì, ông định lưu lại bao nhiêu?
Phùng Ngọc Tường đáp:
- Chưa dám nói là bao nhiêu. Nhưng có lẽ là dẫn đầu trong bốn tập đoàn quân vậy.
Tưởng Giới Thạch hừm một tiếng, tỏ vẻ không vui, nói:
- Có lẽ ông nên đưa ra một phương án cụ thể xem sao!
Vì không muốn trở thành đề tài đàm tiếu của mọi người, nên Phùng Ngọc Tường tỏ ra khách khí, đưa ra một phương án chung, không dám ở hàng đầu mà ở mức ngang bằng với họ Tưởng. Ông ta chủ trương: các tập đoàn quân số 1, số 2 nên biên chế thành mười hai sư; số 3, số 4, mỗi tập đoàn có tám sư. Tập đoàn chung nên có tám sư.
Phương án này bị thủ lĩnh các phái quân sự khác phản đối. Cuộc thảo luận trở nên căng thẳng.
Theo ám thị của Tưởng Giới Thạch, Diêm Tích Sơn đưa ra một phương án khác, chủ trương: tập đoàn quân số 1, số 2 biên chế thành mười sư; số 3 và số 4, mỗi tập đoàn biên chế từ sáu đến tám sư. Các đội ngũ không chính thức khác biên chế từ sáu đến tám sư. Quân trung ương biên chế từ sáu đến tám sư.
Diêm Tích Sơn nổi tiếng là "con hồ ly tinh". Họ Diêm thấy rõ Phùng Ngọc Tường và Tưởng Giới Thạch là hai nhà đấu tranh với nhau về vấn đề biên chế quân. Diêm biết mình không chơi được với Phùng và cũng chẳng chống chọi được với Tưởng, chi bằng cứ lợi dụng mâu thuẫn của hai nhà giữ lấy vai trò của mình, cũng như tập đoàn quân số 4 có từ sáu đến tám sư là tốt. Ngoài ra, còn được các bên có thiện cảm.
Lý Tông Nhân thấy rõ phương án của Diêm có mùi vị ly gián Tưởng và Phùng, nên cũng theo về với Diêm.
Ngày mùng 1 tháng 1 năm 1929, "hội nghị biên chế" chính thức khai mạc. Tại đây, Tưởng Giới Thạch chỉ trích đề án của Phùng Ngọc Tường. Đối với phương án của họ Diêm, Tưởng Giới Thạch tỏ ý: đồng ý trên nguyên tắc, có chỗ nên bỏ bớt, có chỗ nên bổ sung. Ngoài trung ương ra, cần cho Trương Học Lương ở Đông Bắc có từ sáu đến tám sư. Như vậy vừa chế ngự được Phùng Ngọc Tường, họ Tưởng vừa đảm bảo được ưu thế của mình. Họ Tưởng còn dung hòa được Diêm và Lý, lôi kéo được Trương Học Lương.
Phùng Ngọc Tường cũng chẳng vừa. Đưa ra ngay lập tức một nguyên tắc về giảm quân.
(1) Giảm yếu, lưu khỏe. (2) Lưu lại những người có công, giảm những người không có công.
Từ đó, Phùng Ngọc Tường chỉ rõ:
Quân lính tập đoàn quân số 1 có đến hơn mười vạn là người hai miền nam, bắc nên phải là đối tượng giảm quân trước tiên - Nếu không làm như vậy, lại đòi giảm quân lính chính quy, phần lớn đã lập công trong thời bắc phạt thì thực là phi lý!
Kết quả, trong quá trình thảo đi luận lại, đa phần tán thành phương án của họ Diêm. Phùng Ngọc Tường bực quá, bỏ cả hội nghị, cho người đi thay, với lý do: "gần đây mất ngủ, bệnh dạ dày tái phát, thầy thuốc cho là mắc chứng thần kinh suy nhược".
Quân đội là căn mệnh của quân phiệt, là cơ sở sống còn của quân phiệt. Quân phiệt cát cứ từng vùng, lúc hỗn chiến, ai có quân, người ấy có quyền. Ai nhiều quân người ấy quyền lớn. Đó là nguyên nhân khiến các phái quân phiệt tranh giành, ồn ã trong các hội nghị chỉnh biên. Hội nghị lần này có thông qua hàng loạt những tuyên ngôn, đại cương, điều lệ... nhưng trong thực tế, để bảo vệ mình, lũ quân phiệt đều sử dụng sách lược đối kháng một cách tiêu cực, biến nghị quyết thành tờ giấy trắng.
Diêm, Phùng, Lý hiểu thấu lòng dạ đen tối của Tưởng Giới Thạch, nên ai nấy lo tìm kế đấu tranh, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, hòng giữ cho được thực lực của chính mình.
Những cuộc đấu tranh trong chốn quan trường, tìm ra những cớ hay, làm suy yếu đối thủ thì Tưởng Giới Thạch là một tay rất khá. Còn đưa ra những lý do đường hoàng có thể phản bác, đối phó với đối thủ thì Phùng Ngọc Tường cũng chẳng chịu kém! Diêm Tích Sơn, Lý Tông Nhân lại giỏi tìm ra những mâu thuẫn chủ yếu trong đấu tranh, tìm cách tự giữ lấy mình!
7. "LỢI DỤNG" HỢP LÝ
Hồ Hán Dân, người huyện Phiên Ngu, Quảng Đông - Năm 1905, sau khi gia nhập Đồng minh hội, bôn ba khắp chốn, tuyên truyền làm báo, tìm mưu vạch kế, theo chân Tôn Trung Sơn tiến hành cách mạng tư sản. Bản thân còn tham gia vũ trang khởi nghĩa. Về mặt lý luận, Hồ Hán Dân có nhiều đóng góp cho chủ nghĩa Tam dân. Ông là nhà tuyên truyền, nhà lý luận có ảnh hưởng to lớn của cuộc cách mạng dân chủ tư sản, trở thành một trong những trợ thủ không thể thiếu được của Tôn Trung Sơn. Ông luôn được Tôn Trung Sơn coi như một cánh tay của mình. Có người gọi Hồ Hán Dân, Uông Tinh Vệ, Liêu Trọng Khải là "tam kiệt" của Quốc Dân đảng.Sau khi Tôn Trung Sơn tạ thế, Hồ Hán Dân đã có trong "trứng thần quân sự" của Quốc Dân đảng.
Ngày 20 tháng 8 năm 1925, Liêu Trọng Khải bị sát hại trong "trường quân sự", Hồ Hán Dân bị hồ nghi, không còn chỗ đứng trong chính phủ Quốc dân. Ngày 15 tháng 9, ban chấp hành trung ương đảng họp và có quyết định: "mời đồng chí Hồ (Hán Dân) nhận công tác quan hệ với nước ngoài. Như vậy là giao cho đồng chí Hồ một nhiệm vụ hết sức nặng nề".
Cũng giống như việc trục xuất, lập tức Hồ Hán Dân buộc phải tới Liên Xô để "quan hệ bàn bạc".
Ngày 20 tháng 3 năm 1926, một "người con ưu tú của lớp sau" là Tưởng Giới Thạch dựng nên "sự kiện ở hạm tàu Trung Sơn". Một mũi tên trúng ba con chim: vừa bài xích được đoàn cố vấn Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, vừa đả kích được Uông Tinh Vệ. Họ Uông "tức" đến "phát ốm", ẩn cư, ít lâu sau bị đưa ra xét xử. Đương nhiên, Tưởng Giới Thạch trở thành lãnh tụ của Quốc Dân đảng. Tháng 4, Hồ Hán Dân từ Liên Xô trở về, muốn liên minh cùng Tưởng Giới Thạch nắm quyền trong chính phủ Quốc dân.
Hồ Hán Dân thì có ý, nhưng Tưởng Giới Thạch lại vô tình. Vì vậy, Hồ Hán Dân đành phải "ẩn cư" ở Thượng Hải.
Đầu năm 1927, quân lính Bắc phạt tiến đến lưu vực Trường Giang, chính phủ Quốc dân dời đến Vũ Hán. Tưởng Giới Thạch có ý lập một trung ương khác ở miền nam. Để có thể chế ngự được tướng quân Tưởng Giới Thạch không chịu nghe quân lệnh, chính phủ Quốc dân điện gửi Uông Tinh Vệ ở Pháp, hy vọng ông này về nước, mới hòng đề cao được đảng quyền.
Hôm mùng 3 tháng 4, Uông Tinh Vệ từ Pháp trở về. Tưởng Giới Thạch muốn lôi kéo họ Uông. Nhưng Uông Tinh Vệ từ chối và tiến thẳng tới Vũ Hán ngồi trên chiếc giao ý số một. Để đối phó với chính phủ Vũ Hán, Tưởng Giới Thạch nghĩ ngay tới người bạn, từng bị mình lạnh nhạt là Hồ Hán Dân, và mời Hồ Hán Dân ra nắm quyền. Hồ Hán Dân chẳng hề suy tính, khẳng khái nhận lời luôn. Ngày 12 tháng 4, Nam Kinh "thanh đảng", chống cộng. Ngày 18 tháng 4, Nam Kinh chính thức thành lập "chính phủ Quốc dân" và Hồ Hán Dân được "chọn" làm chủ tịch.
Ngày 15, tháng 7, chính phủ Vũ Hán cũng tuyên bố "thanh đảng". Hai phía Ninh và Hán bắt đầu hợp tác, cùng nhau chống Cộng. Do các phái hệ trong đảng Quốc dân quá ư phức tạp, tranh quyền đoạt lợi, bài xích lẫn nhau, nên Tưởng Giới Thạch và Uông Tinh Vệ liên tiếp bị buộc phải tuyên bố "từ chức". Hồ Hán Dân cũng phải "từ chức" theo Tưởng Giới Thạch.
Tháng Giêng năm 1928, Tưởng Giới Thạch lại ra nắm quyền, phục chức Tổng tư lệnh quân cách mạng Quốc dân. Để có thể khống chế được số ủy viên trung ương theo quyết định của hội nghị toàn thể ban chấp hành của đảng kỳ họp thứ 4 khóa II, và để hạn chế được phái Hồ Hán Dân, Tưởng Giới Thạch quay sang ủng hộ phái Uông. Hồ Hán Dân vô cùng phẫn nộ với thái độ mời đấy, phản đấy của Tưởng Giới Thạch, cảm thấy không còn gì để hợp tác nữa, nên tuyên bố không tham dự hội nghị toàn thể ban chấp hành kỳ họp thứ 4 khóa II của đảng. Ngày 25 tháng 1, Hồ Hán Dân cùng vợ chồng Tôn Khoa, Ngũ Triều Khu, với danh nghĩa ra nước ngoài khảo sát, rời Thượng Hải đi du ngoạn các nước Nam Dương, Âu Mỹ. Tưởng Giới Thạch lại nắm đại quyền quân chính của Quốc dân đảng.
Cuối tháng 8 năm 1928, cuộc "Bắc phạt" lần thứ hai của Quốc dân đảng giành được thắng lợi, Hồ Hán Dân lại lên đường về nước. Khi đó, mâu thuẫn giữa các phe phái trong đảng và Tưởng Giới Thạch ngày một tăng vì họ Tưởng có ý đồ "diệt Phiên" và giảm quân. Hồ Hán Dân về nước, khiến cho phía Lưỡng Quảng và cả phía Tây nam hoan hỉ vô cùng. Họ ra sức lôi kéo Hồ Hán Dân, hy vọng họ Hồ hoặc tham gia vào hàng ngũ những người miền Tây nam chống lại Tưởng, hoặc sẽ không hợp tác với Tưởng, làm một lãnh tụ không phe phái, tự do tự tại, tránh bị Tưởng Giới Thạch lợi dụng.
Hồ Hán Dân cự tuyệt những lời khuyên đó, kiên quyết đến Ninh. Hồ Hán Dân cho rằng, Tôn Trung Sơn lãnh đạo cách mạng Trung Quốc đến nay đã hơn bốn mươi năm, mà đất nước vẫn chưa hoàn toàn được thống nhất. Lần này Trung Quốc nhất định được thống nhất sau khi Tưởng Giới Thạch dẫn quân Bắc phạt. Thật chẳng phải dễ dàng gì. Cần phải kế thừa di chí của thủ tướng Tôn Trung Sơn tức là phải làm theo phương lược dựng nước của Tôn Trung Sơn, từng bước thực hiện thống nhất đất nước. Một giai đoạn cách mạng mới đã bắt đầu. Thống nhất cần phải xây dựng. Muốn xây dựng phải có hòa bình, có người phò trợ thì cách mạng mới tiếp tục tiến lên được. Nhìn lại từ năm 1927 đến nay, cả đảng và đất nước, luôn có những tổn thất nặng nề. Cả nước thống nhất, đại cục ổn định, trong đảng mới hết sự tranh giành. Cần phải duy trì một cục diện thống nhất, đẩy mạnh việc xây dựng đất nước. Nếu không như vậy, thì đảng còn có ích gì, tiền đồ cách mạng tránh sao khỏi nguy hiểm. Cứ như thế, Hồ Hán Dân nói tiếp những lời hết sức cảm động:
Ta là đảng viên đảng Quốc dân Trung Quốc mấy chục năm rồi, trải bao hoạn nạn - Mỗi lần nghĩ lại lịch sử đấu tranh của đảng đầy máu và nước mắt, ta vẫn không hiểu được vì sao cục diện thống nhất đã gần thành nhưng rồi lại bị chia cắt. Sự hoàn thiện của con người là ở đâu? Đồng chí với nhau lại không chịu giúp nhau. Cuối cùng Nam Kinh phải tìm đến sự giúp đỡ của những kẻ vô loài trong đám quan liêu, quân phiệt! Đó chẳng phải là càng tiến càng tan sao? Gan óc lấy đất của mấy vạn tướng sĩ cách mạng, sự hy sinh phấn đấu của mười mấy vạn đồng chí cách mạng là vì cái gì đây? Ta suy đi tính lại trong một trạng thái cực kỳ khổ tâm rồi mới có được chủ trương và biện pháp, mới vững bước vào Kinh.
Hồ Hán Dân coi mình là một đảng viên lão thành Quốc dân đảng, với tấm lòng trung thành vô hạn với đảng, mới đến Nam Kinh. Là người cách mạng hàng mấy chục năm, Hồ Hán Dân tất có những tình cảm như vậy. Điều đó cũng dễ hiểu.
Nhưng nhìn vào lời nói và việc làm của Hồ Hán Dân thì có thể nói đó chưa phải là nguyên nhân đích thực hoặc chưa phải là toàn bộ nguyên nhân của việc vào Ninh. Trong thời gian quan sát ở nước ngoài, Hồ Hán Dân vô cùng thích thú với cục diện chính trị sau cuộc cách mạng ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ông khảo sát tình hình Thổ Nhĩ Kỳ hai lần. Tình hình trước cách mạng ở Thổ có nhiều nét tương đồng với tình hình Trung Quốc trước khi Quốc dân đảng tiến hành Bắc phạt. Chế độ hợp nhất đảng chính của Thổ Nhĩ Kỳ sau cách mạng có phần giống với chủ trương "đảng trị" của Hồ Hán Dân. Điều làm cho Hồ Hán Dân thích thú nhất là sau khi lãnh tụ cách mạng của Thổ Nhĩ Kỳ đưa cách mạng đến thành công, ông đã ốm đau phải "dưỡng bệnh" lâu ngày, mọi vấn đề chính trị đều do thủ tướng nội các quyết đoán hoàn toàn. Nền chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ thực hợp với tâm tư, nguyện vọng của Hồ Hán Dân. Ông cho rằng nền chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ đã đạt "tới độ hoàn thiện". Vì vậy, sau khi về nước, ông thường ca ngợi công cuộc cách mạng ở Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi đến Nam Kinh, ông thường diễn thuyết cảm tưởng những chuyến viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ. Những người xung quanh phải nghe nhiều lần đã phát chán. Vì vậy, có lần Vương Sủng Huệ đã nói thẳng với Hồ Hán Dân:
- Hồ tiên sinh, ngài suốt ngày nói đến Âu, Mỹ, đến Thổ Nhĩ Kỳ, nói đến xây dựng, quân đội và tài chính, nhưng liệu họ có hiểu gì không?
Rõ ràng là mục đích của Hồ Hán Dân mong cho họ Tưởng cũng giống như thủ lĩnh của Thổ, sau khi chiến thắng Hi Lạp đã đưa người đẹp đi thăm thú những vùng phong cảnh tuyệt vời. Cũng vậy, Tưởng nên đưa Tống Mỹ Linh du ngoạn các nơi, mà trao đại quyền cho mình vậy! Những ý nghĩ quả là ngây thơ và lãng mạn.
Hồ Hán Dân còn nói với những người khuyên ông ta không nên đi Nam Kinh:
Từ xưa, võ nhân thường ngồi trên ngựa mà lấy thiên hạ - Nhưng khi đã xuống ngựa thì phải có văn nhân mới trị được thiên hạ: Hán Cao Tổ (Lưu Bang) phải có Thúc Tôn Thông trợ giúp. Lúc này mà bãi bỏ chiến tranh thì có thể lấy lực lượng pháp trị để hạn chế súng đạn. Cho dù ta không đi Nam Kinh thì vẫn có người khác để ông ta lợi dụng.
Nhà chính trị Hồ Hán Dân xuất thân là một văn nhân. Việc ông đọc quá nhiều sách đã trở thành một nhược điểm chết người trong các cuộc đấu tranh chính trị. Đó là lòng thành thực quá mức. Đúng vậy, trong lịch sử lâu dài của đất nước Trung Quốc, thuở đầu dựng nước của mỗi triều đại đều có những văn nhân mặc khách giúp đỡ các hoàng đế trị lý thiên hạ, quản lý đất nước. Tần có Lý Tư, Hán có Thúc Tôn Thông, Đường có Ngụy Chinh, Tống có Triệu Phổ, Nguyên có Da Luật Sở Tài v.v... Quốc dân đảng Bắc phạt thắng lợi, Hồ Hán Dân cảm thấy "võ nhân" đã lấy được "thiên hạ". Thời kỳ Quân chính đã kết thúc. Thời kỳ huấn chính, trị lý quốc gia đã bắt đầu. Bây giờ là lúc phải cần loại người như ông ta. Ngoài ra Hồ Hán Dân còn nói: "Thì vẫn có người khác để ông ta lợi dụng". "Người khác" đây chính là Uông Tinh Vệ. Trong quá trình cách mạng trước đây, Hồ và Uông đã có những tình cảm thật thắm thiết. Nhưng sau khi Tôn Trung Sơn tạ thế, Uông Tinh Vệ muốn bành trướng quyền lực nên đã làm mất đi tình hữu nghị giữa hai người. Hai người luôn luôn tranh giành quyền lực cao nhất trong đảng. Vì vậy, trên vũ đài chính trị của đảng, hai người chưa thực sự hợp tác bao giờ. Người đi kẻ ở, họ cứ lần lượt thay nhau. Sau khi Bắc phạt thành công, Tưởng Giới Thạch phải lo đến nhiều "chính sách", nên có nhiều điều lo không thấu mà trở nên cứng nhắc! Để thoát khỏi tình cảnh ấy, trước khi họ Hồ về nước, Tưởng đã cho người liên hệ với phái Uông, mong hai bên hợp tác. Hồ Hán Dân sự Tưởng và Uông hợp tác thì mình không còn chỗ đứng trong đảng.
Trong lúc các phe phái đang phản đối Tưởng Giới Thạch, không muốn hợp tác, thì thái độ của Hồ Hán Dân làm ông ta mừng rỡ. Họ Tưởng hết sức hoan nghênh Hồ Hán Dân đến Nam Kinh. Ông ta đang muốn lợi dụng tiếng tăm của họ Hồ.
Ngày 20 tháng 9, thường vụ ban chấp hành trung ương đảng họp ở Nam Kinh có nghị quyết tăng cường Hồ Hán Dân và Tôn Khoa là ủy viên thường vụ ban chấp hành trung ương. Hồ Hán Dân phụ trách lãnh đạo ban bí thư của ban chấp hành trung ương. Ngày mùng 3 tháng 10 ban thường vụ ban chấp hành trung ương đảng thông qua đề nghị của Hồ Hán Dân về hai văn bản "Huấn chính cương lĩnh" và "Luật tổ chức chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc".
Ngày mùng 8 tháng 10, ban thường vụ trung ương Quốc dân đảng thông qua danh sách ủy viên trong chính phủ Quốc dân, chủ tịch, viện trưởng và phó viện trưởng năm viện. Tưởng Giới Thạch là chủ tịch chính phủ Quốc dân, kiêm tổng tư lệnh lục, hải, không quân. Hồ Hán Dân là viện trưởng Pháp viện. Đàm Diên Khải là viện trưởng Hành chính viện. Vương Sủng Huệ là viện trưởng Tư pháp viện. Đái Quý Đào, Sái Nguyên Bồi là viện trưởng các viện Khảo thí và Giám sát.
Từ đó, chính phủ Nam Kinh bước vào giai đoạn lịch sử Tưởng, Hồ hợp tác lần thứ hai.
Đúng vậy! Trung Quốc đất rộng, người đông, sản vật phong phú. Nếu có cơ hội kết hợp được từ trên, được làm quan, phát triển thì xin đừng bỏ qua! Bởi vì, mỗi lần như vậy là không biết có bao nhiêu cặp mắt ghen ghét đang nhìn chằm chằm vào bạn.
Vì vậy, trong chốn quan trường phải nhớ kỹ cho một điều: "Ta không bị lợi dụng, thì lập tức có người khác đến để được lợi dụng".
8. NGƯỜI BIẾT LÁI MÁY BAY LẠI KHÔNG LÁI ĐƯỢC XE HƠI
Năm 1928, Hồ Hán Dân đến Nam Kinh, giúp Tưởng Giới Thạch được nhiều việc. Trong cuộc chiến tranh Tưởng, Quế, họ Hồ đã giúp Tưởng kìm chân Lý Tế Thâm, làm tan rã liên minh Việt, Quế, đánh bại Quế hệ. Trong cuộc chiến tranh Tưởng, Phùng, họ Hồ giúp Tưởng đánh bại Phùng Ngọc Tường, tiêu diệt quân lính của Đường Sinh Trí. Trong cuộc đại chiến ở Trung Nguyên, giúp Tưởng đánh bại liên quân. Có thể nói, nếu bấy giờ Hồ Hán Dân không có ở Nam Kinh chèo chống thay cho Tưởng thì một mình Tưởng chắc gì đã thu được nhiều thắng lợi về quân sự và chính trị như thế! Nhờ có sự giúp đỡ chủ yếu của Hồ Hán Dân nền độc tài của Tưởng mới được thành lập. Đại chiến Trung Nguyên kết thúc, Tưởng Giới Thạch vô cùng hoan hỉ. Họ Tưởng quyết định triệu tập hội nghị quốc dân, hòng qua đó xác định ước pháp về quyền hạn của tổng thống; họ Tưởng sẽ được "chọn bầu" là đại tổng thống "có quyền thống soái các viện trưởng của năm viện".Hồ Hán Dân kiên quyết phản đối điều đó. Vì trong chế độ tổ chức chính phủ với năm viện, Hồ Hán Dân đã được trao một số quyền lực - Họ Hồ cũng muốn lợi dụng chế độ năm viện để mở rộng quyền lực của mình. Tưởng Giới Thạch lại muốn tổng thống nắm mọi đại quyền về quân, chính, đảng để nhanh chóng nuốt trửng mọi quyền hành mà Hồ Hán Dân vừa có được. Thế rồi trong tuần lễ kỷ niệm, Hồ Hán Dân viết báo cáo, đưa bài đăng báo, đem lời "di huấn của thủ tướng" phản đối Tưởng Giới Thạch muốn chế định ước pháp, bầu chọn tổng thống trong thời kỳ huấn chính. Tưởng Giới Thạch cũng làm báo cáo, viết bài, giương cao ngọn cờ "tuân theo di huấn", bước thẳng tới chiếc ngai vàng tổng thống. Và thế là cuộc luận chiến về ước pháp đã nổ ra giữa hai "tín đồ trung thành" của Tôn tiên sinh.
Ngày 12 tháng 11 năm 1930, trong hội nghị lần thứ 4, khóa III của đảng, Hồ Hán Dân cho rằng hội nghị của đảng không thể định ra ước pháp. Ông còn đả kích bóng gió việc Tưởng Giới Thạch nhúng tay vào công việc của đảng, còn kiêm nhiệm quá nhiều chức vụ! Ông đơn cử một ví dụ hết sức hình tượng:
Trong chiến tranh châu Âu, nước Pháp có một viên phi công, kỹ thuật lái hết sức cao siêu. Đã nhiều lần đánh bại máy bay của Đức. Một hôm viên phi công trở lại Paris.Hiển nhiên các nhân sĩ trong thành đều khâm phục và kính trọng. Họ tổ chức nghi thức đón rước hết sức long trọng ở ga xe. Bấy giờ có một chiếc xe hơi ra đón. Mọi người mời viên phi công lên xe. Viên phi công cho rằng vận hành máy móc là việc quen thuộc, nên đòi được lái xe. Với tư cách là một phi hành gia, đem kinh nghiệm tung hoành ngang dọc trên bầu trời ra lái. Chiếc xe bắt đầu bổ nhoáng bổ nhoàng, đâm chết mất năm, sáu chục người ra đón. Những người khác chẳng biết nên trách thế nào, chỉ khuyên viên phi công hãy dừng lại.
Ý tứ của Hồ Hán Dân thật rõ ràng: ngài Tưởng chỉ giỏi về máy bay, còn trách nhiệm lái xe hơi hãy để Hồ Hán Dân này làm cho.
Tưởng Giới Thạch không cam tâm với những lời châm chọc, công kích của Hồ Hán Dân. Tưởng sai người đề xuất ý kiến trước cuộc họp, nhanh chóng triệu tập hội nghị Quốc dân, định ra "ước pháp án". Đề án rất dài, ngoài việc nhấn mạnh phải triệu tập hội nghị Quốc dân định ra ước pháp, còn bài xích chủ trương của Hồ Hán Dân, đưa ra năm lý do:
(1) Triệu tập hội nghị Quốc dân, thông qua ước định, ước pháp là tuân theo di huấn của thủ tướng. Tuy rằng một số kẻ khác đã không tán thành, nhưng chính phủ vẫn tuân theo. (Thời đại chiến Trung Nguyên, Uông Tinh Vệ, Diêm Tích Sơn, lúc phản đối phe Tưởng triệu tập hội nghị mở rộng tại Bắc Bình, đã thẳng thắn chỉ rõ, theo học thuyết dựng nước của thủ tướng Tôn Trung Sơn thời cơ triệu tập hội nghị Quốc dân đã thành thục, và đã dự thảo ước pháp gồm 8 chương 221 điều).
(2) Để gắn bó quan hệ giữa nhân dân với Quốc dân đảng thì ngoài việc triệu tập hội nghị Quốc dân, không còn cách nào khác.
(3) Hội nghị Quốc dân khác hẳn đại hội Quốc dân định ra cương lĩnh dựng nước của Tôn Trung Sơn. Mục đích hội nghị là để nhân dân hiểu được chính cương điều lệ của đảng, dân với đảng đoàn kết một lòng.
(4) Thời kỳ huấn chính cần phải có ước pháp. Tuy trong di chúc của thủ tướng không nói tới, nhưng trước đó, thủ tướng đã định như vậy. Chủ trương của Tôn thủ tướng không thể chỉ hạn chế trong di chúc và trong đề cương dựng nước.
(5) Đại hội toàn thể lần thứ ba tuy đã xác định di chúc của Tôn Trung Sơn là điều kiện cao nhất trong thời huấn chính. Nhưng để dễ thực hành chúng ta phải xác định rõ ràng, dễ nhớ dễ theo.
Căn cứ vào năm điều kể trên, việc xây dựng ước pháp là điều hết sức cần thiết.
Hồ Hán Dân cho rằng, đề án vừa dài vừa chẳng có ý nghĩa nên không cần phải thảo luận. Vì đại hội toàn thể lần ba đã coi di chúc của thủ tướng là điều kiện lớn nhất của ước pháp rồi còn gì?
Lý Thạch Tăng, Ngô Trĩ Huy, số "văn thần" ủng hộ Tưởng Giới Thạch lấy làm bực tức về các ý kiến của Hồ Hán Dân.
Lý Thạch Tăng cho rằng không thảo luận đề án coi như tước quyền tự do ngôn luận của người khác. Ngô Trĩ Huy nói nhiều đến chủ trương của thủ tướng. Coi việc triệu tập hội nghị Quốc dân, định ra ước pháp là con đường hay nhất để trị nước.
Hồ Hán Dân thấy rằng không cho thảo luận đề án là không được, vì thế mới phát biểu tiếp nhằm phản bác đề án:
- Ước pháp do Tôn Trung Sơn đề xuất trong tuyên ngôn với Đồng minh hội đã nói rất rõ: hễ chính phủ quân sự có quyền lợi và nghĩa vụ đối với dân và dân có quyền lợi nghĩa vụ đối với chính phủ, thì phải có ước pháp. Nếu bây giờ vẫn phải định ước pháp thì bây giờ vẫn còn chính phủ quân sự hay sao?
Trong trước tác nổi tiếng "Kiến quốc đại cương", Tôn Trung Sơn đã bàn tới ba thời kỳ dựng nước: Thời kỳ quân chính, huấn chính và hiến chính.
Trong thời kỳ quân chính "Bằng vũ lực, quét sạch mọi trở ngại, xây dựng cơ sở Dân quốc".
Thời kỳ huấn chính "Bằng pháp chế văn minh đốc thúc quốc dân, xây dựng địa phương tự trị".
Thời kỳ hiến chính, "Tổ chức ban hiến chính, soạn thảo hiến pháp. Ngày ban bố hiến pháp cũng là ngày cách mạng thành công".
Trong thời kỳ huấn chính quyền lực tối cao phải thuộc về đại hội đại biểu toàn quốc Quốc dân đảng. Tôn Trung Sơn cho rằng thời huấn chính là thời "đảng trị quốc".
Hồ Hán Dân kiên quyết, cho rằng, Quốc dân đảng là một đảng chuyên chính, vì vậy nó phải có một phần quyền lực. Điều đó gần giống như ý kiến của họ Tưởng. Nhưng ý kiến của Hồ Hán Dân về hội nghị Quốc dân lại phù hợp với "di huấn của thủ tướng", ít nhiều khống chế được phần độc tài của họ Tưởng, vì vậy được sự đồng tình và ủng hộ của mọi người. Hội nghị toàn thể ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng khóa III tranh luận ầm ỹ suốt sáu ngày mới bế mạc.
Hội nghị quyết định ngày 5, tháng 5 năm 1931 sẽ triệu tập hội nghị Quốc dân. Chưa có ý kiến gì về ước pháp.
Từ đó, mâu thuẫn giữa Tưởng Giới Thạch và Hồ Hán Dân trở nên công khai hơn.
Ngày 24 tháng 2 năm 1931, Tưởng Giới Thạch mời Hồ Hán Dân, Đái Quý Đào, Ngô Trĩ Huy, Trương Quần đến bàn về ước pháp. Trong số những người đến họp, duy có Hồ Hán Dân là phản đối ước pháp. Những người khác đều phụ họa với họ Tưởng - Một cuộc đấu khẩu kịch liệt không khỏi xẩy ra. Trương Quân đang hùng biện giảng giải về "Lập hiến cứu quốc luận" của mình. Hồ Hán Dân nghe đến phát chán đã lớn tiếng phản bác:
Không phải ta không chủ trương ước pháp và hiến pháp. Ta tin rằng ta mới là người phấn đấu cho ước pháp và hiến pháp. Trong lúc bắt đầu phản đối Mãn Thanh, để xướng dân quyền, ta không hiểu các ngươi đang ở đâu? Hơn nữa cũng chẳng có cách gì để hiểu được các ngươi. Ta ủng hộ dân quyền không kém gì các ngươi, nếu không nói là mãnh liệt hơn nhiều ... ta chưa làm được gì nhiều ở viện Lập pháp, chưa soạn thảo được ước pháp và hiến pháp. Nhưng cứ phải đưa ra được ước pháp, hiến phápmới là thực hành dân quyền sao? Hiện nay pháp luật chưa được hoàn thiện. Cái đã có, lại quá đề cao quân quyền, chưa phát huy tác dụng được mấy. Còn như định ra nhiềuqui định cơ bản thì cũng chưa được. Vì nó sẽ vi phạm tớichính thể, tới điều luật, làm giảm lòng tin của nhân dânvới đảng, và ngay bản thân những qui định đó cũng mấthết giá trị. Vì vậy, ta không chủ trương phải có ngay ướcpháp và hiến pháp. Ta đã lo cho đảng, cho bản thân ướcpháp và cho ngay cả những ký giả không hề biết pháp luậtlà gì.
Có thể coi Hồ Hán Dân là người hùng biện nhất trong Quốc dân đảng. Những cuộc tranh luận như vậy, với ông, chẳng khó khăn gì. Những kẻ tranh luận khác, chẳng khác gì phù thủy con gặp phù thủy bố. Những Trương Quần, Đái Quý Đào, Ngô Trĩ Huy bị Hồ Hán Dân phản bác đến cứng họng. Họ biết là không địch nổi Hồ Hán Dân, bị Hồ Hán Dân thuyết phục, không thể không tán thành, Tưởng Giới Thạch cũng tỏ ra niềm nở hơn:
- Vậy, chúng ta cứ làm theo lời của Hồ tiên sinh.
Ý nghĩ hay ho của họ Tưởng gần như đã bị Hồ Hán Dân làm cho tan tành.
Hồ Hán Dân tỏ ra dày dạn khi nói rằng: "Ta không bị lợi dụng, tất sẽ có người khác đến để được lợi dụng". Ông còn dẫn ra được những đạo lý thông thường, dễ hiểu: "Người biết lái máy bay, lại không lái được xe hơi" làm lý do, đoạt bằng được sự "phân quyền" trong tay Tưởng Giới Thạch.
9. TÚ TÀI GẶP LÍNH
Mọi người thường nói: "Có lý thì đi khắp thiên hạ, vô lý thì một bước cũng không xong". Nhưng bao giờ cũng có ngoại lệ. Tức là: "Tú tài gặp lính, có lý cũng chẳng hơn gì". Chốn quan trường là như vậy.Đầu năm 1931, gần đến ngày khai mạc hội nghị Quốc dân, chủ trương phản đối soạn thảo ước pháp của Hồ Hán Dân ngày càng kiên định. Nếu cứ để cho Hồ Hán Dân phát biểu một cách tự do thì coi như mọi nguyện vọng và kế hoạch của họ Tưởng sẽ trở thành công cốc. Hơn nữa, căn cứ vào tình hình mà hai anh em Trần Quả Phu, Trần Lập Phu nắm được, các địa phương tuyển chọn đại biểu đi dự hội nghị rất bất lợi cho Tưởng Giới Thạch. Nhiều người không muốn họ Tưởng làm tổng thống. Đa phần nghiêng về phía Hồ Hán Dân. Nếu tính số phiếu thì Tưởng Giới Thạch chỉ đạt 32%. Còn hơn 68% số phiếu thuộc về Hồ Hán Dân.
Tưởng Giới Thạch hết sức lo lắng, liền cho triệu tập thân tín chung quanh đến bàn đối sách. Ngô Trĩ Huy đề nghị để ông ta đến khuyên Hồ Hán Dân không nên đối kháng với Tưởng Giới Thạch nữa! Được Tưởng Giới Thạch đồng ý, ông ta lấy hết dũng khí đến khuyên Hồ Hán Dân. Họ Hồ không những không nghe, còn mắng cho Ngô một trận nên thân. Ngô như mèo mất tai, cúp đuôi chuồn thẳng.
Loại bỏ Hồ Hán Dân không được, thì chức tổng thống của Tưởng sẽ ra sao đây? Đái Quý Đào liền hiến kế: giữ Hồ Hán Dân lại, buộc ông ta phải ngậm miệng.
Ngày 26 tháng 2 năm 1931, Tưởng Giới Thạch gửi giấy đến mời Hồ Hán Dân dự tiệc tại bộ tư lệnh vào tối ngày 28. Hồ Hán Dân không ngờ đó là kế. Tối 28, Hồ cứ đi.
Nhưng tiệc chẳng thấy chỉ thấy Tưởng cho người đưa đến một lá thư vu khống Hồ phạm nhiều sai lầm và mấy tên vệ binh súng đạn đầy người. Ở phần đầu bức thư tố cáo, Tưởng Giới Thạch nói rõ, ngoài Tôn Trung Sơn ra, Hồ Hán Dân là người được Tưởng tôn kính nhất. Nhưng gần đây Hồ Hán Dân phản đối chính phủ, phản đối chính ông ta, bất luận là về vấn đề gì, Hồ Hán Dân đều gây khó dễ cho Tưởng Giới Thạch. Thư còn liệt kê hàng loạt trọng tội của Hồ Hán Dân, như câu kết với Hứa Sùng Trí, vận động quân đội, phản đối ước pháp, phá hoại hành chính v.v...
Hồ Hán Dân đọc xong mới biết mình trúng kế của Tưởng Giới Thạch. Họ Hồ giận quá kêu toáng lên:
- Tìm Tưởng Giới Thạch đến đây, ta có việc cần nói:
Tưởng Giới Thạch phải dùng thủ đoạn lưu manh đối với Hồ Hán Dân. Tự thấy cũng chẳng vẻ vang gì, nên trong lòng sinh lo ngại. Vì vậy, không dám dàn mặt với Hồ Hán Dân, mà sai Thiệu Nguyên Xung nói lại ý kiến của mình:
- Đề nghị Hồ tiên sinh từ chức viện trưởng viện Lập pháp.
Hồ Hán Dân nghe xong thêm giận:
- Ta có thể vứt bỏ hết: nhưng phải tìm Tưởng Giới Thạch đến đây thì công việc sẽ bình thường hơn không?
Xem ra không thể đừng được, nên vào một buổi tối, phải khoảng nửa đêm, Tưởng Giới Thạch mới cùng hơn mười tên vệ sĩ đến thăm con người yếu đuối, trói gà không chặt như Hồ Hán Dân.
Vừa thấy mặt, Hồ Hán Dân hỏi ngay:
- Gần đây ông ốm hay sao?
Tưởng Giới Thạch không hiểu ý liền đáp:
- Đệ có ốm đâu!
- Thế thì tốt. Ta tưởng ông bị bệnh thần kinh - Hồ Hán Dân nói tiếp - Ta đã xem thư của ông. Nhưng ông căn cứ vào đâu mà nói như vậy? Ông bảo ta câu kết với Nhữ Vi (Hứa Sùng Trí), làm gì có chứng cứ! Nhữ Vi là một đồng chí trong đảng, nhiều năm từng là người bạn cùng chung hoạn nạn. Xét về mặt lịch sử của đảng, ông dám nói ta câu kết với ông ta hay sao? Hơn nữa, từ mười bảy năm nay (Dân quốc), có bao giờ ta ra khỏi Nam Kinh! Nhữ Vi cũng chưa đến Nam Kinh! Vậy ta gặp ông ấy ở đâu nhỉ? Ông có bằng cớ gì chứng tỏ ta thông tin thông điện với Nhữ Vi, thậm chí câu kết làm điều gì đó thì cứ đưa ra làm bằng. Là người trung thực, phải có trách nhiệm với lời nói của mình.
Tưởng Giới Thạch như muốn phân vua:
- Chẳng phải là Hồ tiên sinh cũng tán thành bỏ lệnh bắt Nhữ Vi hay sao?
Hồ Hán Dân không để cho Tưởng Giới Thạch có dịp thanh minh, tỏ ra không một chút khoan nhượng:
- Thì ra các ông còn non nớt quá! Ra lệnh bắt thì Nhữ Vi mất gì? Hủy lệnh bắt thì Nhữ Vi ân huệ gì? Ta cảm thấy cái gọi là bắt hay không bắt của các ông chẳng có gì là quan trọng, nghi nghi ngờ ngờ quanh quẩn làm hỏng việc. Vậy bây giờ mới hỏi, ai là người đề nghị bỏ lệnh bắt Nhữ Vi đấy? Người khác đề xuất, ông chủ trì hội nghị và thông qua, vậy điều đó can dự gì đến ta? Xem ra toàn là trò chơi con trẻ, chẳng đáng để ta phải tán thành hay phản đối. Mà dù ta có tán thành hay phản đối thì đã có gì là quan trọng! Tại sao ông không đi hỏi cái người chủ trương hủy bỏ lệnh bắt Nhữ Vi, có phải vì câu kết với Nhữ Vi nên mới đề nghị như vậy không? - Hồ Hán Dân nói tiếp - Còn việc vận động quân đội xem ra trong con mắt ông đã phân biệt đâu là quân lính của ta đâu là quân lính của ông. Quân lính của ông là loại người thế nào? Sao ông không điện hỏi chúng xem, ta đã nói những gì với chúng? Ta không hay mật đàm. Ta có gì đã nói công khai ra đấy. Nếu Kính Chi (Hà Ứng Khâm), Kinh Phù (Lưu Trĩ) coi như là quân lính của ông, thì những điều ta nói với họ không chỉ là việc công thiên hạ mà còn là những điều "cách ngôn của quân nhân". Nếu ông cho rằng Trần Như (Trần Minh Khu), Bá Nam (Trần Tế Đường) là quân lính của ta, thì ta đã nói những gì với họ đây? Ông có thể cử người đến viện Lập pháp tra xét những điện văn của ta, hỏi han những người xử lý văn kiện cho ta. Bằng không, ông cứ đưa chứng cứ ra.
Tưởng Giới Thạch ghép cho ông mấy tội: câu kết với Hứa Sùng Trí, vận động quân đội, đều lần lượt bị ông phản bác gần hết. Tưởng Giới Thạch đành trầm ngâm một lúc rồi mới nói:
Hồ tiên sinh, còn việc ngài phản đối ước pháp thì sao?
Nghe đến hai chữ "ước pháp", Hồ Hán Dân càng trở nên bực tức hơn:
- "Ước pháp" của ông sao? Ông có thứ ước pháp của ông để ta phản đối chăng? Mở hội nghị Quốc dân là một việc, định ước pháp là một việc khác. Trong tuần kỷ niệm Lập pháp viện ta đã diễn giảng công khai "Tuân theo di huấn của thủ tướng mở hội nghị Quốc dân là có thể coi như đã thực hiện đúng chủ trương của thủ tướng về hội nghị Quốc dân hay sao? Trong bài phát biểu của ta trên "Trung ương nhật báo", có ai dám nói rằng ta đã làm sai chủ trương của thủ tướng? Còn về ước pháp, không phải chỉ một mình ta phản đối. Trĩ Huy (Ngô Trĩ Huy), Quý Đào (Đái Quý Đào), Lượng Trù (Vương Sủng Huệ) và cả ông nữa, có ai tán thành đâu? Hội nghị Quốc dân không thảo luận ước pháp là quyết định của trung ương đảng, tuy ta là người đề xướng, nhưng ông phụ họa, và một khi đã trở thành nghị quyết thì đâu còn là chủ trương của cá nhân ta nữa! Còn nhớ bốn hôm trước, ông đã đồng ý không cần ước pháp cơ mà? Hôm nay ông lại biến đổi rồi chăng? Cuối cùng thì hôm nay đúng hay hôm qua đúng?
Như một trận pháo nã xuống tới tấp, Tưởng Giới Thạch không trả lời kịp, đành phải nói bừa:
- Hồ tiên sinh nói chuyện bao giờ cũng hết sức nghiêm chỉnh, Đệ không nói được nên đành phải tán thành thôi!
Hồ Hán Dân quả là chưa hiểu được Tưởng Giới Thạch. Ông suy nghĩ: "Ngươi thực là kỳ quái. Đã tán thành một việc lớn như vậy, nay lại bảo ta là người phản đối. Không biết tâm địa của ngươi ra sao đây? Dù cho ngươi thao túng được hội nghị Quốc dân, định được ước pháp, thì liệu ước pháp đó có giá trị không?".
Ước pháp ra đời sẽ có giá trị rất lớn đối với Tưởng Giới Thạch. Căn cứ vào ước pháp, họ Tưởng bước lên chiếc ngai vàng tổng thống, nắm trọn đại quyền quốc gia. Điều đó dễ gì Tưởng Giới Thạch dám nói ra miệng? Vì thế, họ Tưởng lại cứ xoáy vào mấy nội dung trong lá thư vu khống:
- Tuy nhiên ý kiến của Hồ tiên sinh về những người công tác trong thường vụ bộ chính trị cũng thái quá, làm họ không yên tâm và có thể có ấn tượng xấu với tiên sinh.
Hồ Hán Dân chỉ thẳng ra rằng:
- Ta nghiêm khắc đối với số người này, chính là ta tôn trọng họ. Để họ làm bừa, sao nhãng chức trách, thì thể thống của một đất nước sẽ ra sao? Chẳng nhẽ ta không nên trách cứ họ hay sao?
- Hồ tiên sinh trách cứ họ, chính là trách cứ đệ đấy!
Tưởng Giới Thạch vừa nói ra câu đó, làm cho Hồ Hán Dân lại phải tiếp tục:
- Trách cứ họ còn chưa dám, đâu dám trách cứ ông? Ta chưa bao giờ trách cứ ông và rất tiếc ông có chịu nghe ai?
Cứ kể những việc hợp tác từ năm 1927, Hồ Hán Dân đã hết lòng vì việc công, xem thường địa vị, quyền lực, giúp Tưởng Giới Thạch thành người nổi tiếng ở Trung Quốc. Nhưng cuối cùng cũng phải khuyến cáo họ Tưởng:
- Hiện nay, ông đang muốn trở thành một Viên Thế Khải? Việc gì phải sợ ta phản đối! Nếu quả ông muốn làm Viên Thế Khải thì người phản đối hơi nhiều đấy. Đâu phải chỉ riêng ta!
Tưởng Giới Thạch thành thực thanh minh:
- Hồ tiên sinh phản đối đệ, nhưng đệ chỉ nghĩ đến cách mạng, hay ho gì phải là một Viên Thế Khải. Có điều, việc gì Hồ tiên sinh phải phản đối Hán Khanh (Tưởng Học Lương)?
- Phản đối Hán Khanh về cái gì?
- Hồ tiên sinh không tán thành để Hán Khanh giữ chức phó tư lệnh hải, lục không quân!
Tưởng Giới Thạch muốn nói tới thời đại chiến Trung Nguyên. Để lôi kéo Trương Học Lương đánh bại đối thủ, họ Tưởng đã giao chức phó tư lệnh hải, lục, không quân sang cho Trương Học Lương. Đó là một thủ pháp họ Tưởng hay dùng - Mùa xuân năm 1929, chiến tranh Tưởng Quế bùng nổ - Để lôi kéo Phùng Ngọc Tường, cô lập Quế hệ, Tưởng Giới Thạch ban cho họ Phùng mấy chiếc ghế bộ trưởng. Về sau mâu thuẫn giữa Tưởng và Phùng nẩy sinh. Phùng Ngọc Tường bắt đầu chống Tưởng. Lại bằng thủ đoạn ấy, Tưởng lôi kéo Diêm Tích Sơn, cho Sơn làm phó tư lệnh hải, lục, không quân trong chính phủ Quốc dân. Hồ Hán Dân hết sức không hài lòng, phản đối cách thức đó. Lúc này nghe Tưởng Giới Thạch nhắc lại chuyện cũ, khiến họ Hồ đã giận càng giận hơn:
- Đúng, ta đã không tán thành. Nhưng đó là công việc hành chính, ta chẳng cần phải can dự. Nhưng dù ta có phản đối thì các ông vẫn cứ làm. Ta không tán thành vì ta nghĩ tới danh dự của một đất nước. Là một chính phủ đừng nên luôn luôn coi mình là Trịnh Trang công, biến người khác thành Công Thúc Đoạn. Trò của ông là, nay lôi kéo Phùng Quốc Chương, mai đến Diêm Bách Xuyên, ngày kia là Hán Khanh, như vậy là không đúng. Không phải ta phản đối Hán Khanh, mà ta tiếc cho Hán Khanh. Nhất là tiếc cho cái danh dự của một đất nước. Ta cho rằng hành chính trị quân, việc gì phải dùng đến những thủ đoạn ti tiện đó. Thứ nữa là giả dụ ta muốn vận động quân lính, chắc cần phải giao hảo với Hán Khanh. Thi hành đường lối chính trị "thân người xa, đánh người gần". Nhưng người thiên hạ đều rõ, ta đâu phải loại người như thế.
Nói một thôi dài, Hồ Hán Dân cảm thấy mệt mỏi. Còn Tưởng Giới Thạch vẫn cứ thanh minh, không một phút nào dừng. Hồ Hán Dân cũng rõ, bị Tưởng khống chế là mất tự do và tranh cãi sẽ chẳng giải quyết được gì. Vì vậy giọng nói có phần bực dọc:
- Năm ngoái ta đã nói sẽ "không làm" gì nữa. Kể từ hôm nay, ta sẽ bỏ qua mọi chuyện.
Tưởng Giới Thạch bày "hồng môn yến" muốn buộc Hồ Hán Dân phải từ chức. Tưởng Giới Thạch từ lâu đã chờ nghe Hồ Hán Dân nói như vậy. Họ Tưởng nói theo luôn:
- Hồ tiên sinh có thể từ chức thì tốt quá.
Nói như vậy là trắng trợn. Tưởng Giới Thạch cũng cảm thấy mình thẳng quá. Vì vậy, mới lấp liếm thêm:.
- Nhưng tiên sinh không thể bỏ qua mọi chuyện. Ngoài thủ tướng ra, Hồ tiên sinh là người được đệ quí trọng nhất. Từ nay về sau, khi có việc gì khó khăn lại đến để xin ý kiến tiên sinh. Đêm nay Hồ tiên sinh có phần hơi bực. Về phần nói năng, đệ còn kém, không địch được với tiên sinh. Tuy vậy, Tưởng Trung Chính này không hề cán tiên sinh. Nếu sai lời, Tưởng Trung Chính đâu còn là Tưởng nữa!
Câu chuyện đã đến lúc phải kết thúc. Nhưng tính cách đặc biệt của Hồ Hán Dân lại bộc lộ, ông nói một thôi nữa:
- Ông sai rồi! Và chỉ ta mới uốn nắn được ông. Ngoài ta, không còn ai khác. Đừng cho rằng ta không dám! Nếu ta sợ chết thì chẳng phải đến nay mới sợ. Trước kia nếu sợ, đã chẳng dám làm cách mạng. Năm nay ta đã trên 50. Vợ già nhưng có thể tự lập được. Con gái lớn đã lấy chồng. Ta chẳng còn vướng bận gì nữa. Ngoài công việc của đảng của dân, còn gì đáng để ta phải bận tâm nữa đâu!
Lời nói của Hồ Hán Dân vừa cứng vừa mềm. Vừa tỏ ra không sợ Tưởng Giới Thạch, vừa muốn vì dân vì nước mà suy tính. Nhưng kết cục đã được định sẵn. Dù Hồ Hán Dân còn nói gì đi nữa thì họ Tưởng cũng mặc. Ông ta buông ra hai tiếng "thôi nghỉ". Rồi cùng lũ vệ sĩ hùng hùng, hổ hổ ra đi.
Hồ Hán Dân như quả bóng xì hơi, mệt mỏi ngã nhào trên ghế...
Kể từ ngày mùng 1 tháng 3, Hồ Hán Dân bị đưa đến giam lỏng ở Thang Sơn. Sử sách gọi là "sự kiện Thang Sơn".
Hồ Hán Dân da mặt có dày, tâm địa có đen tối thì cũng chưa bằng họ Tưởng. Đương nhiên, trong cuộc đấu tranh đó, kết thúc bằng sự thất bại của Hồ Hán Dân.
10. "KHÔNG THÍCH LÀM QUAN"
Nguyên lão Ngô Trĩ Huy của Quốc dân đảng là một tấm gương suốt đời không thích làm quan. Đúng là cả đời ông chưa làm quan thực.Năm 1912, lúc Tôn Trung Sơn làm đại tổng thống lâm thời ở Nam Kinh, định bổ nhiệm Ngô Trĩ Huy là bộ trưởng bộ Giáo dục, Ngô Trĩ Huy đã từ chối.
Khi Tưởng Giới Thạch nắm đại quyền trong Quốc dân đảng, muốn Ngô Trĩ Huy ra làm quan, ông ta cũng cự tuyệt. Nhưng Ngô Trĩ Huy càng không muốn làm quan thì Tưởng Giới Thạch lại càng muốn ông ta làm quan. Vì vậy, sau năm 1927, họ Ngô đảm nhiệm qua các chức: Chủ nhiệm Tổng cục chính trị quân cách mạng, ủy viên đảng bộ Quốc phòng trung ương, bình nghị viên trung ương đảng, chủ nhiệm văn phòng phủ tổng thống, ủy viên giám sát trung ương Quốc dân đảng. Tuy làm quan nhưng chưa đến phòng làm việc bao giờ. Làm chủ nhiệm tổng cục chính trị quân cách mạng Quốc dân thì chưa kịp nhận chức. Cứ ngồi nhà mà nhận lương chức ủy viên giám sát. Lúc Giám sát viện có công văn gấp thì Vu Hữu Nhiệm cho trưởng ban thư ký Địch Ưng đem đi. Ngay bản trích yếu nội dung, Ngô Trĩ Huy cũng chẳng xem, cứ ký bừa, làm mọi người phát buồn cười.
Ngô Trĩ Huy làm việc hết sức cổ quái, trở thành một con người kỳ quặc nổi tiếng trong thời Dân Quốc. Mỗi khi vắng mặt, mọi người thường gọi ông ta là "Ngô điên".
Ngô Trĩ Huy điên điên dại dại. Nhưng lại được họ Tưởng tôn kính ban cho chức cao lộc hậu - Vì sao lại thế? Vì Ngô Trĩ Huy là người hiểu được người khác. Vào những lúc then chốt nhất, Ngô Trĩ Huy thường đứng về phía họ Tưởng, nói đỡ cho họ Tưởng. Họ Ngô là nguyên lão của Quốc dân đảng, nên lời nói của ông ta có ảnh hưởng lớn, có thể làm "đẹp mặt" cho họ Tưởng. Một lúc nào đó, có thể đem ông ta ra mà trưng bầy. Họ Ngô từng nói với người trong họ là Ngô Khánh Dư rằng:
- Đại hội họp, họ mời mình lên đoàn chủ tịch với cái gọi là "nguyên lão", Khi chụp hình mình đứng ở hàng đầu chẳng khác gì tượng đất "Đại A Phúc" ở Huệ Sơn, Vô Tích, thường được đặt ở chỗ cửa sổ trong nhà bếp.
Rõ ràng là Ngô Trĩ Huy có vai trò của mình:
Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch mở cuộc chính biến cách mạng, tàn sát những người cộng sản. Họ Ngô kiên quyết ủng hộ việc "thanh đảng" của Tưởng. Trong hội nghị âm mưu chống Cộng, giọng ông ta gay gắt hơn bất kỳ ai.
Sau khi chính phủ Quốc dân dời đô về Vũ Hán, họ Tưởng muốn lập một trung ương khác ở Nam Xương, hai bên kình địch với nhau. Lúc bấy giờ, Uông Tinh Vệ vừa từ châu Âu trở về Thượng Hải. Trong bữa tiệc hoan nghênh Uông Tinh Vệ, Ngô Trĩ Huy hết lời khuyên Uông đứng về phía họ Tưởng, lãnh đạo chống Cộng, chống lại chính phủ Vũ Hán. Uông Tinh Vệ trước sau vẫn muốn bắt cá hai tay. Ngô Trĩ Huy lo sợ quá mà quên cả thân phận là một nguyên lão, trước mặt văn võ bá quan trong đại sảnh, ông ta "quỳ mọp" dưới chân Uông Tinh Vệ, tay kéo áo họ Uông, tuôn ra những lời cầu xin trong nước mắt, mong muốn Uông và Tưởng hợp tác, cộng sự.
Sau đó, Uông Tinh Vệ vẫn cứ đi Vũ Hán. Ngô Trĩ Huy biết chuyện, liền mắng Uông Tinh Vệ: "Nhận giặc làm cha. Thật quá nhục nhã!".
Sau sự biến "18 tháng 9 năm 193111, học sinh đại học Đông Bắc cùng học sinh cả nước lập đội tình nguyện kéo nhau về Nam Kinh, yêu cầu chính phủ ra quân tuyên chiến với Nhật, thu hồi đất đai bị chiếm. Quần chúng phẫn nộ vô cùng. Tưởng Giới Thạch buộc phải tiếp kiến đoàn học sinh tình nguyện đến Kinh.
Ngô Trĩ Huy phẫn nộ, đập bàn quát mắng học sinh:
- Không lo mà học hành, tình với chẳng nguyện! - Ông ta đọc truyền đơn của học sinh rồi mắng tiếp - Vứt mẹ nó đi! Chúng định làm loạn chắc? Có lý nào lại như thế!
Ngô Trĩ Huy cam tâm làm "cái loa" cho Tưởng Giới Thạch.
Năm 1929, chiến tranh Tưởng - Quế sắp bắt đầu. Để có liên minh Việt Quế, họ Tưởng lắm mưu nhiều kế muốn đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của đảng khai mạc ở Nam Kinh, dụ Lý Tế Thâm Quảng Đông về Nam Kinh để làm suy yếu thế lực của Quảng Đông. Bốn người là Ngô Trĩ Huy, Sái Nguyên Bối, Lý Thạch Tăng, Trương Tĩnh Giang có vai trò là những sứ giả dụ dỗ.
Nhân sĩ Lưỡng Quảng ngại rằng Lý Tế Thâm đến Nam Kinh sẽ mất tự do. Ngô Trĩ Huy nói:
- Trước khi đến Hồ, ta cùng Tưởng tiên sinh đã bàn về vấn đề an toàn của Nhiệm Triều (Tự của Lý Tế Thâm) sau khi vào Kinh. Tưởng tiên sinh lấy tư cách cá nhân đảm bảo an toàn, tự do cho Nhiệm Triều - Nhưng nếu Nhiệm Triều không đến Nam Kinh thì lập tức trung ương sẽ đưa quân tấn công Vũ Hán!
Lý Tông Nhân nói:
- Nếu trung ương thành thực muốn giải quyết hòa bình, thì việc đàm phán ở Thượng Hải hay ở Nam Kinh có gì khác nhau? Khi cần thiết, Tưởng tiên sinh cũng có thể đến Hồ kia mà! Còn như Tưởng tiên sinh lấy tư cách ra đảm bảo thì tư cách lấy đâu ra mà lắm thế? Vì sao các ngươi lại cứ phải dụ cho Nhiệm Triều vào bẫy nhỉ?
Ngô Trĩ Huy liền thề thốt rằng: nếu họ Tưởng không nghĩ đến nhân cách, nuốt lời thì chính ta sẽ đập đầu vào tường mà chết trước mặt Tưởng Giới Thạch.
Qua những ý kiến lúc mềm lúc cứng của Ngô Trĩ Huy, cuối cùng thì Lý Tế Thâm đã đến Nam Kinh. Vừa đến Nam Kinh Lý Tế Thâm đã mất luôn tự do, bị giam lỏng ở Thang Sơn. Tiếp đó, Tưởng Giới Thạch cử các tướng lĩnh người Việt là Trần Minh Khu, Trần Tế Đường đến Việt hoạt động, thuyết phục tỉnh Việt12 phục tùng trung ương. Với lý do để tránh đổ máu, Tưởng đã cô lập được Quế hệ mới.
Để tỏ ra mình chẳng dính dáng gì, Ngô Trĩ Huy dọn đến Thang Sơn ở cùng Lý Tế Thâm. Có điều ông ta không tự sát.
Mới hay, "Ngô điên" mà mọi người nhìn thấy chỉ là cái bề ngoài. Ngô Trĩ Huy chẳng điên chút nào! Ông ta nắm rất chắc tình hình chính trị. Sự điên loạn bên ngoài chỉ là quyền thuật để làm quan. Chính nhờ có quyền thuật đó mà ông ta có nhiều chức quan.
Đối với hành động của mình trong chốn quan trường, Ngô Trĩ Huy từng giải thích:
Ta chỉ như một bà già lạc vào một vườn hoa xinh đẹp. Quan trường chẳng khác gì hí trường. Ở đấy có một đôi câu đối: "Bi quan li hợp, ngày mở màn cũng là ngày đóng cửa. Già trẻ gái trai, người xem trò cũng là người diễn trò". Chỗ khác nhau giữa quan trường và hí trường: mộtbên là dao giả súng giả, một bên là dao thật súng thật. Chức hiệu trưởng đại học của Sái Nguyên Bồi bị bãi, Hồ Hán Dân, Lý Tế Thâm bị giam giữ, suýt mất mạng, đấy chẳng phải là dao thật, súng thật hay sao? Hoàng Phố hệ, CC hệ, chính học hệ, phái thân Nhật, phái thân Anh Mỹ, thiên hạ nhà Tưởng, đảng nhà Trần, họ đấu đá nhau, lúc công khai lúc ngấm ngầm, nhưng liệu có anh nào thắng được bà già này không? Muốn lấn mà chẳng lấn nổi! Chủ tịch quốc phủ Lâm Sâm qua đời, Tưởng Giới Thạch thương lượng muốn mình kế nhiệm chức chủ tịch, mình không dám nhận, chỉ nói với Tưởng:
- Huynh không thích hợp với chức chủ tịch.
Tưởng lại hỏi:
- Vì sao lại thế?
Mình trả lời:
- Huynh thường không chế ngự được tình cảm của mình. Làm chủ tịch quốc phủ thường phải tiếp kiến các sử giả ngoại giao. Nhìn thấy đại sứ, công sứ các nước, người nào người ấy ăn mặc lòe loẹt như lũ hề trên sân khấu, chắc huynh không nhịn được cười, chẳng hóa mất cả quốc thể!
Nghe xong Tưởng tiên sinh cũng cười, lại hỏi:
- Đành là huynh không thích, vậy huynh xem ai đảm nhiệm thì thích hợp nhất?
Mình nghĩ, Vũ Hữu Nhiệm và Cư Chính đều có thể làm được và họ cũng thích nữa. Tưởng Giới Thạch không tìm họ, lại cố tìm một người không thích hợp như mình. Rõ ràng là Tưởng tiên sinh muốn làm vậy. Thế là mình nói:
- Trong lúc kháng chiến như thế này, nên tập trungquyền lực đảng, chính, quân vào tay một lãnh tụ thôi. Như vậy quyền lực mới tập trung. Theo huynh Tưởng tiên sinh kiêm nhiệm luôn là hợp nhất.
Sau này trong hội nghị ban thường vụ trung ương đảng mình đề xuất Tưởng tiên sinh nên kiêm nhiệm chức chủ tịch. Ai cũng bảo mình là thanh cao, quân tử. Cũng có người bảo mình là hay bỡn cợt, có lẽ chẳng đúng. Mình là kẻ hay "bỡn cợt" chăng!?
Ngô Trĩ Huy chẳng lạ gì cảnh đấu tranh lúc công khai lúc ngấm ngầm trong chốn quan trường. Nhiều lúc thân rơi vào cảnh đó mà bề ngoài vẫn phải vui. Để tránh dao thật súng thật, nhiều lúc phải giả điên giả dại, tuy trong lòng vẫn rõ mười mươi. Trong những khâu then chốt phải như "bỡn cợt". Không thích làm quan chỉ là giả. Cái chính là phải giữ được mình.
Dấn thân vào vòng xoáy quyền lực chính trị, khó tránh khỏi đường dao thẳng, mũi tên ngang! Làm sao mới tránh được nạn đây?
Cái gương "mình không thích làm quan" là phương pháp thông minh nhất.
"Ta không thích làm quan" không chỉ được nói ra miệng, mà hành động phải làm như thật. Có thế cấp trên mới yên tâm về mình. Mình không có dã tâm, chẳng có mối uy hiếp nào đối với họ. Những người cùng cấp hoặc cấp dưới không thấy bạn là đối thủ cạnh tranh của họ. Bạn có tư cách, có tiếng tăm, họ cần sự giúp đỡ của bạn, chắc bạn rõ điều đó. Chỉ cần khi có thời cơ, tuy bạn cứ nói mình không thích làm quan, thì họ vẫn cứ đem quan đến cho bạn. Tất nhiên, bạn phải tỏ ra mình hoàn toàn không thích làm quan, che giấu bằng được điều đó. Nếu không, chẳng thể qua nổi mắt những đối thủ giảo hoạt sẵn có hiềm khích với mình.
Tự biết mình, nắm chắc thời cơ thì dù có không thích làm quan cũng chẳng được. Cái gì đến là phải đến.
11. ĐỆ KHÔNG LÀM THÌ KHÔNG PHẢI LÀ GIỐNG NGƯỜI!
Đầu năm 1932, sau lần nói chuyện thoải mái giữa Uông Tinh Vệ và Tưởng Giới Thạch, hai người tay nắm tay cùng bước lên vũ đài chính trị. Uông Tinh Vệ là Hành chính viện trưởng. Còn Tưởng Giới Thạch Uỷ viên trưởng hội đồng quân sự. Từ đó, Quốc dân đảng hình thành cục diện "Tưởng chủ quân, Uông chủ chính".Trên danh nghĩa là Tưởng, Uông hợp tác. Nhưng tình hình thực tế lại như Trình Tư Viễn tiên sinh nói:
Tưởng là tổng tư lệnh. Trung tâm quyền lực ở bộ tổng tư lệnh. Tưởng là chủ tịch quốc phủ thì trung tâm quyến lực ở chính phủ Quốc dân. Hiện nay Tưởng là Uỷ viên trưởng thì trung tâm quyền lực lại chuyển về đó. Sau này chỗ Tưởng sẽ biến thành một nội các lớn nhất, là cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng và chính phủ. Trung Chính là người quyền uy tối thượng. Trong tình hình đó, Uông trở thành công cụ giúp việc đắc lực cho Tưởng.
Hợp tác được 10 tháng, thì Uông Tinh Vệ gửi đơn từ chức lên trung ương Quốc dân đảng, mượn cớ phải sang Đức trị bệnh "đái đường tái phát".
Trung ương Quốc dân đảng đã ra sức lưu lại, thăm hỏi, nhưng họ Uông vẫn kiên quyết từ chức. Trung ương đảng có quyết định để Uông nghỉ ba tháng ra nước ngoài chữa bệnh.
Tháng 10 năm 1932, Uông Tinh Vệ sang Đức chữa bệnh và điều dưỡng. Tống Tử Văn là phó viện trưởng lên thay.
Cuối năm đó, tình hình có nhiều biến động, mâu thuẫn chồng chất, Tưởng Giới Thạch lại muốn lôi Uông trở lại. Đã mấy lần, lấy danh nghĩa cá nhân, danh nghĩa chính phủ Quốc dân điện giục Uông Tinh Vệ "trở về".
Những ngày xa rời quyền lực là những ngày chẳng vui vẻ gì, nên khi được tin họ Tưởng mời về, họ Uông đã lập tức lên đường vào ngày 11 tháng 1 năm 1933. Từ Đức qua Giơnevơ rồi nước Pháp, ngày 14 tháng 3 Uông Tinh Vệ cùng những người đi theo lên chuyến tàu của Mỹ về Hương Cảng. Ngày 17 về đến Thượng Hải.
Đương nhiên, Uông Tinh Vệ đã được Trung ương Quốc dân đảng, nhân sĩ các cấp trong cả nước nhiệt liệt hoan nghênh.
Sau khi họ Uông ra nước ngoài, Tống Tử Văn tạm thời thay mặt, chiếc ghế "viện trưởng" vẫn còn bỏ trống. Vì thế, Uông Tinh Vệ lấy làm do dự. Ngồi vào chiếc ghế đó thì người thao túng quyền lực lại vẫn là Tưởng Giới Thạch. Mà không bao giờ nên nhường quyền lực cho người khác! Không ngồi chăng? Lại thấy tiếc. Vậy ngồi hay không ngồi đây!?
Uông Tinh Vệ nhanh chóng triệu tập lũ thân tín Trần Công Bác, Cố Mạnh Dư bàn xem có nên phục chức hay không!
Uông Tinh Vệ nói trước:
- Mọi người đều rõ, năm qua ta ra nước ngoài vì hai lý do. Một là ta phản đối "chủ nghĩa bất đề kháng" của Trương Học Lương khi quân Nhật bắt đầu xâm lược miền Đông Bắc. Ta là viện trưởng viện Hành chính mà không quản nổi con người đó, để đến nỗi một vùng đất đai rộng lớn của Đông Bắc phải nằm dưới gót sắt của quân Nhật. Thật là đáng trách. Hai là, ta không hài lòng với hành vi chuyên quyền của họ Tưởng. Ngày nay, Sơn Hải Quan đã mất. Đất nước lâm nguy ta không thể ngồi nhìn, vì vậy mới trở về. Tưởng Giới Thạch hy vọng ta sẽ nhận lại chức viện trưởng viện Hành chính. Nhưng lúc này quân Nhật đã tới gần. Sức mạnh chủ yếu của Trung ương mải tập trung tiễu Cộng. Về mặt ngoại giao, ít nhiều phải có sự thỏa hiệp với quân Nhật. Hành chính viện lại quản lý về ngoại giao. Nhất định vì thế mà mọi người sẽ chỉ trích chúng ta. Công việc hết sức nặng nề. Không biết có nên phục chức viện trưởng không? Cảm thấy không làm vẫn tốt hơn. Không biết ý các ngươi như thế nào?
Cố Mạnh Dư là người đầu tiên phụ họa:
- Đúng! Đệ cũng cảm thấy Uông tiên sinh không làm vẫn tốt hơn! Khỏi phải mất mặt. Tránh được sự chỉ trích của mọi người.
Tham gia thảo luận còn có Uông phu nhân Trần Bích Quân. Bà cũng lên tiếng:
- Thiếp cũng phản đối việc Uông tiên sinh phục chức. Tưởng Giới Thạch tưởng bởi Ông ta mời Uông tiên sinh trở về, trao quyền lực ở viện Hành chính cho Uông, còn mình chỉ phụ trách việc quân, tức là phụ trách việc tiễu Cộng, còn Uông phụ trách về ngoại giao. Một công việc thật nguy hiểm, không nên làm.
Duy có Trần Công Bác vẫn trầm tư.
- Công Bác, ý kiến của ngươi như thế nào?
- Chẳng chờ được, Uông Tinh Vệ lên tiếng hỏi viên tướng yêu của mình.
Trần Công Bác ngẩng đầu nhìn mọi người rồi mới cười nói:
Lý do của Uông tiên sinh rất đầy đủ. Ý kiến Uông phu nhân và Mạnh Dư tiên sinh cũng khá hay. Nhưng theo đệ, đều không thực tế. Chúng ta nghĩ xem: Uông tiên sinh ra nước ngoài đã mấy tháng, nhưng ở viện vẫn không thay người. Rõ ràng Tưởng Giới Thạch không ưng người khác làm. Lý do như thế nào, khỏi cần phải phân tích. Như vây, Uông tiên sinh ra nước ngoài, viện Hành chính không thay người, thì làm gì có chuyện thay người khác khi Uông tiên sinh đã về? Hơn nữa, Sơn Hải Quan đã thất thủ, chẳng phải Uông tiên sinh muốn trở về để cùng nhau cứu nước hay sao? Cứu nước thì phải có chức trách. Nếu không có chức trách thì biết giải thích với bên ngoài như thế nào? Hiển nhiên, ai làm Hành chính viện mà chẳng đen đủi... Nhưng không thể làm là một chuyện. Còn không thể không làm lại là chuyện khác. Ý kiến của đệ là như vậy!
Uông Tinh Vệ khe khẽ gật đầu. Còn Trần Bích Quân tỏ vẻ rất không hài lòng:
- Nếu thích làm thì ngươi đi mà làm lấy!
Thường ngày thì Trần Công Bác không thích cái tính của Trần Bích Quân, hay can dự vào công việc của Uông Tinh Vệ. Họ Uông chẳng có thất bại nếu không có Trần Bích Quân. Nghe Trần Bích Quân nói, Trần Công Bác càng thêm bực, nên đập lại luôn:
- Nếu Uông tiên sinh đề xuất với Nam Kinh để đệ được làm viện trưởng viện Hành chính thì đệ làm ngay. Nếu không làm thì không phải là giống người!
- Phu nhân đừng làm ầm lên nữa! - Uông Tinh Vệ ngăn Trần Bích Quân đang chực gây sự với Công Bác - Lời Công Bác không phải là không có lý, đáng được xem xét!
Sau buổi trò chuyện hôm đó, Uông Tinh Vệ trở lại Nam Kinh, vào làm việc ở viện Hành chính. Sau này, mỗi lần gặp Trần Bích Quân, Công Bác thường nói vui:
- Phu nhân liều mạng phản đối kia mà? Sao bây giờ lại yên? Phải chăng làm phu nhân viện trưởng vẫn thích hơn?
Trần Bích Quân cúi đầu, cảm thấy khó nói.
Thì ra, những biểu hiện của Uông Tinh Vệ và Trần Bích Quân hôm đó đều đã được chuẩn bị. Uông Tinh Vệ từng đã tiếng to tiếng nhỏ với lũ tâm phúc về sự chuyên quyền của họ Tưởng rồi mới ra nước ngoài. Bây gờ về nước vẫn phải dưới quyền người khác thì biết nói thế nào đây? Chỉ còn cách đưa vấn đề ra "thảo luận, bàn bạc". Trần Công Bác quả thông minh, từ lâu đã biết ý đồ của Uông phu nhân, nên đã ra sức tác thành. Lúc Uông là viện trưởng viện Hành chính thì Trần Công Bác cũng được nhờ vả rất nhiều.
Trong chốn quan trường, ai cũng kêu làm quan là khó, ngại làm quan. Nhưng rất nhiều người không vì "làm quan khó" mà không làm. Ngược lại, họ còn hận vì không được làm quan ngày một to hơn.
Bởi vậy, "làm quan là khó, ngại làm quan" chỉ là lời nói dối của kẻ thích làm quan. Còn "đệ không làm không phải là giống người" đó mới là lòng dạ chân thành của người làm quan.
Trần Công Bác tuy có dày dạn nhưng lại rất chân thành.
12. LÀM THEO Ý CHỈ CỦA LÃNH TỤ, THỂ NGHIỆM NỖI KHỔ TÂM CỦA LÃNH TỤ
Trong chốn quan trường, ít có ai "cam tâm ở dưới người khác". Nhưng trong cơ cấu, trong mỗi một bộ phận đều chỉ có một "người cầm đầu". Tuyệt đại bộ phận người khác chỉ là những nhân vật bé nhỏ. Vì vậy, dù cho không cam tâm ở dưới người khác, thì cũng chẳng hơn được ai, hoặc nói là "tạm thời" chịu ở dưới người khác.Tạm thời ở dưới người khác, nhưng lại bảo: "đại trượng phu phải biết co biết duỗi". Cũng có người nói: "phải biết theo chân người này người nọ". Loại trên là loại "được thì làm vua thua thì làm giặc". Loại dưới tỏ ra mình "không có dã tâm", quyết một lòng dấn bước cùng cấp trên.
Đái Lạp trong chốn quan trường thời Dân quốc là một điển hình của lớp người tự nguyện làm "nhân vật nhỏ bé".
Đái Lạp tên là Đái Xuân Phong, tự Tử Bội. Sinh ra ở làng Tiên Hà, huyện Giang Sơn, tỉnh Triết Giang vào năm 1896. Năm 1925 vào trường Hoàng Phố đổi tên là Đái Lạp. Đái Lạp tin vào bói toán. Để có được quan cao, lộc hậu, Đái Lạp tìm thầy bói mấy quẻ. Thầy bảo, mệnh khuyết thủy. Vì vậy, phải lấy tự là "Vũ Nông".
Đái Lạp theo gót họ Tưởng hơn hai mươi năm. Theo nghề đặc vụ. Được coi là "mũi dao lợi hại bên cạnh Tưởng Giới Thạch".
Quan hệ mật thiết giữa Đái Lạp và Tưởng Giới Thạch bắt đầu từ năm 1927 - Tháng 6 năm đó, Đái Lạp đang theo hệ kỵ binh ở trường Hoàng Phố. Vì vướng vào chuyện tham ô công khoản ở nhà ăn, làm cho lũ bè bạn phẫn nộ, bị đuổi khỏi trường. Đái Lạp rời Quảng Châu về đến Thượng Hải. Đái Lạp ở nhờ trong nhà một người anh họ làm nghề buôn bán nhỏ là Trương Quan. Đêm đêm ngủ dưới đất. Thường bị người chị dâu khinh rẻ.
Hôm 13 tháng 8, Tưởng Giới Thạch từ bỏ chức vụ tổng tư lệnh quân cách mạng Quốc dân, về quê, đường qua Thượng Hải. Đái Lạp được tin, cho đây là thời cơ ngàn năm có một. Hàng ngày, Đái Lạp đến chỗ ở của Tưởng Giới Thạch làm "Cảnh vệ". Còn nói với họ Tưởng:
- Tiểu nhân là học trò của "hiệu trưởng", xin đến để "bảo vệ" hiệu trưởng. Người ta thường nói, lúc hoạn nạn mới hiểu được lòng nhau.
Là người bị buộc phải từ chức, Tưởng Giới Thạch cảm động vô cùng. Đái Lạp đã để lại một ấn tượng thật sâu đậm.
Mùng 1 tháng giêng năm 1928, Tưởng Giới Thạch đăng đàn trở lại. Sau khi khôi phục chức tổng tư lệnh, Đái Lạp là thị vệ của họ Tưởng. Đái Lạp thu thập nhiều tin tình báo có giá trị cho Tưởng. Họ Đái được đánh giá cao. Họ Tưởng triệu kiến Đái, mỗi tháng phát cho 3 ngàn đồng sinh hoạt phí. Quy định từ đó, Mao Khánh Tường, bí thư cơ yếu sẽ đại diện chuyển tin tình báo.
Tháng 12 năm 1931, Tưởng Giới Thạch lại từ chức về quê Khê Khẩu, Phụng Hóa. Đái Lạp bí mật tổ chức tổ liên lạc đặt tại số 53 Kê Thương Nga, Nam Kinh, tiếp tục cung cấp tin tức tình báo cho họ Tưởng.
Năm 1932, sau khi Tưởng Giới Thạch trở lại Nam Kinh, liền giao nhiệm vụ cho Đái Lạp: tổ chức "cơ quan đặc vụ Phục hưng xã của dân tộc Trung Hoa", nắm vững tình báo và cử thêm sáu người nữa cho Đái Lạp. Không ngờ Đái Lạp lại nói:
- Báo cáo hiệu trưởng, học trò không thể làm được.
Tưởng Giới Thạch lấy làm kỳ lạ và hỏi:
- Vì sao?
Đái Lạp đứng nghiêm nói:
- Báo cáo hiệu trưởng, bản thân công tác tình báo đã khó. Phần lớn trong số sáu người mà hiệu trưởng vừa nói là các bậc đàn anh, học trò sợ phụ trách không nổi.
Tưởng Giới Thạch cho rằng chỉ có Đái Lạp là thích hợp với công việc này, nên cố động viên:
- Khỏi lo. Mọi chuyện đã có ta. Vấn đề là ngươi có quyết tâm hay không? Có quyết tâm là làm được ngay!
Đái Lạp thấy không tiện từ chối nên trả lời:
- Báo cáo hiệu trưởng, đứng về phía nhà trường, ngài là hiệu trưởng, tiểu nhân là học trò. Đứng về phía cách mạng, một bên là lãnh tụ, một bên là thuộc hạ. Đã vậy, học trò hoàn toàn chấp hành mệnh lệnh. Xin làm hết khả năng của mình!
“Quân nhân lấy việc phục tùng mệnh lệnh là thiên chức”, một câu nói cửa miệng của họ Tưởng. Đái Lạp quả biết làm cho người khác hài lòng.
Đầu tháng 3, Phục hưng xã của dân tộc Trung Hoa chính thức được thành lập. Tưởng Giới Thạch là giám đốc. Dưới có các cán sự trung ương ủy viên hội, gồm 12 người chính thức, 3 người dự khuyết. Đái Lạp là một trong số cán sự đó.
Ngày mùng 1 tháng 4, Phục hưng xã thành lập cơ quan đặc vụ. Đái Lạp là trưởng ban. Từ đó, Đái Lạp bắt đầu thành lập các tổ chức đặc vụ một cách chính thức, và nhanh chóng phát triển.
Năm 1938, Tưởng Giới Thạch tăng cường hoạt động của tổ chức đặc vụ bằng cách sáp nhập tổ chức đặc vụ hệ CC của Trần Quả Phu, Trần Lập Phu với Phục hưng xã thành "cục thống kê điều tra của hội đồng quân sự". Hệ CC là ban 1 của cục, hệ Phục hưng là ban 2, Đái Lạp là trưởng ban. Về sau hai hệ lại tách ra. Ban 2 được mở rộng và đổi thành "cục thống kê điều tra hội đồng quân sự", gọi tắt là "Quân thống".
Chọn cục trưởng cho cục Quân thống, Tưởng Giới Thạch nghĩ ngay đến Đái Lạp. Nhưng họ Đái công trạng chưa nhiều, sợ khi đề bạt thuộc hạ không phục. Vì thế, mới chọn chủ nhiệm ban 2 Hạ Diệu Tổ làm cục trưởng. Chức phó dành cho Đái Lạp. Họ Đái phụ trách công tác thực tế.
Từ đó, Đái Lạp tận trung, tận sức phục vụ họ Tưởng. Bằng nỗ lực của Đái Lạp, Quân thống nhanh chóng để mắt tới mọi lĩnh vực: tài chính, kinh tế nội chính, quân sự, trị an, giao thông, mọi lĩnh vực thuộc chính phủ Quốc dân đảng, trở thành tai mắt tốt nhất của Tưởng; giống như loài ưng, khuyển với đầy đủ sức mạnh giúp Tưởng bài xích, tiêu diệt thế lực các phe cánh khác.
Quân thống đặc vụ nhòm ngó khắp nơi, không từ một lĩnh vực nào. Điều đó khiến cho nhân sĩ các giới trong cả nước, trong chính phủ Quốc dân đảng lấy làm bất mãn. Đái Lạp biết quá rõ, nên phân vua:
Nói chung, những người phản đối đảng không hài lòng với chúng ta. Họ nói Trung Quốc đi theo đường lối chính trị của đặc vụ, đi theo con đường độc tài. Nhưng chúng ta nhìn xem, nước Anh không độc tài, nhưng có đặc vụ không? Mỹ là nước dân chủ, có đặc vụ không? Hải, lục, không quân của họ đâu đâu cũng có đặc vụ. Tổng thống có đặc vụ của tổng thống. Đấy là một hiện tượng tất nhiên trong thời chiến mà!
Trung Quốc là một dân tộc bị áp bức, liệu có cần phải tự vệ không? Nếu chúng ta không giành được độc lập tự do, thì có tư cách gì nói đến thế giới đại đồng với mọi người? Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của lãnh tụ, chúng ta bắt tay làm cách mạng cứu nước thì có gì phải sợ? Chúng ta, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất!
Công tác đặc vụ các nước trên thế giới, quy kết lại, không ngoài hai mục đích: một là phải củng cố nền quốc phòng. Một nữa là phải củng cố chính quyền đất nước. Nói về đối ngoại và đối nội là như vậy. Trung Quốc cũng giống như thế thôi! Công tác này giúp chúng ta chỉnh đốn lại một đất nước đã bị tàn phá. Giành lấy thắng lợi từ tay những kẻ xâm lược chúng ta (chỉ Nhật Bản). Công tác đặcvụ của Trung Quốc là sứ mạng lịch sử thời đại đặt ra cho chúng ta. Cũng có thể nói, đó là sách lược "yên trong đuổi ngoài" mà lãnh tụ yêu cầu chúng ta phải làm. Mà muốn đuổi được giặc ngoài thì phải giữ yên trong nước trước.
Có người cho rằng "công tác đặc vụ không cần biết đến thủ đoạn! Âm mưu càng nhiều càng tốt". Không! Trước sau, chúng ta phải nắm chắc hai câu này: "Kẻ làm nhiều điều bất nghĩa tất phải chết". "Sống trong thiên hạ phần lớn là những người có nhân có đức". Vì vậy, khi làm việc chúng ta cần phải: "hiểu lễ nghĩa, biết liêm sỉ, có trách nhiệm và giữ kỷ luật". Người Do Thái là người nhiều tiền nhất trên thế giới, nhưng ngày nay chẳng có chỗ dung thân! Vậy thử hỏi tác dụng của đồng tiền là ở chỗ nào? Lại như cuối thời nhà Thanh, một đại thần là Thịnh Tuyên Hoài là người giàu có. Về sau, người ta lấy chuyện của ông ta làm bối cảnh viết thành bộ tiểu thuyết. "Cửu vĩ ngư" lưu lại tiếng xấu muôn đời!
Công việc của chúng ta tưởng như bao la, bát ngát. Nhưng chỉ có hai câu là qui kết được hết rồi: "Làm theo ý chỉ của lãnh tụ, thể nghiệm nỗi khổ tâm của lãnh tụ". Tất cả những gì của chúng ta, đều phải lấy xuất phát điểm từ hai câu này. Câu trước là tinh thần cách mạng, câu sau là kỹ thuật cách mạng. Nước Nhật hưng thịnh được là nhờ - mỗi công dân đều biết "trung quân ái quốc"...
Đủ thấy tiêu chuẩn hành động của Đái Lạp là theo lệnh của Tưởng. Chỉ cần Tưởng Giới Thạch có "chỉ ý", thì dù đó là trinh sát, thẩm vấn, bắt bớ hay ám sát, đều được coi là "công việc cách mạng, cứu nước". Chỉ nghe theo Tưởng, cũng là tiêu chuẩn khiến Đái Lạp ngày càng được Tưởng sủng ái, thăng quan tiến tước cho.
Cục Quân thống thành lập chưa lâu thì đại hội toàn thể lâm thời của Quốc dân đảng họp ở Trùng Khánh. Đái Lạp được Tưởng Giới Thạch nâng lên thành "ủy viên trung ương". Khi nghe Tưởng Giới Thạch nói đến chuyện đó, Đái Lạp vội vã báo cáo:
- Ngay đến danh hiệu đảng viên học trò còn chưa có nói chi đến ủy viên trung ương?
Họ Tưởng cảm thấy kỳ quặc liền hỏi:
- Ngươi là học sinh Hoàng Phố, người của Phục hưng xã, lại gần ta ngần ấy năm mà chưa phải đảng viên là thế nào?
Đái Lạp thật khéo lấy lòng họ Tưởng:
- Trước đây học trò một lòng theo phò hiệu trưởng được cơm no áo ấm là mãn nguyện. Vào đảng hay không học trò đâu có chú ý. Quan cao lộc hậu học trò có màng đâu!
Tưởng Giới Thạch cười vui lắm rồi cầm bút viết một mảnh giấy:
- Tưởng Trung Chính giới thiệu Đái Lạp là đảng viên Quốc dân đảng Trung Quốc.
Đái Lạp tay cầm tờ giấy, lòng đầy cảm kích, nhưng lại từ chối:
- Cám ơn hiệu trưởng bồi dưỡng - Vũ Nông nguyện suốt đời làm một đứa học trò vô danh, không làm ủy viên trung ương - Chức vị cao quí đó xin nhường cho các bậc đàn anh khác. Được hiệu trưởng tin tưởng, học trò đã vinh dự lắm rồi!
Tưởng Giới Thạch hài lòng lắm, nên không nỡ ép...
Sau này, vào năm 1946, Quốc dân đảng khai mạc đại hội khóa VI, Tưởng Giới Thạch lại quyết định chọn Đái Lạp là ủy viên trung ương, có thêm Trịnh Giới Dân, và Đường Tung nữa. Đái Lạp kiên quyết từ chối. Còn cho đặt tiệc mời các ủy viên trung ương khóa trước, các đại biểu lớp trẻ tới dự. Kêu gọi mọi người bỏ phiếu cho Trịnh Giới Dân và Đường Tung.
Tại sao lại phải làm như vậy? Có lần Đái Lạp đã nói với người cùng đơn vị: - Vì sao ta cứ kiên quyết chối từ. Vì đó là sự tranh quyền đoạt lợi, không xứng với người cách mạng. Chúng ta cần biết rằng, con người sống trong vũ trụ, điều có ý nghĩa nhất là có được vinh dự. Vinh dự là phần thưởng thật cao quí! Bằng không, thì chỉ là kẻ vô danh tiểu tốt, vô tri vô giác, có khác chi loài vật?
Thực tình thì phúc đức lắm mới được ở bên Tưởng Giới Thạch, lại nắm cả một hệ thống đặc vụ to lớn, uy quyền trên hết, vì vậy Đái Lạp còn thiết gì cái chức ủy viên trung ương nữa? Thoái thác là cách nhìn sáng suốt nhất, khác với mọi người. Chẳng trách, sau khi đã trúng tuyển rồi, Trịnh Giới Dân mới nói với mọi người:
- Ngón trò của Vũ Nông quả đã làm cho ông già hết sức hài lòng.
Chính vì Đái Lạp và Quân thống được Tưởng Giới Thạch sủng ái nên trong giới quan trường thời đó, nhiều người lấy làm lo ngại. Đương nhiên cũng có người chẳng biết sợ là gì! Việc Trần Nghi giết Trương Siêu là một ví dụ.
Trương Siêu là tâm phúc của Đái Lạp, là phó trạm trưởng trạm Quân thống Phúc Kiến. Chức vụ công khai là tổ trưởng tổ điệp báo trong Bảo an quân Phúc Kiến. Người này dựa vào quyền thế của Đái Lạp, ngầm phát triển lực lượng vũ trang, hòng xưng bá Phúc Kiến. Trương Siêu chẳng coi chủ tịch Phúc Kiến ra gì. Thường xuyên giễu cợt công việc của tỉnh. Khuấy động quần chúng phản đối người Triết (Trần Nghi là người Triết Giang) cai trị người Mân. Thậm chí còn cho rải truyền đơn, dán khẩu hiệu, kể rõ "mười tội lớn" của Trần Nghi. Trong đó có tiết mục nói vợ Trần Nghi Cổ Nguyệt Phương là một mụ đàn bà người Nhật - Trần Nghi câu kết với Nhật Bản, còn nghi là Hán gian. Trương Siêu kêu gọi nhân dân Phúc Kiến đứng lên đuổi Trần Nghi, thực hành cái gọi là "Người Mân cai trị người Mân".
Trần Nghi không còn chịu đựng được nữa. Liền mật lệnh cho cục trưởng cục cảnh vệ tỉnh Lý Tiến Đức kịp bắt Trương Siêu. Để đề phòng Đái Lạp biết tin mà đến cứu, Trần Nghi chơi trò khống chế người trước, không báo Đái Lạp biết, trực tiếp thỉnh thị Tưởng Giới Thạch và được họ Tưởng đồng ý. Lập tức Trần Nghi cho xử quyết ngay!
Đái Lạp đến cứu thì đã muộn. Đái Lạp phẫn nộ vô cùng khi được tin người ta đã giết mất Trương Siêu.
Yếu nhân Quân thống bị giết - Liệu còn mặt mũi nào mà nhìn thấy ai nữa đây? Đái Lạp quyết định báo thù cho Trương Siêu. Đái Lạp cho triệu Mao Nhân Phượng đến để thương lượng đối sách.
Mao Nhân Phượng nói:
- Trần Nghi giết Trương Siêu, mang mối thù không đội trời chung với chúng ta. Nhưng trước mắt chúng ta chưa đủ sức hạ bệ Trần Nghi. Ngay lập tức chỉ có thể ra tay với cái đầu của Lý Tiến Đức một gã cục trưởng cảnh vệ của họ Trần... đổ mọi trách nhiệm hạ sát Trương Siêu lên đầu Lý Tiến Đức. Huynh xem nên thế nào?
Nghe xong ý kiến Mao Nhân Phượng, Đái Lạp giận lắm, đành nói:
- Tạm như thế vậy. Lập tức ta yêu cầu hiệu trưởng điện lệnh Trần Nghi cho chuyên cơ áp giải Lý Tiến Đức về Vũ Hán. Chúng ta phải thẩm vấn nghiêm khắc. Hễ Lý đến Vũ Hán là giam ngay lại.
Sau đó, Đái Lạp đi yết kiến Tưởng Giới Thạch, dâng lên một tờ "báo cáo", kể rằng Trương Siêu trung thực phục vụ Quân thống, bị Lý Tiến Đức giết oan. Khẩn cầu Tưởng cho giải Lý về Vũ Hán xử theo quân pháp.
Tưởng Giới Thạch nhận báo cáo và nhìn thấy Đái Lạp đang kêu khóc sướt mướt. Lại được Tống Mỹ Linh ngồi cạnh hùn vào, lập tức yêu cầu của Đái Lạp được chấp nhận ngay.
Nhưng Trần Nghi đâu phải loại người kém đường bài binh bố trận. Cố nhiên, họ Trần không dám vi phạm mệnh lệnh của Tưởng Giới Thạch. Trước đó, ông đã suy tính đường đi nước bước của họ Đái bên cục Quân thống. Muốn thắng tiếp, trước hết phải đảm bảo an toàn cho Lý Tiến Đức. Trước khi máy bay áp giải họ Lý cất cánh. Trần Nghi gọi điện thoại cho Hà Ứng Khâm và Trương Quần, nhờ họ Hà đưa xe chuyên dùng chở Lý đến chỗ Trương Quần và Trương Quần sẽ cùng Lý đến gặp Tưởng Giới Thạch, trình bày rõ duyên cớ vì sao phải giết Trương Siêu.
Tại sân bay Vũ Hán, Hà Ứng Khâm cho xe riêng đến đón Lý Tiến Đức đi, mặc cho Đái Lạp giương mắt đứng nhìn!
Đái Lạp đang trách phạt lũ bộ hạ kém cỏi, thì có người của họ Tưởng đến tìm. Vừa nhìn thấy Đái Lạp, Tưởng Giới Thạch đã mắng luôn:
- Ngươi vừa đệ đơn, vừa khóc lóc, kêu oan cho Trương Siêu. Trương Siêu oan ức nỗi gì? Bằng chứng chống lại Trần chủ tịch ở Phúc Kiến nhiều như núi. Ngươi thực là ti tiện, vô sỉ!
Nghe Lý Tiến Đức báo cáo, tận mắt nhìn thấy kế hoạch phát triển thế lực vũ trang ở Phúc Kiến cùng những biểu ngữ chống Trần Nghi của Trương Siêu, Tưởng Giới Thạch cảm thấy tên tâm phúc của Đái Lạp quả là "hư đốn", cần phải trừng trị.
Bị Tưởng Giới Thạch mắng nhiếc là chuyện cơm bữa. Nhưng lần này Đái Lạp tỏ ra miễn cưỡng phải nghe. Đái Lạp vẫn quỳ ở đấy và cầu xin họ Tưởng:
- Hiệu trưởng, học trò bất tài nhưng không vô sỉ. Nếu hôm nay học trò được lợi lộc gì mà đến quỳ trước mặt hiệu trưởng thì mới là vô sỉ. Đằng này học trò đến quỳ trước mặt Ủy tọa cầu xin Ủy tọa báo thù cho đồng chí của mình vô cớ bị sát hại. Các đồng chí trong cục Quân thống đã phải chịu nhiều hi sinh không đáng có. Ngày nay lại thêm Trần Nghi tùy tiện bắt người, giết người. Nếu Ủy tọa không phân giải cho điều này thì e từ nay về sau học trò không thể tiếp tục được nữa! Ngay bây giờ xin Ủy tọa cho học trò được từ chức!
Đái Lạp cứ một câu hiệu trưởng, hai câu Ủy tọa, khiến họ Tưởng thấy khoan khoái mà trở nên ôn hòa hơn. Ông ta nói:
- Ngươi định từ chức chăng? Sao lại dễ dàng thế! Ngươi bỏ đi, ta biết lấy ai thay thế? Ta chưa hề có ý định để người khác thay thế nhà ngươi! Thôi đứng dậy. Dậy ngay!
Không ai ngờ, Đái Lạp vẫn cứ quì, hoàn toàn không chịu đứng dậy. Miệng vẫn trần tình tiếp:
- Báo cáo hiệu trưởng, chắc ngài còn nhớ, năm 1935, nhân lễ kỷ niệm 40 năm ngày Đài Loan rơi vào tay quân Nhật, người Nhật thông qua lãnh sự ở Phúc Châu gửi giấy mời đến Trần Nghi. Trần Nghi thỉnh thị Uông Tinh Vệ viện trưởng viện Hành chính lúc bấy giờ. Uông Tinh Vệ cho phép, Trần Nghi với danh nghĩa khảo sát, đại diện cho đoàn ngoại giao địa phương sang Nhật. Trần Nghi cung kính trước tấm hình của Nhật hoàng. Tay bắt mặt mừng với người Nhật, làm mất sĩ diện người Trung Quốc. Như vậy mới là vô sỉ! Ngày nay, Trần Nghi lại sát hại Trương Siêu. Học trò cầu mong hiệu trưởng phân giải. Nếu ngài không bằng lòng, học trò xin quì mãi ở đây vậy!
Tưởng Giới Thạch thật không ngờ Đái Lạp lại chưa chịu, còn nhắc tới những chuyện xa xưa, cũ rích để làm bằng. Buộc họ Tưởng lại phải giải thích thêm: - Chuyện Trần Nghi thật không đơn giản. Trần Nghi là một trong số thủ lĩnh hệ Chính học. Đằng sau còn có Trương Quần ở Vũ Hán, Hùng Thức Huy ở Giang Tây. Thời ở hành doanh tiễu Cộng Nam Xương, họ đã ra sức giúp ta được nhiều vấn đề. Ngươi phải hiểu cho nỗi khổ tâm của ta. Bây giờ ta hạ lệnh cách chức cục trưởng cục Cảnh vệ Phúc Kiến của Lý Tiến Đức, cho giam lại để tiếp tục thẩm tra. Ngươi về và suy nghĩ kỹ. Từ nay không bao giờ đả động tới vấn đề Trương Siêu nữa.
Tưởng Giới Thạch thổ lộ hết tâm sự của mình - Đái Lạp cũng thấy yên tâm ra về. Câu chuyện kết thúc trong yên lặng.
Về đến công quán, Đái Lạp đem giấy bút ra viết: "Làm theo ý chỉ của lãnh tụ, thể nghiệm nỗi khổ tâm của lãnh tụ". Mấy chữ được viết thật to, là tài liệu quí giá để khích lệ lũ bộ hạ, để giáo dục lũ học trò.
Cuộc kháng chiến chống Nhật thắng lợi. Những năm tháng tươi đẹp của Đái Lạp đã lên tới đỉnh điểm.
Năm 1946 là lúc hội nghị chính trị hiệp thương họp ở Trùng Khánh. Các đảng phái dân chủ liên hợp của Trung cộng phản đối nội chiến, kêu gọi hòa bình xây dựng và nhất trí yêu cầu bãi bỏ cơ cấu đặc vụ. Một số nguyên lão của Quốc dân đảng cũng không hài lòng với thái độ hống hách của "Quân thống". Một số yếu nhân trong giới quân sự như Trần Thành cũng cảm thấy Quân thống làm tổn hại "hình tượng của đảng, của đất nước". Các phái hệ ở một số địa phương thì e sợ lũ ưng khuyển này sẽ cắn người. Họ nhao nhao đòi Tưởng Giới Thạch phải bãi bỏ hoặc thu hẹp cơ quan Quân thống lại. Sau khi kháng chiến thành công, nguồn tài chính lớn lao cung cấp cho một cơ cấu Quân thống đông đảo đã khiến họ Tưởng nhiều lúc phải đau đầu. Điều quan trọng hơn là qua kháng chiến ảnh hưởng quốc tế của Tưởng Giới Thạch đã mạnh, có vai trò thống trị tương đối ổn định, nên cũng cảm thấy phải thu nhỏ Quân thống lại là điều tất yếu. Họ Tưởng lệnh cho Mao Nhân Phượng điện gọi Đái Lạp từ Thiên Tân về Trùng Khánh để tìm đối sách.
Đái Lạp nhận điện, tỏ ra bực dọc, vỗ ngực nói với thân tín là Văn Cường rằng:
- Ta gian khổ, vất vả ở ngoài, một lòng vì nước vì hiệu trưởng. Không ngờ có kẻ nhân cơ mà làm loạn, tìm cách hại ta. Dối trá điên đảo đến thế là cùng! Ngươi thảo điện trả lời, ta đang phải giải quyết mấy vụ án quan trọng ở Bình Tân, Ninh Hỗ. Việc nặng nề, không ai thay thế được. Xin gia hạn thêm nửa tháng nữa, ta mới về Du được.
Hai người bàn bạc và quyết định tiếp: Để đối phó với sự công kích từ trong nội bộ đảng Quốc dân, nên dùng phương pháp lùi và tiến, ra nước ngoài khảo sát để lánh nạn.
Trong những trường hợp công khai, Đái Lạp ra sức biện hộ cho mình, cho Quân thống. Ngày mùng 10 tháng 3 năm 1946, nhân ngày kỷ niệm thủ tướng năm đầu ở Hoài Nhân Đường, Bắc Bình, Đái Lạp đã có bài nói công khai:
Đoàn thể chúng ta có x nghìn x vạn người. Khi làm việc, ai nấy phải giữ một nguyên tắc chung: trung với nước, với lãnh tụ, giữ vững ý chí cách mạng, xác định lập trường cách mạng, đạt tới một mục đích chung. Đó chính là cương lĩnh chung. Bỉ nhân thừa lệnh lãnh tụ, gánh vác nhiệm vụ nặng nề trong cuộc kháng chiến chống Nhật, không một phút lơ là. Công tác của cục thống kê điều tra là một khâu quan trọng trong toàn cuộc cách mạng. Gần đây hội nghị toàn thể ban chấp hành trung ương khóa VI kỳ họp thứ 2 khai mạc. Tình hình diễn biến trong hơn mười ngày qua không ngoài dự đoán của bỉ nhân. Xem ranhiều người đã chê bai công tác ở cục thống kê, điều tra. Có người đòi phải đánh đổ chúng ta (gọi là đặc vụ). Bỉ nhân hiểu rõ thế nào là đánh đổ, thế nào là thủ tiêu. Bỉ nhân chỉ sợ các đồng chí của mình không tiến bộ, quan liêu, hủ bại. Nếu thật như vậy thì người ta không đánh mình cũng đổ. Vì thế, lúc nào bỉ nhân cũng nghĩ phải làm sao để xứng với các bậc tiên liệt, làm sao để giữ được truyền thống quang vinh. Bỉ nhân không hề nghĩ người khác đánh đổ mình như thế nào! Bỉ nhân không hề có một chủ trương gì về chính trị. Nhất nhất làm theo chỉ ý của ủy viên trưởng. Có vậy, đất nước mới có lối thoát, cá nhân mới có tiền đồ.
Ngày 17 tháng 3, Đái Lạp ngồi chuyên cơ do hãng hàng không phái đến, bay về Trùng Khánh. Hôm đó thời tiết rất xấu máy bay đã nổ trên bầu trời Nam Kinh. Đái Lạp và mười ba người đi theo đã chết hết trên núi Đái Sơn, trấn Bản Kiều, huyện Giang Ninh tỉnh Giang Tô.
Tưởng Giới Thạch hay tin đau đớn vô cùng. Tay chống gậy, họ Tưởng đến chùa Linh Cốc ở Trung Sơn, Nam Kinh, tìm đất xây phần mộ cho Đái Lạp, có vòng hoa "Bích huyết thiên thu" và đôi câu đối:
Hùng tài quan quân anh sơn hà trừng thanh trượng nhữ tích;
Kỳ họa tòng thiên giáng phong vân biến ảo thống dư tâm13
Ngày 11 tháng 6, chính phủ Quốc dân Nam Kinh công bố lệnh, gọi Đái Lạp là cục trưởng cục điều tra thống kê của hội đồng quân sự, truy tặng quân hàm trung tướng lục quân.
Thế mới biết Tưởng Giới Thạch sủng ái Đái Lạp biết chừng nào! Mấy ai trong số những người quan trọng của Quốc dân đảng được như vậy. Điều đó chứng tỏ Đái Lạp suốt đời "trung với lãnh tụ", nguyện làm "một nhân vật nhỏ" để đạt tới thành công!
Đái Lạp theo nguyên tắc "làm theo ý chỉ của lãnh tụ, thể nghiệm nỗi khổ của lãnh tụ", sau lại biến thành: "Bỉ nhân chỉ là một tên khiêng kiệu". Người nào nghe câu nói đó cũng đều cảm thấy thương xót. Nhưng kiệu thì chắc gì đã phải khiêng! Khiêng kiệu đã có người khác. Chắc gì đã đến lượt anh?
13. TƯỞNG GIỚI THẠCH ĐỘC ÁC VỚI NGƯỜI KHÁC
Tưởng Giới Thạch muốn khống chế được Vân Nam thì phải tính toán tới việc lật đổ hoặc điều "Vân Nam vương" Long Vân đi nơi khác. Đó là thời kỳ Hồng quân tiến hành cuộc trường chinh vào những năm 30. Khi đó, Tưởng Giới Thạch có ý đưa quân trung ương vào Vân Nam nhân lúc Hồng quân trường chinh qua Vân Nam. Nhưng Long Vân kiên quyết xuất quân ngăn Hồng quân và hoàn toàn không muốn quân trung ương vào Vân Nam, nên Tưởng không thực hiện được âm mưu của mình!Từ đó, Tưởng Giới Thạch vẫn nuôi hy vọng gây nội chiến, phản Cộng. Nhưng thời gian và điều kiện chưa cho phép, nên tạm gác lại.
Sau khi cuộc chiến tranh chống Nhật nổ ra, chính phủ Quốc dân dời đô từ Nam Kinh đến Vũ Hán, rồi lại từ Vũ Hán đến Trùng Khánh. Trước kia Vân Nam chỉ chiếm một vị trí thông thường trong chính phủ Quốc dân thì nay là một trong những khu vực cung cấp nhân lực, vật lực, tài lực chủ yếu của chính phủ. Cục diện ngang bằng giữa trung ương và địa phương đã bị phá vỡ. Một bên muốn khống chế, một bên ra sức chống lại. Mâu thuẫn cố hữu giữa Long và Tưởng được dịp phát triển.
Vào thời gian này, Long Vân bị Tưởng Giới Thạch thúc ép rất mạnh. Vì vậy, ngoài việc đưa hai đạo quân ra tiền tuyến chống Nhật, Long Vân còn tìm đường đến thẳng với đảng Cộng sản, thiết lập mối quan hệ bí mật với trung ương, ngấm ngầm hợp tác với đảng Cộng sản. Thái độ chính trị của Long Vân hết sức rõ ràng: ủng hộ các cuộc vận động dân chủ chống Nhật, Côn Minh trở thành "chiến luỹ dân chủ" chống Nhật. Đó là điều bất ngờ đối với họ Tưởng. Mâu thuẫn giữa Long và Tưởng trở nên gay gắt, tránh sao khỏi một cuộc xung đột.
Trước khi kháng chiến thắng lợi, Tưởng Giới Thạch đã bí mật bố trí cách giải quyết Long Vân. Mùa xuân năm 1945, họ Tưởng điện triệu tư lệnh phòng thủ Côn Minh, Đỗ Duật Minh về Trùng Khánh, ngầm chỉ thị phương án cụ thể nhằm giải quyết Long Vân, điều Long Vân đi nhận chức viện trưởng quân sự Tham nghị viện, yêu cầu Đỗ Duật Minh chuẩn bị để có thể giải quyết triệt để Long Vân bằng biện pháp quân sự, khống chế Côn Minh. Một khi có lệnh điều động Long Vân, thì phải giải quyết toàn bộ lực lượng vũ trang của Long Vân bằng quân sự. Tháng 8, Tưởng Giới Thạch lại điện triệu Đỗ Duật Minh về Trùng Khánh chỉ thị: ngoài việc chuẩn bị chu đáo về mặt quân sự, còn phải lưu ý đến thông tin, giao thông, khống chế nghiêm ngặt sân bay, đề phòng Long Vân chạy trốn.
Cuối tháng 9, Tưởng Giới Thạch gửi thư cho Đỗ Duật Minh chỉ thị "phải chuẩn bị tốt máy bay, súng lớn, xe tăng, phòng khi Long Vân kháng lệnh, thì lập tức tập trung hỏa lực oanh kích Ngũ Hoa Sơn (cơ quan ủy ban tỉnh Vân Nam).
Tưởng Giới Thạch dự kiến nếu Long Vân chống lệnh điều động thì phải ngầm chuẩn bị vũ lực để quán triệt chính lệnh của "trung ương".
Ngày mùng 1 tháng 10, không quân phó tư lệnh Vương Thúc Minh bay đi với lệnh cầm tay và lá thư tay của Tưởng Giới Thạch gửi Long Vân. Nội dung lệnh tay: miễn chức chủ nhiệm hành doanh hội đồng quân sự Côn Minh cho Long Vân, miễn chức vụ chủ tịch tỉnh cùng các chức vụ kiêm nhiệm khác. Nay bổ nhiệm Long Vân giữ chức viện trưởng quân sự Tham nghị viện. Trong lá thư tay ghi rõ:
Bắt đầu công cuộc xây dựng, đầu não là quan trọng, nên đặc cách điều huynh về quân sự Tham nghị viện, tham tán quân cơ, góp phần thống nhất. Rất mong huynh tỏ rõ sự mẫu mực, cùng nhau xây dựng đảng và đất nước... giờ nào lên đường xin cho biết tin!
Ngày mùng 3 tháng 10, Đỗ Duật Minh đột ngột công kích. Long Vân kinh hoàng tỉnh giấc, từ Long công quán (đường Uy Viễn Côn Minh) cải trang, chạy đến Ngũ Hoa Sơn, chống trả liều mạng với hai đại đội cảnh vệ còn lại. Đỗ Duật Minh sai người trình lên Long Vân lệnh cầm tay và thư tay của họ Tưởng. Long Vân xem qua nội dung mà bực quá, chửi luôn:
- Lão Tưởng bảo ta chỉ biết ôm quân cho mạnh! Sau khi quân Nhật đầu hàng, hắn đề nghị ta cử Lư Vĩnh Hành (Lư Hán) đi Việt Nam giải giáp quân Nhật. Ta không những để toàn bộ phương diện quân số 1 tiến vào Việt Nam, ngay cả sư 19 của Long Thằng Vũ cũng cho đi luôn! Sau khi ta hết quân, hắn liền bảo Đỗ Quang Đình (Đỗ Duật Minh) đánh lại ta. Ngũ Hoa Sơn là căn cứ địa ở Côn Minh của lão Tưởng mà ta là chủ nhiệm Ngũ Hoa Sơn. Nếu cần chết ta cũng chết ở cương vị này. Bè bạn quốc tế sẽ thấy ai là người ôm quân cho mạnh? Ai là kẻ thất tín, bội nghĩa, muốn thanh toán những người khác cánh?
Nhưng Đỗ Duật Minh đã nhanh chóng giải quyết xong lực lượng vũ trang của Long Vân ở Côn Minh. Quân "cần vương" cũng chẳng có cách gì trở về! Ngày 6 tháng 10, Long Vân buộc phải rời Côn Minh đi Trùng Khánh.
Ngày mùng 7 tháng 10, Tống Tử Văn hẹn Long Vân cùng đi gặp Tưởng Giới Thạch. Thái độ của họ Tưởng hết sức ân cần. Long Vân đắn đo mãi rồi mới lên tiếng chất vấn:
- Được huynh lãnh đạo, đệ phục vụ đã nhiều năm và tự hỏi, đối với huynh, với đất nước, với địa phương, đệ có những sai sót gì? Cải tổ cơ quan địa phương, thay đổi chức vụ, là những việc làm bình thường. Nhưng không giải quyết bằng những biện pháp bình thường, sử dụng thủ đoạn khác thường, thì e có nhiều ảnh hưởng xấu đến người trong nước. Hôm mùng 2 tháng 10, đệ không nhận được một mệnh lệnh nào của chủ tịch. Nhưng bọn Đỗ Duật Minh đã đưa súng máy, xe tăng, hỏa tiễn... những vũ khí tối tân nhất của Mỹ, công kích điên cuồng vào nhân dân Vân Nam đang trong giấc ngủ. Chúng đã nã đạn vào người dân tay không tấc sắt. Đêm mùng 2 tháng 10, nhân dân Vân Nam đang trong giấc mơ hòa bình dân chủ rất đẹp. Suốt tám năm kháng chiến, nhân dân hết lòng với chính phủ: không tiếc mồ hôi xương máu. Bao nhiêu tráng đinh ra đi. Quân Lương không thiếu một hạt, thuế má không thiếu một xu. Kháng chiến thắng lợi, họ tin rằng đã đến lúc được xây dựng đất nước trong cảnh dân chủ và hòa bình. Nhưng chính quân trung ương đã đập tan mơ ước của họ! Chúng cắt dây điện thoại, đưa quân vây kín nơi ở của đệ, muốn nhanh chóng dồn đệ vào chỗ chết. Đường đường là một chủ tịch tỉnh, mười tám năm làm việc (Long Vân thống trị Vân Nam mười tám năm), sai sót lớn không có, thế mà đêm hôm khuya khoắt phải tháo chạy ra khỏi dinh thất, thậm chí nếu chậm trễ thì tránh sao khỏi mất mạng? Như vậy thì quân trung ương chẳng được lợi lộc gì, mất cả lòng tin với nhân dân! Chẳng nhẽ đệ vì yêu dân chủ mà có tội hay sao? Thật oan uổng quá!.
Tưởng Giới Thạch tỏ ra rất khó nghĩ, giải thích rằng:
- Đệ đâu có chỉ thị như vậy! Đỗ Duật Minh thật tệ quá. Phải kỷ luật nặng!
Long Vân trình bày những khúc mắc đâu ra đấy. Tưởng Giới Thạch không trả lời thẳng vào vấn đề. Đổ hết trách nhiệm cho lũ bộ hạ. Cho đến lúc này, Long Vân đành phải nén hận, cố gắng nuốt một thứ quả đắng mà Tưởng vừa ném ra.
Ngày mùng 3 tháng 10 năm 1945, trở thành một ngày khó quên đối với Long Vân. Ông nói với người khác rằng:
- Mình không tranh giành giang sơn, xã tắc với họ Tưởng - Nhiều lắm cũng chỉ là những điểm bất đồng trong chủ trương chính trị. Tưởng Giới Thạch muốn trung ương tập quyền, còn mình chủ trương phân quyền. Họ Tưởng thích độc tài, mình lại muốn dân chủ. Trong thời kỳ kháng chiến, Côn Minh được coi là thành luỹ của nền dân chủ. Nào ngờ lúc kháng chiến thành công, lũ sâu bọ lại đối phó với mình bằng những thủ đoạn lưu manh, ti tiện và vô sỉ, đớp trộm một miếng! Từ cổ chí kim, bất kỳ ở đâu, có ai dùng phương thức đánh đột kích bằng quân sự để cải tổ chính quyền một địa phương đâu? Để cho người ngoài chê bai, thật đáng hận và xấu hổ!
Long Thằng Văn (con thứ tư của Long Vân), gửi thư từ Mỹ về cho hay: hôm mùng 3 tháng 10, báo chí ở Mỹ đều đăng tải tin này, dưới đầu đề: "Một trận tập kích kiểu ăn trộm vặt" và gọi đó là "Phát súng đầu tiên sau ngày kháng chiến thắng lợi ở Trung Quốc".
Để dễ nói chuyện với Long Vân, cũng như dư luận báo chí trong và ngoài nước, Tưởng Giới Thạch cho tìm Đỗ Duật Minh đến và nói rằng:
- Quang Đình! Ngươi có công với đất nước trong chuyện này, nhưng lại mắc tội với Long Vân. Ngươi vì đất nước mà mang tiếng vậy! Bề ngoài, ta sẽ ban bố lệnh cách chức người để xem xét. Thực tế là điều ngươi làm tư lệnh quân bảo an ở Đông Bắc.
Đỗ Duật Minh rất hiểu lòng dạ của Tưởng Giới Thạch, nên mạnh dạn trả lời:
- Chỉ cần có ích cho đất nước thì học trò không hề nghĩ gì đến danh, lợi của mình!
Tưởng Giới Thạch vui lắm! Nét mặt rạng rỡ, ông ta nói:
- Ngươi hiểu được đại thể, thấu điều đại nghĩa. Tốt lắm! Vậy cứ làm theo mệnh lệnh của ta!
Quả nhiên mấy hôm sau, Tưởng Giới Thạch ban bố lệnh, kể tội Đỗ Duật Minh trong vấn đề ở Vân Nam, và cách chức để xem xét. "Nhật báo trung ương" đăng lệnh ngay trên trang đầu. Ít lâu sau, Đỗ Duật Minh bay đi Đông Bắc, nhận chức tư lệnh bảo an.
Là cấp trên làm điều không xứng với cấp dưới mà biết ăn năn thì đó chính là đạo của người làm quan vậy! Nhưng cố ý sắp đặt âm mưu, đưa thuộc hạ vào chỗ chết, xong việc, lại "chân thành" thổ lộ với thuộc hạ: đó không phải là sai lầm của ta mà là người khác sai! Con người như vậy, thì tâm địa thật tối tăm, là loại mặt dày mày dạn. Mọi người chắc đoán biết đó là ai!