Nghìn Lẻ Một Đêm, Tập 1

Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Chuyện Người Khuân Vác Và Ba Thiếu Nữ

❊ ❊ ❊

Thuở ấy ở thành Baghdád có một chàng trai độc thân làm nghề khuân vác. Một hôm, khi chàng đang ngồi trong chợ, lưng tựa vào chiếc sọt đựng hàng, bỗng có một người phụ nữ tiến lại gần. Nàng khoác tấm khăn trùm đầu kiểu El-Móṣil dệt bằng lụa thêu vàng, viền ren vàng ở cả hai đầu. Nàng vén mạng che mặt, để lộ đôi mắt đen láy với hàng mi dài man mác vẻ dịu dàng, cùng những đường nét kiều diễm hoàn mỹ. Bằng giọng nói ngọt ngào, nàng bảo: "Hãy mang sọt theo tôi."

Chàng khuân vác vừa nghe xong liền nhấc sọt lên, bước theo nàng cho đến khi dừng lại trước cửa một ngôi nhà và gõ cửa. Một người theo đạo Thiên Chúa ra mở cửa. Nàng đưa cho ông ta một đồng vàng để đổi lấy một ít ô-liu và hai bình rượu lớn, rồi bỏ tất cả vào sọt và bảo chàng khuân vác: "Hãy vác lên và theo tôi." Chàng khuân vác thốt lên: "Quả là một ngày may mắn!"—rồi nhấc sọt lên tiếp tục bước theo nàng.

Nàng dừng lại ở tiệm một người bán trái cây, mua táo xứ Syria, quả mộc qua xứ 'Othmánee, đào xứ 'Omán, hoa nhài xứ Aleppo, súng nước xứ Damascus, dưa chuột sông Nin, chanh Ai Cập, thanh yên xứ Sulṭánee, sim thơm, cành là-la, cúc la mã, hải quỳ, hoa violet, hoa lựu và tầm xuân. Nàng cho tất cả vào sọt của chàng khuân vác và bảo: "Vác lên nào." Chàng vác sọt theo nàng cho đến khi tới cửa hàng thịt. Nàng bảo người hàng thịt cắt mười cân thịt, rồi gói vào lá chuối, đặt vào sọt và lại dặn: "Hỡi người khuân vác, hãy vác lên!" Chàng làm theo và tiếp tục bước đi sau nàng.

Tiếp đó, nàng dừng lại ở tiệm bán trái cây khô, mua đủ các loại rồi bảo chàng khuân vác nâng gánh nặng lên. Chàng vâng lời, theo nàng đến tiệm làm bánh kẹo. Nàng mua một cái đĩa, chất đầy các loại kẹo ngon nhất rồi bỏ vào sọt. Lúc này, chàng khuân vác đánh bạo nói: "Ước gì cô báo trước cho tôi, tôi đã dắt theo một con lừa để chở ngần này thứ." Nàng mỉm cười trước câu nói của chàng, rồi dừng lại ở tiệm nước hoa. Tại đây nàng mua mười loại nước thơm như nước hoa hồng, nước hoa cam, nước hoa liễu... cùng với đường, một bình xịt nước hoa hồng pha xạ hương, nhũ hương, trầm hương, long diên hương, xạ hương và nến sáp. Đặt tất cả vào sọt, nàng bảo: "Hãy vác sọt lên và theo tôi." Chàng vâng lời, vác sọt theo nàng cho đến khi đến trước một ngôi nhà khang trang có khoảng sân rộng. Đó là một tòa nhà cao lớn với cánh cửa haiepan làm bằng gỗ mun, dát những lá vàng rực rỡ.

Thiếu nữ dừng lại trước cánh cửa này và khẽ gõ. Cả hai cánh cửa liền mở ra. Chàng khuân vác ngước nhìn xem ai mở cửa thì thấy một nàng thiếu nữ cao ráo, ngực nở nang, da trắng xinh đẹp, dáng người thanh tú. Trán nàng sáng ngời tựa vầng trăng non, mắt đẹp như mắt linh dương, lông mày cong cong như trăng non tháng Ramaḍán, má tựa hoa hải quỳ, miệng xinh như con dấu của Suleymán. Gương mặt nàng rạng rỡ như trăng rằm, ngực căng tròn như hai quả lựu bằng nhau. Khi nhìn thấy nàng, chàng khuân vác ngẩn ngơ đến độ suýt đánh rơi chiếc sọt trên đầu, miệng thốt lên: "Chưa bao giờ trong đời ta lại gặp một ngày may mắn đến thế!" Nàng hầu cửa đứng bên trong liền chào người phụ nữ mua hàng và chàng khuân vác: "Xin mời các vị bước vào." Họ bước vào một sảnh lớn được trang trí nhiều màu sắc vô cùng tinh xảo, có chạm trổ gỗ, đài phun nước, những chiếc ghế dài đủ kiểu và các hộc tủ có rèm che. Ở phía trên cùng có chiếc bệ bằng đá tuyết hoa cẩn ngọc ngà và những viên ngọc trai lớn, giăng mùng sa tanh đỏ. Bên trong bệ có một thiếu nữ sở hữu đôi mắt mang bùa mê xứ Bábil, dáng người uyển chuyển như chữ Alif, gương mặt làm ánh thái dương phải hổ thẹn. Nàng tựa như một vì tinh tú sáng ngời, hay đúng hơn là một trong những tiểu thư đài các bậc nhất xứ Ả Rập.

Thiếu nữ thứ ba này đứng dậy từ chiếc bệ, chậm rãi bước tao nhã ra giữa phòng sảnh nơi hai người chị em đang đứng và nói: "Sao các chị còn đứng đó? Hãy đỡ gánh nặng trên đầu người khuân vác tội nghiệp này xuống đi." Người phụ nữ mua hàng liền đứng trước, người hầu cửa đứng sau, cùng người thiếu nữ thứ ba phụ giúp nhỡ đỡ chiếc sọt khỏi đầu chàng. Sau đó, họ lấy hết đồ đạc trong sọt ra, cất vào đúng chỗ rồi đưa cho chàng khuân vác hai đồng vàng và bảo: "Hỡi người khuân vác, anh hãy đi đi."

Thế nhưng, chàng khuân vác vẫn đứng tần ngần ngắm nhìn các nàng, thán phục vẻ đẹp và tính tình dễ chịu của họ, bởi chưa bao giờ chàng được thấy những người phụ nữ nào xinh đẹp nhường ấy. Khi nhận ra trong nhà không có lấy một bóng nam nhân, lại nhìn những vò rượu, trái cây và hoa thơm bày biện nơi đây, chàng vô cùng kinh ngạc và chần chừ không muốn bước ra. Một trong các nàng liền cất tiếng hỏi: "Sao anh vẫn chưa đi? Hay thấy tiền công ít ỏi?" Rồi quay sang bảo người chị em: "Hãy thưởng thêm cho anh ta một đồng vàng."

Chàng khuân vác kêu lên: "Thề có Allah, hỡi các tiểu thư của lòng tôi, tiền công của tôi vốn chỉ có hai đồng nửa dirhem, và tôi không hề thấy số các vị cho là ít. Chỉ có điều tâm can tôi đang bận suy tư về các vị và hoàn cảnh sống nơi đây. Các vị ở một mình không bóng nam nhân, chẳng có lấy một ai bầu bạn cho khuây khỏa. Các vị thừa biết rằng ngọn tháp menáreh chỉ có thể đứng vững trên bốn bức tường, thế mà các vị lại thiếu mất bức tường thứ tư. Niềm vui của phụ nữ há lại có thể trọn vẹn nếu thiếu đi đàn ông? Các vị chỉ có ba người, rất cần một người thứ tư—một trang nam nhi có học thức, kín đáo, sắc sảo và biết giữ bí mật."

Họ đáp: "Chúng tôi là những thiếu nữ, và chúng tôi e ngại đem bí mật nói cho kẻ không biết giữ mồm giữ miệng. Bởi chúng tôi đã đọc được câu thơ này trong một cổ sử:

Hãy giữ kín bí mật của mình, chớ đem trao cho kẻ khác;

Bởi kẻ đem bán điều thầm kín, chính là kẻ đã mất nó rồi."

Chàng khuân vác liền nói: "Thề có sự tồn tại của các vị, tôi là một người hiểu biết và đáng tin cậy. Tôi đã đọc qua nhiều sách vở và kinh sử: điều hay tôi biết phô bày, chuyện xấu tôi xin giấu kín, và luôn hành xử theo lời bậc thi nhân:

Chẳng ai giữ được bí mật ngoài người trung thực;

Nó ở lại nơi sâu thẳm của những bậc cao nhân.

Bí mật trong tôi ví như ngôi nhà có ổ khóa đã mất chìa,

Và cánh cửa đã được niêm phong kỹ càng."

Khi nghe những câu thơ chàng đọc cùng lời lẽ khôn ngoan đó, các nàng bảo: "Anh cũng biết rằng chúng tôi đã chi ra một khoản tiền không nhỏ ở đây rồi chứ? Thế anh lấy gì để đền đáp chúng tôi? Chúng tôi sẽ không cho phép anh ở lại trừ khi anh góp tiền cùng chúng tôi, vì anh muốn ngồi đây chè chén, vui đùa và ngắm nhìn dung nhan các tiểu thư." Nữ chủ nhân ngôi nhà cất lời: "Tình bạn mà không có tiền bạc thì chẳng đáng nặng bằng một hạt bụi." Nàng hầu cửa bồi thêm: "Nếu anh chẳng có gì, hãy đi tay không." Nhưng người đi chợ lại nói: "Hỡi các chị, hãy để anh ấy ở lại. Quả thực hôm nay anh ấy đã không quản ngại nhọc nhằn vì chúng tôi, đổi lại là kẻ khác thì đã chẳng kiên nhẫn đến vậy. Bất cứ phần chi phí nào thuộc về anh ấy, em xin chi trả."

Nghe vậy, chàng khuân vác vô cùng mừng rỡ, thốt lên: "Thề có Allah, khoản tiền công duy nhất trong đời tôi nhận được ngày hôm nay lại chính là từ tay tiểu thư!" Các nàng còn lại bảo chàng: "Hãy ngồi xuống, nhiệt liệt chào mừng anh."

Người đi chợ bèn đứng dậy, thắt lưng gọn gàng, sắp xếp các chai lọ, lọc rượu và dọn bàn cạnh hồ nước trong đài phun. Nàng chuẩn bị mọi thứ cần thiết, dọn rượu ra rồi ngồi xuống cùng các chị em; chàng khuân vác cũng ngồi cùng họ, ngỡ mình đang chìm trong giấc chiêm bao. Khi mọi người đã an vị, nàng cầm một vò rượu, rót đầy chén đầu tiên và uống cạn; sau đó nàng rót chén tiếp theo đưa cho một người chị, rồi lần lượt đến người chị thứ ba. Cạn xong, nàng lại rót chén đưa cho chàng khuân vác. Nhận lấy chén rượu từ tay nàng, chàng ngâm nga câu thơ:

Ta sẽ uống chén rượu này và tận hưởng sự bình an,

Bởi thứ đồ uống này quả là phương dược chữa lành bệnh tật.

Rượu cứ thế chuyền tay nhau. Chàng khuân vác hòa mình vào cuộc vui, cùng ca hát nhảy múa với các nàng, tận hưởng hương thơm ngào ngạt và bắt đầu ôm ấp, hôn hít họ. Người thì tát yêu chàng, kẻ thì kéo tay, người thứ ba dùng hoa thơm đánh chàng, cho đến khi hơi men làm say đắm lý trí và họ vứt bỏ mọi e ấp, thỏa thuê đùa giỡn tự do như thể chẳng có một bóng nam nhân nào ở đó.

Cứ thế cho đến khi màn đêm buông xuống, các nàng bảo chàng khuân vác: "Hãy xéo đi và cho chúng tôi thấy bóng lưng của anh." Nhưng chàng đáp: "Quả thật, linh hồn tôi lìa khỏi xác còn dễ chịu hơn là việc phải rời xa các nàng. Vậy xin hãy cho phép chúng ta nối liền đêm với ngày, rồi sau đó mỗi người mới trở về việc riêng của mình." Người đi chợ lại nài nỉ giùm chàng: "Ta xin các vị cho anh ấy ở lại qua đêm để chúng ta có thể cười vui trước những trò hề của anh ta, bởi anh ta là một kẻ lém lỉnh dí dỏm."

Họ bèn bảo chàng: "Anh có thể ở lại qua đêm với điều kiện phải tuân thủ kỷ luật của chúng tôi và không được gặng hỏi lý do về bất cứ điều gì anh sắp chứng kiến." Chàng đáp: "Xin tuân lệnh." Họ nói: "Hãy đứng dậy và đọc những dòng chữ khắc trên cửa." Chàng liền đi đến cửa và thấy dòng chữ bằng vàng sau đây: "Chớ nói về điều không can gì đến ngươi, kẻo ngươi phải nghe những điều không mấy tốt đẹp." Chàng nói: "Hãy làm chứng cho lời hứa của tôi rằng tôi sẽ không bàn tán về những chuyện không liên quan đến mình."

Người đi chợ đứng dậy dọn một bữa ăn nhẹ, và sau khi họ dùng xong, họ thắp nến và đốt trầm hương. Dọn dẹp xong, họ lại ngồi vào bàn. Đang lúc ăn uống, họ nghe tiếng gõ cửa. Chẳng hề bận tâm đến bữa ăn, một người ra mở cửa rồi quay lại nói: "Niềm vui đêm nay của chúng ta đã trọn vẹn, bởi tôi vừa thấy ở cửa ba người ngoại quốc cằm nhẵn thín, và mỗi người đều bị mù mắt trái—thật là một sự trùng hợp kỳ lạ! Họ là những lữ khách vừa tới, ai nấy có vẻ ngoài buồn cười. Nếu họ vào đây, chúng ta sẽ có dịp cười chê họ cho vui."

Nàng cứ thế nài nỉ cho đến khi các chị em đồng ý và nói: "Hãy để họ vào, nhưng phải đặt điều kiện với họ là không được bàn tán về những chuyện không liên quan đến mình, kẻo phải nghe những điều không vừa ý." Nàng vui mừng chạy ra mở cửa, rước ba vị khách mù một mắt, cằm nhẵn thín với bộ ria mép tỉa mỏng và xoăn tít bước vào. Vốn là những kẻ khất thực, họ chào hỏi rồi lùi lại, nhưng các thiếu nữ đã đứng lên mời họ ngồi.

Khi ba người đàn ông nhìn thấy chàng khuân vác, họ nhận ra chàng đang say và quan sát kỹ lưỡng, tưởng chàng cũng cùng hội cùng thuyền với mình nên bảo: "Hắn cũng là kẻ khất thực như chúng ta thôi, những câu chuyện của hắn sẽ mua vui cho ta." Nghe vậy, chàng khuân vác liền vùng dậy, trợn tròn mắt quát: "Hãy ngồi yên và dẹp ngay những lời lẽ xấc láo ấy đi! Các người không đọc dòng chữ khắc trên cửa sao?" Các thiếu nữ bật cười bảo nhau: "Giữa đám khất thực và gã khuân vác này, thể nào chúng ta cũng có khối trò vui."

Họ liền dọn thức ăn cho ba người kia dùng bữa rồi ngồi uống rượu. Nàng hầu cửa rót rượu mời họ, và khi chén rượu chuyền đi, chàng khuân vác cất tiếng hỏi: "Này các huynh đài, các vị có câu chuyện hay giai thoại kỳ lạ nào để mua vui không?" Ba vị khách khất thực đang lúc ngà ngà say liền đòi nhạc cụ. Nàng hầu cửa liền đem ra một chiếc trống lắc xứ El-Móṣil, một cây đàn luýt xứ El-'Eráḳ và một chiếc hạc cầm Ba Tư. Tất cả đứng dậy: người cầm trống, kẻ gảy luýt, người kia tấu hạc cầm. Họ trổ tài tấu nhạc còn các thiếu nữ cất cao giọng hát họa theo. Đang lúc mọi người vui vầy say sưa thì có tiếng gõ cửa. Nàng hầu cửa lại ra xem ai tới—và nguyên do của tiếng gõ ấy là thế này.

Đêm ấy, Khaleefeh Hároon Er-Rasheed đã vi hành để dò la tin tức, đi cùng có Tể tướng Jaạfar và đao phủ Mesroor. Vốn có thói quen giả trang thành thương nhân, đêm nay khi đi qua thành phố, đi ngang qua ngôi nhà của các thiếu nữ và nghe tiếng nhạc vọng ra, nhà vua bảo Jaạfar: "Ta muốn vào trong ngôi nhà này để xem ai đang tổ chức buổi hòa nhạc." Jaạfar tâu: "Đó là một nhóm người đang say sưa, thần e chúng ta sẽ gặp phải thái độ vô lễ từ họ." Nhưng nhà vua kiên quyết: "Chúng ta buộc phải vào, nhà ngươi hãy nghĩ mưu kế gì để xin vào được bên trong."

Jaạfar đáp: "Tuân lệnh." Ông tiến lại gõ cửa. Khi nàng hầu cửa ra mở, ông nói: "Thưa tiểu thư, chúng tôi là những thương nhân đến từ Tabareeyeh, đã ở Baghdád mười ngày nay. Chúng tôi mang theo hàng hóa và trọ ở một quán Khán. Tối nay có một thương nhân mời chúng tôi đến dự tiệc. Chúng tôi đã đến nhà ông ta, dùng bữa và ngồi uống rượu một lúc, sau đó ông ta cho phép chúng tôi về. Đi trong đêm tối lại là người xứ lạ, chúng tôi đã lạc mất đường về quán Khán. Mong rằng lòng rộng lượng của các tiểu thư sẽ cho phép chúng tôi qua đêm tại đây, làm ơn làm phước sẽ được ơn trên phù hộ."

Nàng hầu cửa nhìn họ, thấy mặc trang phục thương nhân và có phong thái đáng kính liền quay vào bàn với hai người bạn. Họ bảo: "Hãy cho họ vào." Thế là nàng ra mở cửa đón họ. Ba người chào: "Chúng tôi xin phép được vào nhé?" Nàng đáp: "Xin mời vào."

Khaleefeh cùng Jaạfar và Mesroor bước vào. Thấy khách, các thiếu nữ đứng dậy đón tiếp và nói: "Nhiệt liệt chào mừng các vị khách quý. Nhưng chúng tôi có một điều kiện: không được bàn tán những chuyện không liên quan đến mình, kẻo các vị sẽ phải nghe những lời không vừa ý." Họ đáp: "Xin vâng."

Khi mọi người ngồi xuống uống rượu, Khaleefeh nhìn ba gã khất thực và ngạc nhiên thấy ai nấy đều mù mắt trái. Ngài cũng nhìn các thiếu nữ và ngẩn ngơ trước nhan sắc kiều diễm của họ. Khi mọi người bắt đầu uống rượu và trò chuyện, các thiếu nữ mang rượu đến mời Khaleefeh, nhưng ngài từ chối: "Ta là khách hành hương," rồi lùi lại. Nàng hầu cửa liền trải trước mặt ngài một tấm khăn thêu, đặt lên đó một chiếc bình bằng sứ Trung Hoa chứa đầy nước hoa liễu thêm một cục đá lạnh và đường. Khaleefeh cảm ơn nàng và thầm nghĩ: "Ngày mai ta phải thưởng cho nàng vì hành động ân cần này."

Cuộc vui vẫn tiếp diễn. Khi hơi men ngấm vào người, nữ chủ nhân ngôi nhà đứng dậy phục vụ khách, rồi nắm tay người đi chợ nói: "Nào chị em ta, hãy đứng dậy để hoàn thành trọn vẹn lời hứa." Người kia đáp: "Tuân lệnh."

Nàng hầu cửa đứng dậy dọn dẹp giữa phòng sảnh, sắp xếp mấy gã khất thực ra tận góc phòng xa khuất sau cánh cửa. Sau đó, các thiếu nữ gọi chàng khuân vác: "Sao anh ít tình nghĩa thế? Anh đâu phải người ngoài mà là người trong nhà." Chàng vùng dậy thắt lưng gọn gàng hỏi: "Các nàng muốn gì?" Một người đáp: "Hãy đứng yên ở đó."

Ngay lập tức, người đi chợ bảo chàng: "Hãy phụ giúp tôi." Chàng liền dắt ra hai con chó cái màu đen có xích cổ ra giữa phòng sảnh. Nữ chủ nhân ngôi nhà vén tay áo lên qua cổ tay, cầm roi bảo chàng khuân vác: "Dắt một con lại đây." Chàng kéo con chó tới. Nó rên rỉ và lắc đầu về phía nàng, nhưng nàng giáng những roi lên đầu nó mặc cho nó tru tréo, cho đến khi mỏi nhừ tay mới quăng roi xuống, ôm con chó vào lòng, lau nước mắt cho nó và hôn lên đầu nó. Nàng bảo chàng: "Dắt nó ra và đưa con kia lại đây." Chàng làm y như vậy.

Chứng kiến cảnh tượng này, lòng Khaleefeh vô cùng bứt rứt và cau mày, ngài nháy mắt ra hiệu cho Jaạfar hỏi lý do, nhưng Jaạfar ra hiệu bảo ngài: "Đừng nói gì cả."

Nữ chủ nhân ngôi nhà quay sang bảo nàng hầu cửa: "Hãy làm phần việc của chị đi." Nàng đáp: "Xin vâng." Nữ chủ nhân ngồi lên chiếc bệ bằng đá tuyết hoa dát vàng bạc, bảo nàng hầu cửa và người đi chợ: "Giờ hãy trình diễn đi." Nàng hầu cửa liền ngồi lên chiếc bệ bên cạnh. Người đi chợ bước vào một căn phòng nhỏ, mang ra một chiếc túi bằng sa tanh viền xanh, đứng trước nữ chủ nhân, lắc túi rồi lấy ra một cây đàn luýt. Nàng lên dây rồi cất giọng hát bài thơ:

Hãy trả lại giấc ngủ đã bị cướp đi cho đôi mi này, và cho ta biết lý trí của ta đã trôi dạt về phương nào.

Khi ta đến nương náu nơi tình yêu, ta bỗng nhận ra giấc ngủ đã hóa thành kẻ thù của đôi mắt.

Họ bảo: Ta thấy ngươi là người ngay thẳng, vậy điều gì đã xúi giục ngươi? Ta đáp: Hãy tìm nguyên nhân từ cái liếc nhìn ấy.

Quả thực ta tha thứ cho hắn vì tội đổ máu ta, dẫu ta thừa nhận chính sự giận hờn đã thúc đẩy hắn làm điều đó.

Hắn thả bóng hình tựa vầng thái dương vào chiếc gương tâm trí ta,

Và ánh phản chiếu ấy đã nhen lên ngọn lửa thiêu đốt cõi lòng ta.

Khi nghe bài hát này, nàng hầu cửa kêu lên: "Xin Allah phù hộ cho chị!" rồi xé toạc áo, ngã lăn ra sàn ngất xỉu. Khi ngực áo nàng hé mở, Khaleefeh nhìn thấy trên người nàng những vết roi đòn hằn học hệt như bị đánh bằng roi da miḳra'ahs, khiến ngài vô cùng kinh ngạc. Người đi chợ lập tức đứng dậy, vẩy nước lên mặt nàng và mang đến một bộ váy khác để nàng thay.

Khaleefeh bảo Jaạfar: "Ngươi có thấy người phụ nữ này cùng những vết roi trên người nàng ta không? Ta không thể im lặng hay yên lòng được cho đến khi biết rõ sự thật về thân thế của nàng thiếu nữ này và cả hai con chó cái kia." Nhưng Jaạfar đáp: "Thưa chúa công, họ đã giao ước với chúng ta là không được bàn tán về những chuyện không liên quan đến mình, kẻo phải nghe những lời không vừa ý."

Người đi chợ lại cầm lấy đàn luýt, áp vào ngực, lướt những ngón tay trên phím đàn và hát:

Nếu ta oán thán tình yêu, ta biết nói gì đây? Hay nếu cháy bỏng vì khao khát, làm sao ta trốn chạy?

Hoặc nếu ta phái sứ giả đến giãi bày, hắn cũng chẳng thể truyền tải hết nỗi niềm của kẻ si tình.

Nếu ta chọn cách kiên nhẫn, liệu đời ta còn lại bao lâu sau khi mất đi những kẻ ta yêu dấu?

Chẳng còn lại gì ngoài niềm đau, tang tóc và dòng lệ tuôn rơi trên má.

Hỡi người đã khuất tầm mắt ta, nhưng ngự trị mãi trong tim!

Liệu người có giữ trọn lời thề với kẻ si tình dẫu năm tháng phôi pha chẳng bao giờ thay đổi?

Hay trong lúc cách xa, người đã quên đi kẻ đang hao mòn vì thương nhớ?

Khi ngày Phán xét đưa chúng ta sum vầy, ta sẽ xin ơn trên cho một thử thách kéo dài dằng dặc.

Nghe những câu thơ của người đi chợ, nàng hầu cửa lại xé toạc áo, gào khóc và ngã quất xuống sàn ngất xỉu. Người đi chợ lại vẩy nước lên mặt nàng và thay cho nàng bộ váy khác như trước.

Chứng kiến cảnh tượng ấy, bọn khất thực liền bảo nhau: "Ước gì chúng ta đừng bước chân vào ngôi nhà này mà thà ra nằm phơi sương ngoài gò đống còn hơn! Đêm nay của chúng ta đã bị vấy bẩn bởi một sự kiện gãy xương sống thế này đây."

Khaleefeh nhìn họ và hỏi: "Cớ sao các ngươi lại thế?" Họ đáp: "Lòng dạ chúng ta đang rối bời vì sự việc này." Ngài hỏi tiếp: "Các ngươi không phải người trong nhà này sao?" Họ đáp: "Không, chúng ta nào có hay biết gì, tưởng đây là nhà của người đang ngồi uống rượu cùng ngài."

Chàng khuân vác lên tiếng: "Quả thật, đây là lần đầu tiên ta đặt chân đến chốn này đêm nay, và ta ước gì mình đã ngủ ngoài bãi rác còn hơn là ở đây."

Họ bàn tán với nhau: "Chúng ta có tới bảy người đàn ông mà họ chỉ có ba người phụ nữ. Ta hãy hỏi cho ra ngô ra khoai về thân thế của họ, nếu họ không chịu nói tử tế thì ta sẽ ép họ phải khai."

Tất cả đều đồng tình, ngoại trừ Jaạfar. Ông can ngăn: "Đây không phải là quyết định đúng đắn. Hãy để họ yên, chúng ta là khách và đã giao ước thì phải giữ trọn. Đêm nay chẳng còn lại bao lâu, ai nấy rồi sẽ về nhà nấy." Rồi nháy mắt với Khaleefeh, ông thì thầm: "Chỉ còn một tiếng nữa thôi, ngày mai chúng ta sẽ bắt họ diện kiến ngài và khi ấy ngài tha hồ hỏi chuyện."

Nhưng Khaleefeh từ chối: "Ta không có sự kiên nhẫn để đợi đến lúc đó nghe câu chuyện của họ."

Lời qua tiếng lại, cuối cùng họ hỏi nhau: "Ai sẽ là người đặt câu hỏi?" Có tiếng đáp: "Là chàng khuân vác."

Các thiếu nữ liền hỏi: "Hỡi các vị, các vị đang bàn tán chuyện gì thế?" Ngay lập tức, chàng khuân vác tiến lại gần nữ chủ nhân ngôi nhà và cẩn trọng thưa: "Hỡi tiểu thư của tôi, tôi xin hỏi và van nài người vì ơn trên, hãy kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về hai con chó cái, và lý do vì sao người đánh chúng rồi lại khóc lóc hôn hứa; đồng thời cho chúng tôi biết nguyên cớ vì sao người em của người lại bị đánh bằng roi miḳra'ahs. Đó là câu hỏi của chúng tôi, xin chào thân ái."

Nữ chủ nhân quay sang hỏi những vị khách khác: "Có phải điều hắn nói là ý của các anh không?" Tất cả đều đáp: "Đúng vậy"—ngoại trừ Jaạfar vẫn im lặng.

Khi nghe câu trả lời đó, nàng phẫn nộ thốt lên: "Hỡi những vị khách khứa kia, quả thực các người đã đối xử tệ bạc với chúng tôi quá đáng! Chúng tôi đã giao ước từ trước rằng kẻ nào bàn tán chuyện không liên quan sẽ phải nghe những điều không vừa ý. Chẳng lẽ việc chúng tôi cho các người vào nhà, thiết đãi thức ăn thức uống vẫn chưa đủ sao? Nhưng lỗi không hẳn ở các người, mà ở kẻ đã dẫn dắt các người vào đây."

Nàng vén tay áo lên qua cổ tay, giậm chân xuống sàn ba lần và gọi lớn: "Mau ra đây!"

Ngay lập tức, cánh cửa túp lô mở ra, bảy tên nô lệ da đen bước ra, mỗi tên tay lăm lăm thanh gươm tuốt trần. Nàng bảo chúng: "Hãy tróiặt tay những kẻ nhiều lời này lại với nhau, mỗi tên trói chung một người."

Chúng tuân lệnh và hỏi: "Thưa tiểu thư hiền đức, ngài có cho phép chúng tôi chém đầu bọn chúng không?" Nàng đáp: "Hãy hoãn lại một chút, để ta hỏi cho ra ngõ ngách câu chuyện của chúng trước khi chém đầu."

Chàng khuân vác kêu lên: "Thề có Allah, hỡi tiểu thư, xin đừng giết tôi vì tội lỗi của kẻ khác! Tất cả bọn họ đều sai quấy và phạm tội, trừ một mình tôi. Đêm nay của chúng ta đã có thể rất tuyệt vời biết bao nếu chúng tôi không phải rước đám khất thực này vào, sự hiện diện của chúng đủ sức biến một thành phố đông đúc thành đống đổ nát!" Rồi chàng ngâm câu thơ:

Thật cao đẹp biết bao khi tha thứ cho kẻ có khả năng kháng cự!

Và càng cao đẹp hơn biết bao khi dung tha cho kẻ yếu đuối cơ hàn!

Vì tình nghĩa từng có giữa chúng ta, xin chớ tiêu diệt người vô tội vì tội ác của kẻ khác!

Nghe những lời đó của chàng khuân vác, nữ chủ nhân phì cười sau cơn thịnh nộ. Tiến lại gần những người đàn ông, nàng bảo: "Hãy kể cho ta nghe thân thế của các ngươi, bởi đời các ngươi chẳng còn quá một tiếng đồng hồ nữa đâu. Nếu các ngươi không phải là những kẻ có thân thế hiển hang hoặc quan chức cao cấp, ta đã sớm ban cho các ngươi thứ đáng nhận rồi."

Khaleefeh khẽ rur tai Jaạfar: "Khốn cho ngươi, hỡi Jaạfar! Hãy khai thật cho nàng biết ta là ai, kẻo nàng giết chúng ta thật đấy." Jaạfar đáp: "Đó là cái kết chúng ta đáng phải nhận." Khaleefeh gạt đi: "Đùa cợt lúc nghiêm túc thế này là không phải phép, việc nào ra việc nấy chứ."

Nàng lại tiến đến chỗ bọn khất thực và hỏi: "Các ngươi là huynh đệ với nhau phải không?" Họ đáp: "Không hề, chúng tôi chỉ là những kẻ ngoại quốc nghèo khổ." Nàng hỏi người thứ nhất: "Ngươi bẩm sinh đã mù một mắt sao?" Hắn đáp: "Thưa không, một biến cố kỳ lạ đã xảy ra khiến mắt tôi bị hủy hoại. Câu chuyện ấy nếu được khắc ghi vào trí tuệ sẽ là bài học lớn cho ai biết suy ngẫm." Nàng lần lượt hỏi người thứ hai và thứ ba, và họ cũng đáp y hệt như người thứ nhất, nói thêm rằng mỗi người đến từ một xứ sở khác nhau và câu chuyện của họ đều vô cùng kỳ lạ.

Nàng bèn bảo họ: "Mỗi người các ngươi hãy kể lại câu chuyện của mình và cơ duyên đưa bước đến đây, sau đó tự vỗ đầu rồi muốn đi đâu thì đi."

Người đầu tiên tiến lên là chàng khuân vác. Chàng thưa: "Thưa tiểu thư, tôi là một người khuân vác. Người đi chợ đã thuê và đưa tôi đến đây, còn mọi chuyện xảy ra thế nào các vị đều rõ. Đó là câu chuyện của tôi, xin chào thân ái." Nàng bảo: "Hãy tự vỗ đầu rồi đi đi." Nhưng chàng đáp: "Thề có Allah, tôi sẽ không đi cho đến khi được nghe câu chuyện của các bạn đồng hành."

Vị khất thực thứ nhất bước lên và kể như sau:

“Thưa tiểu thư, nguyên do việc tôi cạo râu và mất một con mắt là thế này: Phụ thân tôi là một vị vua, ngài có một người anh cũng làm vua cai trị một kinh thành khác. Mẫu thân tôi sinh ra tôi đúng vào ngày vợ của bác sinh hạ hoàng tử. Thời gian thoi đưa cho đến khi chúng tôi trưởng thành. Theo thông lệ, cứ vài năm tôi lại sang thăm bác và ở lại đó mấy tháng. Trong một chuyến thăm như thế, người anh họ đã đối đãi với tôi vô cùng thịnh tình: ngài mổ cừu, lọc rượu cho tôi uống, và chúng tôi cùng ngồi chè chén. Khi hơi men ngấm vào người, ngài bảo tôi: ‘Hỡi người cháu, ta đang có việc hệ trọng cần ngươi giúp đỡ, mong ngươi đừng từ chối.’ Tôi đáp: ‘Tôi xin nghe theo ngài.’ Ngài bắt tôi thề những lời chí trọng, rồi đứng dậy vắng mặt một lát. Ít phút sau ngài quay lại, dẫn theo một người phụ nữ đeo đầy trang sức, xức nước hoa đắt tiền và mặc bộ váy vô cùng quý giá.

Nhìn tôi, trong lúc người phụ nữ đứng phía sau, ngài bảo: ‘Hãy dẫn người phụ nữ này đi trước ta đến nghĩa trang ở chốn nọ’—và ngài mô tả địa điểm mà tôi vốn biết rõ. Ngài dặn thêm: ‘Hãy vào nghĩa trang và đợi ta ở đó.’

Vì những lời thề nguyền, tôi không thể phản đối hay từ chối yêu cầu của ngài. Tôi đành dẫn người phụ nữ ấy đến nghĩa trang. Chẳng bao lâu sau, người anh họ đến, mang theo một chậu nước, một túi vữa và một cái búa nhỏ. Đi đến một ngôi mộ nằm giữa nghĩa trang, ngài dùng búa tháo những viên gạch xếp sang một bên, rồi dùng búa cuốc đất lộ ra một tấm phiến đá phẳng cỡ cánh cửa nhỏ, bên dưới có lối cầu thang cuốn dẫn xuống. Làm xong, ngài ra hiệu cho người phụ nữ bước xuống trước.

Đoạn, ngài quay sang tôi và nói: ‘Hỡi người cháu, hãy hoàn tất lòng tốt của ngươi khi ta bước xuống đây bằng cách lấp tấm cửa sập và đất đai lên trên như cũ. Tiếp đó, số vữa trong túi và nước trong chậu kia, ngươi hãy nhào trộn rồi trát lại những viên gạch trên ngôi mộ y như nguyên bản, để không một ai nhận ra rằng nó vừa mới bị đào xới mà tưởng là mộ cổ. Ta đã chuẩn bị việc này suốt một năm trời và chẳng ai hay biết ngoài Allah. Đó là điều ta muốn ngươi làm.’ Rồi ngài nói: ‘Cầu mong Allah không bao giờ để những người thân thiết của ngươi vắng bóng ngươi, hỡi người cháu!’ Nói đoạn, ngài bước xuống cầu thang.

Khi ngài khuất dạng, tôi đậy tấm cửa sập lại, cặm cụi làm theo đúng lời dặn cho đến khi ngôi mộ phục hồi nguyên trạng. Xong xuôi, tôi trở về cung điện của bác—người lúc ấy đang đi săn vắng. Đêm đó tôi trằn trọc suy nghĩ về những gì diễn ra giữa tôi và người anh họ, hối hận vì đã nhúng tay nhưng sự đã rồi.

Sáng hôm sau, tôi ra nghĩa trang tìm ngôi mộ nhưng không tài nào tìm thấy. Tôi lùng sục khắp nơi cho đến tận chiều tối mà vẫn vô vọng, đành quay về cung điện trong lòng không thiết ăn uống. Trăn trở suốt đêm, sáng hôm sau tôi lại ra nghĩa trang, hối hận khôn nguôi và lục lọi qua tất cả các ngôi mộ nhưng vẫn chẳng thấy cái cần tìm. Cứ thế tôi kiên trì tìm kiếm suốt bảy ngày liền mà vẫn không có kết quả.

Nỗi lo âu chồng chất khiến tôi gần như phát điên, và tôi chỉ còn cách duy nhất là rời đi để trở về với phụ thân. Thế nhưng, khi vừa đặt chân đến cổng kinh thành, một nhóm người bỗng chồm tới trói nghiến tôi lại. Tôi vô cùng kinh ngạc bởi mình vốn là hoàng tử của thành phố này, còn họ là gia nhân của phụ thân và của chính tôi. Nỗi sợ hãi tột độ bao trùm, tôi thầm nghĩ: ‘Chuyện gì đã xảy ra với phụ thân ta rồi?’

Tôi gặng hỏi nguyên do nhưng họ giữ im lặng, cho đến một lúc sau, một tên từng là gia nhân của tôi mới nói: ‘Vận may đã phản bội phụ thân ngươi, binh lính đã phản loạn, Tể tướng đã sát hại ngài, và bọn ta mai phục ở đây để bắt ngươi.’

Chúng giải tôi đi. Nghe tin dữ về phụ thân, tôi chết sững như người mất hồn và bị dẫn đến trước mặt kẻ đã hạ sát ngài—gã Tể tướng phản nghịch.

Giữa tôi và hắn từ trước vốn có mối thù sâu đậm. Nguyên do là vì tôi thích bắn nỏ. Một hôm, khi tôi đang đứng trên nóc cung điện, có con chim đậu trên mái nhà Tể tướng lúc ấy cũng đang đứng đó. Tôi nhắm bắn con chim nhưng trượt, mũi tên lại bay thẳng vào mắt Tể tướng, đánh văng nó ra ngoài—đó là sự sắp đặt của định mệnh, hệt như lời thi nhân:

Chúng ta bước đi trên những lối đi đã định sẵn,

Và kẻ mang số mệnh bước chân lên đó tất phải đi đến cùng.

Kẻ nào đã định sẵn chết ở xứ nào, quyết không chết ở xứ khác.

Khi tôi làm hỏng một bên mắt của Tể tướng, hắn chẳng dám hó hé gì vì phụ thân tôi khi ấy còn làm vua. Đó là căn nguyên mối thù. Giờ đây, khi tôi đứng trước mặt hắn với đôi tay bị trói quặt sau lưng, hắn lạnh lùng ra lệnh chém đầu tôi.

Tôi lên tiếng: ‘Ngươi muốn giết ta mà ta chẳng phạm tội gì ư?’ Hắn quát: ‘Còn tội nào lớn hơn thế này?’—rồi chỉ vào hốc mắt bị mất. Tôi đáp: ‘Ta vô tình thôi mà.’ Hắn gầm lên: ‘Nếu ngươi vô tình, ta sẽ trả đũa ngươi một cách cố ý!’ Rồi hắn ra lệnh: ‘Giải hắn lại đây!’ Khi gia nhân đẩy tôi tới, hắn dùng ngón tay chọc thẳng vào mắt trái của tôi và móc nó ra. Thế là tôi mất đi một con mắt như các vị đang thấy.

Hắn tói siết tôi lại, nhét vào một chiếc rương và bảo tên đao phủ: ‘Hãy mang tên này ra ngoài thành, tuốt gươm xử tử rồi để dã thú phanh thây hắn.’

Tên đao phủ dẫn tôi ra khỏi thành, lôi tôi khỏi rương trong cảnh tay chân bị trói chặt và chuẩn bị bịt mắt để hành hình. Tôi òa khóc nghẹn ngào ngâm rằng:

Biết bao người anh em ta từng xem là giáp trụ che thân!

Đúng vậy, họ là thế, nhưng là để canh chừng ta trước kẻ thù.

Ta tưởng họ sắc bén tựa mũi tên xuyên thấu,

Quả thật họ sắc bén, nhưng là để đâm thẳng vào tim ta!

Tên đao phủ vốn từng phục vụ phụ thân tôi và mang ơn tôi, sau khi nghe những câu thơ ấy liền nói: ‘Thưa chủ nhân, tôi là kẻ ăn lộc vua phải tuân lệnh, biết làm sao đây?’ Nhưng rồi hắn đổi giọng: ‘Thôi, hãy trốn đi giữ lấy mạng sống, chớ trở lại xứ này kẻo ngươi mất mạng và liên lụy đến cả ta. Thi nhân có câu:

Hãy chạy trốn giữ lấy mạng nếu ngươi sợ hãi cảnh áp bức,

Và bỏ lại ngôi nhà cho số phận kẻ xây nó định đoạt.

Ngươi sẽ tìm thấy xứ sở khác thay cho nơi ta từ bỏ,

Nhưng chẳng tìm đâu ra sinh mạng thứ hai thay cho mạng chính mình.’

Vừa nghe xong, tôi hôn tay hắn, chẳng dám tin mình được an toàn cho đến khi chạy trốn khuất bóng. Việc mất đi con mắt bỗng trở nên nhẹ tênh khi nghĩ đến việc thoát chết. Tôi hành trình về kinh thành của bác, tâu lại mọi chuyện xảy ra cho phụ thân và việc tôi bị mất mắt. Bác nghe xong khóc nức nở: ‘Ngươi lại làm tăng thêm nỗi đau đớn và sầu khổ của ta, bởi hoàng tử—con trai bác—cũng mất tích đã mấy ngày nay, chẳng ai hay tung tích hay tin tức gì về nó.’ Đoạn bác lại khóc ngất đi. Khi tỉnh lại, bác bảo: ‘Hỡi con, mất đi con mắt còn hơn là mất mạng.’

Lúc này tôi không thể giấu giếm chuyện người anh họ được nữa, bèn kể hết mọi đầu đuôi. Nghe xong, bác vô cùng mừng rỡ và bảo: ‘Hãy dẫn bác đến ngôi mộ ấy.’ Tôi đáp: ‘Thề có Allah, thưa bác, cháu chịu không biết nó ở đâu, vì dạo trước cháu đã đi tìm nhiều lần mà không nhận ra vị trí.’

Thế nhưng, chúng tôi vẫn cùng nhau ra nghĩa trang. Nhìn ngó Đông Tây, cuối cùng tôi cũng tìm ra ngôi mộ, cả bác lẫn tôi đều khát khao mừng rỡ. Chúng tôi cùng bước vào trong, dời đất đá và nâng tấm cửa sập, bước xuống năm mươi bậc thang. Khi đến đáy, một làn khói bốc lên cay xè mắt khiến bác tôi phải thốt lên lời cầu cứu muôn thuở: ‘Chẳng có sức mạnh hay quyền lực nào ngoại trừ ở nơi Allah—Đấng Tối Cao, Đấng Vĩ Đại!’

Chúng tôi đi tiếp và thấy mình đang ở trong một căn phòng ngập tràn bột mì, ngũ cốc và các loại thực phẩm khác. Ta nhìn thấy một tấm rèm treo trước chiếc bệ. Bác tôi bước tới vén rèm lên thì thấy con trai ngài và người phụ nữ đã bước xuống cùng cậu ta nằm cạnh nhau, bị thiêu rụi đen thui thành than hệt như bị ném vào hố lửa.

Chứng kiến cảnh tượng đó, bác khạc nhổ vào mặt con trai, thốt lên: ‘Đây là những gì ngươi đáng phải nhận, hỡi kẻ khốn nạn! Đây là sự trừng phạt ở cõi đời này, và vẫn còn đó hình phạt ở thế giới bên kia ngặt nghèo và vĩnh viễn hơn!’—rồi bác dùng giày quất túi bụi vào xác nó.

Kinh ngạc trước hành động đó và đau xót cho người anh họ khi thấy chàng cùng thiếu nữ hóa thành than, tôi lên tiếng: ‘Thề có Allah, thưa bác, xin hãy nguôi ngoai nỗi đau lòng, vì cháu đang rối bời không hiểu vì sao nó và thiếu nữ kia lại biến thành than đen. Chẳng lẽ tình trạng này chưa đủ bi thảm sao mà bác còn đánh nó bằng giày?’

Bác đáp: ‘Hỡi người cháu của ta, từ nhỏ con trai này đã đắm chìm trong tình yêu với người em nuôi của nó. Ta đã cấm đoán và tự nhủ: Chúng còn nhỏ, nhưng lớn lên sẽ dễ phạm điều đồi bại. Quả nhiên ta nghe nói chuyện đó đã xảy ra nhưng không tin. Ta đã mắng nhiếc nghiêm khắc và cảnh cáo nó: Hãy tránh xa hành vi đồi bại ấy, chớ để mang tiếng nhục với các vị vua cho đến chết và lưu danh muôn thuở trong các đoàn lữ hành, nếu không ta sẽ nổi giận trừng trị ngươi bằng cái chết. Ta đã cách ly chúng, nhưng người phụ nữ đê tiện kia yêu nó quá quắt, ma quỷ đã dẫn dụ cả hai. Khi thấy ta tách rời chúng, con ta đã ngầm xây dựng chốn dưới lòng đất này, tích trữ lương thực rồi lợi dụng lúc ta đi săn vắng để trốn đến đây. Nhưng Đấng Chân Lý (nguyện danh Ngài được tán dương và tôn vinh) đã hằng soi xét và dùng lửa thiêu rụi chúng, và hình phạt đời sau sẽ còn khốc liệt, vĩnh viễn hơn.’

Đoạn bác khóc nức nở, tôi cũng khóc theo. Bác bảo: ‘Con hãy thay thế vị trí của nó đối với ta.’

Tôi đứng lặng ngẫm nghĩ về thế gian và những thăng trầm của nó, về việc Tể tướng ám sát phụ thân để cướp ngôi, về con mắt bị mất của mình cùng những biến cố kỳ lạ của người anh họ, rồi tôi lại òa khóc.

Chúng tôi đi lên, đậy tấm cửa sập và lấp đất lại, khôi phục ngôi mộ về nguyên trạng rồi trở về cung điện. Thế nhưng, khi vừa ngồi xuống, chúng tôi đã nghe tiếng trống kèn vang dội, chiến binh phi ngựa rầm rập, bụi tung mù mịt cả bầu trời. Chúng tôi hoảng hốt không hiểu chuyện gì. Khi nhà vua hỏi tin tức, người ta tâu: ‘Tể tướng của huynh ngài đã sát hại ngài ấy cùng binh lính, đem đại quân đến đánh chiếm kinh thành bất ngờ, dân chúng không chống cự nổi nên đã đầu hàng.’

Tôi tự nhủ: ‘Nếu rơi vào tay hắn, chắc chắn hắn sẽ giết ta.’ Nỗi đau sầu chồng chất, tôi nghĩ đến những hoạn nạn của phụ thân mẫu thân, chẳng biết xoay sở thế nào bởi nếu xuất hiện, người trong thành sẽ nhận ra, còn binh lính của cha sẽ tìm cách tiêu diệt. Cách duy nhất để trốn chạy là cạo râu. Thế là tôi cạo sạch râu, thay đổi y phục, trốn khỏi kinh thành và đến với chốn bình yên Baghdád này, với hy vọng được yết kiến Thủ lĩnh của các tín đồ, Khaleefeh của Chúa tể muôn loài để giãi bày câu chuyện của mình. Tôi đến kinh thành này đêm nay, đang lúc ngẩn ngơ không biết đi về đâu thì gặp vị khất thực này, chúng tôi chào hỏi và nhận ra nhau đều là khách lữ hành. Đang lúc trò chuyện thì người thứ ba này tiến lại gần, và rồi định mệnh đưa lối cho tất cả chúng ta đến ngôi nhà này... Đó là nguyên do việc tôi cạo râu và mất một con mắt.”

Nàng thiếu nữ liền bảo: “Hãy tự vỗ đầu rồi đi đi.” Nhưng hắn đáp: “Tôi sẽ không đi cho đến khi nghe xong câu chuyện của những người còn lại.” Họ ngạc nhiên trước câu chuyện của hắn. Khaleefeh bảo Jaạfar: “Thề là ta chưa bao giờ nghe câu chuyện nào giống như thế này.”

Vị khất thực thứ hai bước lên, cúi rạp hôn đất và thưa:

“Thưa tiểu thư, bẩm sinh tôi không phải kẻ chột mắt, câu chuyện của tôi vô cùng kỳ lạ và nếu được ghi chép lại sẽ là bài học sâu sắc. Tôi là vua và là con của vua. Tôi thông thạo kinh Ḳurán theo bảy cách đọc, nghiên cứu nhiều tác phẩm dưới sự dìu dắt của các bậc học giả danh tiếng, học chiêm tinh, thi ca và tinh thông mọi lĩnh vực vượt qua cả người cùng thời. Chữ viết của tôi được các thư lại ca tụng, danh tiếng vang dội khắp các nước và các đời vua.

Nhà vua Ấn Độ nghe danh đã thỉnh cầu phụ thân cho tôi sang thăm, gửi tặng nhiều sính lễ và cống vật trân quý xứng tầm hoàng gia. Phụ thân chuẩn bị cho tôi sáu chiến thuyền, chúng tôi lênh đênh trên biển suốt một tháng trời rồi cập bến. Sau khi dỡ ngựa mang theo cùng mười con lạc đạc chở cống vật, chúng tôi lên đường. Chẳng bao lâu sau, một đám mây bụi cuồn cuộn bay lên phủ kín bầu trời trước mặt. Khi bụi tan bớt, chúng tôi bàng hoàng thấy giữa đám mây là sáu mươi kỵ sĩ dữ tợn như sư tử—đó là bọn cướp đường Ả Rập.

Thấy đoàn chúng tôi thưa thớt với mười tải cống vật tiến cống vua Ấn Độ, chúng phi ngựa tới, chĩa thẳng giáo về phía chúng tôi. Chúng tôi xua tay ra hiệu: ‘Chúng tôi là sứ thần đến yết kiến Quốc vương Ấn Độ đáng kính, xin đừng làm tổn hại.’ Nhưng chúng đáp: ‘Chúng tôi không ở lãnh thổ hay dưới quyền trị vì của hắn.’ Chúng tàn sát một số lính trẻ, số còn lại tháo chạy. Tôi cũng chạy thoát sau khi nhận một vết thương nặng, còn bọn cướp mặc sức thu gom kho báu và cống vật.

Tôi lầm lũi bước đi không định hướng, từ một kẻ quyền uy rơi xuống vực sâu khốn cùng, lê bước đến đỉnh núi và ẩn náu trong một hang động qua đêm. Sáng hôm sau, tôi tiếp tục hành trình đến một thành phố trù phú khi mùa đông buốt giá vừa qua nhường chỗ cho mùa xuân trăm hoa đua nở. Tôi mừng rỡ bước vào thành trong cảnh mệt mỏi, lo âu và xanh xao. Không biết nương náu nơi đâu, tôi tiến lại chỗ một thợ may đang ngồi trong tiệm, cất tiếng chào. Ông đáp lễ, niềm nở chào mừng và hỏi han nguyên do tôi đến đây. Tôi bèn kể lại đầu đuôi sự việc. Ông tỏ lòng thương xót và bảo: ‘Hỡi chàng trai, chớ nên tiết lộ thân thế, ta sợ vua thành này sẽ hại cậu vì ngài vốn là kẻ thù không đội trời chung với phụ thân cậu, giữa họ có mối thù máu mủ.’

Ông dọn thức ăn thức uống cho tôi, chúng tôi cùng ăn và trò chuyện đến tối. Ông cho tôi ngủ ở góc tiệm, mang chăn đệm tới. Sau ba ngày ở lại, ông hỏi: ‘Cậu có biết nghề gì để kiếm sống không?’ Tôi đáp: ‘Tôi thông thạo luật pháp, nghiên cứu khoa học, biết viết lách và tính toán.’ Ông thở dài: ‘Nghề của cậu chẳng kiếm ra tiền ở xứ này đâu. Trong thành không ai biết khoa học hay chữ nghĩa, họ chỉ biết kiếm tiền thôi.’ Tôi đáp: ‘Quả thật tôi chẳng biết gì ngoài những điều đã kể.’ Ông bảo: ‘Vậy hãy thắt lưng, cầm rìu và thừng vào sa mạc đốn củi mưu sinh cho qua cơn hoạn nạn, nhưng chớ kể thân thế cho ai nghe kẻo bị sát hại.’

Ông mua giùm tôi một chiếc rìu và sợi thừng, gửi gắm tôi đi cùng một nhóm thợ đốn củi. Tôi theo họ vào rừng, đốn củi vác về thành bán được nửa đồng vàng, một nửa mua thức ăn, số còn lại dành dụm.

Cứ thế suốt một năm trời. Một hôm, tôi vào sa mạc đốn củi theo thói quen và tìm được một khu rừng rậm rạp. Tôi đến bên một gốc cây và bắt đầu đào bới xung quanh. Khi đang gạt lớp đất ở rễ, rìu tôi va phải một vòng bằng đồng. Tôi bới sạch đất xung quanh thì thấy nó được gắn vào một tấm cửa sập bằng gỗ, liền dùng tay nhấc bỗng lên. Bên dưới là một bậc cầu thang dẫn xuống. Tôi bước xuống và mở cánh cửa dưới đáy, sững sờ trước một cung điện nguy nga. Ở đó có một thiếu nữ đẹp tựa trân châu quý hiếm, nhan sắc đủ sức xua tan mọi lo âu, sầu muộn trong lòng.

Thấy nàng, tôi sụp lạy tôn vinh Đấng Tạo Hóa đã ban cho dung nhan tuyệt mỹ ấy. Nàng ngước nhìn tôi và hỏi: ‘Ngươi là người hay thần Jinnee?’ Tôi đáp: ‘Tôi là con người.’ Nàng hỏi tiếp: ‘Ai đã đưa ngươi đến chốn này—nơi ta đã sống suốt hai mươi lăm năm qua mà chưa từng thấy bóng dáng con người?’

Giọng nói ngọt ngào của nàng khiến tôi sảng khoái, tôi đáp: ‘Hỡi tiểu thư, chính Allah đã đưa tôi đến chốn này và hy vọng ngài sẽ chấm dứt nỗi lo âu phiền muộn của tôi,’ rồi kể lại đầu đuôi câu chuyện. Nàng tỏ lòng thương xót, khóc và bảo: ‘Ta cũng sẽ kể cho ngươi nghe câu chuyện của ta.’

‘Ta là con gái của Quốc vương miền viễn xứ Ấn Độ, chúa tể Đảo Mun Muội (Ebony Island). Phụ thân gả ta cho con trai của bác, nhưng vào đêm tân hôn, một tên 'Efreet tên là Jarjarees—con trai của Rejmoos, con trai của Iblees—đã bắt cóc ta bay vút lên không trung và thả xuống chốn này. Hắn mang đến đây mọi thứ cần thiết cho ta như trang sức, y phục, lụa là, đồ đạc, thức ăn nước uống. Cứ mười ngày hắn đến thăm ta một lần và ở lại đây qua đêm. Hắn dặn ta rằng nếu cần bất cứ thứ gì ngày hay đêm, hãy dùng tay chạm vào hai dòng chữ khắc trên vòm cubbeh này, vừa nhấc tay lên là hắn xuất hiện trước mặt. Hôm nay đã là ngày thứ tư hắn rời đi, nghĩa là còn sáu ngày nữa hắn mới quay lại. Ngươi có muốn ở lại đây năm ngày và rời đi trước khi hắn tới một ngày không?’

Tôi mừng rỡ đáp: ‘Vâng.’ Nàng đứng dậy nắm tay tôi dẫn qua cánh cửa vòm vào một căn phòng tắm nhỏ xinh xắn. Tôi cởi áo quần trong lúc nàng ngồi trên nệm. Xong, nàng ngồi cạnh tôi, mang ra thứ sherbet đường pha xạ hương mời uống, rồi dọn thức ăn. Sau khi ăn uống trò chuyện, nàng bảo: ‘Hãy ngủ và nghỉ ngơi đi, vì ngươi đã mệt nhọc.’

Tôi chìm vào giấc ngủ, thưa tiểu thư, quên bẵng mọi gian truân. Khi tỉnh dậy, tôi thấy nàng đang xoa bóp đôi chân cho mình. Tôi gọi nàng dậy, chúng tôi trò chuyện hồi lâu. Nàng thổ lộ: ‘Thề có Allah, ta vô cùng bức bối khi phải sống ở đây một mình suốt hai mươi lăm năm qua chẳng có ai trò chuyện. Ngợi ca Allah đã phái ngươi đến bên ta.’

Tôi cảm ơn những lời ngọt ngào ấy. Tình yêu dành cho nàng ngập tràn trái tim, mọi lo âu phiền muộn tan biến. Chúng tôi cùng chè chén và tôi ở lại bên nàng suốt đêm, say đắm trong hạnh phúc chưa từng có trong đời. Sáng hôm sau, ngập tràn sung sướng, tôi bảo: ‘Ta có thể đưa nàng ra khỏi chốn ngầm này và giải thoát khỏi tên Jinnee không?’

Nàng mỉm cười đáp: ‘Hãy bằng lòng và im lặng đi, mười ngày thì một ngày dành cho 'Efreet, còn chín ngày thuộc về ngươi.’

Nhưng bị cơn thịnh nộ và khao khát che mờ lý trí, tôi khăng khăng: ‘Ngay lúc này ta sẽ đập nát vòm cubbeh khắc chữ này, cứ để tên 'Efreet xuất hiện rồi ta sẽ tiêu diệt hắn, vì ta đã được định sẵn là kẻ hạ sát bọn 'Efreet.’ Nàng van nài tôi dừng lại, nhưng bất chấp lời khuyên, tôi giậm mạnh chân vào vòm cubbeh. Ngay lập tức, nàng kêu lên: ‘Tên 'Efreet đã tới rồi! Ta chẳng phải đã cảnh cáo ngươi sao? Quả thực ngươi đã mang họa vào thân, hãy tự cứu lấy mình và trốn bằng lối cũ!’

Trong cơn hoảng loạn tột độ, tôi quên cả dép lẫn rìu. Khi vừa leo lên được hai bậc thang, ngoảnh lại tìm đồ thì thấy mặt đất nứt toác, một tên 'Efreet gớm ghiếc ngoi lên gầm gừ: ‘Cái thứ náo động quấy rầy ta này là gì, và tai họa nào giáng xuống ngươi thế?’ Nàng đáp: ‘Chẳng có tai họa nào cả, chỉ là lòng ta bức bối muốn uống chút rượu cho khuây khỏa, khi đứng dậy ta vô tình vấp phải vòm cubbeh.’

Hắn quát: ‘Ngươi nói dối, đồ đàn bà vô liêm sỉ!’—rút mắt nhìn quanh cung điện trái phải, hắn nhìn thấy chiếc dép và cây rìu, liền chỉ vào đó bảo nàng: ‘Đây là đồ của đàn ông. Ai đã bén mảng đến đây?’ Nàng đáp: ‘Tôi thấy nó lúc nào đâu, chắc lúc anh quăng đâu đây dính vào chứ gì.’

Hắn gầm lên: ‘Thứ ngôn từ xằng bậy này không lừa được ta đâu!’ Nói đoạn, hắn lột sạch xiêm y của nàng, trói chặt tay chân dang rộng vào bốn chiếc cọc rồi giáng roi tra khảo nàng phải khai nhận.

Bản thân tôi không chịu nổi tiếng thét của nàng liền hớt hải leo lên bậc thang, đậy tấm cửa sập lại và lấp đất lên trên. Tôi vô cùng hối hận vì hành động dại dột của mình, nghĩ đến nhan sắc tuyệt trần của nàng và việc gã khốn nạn đang tra tấn nàng chỉ vì tôi, lại nghĩ đến thân phận ti tiện hiện tại của mình, tôi ngâm nga:

Khi định mệnh mang đến cho ngươi nghịch cảnh,

Hãy tự an ủi rằng có ngày ngươi sẽ thấy vinh quang, và ngày khác là chông gai.

Trở về tiệm người thợ may, tôi thấy ông đang ngóng chờ như ngồi trên đống lửa. Ông thở phào: ‘Cậu đi đâu qua đêm nay khiến tim tôi thắt lại vì sợ dã thú hoặc tai ương. Tạ ơn Allah vì cậu đã bình an trở lại.’ Tôi cảm ơn sự quan tâm của ông, lui về phòng ngẫm nghĩ và tự trách mình. Sáng hôm sau, người thợ may hớt hải bước vào bảo: ‘Có một kẻ ngoại quốc đang đứng ở tiệm hỏi tìm cậu, hắn cầm theo cây rìu và đôi dép của cậu. Hắn mang chúng đến chỗ thợ đốn củi và hỏi thăm chủ nhân.’

Nghe thế, mặt tôi cắt không còn giọt máu. Ngay khoảnh khắc đó, nền phòng nứt toác và tên lạ mặt ngoi lên—chính là gã 'Efreet! Hắn đã tra tấn nàng thiếu nữ dã man nhưng nàng chẳng khai nửa lời. Hắn cầm theo chiếc rìu và đôi dép nói với nàng: ‘Nếu ta thực là Jarjarees cháu chắt của Iblees, ta sẽ lôi bằng được chủ nhân của những thứ này ra đây.’

Hắn đến chỗ thợ đốn củi dò la, rồi xông thẳng vào phòng tôi, chộp lấy tôi bay vút lên không trung, lao xuống lòng đất và trồi lên cung điện cũ.

Ở đó, tôi thấy thiếu nữ mình trần trụi, máu tuảy ròng ròng bên mạn sườn. Nước mắt tôi trào ra. Tên 'Efreet túm lấy nàng gầm lên: ‘Đồ đàn bà đê tiện, đây chính là nhân tình của ngươi!’ Nàng ngước nhìn tôi đáp: ‘Tôi không quen hắn, chưa từng thấy hắn cho đến giây phút này.’ Hắn nhếu mép: ‘Tra tấn nhường này mà ngươi vẫn không chịu nhận sao?’ Nàng khẳng định: ‘Thề có Allah, chưa bao giờ trong đời tôi thấy hắn, không luật nào cho phép tôi nói dối vu oan cho hắn.’

Tên 'Efreet liền bảo: ‘Nếu ngươi không quen hắn, hãy cầm thanh gươm này chém đầu hắn đi.’ Nàng cầm gươm, bước đến đứng trên đầu tôi. Tôi ngước lên rớm lệ ra hiệu bằng lông mày. Nàng cũng đáp lời qua ánh mắt: ‘Chính ngươi là kẻ gây ra nông nỗi này cho ta!’ Tôi lại ra hiệu bảo rằng đây là lúc cần sự khoan dung, truyền tải ý nghĩa qua câu thơ của thi nhân:

Tín hiệu trong tình yêu của chúng ta là cái liếc mắt;

Và kẻ trí tuệ nào cũng hiểu được tín hiệu ấy.

Hàng lông mày thay lời trò chuyện giữa chúng ta,

Ta lặng câm, nhưng tình yêu đang cất lời.

Khi hiểu ý tôi, nàng thưa tiểu thư, buông rơi thanh gươm xuống đất. Tên 'Efreet nhặt lên đưa cho tôi và bảo: ‘Hãy chém đầu nó đi, ta sẽ tha mạng và không làm hại ngươi.’

Tôi đáp: ‘Xin vâng.’ Tôi vội vã bước tới giơ tay định chém, nhưng nàng lại ra hiệu như muốn nói: ‘Ta có làm gì tổn hại ngươi đâu?’ Nước mắt tôi giàn giụa, buông thõng thanh gươm thưa rằng: ‘Hỡi tên 'Efreet dũng mãnh, nếu một người phụ nữ kém trí tuệ và đạo đức còn thấy việc chém đầu người vô tội là sai trái, thì hà cớ gì tôi lại làm thế với một người chưa từng quen biết? Tôi quyết không làm dẫu có phải uống chén cay đắng của cái chết.’

Tên 'Efreet gầm lên: ‘Giữa tụi mày quả nhiên có gian tình!’ Đoạn hắn cầm gươm chém đứt một bàn tay của nàng, rồi bàn tay kia, tiếp đó là chân phải và chân trái. Chỉ với bốn nhát gươm hắn cắt đứt tứ chi của nàng trong lúc tôi đứng trân trân chờ chết.

Nàng liếc mắt ra hiệu lần cuối. Tên 'Efreet thấy vậy quát lên: ‘Giờ thì mày lại gian dâm bằng ánh mắt à!’—và giáng một nhát chém bay đầu nàng. Xong xuôi, hắn quay sang tôi:

‘Hỡi con người, luật của chúng ta cho phép xử tử vợ nếu gian dâm. Ta bắt cóc ả vào đêm tân hôn khi mới mười hai tuổi, ả chưa từng biết ai ngoài ta và ta chỉ đến thăm mười ngày một lần. Nay ta đã trừ khử kẻ phản bội. Còn ngươi, dù ta chưa có bằng chứng ngươi thông dâm với ả, nhưng ngươi không thể vô tội thoát thân. Hãy chọn đi, ngươi muốn ta trừng phạt thế nào?’

Nghe thế, thưa tiểu thư, tôi mừng rỡ khôn tả và khao khát được tha mạng nên thưa: ‘Tôi xin chọn lòng khoan dung từ tay ngài.’ Hắn hỏi: ‘Ngươi muốn ta biến thành hình thù gì: chó, lừa hay khỉ?’

Tôi sụp lạy van nài: ‘Xin ngài hãy tha thứ, Allah sẽ báo đáp ngài vì lòng thương xót dành cho một tín đồ Muslim vô tội.’ Rồi tôi nài nỉ: ‘Xin hãy dung tha cho tôi hệt như người bị hại từng dung tha cho kẻ ghen ghét mình.’ Hắn hỏi: ‘Chuyện đó thế nào?’ Tôi bèn kể lại câu chuyện:

‘Thưa đại nhân, thuở ấy có một người bị kẻ láng giềng ghen ghét. Kẻ kia càng ghen ghét bao nhiêu, Allah lại càng ban phước cho sự thịnh vượng của người nọ bấy nhiêu. Nhận ra kẻ láng giềng không chịu buông tha, người nọ bèn dọn đến một nơi hoang vắng có chiếc giếng cạn, xây một am thờ và chuyên tâm thờ phụng Allah. Đông đảo các tín đồ Faḳeer tụ tập quanh ông, tiếng tăm đồn xa khiến người tứ phương kéo đến tôn kính.

Tin đồn đến tai kẻ láng giềng ghen ghét. Hắn lội ngựa đến viếng thăm. Người nọ niềm nở đón tiếp, lịch sự vô cùng. Kẻ ghen ghét bảo: ‘Tôi đến đây để mách nước cho anh một việc có lợi và tích phước.’ Người kia đáp: ‘Cầu mong Allah ban phước cho anh.’ Kẻ tiểu nhân bảo: ‘Hãy giải tán đám Faḳeer về am của họ, vì điều tôi sắp nói đây không muốn lọt tai ai.’

Đợi họ tản đi, kẻ ghen ghét bảo: ‘Nào, đi dạo và trò chuyện với tôi.’ Cả hai đi đến miệng giếng hoang, hắn bất ngờ đẩy người kia xuống giếng rồi bỏ đi, đinh ninh đối thủ đã mất mạng.

Nhưng chiếc giếng này là nơi sinh sống của tộc Jinn. Họ nâng người rơi xuống, đặt lên một tảng đá lớn vô sự và hỏi: ‘Ngươi là ai?’—‘Ta là người trốn kẻ ghen ghét đến đây tu hành, đọc kinh cầu nguyện cho chúng sinh.’ Một tên nói: ‘Đêm nay danh tiếng của hắn đã đến tai Quốc vương thành này, người đang lo lắng vì cô con gái bị điên.’ ‘Bệnh gì thế?’ ‘Do Meymoon con trai Demdem đem lòng yêu nàng. Cách chữa đơn giản lắm.’ ‘Làm thế nào?’ ‘Con mèo đen ở am thờ của hắn có chỏm đuôi đốm trắng bằng đồng bạc. Lấy bảy sợi lông ở đốm trắng ấy xông khói cho công chúa, con quỷ Márid sẽ bỏ đi ngay lập tức và nàng khỏi bệnh.’

Sáng hôm sau, các tín đồ Faḳeer ngỡ ngàng thấy vị tu sĩ trèo lên từ đáy giếng. Ông liền nhổ bảy sợi lông đuôi mèo cất vào túi. Lúc mặt trời mọc, nhà vua đến am thưa: ‘Hỡi tu sĩ đức hạnh, xin hãy chữa bệnh cho công chúa.’ Tu sĩ bảo: ‘Hãy cho người đón nàng đến đây.’

Khi công chúa được đưa tới trong cảnh bị trói, tu sĩ treo rèm che rồi lấy lông mèo ra xông khói. Tên Márid thét lên rồi bay khỏi đầu nàng, công chúa tỉnh táo trở lại, kéo màn che mặt hỏi phụ thân: ‘Con đang ở đâu thế này?’ Nhà vua mừng rỡ ôm lấy nàng, sụp lạy vị tu sĩ và hỏi các triều thần cách tạ ơn. Họ đáp: ‘Hãy gả công chúa cho ngài.’ Nhà vua gả con gái cho tu sĩ, rồi sau đó qua đời, ngài lên ngôi vua.

Một ngày nọ, khi vị vua từng bị ghen ghét đang cưỡi ngựa duyệt binh, ngài nhìn thấy kẻ láng giềng tồi tệ thuở xưa đang đi tới. Ngài lập tức cho mời hắn lên cỗ ngựa danh giá, đưa về cung điện ban thưởng một ngàn đồng vàng cùng xiêm y láng lự, sai lính tống tiễn về nhà mà không hề trách cứ nửa lời.’

Hãy nhìn xem, hỡi tên 'Efreet, sự khoan dung và lòng nhân hậu của người bị hại đối với kẻ thù hại mình dẫu hắn tồi tệ thế nào.”

Nghe xong câu chuyện, 'Efreet đáp: “Đừng nói dài dòng nữa. Chuyện tha mạng cho ngươi thì đừng có mơ, nhưng chuyện ta biến ngươi thành hình thù khác thì không thể tránh khỏi.” Nói đoạn, hắn vung tay xé toác mặt đất, túm lấy tôi bay vút lên bầu trời cao chót vót đến mức nhìn xuống mặt đất chỉ bằng cái bát nước. Đoạn hắn đáp xuống đỉnh núi, bốc một nhúm bụi lầm bầm chú nguyền rồi rẩy lên người tôi: “Hãy biến thành hình con khỉ!”

Ngay lập tức, tôi hóa thành một con khỉ già nua trăm tuổi. Nhìn thân hình gớm ghiếc, tôi òa khóc tự thương phận mình nhưng đành nhẫn nhịn trước sự cay nghiệt của định mệnh. Tôi lủi thủi rời đỉnh núi, hành trình ròng rã một tháng trời thì ra đến bờ biển. Nhìn thấy một con thuyền đang rẽ sóng cập bờ, tôi trốn sau tảng đá. Khi thuyền áp sát, tôi lấy hết đà tung mình nhảy phắt lên boong.

Vừa thấy tôi, thủy thủ đoàn hoảng hốt la làng: “Quăng con quái vật xui xẻo này xuống biển!”—kẻ thì đòi giết, người vung gươm chém. Tôi vội vã túm lấy lưỡi gươm, nước mắt giàn giụa. Thấy vậy, viên thuyền trưởng động lòng can thiệp: “Hỡi các thương nhân, con khỉ này đã cầu cứu ta, ta ban cho nó sự bảo bọc, không ai được làm hại nó.”

Từ đó, tôi theo đoàn tàu. Hắn đối xử tử tế với tôi, những gì hắn ra hiệu tôi đều hiểu và hoàn thành xuất sắc vai trò người phục vụ.

Chúng tôi lênh đênh suối năm mươi ngày với gió thuận thì thả neo ở một thành phố lớn đông đúc người sinh sống mà chỉ Allah mới đếm xuể. Khi vừa neo tàu, có các sứ giả memlooks của Quốc vương đến chúc mừng thương nhân cập bến an toàn, mang theo một cuộn giấy yêu cầu mỗi thương nhân viết một dòng chữ lên đó. Nguyên nhân là vì vị Tể tướng tài hoa của nhà vua vừa qua đời, và nhà vua thề sẽ không chọn ai thay thế nếu không viết chữ đẹp tương đương.

Dù mang thân hình con khỉ, tôi vẫn đứng dậy giật lấy cuộn giấy từ tay họ. Sợ tôi xé rách ném xuống biển, họ la ó đòi giết. Tôi khua tay ra hiệu mình biết viết. Thuyền trưởng can thiệp: “Cứ để nó viết, nếu nó vẽ bậy ta sẽ đuổi cổ, còn nếu viết đẹp ta sẽ nhận làm con nuôi vì chưa từng thấy con khỉ nào thông minh thế này.”

Tôi cầm bút, xin mực và viết một câu thơ theo phong cách thư pháp:

Danh tiếng đã ghi lại những phẩm hạnh của bậc cao quý;

Nhưng chẳng ai đếm xuể những đức hạnh của ngài.

Cầu xin Allah chớ tước đi vị phụ thân như thế của nhân gian,

Bởi ngài chính là cội nguồn của mọi sự tuyệt mỹ.

Rồi bằng nét chữ trang trọng hơn, tôi viết tiếp:

Chẳng có người viết nào không mai một, chỉ những gì tay viết mới trường tồn.

Vậy nên chớ viết gì ngoài những điều làm ngài hoan hỉ khi đối mặt ngày Phán xét.

Tôi viết thêm hai mẫu chữ khác nhỏ hơn rồi trả cuộn giấy lại cho các sứ giả. Họ mang về dâng nhà vua. Xem qua các nét chữ, nhà vua không ưng bất kỳ ai ngoài nét chữ của tôi, ngài liền ra lệnh: “Hãy tìm tác giả của nét chữ này, khoác lên mình bộ xiêm y, cho cưỡi lừa và dàn nhạc cồng chiêng dẫn đường rước về hoàng cung.”

Nghe lệnh ấy, các sứ giả bật cười. Nhà vua tức giận quát: “Ta ra lệnh sao các ngươi dám cười?” Họ đáp: “Thưa bệ hạ, chúng thần không cười lệnh ngài, mà cười vì kẻ viết những dòng này là một con khỉ chứ không phải con cháu Adam, nó đang ở chỗ viên thuyền trưởng mới cập bến.”

Nhà vua ngạc nhiên tột độ, run lên vì sung sướng và phán: “Ta muốn mua con khỉ này.” Ngài sai sứ giả mang xiêm y và lừa ra tàu rước tôi về. Khi đến nơi, họ khoác áo cho tôi, đưa lên lưng lừa trong sự ngỡ ngàng của đám đông tụ tập xem náo nhiệt.

Khi được dẫn yết kiến nhà vua, tôi sụp lạy ba lần. Ngài ra hiệu cho tôi ngồi xuống. Tôi quỳ gối trước sự kinh ngạc của triều thần và nhất là nhà vua. Ngài ra lệnh cho tất cả lui ra, chỉ giữ lại một hoạn quan, một memlook trẻ và tôi.

Nhà vua cho dọn tiệc với những món ăn thịnh soạn đẹp mắt, rồi ra hiệu bảo tôi ăn. Tôi đứng dậy sụp lạy bảy lần rồi ngồi vào bàn ăn cùng ngài. Khi dọn mâm, tôi rửa tay, xin bút mực giấy và viết hai câu thơ:

Nỗi khát khao ta dành cho ngươi lớn lắm, hỡi Kunáfeh!

Ta chẳng thể hạnh phúc hay chịu đựng nổi nếu thiếu ngươi.

Hãy là món ăn của ta mỗi ngày mỗi đêm,

Và xin đừng thiếu những giọt mật ngọt ngào rưới lên ngươi.

Xong, tôi lùi về ngồi một góc. Nhà vua đọc những dòng tôi viết với vẻ kinh ngạc tột độ, thốt lên: “Làm sao một con khỉ lại sở hữu sự trôi chảy và tài thư pháp siêu việt thế này? Quả là kỳ quan của kỳ quan!”

Đoạn ngài bảo hoạn quan: “Hãy đến chỗ ái nữ truyền lệnh bảo nó đến đây để chiêm ngưỡng con khỉ kỳ diệu này.” Hoạn quan đi rồi quay lại cùng công chúa. Vừa nhìn thấy tôi, nàng kéo khăn che mặt trách: “Thưa phụ thân, sao ngài lại gọi con đến đây để cho người lạ thấy mặt?” Nhà vua đáp: “Nào có ai lạ ngoài memlook, hoạn quan nuôi con và con khỉ này, cùng ta là phụ thân của con. Con che mặt làm gì?”

Nàng phán: “Con khỉ này thực chất là con trai của một vị vua tên Eymár. Nó bị phù phép bởi tên 'Efreet Jarjarees dòng dõi Iblees, kẻ đã sát hại vợ hắn là con gái vua Aḳnámoos. Kẻ ngài tưởng là khỉ thực ra là một bậc trí thức thông thái.”

Nhà vua kinh ngạc quay sang hỏi tôi: “Những gì ái nữ ta nói có thật không?” Tôi rớm lệ gật đầu. Nhà vua hỏi con gái: “Làm thế nào con biết nó bị yểm báp?”

Nàng đáp: “Thưa phụ thân, thuở nhỏ con được một mụ phù thủy già dạy cho nghệ thuật bùa phép. Con thông thạo một trăm bảy mươi cách, trong đó có thể bốc đá kinh thành này quăng qua núi Ḳáf, biến nền thành vực sâu đại dương hay hóa dân chúng thành cá.”

Nhà vua mừng rỡ: “Vậy nhân danh Allah, hãy giải nguyền cho chàng trai này để ta phong làm Tể tướng. Sao con có tài năng thế mà ta không biết? Hãy cứu chàng để ta trọng dụng.”

Nàng đáp: “Vâng ạ.” Nàng cầm một con dao khắc danh tự tiếng Hơ-brơ, vẽ một vòng tròn ngay giữa cung điện, viết bùa chú và lầm rầm niệm chú ngữ. Ngay lập tức, không gian xung quanh chìm vào bóng tối mịt mùng tưởng chừng tận thế, rồi 'Efreet xuất hiện trong hình thù gớm ghiếc: tay như dĩa sảy lúa, chân như cột buồm, mắt như ngọn đuốc cháy rực khiến chúng tôi khiếp đảm.

Công chúa thét lên: “Đồ khốn nạn không chào đón mày!” 'Efreet hóa thành hình con sư tử gầm lên: “Đồ phản bội, mày dám phá vỡ lời thề sao? Chẳng phải ta thề không xâm phạm lẫn nhau à?” Nàng đáp: “Mày thề thốt hồi nào chứ!”

Sư tử gầm lên: “Nhận lấy hậu quả đi!”—rồi há ngoác miệng lao vào nàng. Nàng nhanh như cắt nhổ một sợi tóc lầm rầm niệm chú, sợi tóc biến thành thanh gươm sắc bén chém đứt đôi con sư tử. Nhưng cái đầu của nó lập tức biến thành con bọ cạp. Công chúa hóa thành con rắn lớn trườn theo con bọ cạp. Cuộc chiến ác liệt nổ ra: bọ cạp hóa đại bàng, rắn hóa kèn kén đuổi bắt nhau; đại bàng hóa mèo đen, công chúa hóa chó sói quần thảo dữ dội cho đến khi mèo đen yếu thế biến thành quả lựu đỏ rớt xuống hồ nước.

Chó sói hóa gà trống lao xuống mổ từng hạt lựu để không sót hạt nào. Nhưng theo định mệnh, một hạt lựu vẫn ẩn náu bên bờ hồ. Gà trống vỗ cánh gào thét ra hiệu cho chúng tôi nhưng không ai hiểu. Nó chạy quanh tìm kiếm rồi phát hiện hạt lựu nấp bên mép hồ, lao tới mổ nhưng trượt rớt tõm xuống nước hóa thành con cá. Gà trống cũng biến thành con cá lớn nhảy ùm xuống nước đuổi theo.

Một lát sau, chúng tôi nghe tiếng thét đinh tai nhức óc. 'Efreet ngoi lên như cột lửa phun ra từ miệng và mắt mũi, công chúa cũng biến thành một khối lửa khổng lồ. Chúng tôi hoảng sợ suýt nhảy xuống nước trốn. Bỗng công chúa thét lên từ giữa ngọn lửa, lao vào 'Efreet trên bệ leewán, phun lửa vào mặt nhau. Những tia lửa văng tung tóe: tia của nàng vô hại, nhưng tia của hắn bay trúng mắt trái hủy hoại nó khi tôi vẫn mang hình thù con khỉ, một tia khác bén vào mặt nhà vua thiêu rụi một nửa bộ râu và rụng hết răng hàm dưới, tia khác bén vào ngực hoạn quan khiến hắn chết ngay tại chỗ.

Chúng tôi tuyệt vọng chờ chết. Bỗng vang lên tiếng hô: “Allah vĩ đại nhất! Ngài đã chiến thắng và phù trợ, tiêu diệt kẻ chối bỏ đức tin của Muhammad—bậc tối cao nhân loại!”

Người cất tiếng hô ấy chính là công chúa. Nàng đã thiêu cháy 'Efreet và khi chúng tôi nhìn lại, hắn đã hóa thành một đống tro tàn.

Nàng tiến lại bảo: “Mang cho ta chén nước.” Khi người ta đem tới, nàng niệm chú rồi rẩy lên người tôi: “Nhân danh danh tính Chân Lý và danh tính vĩ đại nhất của Allah, hãy phục hồi nguyên hình!” Ngay lập tức, tôi trở lại là đàn ông như trước, chỉ có điều mất đi con mắt trái.

Đoạn nàng gào khóc: “Lửa! Lửa! Thưa phụ thân, con không sống nổi nữa, con bị định mệnh tước đoạt sinh mạng. Nếu hắn là người phàm, con đã hạ sát từ phút đầu. Nhưng số phận đã định...” Đoạn ngài khóc nức nở, ngọn lửa bén vào ngực rồi lên mặt nàng. Nàng thầm đọc câu kinh tuyên xưng đức tin rồi hóa thành một đống tro tàn bên cạnh đống tro của 'Efreet.

Chúng tôi vô cùng thương xót. Nhà vua đau đớn bứt rứt râu tóc, vả vào mặt, xé áo, tôi cũng làm y như vậy. Quan lại kéo đến bàng hoàng thấy nhà vua bất tỉnh trước hai đống tro tàn. Khi tỉnh lại, ngài kể lại mọi sự. Khóc lóc tang chế kéo dài bảy ngày bảy đêm. Sau đó, nhà vua ra lệnh xây lăng mộ lộng lẫy trên tro tàn của con gái thắp nến sáng trưng, còn tro của 'Efreet thì quăng theo gió cho nguyền rủa.

Nhà vua lâm bệnh suốt một tháng trời rồi bình phục. Khi gọi tôi tới, ngài bảo: “Hỡi chàng trai, chúng ta vốn sống hạnh phúc bình yên cho đến khi cậu bước chân vào mang theo tai họa. Giá như ta không gặp cậu và cái thân hình gớm ghiếc mang lại tang tóc này: ta mất con gái, mất răng, mất hoạn quan... nhưng đó là định mệnh. Tạ ơn Allah vì con gái ta đã cứu cậu dẫu nó thiệt mạng. Giờ hãy rời khỏi kinh thành của ta, đi đi bình an.”

Thế là tôi từ biệt nhà vua, ra đi sau khi cạo sạch râu. Tôi lang thang qua bao xứ sở để tìm về kinh thành bình yên Baghdád này, với hy vọng được yết kiến Thủ lĩnh các tín đồ để giãi bày mọi bi kịch.”

Vị khất thực thứ ba bước lên và cất lời kể:

“Hỡi tiểu thư lừng danh, câu chuyện của tôi không giống hai người bạn đồng hành, mà còn kỳ lạ hơn. Định mệnh đưa đẩy họ vào những tai ương không tài nào tránh khỏi, còn việc tôi cạo râu và mất một con mắt hoàn toàn do sự bồng bột thách thức vận rủi của chính mình.

Tôi là vua, con của vua. Khi phụ thân qua đời, tôi lên ngôi trị vì nhân dân nhân từ công bằng. Tôi có sở thích đi du ngoạn biển. Kinh đô của tôi nằm bên bờ biển lớn rải rác các hòn đảo kiên cố. Tôi dẫn đầu hạm đội mười chiến thuyền mang đủ lương thực đi thăm thú các hòn đảo suốt một tháng.

Đi được hai mươi ngày thì bão táp nổi lên, nhưng rồi trời quang mây tạnh, biển bình yên. Chúng tôi cập một hòn đảo nấu nướng ăn uống rồi ở lại hai ngày. Tiếp tục hải trình, hai mươi ngày sau, chúng tôi lạc vào vùng biển lạ lẫm mà viên thuyền trưởng chưa từng thấy. Hắn sai lính canh leo lên đỉnh cột buồm quan sát. Lính canh leo lên rồi hớt hải chạy xuống báo: ‘Tôi thấy bên tay phải cá nổi lề bềnh trên mặt nước, và giữa biển khơi có vật gì đó lờ mờ lúc đen lúc trắng.’

Nghe báo cáo, thuyền trưởng quăng khăn v turban xuống boong, bứt râu khóc lóc: ‘Tất cả chúng ta tiêu đời rồi, không ai sống sót đâu!’ Mọi người hoảng loạn khóc than. Tôi gặng hỏi nguyên do. Hắn tâu: ‘Thưa chúa công, chúng ta đã lạc hướng từ trận bão trước. Ngày mai chúng ta sẽ trôi đến một ngọn núi đá đen gọi là đá nam châm (loadstone). Dòng hải lưu đang đẩy chúng ta mạnh mẽ về đó, thuyền sẽ vỡ vụn và mọi chiếc đinh sắt sẽ bay dính chặt vào núi bởi Allah ban cho nó từ tính hút sắt. Từ cổ chí kim bao nhiêu tàu thuyền đã thiệt mạng vì ngọn núi này.’

‘Trên đỉnh núi có một ngôi vòm bằng đồng trụ chống bởi mười cột, bên trên có kỵ sĩ cưỡi ngựa bằng đồng tay cầm giáo đồng, ngực đeo tấm bảng chì khắc bùa chú bí ẩn. Chừng nào kỵ sĩ ấy chưa ngã ngựa thì mọi tàu thuyền đi qua đều sẽ bị hút vỡ nát. Không ai thoát được cho đến khi kỵ sĩ rơi xuống.’ Thuyền trưởng khóc lóc thảm thiết, chúng tôi tuyệt vọng ôm nhau từ biệt.

Sáng hôm sau, tàu trôi sát ngọn núi. Dòng nước xiết đẩy chúng tôi lao vào, các con tàu vỡ tung tóa, đinh ốc bằng sắt bay vút dính chặt vào vách đá nam châm. Đa phần thủy thủ đoàn chết đuối, một số ít may mắn sống sót dạt vào đâu chẳng rõ. Riêng tôi, Allah đã tha mạng cho tôi vì những đọa đày chờ đợi phía trước.

Tôi bám vào một tấm ván và sóng đánh dạt lên núi. Khi lên bờ, tôi tìm thấy một lối mòn bậc thang đục sẵn trên đá, liền lẩm bẩm ‘Nhân danh Allah!’ rồi khấn vứa bám vào các bậc đá leo lên. Cùng lúc đó, Allah cho dứt gió bão giúp tôi leo lên đỉnh an toàn.

Mừng rỡ thoát nạn, tôi bước vào vòm đồng hành lễ hai rak'ah tạ ơn Allah rồi ngủ thiếp đi dưới mái vòm. Trong giấc mơ, tôi nghe tiếng vang vọng: ‘Hỡi con trai của Khaṣeeb, khi tỉnh giấc, hãy đào dưới chân mình, ngươi sẽ tìm thấy một chiếc cung bằng đồng và ba mũi tên bằng chì khắc bùa chú. Hãy dùng nó bắn hạ kỵ sĩ trên đỉnh vòm để cứu nhân loại khỏi tai ương này. Kỵ sĩ và cung tên sẽ rơi xuống biển, hãy chôn chiếc cung xuống chỗ cũ. Ngay khi đó, nước biển sẽ dâng trào ngập đỉnh núi. Sẽ có một chiếc thuyền chở một người đàn ông chèo mái chèo tiến đến đón ngươi. Hãy bước lên thuyền nhưng tuyệt đối CHỚ CÓ THỐT LÊN DANH TÍNH ALLAH. Hắn sẽ đưa ngươi đến vùng biển an toàn trong mười ngày.’

Tỉnh giấc, tôi làm y hệt lời dặn. Tôi bắn hạ kỵ sĩ, hắn rơi xuống biển cùng chiếc cung, tôi liền chôn cung xuống đất. Biển dâng trào ngập đỉnh núi. Chẳng bao lâu sau, một chiếc thuyền xuất hiện chở theo một người đàn ông bằng đồng ngực đeo bảng chì khắc bùa. Tôi lặng lẽ bước lên thuyền không thốt một lời. Hắn chèo suốt mười ngày thì đưa tôi đến vùng biển an toàn. Thấy những hòn đảo quen thuộc, vì quá sung sướng tôi quên bẵng lời dặn, thốt lên: ‘Nhân danh Allah! Chẳng có thần linh nào ngoài Allah! Allah vĩ đại nhất!’

Vừa dứt lời, hắn hất phăng tôi xuống biển rồi chìm nghỉm.

Vốn biết bơi, tôi bơi suốt đến tối mịt trong cảnh cơ thể mỏi nhừ, đọc kinh tuyên xưng đức tin phó mặc cho số phận. Bỗng ngọn sóng lớn như tòa lâu đài hất tôi lên bờ. Tôi vắt khô quần áo, phơi khô rồi ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau, tôi mặc đồ lên đường khám phá và thấy một vùng cây cối um tùm. Đi vòng quanh mới biết mình đang ở trên một hòn đảo nhỏ giữa đại dương. Tôi tự nhủ: ‘Hết thoát nạn này ta lại rơi vào hiểm họa khác.’

Đang chán chường muốn chết, tôi thấy một con thuyền chở đầy người cập bờ. Mười tên nô lệ da đen vác rìu bước xuống, đi vào giữa đảo đào bới mở tấm cửa sập. Chúng liên tục chuyển từ thuyền lên đủ thứ lương thực như bánh mì, bột, bơ, mật ong, cừu... cho đến khi dọn sạch kho trên tàu. Sau đó, chúng dìu một ông lão tiều tụy vì tuổi già cùng một thiếu niên đẹp tuyệt trần như đúc từ khuôn mẫu thanh tú nhất—một cành non mơn mởn đốn tim bất cứ ai—đi xuống căn hầm rồi lấp đất lại, lên thuyền rời đi.

Tôi trèo xuống, mở cửa sập bước theo chiếc thang gỗ xuống một căn phòng trang hoàng lộng lẫy thảm lụa. Cậu thiếu niên đang ngồi trên nệm cao bày biện trái cây hoa thơm. Thấy tôi, mặt cậu tái mét. Tôi chào và an ủi: ‘Đừng sợ, hỡi ánh mắt của ta, ta là hoàng tử giống như cậu, định mệnh đưa ta đến để bầu bạn với cậu.’

Nghe vậy, cậu mừng rỡ lấy lại sắc hồng, mời tôi ngồi xuống kể chuyện: ‘Cha tôi là thợ kim hoàn giàu có, chuyên giao du với các vị vua nhưng hiếm muộn. Ông nằm mơ thấy sẽ có con trai nhưng yểu mệnh, ông tỉnh dậy đau buồn. Sau đó quả nhiên mẫu thân sinh ra tôi. Các nhà chiêm tinh phán: “Con trai ngài sẽ sống mười five tuổi. Định mệnh gắn liền với ngọn núi đá nam châm có kỵ sĩ bằng đồng; khi kỵ sĩ ấy ngã ngựa, hoàng tử sẽ bị sát hại bởi chính kẻ đã bắn hạ kỵ sĩ đó—tên là Vua 'Ajeeb con trai Vua Khaṣeeb.”’

‘Cha tôi vô cùng đau đớn. Khi tôi gần tròn mười lăm tuổi, các nhà chiêm tinh báo tin kỵ sĩ đã bị Vua 'Ajeeb bắn hạ. Ngay lập tức, ông xây căn hầm này nhốt tôi ở đây mười ngày cuối cùng để trốn tránh.'

Nghe đến đây, tôi chết sững thốt lên trong lòng: ‘Ta chính là Vua 'Ajeeb con trai Vua Khaṣeeb, kẻ đã bắn hạ kỵ sĩ ấy! Nhưng thề có Allah, ta quyết không làm hại cậu.’ Tôi trấn an cậu: ‘Sẽ không có tai ương nào xảy ra nếu Allah muốn, ta sẽ ở lại hầu hạ và đưa cậu về với phụ thân.’ Cậu mừng rỡ, chúng tôi trò chuyện vui vẻ suốt đêm.

Tôi phục vụ cậu chín ngày liền. Đến ngày thứ mười, cậu mừng rỡ vì sắp vượt qua kiếp nạn, bảo tôi: ‘Hỡi anh, hãy đun giúp tôi ít nước ấm để tắm giặt thay bộ đồ sạch sẽ, vì tôi ngửi thấy mùi chiến thắng cái chết nhờ anh.’ Tôi vâng lời đun nước. Cậu bước vào phòng kín tắm gội rồi trở ra nằm lên nệm. Cậu bảo: ‘Hãy cắt giúp tôi một quả dưa hấu trộn đường nhé.’

Tôi đứng dậy lấy quả dưa đặt lên đĩa, hỏi: ‘Con dao đâu rồi hỡi chủ nhân?’ Cậu đáp: ‘Kìa, trên chiếc kệ phía trên đầu tôi.’ Tôi vội vã với tay lấy con dao khỏi bao, nhưng ngặt nỗi chân trượt ngã nhào lên người cậu, lưỡi dao cắm phập vào ngực khiến cậu tử vong ngay lập tức.

Nhận ra mình đã lỡ tay sát hại cậu, tôi gào thét, vả vào mặt, xé áo than khóc: ‘Thật là đại họa! Ôi lạy Chúa, con xin Người tha thứ và tuyên bố vô tội trước cái chết của cậu ấy! Giá như con chết trước...’

Tôi trèo lên bậc thang, đậy cửa sập rồi trốn lên cây cao. Chẳng bao lâu sau, con thuyền cũ quay lại. Bọn nô lệ cùng ông lão bước xuống hầm, bàng hoàng phát hiện thi thể thiếu niên với con dao cắm ngực. Ông lão ngất xỉu dài. Khi tỉnh lại, họ ôm thi thể cậu lên thuyền rời đi.

Tôi ở lại ẩn náu trong cây suốt hai tháng. Thấy thủy triều rút dần về phía tây lộ ra vùng đất khô cạn, tôi mừng rỡ băng qua bãi cát dài. Nhìn xa xa thấy ánh lửa, tôi tiến lại gần thì phát hiện một cung điện dát đồng phản chiếu ánh mặt trời chói chang như lửa cháy. Đang ngẩn ngơ thì có một ông lão cùng mười người trẻ tuổi đều bị chột mắt trái tiến lại gần chào hỏi tôi. Tôi kể lại toàn bộ câu chuyện khiến họ kinh ngạc.

Họ dẫn tôi vào cung điện có mười chiếc ghế đệm phủ vải xanh. Mọi người ngồi vào ghế, ông lão dọn thức ăn và rượu. Ăn uống xong xuôi đến giờ ngủ, các thanh niên bảo ông lão: ‘Hãy mang nguồn cung ứng quen thuộc ra đây.’ Ông lão bước vào phòng nhỏ mang ra mười chiếc khay phủ kín. Thắp mười ngọn nến cắm lên khay rồi mở ra, bên dưới toàn là tro tàn trộn than giã nhỏ.

Bọn thanh niên vén tay áo, bôi đen mặt, vả vào má khóc lóc: ‘Chúng ta từng sống an nhàn sung sướng, chính sự tò mò xấc láo đã hủy hoại điều đó!’ Họ làm thế suốt đêm. Sáng hôm sau, ông lão mang nước nóng cho họ rửa mặt thay đồ.

Chứng kiến cảnh tượng quái dị đó, lý trí tôi rối bời quên cả bi kịch bản thân, gặng hỏi nguyên do. Họ đáp: ‘Hỡi chàng trai, chớ hỏi chuyện không liên quan, hãy giữ im lặng để được an toàn.’

Tôi ở lại trọn một tháng. Hằng đêm họ vẫn lặp lại nghi thức ấy. Cuối cùng, tôi nài nỉ: ‘Tôi van nài các vị hãy giải tỏa thắc mắc này, nếu không tôi sẽ bỏ đi, tục ngữ có câu: “Mắt không thấy thì tim không đau.”’

Họ thở dài: ‘Chúng tôi giấu cậu vì lo cho sự an toàn của cậu, sợ cậu sẽ chuốc lấy bi kịch như chúng tôi.’ Nhưng tôi vẫn khăng khăng đòi biết. Họ bảo: ‘Nếu cậu cố tình, hãy nhớ rằng cậu sẽ bị trục xuất khỏi đây.’

Họ bắt một con cừu, lột da rồi bảo tôi: ‘Hãy cầm con dao này chui vào bộ da cừu, chúng tôi sẽ khâu lại rồi bỏ đi. Một con chim khổng lồ gọi là rukh’ sẽ quắp cậu bay lên núi. Tới nơi, hãy dùng dao rạch da chui ra, chim sẽ bay đi. Sau đó hãy đi bộ nửa ngày, cậu sẽ thấy một cung điện lộng lẫy dát vàng đính ngọc ngà. Bước vào đó, số phận cậu sẽ y hệt chúng tôi—nguyên nhân khiến chúng tôi đều bị chột mắt trái.’

Họ khâu tôi vào bộ da cừu. Chẳng mấy chốc, một con chim khổng lồ màu trắng sà xuống quắp lấy tôi bay vút lên núi rồi thả xuống. Tôi rạch da chui ra, con chim liền bay mất. Tôi hối hả tiến về cung điện đúng như họ mô tả.

Khi bước vào trong sảnh, tôi sững sỡ thấy bốn mươi thiếu nữ xinh đẹp như trăng rầm mặc trang phục lộng lẫy. Vừa thấy tôi, họ hoan hỉ chào: ‘Hoan hô! Chào mừng chủ nhân và chúa tể! Chúng tôi mong ngợi cậu suốt tháng nay. Ngợi ca Allah đã ban phước đưa đến một người xứng đáng với chúng tôi!’

Họ mời tôi ngồi lên nệm êm ái, phán: ‘Từ nay cậu là chủ nhân, chúng tôi là tì nữ phục tùng tuyệt đối.’ Họ dọn y tiệc thịnh soạn, rượu ngon. Các nàng vây quanh múa hát, chén thù chén tù khiến tôi quên sạch mọi ưu phiền trần thế, thốt lên: ‘Đây mới là cuộc đời thiên đường!’

Sáng hôm sau tôi vào phòng tắm, được thay bộ xiêm y quý giá nhất và tiếp tục chè chén. Cuộc sống vương giả kéo dài suốt một năm trời. Nhưng vào ngày đầu tiên của năm mới, các nàng bỗng vây quanh tôi khóc lóc thảm thiết, bám lấy tà áo đòi từ biệt.

‘Tai họa gì thế này? Các nàng đang làm tan nát tim tôi đấy,’ tôi hoảng hốt. Họ khóc nức nở: ‘Giá như chúng tôi đừng gặp cậu... Xin Allah chớ tước đi sự đồng hành của cậu.’ Tôi gặng hỏi nguyên do. Họ đáp: ‘Cậu chính là nguyên nhân. Nếu tuân thủ lời chúng tôi dặn, chúng ta sẽ mãi bên nhau, còn nếu phạm lỗi, chúng ta sẽ vĩnh viễn chia lìa, và linh cảm mách bảo chúng tôi cậu sẽ không nghe lời.’

‘Hãy nói đi, tôi xin tuân thủ.’ Họ bảo: ‘Chúng tôi là con gái các vị vua, tụ họp ở đây và cứ mỗi năm lại vắng nhà trong bốn mươi ngày. Giờ chúng tôi phải đi. Chúng tôi trao cho cậu một trăm chiếc chìa khóa mở một trăm căn phòng. Cậu có thể mở bất cứ phòng nào để giải trí ăn uống, NGOẠI TRỪ CĂN PHÒNG CÓ CÁNH CỬA DÁT VÀNG ĐỎ. Nếu mở phòng đó, chúng ta sẽ vĩnh viễn vỡ tan hạnh phúc. Xin hãy hứa giữ lời.’

Tôi thề độc sẽ không bao giờ bén mảng đến căn phòng đó, rồi họ lên đường. Một mình trong cung điện, khi màn đêm buông xuống, tôi bắt đầu mở căn phòng thứ nhất. Bên trong là một khu vườn tuyệt mỹ với cây trái trĩu quả, chim muôn hót vang và dòng suối mát lành. Tôi dạo chơi ngắm hoa nghe chim ca ngợi Đấng Tối Cao. Xong xuôi, tôi khóa lại và mở căn phòng thứ hai: một vùng trồng toàn cọ, hoa nhài, thủy tiên, cẩm chướng thơm ngát. Lại khóa lại, mở phòng thứ ba: một sảnh lớn lát cẩm thạch quý hiếm, lồng chim trầm hương nhốt chim ca hót vui tai.

Cứ thế tôi khám phá hết phòng này đến phòng khác cho đến ngày thứ ba mươi chín, khi đã mở chín mươi chín căn phòng, chỉ còn đúng căn phòng bị cấm. Con quỷ ma mãnh bèn trỗi dậy kích động sự tò mò muốn kéo tôi xuống vực sâu bất hạnh. Dù chỉ còn đúng một ngày là các nàng trở về, tôi vẫn không kiềm chế nổi bản thân. Tiến lại căn phòng cửa vàng đỏ, tôi vặn khóa đẩy cửa bước vào.

Một mùi hương thơm ngào ngạt chưa từng thấy tỏa ra khiến tôi choáng váng ngã lăn ra bất tỉnh. Hồi lâu sau tỉnh lại, tôi lấy lại can đảm bước vào tiếp. Sàn nhà rải nghệ tây, căn phòng sáng rực nhờ đèn vàng và nến thơm xạ hương, long diên hương. Tôi nhìn thấy một con tuấn mã màu đen tuyền như màn đêm, đứng trước máng ăn bằng thủy tinh trắng đựng đầy mè sạch, và một máng khác đựng nước hoa hồng pha xạ hương. Nó mang yên cương bằng vàng đỏ.

Kinh ngạc trước con vật, tôi thầm nghĩ: ‘Đây chắc chắn là sinh vật phi thường.’ Bị quỷ dữ xui khiến, tôi dắt nó ra định leo lên cưỡi. Nó đứng im bất động. Tôi giậm gót chân thúc mạnh, nó vẫn trơ trơ. Bực mình, tôi cầm roi da miḳra'ahs quất mạnh vào mông nó. Vừa dội roi, nó cất tiếng kêu rền vang như sấm, tung đôi cánh bay vút lên bầu trời cao thăm thẳm rồi đáp xuống mái của một cung điện khác.

Tại đó, nó hất văng tôi xuống và vung chiếc đuôi quất phăng một bên mắt trái của tôi bay ra ngoài, rồi bỏ bay mất dạng.

Đau đớn lê lết bò xuống, tôi gặp lại mười gã chột mắt thuở trước. Vừa thấy tôi, họ lạnh lùng thét: ‘Không chào đón ngươi!’ Tôi van nài: ‘Hãy cho tôi nhập bọn.’ Nhưng họ cự tuyệt: ‘Thề có Allah, ngươi đừng hòng ở lại.’ Thế là tôi lủi thủi rời đi trong tim đau đớn, mắt rớm lệ, và rồi định mệnh đưa lối cho tôi lế thế về Baghdád này sau khi đã cạo râu hóa thành kẻ khất thực.”

Nữ chủ nhân ngôi nhà quay sang nhìn Khaleefeh, Jaạfar và Mesroor, bảo: “Hãy khai cho ta nghe thân thế của các ngươi.”

Jaạfar bước lên kể lại câu chuyện giả mạo y hệt như đã thưa với nàng hầu cửa trước khi bước vào nhà. Nghe xong, nàng tuyên bố phóng thích tất cả bọn họ. Mọi người cúi đầu tạ ơn bước ra phố. Khi ra đến ngoài, Khaleefeh hỏi ba gã khất thực muốn đi đâu. Họ đáp không có chốn nương thân. Khaleefeh bèn bảo họ theo đoàn của mình, rồi ra lệnh cho Jaạfar: “Hãy đưa họ về nhà ngươi, ngày mai dẫn họ diện kiến ta để phân xử.” Jaạfar tuân lệnh, còn Khaleefeh hồi cung nhưng trằn trọc suốt đêm không chợp mắt.

Sáng hôm sau, ngài ngự trên ngai vàng. Khi triều thần lui ra hết chỉ còn lại Jaạfar, ngài truyền: “Hãy dẫn ba thiếu nữ, hai con chó cái và bọn khất thực vào đây.” Jaạfar tuân lệnh, bố trí các thiếu nữ đứng sau màn che và thưa: “Chúng tôi đã tha thứ cho các cô vì lòng nhân hậu trước đây và vì các cô không nhận ra chúng tôi. Nay ta tuyên bố rằng các cô đang diện kiến vị Khaleefeh đời thứ năm dòng tộc El-'Abbás—Hároon Er-Rasheed. Do đó hãy nói sự thật.”

Khi nghe Jaạfar nhắc đến Khaleefeh, người chị cả bước lên tâu:

“Thưa Thủ lĩnh các tín đồ, câu chuyện của tôi vô cùng kỳ lạ. Hai con chó cái kia chính là hai người em cùng cha khác mẹ của tôi, còn tôi là em út. Sau khi phụ thân qua đời để lại năm ngàn đồng vàng, hai chị kết hôn và mang theo mỗi người một ngàn đồng vốn của vợ cùng chồng đi buôn phương xa, bỏ lại tôi ở nhà. Bốn năm sau, chồng họ phá sản, nhẫn tâm bỏ rơi họ ở xứ lạ, khiến họ phải lết về nhà tôi trong bộ dạng hành khất.

Ban đầu tôi không nhận ra, nhưng khi nhận ra, tôi thốt lên: ‘Sao lại nông nỗi này?’ Họ khóc: ‘Chẳng còn ích gì khi hỏi nữa em à, bút tích của Thượng đế đã định đoạt rồi.’ Tôi đưa họ đi tắm gội, sắm sửa xiêm y và bảo: ‘Các chị lớn tuổi, em nhỏ tuổi, hãy xem như cha mẹ. Tài sản cha để lại em chia đều, hãy cùng hưởng thụ vì công việc làm ăn của em rất phát đạt.’

Tôi đối xử vô cùng tử tế. Suốt một năm trời họ chung sống, giàu lên nhờ số vốn tôi cho. Nhưng sau đó họ lại đòi tái giá: ‘Chúng tôi không thể sống thiếu đàn ông được.’ Tôi khuyên can: ‘Các chị đã thấy khổ vì hôn nhân rồi đấy, thời buổi này tìm được người chồng tốt khó lắm.’ Nhưng họ bất chấp, tự ý kết hôn. Tôi vẫn chu đáo sính lễ từ tiền túi của mình và bảo vệ họ.

Chẳng bao lâu sau, những gã chồng mới lại lừa gạt sạch sành sành rồi bỏ trốn, đẩy họ vào cảnh khốn cùng. Họ lại lê thân tàn tạ trở về xin tha thứ: ‘Xin đừng giận, dù em nhỏ tuổi nhưng sáng suốt hơn chúng tôi, chúng tôi thề không bao giờ nhắc đến chuyện chồng con nữa.’ Tôi mỉm cười đón nhận: ‘Chào mừng các chị, không ai quý giá hơn các chị đối với em.’

Chúng tôi sống hạnh phúc được một năm. Sau đó, tôi quyết định hường vốn đóng tàu ra khơi buôn bán. Tôi hỏi các ý kiến các chị: ‘Các chị muốn ở nhà hay đi cùng chuyến hải trình với em?’ Họ đáp: ‘Chúng tôi đi theo, không thể rời xa em.’ Thế là tôi chia gia tài làm đôi: một nửa mang theo, một nửa giấu kín trong nhà và tự nhủ: ‘Biết đâu tàu gặp nạn, ta may mắn sống sót trở về vẫn còn vốn liếng mưu sinh.’

Chúng tôi lênh đênh ngày đêm cho đến khi thuyền lạc hướng. Thuyền trưởng không biết đang trôi về đâu, lạc vào một vùng biển lạ suốt mười ngày thì thấy lờ mờ một thành phố ở chân trời. Thuyền trưởng tâu không biết tên thành phố này vì chưa từng ghé qua bao giờ, nhưng vì tàu bình an nên cứ vào cảng bán hàng hoặc nghỉ ngơi hai ngày lấy nước ngọt.

Chúng tôi cập cảng, lên thành phố và kinh hoàng trước cảnh tượng: TẤT CẢ CƯ DÂN NƠI ĐÂY ĐÃ HÓA THÀNH ĐÁ ĐEN. Hàng hóa, vàng bạc vẫn y nguyên trong các tiệm buôn. Chúng tôi kinh ngạc tột độ trước kỳ tích ấy, rồi tản ra chiêm ngưỡng của cải.

Riêng tôi leo lên tòa thành cổ, bước vào cung điện nhà vua và thấy ngài cùng các đại thần, tể tướng đang ngồi trên ngai vàng đính ngọc trai sáng rực như sao, xung quanh là năm mươi memlooks cầm gươm tuốt trần—tất cả đều đã hóa đá đen. Bước vào hậu cung Ḥareem, tôi thấy vương hậu mặc xiêm y đính ngọc trai cũng hóa đá.

Tôi mở cánh cửa dẫn lên bảy bậc thang vào một căn phòng lát cẩm thạch tráng lệ, có chiếc bệ đá tuyết hoa. Đập vào mắt tôi là một viên ngọc sáng rực cỡ quả đà điểu tỏa ánh sáng hệt ngọn nến. Tôi trầm trồ ngắm nhìn chiếc giường bọc lụa thêu tinh xảo, xung quanh thắp sẵn nến sáng trưng. Đêm khuya, không gian tịch mịch bỗng vang lên tiếng đọc kinh Ḳurán du dương ngọt ngào.

Tôi lần theo tiếng đọc đến một căn phòng nhỏ thấy nến treo lồng lộng và trên chiếc thảm cầu nguyện có một thiếu niên tuấn tú đang đọc kinh. Kinh ngạc vì cậu thoát khỏi thảm họa chung, tôi cất tiếng chào. Cậu ngước nhìn đáp lễ. Tôi xin cậu kể lại câu chuyện về thành phố này. Cậu bảo: ‘Hãy ngồi xuống bên ta đã.’

Ngồi bên cậu, tôi ngây ngất trước nhan sắc rạng rỡ như trăng rằm, tim đập rộn ràng. Cậu khép kinh Ḳurán lại, đặt vào túi sa tanh và kể:

‘Thành phố này thuộc về phụ thân tôi—vị vua đã hóa đá mà cô vừa thấy, còn vương hậu là mẫu thân tôi. Họ theo đạo Magian tôn sùng lửa. Phụ thân tôi hiếm muộn, mãi về già mới sinh ra tôi. May mắn thay, trong hoàng tộc có một bà cụ lớn tuổi là tín đồ Muslim sùng đạo ngầm ẩn thân. Phụ thân tin tưởng giao tôi cho bà dạy dỗ kiến thức đạo đức. Bà cụ đã lén lạy truyền thụ cho tôi đạo Islam, dạy phép thanh tẩy, cầu nguyện và thuộc lòng kinh Ḳurán, dặn tôi phải tuyệt đối giữ kín để tránh bị cha sát hại. Vài ngày sau bà qua đời.

Dân chúng trong thành ngày càng ngạo mạn, chối bỏ chân lý. Khi ấy, một tiếng rao vang lên như sấm sét khắp thành: “Hỡi dân chúng, hãy từ bỏ thờ lửa và thờ phụng Đấng Tối Cao!” Dân chúng hoảng loạn kéo đến vua cha hỏi. Ngài phán: “Đừng sợ, cứ tiếp tục giữ đạo.” Họ tiếp tục ngoan cố thờ lửa thêm một năm cho đến mùa năm sau, âm thanh ấy lại vang lên lần thứ hai, rồi lần thứ ba vào năm kế tiếp. Bất chấp cảnh cáo, họ vẫn ngoan cố chống đối. Vào một buổi sáng sớm, cơn thịnh nộ của Trời giáng xuống: toàn bộ dân chúng cùng súc vật đều hóa thành đá đen. Chỉ duy nhất một mình tôi sống sót, chuyên tâm tụng kinh niệm phuộc cho đến ngày cô bước vào đây.’

Nghe xong, tôi đề nghị: ‘Cậu có muốn theo tôi về Baghdád để yết kiến các học giả nâng cao kiến thức không? Tôi sẽ làm vợ cậu dẫu tôi là chủ nhân gia đình. Tôi có tàu chở đầy hàng hóa.’ Sau hồi thuyết phục, cậu gả đồng ý. Đêm đó tôi ngủ say giấc nồng dưới chân cậu trong hạnh phúc ngập tràn.

Sáng hôm sau, chúng tôi thu gom của cải quý giá từ kho báu rồi rởi hoàng cung ra cảng gặp lại thủy thủ đoàn. Họ mừng rỡ khi thấy tôi bình an và kinh ngạc trước câu chuyện kỳ bí. Nhưng hai người chị cùng cha khác mẹ của tôi lại đâm ra ganh tị, nảy sinh tâm địa độc ác hãm hại tôi.

Chúng tôi nhổ neo xuôi buồm trở về. Trên tàu, hai người chị giả vờ ngọt ngào hỏi: ‘Em tính làm gì với chàng trai khôi ngô này?’ Tôi đáp: ‘Em muốn lấy cậu ấy làm chồng.’ Họ gật gù: ‘Quyết định tuyệt vời.’ Nhưng trong lòng họ cưu mang dạ sói.

Thuyền rời vùng biển hiểm nguy, tiến vào vùng biển an toàn để hướng về Baṣrah. Khi đêm xuống, lúc tôi và chàng thiếu niên đang ngủ say, hai ác phụ đã nhấc bổng cả chiếc giường ném chúng tôi xuống biển. Cậu thiếu niên không biết bơi nên đã chết đuối—Allah ghi nhận cậu vào hàng ngũ các tử đạo, còn tôi được ơn trên cứu mạng khi trôi dạt vào một hòn đảo nhờ bám vào tấm ván.”

Nàng tiếp tục kể về việc gặp con rắn được cứu mạng trả ơn ra sao, cách con rắn trả thù hóa phép hai người chị ác độc thành chó cái và bắt nàng phải đánh chúng ba trăm roi mỗi ngày, nếu không sẽ bị nguyền rủa y hệt.

Khaleefeh nghe xong vô cùng kinh ngạc. Ngài quay sang hỏi thiếu nữ thứ hai về những vết roi hằn trên lưng. Nàng thưa:

“Thưa Thủ lĩnh các tín đồ, phụ thân tôi qua đời để lại gia sản lớn. Tôi kết hôn với một đại gia giàu có. Sau một năm chung sống, ông qua đời để lại cho tôi thừa kế tám mươi ngàn đồng vàng theo luật định. Tôi dùng một phần may mười bộ xiêm y trị giá mỗi bộ ngàn đồng vàng.

Một hôm, có một bà lão gớm ghiếc đến thăm, thưa rằng: ‘Tôi có đứa con gái mồ côi tối nay tổ chức lễ cưới, xin ngài thương tình đến tham dự để tích phước.’ Bà khóc lóc hôn chân tôi. Động lòng trắc ẩn, tôi đồng ý. Bà dặn tối nay sẽ quay lại đón.

Tối đến, khi tôi đã chuẩn bị xong, bà lão quay lại dẫn tôi đến một con phố lộng gió, qua cổng vòm cẩm thạch tráng lệ dẫn vào cung điện nguy nga chạm mây. Bước vào trong qua hành lang rực rỡ nến và ngọc ngà, tôi đến một sảnh lớn xa hoa. Từ trong màn sa tanh, một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần bước ra đón chào: ‘Hoan hô chị yêu, em rất vui khi chị đến.’

Nàng bảo: ‘Em có một người anh trai đã nhìn thấy chị tại một buổi tiệc và đem lòng say đắm. Hắn đã sai bà lão này đến mời chị. Hắn muốn cưới chị theo luật Allah.’ Nhìn quanh thấy mình đã lọt vào tròng không thể trốn thoát, tôi đành đáp: ‘Xin vâng.’ Nàng mừng rỡ vỗ tay mở cửa bước ra một chàng trai khôi ngô tuấn tú vô song khiến tôi lập tức xiêu lòng.

Khál-ee và bốn nhân chứng bước vào làm lễ kết hôn. Xong xuôi họ lui ra. Chàng trai quay sang tôi thưa: ‘Chúc đêm nay an lành.’ Đoạn chàng bắt tôi thề độc đặt tay lên kinh Ḳurán: ‘Hãy thề sẽ không bao giờ tơ tưởng hay hướng về bất kỳ người đàn ông nào khác ngoài anh.’ Tôi thề xong, chàng ôm chặt lấy tôi trong hạnh phúc ngập tràn.

Chúng tôi sống hạnh phúc suốt một tháng. Một hôm, tôi xin phép ra bázár mua vải vợ. Được chồng đồng ý, tôi đi cùng bà lão đến tiệm của một thương nhân trẻ quen biết. Khi hắn mang vải ra, bà lão buông lời nịnh bợ, nhưng tôi giục xem hàng nhanh để về. Hắn đưa ra những tấm vải đẹp, chúng tôi trao tiền nhưng hắn từ chối: ‘Đây là quà hiếu khách dâng lên các ngài hôm nay.’

Tôi bảo bà lão trả tiền lại nhưng hắn kiên quyết từ chối: ‘Thề có Allah, tôi không nhận tiền đâu, tôi chỉ xin một nụ hôn làm quà, đổi lại tôi hiến dâng cả tiệm này.’ Bà lão xúi giục: ‘Có mất mát gì đâu con, hôn một cái rồi lấy đồ về.’ Tôi cương quyết từ chối vì đã thề nguyền. Bà ta nài nỉ: ‘Cứ để hắn hôn mà con không cần nói gì là được chứ gì.’

Bị bà ta dụ dỗ lừa phỉnh, tôi đành nhắm mắt, kéo khăn che mặt lại để tránh người qua đường. Hắn áp môi vào má tôi, nhưng thay vì hôn nhẹ, hắn dùng hàm răng cắn rách một mảng má tôi đau điếng khiến tôi ngất xỉu. Khi tỉnh lại, tiệm đã đóng cửa, bà lão an ủi: ‘Chuyện xui xẻo qua rồi, về nhà con cứ giả vờ đau ốm, ta sẽ đến chữa lành vết thương cho.’

Trở về nhà trong hoảng loạn, tôi giả vờ lâm bệnh. Chồng tôi về hỏi: ‘Em làm sao thế?’ Tôi đáp: ‘Em không khỏe.’—‘Thế vết thương rách trên má em là gì thế?’ Tôi viện cớ: ‘Khi em ra phố mua đồ, một con lạc đạc chở củi đâm sầm vào giữa đám đông xé rách khăn và cào rách má em.’

Hắn phẫn nộ: ‘Ngày mai ta sẽ kiện quan sát hạt xử tử toàn bộ kẻ bán củi trong thành!’ Tôi hoảng hốt can ngăn: ‘Xin đừng gây lụy cho ai, thực ra em cưỡi lừa bị hoảng sợ ngã xuống đất va phải cành cây.’ Hắn gầm lên: ‘Vậy ngày mai ta sẽ đến gặp Jaạfar El-Barmekee tâu sự việc để hắn giết sạch lũ nài lừa!’—‘Chẳng lẽ anh muốn giết bao người vô tội vì tai nạn định mệnh của em sao?’

Hắn nổi giận lôi đình quát lớn, giật thốc tôi ngã nhấp nhô giữa phòng. Cánh cửa mở toang, bảy tên nô lệ da đen xông ra đè nghiến tôi xuống. Hắn ra lệnh: ‘Saạd, hãy rút gươm chém đôi ả ra rồi quăng xuống sông Tigris cho cá ăn, đó là hình phạt cho kẻ phản bội lời thề!’

Tên nô lệ rút gươm tuốt trần bảo: ‘Hãy đọc lời tuyên xưng đức tin và trăn trối đi, đây là tận thế của ngươi.’ Tôi khóc lóc quỳ sụp xuống ngâm nga câu thơ:

Anh làm em say đắm rồi thản nhiên bỏ mặc.

Anh để mi em thao thức còn mình chìm vào giấc nồng.

Nhà anh ngự trị giữa tim và mắt em,

Lòng em chẳng thể buông anh, nước mắt chẳng thể giấu xiết niềm sầu.

Anh từng thề giữ trọn thủy chung, nhưng khi đoạt được trái tim em, anh lừa dối.

Anh chẳng xót thương tình yêu và tiếng thở than này sao?

Thề có Allah, nếu em chết, hãy khắc lên mộ chí: Đây là tì nữ của tình yêu!

Biết đâu người thương đau cùng cảnh ngộ sẽ đi ngang dâng trào niềm thương cảm.

Nghe những câu thơ đó, hắn càng nổi giận đùng đùng đáp lại bằng câu thơ phũ phàng:

Ta không ruồng bỏ người yêu vì chán ngán, chính tội lỗi của nàng chuốc lấy hình phạt.

Nàng muốn kẻ khác chia sẻ tình yêu, nhưng lòng ta nào chấp nhận chung đụng.

Tôi tiếp tục van nài khóc lóc, cho đến khi bà lão chạy vào sụp lạy van xin: ‘Hỡi con trai, xin vì ơn nuôi nấng mà tha thứ cho con bé, nó dại dột không đáng bị trừng phạt thế.’ Sau hồi nài nỉ, hắn dịu giọng: ‘Ta tha mạng, nhưng nó phải mang dấu vết tội lỗi suốt đời.’

Hắn ra lệnh lột xiêm y, dùng roi quất tơi bời lưng và sườn cho đến khi tôi ngất lịm đi. Đêm đến, hắn sai nô lệ quăng tôi về ngôi nhà cũ. Tôi tự mình chạy chữa vết thương ròng rã suốt bốn tháng trời cho đến khi lành lặn, nhưng trên da thịt vẫn hằn in vết roi đòn.

Khi quay lại tìm ngôi nhà cũ thì nó đã thành đống đổ nát hoang tàn. Tôi đành đến nương náu ở nhà người em gái cùng cha khác mẹ—chính là người đang nuôi hai con chó cái. Nghe tôi kể chuyện, em ấy an ủi: ‘Ai tránh khỏi thăng trầm định mệnh, tạ ơn Allah vì giữ lại mạng sống!’ Rồi em ấy kể lại câu chuyện của mình, từ đó chúng tôi sống chung và không bao giờ nhắc đến chuyện chồng con nữa. Cho đến khi người em út chuyên đi chợ gia nhập cùng chúng tôi.”

Khaleefeh vô cùng kinh ngạc trước câu chuyện, ra lệnh ghi chép lại thành sách lưu trữ trong hoàng thư viện. Ngài hỏi thiếu nữ đầu tiên: “Ngươi có biết mụ Jinneeyeh phù thủy biến hóa chị em ngươi ở đâu không?” Nàng đáp: “Thưa Thủ lĩnh các tín đồ, mụ ấy đưa cho tôi một lọn tóc và dặn: Khi nào cần gặp hãy đốt vài sợi, mụ sẽ xuất hiện ngay dù ta ở bên kia núi Ḳáf.”

“Hãy mang lọn tóc ra đây,” Khaleefeh phán. Nàng liền mang tới. Khaleefeh cầm lấy, châm lửa đốt một phần. Lập tức mùi hương tỏa ra, cung điện rung chuyển bần bật, tiếng sấm vang rền và Jinneeyeh xuất hiện. Vốn là tín đồ Muslim, mụ cất tiếng chào: “Bình an cho ngài, hỡi Khaleefeh của Allah!” Ngài đáp lễ.

Mụ thưa: “Thiếu nữ này đã cứu mạng tôi khi hạ sát kẻ thù, tôi biết ơn khôn cùng. Thấy các chị em đối xử tệ bạc với nàng, tôi nổi giận biến họ thành chó cái. Nếu ngài muốn phục hồi cho họ, hỡi Thủ lĩnh các tín đồ, tôi xin tuân lệnh vì ngài và vì nàng.”

Khaleefeh phán: “Hãy làm thế đi, rồi chúng ta sẽ xử lý vụ việc thiếu nữ bị roi đòn, nếu minh bạch ta sẽ đòi lại công lý.” Mụ Jinneeyeh bèn lấy chén nước, đọc chú rồi rẩy lên người hai con chó cái, hô: “Hãy trở lại hình dáng con người nguyên bản!”

Ngay lập tức, hai con chó hóa thành hai thiếu nữ kiều diễm. “Ngợi ca Đấng Tạo Hóa uy quyền!” Xong xuôi, mụ Jinneeyeh tâu: “Thưa Thủ lĩnh các tín đồ, kẻ đánh đập thiếu nữ kia chính là hoàng tử El-Emeen—con trai ngài, kẻ đã nghe danh sắc nước hương trời của nàng...” rồi kể rõ đầu đuôi.

Khaleefeh ngỡ ngàng thốt lên: “Tạ ơn Allah vì việc phục hồi hai con chó cái này lại do chính tay ta thúc đẩy!” Ngay lập tức, ngài triệu tập hoàng tử El-Emeen đến gặng hỏi sự thật. Ngài cho mời các vị Ḳáḍee và nhân chứng tới. Khaleefeh gả người chị cả—thiếu nữ đầu tiên—cho vị vương tử khất thực thứ nhất; người thứ hai cho vị thứ hai; người thứ ba cho vị thứ ba. Ngài ban trọng trách làm quan thị vệ triều đình cho họ, cấp bổng lộc và cung điện xum vảy ở Baghdád.

Riêng thiếu nữ bị tra tấn roi đòn được gả trả lại cho hoàng tử El-Emeen, ban cho lượng tài sản lớn và lệnh xây lại ngôi nhà khang trang hơn trước. Cuối cùng, người em út đi chợ được Khaleefeh nạp làm phi tử, đưa vào nội cung, ban cho cung điện riêng cùng đội ngũ tì nữ hầu hạ chu đáo.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.