Phong từ chiến lũy Hàng Hòm về. Nhìn dãy nhà bên kia phố hàng Cân, anh bỗng nảy ra một ý muốn tỏ mò. Phố Hàng Cân nằm giáp với phố Hàng Đào. Từ ngày đánh nhau đến giờ, anh chưa đến phố Hàng Đào. Anh muốn nhìn lại đường phố quen thuộc này của Hà Nội. Dãy phố toàn những cửa hàng vải, hàng tơ lụa, hàng tạp hóa... Trước kia mỗi lần đi qua đây Phong thường chỉ đưa mắt nhìn những thứ hàng nhiều màu sắc, đắt tiền, bày sau ô kính choáng lộn mà không dám vào. Cũng thật lạ! Bây giờ anh đã trở thành người chủ của tất cả những đường phố này. Anh có thể vào bất cứ đâu. Mỗi một ngôi nhà thâm nghiêm, kín cổng cao tường này đã trở thành một bộ phận của công trình phòng thủ chung và mở cửa sẵn sàng đón những người đang chiến đấu bảo vệ nó. Nó góp phần nuôi sống bộ đội và tự vệ. Nguồn nước, nguồn ánh sáng, nguồn lương thực đều nằm trong những ngôi nhà phần lớn đã vắng chủ. Ở đây có cơ man những thứ mà ngày trước họ không dám ước mơ. Những súc len dạ, tơ lụa, vải vóc nước ngoài. Những bộ da lông thú đắt tiền. Những đồ hàng mỹ phẩm. Những tiện nghi sinh hoạt bằng gỗ quý mà mỗi chiếc sập, chiếc tủ chè, mỗi bộ xa long đều là một công trình mỹ nghệ... Tất cả những thứ đó ngày nay đối với họ đã trở thành vô nghĩa. Người ta đã mang tủ chừ, sập gụ ra chất đống trên đường làm vật chướng ngại. Người ta đã đem những kiện bông trắng nõn rải trên mặt đường với hy vọng bông sẽ cuốn vào xích xe tăng làm cho nó không đi được. Cái có giá trị với mọi người bây giờ là lương thực và súng đạn. Đặc biệt gần đây là đạn. Sau mấy tuần chiến đấu, đạn dược đã trở nên khan hiếm. Người ta bắt đầu tính từng viên đạn khi phát cho chiến sĩ. Phong cũng như nhiều người đã cảm thấy hối hận vì những ngày qua họ đã dùng đạn dược khá bừa bãi.
Một chiến sĩ trinh sát không thể không không thông thuộc mọi đường đi lối lại trong khu vực này. Phong tự bảo. Và anh đi băng qua một đường hào bùn lầy nhớp nháp, đào cắt ngang đường nhựa, sang dãy nhà bên kia phố Hàng Cân.
Một ngôi nhà ngỏ cửa. Gian ngoài là cửa hàng bán thuốc lào. Một cái quầy gỗ. Những cái giá hàng. Mấy chiếc thạp đựng thuốc nắp bị vứt sang bên. Chắc có người vào đây tưởng là thùng đựng gạo nên đã mở ra. Mùi thuốc lào rất gắt làm cho Phong muốn hắt hơi. Phong định lấy cho đại đội trưởng một nắm thuốc lào nhưng lại thôi: "ông ta lại nghĩ là mình đi vơ vét". Phía trong là những gian nhỏ riêng biệt, chắc của nhiều chủ khác nhau. Chỗ ở của những gia đình nghèo. Đồ đạc tồi tàn. Những chiếc chiếu rách mốc ẩm. Một chiếc màn nước đưa vẫn còn mắc trên giường... Không phải khu vực này chỉ toàn những người giàu có. Phong đi về phía sau. Bên cạnh chiếc máy nước từ lâu nước không còn chảy, đất khô rang, Phong nhìn thấy một lỗ đục tường thông qua nhà bên. Anh chui qua định đi về phía Bờ Hồ...
— Chào ngài sĩ quan!
Anh giật mình vì lời chào đột ngột bằng tiếng Pháp.
Ngẩng đầu lên, Phong thấy một ông già râu tóc bạc phơ, mặc một bộ quần áo len đắt tiền nhưng nhàu nát, cúc áo ngoài và cúc áo gi lê đã đứt hết.
— Ngài là người đến giải phóng thành phố.
Mắt ông già vằn đỏ nhìn trừng trừng. Phong toan kiếm một câu khiêm tốn để đáp lại nhưng anh cảm thấy ngượng mồm. Từ ngày quân Pháp vào, Phong đã thôi không nói tiếng Pháp nữa.
ông già lại nói tiếp bằng tiếng Pháp, giọng nói khá Tây tỏ ra người đã quen nói thứ tiếng này:
— Chúng tôi chờ đợi ngài đã lâu. Chắc là nước đại Pháp đã quên tôi rồi. Tôi đã làm việc tại dinh thống sứ Bắc Kỳ, hồi ngài Tô-lăng-xơ còn đang nhậm chức...
Phong trợn mắt nhìn ông già. Một tên Việt gian ư? Sao hắn lại có thể lầm mình với một sĩ quan Pháp?...
ông già vẫn nói như một cái máy:
— Nước đại Pháp hãy thương xót chúng tôi. Chúng tôi bị bọn giặc cỏ Việt Minh bạc đãi. Con tôi đã bị chúng bắt. Tôi bị chúng bỏ đói...
Phong đã nhận ra đó là một người điên. Một người điên không đáng để anh thương hại. Người điên, có người nói ra điều mình vẫn nghĩ mà lúc tỉnh anh ta không dám nói. Ở thành phố này chắc không ít người tư tưởng vẫn còn gắn bó với chế độ cũ như lão già này. Không biết lão làm cách nào mà vẫn sống được giữa thành phố? Ai nuôi nấng lão? Ai cho lão ăn?... Phong vung tay, sùy một cái như muốn xua đuổi cái hình ảnh ghê tởm đang hiện lên trước mặt mình, rồi bỏ đi. Tiếng rên rỉ của lão già điên vẫn đuổi theo anh: "Nước đại Pháp hãy thương xót chúng tôi...".
Phong dừng bước trước một khu vườn nhỏ. Anh không ngờ giữa những ngôi nhà chật chội, chen chúc nhau lại có một khu vườn quang đãng như thế này. Mỗi bước đất ở đây quý như vàng.
Một búi tre đằng ngà lá to, những đốt thân cây vàng óng. Những giò lan, cây cảnh cắt tỉa kỹ càng, trồng trong chậu đặt trên đôn sứ. Một bể cá lớn, những con cá vàng, cá bạc lượn lờ giữa đám rêu xanh. Hòn núi nom bộ trong bể cá là cả một công trình. Những chiếc cầu nhỏ, ngôi chùa, bác tiều phu gánh củi, ông lão ngồi câu cá được gắn rất đúng chỗ tạo nên một không kihí nửa hư nửa thực.
Phong ngồi xuống chiếc ghế đá, đặt khẩu súng cạnh người, nhìn những chiếc lá tre hình dáng thanh thoát in trên nền trời, thỉnh thoảng lại lay động cọ vào nhau phát ra những tiếng khô nháp trước làn gió heo may.
Đây hẳn là một gia đình giàu có và quyền quý. Chủ nhân đã tạo ra khu vườn này giữa chốn đô hội, phải là người có đầu óc suy tư, cần những phút giây yên tĩnh. Ngôi nhà có hai mặt chạy thông cả ra Hàng Đào và Hàng Cân. Khu vườn nằm giữa. Mặt quay ra Hàng Cân là nhà một tầng. Mặt quay ra Hàng Đào là nhà gác. Hai nhà đều có cửa ra khu vườn. Phong bỗng nảy ra một ý nghĩ: Anh có thể kiếm được ở nhà này một cuốn sách. Ngay trong những ngày chiến đấu này thỉnh thoảng vẫn có những giờ phút rảnh rỗi không biết làm gì. Đầu óc anh sẽ thanh thản lại nếu lúc đó anh được đọc mấy trang tiểu thuyết hay hoặc một bài thơ. Trong nhà hẳn phải có một tủ sách. người chủ tủ sách đó là một thanh niên đeo kính cận có bộ mặt trầm tư hoặc một cô gái ẻo lả thích văn chương, yêu những câu thơ buồn của Huy Cận.
Cửa vào ngôi nhà gác bỗng mở ra. Một người đàn bà đứng tuổi, có dáng điệu người buôn bán ở thành phố, nói với giọng lễ phép:
— Chào ông ạ.
Phong lúng túng, có cảm giác như bà ta đã theo dõi mình từ lâu, đoán được ý nghĩ của mình sắp lục lọi ngôi nhà này.
— Chào bác... Tôi cứ tưởng cả gia đình đã tản cư.
— Cô cháu vẫn ở nhà ạ. Chắc ông là tự vệ ở phố này. Mời ông quá bộ vào nhà ạ.
Vẻ trịnh trọng, săn đón của bà làm cho Phong không nỡ chối từ lời mời. Anh xách khẩu súng đứng lên, đi theo người đàn bà vào nhà.
Căn buồng hơi tối. Đây là buồng trong của ngôi nhà gác ăn ra Hàng Đào. Cánh cửa sổ nhìn ra vườn vừa được ai mở ra. ánh sáng ùa vào. Phong nhận thấy đây là buồng khách. Đồ đạc nửa cũ nửa mới. Tất thảy đều sạch sẽ. Bộ xa lông thấp lè tè có dặt những tấm nệm nhung làm cho Phong cảm thấy ngại ngùng. Đã mấy tuần nay khi ở nhà cũng như khi đi chiến đấu anh toàn mặc một bộ quần áo này.
— Mời anh ngồi ạ.
Người mời anh là một cô gái, hoặc một thiếu phụ, thân hình thon thả, vừa mở cánh cửa sổ, quay vào. Chắc đây mới là chủ nhân. Chợt anh nghe tiếng kêu:
— Trời ơi! Anh Phong...
Phong quay đầu nhìn thiếu phụ và đứng ngây người không nói được gì.
Người thiếu phụ này trước kia là tất cả đối với cuộc đời anh.
Người ta đã nói đến tiếng sét trong những cuộc gặp gỡ giữa người con trai với người con gái. Tiếng sét đó diễn ra ở lần tiếp xúc đầu tiên. Với người đàn bà này thì tiếng sét đó cứ lặp đi lặp lại. Mỗi lần gặp cô là anh khó trấn tĩnh, tự chủ.
Phong lắp bắp:
— Không ngờ... lại là Kiều Oanh!
— Dễ đến gần hai năm rồi, mới gặp lại anh?
— Vâng. Gần hai năm...
Phong bâng khuâng nhắc lại lời Kiều Oanh. Anh ngẩn ngơ nói tiếp:
— Hoàn toàn không ngờ là Kiều Oanh vẫn ở Hà Nội!
Anh nhìn bác có tuổi đang trố mắt đứng ngắm họ với vẻ vừangạc nhiên vừa mừng rỡ, không hiểu mình xưng hô như thế này có tiện không.
Bác có tuổi vui vẻ:
— Tưởng người cùng phố hóa không phải, nhưng lại là người quen!
Oanh nói:
— Bác ạ, đây là cậu giáo của cháu ngày trước... Bác có nhớ cậu giáo không?... Hồi ấy bác vẫn lại nhà cháu.
Bà có tuổi chăm chú nhìn Phong rồi mỉm cười:
— Tôi nhớ ra rồi... Hồi đó cậu giáo mặc áo lương phải không? Bây giờ gặp ngoài đường thì chịu. Thế nào mà... trông cậu giáo ngày càng trẻ ra? Hai người mà ngồi với nhau thì không ai bảo là thầy trò. Cậu Tú đi vắng, may lại gặp cậu giáo ở đây, có người nhà là hai bác cháu tôi không sợ nữa!
Phong đã bình tĩnh trở lại. Anh nói:
— Thực ra cũng không phải là thầy trò. Tôi chỉ học trên cô Oanh một vài lớp, tôi đến giúp gia đình có dăm, sáu tháng.
— Một chữ, nửa chữ còn là thầy, huống hồ anh lại dạy cháu những năm, sáu tháng...
Kiều Oanh ngập ngừng, rồi hỏi:
— Thế ra từ ngày ấy đến giờ anh vẫn ở luôn trong Hà Nội?
Phong không muốn nói dài dòng với Kiều Oanh vì sao mình lại ở đây.
— Tôi ở chỗ mẹ tôi tản cư quay về Hà Nội có chút việc thì gặp đánh nhau.
— Tự vệ...! Nhất là tự vệ thì hăng hái lắm! Anh nào cũng chỉ thích đánh Tây... Anh ăn cơm với bác cháu tôi trưa nay nhé!
Không chờ Phong trả lời, Oanh quay lại phía bà bác:
— Trưa rồi, bác cho anh Phong và cháu ăn cơm đi...
Bà bác vào nhà. Kiều Oanh nhìn Phong đang ngơ ngác vì mất chủ động.
— Tôi còn nhiều chuyện muốn nói với anh.
Cô ấy biết chắc mình sẽ phải làm theo ý kiến cô ấy. Người đàn bà này vẫn còn nguyên vẹn uy lực đối với anh. Anh nhận thấy cô đã đổi khác. Cô không còn ngây thơ như trước đây. Nước da cô xanh xao. Đôi mắt cô u buồn. Vầng trán cô chứa đựng nhiều lo lắng. Cô chủ động nhưng vẫn bối rối. Cô đang có chuyện gì cần nhờ vả đến anh. Và chuyện đó anh không thể chối từ.
Kiều Oanh hỏi anh hết chuyện này qua chuyện khác. Đêm nổ súng anh ở đâu? Từ ngày đánh nhau anh đã qua những nơi nào, làm những việc gì? Cuộc chiến này có thể dừng lại không? Tình hình này rồi sẽ ra sao?...
Hai bác cháu chăm chú lắng nghe từng lời anh kể. Thỉnh thoảng, anh mới dám đưa mắt nhìn cô gái. Anh tự bảo lần này mình phải ngắm cô thật kỹ, ghi sâu lại trong óc những đường nét thật đúng trên bộ mặt cô. Chính là vào trước ngày chiến tranh anh đã nghĩ đến điều đó anh đã đến tìm hưởng với ước muốn gặp lại cô, nhưng anh đã không toại nguyện. Lúc này, anh đã đạt được ước mơ. Nhưng cặp mắt to, những hàng mi dài, đôi môi mềm mại như những cánh sen đó là những cái gì rất khó nắm bắt. Nó vừa hiện lên thì lại mờ đi. Nó luôn luôn rung động, đổi thay. Cô ngồi trước mặt anh mà vẫn như là hiện lên trong giấc mơ. Cuối cùng, lại giống như ngày xưa, anh chỉ còn huy động hết nghị lực để giữ cho lời nói của mình mạch lạc, câu chuyện mình kể ra có đầu có cuối.
Suốt bữa cơm, Kiều Oanh không đả động đến câu chuyện mà anh đang chờ đợi. Cô không nói ra, nhưng anh chắc chắn là sẽ có chuyện đó. Anh quên khuấy không hỏi vì sao Kiều Oanh vẫn còn ở Hà Nội và tình hình gia đình cô hiện nay như thế nào.
Đã đến lúc anh phải ra về.
Kiều Oanh tiễn anh ra tới vườn. Thái độ bình thản của cô bỗng nhiên biến mất. Cô nói với anh bằng một giọng đầy nước mắt:
— Đời tôi thế là hết rồi! ở cả thành phố này, tôi chỉ còn có anh. Ngày mai thể nào cũng mời anh quay lại. Tôi chưa nói được chuyện gì với anh cả...
Phong ngồi lau súng, miệng nghêu ngao ngâm thơ. Khẩu súng mới lau hôm qua chưa dùng đến, trưa nay Phong lại mở ra lau lại.
Tuyết Mai đến bên, nhìn anh tủm tỉm:
— Anh Phong bữa nay có chuyện chi vui dữ vậy?
Phong lúng túng nhìn Mai:
— Tại sao cô lại hỏi tôi như thế?
— Từ hôm nổ súng đến nay, em mới lại nghe anh ngâm thơ. Anh ngâm mấy lần từ sáng đến giờ. Hồi ở nhà, mỗi lần ở trên gác nghe thấy anh ngâm thơ, anh Năm lại nói: "Cậu Phong lại vừa vớ được món gì!"
Phong nói cho qua:
— Không có việc làm, nghêu ngao cho đỡ buồn.
— Anh để tạm súng đó, thay quần áo lót đi, em vừa kiếm được cái thùng to, hôm nay em nấu tất cả quần áo cho các anh.
— Cô chăm nom chúng tôi hơn người mẹ chăm nom con nhỏ. Anh nào sau này lấy được cô làm vợ là người tốt phúc nhất đời!
Lần đầu Phong nói đùa Mai. Mai đỏ mặt:
— Đúng là hôm nay anh có chuyện gì vui rồi!
Không phải từ sáng hôm nay mà từ sau khi chia tay với Kiều Oanh, trong lòng anh chốc chốc lại bừng lên một niềm vui khó tả. Câu nói của Kiều Oanh trước khi anh ra về luôn luôn vang lên bên tai. Cô nói cô đang bị mất mát lớn. Cô nói ở thành phố này cô chỉ còn có anh. Cô yêu cầu anh phải trở lại với cô... Anh chưa hề dám ước ao được cô nói với mình những lời nào giống như vậy. Anh chưa biết chuyện gì đã xảy đến với gia đình cô. Anh chỉ biết là cô rất cần đến anh, cô tha thiết mong anh trở lại, và cô đang từng phút đợi chờ anh, quả thực anh muốn kéo dài những giây phút này. Anh muốn tận hưởng niềm sung sướng được cô chờ đợi mình. Có khi nào trước đây anh biết chắc chắn là vào giờ phút đó cô đang nghĩ tới mình! Anh đã mất không biết bao nhiêu thì giờ băn khoăn, suy tính mọi cách để được gặp, được nhìn thấy cô, nhưng rồi khi đến đầu xóm Hạ Hồi anh lại quay trở lại, tự mình làm tiêu tan những hy vọng của mình, và biết là những đau khổ này chẳng bao giờ được cô biết tới... Tất cả những chuyện đó bây giờ đang được bù đắp lại.
Quá trưa, Phong mới có mặt ở khu vườn nhỏ có búi tre đằng ngà và những con cá vàng, cá bạc tung tăng bơi lội. Trước khi vào đây anh đã tự bảo mình phải giữ những tình cảm hoàn toàn trong sáng đối với cô. Anh sẽ không khi nào khai thác hoàn cảnh không may của cô để giành một cái gì có lợi cho mình. Anh sẽ cố sức giúp cô những gì anh có thể giúp được. Nếu trước kia cô chưa hiểu anh bao nhiêu, thì lần này anh sẽ cố để lại một hình ảnh tốt đẹp trong đầu óc của cô.
Đôi mắt nhung đen u buồn của Kiều Oanh sáng rực lên khi nhìn thấy anh từ ngoài vườn bước vào.
— Cứ lo có chuyện gì mà anh không tới được!
Điều Phong đoán không sai. Cô đang đỏ mắt chờ anh. Phong nói:
— Trừ đó là nhiệm vụ chiến đấu bắt buộc, không thể vì lẽ gì mà tôi không tới. Về rồi, tôi mới chợt nhớ ra là tôi đã không kịp hỏi về tình hình gia đình ta hiện nay thế nào?
Ánh mắt cô tối lại:
— Đó cũng là chuyện Kiều Oanh định hôm nay sẽ nói với anh.
Cô im lặng một lúc như đắn đo tìm lời mở đầu câu chuyện. Rồi cô nói:
— Cả gia đình chồng Oanh, các cụ, các chú, các cô em đều tản cư trước ngày nổ súng. Chỉ có vợ chồng Oanh ở lại Hà Nội. Đúng tối hôm Hà Nội nổ súng thì anh Tú không về...
Phong sốt sắng:
— Kiều Oanh đã nhờ ai hỏi thăm tin tức anh Tú chưa?
— Không, anh ạ. Oanh không nhờ ai.
— Tình hình đang rất lộn xộn. tôi sẽ xem có cách nào để biết được tin tức anh Tú.
— Không cần anh ạ.
Phong ngẩn người nhìn cô. Cô lại nói:
— Kiều Oanh không có ý định nhờ anh việc đó. Anh làm việc đó sẽ không có lợi cho anh và không có lợi cho Kiều Oanh.
Phong vẫn giương mắt nhìn cô không hiểu.
— Hôm qua, anh kể là trước khi nổ súng anh gặp anh Hưởng?
Phong thú thật:
— Hai ngày trước khi nổ súng, tôi đến nhà gặp anh Hưởng với ý định hỏi thăm chỗ ở của Kiều Oanh, anh Hưởng nói là anh không biết.
— Anh ấy nói dối.
Kiều Oanh nói với vẻ nghiêm khắc. Mặt cô trở lại đăm chiêu. Hồi lâu, cô hỏi Phong:
— Anh có biết về anh Hưởng nhiều không?
— Không nhiều lắm. Nhưng tôi cảm thấy anh Hưởng không có cảm tình với Việt Minh.
— Đúng như vậy. Chập tối 19, anh Hưởng đến nhà này rủ anh Tú đi. Anh Hưởng với anh Tú là bạn thân.
Chính anh Tú đã giới thiệu anh Hưởng cho chị tôi. Các anh ấy đi được khoảng hai tiếng thì có tiếng súng nổ.
— Chắc vì tắc đường nên anh Tú không quay về được. Sáu giờ chiều hôm ấy, tôi vẫn còn đi rong trên đường phố.
— Tôi cũng mong như vậy, nhưng chắc là không phải.
— Chị nên nghĩ như vậy. Vì chắc đúng là như vậy.
— Oanh cảm ơn anh... Oanh đã không ngủ suốt đêm qua. Thôi... cũng chẳng phải giấu giếm anh: trước khi đi, anh Tú nói nếu có chuyện gì xảy ra thì một hai ngày sau, anh ấy sẽ quay về đón Oanh...
Phong chợt hiểu.
Cô ứa nước mắt:
— Đời tôi thế là hết! Chỉ tiếc là tôi chưa đủ hai chục tuổi đời. Tôi không thể đi theo anh ấy. Tôi biết đi đâu bây giờ! Ban đêm, nằm nghe tiếng chuột chạy, tiếng lá rơi tôi cũng sợ. Anh ấy trở lại hay là người ta đến bắt mình? Anh thấy khủng khiếp không?... Tôi muốn sống. Tôi muốn làm lại cuộc đời... Anh bảo tôi làm gì bây giờ?
Hồi lâu, Phong nói:
— Kiều Oanh nên ra ngoài.
— Ngoài ấy, người ta có tin tôi không? - Giọng Kiều Oanh chua chát.
— Kiều Oanh có lỗi gì đâu! Hai gia đình bên nội, bên ngoại của Kiều Oanh đều ở ngoài đó? Kiều Oanh sẽ không cô đơn... Mỗi người lúc này đều có hai con đường để lựa chọn...
Anh ngừng lời vì nhận thấy sự lựa chọn của mình dễ dàng, thuận lợi hơn nhiều so với sự lựa chọn của cô gái này. Những con đường của cô đều chông gai và đầy nước mắt.
Những giọt nước mắt từ từ lăn trên gò má tái xanh của cô gái. Lòng anh như thắt lại. Giá mà anh được phép đặt những cái hôn trên cặp mắt ứa lệ đó. Giá mà anh có thể làm gì để an ủi cô trong lúc này.
Có tiếng dép từ trên gác đi xuống. Kiều Oanh lau vội những giọt nước mắt.
— Nếu không có bác ấy thì tôi không tài nào sống qua nổi những ngày vừa rồi trong ngôi nhà này. Bác ấy ở Hàng Thiếc. Moóc-chi-ê của địch bắn sập nhà. Bác ấy chạy lên đây. Tôi như người chết đuối với được cọc, phải cố níu lấy bác ấy mà sống.
Bà bác đon đả chào anh:
— Chào cậu giáo. Bác cháu tôi mong cậu suốt từ sáng đến giờ. Cô ấy muốn ra ngoài. Tôi bảo chỉ còn trông trờ vào cậu giáo. Tôi biết đêm đêm vẫn có người đi ra. Nhưng đi là đi liều, một sống hai chết. Đi như vậy chẳng thà cứ ở lại, Tây đến thì mặc Tây, Tàu đến cũng mặc Tàu. Mình không phản quốc là mình không sợ. chỉ có cậu giáo dẫn đi mới mong chu toàn. Quân sự bao giờ người ta cũng có con đường đi riêng.
Kiều Oanh hơi chau mày. Có điều gì bà bác nói ra mà cô không ưng.
Phong ngồi lặng người. Anh không ngờ là vấn đề sẽ dẫn đến như vậy.
Bà bác lại thủ thỉ:
— Ngày hôm qua nghe cậu nói cậu đánh nhau gần một tháng trời, vào sống ra chết như vậy cũng quá đủ rồi. Rất nhiều anh như cậu, họ chỉ đánh một hai đêm rồi ra. Việc nước là việc chung, mỗi người đều phải ghé vai một tí chứ! Cậu ra bây giờ là phải. Nếu cậu ra thì cho bác cháu tôi ra theo. Nếu không đưa được cả hai người, cậu cho mình cháu Oanh ra là đủ. Tôi già rồi, sống được bao năm nữa, còn gì mà tiếc đời. Nhưng cháu Oanh mới lớn, mặt hoa da phấn thế kia, rủi có chuyện gì thì tội thương cháu từ ngày còn nhỏ. Cháu hiếu thuận, ngọt ngào ngay từ ngày đó.
Bà mếu máo rút khăn tay chùi nước mắt.
Tiếng máy bay vọng lại mỗi lúc một gần. Những giếng súng trường bắn bì bọp. Những tiếng phành phạch đã ở ngay trên đầu họ.
Mặt Kiều Oanh nhợt nhạt:
— Có ném bom thì ném luôn xuống đi! Tôi chẳng tiếc gì đời nữa đâu!
Người cô lả ra trên ghế.
Phong chợt tỉnh, an ủi:
— Đây là máy bay trinh sát, nó không mang bom.
Bà bác dỗ dành:
— Cháu đừng nói dại dột. Cháu còn phải sống dăm, bảy chục năm nữa. Cuộc đời cháu, tương lai cháu còn dài. Cháu sẽ còn được hưởng độc lập.
Tiếng máy bay xa dần. Kiều Oanh chăm chăm nhìn anh, cặp mắt trở nên cầu khẩn, đôi môi cô mấp máy.
Phong mong rằng những lời cô sắp nói ra không giống những lời bà bác vừa nói.
— Anh Phong ạ, bác tôi vừa trình bày với anh hết rồi. Tình cảnh của riêng tôi thì anh đã biết... Anh còn biết rõ hơn cả bác tôi. Tôi chỉ còn một mong ước là muốn rời khỏi đâyTôi không sợ bom đạn của Tây dọc đường. Tôi chỉ lo người ta không tin tôi. Nếu tôi được đi với anh thì tôi không sợ. Anh còn nhiệm vụ chiến đấu ở đây, nhưng tôi van anh, anh cứu giúp bác cháu tôi. Ra đến ngoài rồi, anh cứ tiếp tục đi chiến đấu, tôi khong dám làm phiền anh...
Một trận bão nổi lên trong đầu Phong. Trước kia, có lúc anh đã có ý nghĩ điên rồ: anh mong cho cô gái mà anh yêu thương đến tột cùng này sẽ gặp một tai biến lớn, khiến cho cô bị đau khổ, ruồng bỏ, thậm chí nhan sắc cô có thể bị tàn phai, lúc đó, anh sẽ đến với cô để nói rằng anh yêu cô và mong cô nhận lấy tình yêu của anh... Chuyện đó bây giờ đang đến với anh. nhan sắc cô vẫn còn nguyên vẹn. Hơn thế, nỗi đau khổ mà cô đang chịu đựng còn tạo thêm cho nó một cái gì đậm đà, sâu lắng, làm cho nó trở nên quyến rũ hơn. Chưa khi nào anh thấy cô đẹp như những ngày qua. Lần đầu anh được nhìn thấy những vẻ đẹp mới này ở cô... Nếu như cái buổi tối đến nhà Hưởng, mà anh gặp cô trong hoàn cảnh này, anh sẽ lập tức đi ngay với cô, và có thể đi tới đầu trời cuối đất. Nhưng bây giờ thì con người anh dường như đã đổi khác, những lời yêu cầu khẩn thiết vừa rồi khiến anh xốn xang, nhưng đồng thời cũng mang lại một cái gì xa cách.
Phong nói:
— Bác và chị hiểu cho là tôi không tiếc sức làm bất cứ việc gì có thể giúp ích cho bác và chị. Nhưng hiện nay tôi không thể nào rời khỏi mặt trận. Tôi rất mong bác và chị thông cảm.
Mặt Kiều Oanh tái nhợtĐôi môi cô run lên.
— Anh Phong, anh hãy vì bác cháu tôi, vì tôi, cân nhắc lại một lần cuối cùng đi!
— Xin lỗi bác và xin lỗi chị, tôi đã cân nhắc rất kỹ trước khi trả lời.
Con chim hạnh phúc từ trên trời bỗng bay xuống đậu vào tay mình nhưng mình lại hất mạnh tay cho nó bay đi. Anh vọi đứng lên, chào ra về, vì sợ ngồi thêm sẽ mủi lòng trước vẻ đẹp đau khổ thiên thần của người thiếu phụ.
Bông hồng nhung rực rỡ ngoài vườn đập vào mắt anh. Những cánh hoa yếu đuối đang cố níu lấy đài hoa để khỏi bị cơn gió lạnh bứt đi.
Một ý nghĩ chợt nảy ra. Phong quay trở lại.
Chỉ còn một mình Kiều Oanh trong vườn. Cô đang ngồi ngây như một pho tượng. Phong đến bên cô, nói rất nhanh:
— Tôi tặng chị vật này. Chị nên giữ lấy khi phải tự vệ.
Toàn thân cô không đụng đây, cô chỉ liếc đôi mắt vào cái vật Phong đang trao cho mình. Đó là khẩu súng nhỏ còn ba viên đạn mà từ lâu Phong không dùng đến sau khi đã được phát một khẩu súng trường. Cô kêu lên:
— Tôi không dám đụng vào nó đâu.
— Có nó chị sẽ yên tâm hơn. Chị chỉ cần giữ nó để dọa kẻ xấu... Biết đâu... - Phong không nói tiếp.
— Anh mang nó đi... Nếu tôi giữ nó, có lúc tôi sẽ bắn vào đầu tôi... tôi đã nói với anh rồi, tôi chưa muốn chết...
Phong đành quay ra. Lần này anh đi thẳng.
Những tiếng rì rầm chỉ từ sáng đến chiều đã lan khắp đại đội: đôi bên sắp ngừng bắn để đưa dân chúng tản cư ra khỏi Liên khu I.
Trước ngày nổ súng, ủy ban kháng chiến đã cho người đi khắp các khu phố trong Liên khu đôn đốc dân chúng tản cư. Sáng 19 tháng Chạp, tổng hợp con số các nơi báo cáo lên: Liên khu I còn sáu ngàn dân. Nhưng trước giờ nổ súng, người ta mới biết con số thực tế khoảng hai vạn. Nhiều gia đình nói là đã tản cư nhưng vẫn để một bộ phận ở lại trông nom nhà cửa. Nhiều gia đình đã tản cư, chờ đợi mãi thấy không có chuyện gì, giáp ngày nổ súng lại kéo về. Hơn thế, sau khi nổ súng, nhiều đường phố không giữ được, những người dân ở các khu phố này thấy Liên khu I có những công trình phòng ngự vững chắc, địch chưa đụng tới, nên dồn cả về đây. Trận chiến kéo dài. Việc lo lăn cho số dân khá đông, đủ mọi lứa tuổi, đã trở thành vấn đề nan giải trong một khu vực nhỏ hẹp quân địch vây hãm rất chặt chẽ. Đêm đem, những chiến sĩ dân quân ở ven sông Hồng vẫn tổ chức đưa dân chúng tản cư ra khỏi Liên khu, nhưng so với số người đông đảo còn ở lại thì người ra đi chẳng được bao nhiêu. ủy ban kháng chiến Liên khu đã cử người tiếp xúc với đại diện quân Pháp tổ chức một ngày ngừng bắn để đưa thường dân và ngoại kiều ra khỏi khu vực chiến sự.
Phong được tin này muộn vì ngày hôm đó đại đội trao nhiệm vụ cho anh đi trinh sát những vị trí địch ở chung quanh phố Hàng Thiếc, nơi đơn vị sắp chuyển quân tới. Trên đường trở về, Phong gặp Nhã đang bì bõm lội dưới đường hào cắt ngang phố Hàng Bồ, Nhã tròn mắt nhìn anh:
— Tớ vừa đến đại đội tìm cậu. Cậu đến nhà hoa hậu về đó à?
Ngày hôm trước, Phong gặp Nhã tâm sự về chuyện Kiều Oanh. Nhã đã nghe tiếng Kiều Oanh từ khi cô còn đi học. Phong biết thêm các bạn Nhã thường kháo với nhau Kiều Oanh là hoa hậu của trường Đồng Khánh. Nhã còn đọc cả một bài thơ của một người bạn làm khi Kiều Oanh đi lấy chồng...
Phong lắc đầu:
— Mình đi trinh sát về. Mình sợ đến nhà cô ấy.
— Tớ tưởng cậu đến để báo tin?
— Tin gì?
Nhã lại tròn mắt:
— Cậu chưa biết tin sắp có ngừng bắn à?
— Mình không nghe thấy gì.
Họ kéo nhau vào một ngôi nhà vắng chủ.
Nhã nói:
— Cả đại đội xôn xao về chuyện này. Ông Linh đang ngồi dỗ cô Mai ở nhà.
— Sao chuyện ấy lại liên quan đến cô Mai?
— Chán quá! Chuyện ấy không chỉ liên quan đến cô Mai mà dính đến cả bọn mình, cả tớ, cả cậu... Nay mai sẽ có ngừng bắn để đưa mấy ông Tàu, mấy nhà doanh thương ấn Độ bán vải và dân chúng ra ra ngoài. Nhân dịp này, trung đoàn cũng quyết định đưa luôn một số bộ đội ra ngoài, không phải chỉ những bà phụ nữ, những cậu bị thương hay ốm đau, mà cả bọn như cánh mình... Như vậy là cậu nhẹ được vấn đề Kiều Oanh. Hai bác cháu sẽ đàng hoàng khăn gói đi ra, không sự ai đe dọa cả... Còn cậu thì tính sao? Đi hay ở?...
— Đi hay ở? - Phong nhắc lại - Sao mình lại phải đi?
— Trung đoàn chủ trương chỉ giữ lại trong Liên khu 500 người. Như vậy cứ bốn người có ba người ra ngoài. Theo tớ nghe nói thì cán bộ chỉ huy, Vệ quốc đoàn cũ, tự vệ chiến đấu, công an đều ở lại. Còn thiếu thì tuyển lựa trong cánh mình.
— Nếu ở lại thì phải có những điều kiện gì?
— Trước tiên là tình nguyện xin ở lại. Nếungười tình nguyện quá đông thì phải lựa chọn những người nào cần cho chiến đấu.
— Cậu đi hay ở lại? - Phong hỏi lại Nhã.
Nhã mơ màng:
Mình không muốn rời Hà Nội, không thể rời Hà Nội vào giờ phút này. Từ lúc được tin, mình cảm thấy thương Hà Nội quá! Mình sinh ra ở Hà Nội, lớn lên ở Hà Nội, những kỷ niệm vui buồn trong cuộc đời mình đều gắn bó với Hà Nội, mình không thể bỏ nó mà ra đi. Mình đã báo cáo với đại đội, đề nghị lên trung đoàn, mình tình nguyện ở lại. Còn cậu..., theo ý mình, cậu nên ra.
— Cậu muốn mình trở thành một anh đào ngũ? - Giọng Phong hơi gay gắt.
— Không phải. Chỉ là một cuộc chuyển quân. Ba phần tư trung đoàn sẽ chuyển ra trước. Ra ngoài đó rồi, đơn vị lại tiếp tục chiến đấu. Mình muốn cậu ra vì Kiều Oanh. Tuyết Mai cũng ra.
— Trường hợp Tuyết Mai đã quyết định chưa?
—Coi như quyết định rồi. Tuyết Mai là con gái không có lý do gì để ở lại. Cô ấy đang khóc, chính trị viên đang dỗ cô ấy.
— Mình tình nguyện ở lại.
— Quá đông người tình nguyện rồi. Cậu nên ra trước thì hơn.
— Mình biết cậu rất tốt với mình nên mình không giận cậu. Cậu đừng cản trở quyết định của mình.
Họ mỉm cười chia tay nhau, tình cảm không có gì bị sứt mẻ.
Nhã đi rồi, Phong không trở về ngay đại đội mà vội vã đến nhà Kiều Oanh. Nếu không có chuyện Nhã vừa nói, chưa biết lúc nào anh mới trở lại gặp Kiều Oanh. Thái độ quyết liệt của cô lúc chia tay lần trước đã làm anh sợ.
Kiều Oah đang ngồi ủ dột, tươi tỉnh hẳn lên khi anh bước vào. Cô nói với anh bằng một giọng năn nỉ:
— Oanh xin lỗi anh... hôm đó Oanh không bình thường. Thỉnh thoảng Oanh lại có những phút như vậy.
Trước kia, anh chưa biết tính xấu này của Oanh. Oanh vẫn cố giấu nó với người ngoài. ít ra anh cũng đã biết con người thực của Oanh. Còn chuyện cuộc đời Oanh, anh chưa biết được bao nhiêu. Không phải bỗng nhiên Oanh nói với anh là cuộc đời Oanh coi như hết rồi. Oanh đã nhìn thấy như vậy không lâu sau ngày Oanh lấy chồng. Chỉ có điều là Tú ra đi một cách chóng vánh quá, đột ngột quá... Oanh đã biết trước cuộc chia tay giữa hai người là tất nhiên. Anh cũng không biết Oanh suy nghĩ những gì từ khi anh đột ngột hiện ra trong căn buồng này. Oanh thấy nó như là một giấc mơ... Oanh nghĩ anh không trở lại nữa. Oanh đang lo không biết tìm anh ở đâu. Chị Uyên, tội nghiệp cho chị ấy, đã nói với Oanh rất nhiều điều về anh...
Phong ngồi lặng người. Anh không hề chờ đợi, không dám ước mơ những điều cô vừa nói ra với mình. Hạnh phúc như một cây khô lâu ngày, giờ bỗng được tưới một thứ nước thần, xanh tươi trở lại và trổ ra những bông hoa rực rỡ. Ngày hôm nay sẽ là ngày sung sướng đời anh. Anh phải lập tức báo tin cho cô.
— Bác và Kiều Oanh không cần phải lo lắng nữa. Tôi vừa được tin sắp có ngừng bắn. Tất cả dân chúng trong Liên khu sẽ được chuyển ra vùng tự do.
Kiều Oanh mỉm cười:
— Anh báo tin vui cho Oanh chậm rồi. Cách đây một giờ, cán bộ đã đến nhà này bảo thu xếp thật gọn gàng để chuyển ra vùng tự do một ngày rất gần, theo đường công khai do ta và Pháp cùng thỏa thuận.
Thảo nào mà cô ấy đã có thái độ vui vẻ ngay từ khi mình mới đến.
Kiều Oanh nhìn anh bằng đôi mắt long lanh, hỏi tiếp:
— Cả một số đông tự vệ chuyến này cũng chuyển ra phải không anh?
Phong lúng túng:
— Ai nói với chị như vậy?
Oanh cười:
— Anh mà cũng định giấu Oanh! Chính người cán bộ đến đây báo tin, đã nói với bác cháu tôi như vậy. Anh ấy còn hẹn sẽ đi cùng với gia đình này, nếu cần sẽ mang giúp thêm một ít đồ đạc. Hay anh sợ bác cháu tôi nhờ anh làm việc ấy?
— Không...
— Vậy thì có gì mà anh phải giấu?
— Tôi không ra... Tôi xin ở lại.
Đôi mắt tươi vui, chứa đầy hy vọng của cô bỗng ngơ ngác rồi tối sầm. Giọng nói của cô trở nên mỉa mai, giận dữ:
— Vậy mà... tôi cứ tưởng là... Thì ra tất cả mọi người chỉ vì họ, vì lý tưởng của họ. Chẳng ai quan tâm đến số phận tôi. Họ đều ích kỷ. Tôi không phải là người yêu nước ư?... Tôi cứ ở đây, cứ sống trong nhung lụa, mặc ai muốn làm gì thì làm, cũng được chứ sao! Tôi sẽ không làm điều gì trái với lương tâm. Ra ngoài kia..., tôi biết cuộc sống của tôi sẽ như thế nào chứ! Bùn lầy, đói rét, bệnh tật... tôi sẵn sàng chịu đựng. Nhưng người ta chỉ muốn tôi hy sinh mà không muốn cho tôi một chút gì. Tôi chỉ là một cô gái chưa đầy hai mươi tuổi?
— Dù sao bác và chị cũng không thể ở lại đây. Khi dân chúng, ngoại kiều ra hết rồi, chỉ còn bộ đội, chúng nó sẽ dùng bom đạn để hủy diệt thành phố. Ngôi nhà này sẽ không còn... Bác và chị hãy chuẩn bị ra ngoài, sẽ không có cơ hội thứ hai nữa.
Cơn phẫn khích của Kiều Oanh dịu xuống. Giọng nói của cô bỗng trở nên thiết tha:
— Người ta muốn anh ra cơ mà! Hầu hết tự vệ sẽ ra đợt này. Tại sao anh không cùng ra với Kiều Oanh?
Mọi người đi rồi thì chỉ còn những đường phố chết, những ngôi nhà không người, còn có cái gì bắt anh ở lại đây. Anh còn rất trẻ. Anh đã chiến đấu như thế không quá đủ rồi ư?... Thế mà anh Hưởng nói với Oanh, anh là một người lơ mơ, chẳng dính dáng gì với thời cuộc. Ra đi, anh... Ra ngoài đó rồi, Oanh sẽ không ngăn anh nếu anh lại muốn tiếp tục đi chiến đấu.
Đôi mắt nhung đen của cô không rời mắt anh. Thực ra, anh chưa chính thức đề nghị xin ở lại, anh chỉ mới trao đổi miệng với Nhã. Anh hoàn toàn có thể thay đổi ý kiến khi người ta hỏi anh. Như Nhã đã nói, có khi người ta sẽ không hỏi anh muốn đi hay ở lại, mà chỉ yêu cầu anh ra trong đợt này. Đóa hoa hạnh phúc đã ở trong tầm tay, không có gì ngăn cản anh. Vừa mới đêm qua, không phải không có lúc anh đã tưởng tượng ra cái giờ phút anh cùng cô gái này len lỏi trong bóng đêm, đi vượt qua những mũi súng của quân địch, cô sẽ ngả tấm thân mềm yếu duối trong cánh tay anh, thay cho một lời nói cuộc đời cô từ nay vĩnh viễn thuộc về anh... Nhưng đồng thời anh lại cảm thấy cô rất xa cách, cô rất bé bỏng so với cuộc chiến đấu hào hùng này, cuộc chiến đấu đã gắn bó bằng máu thịt với cuộc đời anh. Nếu từ bỏ nó, anh sẽ trở lại với cuộc sống tẻ nhạt trước kia, cuộc sống anh luôn luôn coi thường, muốn xa rời nó mà không thoát ra được. Đi với cô để quay về cuộc sống cũ, hay là ở lại chiến đấu để tiếp tục cuộc sống mới mỗi ngày lại mở ra một trang khác lạ, gian lao nhưng cũng đầy kíchthích, trong đó con người luôn luôn phải nỗ lực vượt qua và vươn tới...
Anh tránh cặp mắt mê hoặc của cô, nói nhỏ nhưng rành rọt:
— Không thể khác, tôi đã xin ở lại.
— Vậy thì giữa chúng ta chẳng còn chuyện gì liên quan...
— Tôi khuyên bác và chị phải ra ngoài. Vì ở lại sẽ rất nguy hiểm.
— Đó là chuyện riêng của chúng tôi...
Phong không trở lại nhà Kiều Oanh nữa.
Ngày 17 tháng giêng năm 1947, hơn một chục ngàn dân chúng, có cả Hoa kiều, ấn kiều, và những anh, chị tự vệ đã trút bỏ vũ khí, trở lại với y phục của những người dân, lũ lượt rời Liên khu I. Trước khi trèo qua chiến lũy, họ ôm ghì lấy hoặc ngoái đầu nhìn lần cuối cùng những chiến sĩ xanh xao, đội mũ ca lô gắn sao vàng, mặc bộ quần áo đẹp nhất của mình, cầm trong tay những khẩu tiểu liên cướp được của quân địch, đứng gác với tư thế hiên ngang trước cặp mắt tò mò của bọn sĩ quan và binh lính Pháp bên kia chiến lũy. Họ đã trở thành chiến sĩ quyết tử, những người cuối cùng ở lại tự nguyện trên những đường phố cũ của Hà Nội bốn bề bị vây hãm, tự nguyện sống chết với Thủ đô.
Mặc dù Phong đã bày tỏ nguyện vọng thiết tha của mình xin được ở lại, nhưng anh vẫn không nằm trong danh sách những người ở lại.
Sáng 18, Phong đến khu vườn có bụi tre ngà. Cánh cửa nhà trên, nhà dưới đều đóng kín. Hai bác cháu Kiều Oanh đã rời khỏi Hà Nội. Bông hồng nhung rực rỡ hôm trước chỉ còn lại chiếc đài hoa. Những cánh hồng héo úa còn rải rác trong vườn. Nhưng cây hồng đã trổ thêm những chiếc nụ mới. Phong đứng tần ngần một lát rồi quay đi. Lại thêm một giấc mộng nữa ở thành phố này. Anh bâng khuâng không hiểu mình đang vui hay đang buồn. Anh thấy hiện thêm lên một bức tường ngăn trở mình với quá khứ.
Đại đội đã di chuyển sang vị trí mới ở phố Hàng Thiếc. Phong trở về đơn vị trên những con đường lạnh lẽo không còn bóng người. Bầu trời ủ dột. Mưa dầm. Gió lạnh như cắt da. Hôm nay anh mới chú ý đến vẻ hoang tàn của thành phố. Trước kia, những con người với những hoạt động, những ưutư, kể cả tiếng súng đạn đã che giấu nó đi. Những đống gạch, ngói đổ vỡ. Những bức tường nham nhở. Những đống bàn, tủ chất trên đường đất bụi bám đầy. Những cây cột điện nằm còng queo. Những chiếc máy nước khô khốc. Những đoạn đường bị xới lộn. Những ngôi nhà, đặc biệt là những ngôi nhà, cửa để ngỏ, bên trong tối tăm, bốc ra mùi ẩm mốc vì thiếu con người. Rêu xanh như phủ dày hơn trên những mái ngói thấp cao, nhấp nhô, cũ kỹ. Sự hoang hủy đã trùm lên cả những vật còn nguyên vẹn.
Min Tu reo lên khi thấy Phong từ cửa bước vào.
Chính trị viên Linh từ nhà trong chạy ra:
— Cả cậu nữa! Cậu cũng chuồn ở lại!
Rồi Tuyết Mai xuất hiện bên cạnh Linh. Tuyết Mai cũng không nằm trong danh sách những người ở lại. Cô đã quay về đại đội ngay sau khi cuộc di tản chấm dứt.
Ủy ban kháng chiến Liên khu I chủ trương chỉ để lại thành phố năm trăm người. Nhưng qua con số các nơi báo cáo ngày hôm đó thì không phải là năm trăm, bảy trăm, tám trăm..., mà là một ngàn hai trăm người.
Trung đoàn định rút đi ba phần tư quân số nhưng gần hai phần ba vẫn còn lại ở Hà Nội.
Người ta không có lý do gì để đối xử tệ với những người cố tình ở lại hy sinh chiến đấu.