Cha Brown đang trên đường đi lễ về vào một buổi sáng trắng xóa, kỳ lạ, khi làn sương mù đang chậm rãi tan dần — một trong những buổi sáng mà bản thân ánh sáng hiện lên như một điều gì đó huyền bí và mới mẻ. Những hàng cây thưa thớt hiện rõ dần qua làn hơi sương, như thể chúng được phác họa trước bằng phấn xám rồi sau đó bằng than chì. Ở những khoảng cách xa hơn nữa là những ngôi nhà nằm rải rác bên lề ô cửa của vùng ngoại ô; đường nét của chúng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết cho đến khi ngài nhận ra rất nhiều ngôi nhà mà ở đó ngài có những người quen tình cờ, và còn nhiều hơn thế nữa là tên của những chủ nhân mà ngài biết rõ. Nhưng tất cả các cửa sổ và cửa ra vào đều đóng kín; chẳng có ai thuộc dạng người thức dậy vào giờ đó, và lại càng không có những việc như vậy. Nhưng khi bước đi dưới bóng râm của một biệt thự xinh xắn với mái hiên và những khu vườn trang trí rộng rãi, ngài nghe thấy một tiếng động khiến ngài gần như vô thức dừng bước.
Đó là tiếng súng lục, súng cạc-bin hoặc một thứ hỏa khí nhẹ nào đó phát nổ không thể nhầm lẫn vào đâu được; nhưng không phải âm thanh này làm ngài bối rối nhất. Tiếng nổ lớn đầu tiên ngay sau đó được tiếp nối bởi một loạt âm thanh nhỏ hơn — theo ngài đếm, khoảng sáu tiếng. Ngài đoán đó hẳn là tiếng vang; nhưng điều kỳ lạ là tiếng vang ấy hoàn toàn không giống với âm thanh gốc. Nó không giống bất cứ thứ gì khác mà ngài có thể liên tưởng tới; ba thứ gần gũi nhất với nó dường như là tiếng phát ra từ bình xịt nước soda, một trong nhiều thứ tiếng phát ra từ loài động vật, và tiếng phát ra từ một người đang cố gắng giấu tiếng cười. Không có điều nào trong số đó có vẻ hợp lý cho lắm.
Con người Cha Brown dường như được ghép từ hai con người. Có một con người của hành động, khiêm nhường như một đóa hoa anh thảo và đúng giờ như một chiếc đồng hồ; người luôn hoàn thành vòng tròn nhỏ những bổn phận của mình và chưa bao giờ mơ tới chuyện thay đổi nó. Lại có cả một con người của sự chiêm nghiệm, giản dị hơn nhiều nhưng mạnh mẽ hơn nhiều, kẻ không dễ gì bị ngăn cản; người có suy nghĩ luôn luôn (theo đúng nghĩa thông minh duy nhất của từ này) là tư tưởng tự do. Ngài không thể ngăn mình, dẫu là trong vô thức, tự đặt ra tất cả những câu hỏi có thể hỏi và tự trả lời chừng nào còn có thể; tất cả diễn ra tự nhiên như nhịp thở hay sự tuần hoàn máu trong cơ thể ngài. Nhưng ngài chưa bao giờ chủ ý mang hành động của mình ra ngoài phạm vi bổn phận của bản thân; và trong trường hợp này, hai thái độ đó đã được thử thách một cách thích hợp. Ngài vừa định tiếp bước lủi thủi trong ánh chiều tà lờ mờ, tự nhủ rằng đó chẳng phải việc của mình, nhưng bản năng lại xoay chuyển và tháo gỡ đến hai mươi giả thuyết về ý nghĩa của những âm thanh kỳ lạ ấy. Rồi đường chân trời xám xịt bừng sáng thành màu bạc, và trong ánh sáng đang lan rộng, ngài nhận ra rằng mình vừa đi qua ngôi nhà thuộc về một Thiếu tá người Anh gốc Ấn tên là Putnam; và rằng viên Thiếu tá có một đầu bếp bản xứ đến từ Malta cùng chung đạo với ông. Ngài cũng bắt đầu nhớ lại rằng những phát súng lục đôi khi là chuyện nghiêm trọng; đi kèm với những hệ lụy mà ngài có trách nhiệm chính đáng phải quan tâm. Ngài quay gót đi ngược lại và bước qua cổng vườn, hướng thẳng về phía cửa trước.
Nửa chừng dọc theo một bên ngôi nhà nhô ra một phần kiến trúc trông giống như một cái nhà kho rất thấp; sau này ngài mới phát hiện ra đó là một thùng đựng rác lớn. Vòng qua góc của chiếc thùng này là một bóng người, thoạt đầu chỉ là một cái bóng mờ ảo trong làn sương mù, dường như đang cúi xuống và dò dẫm xung quanh. Rồi, khi đến gần hơn, cái bóng ấy kết tinh thành một hình hài quả thực có phần rắn chắc hơn bình thường. Thiếu tá Putnam là một người đàn ông hói đầu, cổ trâu, thấp và rất béo, với khuôn mặt mang dáng vẻ dễ bị đột quỵ — thứ thường xuất hiện do cố gắng kéo dài việc kết hợp giữa khí hậu phương Đông và những xa hoa phương Tây. Nhưng đó là một khuôn mặt đôn hậu, và ngay lúc này, dẫu rõ ràng đang bối rối và tò mò, ông vẫn nở một nụ cười ngây thơ nào đó. Ông đội một chiếc mũ lá cọ lớn ở phía sau đầu (gợi liên tưởng đến một vầng hào quang hoàn toàn không phù hợp với khuôn mặt ấy), nhưng ngoài ra ông chỉ mặc một bộ đồ pijama sọc đỏ và vàng rực rỡ; dẫu rực rỡ đến mức bắt mắt, nhưng trong một buổi sáng se lạnh, mặc nó chắc chắn sẽ thấy khá rét mướt. Ông rõ ràng đã vội vã chạy ra khỏi nhà, và vị linh mục không mấy ngạc nhiên khi ông cất tiếng gọi mà không cần giữ lễ nghi rườm rà: “Anh có nghe thấy tiếng động đó không?”
“Có chứ,” Cha Brown đáp; “tôi nghĩ mình nên ghé qua xem nhỡ có chuyện gì không.”
Viên Thiếu tá nhìn ngài với ánh mắt hình quả lý gai đầy đôn hậu nhưng có phần kỳ lạ. “Anh nghĩ tiếng động đó là gì?” ông hỏi.
“Nó nghe giống tiếng súng hoặc thứ gì đó tương tự,” người kia đáp, có chút do dự; “nhưng có vẻ nó mang một thứ tiếng vang kỳ quặc.”
Viên Thiếu tá vẫn đang lặng lẽ nhìn ngài, với đôi mắt lồi ra, thì cánh cửa trước bỗng văng mở, thả dòng ánh sáng đèn hơi gas tràn ngập lên khuôn mặt của làn sương đang nhạt dần; và một bóng người nữa mặc đồ pijama nhảy hoặc ngã nhào ra khu vườn. Bóng người ấy cao hơn, gầy hơn và lực lưỡng hơn rất nhiều; bộ pijama tuy cũng mang sắc thái nhiệt đới không kém, nhưng có phần tao nhã hơn, màu trắng với những đường sọc màu vàng chanh nhạt. Người đàn ông trông phờ phạc nhưng tuấn tú, da rám nắng hơn người kia; ông có chiếc mũi khoằm, đôi mắt hơi trũng sâu, và một vẻ kỳ lạ nhẹ nhàng xuất phát từ sự kết hợp giữa mái tóc đen nhánh với bộ ria mép sáng màu hơn nhiều. Tất cả những điều này đều được Cha Brown thu nhận chi tiết một cách thong thả hơn. Lúc này ngài chỉ chú ý đến một điểm duy nhất ở người đàn ông đó; chính là khẩu súng lục trong tay ông ta.
“Cray!” Thiếu tá thốt lên, trân trân nhìn ông ta; “anh đã bắn phát súng đó à?”
“Ừ, tôi bắn đấy,” người đàn ông tóc đen gay gắt đáp lại; “và anh cũng sẽ làm thế nếu ở vào vị trí của tôi. Nếu anh bị lũ quỷ đuổi theo khắp nơi và suýt thì—”
Viên Thiếu tá dường như vội vàng ngắt lời. “Đây là bạn tôi, Cha Brown,” ông nói. Rồi quay sang Brown: “Tôi không biết anh đã gặp Đại tá Cray thuộc Pháo binh Hoàng gia chưa.”
“Dĩ nhiên là tôi có nghe danh ông ấy,” vị linh mục ngây thơ đáp. “Anh có—anh có bắn trúng gì không?”
“Tôi nghĩ là có,” Cray nghiêm nghị đáp.
“Hắn ta—” Thiếu tá Putnam hạ giọng hỏi, “hắn ta có ngã xuống hay kêu lên, hoặc có biểu hiện gì không?”
Đại tá Cray đang nhìn chằm chằm vào chủ nhà bằng một ánh mắt kỳ lạ và kiên định. “Tôi sẽ nói cho anh chính xác những gì hắn đã làm,” ông nói. “Hắn hắt hơi.”
Tay Cha Brown đưa lên nửa chừng chạm vào đầu, với cử chỉ của một người đang sực nhớ ra tên của ai đó. Giờ thì ngài đã biết âm thanh ấy là gì rồi — không phải nước soda cũng chẳng phải tiếng khò khè của loài chó.
“Chà,” vị Thiếu tá trợn mắt thốt lên, “tôi chưa từng nghe nói rằng súng lục quân dụng lại là thứ có thể khiến người ta hắt hơi.”
“Tôi cũng vậy,” Cha Brown đáp giọng yếu ớt. “Thật may là anh không chĩa pháo vào hắn, bằng không anh đã khiến hắn bị cảm lạnh nặng rồi đấy.” Sau đó, sau một khoảng lặng ngơ ngác, ngài cất lời: “Đó có phải là kẻ trộm không?”
“Chúng ta vào nhà đi,” Thiếu tá Putnam nói với giọng có phần gay gắt, rồi dẫn đường bước vào nhà.
Bên trong ngôi nhà bày ra một nghịch lý thường thấy vào những giờ sáng sớm như thế này: các phòng có vẻ sáng sủa hơn cả bầu trời bên ngoài; ngay cả sau khi vị Thiếu tá đã tắt ngọn đèn gas duy nhất ở sảnh trước. Cha Brown ngạc nhiên khi thấy toàn bộ bàn ăn được bày biện như cho một bữa tiệc tùng lễ hội, với khăn ăn xếp trong vòng nhẫn, và khoảng sáu loại ly uống rượu không cần thiết được đặt cạnh mỗi chiếc đĩa. Thật quá đỗi bình thường vào thời điểm sáng sớm thế này nếu tìm thấy tàn tích của một bữa tiệc từ đêm hôm trước; nhưng việc thấy nó được bày biện tươi tắn từ sớm thế này thì quả là bất thường.
Trong lúc ngài còn đang đứng chần chừ ở sảnh, Thiếu tá Putnam lao xẹt qua người ngài và đảo ánh mắt giận dữ bao trùm toàn bộ tấm khăn trải bàn hình chữ nhật. Cuối cùng ông cất tiếng, giọng hậm hực: “Toàn bộ đồ bạc đã biến mất!” ông thở dốc. “Dao nĩa ăn cá biến mất. Giá đựng gia vị cổ biến mất. Thậm chí cả cái bình rót kem bằng bạc cổ cũng biến mất. Và giờ thì, Cha Brown, tôi đã sẵn sàng trả lời câu hỏi của anh rằng đó có phải là kẻ trộm hay không.”
“Chúng chỉ là cái bình phong thôi,” Cray quả quyết nói. “Tôi rõ hơn anh lý do tại sao người ta khủng bố ngôi nhà này; tôi rõ hơn anh lý do tại sao—”
Viên Thiếu tá vỗ vai ông ta với một cử chỉ vốn thường dùng để dỗ dành một đứa trẻ ốm, và nói: “Đó là kẻ trộm. Hiển nhiên đó là kẻ trộm.”
“Một tên trộm bị cảm lạnh nặng,” Cha Brown nhận xét, “điều đó hẳn sẽ giúp anh dễ lần theo dấu vết của hắn trong vùng.”
Viên Thiếu tá ủ rũ lắc đầu. “Tôi e rằng giờ này hắn đã ở rất xa ngoài tầm với rồi,” ông nói.
Rồi, khi người đàn ông bồn chồn cầm khẩu súng lục lại quay về phía cửa ra vườn, ông nói thêm bằng một giọng khàn khàn, đầy vẻ tâm sự: “Tôi đang tự hỏi liệu mình có nên gọi cảnh sát hay không, vì sợ rằng người bạn đây đã quá tay với những viên đạn của mình và vướng vào vòng lao lý. Anh ấy từng sống ở những nơi vô cùng hoang dã; và nói thật với anh, tôi nghĩ đôi khi anh ấy tự tưởng tượng ra mọi chuyện.”
“Tôi nghĩ có lần anh từng kể với tôi,” Brown nói, “rằng anh ấy tin có một hội kín của Ấn Độ đang truy sát mình.”
Thiếu tá Putnam gật đầu, nhưng đồng thời cũng nhún vai. “Tôi đoán chúng ta nên đi theo anh ấy ra ngoài thì hơn,” ông nói. “Tôi không muốn có thêm những màn—chúng ta gọi là gì nhỉ, hắt hơi nữa?”
Họ bước ra ngoài ánh sáng buổi sáng, giờ đây thậm chí đã điểm thêm những tia nắng ấm áp, và nhìn thấy dáng người cao gập cả người của Đại tá Cray đang tỉ mỉ kiểm tra tình trạng của sỏi đá và bãi cỏ. Trong khi vị Thiếu tá thong thả bước về phía ông ta một cách kín đáo, vị linh mục cũng có một bước đi lười biếng tương tự, đưa ngài vòng qua góc tiếp theo của ngôi nhà đến cách chiếc thùng rác nhô ra chỉ chừng một hay hai thước.
Ngài đứng ngắm nghía vật thể ảm đạm này trong khoảng một phút rưỡi—, rồi tiến đến gần, nhấc nắp lên và thò đầu vào trong. Bụi bặm và những chất bẩn khác bay tung lên khi ngài làm vậy; nhưng Cha Brown chẳng màng đến ngoại hình của chính mình, bất kể ngài có quan sát được điều gì khác đi chăng nữa. Ngài cứ giữ nguyên tư thế đó trong một khoảng thời gian đáng kể, như thể đang chìm đắm trong những lời cầu nguyện huyền bí nào đó. Sau đó ngài bước ra, với vài vương tro trên mái tóc, và thản nhiên bỏ đi.
Khi ngài vòng trở lại phía cửa vườn, ngài bắt gặp một nhóm người ở đó dường như đã xua tan đi mọi u ám cũng giống như ánh nắng ban mai đã xua tan sương mù. Nó hoàn toàn không mang tính trấn an theo kiểu lý trí; nó chỉ đơn thuần mang lại tiếng cười sảng khoái, giống như một nhóm nhân vật của Dickens. Thiếu tá Putnam đã tranh thủ tạt vào nhà để tròng lên người chiếc áo sơ mi và quần dài chỉnh tề, thắt dải lụa đỏ ở eo, và khoác chiếc áo khoác ngắn sáng màu bên ngoài; được trang hoàng đàng hoàng như vậy, khuôn mặt lễ hội đỏ lựng của ông trông như đang bừng lên một vẻ niềm nở quen thuộc. Ông quả thực rất quả quyết, nhưng khi đó ông đang nói chuyện với người đầu bếp của mình — người con trai xứ Malta da ngăm đen, với khuôn mặt gầy, vàng vọt và có phần ưu tư, tương phản một cách kỳ lạ với chiếc mũ và trang phục trắng muốt của anh ta. Người đầu bếp có lẽ có lý do để ưu tư, bởi nấu nướng chính là niềm đam mê của vị Thiếu tá. Ông là một trong những kẻ nghiệp dư luôn tự cho mình biết nhiều hơn cả thợ chuyên nghiệp. Người duy nhất khác mà ông thừa nhận là có gout thưởng thức món trứng ốp-lết chính là người bạn Cray — và khi nhớ lại điều này, Brown quay người tìm kiếm vị sĩ quan kia. Giữa ban ngày ban mặt với sự hiện diện của những con người bình thường ăn mặc tươm tất, cảnh tượng về ông ta quả là một cú sốc. Người đàn ông cao lớn và lịch lãm hơn vẫn đang mặc trang phục ngủ, với mái tóc đen bù xù, giờ đang lê la bò bò trên bãi cỏ trong vườn bằng cả bàn tay lẫn đầu gối, vẫn tiếp tục tìm kiếm dấu vết của tên trộm; và chốc chốc, có vẻ như ông ta lại đập tay xuống đất vì tức giận khi không tìm thấy gì. Nhìn ông ta bò bốn cẳng trên bãi cỏ như vậy, vị linh mục hơi nhíu mày đầy buồn bã; và lần đầu tiên ngài đoán rằng câu nói “tự tưởng tượng ra mọi chuyện” hóa ra lại là một cách nói giảm nói tránh.
Nhân vật thứ ba trong nhóm gồm người đầu bếp và vị chuyên gia ẩm thực ấy cũng là người quen của Cha Brown; đó là Audrey Watson, người giám hộ đồng thời là quản gia của vị Thiếu tá; và vào lúc này, nhìn qua chiếc tạp dề, ống tay áo xắn lên cùng thái độ quyết đoán của cô, cô giống một quản gia thực thụ hơn là một người được giám hộ.
“Anh đáng đời lắm,” cô đang nói: “Tôi đã luôn bảo anh đừng dùng cái giá đựng gia vị lỗi thời đó cơ mà.”
“Anh thích thế,” Putnam ôn tồn đáp. “Bản thân anh cũng cổ hủ; và mấy thứ đó giữ được với nhau.”
“Và rồi biến mất cùng nhau, như anh thấy đấy,” cô vặn lại. “Thôi được, nếu anh không buồn bận tâm về tên trộm, thì em cũng chẳng bận tâm về bữa trưa nữa đâu. Hôm nay là Chủ Nhật, và chúng ta không thể sai người đi mua giấm hay mấy thứ đại loại thế ở thị trấn được; và mấy ông người Ấn các anh thì không thể thưởng thức cái gọi là bữa tối nếu thiếu đi một đống đồ cay nóng được. Giờ thì em thật cầu mong anh đừng rủ anh họ Oliver đưa em đi nghe buổi thánh nhạc nữa. Phải đến mười hai rưỡi mới kết thúc, và Đại tá phải rời đi trước giờ đó. Em không tin mấy ông các anh có thể tự lo liệu một mình đâu.”
“Ồ có chứ, chúng tôi lo được mà em yêu,” vị Thiếu tá nói, nhìn cô với ánh mắt vô cùng trìu mến. “Marco có đủ mọi loại nước sốt, và chúng tôi từng thường xuyên tự lo những bữa ăn tươm tất ở những nơi vô cùng hoang dã, hẳn em phải biết điều đó chứ. Và đã đến lúc em nên được đổi gió một chút rồi, Audrey; em không thể cứ làm quản gia suốt từng giờ trong ngày được; và anh biết em muốn nghe nhạc mà.”
“Em muốn đi nhà thờ,” cô nói, với ánh mắt có phần nghiêm nghị.
Cô là một trong những người phụ nữ xinh đẹp mà vẻ đẹp sẽ chẳng bao giờ phai nhạt, bởi nét đẹp ấy không nằm ở dáng điệu hay sắc thái làn da, mà nằm ngay trong cấu trúc của đầu và các đường nét trên khuôn mặt. Nhưng dù cô chưa bước vào tuổi trung niên và mái tóc màu hạt dẻ của cô mang nét đầy đặn về cả hình khối lẫn màu sắc mang phong cách trường phái Titian, thì sâu thẳm trong khóe miệng và quanh đôi mắt cô lại phảng phất một nét nhìn gợi lên rằng những nỗi buồn đã bào mòn cô, giống như gió cuối cùng gặm nhấm những rìa của một ngôi đền Hy Lạp. Bởi quả thực, rắc rối gia đình nhỏ nhặt mà cô đang lớn tiếng bàn luận có vẻ mang tính hài hước hơn là bi kịch. Qua diễn biến của cuộc trò chuyện, Cha Brown hiểu ra rằng Cray, vị sành ăn kia, phải rời đi trước giờ ăn trưa thông thường; nhưng Putnam, người chủ nhà, không muốn bỏ lỡ một bữa tiệc cuối cùng với người chiến hữu cũ, đã sắp xếp một bữa trưa đặc biệt được chuẩn bị và thưởng thức ngay trong buổi sáng, trong khi Audrey và những người trang nghiêm khác đang đi lễ sáng. Cô sẽ đến đó dưới sự hộ tống của một người họ hàng kiêm bạn cũ của cô, Tiến sĩ Oliver Oman, người dẫu mang tư tưởng khoa học có phần cay nghiệt nhưng lại vô cùng cuồng nhiệt âm nhạc, và sẵn sàng đến cả nhà thờ chỉ để thưởng thức nó. Chẳng có điều gì trong tất cả những chuyện này có thể mảy may liên quan đến bi kịch ẩn hiện trên khuôn mặt cô Watson; và bằng một bản năng bán ý thức, Cha Brown lại quay sang nhìn kẻ dường như đang phát điên bới tung bãi cỏ.
Khi ngài bước tới chỗ ông ta, mái tóc đen chưa chải bỗng ngẩng phắt lên, như thể ngạc nhiên trước sự hiện diện lâu đến khó hiểu của vị linh mục. Và quả thực, vì những lý do ngài hiểu rõ hơn ai hết, Cha Brown đã nán lại lâu hơn rất nhiều so với phép lịch sự đòi hỏi; hoặc thậm chí, theo nghĩa thông thường là cho phép.
“Chà!” Cray thét lên với đôi mắt hoang dại. “Chắc anh nghĩ tôi điên giống như những người khác phải không?”
“Tôi đã cân nhắc giả thuyết đó,” vị tiểu gia bình thản đáp. “Và tôi nghiêng về ý kiến cho rằng anh không hề điên.”
“Ý anh là sao?” Cray gắt lên vô cùng hung hăng.
“Những kẻ điên thực sự,” Cha Brown giải thích, “luôn nuôi dưỡng sự bệnh hoạn của chính họ. Họ không bao giờ đấu tranh chống lại nó. Nhưng anh đang cố tìm kiếm dấu vết của kẻ trộm; ngay cả khi chẳng có dấu vết nào cả. Anh đang đấu tranh chống lại nó. Anh muốn điều mà chưa từng có kẻ điên nào muốn.”
“Và điều đó là gì?”
“Anh muốn được chứng minh là mình sai,” Brown nói.
Vừa dứt lời, Cray đã chồm dậy hoặc lảo đảo đứng thẳng người lên và nhìn chằm chằm vị giáo sĩ bằng đôi mắt đầy xúc động. “Có trời mới biết, đó hoàn toàn là một lời chân lý!” ông kêu lên. “Tất cả bọn họ ở đây đều áp đảo tôi rằng tên kia chỉ nhắm vào đám đồ bạc — cứ như thể tôi không hề mong ước thiết tha được nghĩ như thế! Cô ấy cứ lải nhải bên tai tôi,” và ông hất mái tóc đen bù xù về phía Audrey, nhưng người kia chẳng cần phải nhìn theo hướng đó cũng hiểu, “cô ấy cứ trách móc tôi hôm nay rằng tôi thật nhẫn tâm khi bắn hạ một tên trộm vặt vô tội, và rằng trong tôi mang tâm địa độc ác chống lại những người bản xứ vô tội đáng thương. Nhưng tôi từng là một người đàn ông hiền lành — hiền lành chẳng kém gì Putnam.”
Sau một khoảng lặng, ông nói: “Nghe này, tôi chưa từng gặp anh trước đây; nhưng anh sẽ là người phán xử toàn bộ câu chuyện này. Lão Putnam và tôi từng là bạn chiến hữu trong cùng một tiểu đoàn; nhưng do một số tai nạn ở biên giới Afghanistan, tôi được phong hàm sớm hơn hầu hết mọi người; chỉ có điều cả hai chúng tôi đều bị thương tật phải giải ngũ về nước một thời gian. Tôi đã đính ước với Audrey ở ngoài đó; và tất cả chúng tôi cùng trở về trên một chuyến hành trình. Nhưng trên đường về đã xảy ra nhiều chuyện. Những chuyện kỳ lạ. Kết quả của chúng là Putnam muốn hủy bỏ hôn ước, và thậm chí Audrey cứ dây dưa kéo dài — và tôi thừa biết ý họ là gì. Tôi biết họ nghĩ tôi là kẻ thế nào. Anh cũng vậy.
“Và đây là những sự thật. Ngày cuối cùng chúng tôi ở một thành phố Ấn Độ, tôi hỏi Putnam xem mình có thể mua dăm điếu xì gà Trichinopoli không, ông ấy chỉ cho tôi một tiệm nhỏ nằm đối diện chỗ trọ của ông ấy. Sau này tôi phát hiện ra ông ấy đã chỉ đường hoàn toàn chính xác; nhưng từ ‘đối diện’ quả là một từ nguy hiểm khi một ngôi nhà tươm tất nằm đối diện với năm hoặc sáu ngôi nhà tồi tàn tợn; và chắc hẳn tôi đã nhầm cửa. Cánh cửa mở ra rất khó khăn, và bên trong chỉ một màu tối mịt; nhưng khi tôi quay người định bước ra, cánh cửa phía sau khép lại và sập vào khung cửa với âm thanh vang lên như của vô số chiếc chốt cửa. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc tiến bước; và tôi cứ thế đi qua hết hành lang này đến hành lang khác, tối như hũ nút. Rồi tôi đến một bậc thềm, và tiếp đó là một cánh cửa tịt, được cố định bằng một chiếc chốt làm bằng sắt rèn kiểu phương Đông tinh xảo, thứ mà tôi chỉ có thể dò dẫm bằng tay, nhưng cuối cùng cũng mở tung được. Tôi bước ra một không gian mờ mịt, vốn đã biến đổi một nửa thành chớp sáng xanh lục nhờ vô số ngọn đèn nhỏ nhưng cháy đều đặn phía dưới. Chúng chỉ soi rõ phần chân hoặc phần rìa của một kiến trúc khổng lồ trống trải nào đó. Ngay trước mặt tôi là thứ trông giống như một quả núi. Tôi thú nhận rằng mình suốt ngã quỵ xuống phiến đá lớn nơi tôi vừa bước ra, khi nhận ra đó là một bức tượng thần. Và tồi tệ nhất là, một bức tượng thần quay lưng về phía tôi.
“Tôi đoán nó chỉ có một nửa hình hài con người; đánh giá qua cái đầu nhỏ lùn tịt, và hơn thế nữa là một vật trông giống như cái đuôi hoặc một chi thừa chìa ngược lên phía sau và chĩa thẳng, giống như một ngón tay lớn ghê rợn, vào một biểu tượng được khắc ở chính giữa tấm lưng đá khổng lồ. Trong ánh sáng mờ ảo, tôi bắt đầu lờ mờ nhận ra những ký tự tượng hình ấy, không khỏi cảm thấy kinh hãi, thì một điều kinh hãi hơn đã xảy ra. Một cánh cửa lặng lẽ mở ra trên bức tường đền thờ phía sau tôi và một người đàn ông bước ra, mặt ngăm đen và mặc áo khoác đen. Trên khuôn mặt hắn nở một nụ cười được chạm trổ bằng da thịt đồng và răng ngà; nhưng tôi nghĩ điều đáng ghét nhất ở hắn ta là hắn mặc trang phục châu Âu. Tôi nghĩ mình đã chuẩn bị tinh thần để đối mặt với những vị tu sĩ trùm khăn kín mít hoặc những đạo sĩ khỏa thân. Nhưng điều này dường như ngụ ý rằng sự quỷ quái đang bao trùm khắp mặt đất. Quả thực tôi đã thấy đúng là như vậy.
‘“Nếu anh chỉ nhìn thấy Bàn Chân Khỉ,’ hắn nói, nụ cười vẫn thường trực trên môi và không cần lời mở đầu nào khác, ‘chúng ta sẽ rất nhẹ nhàng — anh sẽ chỉ bị tra tấn rồi chết. Nếu anh nhìn thấy Khuôn Mặt Khỉ, chúng ta vẫn sẽ rất khoan dung, rất rộng lượng — anh sẽ chỉ bị tra tấn rồi sống. Nhưng vì anh đã nhìn thấy Cái Đuôi Khỉ, chúng ta buộc phải tuyên án nặng nhất, đó là — Được Tự Do.’
‘Khi hắn thốt lên những lời đó, tôi nghe thấy chiếc chốt sắt tinh xảo mà tôi vừaật lộn mở, tự động bật tung ra; và rồi, sâu thẳm dọc theo những hành lang tối tăm mà tôi vừa đi qua, tôi nghe thấy cánh cửa lớn ngoài phố tự động trượt những chiếc chốt của nó mở ra.
‘“Thật vô ích khi cầu xin lòng thương xót; anh phải được tự do,’ kẻ mỉm cười nói. ‘Từ nay về sau một sợi tóc cũng có thể tước mạng anh như gươm giáo, và một hơi thở cũng có thể cắn xé anh như loài rắn lục; vũ khí sẽ tấn công anh từ hư không; và anh sẽ phải chết nhiều lần.’ Nói rồi hắn một lần nữa biến mất vào bức tường phía sau; và tôi bước ra đường.”
Cray ngừng lời; và Cha Brown một cách tự nhiên ngồi phịch xuống thảm cỏ bắt đầu hái hoa cúc.
Vị sĩ quan tiếp tục câu chuyện: “Đương nhiên, với cái óc thực tế vui vẻ của mình, Putnam đã bĩu môi trước mọi nỗi sợ hãi của tôi; và kể từ thời điểm đó bắt đầu hoài nghi về sự ổn định tinh thần của tôi. Chà, tôi sẽ kể vắn tắt cho anh nghe bằng những từ ngữ ngắn gọn nhất, ba sự việc đã xảy ra kể từ đó; và anh sẽ là người phán xử xem ai trong chúng ta đúng.
“Sự việc đầu tiên xảy ra trong một ngôi làng Ấn Độ ở bìa rừng rậm, nhưng cách ngôi làng, thị trấn, hay những bộ tộc và phong tục nơi lời nguyền gieo rúng lên tôi hàng trăm dặm. Tôi thức giấc giữa đêm đen như mực, và nằm đó chẳng nghĩ ngợi gì đặc biệt, thì cảm thấy một vật nhột nhạt, mỏng manh như sợi chỉ hay sợi tóc, quét qua cổ mình. Tôi rụt cổ lại để tránh nó, và không tài nào ngừng nghĩ đến những lời trong đền thờ. Nhưng khi tôi đứng dậy tìm ánh đèn và soi gương, vết hằn ngang cổ tôi chính là một vệt máu.
“Sự việc thứ hai xảy ra tại một nhà trọ ở Port Said, sau đó, trên hành trình chúng tôi cùng nhau trở về nhà. Đó là sự pha trộn giữa quán rượu và cửa hàng đồ cổ; và dù ở đó chẳng có chút gì gợi nhớ đến tín ngưỡng tôn thờ Thần Khỉ, thì tất nhiên, vẫn có khả năng một vài bức tượng hoặc bùa hộ mệnh của nó xuất hiện ở nơi như thế. Dù sao thì lời nguyền của nó cũng ở đó. Tôi lại thức giấc trong bóng tối với một cảm giác không thể diễn tả bằng những từ ngữ lạnh lùng hay sát nghĩa hơn là một hơi thở cắn xé tựa loài rắn lục. Sự tồn tại lúc ấy là một sự giằng xé của sự hủy diệt; tôi đập đầu vào tường cho đến khi đập vào cửa sổ; rồi lao đầu hoặc ngã nhào xuống khu vườn bên dưới. Putnam tội nghiệp, người từng coi sự việc trước chỉ là một vết trầy xước tình cờ, buộc phải nhìn nhận một cách nghiêm túc thực tế khi tìm thấy tôi nằm nửa mê nửa tỉnh trên thảm cỏ vào lúc rạng sáng. Nhưng tôi e rằng tình trạng tinh thần của tôi mới là thứ ông ấy coi trọng; chứ không phải câu chuyện của tôi.
“Sự việc thứ ba xảy ra ở Malta. Chúng tôi ở trong một pháo đài tại đó; và ngẫu nhiên là phòng ngủ của chúng tôi nhìn ra biển khơi, sát tận bệ cửa sổ, ngoại trừ một bức tường trắng phẳng phiu bên ngoài trơ trọi như mặt biển. Tôi lại tỉnh giấc; nhưng trời không tối. Có trăng tròn, khi tôi bước ra cửa sổ; tôi có thể nhìn thấy một con chim trên bờ tường trơ trọi, hay một cánh buồm ở đường chân trời. Thứ tôi thấy lại là một dạng gậy hoặc cành cây đang xoay tròn, tự lơ lửng giữa bầu trời trống không. Nó bay thẳng vào cửa sổ phòng tôi và đập nát chiếc đèn đặt cạnh chiếc gối tôi vừa rời khỏi. Đó là một trong những loại gậy chiến kỳ dị mà một số bộ tộc phương Đông sử dụng. Nhưng nó chẳng bay ra từ bàn tay con người nào cả.”
Cha Brown vứt bỏ chuỗi hoa cúc ngài vừa tết xong, rồi đứng dậy với vẻ mặt đăm chiêu. “Thiếu tá Putnam,” ngài hỏi, “có cất giữ món đồ cổ, tượng thần, vũ khí phương Đông nào hay thứ gì đại loại thế, từ đó người ta có thể tìm ra manh mối không?”
“Nhiều lắm, dù tôi e rằng chẳng dùng được mấy,” Cray đáp; “nhưng dĩ nhiên anh cứ vào phòng làm việc của ông ấy xem.”
Khi bước vào, họ đi ngang qua cô Watson đang cài khuy găng tay để chuẩn bị đi nhà thờ, và nghe văng vẳng tiếng Putnam ở dưới nhà vẫn đang say sưa giảng bài học về nghệ thuật nấu nướng cho người đầu bếp. Trong phòng làm việc kiêm phòng trưng bày đồ cổ của vị Thiếu tá, họ bất ngờ bắt gặp một nhân vật thứ ba, đội mũ phớt lụa và ăn mặc chỉnh tề để ra phố, đang chăm chú đọc một cuốn sách mở trên chiếc bàn hút thuốc — một cuốn sách mà hắn ta vội vã buông xuống với vẻ mặt đầy tội lỗi rồi quay người lại.
Cray giới thiệu hắn một cách lịch sự, rằng đó là Tiến sĩ Oman, nhưng vẻ mặt ông ta bày tỏ sự bất mãn rõ rệt đến mức Brown đoán hai người đàn ông này, dù Audrey có biết hay không, chắc chắn là tình địch. Bản thân vị linh mục cũng chẳng mấy thiện cảm với sự kỳ thị đó. Tiến sĩ Oman quả thực là một quý ông ăn mặc rất bảnh bao; các đường nét gương mặt thanh tú, dẫu ngăm đen suýt suýt như người châu Á. Nhưng Cha Brown tự nhủ rằng người ta nên bao dung ngay cả với những kẻ chải chuốt chòm râu nhọn hoắt, sở hữu đôi bàn tay nhỏ đeo găng, và cất lên giọng nói được điều tiết hoàn hảo.
Cray dường như thấy có điều gì đó đặc biệt chướng mắt ở cuốn sách cầu nguyện nhỏ trên bàn tay đeo găng sẫm màu của Oman. “Tôi không biết thứ đó lại hợp với sở thích của anh đấy,” ông nói có phần thô lỗ.
Oman cười nhẹ nhàng, không hề tỏ ý mếch lòng. “Thứ này mới hợp hơn cơ, tôi biết chứ,” ông nói, đặt tay lên cuốn sách lớn mà mình vừa buông xuống, “một từ điển về các loại dược phẩm và những thứ đại loại thế. Nhưng nó quá khổ để mang đến nhà thờ.” Rồi ông khép cuốn sách lớn lại, và dường như lại phảng phất một chút vội vã lẫn ngượng ngùng.
“Tôi đoán rằng,” vị linh mục lên tiếng, có vẻ chán ngấy với việc đổi chủ đề, “tất cả những cây giáo và đồ đạc này đều đến từ Ấn Độ sao?”
“Từ khắp nơi trên thế giới,” vị bác sĩ đáp. “Putnam là một cựu chiến binh, và từng đặt chân đến Mexico, Australia, thậm chí cả các đảo Ăn Thị Thịt Người nếu tôi không nhầm.”
“Tôi hy vọng không phải ở các đảo Ăn Thị Thịt Người,” Brown nói, “mà ông ấy học được nghệ thuật nấu nướng.” Và ngài đảo mắt nhìn lướt qua những chiếc nồi hầm hay những dụng cụ kỳ lạ khác trên tường.
Vào khoảnh khắc này, nhân vật vui tính trong câu chuyện của họ thò khuôn mặt cười cợt, đỏ lựng như tôm luộc vào phòng. “Mau lên, Cray,” ông gọi lớn. “Bữa trưa của anh vừa được dọn ra kìa. Và chuông nhà thờ đã reo vang cho những ai muốn đi lễ rồi đấy.”
Cray lẻn lên lầu để thay đồ; Tiến sĩ Oman và cô Watson trang nghiêm rảo bước xuống phố cùng một nhóm người đi lễ khác; nhưng Cha Brown để ý thấy vị bác sĩ đã hai lần quay đầu lại săm soi ngôi nhà; thậm chí còn quay lại tận góc phố để nhìn ngắm nó thêm lần nữa.
Vị linh mục trông có vẻ bối rối. “Hắn ta không thể nào đến chỗ thùng rác được,” ngài lầm bầm. “Không thể trong bộ đồ đó. Hay hắn đã ở đó từ sáng sớm nay?”
Cha Brown, trong việc tiếp xúc với người khác, vốn nhạy bén chẳng khác nào một chiếc phong vũ biểu; nhưng hôm nay ngài lại có vẻ nhạy bén hệt như một con tê giác. Xét theo bất kỳ quy luật xã hội nào, dù nghiêm ngặt hay ngầm định, ngài không thể bị coi là nán lại quanh bữa trưa của hai người bạn Anglo-Indian; thế nhưng ngài vẫn nán lại, khỏa lấp vị trí của mình bằng hàng tràng cuộc trò chuyện vui nhộn nhưng hoàn toàn vô tích sự. Ngài càng gây khó hiểu hơn khi dường như chẳng hề muốn ăn trưa chút nào. Khi hết món kedgeree chế biến tinh tế này đến món cà ri khác, đi kèm với những loại rượu vang hảo hạng tương ứng, lần lượt được dọn ra trước mặt hai người kia, ngài chỉ lặp đi lặp lại rằng hôm nay là một trong những ngày ăn chay của mình, rồi gặm một mẩu bánh mì, nhấp môi và sau đó để nguyên cốc nước lọc không hề chạm đến. Tuy nhiên, lời nói của ngài thì vô cùng rôm rả.
“Tôi sẽ làm điều này cho các anh,” ngài thốt lên—, “tôi sẽ trộn một đĩa salad! Tôi không thể ăn nó, nhưng tôi sẽ trộn nó đẹp như một thiên thần! Anh có một cây xà lách ở đằng kia kìa.”
“Đáng tiếc đó lại là thứ duy nhất chúng tôi có,” vị Thiếu tá đôn hậu đáp. “Anh phải nhớ rằng mù tạt, giấm, dầu ăn và những thứ tương tự đã biến mất cùng với giá đựng gia vị và tên trộm rồi.”
“Tôi biết chứ,” Brown đáp, có phần mơ hồ. “Đó là điều tôi luôn lo sợ sẽ xảy ra. Đó là lý do tại sao tôi luôn mang theo giá đựng gia vị bên mình. Tôi thích ăn salad lắm.”
Và trước sự kinh ngạc tột độ của hai người đàn ông, ngài lấy một lọ đựng tiêu từ trong túi áo vest ra và đặt nó lên bàn.
“Tự hỏi tại sao tên trộm lại muốn cả mù tạt cơ chứ,” ngài nói tiếp, lấy ra một lọ mù tạt từ chiếc túi khác. “Chắc là để đắp cao mù tạt. Còn giấm nữa chứ” — và rút ra loại gia vị đó — “chẳng phải tôi từng nghe nói về giấm và giấy nâu sao? Còn dầu ăn, cái mà tôi nghĩ mình đã nhặt nhạnh được ở bên trái—”
Sự lắm lời của ngài đột ngột bị cắt đứt; bởi khi ngẩng mắt lên, ngài nhìn thấy thứ mà không ai khác nhìn thấy — bóng dáng đen sì của Tiến sĩ Oman đang đứng trên bãi cỏ ngập tràn ánh nắng và đăm đăm nhìn vào trong phòng. Trước khi ngài kịp hoàn hồn, Cray đã chen ngang.
“Anh quả là một tay bài kinh ngạc,” ông vừa nói vừa trân trân nhìn ngài. “Tôi sẽ đến nghe những bài giảng của anh, nếu chúng thú vị như cách cư xử của anh vậy.” Giọng ông thay đổi đôi chút, và ông ngả người ra sau ghế.
“Ồ, trong chiếc giá đựng gia vị cũng có những bài giảng đấy chứ,” Cha Brown nói hết sức nghiêm túc. “Anh đã nghe nói về đức tin lớn bằng hạt cải, hay lòng bác sỉ xức dầu thơm chưa? Còn về giấm, liệu có người lính nào quên được người người lính đơn độc ấy, khi mặt trời tắt lụy—”
Đại tá Cray chồm người tới phía trước một chút và bấu chặt lấy tấm khăn trải bàn.
Cha Brown, người đang trộn đĩa salad, trút hai thìa mù tạt vào chiếc cốc nước bên cạnh; đứng phắt dậy và cất giọng mới mẻ, lớn và đột ngột—“Uống nó đi!”
Cùng lúc đó, vị bác sĩ đang bất động ngoài vườn lao vụt tới, tung toé cánh cửa sổ và hét lên: “Có chuyện gì cần tôi không? Hắn bị đầu độc à?”
“Gần như thế,” Brown nói, với bóng dáng của một nụ cười; bởi chất gây nôn đã phát huy tác dụng cực kỳ nhanh chóng. Và Cray nằm trên chiếc ghế dài, thở hổn hển như thể tranh giành sự sống, nhưng vẫn còn sống.
Thiếu tá Putnam chồm dậy, khuôn mặt tím tái đốm đầy những vệt màu. “Một tội ác!” ông khàn giọng thét lên. “Tôi sẽ đi gọi cảnh sát!”
Vị linh mục có thể nghe thấy tiếng ông giật chiếc mũ lá cọ khỏi cái móc áo và lảo đảo lao ra cửa trước; ngài nghe tiếng cổng vườn sập mạnh. Nhưng ngài chỉ đứng đó nhìn Cray; và sau một hồi im lặng, ngài điềm đạm cất lời:
“Tôi sẽ không nói với anh quá nhiều; nhưng tôi sẽ cho anh biết những gì anh muốn biết. Chẳng có lời nguyền nào giáng xuống đầu anh cả. Ngôi đền Thần Khỉ hoặc là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, hoặc là một phần của trò bịp; trò bịp đó là thủ đoạn của một người da trắng. Chỉ có một loại vũ khí duy nhất có thể gây ra vết máu chỉ với cái chạm nhẹ tựa lông hồng: một lưỡi dao cạo do tay người da trắng cầm. Có một cách duy nhất để khiến một căn phòng chung ngập tràn chất độc vô hình, ngột ngạt: vặn van ga — tội ác của một người da trắng. Và chỉ có một loại gậy duy nhất có thể ném ra từ cửa sổ, quay vòng giữa không trung và quay trở lại khung cửa sổ bên cạnh nó: chiếc boomerang của Australia. Anh sẽ thấy vài chiếc trong số chúng nằm ở phòng làm việc của Thiếu tá.”
Nói xong, ngài bước ra ngoài và nói chuyện với vị bác sĩ trong giây lát. Ngay sau đó, Audrey Watson lao vào nhà và quỵ xuống bên cạnh chiếc ghế của Cray. Ngài không thể nghe thấy họ nói gì với nhau; nhưng gương mặt họ bừng lên vẻ ngạc nhiên, chứ không phải bất hạnh. Vị bác sĩ và vị linh mục thong thả bước về phía cổng vườn.
“Tôi đoán Thiếu tá cũng thầm yêu cô ấy,” ngài thở dài nói; và khi người kia gật đầu, ngài nhận xét: “Anh thật rộng lượng, bác sĩ. Anh đã làm một việc tuyệt vời. Nhưng điều gì khiến anh nghi ngờ vậy?”
“Một điều rất nhỏ nhặt thôi,” Oman nói; “nhưng nó khiến tôi thấp thỏm không yên trong nhà thờ cho đến khi quay lại để chắc chắn mọi thứ đều ổn. Cuốn sách trên bàn ông ta là một chuyên khảo về độc dược; và nó được đặt mở sẵn ở trang nêu rõ rằng một loại độc dược nào đó của Ấn Độ, dù cực kỳ độc hại và khó lòng truy dấu, lại đặc biệt dễ dàng bị vô hiệu hóa khi dùng những chất gây nôn thông thường nhất. Tôi đoán ông ta đã đọc được điều đó vào phút chót—”
“Và nhớ ra rằng có những chất gây nôn trong giá đựng gia vị,” Cha Brown nói. “Chính xác. Hắn vứt chiếc giá đựng gia vị vào thùng rác — nơi tôi tìm thấy nó, cùng với số đồ bạc khác — nhằm ngụy trang thành một vụ trộm. Nhưng nếu anh nhìn vào cái lọ đựng tiêu tôi đặt trên bàn, anh sẽ thấy một lỗ thủng nhỏ. Đó là nơi viên đạn của Cray bắn trúng, làm tung hạt tiêu lên và khiến kẻ thủ ác hắt hơi.”
Một khoảng lặng trùm xuống. Sau đó, Tiến sĩ Oman lạnh lùng cất tiếng: “Thiếu tá mất khối thời gian đi tìm cảnh sát nhỉ.”
“Hoặc cảnh sát mất khối thời gian đi tìm Thiếu tá?” vị linh mục đáp. “Chà, chào anh nhé.”