Sự Khôn Ngoan Của Father Brown

Lượt đọc: 72 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
— Cuộc Đấu Tay Đôi Của Tiến Sĩ Hirsch

❊ ❊ ❊

M. Maurice Brun và M. Armand Armagnac đang băng qua đại lộ Champs Elysée ngập tràn ánh nắng với một vẻ tôn kính đầy hoạt bát. Cả hai đều thấp người, nhanh nhẹn và táo bạo. Cả hai đều để râu đen, thứ râu trông có vẻ chẳng dính dáng gì đến khuôn mặt họ, theo cái kiểu kỳ quái của người Pháp khiến tóc thật trông giống như tóc giả. M. Brun có một chùm râu đen hình chiếc nêm dường như được dán chặt dưới môi dưới của mình. Còn M. Armagnac, để đổi gió, lại có tận hai chiếc râu; mỗi chiếc chĩa ra từ một bên cằm quả quyết của anh ta. Cả hai đều còn trẻ. Cả hai đều theo chủ nghĩa vô thần, với một sự cứng nhắc đến phát nản trong thế quan nhưng lại vô cùng linh hoạt trong cách diễn giải. Cả hai đều là môn đồ của vị tiến sĩ vĩ đại Hirsch — nhà khoa học, nhà truyền thông và nhà đạo đức học.

M. Brun từng nổi danh qua đề xuất cho rằng từ thông dụng “Adieu” nên bị xóa bỏ khỏi tất cả các tác phẩm kinh điển của Pháp, và áp dụng một khoản tiền phạt nhỏ đối với việc sử dụng nó trong đời sống riêng tư. “Khi ấy,” ông ta nói, “cái tên của vị Thần tưởng tượng nhà các ngươi sẽ vang lên lần cuối cùng trong tai loài người.” M. Armagnac lại chuyên tâm hơn vào việc chống lại chủ nghĩa quân phiệt, và muốn đoạn điệp khúc của bài Marseillaise được đổi từ “Aux armes, citoyens” thành “Aux greves, citoyens”. Nhưng chủ nghĩa phản chiến của anh ta lại mang một nét độc đáo rất riêng của người Gaul. Một nhà Quaker giàu có và lỗi lạc người Anh, người đã đến gặp anh ta để sắp xếp việc giải trừ quân bị cho toàn bộ hành tinh, cảm thấy khá phiền lòng trước đề xuất của Armagnac rằng (như một bước khởi đầu) các binh lính nên bắn cấp chỉ huy của họ.

Và quả thực, chính ở điểm này mà hai người họ khác biệt nhiều nhất với người lãnh đạo và cũng là người cha tinh thần của họ. Tiến sĩ Hirsch, dẫu sinh ra ở nước Pháp và ngập tràn trong những ân huệ huy hoàng nhất của nền giáo dục Pháp, lại mang một bản chất thuộc tuýp người khác — ôn hòa, mộng mơ, nhân hậu; và bất chấp hệ thống tư tưởng hoài nghi của mình, ông vẫn không hề thiếu đi chất siêu việt. Tóm lại, ông giống một người Đức hơn là một người Pháp; và dẫu ngưỡng mộ ông đến đâu, sâu thẳm trong tiềm thức của những người con xứ Gaul này vẫn cảm thấy khó chịu trước việc ông biện hộ cho hòa bình một cách quá đỗi ôn hòa. Tuy nhiên, đối với đảng của họ trên khắp châu Âu, Paul Hirsch lại là một vị thánh trong giới khoa học. Những lý thuyết vũ trụ lớn lao và táo bạo của ông đã quảng bá cho lối sống khắc khổ cùng nền đạo đức ngây thơ, dẫu có phần lạnh lùng của ông; ông nắm giữ một vị thế giao thoa giữa Darwin và Tolstoy. Nhưng ông không phải là một kẻ vô chính phủ hay một kẻ phản quốc; quan điểm của ông về việc giải trừ quân bị mang tính ôn hòa và tiến hóa — Chính phủ Cộng hòa đặt trọn niềm tin vào ông trong các vấn đề cải tiến hóa học khác nhau. Gần đây, ông thậm chí còn phát minh ra một loại chất nổ không tiếng động, bí mật về nó đang được Chính phủ cẩn mật gìn giữ.

Ngôi nhà của ông nằm trên một con phố đẹp gần điện Elysée — một con phố mà trong cái nắng gay gắt của mùa hè dường như ngập trànán lá chẳng kém gì công viên; một hàng dẻ tây làm dịu đi ánh nắng chói chang, chỉ bị ngắt quãng ở một nơi có quán cà phê lớn lấn ra mặt đường. Gần như đối diện với nơi này là những tấm rèm trắng và xanh của ngôi nhà vị nhà khoa học vĩ đại, với một chiếc ban công bằng sắt, cũng được sơn màu xanh, chạy dài phía trước các cửa sổ tầng một. Phía dưới là lối vào một kiểu sân nhỏ, tươi tắn với cây bụi và gạch lát, nơi hai người đàn ông Pháp bước vào trong cuộc trò chuyện sôi nổi.

Cánh cửa được mở bởi người đầy tớ già của vị tiến sĩ, Simon, người hoàn toàn có thể lầm tưởng là một vị bác sĩ, với bộ âu phục đen nghiêm trang, mắt kính, mái tóc điểm bạc và phong thái kín đáo. Trên thực tế, ông ta trông ra dáng một nhà khoa học hơn hẳn chủ nhân của mình, Tiến sĩ Hirsch — một kẻ gầy gò như củ cải chẻ đôi, với cái đầu chỉ vừa đủ lớn để khiến thân hình trở nên tầm thường. Với tất cả vẻ trang nghiêm của một vị danh y đang cầm đơn thuốc, Simon trao một bức thư cho M. Armagnac. Người đàn ông đó xé toạc nó ra với sự thiếu kiên nhẫn mang tính chủng tộc, và đọc nhanh những dòng sau đây:

Tôi không thể xuống gặp anh được. Có một kẻ trong ngôi nhà này mà tôi từ chối gặp mặt. Hắn là một sĩ quan theo chủ nghĩa sô-vanh, Dubosc. Hắn đang ngồi trên cầu thang. Hắn đã đá thúng đụng nia đồ đạc ở tất cả các phòng khác; tôi đã tự khóa mình trong phòng làm việc, đối diện với quán cà phê đó. Nếu anh yêu mến tôi, hãy sang quán cà phê và đợi ở một trong những chiếc bàn ngoài trời. Tôi sẽ cố gắng đuổi hắn sang phía các anh. Tôi muốn anh trả lời và đối phó với hắn. Tôi không thể tự mình gặp hắn. Tôi không thể: Tôi sẽ không thể.

Sắp có một vụ án Dreyfus thứ hai rồi đây.

P. HIRSCH

M. Armagnac nhìn M. Brun. M. Brun mượn bức thư, đọc nó, rồi nhìn lại M. Armagnac. Sau đó, cả hai nhanh nhẹn tiến về một trong những chiếc bàn nhỏ dưới tán dẻ đối diện, nơi họ gọi hai ly absinthe xanh ngắt ghê rợn — thứ thức uống mà họ có thể uống trong bất kỳ thời tiết nào và vào bất cứ lúc nào. Ngoài ra quán cà phê có vẻ trống vắng, ngoại trừ một người lính đang uống cà phê ở một bàn, và ở bàn khác là một gã to con đang uống một ly xirô nhỏ cùng một vị linh mục chẳng uống gì cả.

Maurice Brun hắng giọng và nói: “Tất nhiên chúng ta phải giúp đỡ ngài chủ tịch bằng mọi cách, nhưng—”

Một sự im lặng bất chợt bao trùm, và Armagnac lên tiếng: “Ông ấy có thể có những lý do xuất sắc để không tự mình gặp gã đó, nhưng—”

Trước khi ai kịp dứt lời, rõ ràng là kẻ xâm nhập đã bị tống cổ khỏi ngôi nhà đối diện. Những bụi cây dưới vòm cổng chao đảo và rẽ toác ra, khi vị khách không mời mà đến ấy bị phóng ra ngoài như một quả đạn đại bác.

Hắn là một nhân vật vạm vỡ đội chiếc mũ phớt Tyrolean nhỏ và hơi nghiêng, một dáng vẻ quả thực mang đậm phong cách Tyrolean. Vai của người đàn ông rất to và rộng, nhưng đôi chân lại gọn gàng và năng động trong chiếc quần chẽn ngang gối và tất đan. Gương mặt hắn sạm nắng như hạt dẻ; hắn có đôi mắt nâu vô cùng sáng và láu lỉnh; mái tóc tối màu được chải ngược cứng nhắc phía trước và cắt tỉa gọn gàng phía sau, làm nổi bật một chiếc đầu vuông vức và đầy quyền uy; cùng với một bộ ria mép đen dày cộp như sừng bò rừng. Một cái đầu lực lưỡng như vậy thường đi kèm với cái cổ bò; nhưng nó lại được che khuất bởi một chiếc khăn choàng lớn sặc sỡ, quấn ngược lên tận mang tai và buông thõng ở phía trước ngực như một dạng áo ghi-lê cách điệu. Đó là một chiếc khăn với những gam màu trầm mạnh mẽ, đỏ sậm, vàng cổ và tím, có lẽ là hàng dệt phương Đông. Nhìn chung, người đàn ông này mang theo một chút vẻ hoang dã; giống một điền chủ Hungary hơn là một sĩ quan Pháp thông thường. Tuy nhiên, tiếng Pháp của hắn rõ ràng là tiếng bản xứ; và lòng ái quốc Pháp của hắn bốc đồng đến mức hơi ngớ ngẩn. Hành động đầu tiên của hắn khi lao ra khỏi vòm cổng là cất giọng vang như kèn đồng hét lên dọc con phố: “Có người Pháp nào ở đây không?” cứ như thể hắn đang gọi những tín đồ Thiên Chúa giáo giữa lòng Mecca.

Armagnac và Brun lập tức đứng dậy; nhưng đã quá muộn. Mọi người đã bắt đầu chạy tới từ các góc phố; một đám đông nhỏ nhưng đang kéo đến ngày một đông đúc. Với bản năng nhanh nhạy của người Pháp đối với chính trị đường phố, kẻ để ria mép đen đã chạy ù sang một góc quán cà phê, nhảy phắt lên một chiếc bàn, túm lấy một nhánh cây dẻ để giữ thăng bằng, và thét lên hệt như Camille Desmoulins từng thét khi ông tung những chiếc lá sồi vào đám đông.

“Hỡi những người đồng bào!” hắn gào thét; “Tôi không thể nói! Chúa giúp tôi, đó là lý do tại sao tôi phải lên tiếng! Bọn chúng trong những nghị viện dơ bẩn học cách nói cũng đồng thời học cách giữ im lặng — im lặng như con gián điệp đang co ro trong ngôi nhà đối diện! Im lặng như khi tôi đập cửa phòng ngủ của hắn! Im lặng như bây giờ, mặc dù hắn nghe thấy giọng nói của tôi vang qua con phố này và đang run lẩy bẩy nơi hắn ngồi! Ồ, bọn chính trị gia có thể giữ im lặng một cách hùng hồn lắm chứ! Nhưng thời điểm đã đến khi những kẻ không biết nói như chúng ta phải lên tiếng. Các người đã bị phản bội trước người Phổ. Đang bị phản bội ngay vào lúc này. Bị phản bội bởi chính con người đó. Ta là Jules Dubosc, Đại tá Pháo binh, pháo đài Belfort. Chúng ta đã tóm được một tên gián điệp Đức ở vùng Vosges ngày hôm qua, và một tài liệu đã được tìm thấy trên người hắn — một tài liệu mà ta đang cầm trong tay. Ồ, chúng đã cố che đậy nó; nhưng ta đã mang nó đến thẳng kẻ đã viết ra nó — kẻ đang ở trong ngôi nhà kia! Nó nằm trong chữ viết của hắn. Nó được ký bằng chữ cái đầu tên hắn. Đó là chỉ dẫn để tìm ra bí mật về loại Bột thuốc súng Không tiếng động mới này. Hirsch đã phát minh ra nó; Hirsch đã viết bức thư này về nó. Bức thư này viết bằng tiếng Đức, và được tìm thấy trong túi của một tên Đức. ‘Hãy bảo hắn công thức pha chế thuốc súng nằm ở phong bì xám trong ngăn kéo đầu tiên bên trái bàn làm việc của Thư ký, Bộ Chiến tranh, viết bằng mực đỏ. Hắn phải cẩn thận. P.H.’”

Hắn tung ra những câu ngắn ngủi như một khẩu súng máy, nhưng rõ ràng hắn thuộc tuýp người hoặc là điên hoặc là đúng. Đa số đám đông là những người theo chủ nghĩa Dân tộc, và đã bắt đầu nổi giận đùng đùng; trong khi một thiểu số những Trí thức cũng phẫn nộ không kém, dẫn đầu bởi Armagnac và Brun, chỉ càng khiến phe đa số thêm phần hiếu chiến.

“Nếu đây là một bí mật quân sự,” Brun hét lên, “tại sao anh lại gào thét về nó giữa phố?”

“Tôi sẽ nói cho anh biết tại sao tôi làm vậy!” Dubosc gầm lên át cả tiếng ồn ào của đám đông. “Tôi đã đến gặp con người này một cách đàng hoàng và lịch sự. Nếu hắn có bất kỳ lời giải thích nào, nó đã có thể được đưa ra trong sự bảo mật hoàn toàn. Hắn từ chối giải thích. Hắn đẩy tôi sang hai kẻ xa lạ ở quán cà phê như thể đẩy hai tên đầy tớ. Hắn đã tống cổ tôi khỏi nhà hắn, nhưng tôi sẽ quay lại đó, với nhân dân Paris đứng sau lưng tôi!”

Một tiếng hò reo dường như làm rung chuyển cả mặt tiền của những dinh thự và hai viên gạch bay vèo tới, một viên làm vỡ cửa sổ phía trên ban công. Vị Đại tá phẫn nộ lại lao một lần nữa vào vòm cổng và người ta nghe thấy tiếng ông ta đang quát tháo ầm ĩ bên trong. Từng phút trôi qua, biển người càng lúc càng lớn; nó chồm lên chống lại hàng rào và bậc thềm ngôi nhà của kẻ phản bội; đã chắc chắn một điều rằng nơi này sẽ bị phá tung ra giống như ngục Bastille, thì cánh cửa sổ kính kiểu Pháp bị vỡ tung mở ra và Tiến sĩ Hirsch bước ra ban công.

Trong một khoảnh khắc, cơn thịnh nộ suýt chuyển thành tiếng cười; bởi vì ông trông thật nực cười trong một khung cảnh như thế. Chiếc cổ dài để trần cùng đôi vai xuôi xuống của ông có hình dáng giống như một cái chai champagne, nhưng đó lại là điểm duy nhất mang hơi hướng lễ hội ở con người ông. Chiếc áo khoác treo lủng lẳng trên người ông như thể treo trên một cái mắc áo; ông để mái tóc màu cà rốt dài và lơ thơ; hai bên má và cằm được viền quanh bởi một bộ râu khó chịu mọc cách xa miệng. Ông rất xanh xao, và đeo một cặp kính xanh.

Dẫu nhợt nhạt là thế, ông vẫn cất lời với một vẻ quyết đoán trang trọng, khiến đám đông phải chìm vào im lặng ngay giữa câu thứ ba của ông.

“...chỉ có hai điều muốn nói với các vị lúc này. Điều đầu tiên là gửi tới những kẻ thù của tôi, điều thứ hai gửi tới những người bạn của tôi. Với kẻ thù, tôi nói rằng: Đúng là tôi sẽ không gặp M. Dubosc, mặc dù hắn đang làm loạn ngay bên ngoài căn phòng này. Đúng là tôi đã yêu cầu hai người khác đối chất với hắn thay cho tôi. Và tôi sẽ nói cho các vị biết lý do tại sao! Bởi vì tôi sẽ không và không được phép gặp hắn — bởi vì việc đó đi ngược lại mọi quy tắc về phẩm giá và danh dự. Trước khi tôi được minh oan một cách oanh liệt trước tòa, vẫn còn một trọng tài khác mà quý ông này nợ tôi với tư cách là một quý ông, và trong việc chuyển hướng ông ta đến chỗ những người làm chứng của tôi, tôi hoàn toàn—”

Armagnac và Brun đang điên cuồng vẫy mũ, và ngay cả những kẻ thù của vị Tiến sĩ cũng gầm lên những tràng pháo tay trước sự khiêu khích bất ngờ này. Một lần nữa, một vài câu nói bị chìm đi không nghe rõ, nhưng họ có thể nghe ông nói: “Còn với những người bạn của tôi — bản thân tôi luôn ưa chuộng những thứ vũ khí thuần túy mang tính trí tuệ, và một nhân loại tiến hóa chắc chắn sẽ tự giới hạn trong những thứ đó. Nhưng chân lý quý giá nhất của chúng ta chính là sức mạnh nền tảng của vật chất và tính di truyền. Những cuốn sách của tôi đã thành công; những lý thuyết của tôi chưa từng bị bác bỏ; nhưng tôi lại chịu đựng những thiệt thòi trong chính trị xuất phát từ một định kiến gần như mang tính thể lý ở người Pháp. Tôi không thể nói chuyện như Clemenceau và Déroulède, bởi vì lời nói của họ giống như tiếng vang từ những phát súng lục của họ. Người Pháp đòi hỏi một kẻ đấu kiếm giống như người Anh đòi hỏi một vận động viên thể thao. Chà, tôi xin đưa ra bằng chứng: Tôi sẽ trả món tiền chuộc mang tính dã man này, rồi sau đó trở về với lý trí trong suốt phần đời còn lại của mình.”

Hai người đàn ông lập tức xuất hiện từ trong đám đông để tự nguyện làm người đại diện cho Đại tá Dubosc, người vừa bước ra với vẻ hài lòng. Một người là người lính bình thường uống cà phê hồi nãy, người đã nói một cách đơn giản: “Tôi sẽ làm đại diện cho ngài, thưa ngài. Tôi là Công tước xứ Valognes.” Người kia là gã to con, kẻ mà ban đầu người bạn linh mục của hắn đã cố gắng khuyên can; rồi sau đó lặng lẽ bỏ đi một mình.

Vào lúc chập tối, một bữa tối đạm bạc được dọn ở phía sau quán cà phê Charlemagne. Dù không có mái che bằng kính hay thạch cao mạ vàng nào che trên đầu, các thực khách hầu như đều ngồi dưới một tán lá mong manh và bất định; bởi vì những hàng cây cảnh mọc dày đặc xung quanh và đan xen giữa các bàn ăn tạo nên một không gian vừa mờ ảo vừa chói lọi hệt như một khu vườn cây ăn trái nhỏ. Tại một trong những chiếc bàn ở giữa, một vị linh mục lùn tịt đang ngồi hoàn toàn cô độc, thưởng thức một đĩa cá tuế trắng với một niềm hân hoan đầy vẻ trang nghiêm. Do cuộc sống hằng ngày vô cùng giản dị, ông có một sở thích kỳ lạ dành cho những món xa xỉ bất chợt và biệt lập; ông là một kẻ sành ăn có lối sống điều độ. Ông không hề ngước mắt khỏi đĩa ăn của mình — nơi những thứ như ớt bột, chanh, bánh mì đen và bơ được xếp đặt ngay ngắn xung quanh, cho đến khi một cái bóng cao lớn đổ dài xuống chiếc bàn, và người bạn của ông, Flambeau, ngồi xuống đối diện. Flambeau trông có vẻ ủ rũ.

“Tôi e rằng mình phải từ bỏ vụ này thôi,” anh ta nói với giọng nặng nề. “Tôi hoàn toàn đứng về phía những người lính Pháp như Dubosc, và tôi hoàn toàn chống lại những kẻ vô thần Pháp như Hirsch; nhưng dường như trong trường hợp này chúng ta đã mắc sai lầm. Công tước và tôi nghĩ rằng tốt hơn hết nên điều tra cáo buộc đó, và tôi phải nói rằng tôi rất mừng vì chúng tôi đã làm vậy.”

“Vậy ra tài liệu đó là giả mạo sao?” vị linh mục hỏi.

“Đó mới là điều kỳ quặc,” Flambeau đáp. “Nó y hệt nét chữ của Hirsch, và không ai có thể chỉ ra bất kỳ điểm sai sót nào trong đó. Nhưng nó không phải do Hirsch viết. Nếu ông ta là một người yêu nước Pháp thì ông ta đã không viết nó, bởi vì nó cung cấp thông tin cho nước Đức. Và nếu ông ta là một tên gián điệp Đức thì ông ta lại càng không viết nó, chà — bởi vì nó chẳng cung cấp chút thông tin nào cho nước Đức cả.”

“Ý anh là thông tin đó sai lệch ư?” Cha Brown hỏi.

“Sai,” người kia đáp, “và sai một cách chính xác ở chỗ mà Tiến sĩ Hirsch đáng lẽ ra phải đúng — về chỗ ẩn giấu của công thức bí mật của chính ông ta tại phòng ban chính quyền của ông ta. Nhờ ơn của Hirsch và giới chức trách, Công tước và tôi thực sự đã được phép kiểm tra ngăn kéo bí mật tại Bộ Chiến tranh nơi cất giữ công thức của Hirsch. Chúng tôi là những người duy nhất từng biết về nó, ngoại trừ chính nhà phát minh và Bộ trưởng Bộ Chiến tranh; nhưng ngài Bộ trưởng đã cho phép điều đó để cứu Hirsch khỏi việc phải đấu tay đôi. Sau ngần ấy chuyện, chúng ta thực sự không thể ủng hộ Dubosc nếu sự tiết lộ của hắn chỉ là một cú lừa bịp nhảm nhí.”

“Và đúng là thế sao?” Cha Brown hỏi.

“Đúng là thế,” người bạn của ông ủ rũ đáp. “Đó chỉ là một bản làm giả vụng về bởi một kẻ chẳng biết gì về chỗ ẩn giấu thực sự. Nó nói rằng tài liệu được đặt trong chiếc tủ ở phía bên phải bàn làm việc của Thư ký. Trên thực tế, chiếc tủ có ngăn kéo bí mật lại nằm lệch về phía bên trái bàn làm việc một đoạn. Nó nói rằng phong bì màu xám chứa một tài liệu dài viết bằng mực đỏ. Nó không hề được viết bằng mực đỏ, mà bằng mực đen thông thường. Thật hiển nhiên là vô lý khi cho rằng Hirsch có thể nhầm lẫn về một tài liệu mà không ai ngoài chính ông ta biết tới; hay có thể đã cố gắng giúp đỡ một tên trộm ngoại quốc bằng cách bảo hắn mò mẫm sai ngăn kéo. Tôi nghĩ chúng ta phải từ bỏ vụ này và đi xin lỗi lão Củ Cải thôi.”

Cha Brown có vẻ trầm ngâm suy nghĩ; ông nâng một con cá tuế trắng nhỏ trên nĩa. “Anh chắc chắn là chiếc phong bì màu xám nằm ở ngăn kéo bên trái chứ?” ông hỏi.

“Chắc chắn 100%,” Flambeau đáp. “Chiếc phong bì xám — thực ra nó là một chiếc phong bì trắng — chính là...”

Cha Brown đặt con cá bằng bạc nhỏ cùng chiếc nĩa xuống và trân trân nhìn người bạn đồng hành của mình. “Cái gì?” ông hỏi, với một giọng điệu đã đổi khác.

“Thì sao nào?” Flambeau lặp lại, vừa ăn ngấu nghiến vừa nói.

“Nó không hề màu xám,” vị linh mục nói. “Flambeau, anh đang làm tôi sợ đấy.”

“Cái quái gì mà làm anh phải sợ cơ chứ?”

“Tôi sợ một chiếc phong bì màu trắng,” người kia nghiêm túc đáp. “Giá mà nó màu xám thì tốt biết mấy! Cho dù thế nào đi nữa, nó hoàn toàn có thể là màu xám. Nhưng nếu nó màu trắng, thì toàn bộ câu chuyện này lại trở nên đen tối rồi. Rốt cuộc thì vị Tiến sĩ vẫn đang nhúng tay vào mớ hỗn độn quỷ quái nào đó rồi.”

“Nhưng tôi đã bảo với anh là ông ta không thể viết một bức thư như thế cơ mà!” Flambeau kêu lên. “Bức thư đó hoàn toàn sai lệch về các sự kiện. Và dù có vô tội hay có tội đi nữa, Tiến sĩ Hirsch đều nắm rõ mọi sự kiện trong lòng bàn tay.”

“Kẻ viết bức thư đó nắm rõ mọi sự kiện trong lòng bàn tay,” vị bạn đồng hành mặc áo thầy tu điềm đạm đáp. “Hắn sẽ không bao giờ có thể viết sai bét nhè như thế nếu không nắm rõ về chúng. Anh phải biết cực kỳ nhiều thì mới có thể sai ở mọi chủ đề được — giống như ác quỷ vậy.”

“Ý anh là...?”

“Ý tôi là một kẻ tung tin dối trá một cách ngẫu nhiên thì thế nào cũng phải lỡ miệng nói ra vài điều sự thật,” người bạn của ông quả quyết đáp. “Giả sử có ai đó bảo anh đi tìm một ngôi nhà có cánh cửa màu xanh lá và tấm rèm che cửa màu xanh dương, có khu vườn trước nhưng không có vườn sau, có nuôi chó nhưng không nuôi mèo, và ở đó người ta uống cà phê chứ không uống trà. Anh sẽ nói rằng nếu anh không tìm thấy ngôi nhà nào như thế thì đó hoàn toàn làaaa bịa đặt. Nhưng tôi thì nói không. Tôi nói rằng nếu anh tìm thấy một ngôi nhà mà ở đó cánh cửa màu xanh dương và rèm cửa màu xanh lá, có vườn sau mà không có vườn trước, mèo chạy đầy đường còn chó thì bị bắn chết ngay lập tức, trà được uống theo vạn và cà phê bị cấm tiệt — thì khi ấy anh sẽ biết rằng mình đã tìm đúng ngôi nhà rồi. Kẻ đó phải biết rõ cái ngôi nhà cụ thể ấy thì mới có thể mô tả một cách sai lệch một cách chuẩn xác đến thế.”

“Nhưng điều đó có nghĩa là gì chứ?” vị thực khách ngồi đối diện gặng hỏi.

“Tôi không thể tài nào hình dung nổi,” Brown nói; “Tôi hoàn toàn không hiểu nổi vụ việc Hirsch này tẹo nào. Chừng nào nó mới chỉ là ngăn kéo bên trái thay vì ngăn kéo bên phải, và mực đỏ thay vì mực đen, tôi còn tưởng đó chỉ là những sai lầm ngẫu nhiên của một kẻ làm giả, như anh nói. Nhưng số ba là một con số huyền bí; nó đặt dấu chấm hết cho mọi thứ. Nó chấm dứt chuyện này. Việc chỉ dẫn về ngăn kéo, màu sắc của mực, màu sắc của phong bì, không một chi tiết nào trong số đó đúng một cách ngẫu nhiên, thì đó không thể nào là sự trùng hợp ngẫu nhiên được. Không đời nào.”

“Vậy nó là cái gì? Sự phản bội chăng?” Flambeau hỏi, tiếp tục bữa tối của mình.

“Tôi cũng chẳng biết nữa,” Brown đáp với vẻ mặt ngơ ngác hoàn toàn. “Thứ duy nhất mà tôi có thể nghĩ đến... Chà, tôi chưa bao giờ hiểu nổi cái vụ án Dreyfus đó. Tôi luôn nắm bắt các bằng chứng đạo đức dễ dàng hơn các loại bằng chứng khác. Tôi đánh giá qua ánh mắt và giọng điệu của một con người, anh biết đấy, và xem gia đình họ có vẻ hạnh phúc hay không, và qua những chủ đề mà họ chọn — và né tránh. Chà, tôi đã từng rất bối rối trước vụ án Dreyfus. Không phải vì những điều kinh khủng bị quy chụp cho cả hai phía; tôi biết (mặc dù nói ra điều này vào thời đại hiện nay là lỗi thời) rằng bản chất con người ở những tầng lớp cao nhất vẫn có khả năng trở thành một Cenci hay một Borgia. Không — điều làm tôi bối rối chính là sự chân thành của cả hai phe. Ý tôi không phải là các đảng phái chính trị; đám đông quần chúng luôn tương đối trung thực, và thường bị xỏ mũi. Ý tôi là những nhân vật trong vở kịch cơ. Ý tôi là những kẻ âm mưu, nếu họ thực sự là những kẻ âm mưu. Ý tôi là kẻ phản bội, nếu hắn thực sự là kẻ phản bội. Ý tôi là những kẻ chắc chắn phải biết rõ sự thật. Bây giờ hãy nhìn Dreyfus, hắn hành xử như một kẻ biết rằng mình là một kẻ bị oan uổng. Thế nhưng các chính khách và sĩ quan Pháp lại hành xử cứ như thể họ biết rằng hắn không hề bị oan mà đơn thuần là một kẻ tồi tệ. Ý tôi không phải là họ cư xử đúng đắn; ý tôi là họ cư xử như thể họ chắc chắn về điều đó. Tôi không tài nào diễn tả được những điều này; nhưng tôi biết ý mình muốn nói gì.”

“Ước gì tôi cũng hiểu được,” bạn của ông nói. “Và nó liên quan gì đến lão Hirsch cơ chứ?”

“Giả sử một người đang nắm giữ trọng trách,” vị linh mục tiếp lời, “bắt đầu cung cấp thông tin cho kẻ địch bởi vì đó là thông tin sai lệch. Giả sử thậm chí hắn còn nghĩ rằng mình đang cứu quốc gia bằng cách đánh lạc hướng kẻ ngoại bang. Giả sử điều này đẩy hắn vào vòng vây của đám gián điệp, và những khoản tiền nhỏ được trao tay cho hắn, cùng những sợi dây liên kết nhỏ trói buộc lấy hắn. Giả sử hắn duy trì cái lập trường mâu thuẫn của mình một cách mơ hồ bằng cách không bao giờ nói cho bọn gián điệp ngoại quốc sự thật, mà để chúng ngày càng tự đoán già đoán non. Phần tốt đẹp hơn trong con người hắn (những gì còn lại của nó) vẫn sẽ tự nhủ rằng: ‘Ta đâu có giúp đỡ kẻ địch; ta đã bảo là ngăn kéo bên trái cơ mà.’ Phần hèn hạ hơn trong con người hắn thì đã bắt đầu tự nhủ rằng: ‘Nhưng bọn chúng có thể đủ khôn ngoan để hiểu rằng điều đó có nghĩa là ngăn kéo bên phải.’ Tôi nghĩ điều đó hoàn toàn có thể xảy ra về mặt tâm lý học — trong một thời đại khai sáng, anh biết đấy.”

“Nó có thể khả thi về mặt tâm lý học,” Flambeau đáp, “và nó chắc chắn sẽ giải thích được việc tại sao Dreyfus chắc chắn rằng mình bị oan và các thẩm phán của ông ta thì chắc chắn rằng ông ta có tội. Nhưng lý thuyết đó không thể đứng vững về mặt lịch sử, bởi vì tài liệu của Dreyfus (nếu đó thực sự là tài liệu của ông ta) hoàn toàn chính xác về mặt câu chữ.”

“Tôi không hề nghĩ đến Dreyfus,” Cha Brown nói.

Sự im lặng bao trùm xung quanh khi những chiếc bàn đã dọn sạch; trời đã muộn, dẫu ánh nắng vẫn vương vấn trên vạn vật, như thể vô tình vướng lại trên những tán cây. Trong sự tĩnh lặng, Flambeau dịch chuyển chỗ ngồi một cách đột ngột — tạo ra một âm thanh đơn độc vang vọng — và gác khuỷu tay lên thành ghế. “Chà,” anh ta nói với giọng có phần gay gắt, “nếu Hirsch chẳng hơn gì một kẻ buôn bán sự phản bội nhút nhát...”

“Anh không nên quá khắt khe với họ,” Cha Brown nhẹ nhàng nói. “Đó không hoàn toàn là lỗi của họ; nhưng họ lại thiếu đi bản năng. Ý tôi là những thứ khiến một người phụ nữ từ chối khiêu vũ với một người đàn ông hay một người đàn ông từ chối nhúng tay vào một khoản đầu tư. Họ được dạy rằng mọi thứ chỉ là vấn đề giới hạn hay mức độ mà thôi.”

“Dù thế nào đi nữa,” Flambeau thiếu kiên nhẫn kêu lên, “ông ta chẳng thấm vào đâu so với thân chủ của tôi cả; và tôi sẽ theo đuổi vụ này đến cùng. Lão Dubosc có thể hơi điên rồ, nhưng rốt cuộc lão ta vẫn là một dạng người yêu nước.”

Cha Brown tiếp tục thưởng thức đĩa cá tuế trắng của mình.

Điểm nào đó trong cách ăn uống dửng dưng của ông khiến đôi mắt đen sắc lạnh của Flambeau một lần nữa đảo qua người bạn đồng hành. “Anh bị làm sao thế?” Flambeau gặng hỏi. “Dubosc hoàn toàn ổn về mặt đó mà. Anh không hoài nghi hắn chứ?”

“Bạn của tôi ơi,” vị linh mục nhỏ con nói, đặt con dao và chiếc nĩa xuống với một nỗi tuyệt vọng lạnh lẽo, “tôi hoài nghi tất cả mọi thứ. Ý tôi là tất cả mọi thứ đã xảy ra trong ngày hôm nay. Tôi hoài nghi toàn bộ câu chuyện, mặc dù nó đã được diễn ra ngay trước mặt tôi. Tôi hoài nghi mọi cảnh tượng mà mắt tôi đã thấy kể từ sáng nay. Có cái gì đó trong vụ việc này hoàn toàn khác biệt so với những bí ẩn cảnh sát thông thường, nơi mà một kẻ ít nhiều đang nói dối còn kẻ kia ít nhiều đang nói sự thật. Ở đây cả hai kẻ... Chà! Tôi đã nói cho anh nghe lý thuyết duy nhất mà tôi có thể nghĩ ra có thể làm hài lòng bất kỳ ai. Nhưng nó lại không làm tôi thỏa mãn.”

“Tôi cũng vậy thôi,” Flambeau cau mày đáp, trong khi người kia vẫn tiếp tục ăn cá với vẻ hoàn toàn phó mặc. “Nếu tất cả những gì anh có thể gợi ý chỉ là cái quan niệm về một thông điệp được truyền tải thông qua sự trái ngược, tôi gọi đó là thông minh bất thường, nhưng... chà, anh sẽ gọi nó là gì?”

“Tôi sẽ gọi nó là nông cạn,” vị linh mục đáp nhanh gọn. “Tôi sẽ gọi nó là nông cạn một cách bất thường. Nhưng đó lại chính là điều kỳ quặc của toàn bộ câu chuyện này. Lời dối trá giống như trò đùa của một cậu học sinh vậy. Chỉ có ba phiên bản, của Dubosc, của Hirsch và cái ý tưởng tưởng tượng của tôi. Hoặc là bức thư đó được viết bởi một sĩ quan Pháp nhằm hủy hoại một quan chức Pháp; hoặc nó được viết bởi quan chức Pháp để giúp đỡ các sĩ quan Đức; hoặc nó được viết bởi quan chức Pháp nhằm đánh lạc hướng các sĩ quan Đức. Rất tốt. Anh sẽ mong đợi một tài liệu mật được chuyền tay giữa những con người như thế, quan chức hoặc sĩ quan, phải trông hoàn toàn khác với thứ đó. Anh sẽ mong đợi, có lẽ là một mật mã, chắc chắn là những từ viết tắt; hầu như chắc chắn là những thuật ngữ chuyên ngành khoa học và nghiêm ngặt. Nhưng thứ này lại phức tạp một cách đơn giản, giống như một cuốn tiểu thuyết rẻ tiền: ‘Trong hang động màu tím, anh sẽ tìm thấy chiếc tráp vàng.’ Nó trông giống như thể... giống như thể nó được cố tình để cho người ta nhìn thấu ngay lập tức vậy.”

Ngay trước khi họ kịp hiểu ra vấn đề, một nhân vật thấp gầy mặc quân phục Pháp đã sải bước đến bàn của họ nhanh như chớp, và ngồi phịch xuống ghế.

“Tôi có một tin động trời đây,” Công tước xứ Valognes nói. “Tôi vừa ở chỗ Đại tá của chúng ta về. Hắn đang thu dọn hành lý để rời khỏi đất nước, và hắn nhờ chúng ta đưa ra lời cáo lỗi sur le terrain (trên chiến trường).”

“Cái gì?” Flambeau kêu lên với một vẻ hoài nghi đến đáng sợ — “xin lỗi á?”

“Đúng vậy,” vị Công tước cộc cằn đáp; “ngay lúc đó và tại đó — trước mặt tất cả mọi người — khi gươm đã tuốt vỏ. Và anh cùng tôi phải làm điều đó trong lúc hắn đang rời khỏi đất nước.”

“Nhưng thế này là thế nào chứ?” Flambeau hét lên. “Hắn không thể nào sợ hãi cái lão Hirsch nhỏ bé đó được! Chết tiệt thật!” anh ta gầm lên trong cơn thịnh nộ có lý trí kiểu gì không biết; “không ai có thể sợ Hirsch cả!”

“Tôi tin đó là một âm mưu nào đó!” Valognes hằn học đáp — “một âm mưu của bọn Do Thái và Hội Tam Điểm. Nó được dàn dựng để vươn lên vinh quang cho Hirsch...”

Gương mặt của Cha Brown trông rất đỗi bình thường, nhưng lại vô cùng mãn nguyện; nó có thể bừng sáng vì sự ngây thơ cũng như vì sự hiểu biết. Nhưng luôn có một khoảnh khắc khi chiếc mặt nạ khờ khạo rơi xuống, và chiếc mặt nạ thông thái tự khớp vào vị trí của nó; và Flambeau, kẻ rấtu hiểu bạn mình, biết rằng người bạn của anh đã chợt hiểu ra vấn đề. Brown không nói gì, chỉ lặng lẽ ăn nốt đĩa cá của mình.

“Anh lần cuối nhìn thấy vị Đại tá quý hóa của chúng ta ở đâu?” Flambeau bực bội hỏi.

“Lão ấy đang ở khách sạn Saint Louis gần điện Elysée, nơi chúng ta đã lái xe đưa lão đến. Lão đang thu dọn hành lý, tôi nói thật đấy.”

“Liệu lão ấy có còn ở đó không, anh nghĩ sao?” Flambeau hỏi, vừa cau mày nhìn xuống bàn.

“Tôi không nghĩ lão có thể đi ngay được đâu,” vị Công tước đáp; “lão đang thu dọn đồ đạc để đi một chuyến đi dài...”

“Không,” Cha Brown nói một cách hoàn toàn tự nhiên, nhưng đột ngột đứng phắt dậy, “cho một chuyến đi rất ngắn. Trên thực tế là một trong những chuyến đi ngắn nhất. Nhưng chúng ta vẫn có thể kịp tóm lấy lão nếu đi đến đó bằng một chiếc xe taxi.”

Không ai có thể moi thêm được lời nào từ ông nữa cho đến khi chiếc taxi vòng qua góc phố cạnh khách sạn Saint Louis, nơi họ xuống xe, và ông dẫn đoàn người đi vào một con hẻm nhỏ đã chìm sâu trong bóng râm của màn đêm đang buông xuống. Có lúc, khi vị Công tước thiếu kiên nhẫn hỏi liệu Hirsch có tội phản quốc hay không, ông đáp lại với vẻ hơi đãng trí: “Không; chỉ là tham vọng — giống như Caesar vậy.” Sau đó, ông có phần bất nhất nói thêm: “Ông ấy sống một cuộc đời rất cô độc; ông ấy đã phải tự mình làm mọi thứ.”

“Chà, nếu hắn có tham vọng, thì bây giờ hắn nên cảm thấy mãn nguyện rồi,” Flambeau nói với giọng có phần cay đắng. “Cả Paris sẽ tung hô hắn bây giờ khi tên Đại tá chết tiệt của chúng ta đã cúp đuôi chạy trốn.”

“Đừng nói lớn tiếng thế,” Cha Brown nói, hạ thấp giọng xuống, “tên Đại tá chết tiệt của các anh đang ở ngay phía trước kìa.”

Hai người kia giật mình và thụt lùi sâu hơn vào bóng râm của bức tường, bởi vì dáng người vạm vỡ của vị chủ nhân đang bỏ chạy quả thực có thể nhìn thấy đang lom khom lê bước trong chạng vạng phía trước, mỗi tay xách một chiếc túi. Trông lão vẫn y hệt như lần đầu tiên họ nhìn thấy, ngoại trừ việc lão đã thay chiếc quần chẽn đi leo núi mang tính phong cảnh của mình bằng một chiếc quần âu thông thường. Rõ ràng là lão đang trốn khỏi khách sạn.

Con hẻm mà họ bám theo là một trong những con hẻm nằm ở phía sau vạn vật, trông giống như mặt trái của phông màn sân khấu. Một bức tường đơn sắc, kéo dài chạy dọc theo một bên mép của nó, bị ngắt quãng bởi những cánh cửa mang màu sắc xỉn màu và dính đầy chất bẩn, tất cả đều đóng kín mít và không có điểm nhấn gì ngoại trừ những nét vẽ nguệch ngoạc bằng phấn của một đứa trẻ lang thang nào đó ngang qua. Ngọn của những hàng cây, phần lớn là cây thường xanh khá ảm đạm, thỉnh thoảng nhô lên phía trên đỉnh tường, và xa hơn chúng trong ánh hoàng hôn màu xám và tím, người ta có thể nhìn thấy mặt sau của dãy sân thượng dài gồm những ngôi nhà cao tầng ở Paris, thực ra là ở tương đối gần, nhưng bằng cách nào đó lại trông xa vời không thể tiếp cận được như một dãy núi cẩm thạch. Ở bên kia con hẻm là những thanh sắt mạ vàng cao của một công viên ảm đạm.

Flambeau đang đảo mắt nhìn xung quanh với một vẻ kỳ lạ. “Anh có biết không,” anh ta nói, “có cái gì đó ở nơi này cứ...”

“Kia kìa!” vị Công tước lớn tiếng cắt ngang; “Tên đó biến mất tiêu rồi. Tiêu đời như một con yêu tinh quái đản!”

“Lão ta có chìa khóa,” vị bạn linh mục giải thích. “Lão ta chỉ đi vào một trong những cánh cửa vườn này thôi,” và vừa dứt lời, họ nghe thấy một trong những cánh cửa gỗ tối màu lại đóng sầm lại với một tiếng cách ở phía trước mặt.

Flambeau sải bước đến cánh cửa vừa đóng lại ngay trước mũi anh ta, và đứng sững trước nó một lúc, cắn bộ ria mép đen trong cơn giận dữ vì tò mò. Sau đó, anh ta vung đôi tay dài của mình lên và đu người lên cao như một con khỉ rồi đứng vững trên đỉnh tường, vóc dáng to lớn lực lưỡng của anh ta hiện lên tối sầm giữa bầu trời tím ngắt, giống như những ngọn cây u tối.

Vị Công tước nhìn vị linh mục. “Cuộc chạy trốn của Dubosc tinh vi hơn chúng ta tưởng,” ông nói; “nhưng tôi cho rằng hắn đang trốn khỏi nước Pháp.”

“Lão ta đang trốn chạy khỏi tất cả mọi nơi,” Cha Brown đáp.

Đôi mắt Valognes sáng lên, nhưng giọng nói lại trầm xuống. “Ý anh là tự sát sao?” ông hỏi.

“Các anh sẽ không tìm thấy xác của lão đâu,” người kia đáp.

Một tiếng kêu phát ra từ Flambeau ở trên bức tường phía trên. “Chúa ơi,” anh ta thốt lên bằng tiếng Pháp, “bây giờ thì tôi biết đây là nơi nào rồi! Chà, đây chính là mặt sau của con đường nơi lão Hirsch sinh sống. Tôi cứ tưởng mình có thể nhận ra mặt sau của một ngôi nhà cũng giỏi như nhận ra mặt sau của một con người chứ.”

“Và Dubosc đã chạy vào trong đó!” vị Công tước kêu lên, vỗ đùi đánh đét. “Cha chả, hóa ra cuối cùng bọn chúng vẫn sẽ gặp nhau!” Và với sự hoạt bát đột ngột mang chất Gaul, ông nhảyót lên bức tường bên cạnh Flambeau và ngồi đó đích thân đá chân vì phấn khích. Chỉ có vị linh mục ở lại bên dưới, tựa lưng vào bức tường, quay lưng lại với toàn bộ sân khấu sự kiện, và tha thiết nhìn sang hàng rào công viên cùng những hàng cây lấp lánh trong chạng vạng.

Tuy nhiên, vị Công tước dù được kích thích đến đâu vẫn mang bản năng của một nhà quý tộc, và muốn nhìn chằm chằm vào ngôi nhà hơn là lén lút rình mò; nhưng Flambeau, kẻ mang bản năng của một tên trộm (và một thám tử), đã đu người từ trên tường bám vào chạc của một cái cây xùm xoà, từ đó anh ta có thể bò đến sát sạt cửa sổ duy nhất đang sáng đèn ở phía sau của ngôi nhà cao tối tăm. Một tấm rèm cửa màu đỏ đã được kéo xuống che ánh sáng, nhưng lại bị kéo lệch đi, khiến nó bị hở ra ở một bên, và bằng cách mạo hiểm cả cái mạng sống dọc theo một nhành cây trông mỏng manh như một cành tăm, Flambeau vừa vặn có thể nhìn thấy Đại tá Dubosc đang đi lại bên trong một phòng ngủ sang trọng và sáng rực ánh đèn. Dù Flambeau ở rất gần ngôi nhà, anh vẫn nghe thấy những lời của các đồng nghiệp ở dưới chân tường, và lặp lại chúng với giọng thấp.

“Đúng vậy, cuối cùng bọn họ cũng sẽ gặp nhau!”

“Bọn họ sẽ chẳng bao giờ gặp nhau đâu,” Cha Brown nói. “Hirsch đã đúng khi nói rằng trong một vụ việc như thế, những nhân vật chính không được phép gặp nhau. Anh đã đọc câu chuyện tâm lý kỳ quái nào của Henry James chưa, kể về hai con người cứ mãi bỏ lỡ cuộc gặp gỡ với nhau do tình cờ đến mức họ bắt đầu cảm thấy sợ hãi lẫn nhau, và nghĩ đó là định mệnh? Câu chuyện này cũng ná ná như vậy, nhưng còn kỳ lạ hơn.”

“Có những kẻ ở Paris sẽ chữa khỏi cho bọn họ những nỗi ám ảnh bệnh hoạn đó,” Valognes hằn học nói. “Bọn chúng sẽ buộc phải gặp nhau nếu chúng ta bắt sống và ép chúng đấu kiếm.”

“Bọn chúng sẽ không gặp nhau ngay cả trong Ngày Phán Xét,” vị linh mục nói. “Nếu Đấng Tối Cao cầm gậy chỉ huy của đấu trường, nếu Thánh Michael thổi kèn lệnh cho gươm tuốt trần — ngay cả khi ấy, nếu một kẻ đứng sẵn sàng, kẻ kia cũng sẽ không đến.”

“Ồ, tất cả những thứ huyền bí học này có nghĩa là gì chứ?” Valognes thiếu kiên nhẫn kêu lên; “sao quái quỷ nào mà bọn chúng lại không thể gặp nhau như những người khác cơ chứ?”

“Bọn chúng là sự đối lập của nhau,” Cha Brown nói với một nụ cười kỳ lạ. “Bọn chúng mâu thuẫn lẫn nhau. Có thể nói là chúng triệt tiêu lẫn nhau.”

Ông tiếp tục đăm đăm nhìn những tán cây đang sẫm dần ở phía đối diện, nhưng Valognes giật mình quay ngoắt đầu lại trước một tiếng kêu nghẹn ngào phát ra từ Flambeau. Nhà điều tra đó, khi đang nheo mắt nhìn vào căn phòng sáng đèn, vừa nhìn thấy vị Đại tá, sau một vài bước đi, liền tiến hành cởi chiếc áo khoác ra. Suy nghĩ đầu tiên của Flambeau là trông điều này thực sự giống như một trận chiến; nhưng anh ta nhanh chóng gạt bỏ suy nghĩ đó để nhường chỗ cho một điều khác. Sự vạm vỡ và vuông vức của phần ngực và vai của Dubosc hóa ra chỉ là một lớp đệm lót mạnh mẽ và bong ra cùng với chiếc áo khoác. Trong bộ sơ mi và quần âu, hắn trông tương đối thon thả, bước qua phòng ngủ để vào phòng tắm mà chẳng có mục đích hiếu chiến nào khác ngoài việc rửa mặt. Hắn cúi người xuống bồn rửa, lau khô đôi bàn tay và khuôn mặt đang nhỏ nước bằng một chiếc khăn tay, rồi quay người lại để ánh sáng mạnh chiếu thẳng vào mặt. Làn da ngăm đen đã biến mất, bộ ria mép đen dày đã biến mất — hắn hoàn toàn nhẵn nhụi và cực kỳ xanh xao. Chẳng còn lại chút gì của vị Đại tá ngoại trừ đôi mắt nâu sắc lẹm như chim ưng. Dưới chân bức tường, Cha Brown vẫn đang trầm ngâm suy tư nặng nề, như thể đang nói một mình.

“Mọi chuyện y hệt như những gì tôi đã nói với Flambeau vậy. Những mặt đối lập này không ổn đâu. Chúng không hoạt động. Chúng không chiến đấu. Nếu nó là màu trắng thay vì màu đen, và đặc thay vì lỏng, và cứ thế xuyên suốt từ đầu đến cuối — thì có điều gì đó không ổn rồi, thưa Ngài, có điều gì đó không ổn. Một trong hai gã này thì da sáng còn kẻ kia da ngăm, một gã mập mạp còn kẻ kia thon thả, một gã khỏe mạnh còn kẻ kia yếu ớt. Một gã có ria mép mà không có râu, nên anh không thể nhìn thấy miệng hắn; kẻ kia có râu mà không có ria mép, nên anh không thể nhìn thấy cằm hắn. Một gã có mái tóc cắt sát tận da đầu, nhưng lại đeo khăn choàng cổ để che đi cái cổ; kẻ kia có cổ áo sơ mi thấp, nhưng lại để tóc dài để che đi da đầu. Mọi thứ quá đỗi gọn gàng và chính xác, thưa Ngài, và chắc chắn có điều gì đó sai sai. Những thứ được tạo ra đối lập như thế là những thứ không thể cãi nhau được. Bất cứ chỗ nào bên này nhô ra thì bên kia lại thụm vào. Giống như khuôn mặt và chiếc mặt nạ, giống như ổ khóa và chiếc chìa khóa...”

Flambeau đang dán mắt vào ngôi nhà với gương mặt trắng bệch như tờ giấy. Kẻ đang ở trong phòng quay lưng về phía anh ta, nhưng đứng trước một chiếc gương soi, và đã vừa gắn quanh khuôn mặt mình một dạng khung viền bằng bộ râu đỏ hoe, mọc lởm chởm từ đầu và bám lấy hai bên hàm cùng cằm trong khi để lộ cái miệng đang cười nhạo bợm. Nhìn thấy như vậy trong gương, khuôn mặt trắng bệch trông giống như mặt của Judas đang cười một cách kinh hoàng và bị bao quanh bởi những ngọn lửa nhảy múa của địa ngục. Trong một khoảnh khắc co giật, Flambeau nhìn thấy đôi mắt đỏ nâu hung dữ đang nhảy múa, rồi chúng bị che khuất bởi một cặp kính xanh. Khoác vội một chiếc áo khoác màu đen rộng thùng thình, nhân vật đó biến mất về phía trước ngôi nhà. Vài khoảnh khắc sau, một tiếng gầm vang dội của đám đông từ con phố phía bên kia vang lên thông báo rằng Tiến sĩ Hirsch đã một lần nữa xuất hiện trên ban công.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.