Thành phố và vương quốc nên thơ Heiligwaldenstein vốn là một trong những tiểu vương quốc đồ chơi mà một số vùng của Đế quốc Đức vẫn còn lưu giữ. Nơi đây chỉ mới sáp nhập vào liên bang Phổ khá muộn trong lịch sử — chưa đầy năm mươi năm trước ngày hè tươi đẹp khi Flambeau và Cha Brown cùng ngồi trong khu vườn của xứ này và thưởng thức thứ bia địa phương. Nơi đây từng chứng kiến không ít cuộc chiến tranh và công lý bạo tàn trong ký ức của những người đương thời, như sẽ sớm được hé lộ. Thế nhưng, chỉ cần nhìn lướt qua, người ta không sao xua đi được cái ấn tượng về sự ngây thơ, khờ khạo — nét quyến rũ nhất của nước Đức — những vương quốc mang tính gia trưởng, tựa như chốn kịch câm thu nhỏ, nơi nhà vua gần gũi và bình dị như một người đầu bếp. Những người lính Đức đứng cạnh vô số bốt gác trông kỳ lạ chẳng khác nào đồ chơi của Đức, và những đường nét thành lũy sắc sảo của lâu đài, được ánh nắng vàng ươm tô điểm, lại càng giống như những chiếc bánh gừng mạ vàng. Bởi vì thời tiết hôm nay rực rỡ vô cùng. Bầu trời mang sắc xanh đặc trưng của Phổ, đúng như những gì Potsdam có thể đòi hỏi, nhưng thậm chí nó còn giống hơn với thứ sắc màu rực rỡ, phóng khoáng mà một đứa trẻ chắt chiu từ hộp màu một shilling. Ngay cả những tán cây có gân xám cũng trông thật trẻ trung, bởi những chồi cây nhọn trên cành vẫn còn ửng hồng, nổi bật trên nền trời xanh thẫm giống như vô số hình thù trẻ thơ.
Bất chấp vẻ ngoài tầm thường và lối sống thực tế, Cha Brown vẫn ẩn chứa một chút lãng mạn trong tâm hồn, dẫu ông thường giữ kín những giấc mơ ban ngày cho riêng mình, hệt như cách mà nhiều đứa trẻ hay làm. Giữa muôn vàn sắc màu tươi tắn, rộn rã của một ngày như thế, trong khung cảnh tựa chốn thần tiên của một thị trấn đậm chất huy hiệu học, ông thực sự có cảm giác như mình vừa bước vào một câu chuyện cổ tích. Ông hào hứng tận hưởng niềm vui con trẻ, giống như một người em út đang mân mê thanh gươm chống gậy đáng sợ mà Flambeau vẫn thường khoác theo mỗi khi bước đi, và giờ đây nó đang đứng thẳng cạnh vạc bia Munich cao ngất của anh. Thậm chí, trong cơn vô tư lự đến ngái ngủ, ông còn bắt gặp chính mình đang ngắm nghía phần đầu gồ ghề, vụng về của chiếc ô cũ kỹ nhàu nát của mình, thoáng nhớ đến cây chùy của con yêu tinh trong một cuốn sách tô màu cổ tích. Thế nhưng, ông chưa bao giờ sáng tác bất cứ thứ gì mang hình thức hư cấu, ngoại trừ câu chuyện sẽ được kể ngay sau đây.
– Tôi tự hỏi, – ông nói, – liệu người ta có thể có những chuyến phiêu lưu thực sự ở một nơi thế này, nếu bản thân dấn thân vào đó không? Đây là một phông nền tuyệt vời cho chúng, nhưng tôi luôn có cảm giác rằng họ sẽ chiến đấu với bạn bằng những thanh kiếm bằng bìa cứng hơn là những lưỡi gươm gớm ghiếc ngoài đời thực.
– Anh lầm rồi, – người bạn của ông đáp. – Ở chốn này, họ không chỉ chiến đấu bằng gươm, mà còn tước đoạt mạng sống không cần gươm. Và còn có những điều tồi tệ hơn thế nữa.
– Chà, ý anh là gì? – Cha Brown hỏi.
– Chà, – người kia đáp, – tôi cho rằng đây là nơi duy nhất ở châu Âu từng chứng kiến một người bị bắn mà không cần dùng đến súng ống.
– Ý anh là cung và tên ư? – Brown ngạc nhiên hỏi.
– Ý tôi là một viên đạn găm vào não, – Flambeau đáp. – Anh không biết câu chuyện về vị Hoàng tử quá cố của vùng này sao? Đó là một trong những bí ẩn lớn của cảnh sát hồi khoảng hai mươi năm trước. Dĩ nhiên anh còn nhớ, nơi này đã bị sáp nhập bằng vũ lực vào thời điểm diễn ra những kế hoạch củng cố quyền lực đầu tiên của Bismarck — bị sáp nhập bằng vũ lực, nghĩa là vậy, nhưng hoàn toàn không hề dễ dàng. Đế quốc (hoặc cái nhà nước vốn khao khát trở thành đế quốc) đã cử Hoàng tử Otto xứ Grossenmark đến cai trị vùng đất này vì lợi ích của Hoàng gia. Chúng ta từng nhìn thấy chân dung của ông ấy trong phòng tranh ở đó — một quý ông già phong độ nếu như ông ấy không bị rụng hết tóc lẫn lông mày, và không bị nhăn nheo toàn thân như một con kền kền; nhưng ông ấy có vô số rắc rối phải đau đầu, như tôi sẽ giải thích ngay đây. Ông ấy là một người lính có tài năng xuất chúng và gặt hái nhiều chiến công, nhưng công việc cai quản vùng đất nhỏ bé này không hề dễ dàng đối với ông. Ông đã bị đánh bại trong vài trận chiến bởi ba anh em nhà Arnhold lừng danh — ba nhà ái quốc du kích mà Swinburne từng viết thơ ca ngợi, anh còn nhớ chứ:
Hoặc một câu thơ đại loại thế. Thật vậy, khó mà chắc chắn rằng cuộc chiếm đóng sẽ thành công nếu không có một trong ba người anh em là Paul, một kẻ hèn hạ nhưng rất dứt khoát, đã từ chối tuân thủ những mệnh lệnh ấy và, bằng cách khai sạch mọi bí mật của cuộc nổi dậy, đảm bảo cho sự sụp đổ của nó đồng thời mang lại cho chính hắn chức vụ quan thị vệ dưới triều Hoàng tử Otto. Sau sự kiện đó, Ludwig, nhân vật anh hùng thực sự duy nhất trong số các anh hùng của ông Swinburne, đã tử trận với gươm trên tay trong cuộc chiến chiếm lấy thành phố; và người thứ ba là Heinrich, tuy không phải kẻ phản bội nhưng vốn dĩ luôn điềm tĩnh, thậm chí rụt rè so với những người anh em xông xáo của mình, đã lui về ở ẩn như một tu sĩ, cải đạo theo chủ nghĩa tĩnh lặng Thiên Chúa giáo gần giống như giáo phái Quaker, và chẳng bao giờ giao du với ai ngoại trừ việc đem hầu hết tài sản bố thí cho người nghèo. Người ta kể với tôi rằng cách đây chưa lâu, người ta vẫn thỉnh thoảng bắt gặp ông quanh vùng — một người đàn ông mặc áo choàng đen, gần như mù lòa, với mái tóc trắng bù xù nhưng gương mặt lại vô cùng hiền hòa.
– Tôi biết, – Cha Brown nói. – Tôi đã gặp ông ấy một lần.
Người bạn nhìn ông với vẻ hơi ngạc nhiên. – Tôi không biết anh từng đến đây rồi đấy, – anh nói. – Có lẽ anh còn rành chuyện này bằng cả tôi nữa. Dù sao đi nữa, đó là câu chuyện về nhà Arnholds, và ông ấy là người sống sót cuối cùng trong số họ. Phải, và cũng là người cuối cùng trong số tất cả những ai từng đóng vai trò trong vở kịch đó.
– Ý anh là vị Hoàng tử cũng đã qua đời từ lâu trước đó ư?
– Đã qua đời, – Flambeau lặp lại, – và đó cũng là tất cả những gì chúng ta có thể nói. Anh phải hiểu rằng về cuối đời, ông ta bắt đầu mắc phải những chứng bệnh về thần kinh vốn không hiếm gặp ở các bạo chúa. Ông ta gia tăng gấp bội lực lượng canh gác ngày lẫn đêm xung quanh lâu đài đến mức số bốt gác dường như còn nhiều hơn cả nhà dân trong thị trấn, và những kẻ đáng ngờ đều bị bắn không thương tiếc. Ông ta sống gần như lọt thỏm trong một căn phòng nhỏ nằm ngay giữa mê cung vô tận của tất cả các phòng ốc khác, và ngay cả trong căn phòng này, ông ta còn dựng thêm một thứ cabin trung tâm hay một cái tủ bọc thép, giống như két sắt hay chiến hạm. Người ta đồn rằng bên dưới sàn của căn phòng ấy lại có một cái lỗ bí mật dưới lòng đất, chỉ vừa đủ chỗ cho ông ta nấp, khiến cho nỗi sợ nấm mồ đã thúc đẩy ông ta tự nguyện chui vào một nơi chả khác gì mồ mả. Nhưng ông ta còn đi xa hơn thế nữa. Dân chúng từng được cho là đã bị tước vũ khí kể từ sau khi cuộc nổi dậy bị dẹp tan, thế nhưng Otto lúc bấy giờ vẫn khăng khăng đòi thực hiện một cuộc tước vũ khí triệt để và toàn diện theo đúng nghĩa đen, điều mà rất ít chính phủ nào làm được. Công việc này được tiến hành với sự triệt để và nghiêm khắc phi thường bởi các quan chức được tổ chức cực kỳ bài bản trên một khu vực nhỏ hẹp và quen thuộc, và chừng nào sức mạnh cùng khoa học loài người còn có thể chắc chắn tuyệt đối về một điều gì đó, thì Hoàng tử Otto hoàn toàn tin chắc rằng chẳng ai có thể lén đưa dù chỉ là một khẩu súng đồ chơi vào Heiligwaldenstein.
– Khoa học của loài người không bao giờ có thể hoàn toàn chắc chắn về những chuyện như thế, – Cha Brown vẫn đang ngắm nghía những chồi cây đỏ mọng đang hé nở trên đầu mình, nói tiếp, – chỉ riêng vì những khó khăn quanh việc định nghĩa và hàm nghĩa. Thế nào là một vũ khí? Người ta từng sát hại nhau bằng những vật dụng gia đình hiền hòa nhất; chắc chắn là bằng ấm trà, và rất có thể là bằng cả đồ ủ ấm trà. Ngược lại, nếu anh đưa cho một người Britons thời cổ đại xem một khẩu súng lục, tôi nghi ngờ liệu anh ta có nhận ra đó là vũ khí hay không — tất nhiên là cho đến khi anh ta bị bắn thủng người bằng thứ đó. Biết đâu có ai đó đã mang vào một loại súng ống mới đến mức trông nó chẳng giống súng tẹo nào. Biết đâu nó trông giống một chiếc đút ngón tay hay thứ gì tương tự. Liệu viên đạn đó có điểm gì bất thường không?
– Chưa từng nghe nói tới, – Flambeau đáp; – nhưng thông tin của tôi chắp vá lắm, và chỉ lấy từ người bạn cũ Grimm của tôi. Ông ta từng là một thám tử rất tài năng trong lực lượng cảnh sát Đức, và ông ta đã cố bắt giữ tôi; nhưng tôi lại tóm được ông ta trước, thế là chúng tôi có vô số cuộc trò chuyện thú vị. Ông ta là người phụ trách cuộc điều tra về vụ Hoàng tử Otto tại đây, nhưng tôi lại quên béng không hỏi ông ta về viên đạn. Theo lời Grimm, sự việc diễn ra thế này.
Anh dừng lại một lát để uống cạn phần lớn vác bia đen một hơi, rồi tiếp tục:
– Vào buổi tối hôm đó, hình như người ta mong đợi Hoàng tử xuất hiện ở một trong những căn phòng bên ngoài, bởi ông phải tiếp đón một số vị khách mà ông thực sự muốn gặp. Họ là những chuyên gia địa chất được cử đến để nghiên cứu vấn đề lâu năm về nguồn trữ lượng vàng được cho là có sẵn trong các lớp đá quanh vùng này, thứ mà (như người ta đồn đại) đã giúp tiểu quốc gia nhỏ bé này duy trì uy tín suốt bao lâu nay và có thể thương lượng với các nước láng giềng ngay cả dưới làn bom đạn không ngớt của những quân đoàn hùng mạnh hơn. Cho đến lúc đó, nó chưa từng được tìm thấy bởi bất kỳ cuộc điều tra khắt khe nào có thể—
– Có thể hoàn toàn chắc chắn phát hiện ra một khẩu súng đồ chơi, – Cha Brown mỉm cười nói. – Thế còn người anh em đã phản bội thì sao? Hắn ta chẳng có điều gì để bẩm báo với Hoàng tử hay sao?
– Hắn vẫn luôn quả quyết rằng mình không hề hay biết, – Flambeau đáp; – rằng đó là bí mật duy nhất mà các anh em hắn đã giấu kín không cho hắn hay. Cũng công bằng khi nói rằng điều này phần nào được củng cố bởi những lời đứt quãng — được thốt lên bởi đại tướng Ludwig trong giờ phút lâm chung, khi ông nhìn Heinrich nhưng lại chỉ tay về phía Paul, và nói: ‘Ngươi vẫn chưa nói cho hắn biết...’ rồi chẳng bao lâu sau thì mất hẳn khả năng ngôn từ. Dù sao đi nữa, phái đoàn các nhà địa chất và khoáng vật học lừng danh đến từ Paris và Berlin đã tề tựu ở đó với những bộ trang phục lộng lẫy và phù hợp nhất, bởi chẳng có ai thích trưng diện các huân chương huy hiệu của mình bằng giới khoa học — như bất kỳ ai từng tham dự một buổi dạ tiệc của Hội Hoàng gia đều biết rõ. Đó là một buổi tụ họp rực rỡ nhưng rất muộn, và dần dần ngài Thị vệ — các anh cũng từng nhìn thấy chân dung của ông ta: một người đàn ông có cặp chân mày đen, ánh mắt nghiêm nghị và nụ cười vô nghĩa phảng phất bên dưới — ngài Thị vệ, tôi nói đấy, phát hiện ra rằng mọi thứ đều có mặt, ngoại trừ bản thân Hoàng tử. Ông ta lục soát khắp các sảnh lớn bên ngoài; rồi nhớ đến những cơn hoảng loạn điên cuồng của nhà vua, liền vội vã chạy đến căn phòng trong cùng. Nơi đó cũng trống không, nhưng tháp hoặc buiding thép được dựng lên ở chính giữa căn phòng mất khối thời gian mới mở được. Khi nó mở ra, bên trong cũng trống rỗng. Ông ta đến ngó vào cái hố trên mặt đất, trông nó sâu hoắm và bằng cách nào đó lại càng giống một cái mồ mả hơn — dĩ nhiên đó là lời kể của ông ta. Và ngay khi vừa làm thế, ông ta nghe thấy những tiếng kêu la và hỗn chiến vang lên từ những căn phòng dài cùng hành lang bên ngoài.
– Đầu tiên chỉ là một thứ âm thanh hỗn độn từ xa và cảm giác rợn ngợp của điều gì đó không thể tưởng tượng nổi ở chân trời của đám đông, thậm chí vượt ra ngoài lâu đài. Tiếp theo là một tiếng gào thét không thành lời ở khoảng cách giật mình, đủ lớn để rành mạch nếu như từng từ không át mất lẫn nhau. Kế đó là những từ ngữ mang vẻ rõ ràng đến khủng khiếp, đang tiến lại gần hơn, và rồi một kẻ, lao sầm vào phòng và thông báo tin tức ngắn gọn hệt như cách mà những tin tức như thế được truyền đi.
– Otto, Hoàng tử xứ Heiligwaldenstein và Grossenmark, đang nằm giữa những giọt sương của buổi chạng vạng tối dần trong khu rừng phía sau lâu đài, với đôi tay dang rộng và khuôn mặt ngửa lên bầu trời trán. Máu vẫn rỉ ra từ vùng thái dương và hàm bị dập nát của ông, nhưng đó là bộ phận duy nhất trên cơ thể còn chuyển động như một sinh vật sống. Ông khoác trên mình bộ quân phục trắng và vàng đầy đủ, hệt như để tiếp đón các vị khách bên trong, chỉ có điều dải băng choàng hoặc chiếc khăn quàng đã bị tháo ra và nằm nhàu nát bên cạnh ông. Trước khi kịp được nhấc bổng lên, ông đã trút hơi thở cuối cùng. Thế nhưng, dù đã chết hay còn sống, ông vẫn là một câu đố — con người luôn trốn kỹ trong căn buồng trong cùng ngoài kia giữa chốn rừng hoang ẩm ướt, không tấc sắt trong tay và cô độc một mình.
– Ai là người tìm thấy thi thể ông ấy? – Cha Brown hỏi.
– Một cô gái hầu cận trong Cung điện tên là Hedwig hay gì gì đó, – người bạn đáp, – người đã ra rừng hái hoa dại.
– Cô ta có hái bông hoa nào không? – vị linh mục hỏi, ánh mắt đờ đẫn nhìn lên tán lá dày đặc bên trên.
– Có, – Flambeau đáp. – Tôi đặc biệt nhớ rằng ngài Thị vệ, hay ông già Grimm, hay ai đó, đã nói rằng thật kinh khủng làm sao khi họ chạy đến theo tiếng kêu của cô ta, lại chứng kiến một cô gái tay cầm hoa mùa xuân và cúi mình trên cái xác — cái xác đẫm máu đó. Dù sao đi nữa, điều cốt lõi là trước khi viện trợ kịp tới, ông ta đã chết, và dĩ nhiên tin tức phải được mang trở về lâu đài. Sự hoang mang mà nó tạo ra còn vượt xa cả mức bình thường trong một Triều đình khi một vị thế lực qua đời. Các vị khách nước ngoài, đặc biệt là các chuyên gia khai mỏ, vô cùng hoang mang và kích động tột độ, cùng với nhiều quan chức Phổ quan trọng khác, và chẳng mấy chốc người ta bắt đầu thấy rõ ràng rằng kế hoạch tìm kiếm khobáu đóng vai trò trọng yếu trong vụ việc này hơn là mọi người vẫn tưởng. Các chuyên gia và quan chức đã được hứa hẹn những phần thưởng lớn hoặc lợi ích quốc tế, và thậm chí một số người còn đồn rằng các căn hộ bí mật cùng sự bảo vệ quân sự kiên cố của Hoàng tử không hẳn vì sợ hãi dân chúng mà là do theo đuổi một cuộc điều tra bí mật nào đó về—
– Mấy bông hoa đó có cuống dài không? – Cha Brown hỏi.
Flambeau trân trân nhìn ông. – Anh mới kỳ quặc làm sao! – anh nói. – Đó chính xác là điều mà lão Grimm đã nói. Ông ta bảo rằng phần tồi tệ nhất trong số đó, theo ông ta nghĩ — tồi tệ hơn cả vũng máu và viên đạn — chính là việc những bông hoa đều có cuống rất ngắn, bị ngắt sát ngay đài hoa.
– Dĩ nhiên rồi, – vị linh mục nói, – khi một thiếu nữ thực sự hái hoa, cô ấy sẽ hái với phần cuống thật dài. Nếu cô ấy chỉ bứt đứt phần đài hoa, giống như cách một đứa trẻ làm, thì trông có vẻ như là— Và ông ngập ngừng.
– Chà? – người kia dò hỏi.
– Chà, trông có vẻ như cô ấy đã vội vã giật lấy chúng, nhằm tạo ra một cái cớ để có mặt ở đó sau khi — chà, sau khi sự việc đã rồi.
– Tôi biết anh đang ám chỉ điều gì, – Flambeau nói với giọng khá ảm đạm. – Nhưng giả thuyết đó và mọi nghi vấn khác đều sụp đổ trước một điểm cốt lõi — sự thiếu vắng của một thứ vũ khí. Ông ta có thể bị sát hại, như anh nói, bằng rất nhiều thứ khác — thậm chí bằng chính chiếc khăn quàng quân đội của ông ta; nhưng chúng ta phải giải thích không phải cách ông ta bị sát hại ra sao, mà là cách ông ta bị bắn thế nào. Và thực tế là chúng ta không thể. Cô gái đã bị lục soát vô cùng tàn nhẫn; bởi vì thú thật, cô ta ít nhiều nằm trong diện tình nghi, dẫu cho cô ấy là cháu gái và là người được bảo hộ của lão Thị vệ độc ác, Paul Arnhold. Nhưng cô ấy rất lãng mạn, và bị nghi ngờ có thiện cảm với ngưng khí cách mạng cũ trong gia đình. Mặc dù vậy, dù anh có lãng mạn đến đâu đi nữa, anh cũng không thể tưởng tượng ra một viên đạn đại bác xuyên vào hàm hay não một người mà không dùng súng trường hay súng lục. Và chẳng có khẩu súng nào cả, dù cho có tới hai phát súng nổ. Tôi giao lại vụ này cho anh đấy, bạn tôi.
– Sao anh biết có hai phát súng? – vị linh mục nhỏ con hỏi.
– Chỉ có một viên găm vào đầu ông ta, – người bạn đáp, – nhưng lại có một lỗ đạn khác trên chiếc khăn quàng.
Vầng trán nhẵn nhụi của Cha Brown bỗng chốc nhăn lại. – Viên đạn thứ hai có được tìm thấy không? – ông gặng hỏi.
Flambeau hơi giật mình. – Tôi không nghĩ mình còn nhớ, – anh đáp.
– Khoan đã! Khoan đã! Khoan đã! – Brown kêu lên, đôi mày càng lúc càng nhíu chặt với vẻ tò mò tập trung đến mức bất thường. – Đừng cho là tôi thô lỗ nhé. Để tôi suy ngẫm điều này trong giây lát.
– Được thôi, – Flambeau cười lớn và uống cạn phần bia còn lại. Một cơn gió nhẹ lay động những tán cây đang đâm chồi và thổi bay lên bầu trời những đám mây nhỏ màu trắng hồng, khiến bầu trời dường như xanh hơn và toàn bộ khung cảnh rực rỡ trở nên kỳ quặc hơn bao giờ hết. Chúng trông chẳng khác nào những thiên thần nhỏ đang bay về những ô cửa sổ của một thứ nhà trẻ chốn thiên thai. Ngọn tháp cổ kính nhất của lâu đài, Tháp Rồng, sừng sững trông quái dị chẳng kém vạc bia, nhưng cũng vô cùng gần gũi. Chỉ có điều, phía bên kia ngọn tháp là khu rừng lấp lánh nơi người đàn ông đã nằm xuống vĩnh viễn.
– Cuối cùng thì Hedwig đã ra sao? – vị linh mục cuối cùng cũng lên tiếng hỏi.
– Cô ấy đã kết hôn với Tướng Schwartz, – Flambeau đáp. – Chắc chắn anh từng nghe về sự nghiệp của ông ta, khá là lãng mạn đấy. Ông ta từng lập nên những chiến công hiển hách ngay cả trước khi diễn ra các trận đánh tại Sadowa và Gravelotte; thực chất, ông ta xuất thân từ những người lính tráng bình thường, điều rất hiếm thấy ngay cả ở những tiểu quốc nhỏ bé nhất nước Đức...
Cha Brown chợt chồm người dậy.
– Xuất thân từ lính tráng! – ông kêu lên, và mím môi ra hiệu như đang huýt sáo. – Chà, chà, quả là một câu chuyện kỳ lạ! Thật là một cách giết người kỳ quặc; nhưng tôi đoán đó là cách duy nhất khả thi. Mà nghĩ đến lòng thù hận nhẫn nại đến nhường ấy—
– Ý anh là gì? – người kia gặng hỏi. – Bằng cách nào mà họ sát hại người đàn ông đó?
– Họ giết ông ta bằng chiếc khăn quàng, – Brown thận trọng đáp; và rồi, khi Flambeau phản đối: – Đúng vậy, đúng vậy, tôi biết về viên đạn chứ. Có lẽ tôi nên nói rằng ông ta chết vì có một chiếc khăn quàng. Tôi biết nghe nó chẳng giống việc mắc một căn bệnh chút nào.
– Tôi đoán là, – Flambeau nói, – anh đang ấp ủ một ý tưởng nào đó trong đầu, nhưng nó sẽ chẳng dễ dàng gì lôi được viên đạn ra khỏi đầu nạn nhân đâu. Như tôi đã giải thích trước đó, ông ta hoàn toàn có thể dễ dàng bị bóp cổ. Nhưng ông ta bị bắn cơ mà. Bởi ai? Bằng cái gì?
– Ông ta bị bắn theo chính mệnh lệnh của mình, – vị linh mục đáp.
– Ý anh là ông ta tự sát ư?
– Tôi không nói là theo mong muốn của chính ông ta, – Cha Brown đáp. – Tôi nói là theo chính mệnh lệnh của ông ta.
– Chà, dù sao đi nữa, lý thuyết của anh là gì?
Cha Brown cười lớn. – Tôi chỉ đang đi nghỉ mát thôi mà, – ông nói. – Tôi chẳng có lý thuyết nào sất. Chỉ là nơi này gợi cho tôi nhớ đến những câu chuyện cổ tích, và nếu anh thích, tôi sẽ kể cho anh nghe một câu chuyện.
Những đám mây hồng nhỏ xíu, trông tựa như những viên kẹo ngọt, đã trôi nổi lên bao trùm lấy những tháp canh của lâu đài bánh gừng mạ vàng, và những ngón tay bụ bẫm màu hồng của những chồi non dường như đang vươn ra để chạm lấy chúng; bầu trời xanh bắt đầu ngả sang sắc tím rực rỡ của buổi chiều chạng vạng khi Cha Brown bất ngờ cất lời trở lại:
– Đó là vào một đêm u ám, khi những giọt mưa vẫn còn nhỏ tí tách từ kẽ lá và sương đêm đã bắt đầu đọng lại, Hoàng tử Otto xứ Grossenmark vội vã bước ra từ một cánh cửa hông của lâu đài và rảo bước nhanh vào khu rừng. Một trong số vô vàn những tên lính gác giơ tay chào, nhưng ông chẳng màng để ý. Ông chẳng có nhu cầu được ai đặc biệt chú ý đến mình. Ông cảm thấy nhẹ nhõm khi những thân cây khổng lồ, xám xịt và sớm đẫm nước mưa, nuốt chửng lấy ông như một đầm lầy. Ông đã cố tình chọn phía ít người qua lại nhất trong cung điện của mình, nhưng ngay cả nơi đó cũng đông đúc hơn mức ông mong muốn. Tuy nhiên, chẳng có mấy cơ hội để vấp phải sự bám đuôi sốt sắng hay mang tính ngoại giao nào, bởi cuộc đào thoát của ông xuất phát từ một phút bốc đồng bất chợt. Toàn bộ đám nhà ngoại giao xúng xính xiêm y mà ông bỏ lại phía sau đều chẳng có chút quan trọng nào. Ông chợt nhận ra rằng mình có thể sống tốt mà không cần đến họ.
Niềm đam mê lớn nhất của ông không phải là nỗi sợ hãi cái chết cao cả hơn, mà là khao khát kỳ lạ về vàng bạc. Vì huyền thoại về thứ vàng này mà ông đã rời bỏ Grossenmark và xâm chiếm Heiligwaldenstein. Chỉ vì điều đó và duy nhất điều đó, ông đã mua chuộc kẻ phản bội và tàn sát vị anh hùng, cũng chỉ vì thế mà ông đã gặng hỏi hết lần này đến lần khác gã Thị vệ gian trá, cho đến khi đi đến kết luận rằng, xét về sự dốt nát của hắn, kẻ phản bội thực sự đã nói sự thật. Cũng vì điều đó mà ông đã miễn cưỡng chi tiền và hứa hẹn trao thưởng với hy vọng vớt vát được một số lượng lớn hơn; và cũng vì điều đó mà ông đã lẻn khỏi cung điện như một tên trộm trong làn mưa rào, bởi ông vừa nghĩ ra một cách khác để đạt được thứ mà mắt mình hằng khao khát, lại vừa chẳng tốn kém là bao.
Tít trên cao tận đầu bên kia của con đường mòn quanh co trên núi mà ông đang hướng tới, ẩn mình giữa những vách đá trụ cột dọc theo sườn núi treo leo nhìn xuống thị trấn, chính là am tu viện — trông chẳng khác nào một hang động được rào chắn bằng gai góc — nơi người em út trong số ba người anh hùng vĩ đại đã ẩn dật khỏi thế gian từ lâu. Nơi đó, Hoàng tử Otto nghĩ, chắc chắn không có lý do thực tế nào để từ chối dâng nộp số vàng. Ông ta đã nắm rõ vị trí của nó từ nhiều năm qua, và chẳng hề cố gắng tìm kiếm, ngay cả trước khi tín điều khổ hạnh mới cắt đứt mọi liên lạc của ông ta với tài sản hay thú vui tầm thường. Phải, ông ta từng là kẻ thù, nhưng giờ đây ông ta tuyên bố bổn phận không có kẻ thù nào cả. Một chút nhượng bộ cho lý tưởng của hắn, một lời kêu gọi đến nguyên tắc của hắn, có lẽ sẽ moi được bí mật tiền bạc từ hắn. Otto không phải kẻ hèn nhát, dẫu cho mạng lưới phòng thủ quân sự của ông ta chằng chịt đến đâu, và trong bất kỳ trường hợp nào, lòng tham của ông ta vẫn mạnh mẽ hơn nỗi sợ. Hơn nữa, chẳng có lý do gì để phải sợ hãi. Vì ông ta chắc chắn rằng không có thứ vũ khí tư nhân nào trong toàn bộ tiểu vương quốc, ông lại càng chắc chắn gấp trăm lần rằng không có thứ gì như thế trong am tu viện nhỏ bé của lão tín đồ phái Quaker trên núi, nơi hắn sống bằng rau cỏ, với hai người đầy túc miền quê già cõi, và hoàn toàn biệt lập với tiếng nói của con người qua năm tháng dài đằng đẵm. Hoàng tử Otto nhìn xuống với một nụ cười có phần nham hiểm hướng về mê cung sáng rực, vuông vức của thành phố lung linh ánh đèn phía dưới. Bởi vì trải dài đến tận tầm mắt là những khẩu súng trường của lực lượng thuộc hạ, và không một hạt thuốc súng nào dành cho kẻ thù. Súng trường được bố trí dày đặc ngay sát con đường mòn trên núi ấy đến mức một tiếng thét của ông cũng đủ khiến binh línho ạt chạy ù lên đồi, chưa kể đến thực tế là khu rừng và sườn núi đều được tuần tra đều đặn theo định kỳ; những khẩu súng trường ở xa tắp trong khu rừng mờ ảo, bị thu nhỏ lại bởi khoảng cách bên kia dòng sông, đến mức kẻ thù chẳng tài nào lẻn vào thị trấn bằng bất kỳ lối đi vòng nào. Và xung quanh cung điện là súng trường ở cửa tây, cửa đông, cửa bắc, cửa nam, và dọc theo bốn mặt tiền nối liền chúng. Ông hoàn toàn an toàn.
Mọi chuyện càng trở nên rõ ràng hơn khi ông đã leo lên đến đỉnh sóng núi và nhận ra chiếc ổ của kẻ thù cũ trống trải đến nhường nào. Ông thấy mình đang đứng trên một phiến đá nhỏ, bị cắt đứt đột ngột bởi ba góc vực thẳm. Phía sau là hang động tối tăm, che khuất bởi những lùm gai xanh, thấp đến mức khó mà tin rằng một con người có thể chui lọt vào đó. Phía trước là vách đá dựng đứng và tầm nhìn bao quát nhưng mờ ảo hướng xuống thung lũng. Trên phiến đá nhỏ dựng một chiếc bục giảng kinh hoặc giá đọc sách bằng đồng cổ kính, đang oằn mình gánh một cuốn Kinh thánh tiếng Đức to lớn. Lớp đồng thau hoặc đồng đỏ của nó đã ngả sang màu xanh rêu bởi những luồng không khí ăn mòn ở chốn cao nguyên ấy, và Otto lập tức nảy ra ý nghĩ: ‘Cho dù chúng có vũ khí đi nữa, thì giờ này chúng cũng đã gỉ sét hết cả rồi.’ Ánh trăng mọc đã tạo ra một thứ ánh bình minh chết chóc đằng sau các đỉnh và mỏm đá, và những trận mưa đã ngớt hẳn.
Đứng sau giá đọc sách và hướng tầm nhìn qua thung lũng là một cụ già mặc áo choàng đen rủ thẳng tắp như những vách đá xung quanh, nhưng mái tóc trắng và giọng nói yếu ớt của cụ dường như đều đang rung lên trước gió. Rõ ràng cụ đang đọc bài kinh hằng ngày như một phần trong các nghi thức tôn giáo của mình. ‘Họ tin tưởng vào ngựa của họ...’
– Thưa ngài, – Hoàng tử xứ Heiligwaldenstein cất lời với sự lịch thiệp vô cùng bất thường, – tôi chỉ muốn trao đổi một lời với ngài.
– ‘...và vào chiến xa của họ,’ – cụ già tiếp tục với giọng yếu ớt, – ‘nhưng chúng ta sẽ tin cậy vào danh Chúa các đạo quân....’ Những lời cuối cùng của cụ không tài nào nghe rõ, nhưng cụ cung kính khép cuốn sách lại và, do gần như đã mù lòa, cụ khua tay tìm kiếm rồi bấu chặt lấy chiếc giá đọc sách. Ngay lập tức, hai người đầy tớ của cụ lẻn ra từ hang động cửa thấp và đỡ lấy cụ. Họ mặc những chiếc áo choàng đen thẫm giống hệt cụ, nhưng trên mái tóc không có sắc bạc lạnh giá, cũng không có vẻ tinh tế bị sương giá gặm nhấm ở những đường nét gương mặt. Họ là những người nông dân, người Croatia hoặc Magyar, với khuôn mặt thô kệch, bẹt dí và đôi mắt chớp chớp liên hồi. Lần đầu tiên có điều gì đó khiến vị Hoàng tử cảm thấy lo lắng, nhưng lòng can đảm và óc ngoại giao vẫn đứng vững.
– Tôi e rằng chúng ta chưa từng gặp lại nhau, – ông nói, – kể từ trận pháo kích khủng khiếp khiến người em tội nghiệp của ngài qua đời.
– Tất cả các anh em của tôi đều đã chết, – cụ già đáp, vẫn hướng ánh nhìn qua bên kia thung lũng. Sau đó, trong khoảnh khắc quay đầu lại nhìn Otto với những đường nét thanh tú đang rũ xuống, cùng mái tóc mùa đông dường như rủ lòa xòa qua hàng chân mày tựa những dải băng giá, cụ nói thêm: ‘Anh thấy đấy, tôi cũng đã chết rồi.’
– Tôi hy vọng ngài hiểu cho, – Hoàng tử tự kiềm chế bản thân đến mức gần như muốn hòa giải, – rằng tôi không đến đây để ám ảnh ngài, như một hồn ma thuần túy của những tranh chấp vĩ đại ấy. Chúng ta sẽ không bàn về chuyện ai đúng ai sai trong vụ đó, nhưng ít nhất có một điểm mà chúng ta chưa bao giờ sai, bởi ngài luôn đúng. Dù có nói thế nào về đường lối chính trị của gia đình ngài đi nữa, chẳng ai dám mảy may tưởng tượng rằng ngài bị chi phối bởi lòng tham vàng bạc; ngài đã chứng minh bản thân vượt lên trên mọi nghi ngờ rằng...’
Cụ già trong bộ áo choàng đen nãy giờ vẫn tiếp tục đăm đăm nhìn ông bằng đôi mắt xanh mờ đục và một vẻ khôn ngoan yếu ớt trên khuôn mặt. Nhưng khi từ ‘vàng’ được thốt lên, cụ giơ tay ra hiệu như để chặn đứng điều gì đó, rồi quay mặt đi hướng về những dãy núi.
– Hắn đã nhắc đến vàng, – cụ nói. – Hắn đã nhắc đến những điều không hợp đạo lý. Hãy bảo hắn thôi ngay đi.
Otto mắc phải căn bệnh chung của tầng lớp và truyền thống Phổ, đó là coi sự thành công không phải là một sự cố mà là một phẩm chất bản chất. Ông coi bản thân và những kẻ giống mình luôn luôn chinh phục những dân tộc luôn luôn bị chinh phục. Hệ quả là, ông ít khi quen với cảm giác bất ngờ, và hoàn toàn không chuẩn bị trước cho động thái tiếp theo, thứ khiến ông giật mình và cứng đờ người lại. Ông vừa hé miệng định đáp lời vị tu sĩ, thì cái miệng ấy bị chặn đứng và giọng nói bị bóp nghẹt bởi một chiếc khăn bịt miệng mềm mại và chắc chắn bỗng chạp xiết chặt vòng quanh đầu ông như một chiếc garô. Phải mất tròn bốn mươi giây ông mới nhận ra rằng hai tên hầu người Hungary đã làm điều đó, và chúng làm bằng chính chiếc khăn quàng quân đội của ông.
Cụ già lại chậm chạp bước đến cuốn Kinh Thánh được đỡ bằng giá đồng vĩ đại của mình, lật giở từng trang với một sự kiên nhẫn mang nét gì đó thật kinh khủng, cho đến khi tìm thấy Thư của Thánh James, rồi bắt đầu đọc: ‘Cái lưỡi là một bộ phận nhỏ bé, nhưng—’
Một điều gì đó trong chính giọng nói ấy khiến vị Hoàng tử đột ngột quay người và lao cắm cổ xuống con đường mòn trên núi mà ông vừa leo lên. Ông chạy được nửa đường về phía khu vườn của cung điện trước khi kịp cố gắng dứt chiếc khăn quàng đang bóp nghẹt cổ và hàm mình ra. Ông cố gắng hết lần này đến lần khác, nhưng hoàn toàn bất khả thi; những kẻ đã thắt nút chiếc khăn bịt miệng đó hiểu rõ sự khác biệt giữa những gì một người có thể làm bằng đôi tay ở phía trước và những gì anh ta có thể làm bằng đôi tay ở sau gáy. Đôi chân ông vẫn tự do nhảy nhót như một con linh dương trên núi, đôi tay ông vẫn tự do ra hiệu hay phất cờ làm tín hiệu, nhưng ông không tài nào cất tiếng nói được. Một con quỷ câm đang ngự trị trong cơ thể ông.
Ông đã đến sát những khu rừng bao bọc lấy lâu đài trước khi thực sự nhận thức được trạng thái không lời của mình có ý nghĩa gì và được định sẵn để mang ý nghĩa gì. Một lần nữa, ông lại ảm đạm nhìn xuống mê cung sáng rực, vuông vức của thành phố lung linh ánh đèn phía dưới, và ông chẳng còn cười nổi nữa. Ông cảm thấy mình đang lặp lại những câu cảm thán của tâm trạng trước với một sự châm biếm đẫm mùi sát khí. Trải dài đến tận tầm mắt là những khẩu súng trường của lực lượng thuộc hạ, bất kỳ ai trong số đó cũng sẽ bắn hạ ông tại chỗ nếu ông không thể đáp lại khẩu lệnh. Súng trường được bố trí gần đến mức khu rừng và sườn núi có thể được tuần tra đều đặn theo định kỳ; do đó việc trốn trong rừng cho đến sáng là vô ích. Súng trường được bố trí xa đến mức kẻ thù không thể lẻn vào thị trấn bằng bất kỳ lối đi vòng nào; do đó việc quay trở lại thành phố bằng bất kỳ con đường hẻo lánh nào cũng là hoài công. Một tiếng kêu từ ông sẽ mang theo đám binh lính ào ạt chạy lên đồi. Thế nhưng từ ông sẽ chẳng có một tiếng kêu nào cất lên cả.
Ánh trăng đã mọc lên với ánh bạc ngày càng mạnh mẽ, và bầu trời hiện lên những dải xanh ban đêm rực rỡ đan xen giữa những dải thông đen kịt quanh lâu đài. Những bông hoa loại lớn và mượt mà lông lá — bởi ông chưa từng để ý đến những thứ như thế trước đây — vừa tỏa sáng vừa bị làm cho phai màu bởi ánh trăng, và trông kỳ ảo đến tả xiết khi chúng cụm lại với nhau, hệt như đang bò trườn quanh rễ những thân cây. Có lẽ lý trí của ông đã đột ngột sụp đổ bởi sự giam cầm phi tự nhiên mà ông đang mang theo, nhưng trong khu rừng đó, ông cảm thấy điều gì đó đậm chất Đức đến tận cùng sâu thẳm — câu chuyện cổ tích. Một nửa tâm trí ông mách bảo rằng ông đang đến gần lâu đài của một con yêu tinh — ông đã quên mất rằng chính mình mới là con yêu tinh ấy. Ông nhớ lại lúc hỏi mẹ mình xem gấu có sống trong công viên cổ kính ở nhà hay không. Ông cúi xuống hái một bông hoa, như thể đó là chiếc bùa hộ mệnh chống lại phép thuật. Phần cuống cứng hơn ông tưởng và gãy đứt với một tiếng “tách” nhỏ. Khi đang cẩn thận tìm cách nhét nó vào khăn quàng, ông nghe thấy tiếng hô vang: ‘Ai đi đấy?’ Rồi ông sực nhớ chiếc khăn quàng không nằm ở vị trí quen thuộc của nó.
Ông cố hét lên nhưng hoàn toàn câm lặng. Lời thách thức thứ hai vang lên; và rồi một tiếng súng réo rắt xé gió lao đến rồi đột ngột bị dập tắt bởi lực va chạm. Otto xứ Grossenmark nằm rất bình yên giữa những tán cây cổ tích, và sẽ chẳng còn gây ra bất kỳ tác hại nào nữa dù bằng vàng hay bằng thép; chỉ có cây bút chì bạc của ánh trang là lùng sục và vạch ra đây đó những hoa văn tinh xảo trên bộ quân phục của ông, hay những nếp nhăn già nua trên vầng trán. Nguyện xin Chúa thương xót linh hồn ông.
Tên lính gác đã khai hỏa, tuân thủ theo đúng những mệnh lệnh nghiêm ngặt của đội ngũ đồn trú, tự nhiên lao vụt lên phía trước để tìm kiếm dấu vết của mục tiêu. Hắn là một binh nhì tên là Schwartz, sau này không mấy xa lạ trong nghề nghiệp của mình, và thứ hắn tìm thấy là một người đàn ông hói đầu mặc quân phục, nhưng có khuôn mặt bị băng bó kín mít bởi một thứ mặt nạ làm từ chính chiếc khăn quàng quân đội của ông ta đến mức chẳng thấy gì ngoài đôi mắt mở trừng trừng, đã chết, đang lấp lánh vẻ lạnh lẽo vô hồn dưới ánh trăng. Viên đạn đã xuyên qua chiếc khăn bịt miệng găm thẳng vào phần hàm; đó là lý do vì sao có một lỗ đạn trên chiếc khăn, nhưng chỉ có đúng một phát súng. Đương nhiên, dù không đúng quy tắc cho lắm, chàng lính trẻ Schwartz đã xé phăng chiếc mặt nạ lụa bí ẩn ấy ra và ném xuống bãi cỏ; và rồi hắn nhìn thấy kẻ mà mình vừa tước đoạt mạng sống.
Chúng ta không thể chắc chắn về giai đoạn tiếp theo. Nhưng tôi nghiêng về niềm tin rằng, xét cho cùng, vẫn có một câu chuyện cổ tích hiện hữu trong khu rừng nhỏ bé ấy, dẫu cho nguyên nhân của nó có kinh hoàng đến đâu. Liệu tiểu thư Hedwig có biết trước về người lính mà cô đã cứu và sau này kết hôn hay không, hay cô vô tình đụng độ vụ tai nạn và mối thâm tình của họ bắt đầu từ đêm đó, có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được. Nhưng tôi tưởng tượng rằng chúng ta có thể biết chắc chắn Hedwig là một nữ anh hùng, và xứng đáng được kết hôn với một người đàn ông sau này trở thành một nhân vật anh hùng. Cô ấy đã có một hành động vừa dũng cảm vừa khôn ngoan. Cô thuyết phục tên lính gác quay trở lại vị trí của hắn, nơi chẳng có chút manh mối nào liên kết hắn với thảm kịch; hắn chỉ là một trong số năm mươi tên lính gác trung thành và kỷ luật nhất có mặt khi được gọi. Cô ở lại bên thi thể và hô hoán báo động; và cũng chẳng có gì liên kết cô với thảm kịch cả, bởi vì cô không hề có, và không thể có, bất kỳ loại vũ khí nóng nào trong tay.
– Chà, – Cha Brown vui vẻ đứng dậy nói, – tôi hy vọng họ được hạnh phúc.
– Anh định đi đâu thế? – người bạn hỏi.
– Tôi định ghé qua ngắm lại bức chân dung của ngài Thị vệ, gã Arnhold kẻ đã phản bội lại các anh em của mình, – vị linh mục đáp. – Tôi tự hỏi phần vai trò của hắn — tôi tự hỏi liệu một kẻ phản bội có bớt đi phần tội lỗi khi trở thành kẻ phản bội hai lần hay không?
Và ông trầm ngâm suy tư hồi lâu trước bức chân dung của một người đàn ông tóc trắng với cặp chân mày đen cùng nụ cười được tô điểm sắc hồng hệt như đang phủ nhận lời cảnh báo đen tối ẩn chứa trong ánh mắt của hắn.