Hậu thế sẽ không bao giờ biết hết được sự vĩ đại và tầm vóc của Lê Thái Tổ nếu chỉ nghe qua những lời ngợi ca công tích thông thường Những lời ngợi ca chỉ giúp chúng ta biết Lê Lợi là người đã đánh đuổi giặc phương Bắc, bảo vệ chủ quyền dân tộc như Lý Thường Kiệt, như Lê Hoàn, như Ngô Quyền. Nhưng phải đặt mọi thứ vào trong hoàn cảnh dân tộc thời điểm bị giặc Minh cướp nước thì khi ấy “biết” mới thành “hiểu”, rằng Lê Lợi - Lê Thái Tổ là vị vua quan trọng nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của đất nước.
Khi bạn đang đọc cuốn sách này, tất cả chúng ta đều mang trong mình nỗi buồn của người trẻ về một sử Việt phôi pha. Những người có tâm với sử nhà để truyền đạt đến mọi người các câu chuyện lịch sử thì lại càng khổ tâm gấp bội. Bởi đó là một sự cố gắng mò mẫm trong sương mù của một hệ thống những tư liệu ít ỏi còn sót lại. Vì dân tộc ta đã bị “đứt” hẳn một đoạn lịch sử, một đoạn văn minh, một đoạn văn hóa, bởi một đoạn mất nước kéo dài 20 năm.
Vào năm 1407, khi nhà Hồ thất bại và nhà Minh chiếm được nước ta, quân phương Bắc đã thực hiện một cải cách khủng khiếp trên diện rộng để đồng hóa. Chiếu thư của Minh Thành Tổ còn ghi rõ: “Nhiều lần trẫm đã bảo các ngươi, phàm An Nam có văn tự gì, kể cả các câu hát dân gian, các bia dù dựng lên một mảnh, hễ nom thấy là phá hủy hết... Sách vở do quân lính bắt được phải ra lệnh đốt luôn, chớ được lưu lại.” Dẫn đến đã có ít nhất 31 tác phẩm đồ sộ đủ mọi lĩnh vực từ văn học, sử học, pháp luật đến quân sự của cha ông ta biên soạn đời trước đã bị tịch thu và đưa sang Trung Quốc, để hôm nay những gì chúng ta có trong tay chỉ là những trang tư liệu nhỏ lẻ và câu chuyện huyền thoại về những bộ sách quý. Có thể kể ra đây những tác phẩm đã mất vì bị nhà Minh cướp lấy, đó là bộ binh pháp của nước Việt: Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tổng bí truyền thư của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, đó là bộ luật đầu tiên của nước Việt: Hình thư của vua Lý Thái Tông đó là Quốc triều thông lễ và Hình luật của Trần Thái Tông, Tứ thư thuyết ước của nhà giáo Chu Văn An và một bộ sử ta không còn được dịp nghe nhiều: Việt sử cương mục của Hồ Tông Thốc.
Ngô Sĩ Liên, nhà sử học nước ta khi chứng kiến những sự kiện này phải than lên tiếng ai oán đau lòng: “Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy quân Minh cuồng bạo. Sách vở cả nước thành một đống tro tàn.”
Chưa hết, 7000 thanh niên tài năng nhất, khỏe mạnh nhất, những thợ giỏi của dân tộc ta bị bắt, hoặc bị thiên để tiệt nòi giống Việt. Trong những người bị giải về Trung Quốc có cha đẻ súng thần công: Hồ Nguyên Trừng, có kiến trúc sư xây dựng khu vực phía Bắc Tử Cấm Thành: Nguyễn An. Ngoài nhân lực, nhà Minh còn vợ vét vật lực mang về phương Bắc, đấy là 235900 con voi, ngựa, trâu bò; thóc gạo, thuyền bè, binh khí. Đi cùng với vơ vét nhân lực và tài lực, nhà Minh còn bắt hàng chục vạn dân định từ 16 đến 60 tuổi phải ra các công trường khai mỏ và mò ngọc trai với chế độ lao dịch cưỡng bức. Những người thợ phải làm việc trong hoàn cảnh thiếu thốn và nguy hiểm. Như hai câu trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:
“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.”
Tô, thuế cũng thật nặng nề, đánh mạnh nhất là thuế ruộng đất và thuế công thương nghiệp. Rồi đi cùng là các chính sách đồng hóa ép dân ta học theo văn hóa Trung Quốc, dù 500 năm qua, từ thời Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Đại Việt đã có một bản sắc riêng.
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.”
2. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Hãy bắt đầu từ vùng đất Thanh Hóa. Không phải ngẫu nhiên mà chính nơi đây sẽ cứu chuộc được vận mệnh của dân tộc trong thời điểm nguy hiểm này. Về địa lý, Thanh Hóa không quá xa Thăng Long - Hà Nội, tức là đủ điều kiện để hấp thụ tinh thần Việt và sự căm phẫn với chế độ cai trị hà khắc của nhà Minh, Thanh Hóa lại đủ xa Thăng Long để khiến bàn tay thống trị không thể với tới từng ngõ ngách, thôn làng, nơi phía sau rặng tre xanh là những nét văn hóa Việt cần gìn giữ và đòi lại. Về lịch sử, nơi đây trong thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc cũng đã sinh ra hai người con anh hùng. Đó là Bà Triệu, tức Triệu Thị Trinh với cuộc khởi nghĩa chống giặc Ngô đô hộ tại núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hóa. Và người thứ hai, võ tướng Dương Đình Nghệ, ở làng Giàng, nay thuộc xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Lê Lợi với khởi nghĩa Lam Sơn chính là kế tục sự nghiệp giữ nước của dân tộc từ các bậc tiền nhân là đồng hương Ái Châu ngày nào.
Để miêu tả đúng nhất về Lê Lợi có lẽ nên dùng từ “rồng ẩn mình” để nói về ông.
Lê Lợi nuôi chí lớn phục quốc, nhưng lại giấu trong tư thế của một người hào trưởng chăm lo cày cấy, không màng chính sự. Cất đi chiếc cày, Lê Lợi cầm lên những sách kinh sử, những cuốn binh pháp thao lược.
Lê Lợi có uy tín rất cao trong địa phương, nhưng thay vì giương cờ hiệu chiêu binh mãi mã, thì ông lại ngầm chiêu nạp kẻ trốn chạy, kẻ làm phản nhà Minh, hoặc ông bỏ của, phát thóc để giúp cho kẻ côi cút, nghèo nàn.
Lê Lợi căm thù giặc Minh nhưng lại thường xuyên đút lót, biếu vàng bạc cho các tướng nhà Minh như Trương Phụ, Trần Trí... để không bị quấy rối, tạo điều kiện cho việc ẩn nhẫn khi nuôi quân và tập hợp anh hào.
Lê Lợi muốn đứng lên chống nhà Minh nhưng không đi theo các cuộc khởi nghĩa trước đó, mà lặng lẽ quan sát đợi thời. Việc không theo giúp nhà Hậu Trần, còn cho thấy cái “chí rồng” của Lê Lợi. Kẻ có chí lớn thay vì đi đến với người thì khiến hào kiệt đến với mình, Lê Lợi chính là vậy.
Lê Lợi hậu đãi các tân khách, thu nạp anh hùng hào kiệt. Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Trịnh Vô, Vũ Uy... chính là những hào kiệt chọn đường đi theo Lê Lợi trong những ngày đầu tiên vì cảm mến cái tài, cái đức.
Tuy nhiên khi lực lượng tăng dần, thật khó tránh khỏi tai mắt của người nhà Minh. Ngụy quan người Việt Lương Nhữ Hốt bàn với tướng Minh, nói rằng: Chúa Lam Sơn chiêu vong, nạp bạn, đãi quân lính rất hậu, chí nó chẳng nhỏ. Nếu thuồng luồng gặp được mây mưa thì tất không phải là vật ở trong ao đâu! Nên sớm trừ đi, đừng để sau sinh vạ.” (Trích từ Lam Sơn thực lục).
Sau khi điều tra thực hư, nhà Minh tin lời Lương Nhữ Hốt là đúng, liền bức bách Lê Lợi ra trình diện. Đứng trước tình thế gấp gáp, Lê Lợi quyết định ra tay trước.
Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Canh Thân, năm 1418, Lê Lợi khởi binh ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, cử cháu là Lê Thạch làm tướng quốc, truyền hịch đi các nơi cùng chống quân Minh. Nhưng đây là một cuộc khởi nghĩa chênh lệch vô cùng về tương quan lực lượng trong khi quân Minh có trên 10 vạn quân đóng trấn các nơi thì Lam Sơn thực lục chép về quân của Lê Lợi như sau: “Quan võ ba mươi lăm (35) người, quan văn dăm ba người, với hai trăm (200) thiết kỵ, hai trăm (200) nghĩa sĩ, hai trăm (200) dũng sĩ và mười bốn (14) thớt voi. Còn bọn chuyên chở lương thảo cũng già yếu, đi hộ vệ vợ con cũng chỉ hai nghìn (2000) người!”
Như thế, không khó hiểu khi khoảng thời gian 6 năm (1418 - 1423), những gì liên quan đến Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là những thất bại chiếm phần lớn, quân sĩ khổ sở, ốm đau, bệnh tật, sống bằng rau rừng và măng tre, Lê Lợi thậm chí phải giết voi ngựa thay cho lương thảo. Có những trận nghĩa quân bị tuyệt lương thực hơn 2 tháng bị vây kín trong núi, đến khi tập hợp lại thì tàn quân chỉ còn hơn 100 người. Có những trận bị vây ngặt tới mức Lê Lai phải đóng giả Lê Lợi để đánh lạc hướng quân Minh cho chủ soái chạy thoát.
Vua Lê Thái Tổ những ngày thất bại tuy tình cảnh thê thảm mà ý chí vững như núi Thái Sơn. Kể cả khi xương cốt của tổ phụ bị giặc đào trộm lên để ép ông quy hàng, ông vẫn không nao núng. Lam Sơn thực lực chép: “Tên bầy tôi phản bội là Ái cùng Đỗ Phú dẫn quân Minh đào lấy tiểu đựng hài cốt tổ phụ Lê Lợi treo sau thuyền hẹn nhà vua phải ra hàng, khiến nhà vua sai Trịnh Khả và Lê Bí đội có bơi rình giặc ngủ say lên thuyền ăn trộm được tiểu đựng xương đem về trình táng lại chỗ cũ.” Ba lần phải rút chạy về núi Chí Linh nhưng tinh thần không chịu lùi bước thì vẫn cao ngút trời. Ông lại đứng dậy dựng cờ khởi nghĩa, lại phủ dụ quân lính, lại tập hợp tàn quân để mở đợt phản công mới. Đại trượng phu chịu những cái nhục, cái đau mà người thường không chịu đựng nổi, Lê Lợi - Lê Thái Tổ là người như vậy. Chính tinh thần không lùi bước ấy đã tạo nên người anh hùng rất quan trọng trong dòng chảy dân tộc. Vị anh hùng đã xuất hiện vào lúc đất nước lâm nguy nhất, dựng cờ đánh đuổi giặc phương Bắc khỏi bờ cõi, giữ lại hồn thiêng núi sông Đại Việt.
Năm 1423, Lê Lợi và quân Minh có một cuộc hưu chiến kéo dài 7 tháng, nhưng là để hòng khối phục lực lượng và chuyển sang chiến lược mới. Bản thân Lê Lợi cũng phải chơi một canh bạc lớn trong trận Sách Khôi vào tháng Tư năm 1423, lần đó Lê Lợi học kế của người xưa, đặt bản thân ông và quân Lam Sơn vào tử địa để khích động tinh thần quân sĩ.
Đại Việt sử ký toàn thư (quyển 10) kể lại trận đánh đó như sau:
“Mùa đông, tháng Mười Hai, vua tiến quân đóng ở Quan Da. Ai Lao với quân Minh đánh vào trước mặt và sau lưng quân ta, nhiều người chết và bị thương, vua bèn bí mật lui về Sách Khôi. Mới được 7 ngày, giặc Minh lại đem đại binh đến vây. Vua bảo các tướng sĩ:
Giặc vậy ta bốn mặt, có muốn chạy cũng không có lối nào. Đây chính là “tử địa” mà binh pháp đã nói, đánh nhanh thì sống, không đánh nhanh thì chết.”
Vua nói xong chảy nước mắt. Các tướng sĩ đều xúc động, tranh nhau liều chết quyết chiến.
Bọn Lê Lĩnh, Lê Vấn, Lê Hào, Lê Triện xông lên trước phá trận, chém được tham tướng Minh là Phùng Quý và hơn nghìn thủ cấp giặc, bắt được trăm con ngựa. Mã Kỳ và Trần Trí chỉ thoát được thân mình chạy về Đông Quan, quân Ai Lao cũng bỏ trốn.”
Chiến thắng Sách Khôi là chiến thắng hùng tráng nhất của Lam Sơn trong những ngày đầu khởi nghĩa, nhưng kết quả có được cũng chỉ là một bàn đàm phán hòa bình 7 tháng.
Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn theo cách nào đó có nét tương đồng nhất định với một sự kiện bên Trung Hoa giai đoạn Tam quốc. Đấy là sáu lần ra Kỳ Sơn của Gia Cát Lượng hàng thống nhất Trung Nguyên nhưng bị Tư Mã Ý chặn lại. Mặc dù hoàn cảnh có thể khác nhau, hình thức của cả hai cuộc chiến này lại giống nhau, đều lấy yếu địch mạnh, lấy nhỏ đánh lớn, nhưng tham vọng rất cao, đó là đánh thẳng một đường từ biên giới tới kinh đô. Phía Lê Lợi là từ Lam Sơn đến Đông Đô, phía Gia Cát Lượng là từ Kỳ Sơn đến Hứa Đô. Những thống soái của hai cuộc chiến này đều sở hữu tinh thần không bỏ cuộc, sẵn sàng “gan óc lấy đất và kiên định với mục tiêu đề ra ban đầu. Tuy nhiên nếu như Gia Cát Lượng đã thất bại trong việc thống nhất Trung Nguyên thì Lê Lợi có một vị tướng sở hữu tầm nhìn chiến lược cao hơn để giúp giải quyết vấn đề khó khăn này. Người đã đề ra một sách lược chiến thắng: “lùi một bước biển rộng trời cao”.
Nguyễn Chích chính là vị tướng mà cuốn sách muốn nói tới. Bàn về Nguyễn Chích thì cần biết rằng, ông không phải là một hào kiệt đến dưới ngọn cờ Lam Sơn thông thường mà ông là một lãnh tụ có quân đội riêng đã dựng cờ khởi nghĩa trước đó, sau đó mới về hợp quân dưới trướng Lê Lợi vào năm 1920. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Hiệu lệnh của ông được thi hành ở các huyện Đông Sơn, Nông Cống và Ngọc Sơn.”
Cuối năm 1424, khi sứ giả quân Lam Sơn là Lê Trăn bị quân Minh bắt giữ, Lê Lợi bèn cắt đứt giảng hòa với địch. Đây cũng là lúc Nguyễn Chích hiện kế với Lê Lợi:
“Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay hãy đánh trước lấy Trà Lân, chiếm cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Quan thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ.”
Trên bản đồ Việt Nam từ Nam ngược Bắc (vì chiều của bản đồ là Bắc - Nam) thì Nghệ An rồi mới đến Thanh Hóa, sau đó mới đi lên Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Tâm lý của Lê Lợi và các tướng soái đều nghĩ rằng sẽ đánh từ Lam Sơn, rồi tuần tự tiến qua Ninh Bình, đến Nam Định, lên Thăng Long mà không hề nghĩ đến việc, tại sao không đánh lui lại phía sau, biến Nghệ An thành bàn đạp vững vàng rồi hãy đánh lên tiếp? Chỉ có Nguyễn Chích nghĩ ra điều đó.
Vùng núi Thanh Hóa trước giờ chỉ giúp Bình Định Vượng áp dụng chiến tranh du kích, ngọn núi Chí Linh chỉ giúp Bình Định Vượng ẩn náu an toàn khi bị truy đuổi, nhưng nơi này cũng chỉ phù hợp cho các trận đánh nhỏ, không thể cung cấp lương thảo và nhân lực cho quân đội chính quy và có tính chất giải phóng kinh đô. (Bình Ngô đại cáo: “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, Lúc Khôi Huyện quân không một đội”). Ngoài ra cần phải nói thêm, Thanh Hóa bị bọc giữa ba thành trì lớn mà quân Minh đã điều động quân để giữ lấy, bao gồm Đông Đô, Tây Đô và Nghệ An. Đây là lý do mà quân Minh luôn đủ lực lượng để bao vây và triệt đường lương thảo của quân Lam Sơn. Điều tương tự cũng xảy đến ở sáu lần ra Kỳ Sơn mà Khổng Minh tiến hành. Giữa hai nước Thục - Ngụy cũng có sự chênh lệch về nhân lực và vật lực, nhưng chính yếu là con đường vận lương hiểm trở từ phía Thục đến Kỳ Sơn khiến cho Tư Mã Ý chỉ cần cố thủ không ra đánh, hoặc chặt đứt đường lương thảo là khiến Khổng Minh phải rút về. Vấn đề này đòi hỏi ở phía sau lưng Vũ Hầu phải có một địa phương yên ổn, một vùng đất mênh mông, đảm bảo hậu cần tốt, để tạo đường lương xuyên suốt, nuôi quân, mộ lính cho một chiến dịch dài hạn. Người đời sau tin rằng, mảnh đất mà Khổng Minh cần chiếm lấy và thật sự Khổng Minh trong chính sử cũng đã cố gắng chiếm lấy chính là Lương Châu. Có được Lương Châu thì mới tính tới việc đuổi hươu ở Trung Nguyên. Lương Châu cũng như Nghệ An sau lưng Thanh Hóa. Nhưng Khổng Minh theo những gì La Quán Trung miêu tả đã không “lùi một bước biển rộng trời cao” như cách Nguyễn Chích đã bày cho Lê Lợi, mà mãi đâm đầu vào một chiến lược bế tắc ở phía trước để rồi chết trong mối hận ngàn đời.
Người đời sau xem Khổng Minh là biểu tượng của tài trí, ấy là vì pho tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung đã đi vào nhân gian với hình tượng xuất chúng về trí tuệ như thế. Nhưng ta hãy nhớ rằng cha ông nước Việt đã có một người lâm vào hoàn cảnh tương tự như Khổng Minh, trong một cuộc chiến chênh lệch tương tự, nhưng đã nghĩ ra kế sách có tính bước ngoặt để đổi thế cờ. Chiến thắng của Lam Sơn sau khi thay đổi chiến lược là một ví dụ thực tiễn hùng hồn để chứng minh rằng nếu ngày ấy Khổng Minh thành công trong việc quay đầu về sau lưng để chọn Lương Châu làm bàn đạp thì lịch sử Tam quốc có thể đã thay đổi.
Người tài suy nghĩ thường giống nhau, Việt Nam có những hai người như thế. Sau Nguyễn Chích 300 năm là Quang Trung - Nguyễn Huệ. Đại Nam liệt truyện chép: “Rạng sáng 16 tháng Chín năm 1972, trước khi mất, vua Quang Trung đã đòi Trần Quang Diệu đến bên mà trăn trối, dặn chôn cất nội trong một tháng rồi dời kinh về Phượng Hoàng Trung Đô (tức Nghệ An) cho mau, bởi vì “Nếu không, quân Gia Định kéo tới, các ngươi sẽ không có đất mà chôn đâu.”
Quay lại địa bàn Nghệ An, nơi Nguyễn Chích khuyên Lê Lợi hãy chiếm lấy. Nghệ An nằm ở phía nam Thanh Hóa, là một vùng đất đông dân và phì nhiêu, người Nghệ An giàu tính dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn. Đồng bằng Nghệ An sở hữu tài lực và vật lực rộng lớn có thể cung cấp lương thảo, sức người, sức ngựa. Có thể nói xứ Nghệ chính là nơi lý tưởng để đặt hậu phương cho cuộc Bắc chinh dài hơi của quân Lê Lợi. Về địa lý, khác với Lam Sơn nằm giữa ba gọng kìm, Nghệ An ở xa trung tâm hơn, khiến việc điều binh tiếp viên của quân Trung Quốc luôn lâm vào thế khó khăn và chậm chạp.
Chiến dịch Nghệ An bắt đầu từ trận Đa Căng để dọn đường cho Lam Sơn tiến vào Nghệ An. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết:
“Giáp Thìn (1424), mùa thu tháng Chín, ngày 20, vua chỉ huy quân và voi đánh úp đồn Đa Căng, phá được đồn này.
Tham chính nhà Minh là Lương Nhữ Hốt chỉ chạy thoát được thân mình, ta thu hết khí giới, đốt phá đồn giặc. Độ chỉ huy sứ nhà Minh là Nguyễn Suất Anh đem quân đến cứu viện nhưng đồn đã mất. Anh chưng hửng, không chỗ bấu víu, vua lại đánh bại chúng... Vua chọn đinh tráng, sửa khí giới, rèn bộ ngũ, chứa sẵn lương khô, tiến thẳng vào Nghệ An.”
Sau khi lấy được Đa Căng, quân Lam Sơn tiến đánh thành Trà Lân ở châu Trà Lân. Quân Minh biết tin, liền đưa quân đến tiếp viện, nhưng bị quân Việt phục kích ở Bồ Đằng (Quỳ Châu), tổn thất mất 2000 quân và đô tỵ người Minh là Trần Trung bị chém trong trận. Nghĩa quân tiến thăng tới Trà Lân, vây thành. Thành Trà Lân ở trên một ngọn núi bên bờ bắc Sông Lam, gần ngã ba Sông Con (nay cạnh thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông). Tòa thành này nằm ngay yết hầu của vùng rừng núi và đồng bằng, là con đường “thượng đạo” chạy qua miền Tây Nghệ An. Nếu lấy được tòa thành này chính là kiểm soát luôn được vùng miền núi và uy hiếp được thành Nghệ An. Biết rõ vị trí quan trọng của tòa thành, Lê Lợi đã không ngại vất vả, vây đánh trong vòng 2 tháng, tiệt đường lương thảo của địch, trong khi gài sẵn quân mai phục để ngăn tiếp viện. Cuối cùng tướng giữ thành là Cầm Bành phải ra hàng.
“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay” mà Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo chính là miêu tả hai trận đánh có tính bản lề này.
Tầm quan trọng của Trà Lân khiến giặc Minh không thể không giành lại, Lê Lợi biết vậy nên mai phục sẵn quân ở Khả Lưu, là nơi mà quân Minh ắt phải đi qua nếu muốn đến Trà Lân. Tại Khả Lưu, Lê Lợi và quân sự tham mưu dùng kế “Dương đông kích tây”? Ông cho dựng cờ xí, đánh trống, rồi nổi lửa vào ban đêm để khiến địch không rõ lực lượng bên ta đông, ít thể nào. Cùng khi đó, lại lặng lẽ cho một toán quân tinh nhuệ âm thầm vượt sông Lam trong đêm và phục kích ngay bên cạnh trận địa địch. Sáng sớm, khi quân Minh tràn sang phía mặt trận chính, quân Lam Sơn giả vờ thua chạy, dụ cho chúng đến vị trí mà toán quân đêm qua đã mai phục sẵn. Khi quân Minh vừa đi qua, tiếng pháo hiệu nổ lên, toán quân phục kích tràn ra đánh, quân chủ lực cũng quay đầu lại tấn công. Quân Minh đại bại.
Thua trận này, giặc lui về chân núi, lập trại, cố thủ không ra đánh. Vua bảo các tướng rằng: “Giặc cậy nhiều lượng nên cứ cố thủ trong trại, không chịu ra đánh. Đó là chúng định làm kế lâu dài. Ta ít lương thực, không thể cầm cự lâu dài với chúng được.”
Liền đó nghĩ ra một kế, sai đốt hết các doanh trại, vờ rút về thượng lưu. Quân Minh khấp khởi đưa quân ra truy đuổi. Nào biết rằng, Lê Lợi đã cho người đi đường tắt phục sẵn tại Bồ Ải trước đó rồi. Đến khi vào trận, nghĩa quân giả đò thua chạy, đến Bồ Ải nơi quân ta mai phục sẵn thì cả hai mặt vây bọc quân Minh vào giữa để cùng tràn vào chém giết. Lam Sơn thực lục chép: “Thuyền giặc chặn ngang dòng, các chất nổi lấp sông, khí giới chất đầy khe núi.” Một tướng địch bị bắt sống, một tướng chết trận, Lê Lợi toàn thắng, thành Trà Lân được giữ vững.
Các tướng Phạm Vấn, Lê Sát, Lê Ngân, Đinh Lễ, Lê Xí, Lê Đạp, Lê Triện, Lê Bôi, Lưu Nhân Chú, Lê Chiến, Lê Tông Kiều, Lê Khôi... chính là những tướng tham gia đánh dẹp hai mặt trận này.
Dùng quân đúng binh pháp tới như vậy há có thể không vỗ tay thán phục? Cần phải nói thêm rằng, dưới trướng Lê Lợi còn có hai văn thần đệ nhất, thường xuyên tham mưu việc trong trường và bày mưu tính kế cùng Lê Lợi, đó là Lê Văn Linh và Bùi Quốc Hưng. Đây chính là hai vị quân sự đã đi cùng Lê Lợi suốt giai đoạn khởi nghĩa Lam Sơn.
Nghĩa quân cứ sau một thắng lợi thì lực lượng Lam Sơn lại tăng thêm gấp bội. Không chỉ bởi lòng căm thù giặc Minh ở trong nhân dân rất lớn nên bây giờ đã có một nơi để theo về thì nó nức đầu quân mà còn bởi Lê Lợi rất giỏi thu phục được nhân tâm khi cấm quân lính không tơ hào một đồng của dân. Lòng dân rất đơn giản, giữa bên nhân nghĩa, bên bạo tàn, sẽ dễ dàng lựa chọn cho mình lực lượng cần đi theo.
Mùa xuân năm 1425, vua được nhân dân chào đón tại hương Đa Lôi. Người dân cảm động mà nói: “Không ngờ ngày nay lại được trông thấy oai nghi cố quốc!” 18 năm, những người dân ấy đã phải sống dưới sự cai trị của quân Minh, cố quốc tưởng đã mất giờ đang quay trở về.
Có được hậu phương Nghệ An, Lê Lợi tiến hành bước thứ hai, đó là tấn công xuống miền Nam với vùng Thuận Hóa là mục tiêu cuối cùng.
Lê Lợi cùng bộ tham mưu chính trị quyết định chia quân ra hai hướng. Hướng thứ nhất do Đinh Lễ chỉ huy, được sự hỗ trợ của Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Lê Triện tấn công mặt trận địch ở Tây Đô, thủ phủ của Thanh Hóa. Hướng thứ hai do Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ theo hướng đường bộ tiến về phía nam đánh Thuận Hóa. Trần Nguyên Hãn nhanh chóng phá tan tướng Minh là Nhậm Năng. Để thêm phần tốc chiến tốc thắng, Lê Lợi phái Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn chiếm đất Tân Bình, Thuận Hóa. Lê Ngân chính là đại đô đốc thủy quân sự của nghĩa quân Lam Sơn.
Mùa thu năm 1425, cả miền Nam đất nước, trừ các lỵ sở đã được giải phóng.
Lấy được toàn bộ miền Nam, Lê Lợi bắt đầu tiến hành bước thứ ba và cũng là bước cuối của chiến dịch mà Nguyễn Chích đề ra, đấy là đưa quân tấn công vùng châu thổ sông Hồng, nơi đầu não địch.
Như vậy, nếu 6 năm ở Lam Sơn, Lê Lợi chỉ vật vờ phòng thủ và quấy rối được vài huyện ở khu vực Thanh Hóa với thành tích thắng ít mà thua nhiều thì chỉ cần 1 năm “xoay trục” sang đánh chiếm Nghệ An, Lê Lợi đã làm chủ cả một vùng rộng lớn từ Thuận Hóa đến Thanh Hóa, đồng thời gây dựng thanh thể lớn mạnh, hào kiệt theo về. Không còn những ngày chạy trốn vào núi Chí Linh, giờ đây, vua có thể mặt đối mặt, đánh ra đầu não chủ lực địch với ba cánh quân chính quy. Hai mốc thời gian với hai kết quả khác nhau đã cho thấy hiệu quả của chiến lược mà Nguyễn Chích bày cho Lê Lợi.
“Tướng giỏi đời xưa, bỏ chỗ vững đánh chỗ hở, tránh chỗ chắc đánh chỗ hư, như thế thì dùng sức có một nửa mà thành công gấp đôi.”
Tháng 8 năm 1926, Lê Lợi tiến hành bắc tiến theo ba hướng: Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía tây bắc; Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía đông bắc; và Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.
Lúc này, nhận thấy tình hình nguy ngập của Giao Chỉ, vua Minh liền điều quân qua tiếp viện. Một tướng của nhà Minh tên là Vương Thông được phong làm tổng binh Giao Chỉ, cấp cho 5 vạn quân qua giải quyết khủng hoảng. Vương Thông kéo quân sang Đại Việt, hợp với 5 vạn quân Minh có sẵn, thành 10 vạn quân, chia binh làm ba đường hòng ngăn đà tiến của Bình Định Vương. Nhưng vừa ra trận thì cánh quân Mã Kỳ ở Từ Liêm bị Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại. Thuận đường, cả hai tướng Lam Sơn đánh luôn mặt quân của Phương Chính. Mã Kỳ, Phương Chính thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Vương Thông lúc này đã đề phòng, liền thiết lập một chuỗi đồn binh kéo dài 20 km quanh kinh đô. Lê Triện tới, rơi vào ổ mai phục, bị đại bại phải chạy về cầu cứu Nguyễn Xí.
Vương Thông liền thừa thắng đuổi theo, chia quân đánh úp Lê Triện. Nhưng nghĩa quân Lam Sơn há không có nhân tài? Đinh Lễ - Nguyễn Xí bèn tượng kế tựu kế, lấy kế người làm kế mình, cho Lê Triện thành mồi nhử, dụ quân Vương Thông vào ổ mai phục Tốt Động - Chúc Động. Quân Vương Thông kéo tới, gặp ngay ổ phục kích. Kết quả Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Vương Thông thì bị thương, chạy thẳng một mạch về Đông Quan, cố thủ không ra đánh, gửi thư qua Bắc Kinh xin cứu viện.
Trận đánh kinh thiên động địa đó, được Nguyễn Trãi miêu tả bằng câu thơ trong Bình Ngô đại cáo: “Tụy Động thấy chất đầy nội, nho để ngàn năm.”
Nhận tin thắng trận, Lê Lợi rời Thanh Hóa lên Thăng Long để trực tiếp chỉ huy trận đánh cuối cùng. Quân Lam Sơn vây kín bốn mặt thành Đông Quan. Vương Thông bị hãm trong thành. Bấy giờ, đến lượt Nguyễn Trãi trổ tài, từng bức thư du hàng được gửi ào ạt vào trong, lời lẽ khi cương, khi nhu, khi mạnh mẽ, khi vỗ về, khi dọa dẫm đã đánh thẳng vào tâm lý của Vương Thông. Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn gửi thư cho những người chỉ huy quân đồn trú ở xung quanh để thuyết phục. Kết quả, các đồn Điêu Diêu và Nghệ An lần lượt ra hàng.
Trong quá trình cầm cự này, hai bên có những trận đánh qua lại và những lần nghị hòa xen kẽ. Một tổn thất lớn cho quân Lam Sơn xảy ra, vị tướng anh dũng Đinh Lễ chết trong chiến dịch vây hãm Đông Quan. Cùng lúc, tin dữ ập đến, Trung Quốc đã phái hai đạo quân tiếp viện. Đạo quân thứ nhất do Liễu Thăng chỉ huy với 10 vạn người và 2 vạn ngựa từ Quảng Tây kéo đến Lạng Sơn. Đạo quân thứ do Mộc Thạnh cầm đầu với 5 vạn quân, theo đường từ Vân Nam đi thẳng xuống đồng bằng Sông Hồng. Hóa ra Vương Thông đã dối trá để đợi cứu viện, còn Lê Lợi vì quá thường quân sĩ mệt nhọc, nhân dân lầm than mà đã trúng kế.
Nhưng mẹo vặt khôn lỏi chỉ giúp cầm cự được một thời khắc. Tài năng quán triệt và sức mạnh nội tại mới là cái chiến thắng lâu bền.
Đối phó với hai mặt trận này, Lê Lợi dùng kế “Rút củi đáy nồi”, ông không chấp nhận cách mà các tướng đề xuất là chiếm Đông Quan. Lý do khi biết tiếp viện tới, nhất định sĩ khí quân Vương Thông sẽ liều chết cố thủ để đợi tiếp viện, lúc đó chính quân ta sẽ bị vây hai mặt trong ngoài. Ngược lại, chỉ cần đánh tan đạo quân tiếp viện là coi như Đông Quan phải hàng. Vua điều Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Văn Linh, Đinh Liệt mang quân phục ở Chi Lăng, sai Lê Văn An, Nguyễn Lý tiếp ứng cho cánh quân này. Tiếp đó là sai Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả đến giữ chân Mộc Thạnh, không quên căn dặn: “Mộc Thạnh là tướng già lão luyện, chỉ đánh khi ăn chắc, nếu Liễu Thăng bại trận thì cánh quân này tự tan rã. Hai tướng chỉ giữ chứ không cần đánh.”
Sắp đặt đâu ra đấy, Lê Lợi đợi tin thắng trận từ biên giới.
Ngoài mặt trận, tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu giả cách thua chạy từ Ải Nam Quan lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 Âm lịch, Liễu Thăng đuổi đến đây. Trần Lựu lại thua, Liễu Thăng lại đuổi gấp cho đến khi lọt vào cửa Ải Chi Lăng.
“Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan!
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn.”
(Quý Môn Quan, Quỷ Môn Quan!
Mười người đi, một người về.”)
Ải Chi Lăng là một thung lũng hẹp ép giữa hai dãy núi dựng đứng như bức tường thành Đông và Tây, thế núi rất hiểm. Ngoài ra còn có những dãy núi thấp hơn bọc xung quanh, chỉ cần địch lọt vào đây và trúng ô mai phục thì khả năng sống sót là rất nhỏ. Dân tộc Việt Nam giữ được nước trước họa xâm lăng của phương Bắc thời phong kiến chính là nhờ phần lớn ở hiểm địa này.
Liễu Thăng vừa đến ải Chi Lăng thì nghe tiếng hò reo từ bốn phương tám hướng, phía trên đầu, tên bay xuống như mưa. Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết, lưỡi gươm của Lê Sát đã chém cụt đầu Liễu Thăng ở chỗ này, tạo nên công tích ngàn thu còn mãi lưu truyền: “Đánh một trận sạch không kinh ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông” (Bình Ngô đại cáo). Lê Sát cho người chuyển các huy hiệu và con dấu của Liễu Thăng đến cho Mộc Thạnh. Viên tướng già nhận ra các con dấu của Liễu Thăng, sợ hãi quá, bỏ chạy một mạch về Vân Nam. Vậy là cánh quân này không đánh mà tự tan. Cũng bằng chiến thuật tâm lý đó, Lê Lợi đưa các viên tướng nhà Minh bị bắt ở Chi Lăng đến diễu dưới chân thành Đông Quan, bên cạnh cờ xí Trung Quốc rợp trời mà rách nát ở các trại Việt. Vương Thông từ trên thành nhìn xuống, trong lòng nguội lạnh, mở cửa xin hàng.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn tới đây là chấm dứt, dân tộc ta giành lại độc lập sau 20 năm mất nước.
“Xã tắc từ đây vững bền Giang sơn từ đây đổi mới.
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hồi rồi lại minh.”
(Bình ngô đại cáo)
Phụ lục: Vai trò Nguyễn Trãi
Vào thời điểm Vương Thông xin hàng, trong nghĩa quân Lam Sơn xảy ra tranh luận lớn. 20 năm qua, tội ác của quân Minh: “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi” (Bình ngô đại cáo), ai ai cũng muốn tru diệt. Trong làn sóng của sự căm phân đó, chỉ một người không chấp nhận, đấy là Nguyễn Trãi. Ức Trai lên tiếng chống lại: “Trong tình hình hiện tại, tấn công địch và uống máu quân thù không có gì khó đối với chúng ta. Nhưng tôi e rằng như vậy sẽ chuốc lấy hận thù lớn hơn từ phía nhà Minh. Để trả thù, để giữ thể diện cho một đế quốc lớn, họ sẽ gửi tới một đạo quân mới và những tai ương của chiến tranh sẽ còn kéo dài. Tốt hơn là nên lợi dụng cơ hội địch lâm vào cảnh cùng cực để làm hòa với họ vì lợi ích của hai dân tộc.”
Sách Đại Việt sử ký (bản kỷ thực lục, quyển X, tờ 44a-44b) ghi rằng: “Duy có Hành khiển Nguyễn Trãi ở nơi tham mưu, được xem thư bọc sáp của Vương Thông gửi về nước nói: “Chớ tham chỗ đất một góc mà làm nhọc quân đi muôn dặm; giả sử dụng quân được như số quân đi đánh khi đầu, lại được sáu, bảy, tám đại tướng như bọn Trường Phụ thì mới có thể đánh được; tuy nhiên có đánh được cũng không thể giữ được, nên biết rõ thế mạnh yếu của giặc, mới khuyên chủ mặt chủ hòa. Vua Lê Thái Tổ nghe theo và hạ lệnh cho các quân giải vây lui ra.”
Nhìn từ góc độ đó có thể thấy rằng, với việc phản đối trả thù quân Minh, Nguyễn Trãi đã đụng chạm đến rất nhiều những vị tướng vào sinh ra tử có đồng đội chết trận, điều bất lợi với ông trong chốn quan trường sau này. Mà vụ án oan thiên cổ Lệ Chi Viên chính là kết quả.
Nói về Nguyễn Trãi ở khởi nghĩa Lam Sơn, Ức Trai không phải là một quân sư hàng đầu bên cạnh Lê Lợi, ngài cũng không phải là một vị đại tướng có công đầu dẹp loạn nơi tiền tuyến và vị thế trong nghĩa quân Lam Sơn cũng khiêm tốn là Soạn chiếu thư như một hàn lâm học sĩ. Trong bảng 93 công thần mà Lê Thái Tổ lập sau khúc khải hoàn, tên của Ức Trai chỉ xếp thứ 80, chức tước quan phục hậu so với những Phạm Vấn, Nguyễn Chích, Đinh Liệt, Lê Văn Linh thì thật quá xa. Có thể nói rằng, tầm vóc của Nguyễn Trãi phải đến đời sau mới nhìn nhận đúng. Đây là một giá trị mang tính thời đại về triết học, về nhân nghĩa, về nho gia, về dân tộc. Ngay cả trong Bình Ngô sách mà ông trình cho Lê Lợi, cái xuyên suốt chính là hai chữ “tâm công”. Lê Lợi lấy được đất nước là nhờ chiến lược của Nguyễn Chích nhưng lấy được lòng dân, há chẳng phải từ Bình Ngô sách hay sao?
Chính dòng sông Nguyễn Trãi đã âm thầm tưới mát cho một nghĩa quân đi lên bằng máu, nước mắt và hận thù dân tộc, đã giúp nghĩa quân Lam Sơn có danh nghĩa chính thống để thu phục lòng người. Nhân tâm Nguyễn Trãi trong ngày chiến tranh khi tha cho quân Minh đã giúp Đại Việt trở thành một quốc gia có vị thế khiến Trung Quốc phải nể trọng và trở thành một vương triều bền vững, được công nhận trong thời bình.
“Lùi một bước biển rộng trời cao”, không chỉ có Nguyễn Chích mà còn có Nguyễn Trãi. Đây là bài học lớn của lịch sử.
Tản mạn
Ở Thanh Hóa có một khu du lịch vừa được tôn tạo tên là Lam Kinh, được ghép lại từ hai chữ “Lam Sơn” và “Tây Kinh”. Nơi này là quần thể lăng mộ vua chúa, hoàng hậu của các triều Lê. Ngay sau lưng chính điện, khi đi thẳng vào một Con đường thật đẹp, sẽ gặp nơi an táng của vua Lê Thái Tổ. Bên dưới tấm bia mộ lạnh lẽo là con người mà 600 năm trước đã khởi nghĩa chống giặc phương Bắc đô hộ. Ngài chính là vị vua quan trọng nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm nước nhà khi đánh đuổi giặc Minh - những kẻ tiến hành tiêu diệt văn hóa Đại Việt, đốt sách, bắt bớ thanh niên và đổi phong tục. Chính lúc nguy cấp ấy, dân tộc Việt đã có một vua Lê Thái Tổ. Giữa thế ngặt nghèo, trong vòng 10 năm cứu lại vận mệnh dân tộc. Hồn thiêng sông núi còn ghi dấu công lao nơi đây, như tiếng gầm vọng mãi ngàn thu.
“Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm.”
(Bình Ngô đại cáo)