1.1. Hoàn cảnh lập nên nhà Trần

Sử Việt - 12 Khúc Tráng Ca

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Khúc Ca 7:tiếng Ca Hùng Tránghào Khí Đông A Và Đức Thánh Trần
1. Gốc Nhà Trần

❊ ❊ ❊

Theo lối chiết tự, Trần còn gọi là Đông A (do chữ “Trần” (陳) được ghép từ hai chữ là chữ “Đông” (東) và chữ “A” (向). “Hào khí Đông A" bởi vậy chính là “hào khí nhà Trần”. Bốn chữ đó đã trở thành biểu tượng của chiến thắng của dân tộc, đây chính là “võ công đệ nhất trong lịch sử giữ nước Việt Nam. Hình ảnh chiến thắng đi cùng với câu chuyện về người anh hùng được ca tụng nhất, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Để đi tới Trần Hưng Đạo có lẽ cần phải nói về nhà Trần và sự xuất hiện của dòng họ này trên vũ đài lịch sử Việt Nam trước. Bởi phải đi từ chính cái gốc rễ này, ta mới tìm hiểu được một phần lý do tạo nên chiến thắng của quân dân nhà Trần trước đế quốc mạnh nhất lịch sử thế giới là Mông Cổ. Tại sao một đội quân kỵ binh hùng mạnh đã đánh từ Á sang Âu, khiến nhà Tống phải quỳ gối, khiến cả nước Pháp phải sợ hãi mà đình trệ buôn bán, khiến cả để quốc La Mã thần thánh phải hát bài kinh cầu nguyện: “Chúa cứu vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ của Tác – ta[1] . Mông Cổ” lại phải chăn gối trước Đại Việt? Tại sao đối diện với sự uy hiếp kinh hoàng ấy mà người dân Đại Việt lại khắc lên người hai chữ “Sát Thát[2]”? Đây sẽ là một câu hỏi mà hậu nhân của “hào khí Đông A” sẽ cùng nhau tìm hiểu.

Sử sách viết: “Năm 1922, Lý Huệ Tông không có con trai nên nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng. Lý Chiêu Hoàng cưới Trần Cảnh. Đến năm 1425, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, nhà Trần từ đó thay nhà Lý.” Nếu lịch sử chỉ là những câu chuyện đơn giản như vậy thì máu có lẽ đã không đổ quá nhiều trên con đường tranh đoạt thiên hạ của các triều đại. Thực tế thì người đọc sử có thể có được tư duy học thuật hơn rất nhiều. Chế độ phong kiến là một chế độ phụ hệ, “trọng nam khinh nữ”, coi trọng dòng máu gia tộc. Trường hợp Lý Huệ Tông không có con trai thì khi gia tộc nhà Lý cần giữ dòng chính thống, một người cháu trai tài năng có thể được chọn làm thái tử, còn không sẽ là một vương gia được chọn kế vị. Thực tế thì lịch sử Việt Nam 400 năm sau sự kiện Lý Chiêu Hoàng, có một câu chuyện tương tự, nhưng cách giải quyết khác biệt hoàn toàn, đó là sự kiện vua Tự Đức không có con cái, nhà vua đã nhận ba người cháu là Nguyễn Phúc Ưng Chân, Nguyễn Phúc Ưng Kỷ và Nguyễn Phúc Ưng Đăng làm con nuôi để kế vị ngai vàng, là các vị vua Dục Đức, Đồng Khánh và Kiến Phúc sau này. Đây là bằng chứng rõ ràng nhất cho việc giải các bài toán liên quan đến việc vua chúa không có Con trai. Câu hỏi đặt ra vì vậy là: Tại sao Lý Huệ Tông phải nhất nhất nhường ngôi cho một cô con gái 7 tuổi, để rồi cô gái đó nhường ngôi cho chồng lo việc nước, và chồng - Trần Cảnh - cũng chỉ mới 11 tuổi? Tức là phía sau cuộc nhường ngôi êm thấm này là một âm mưu đã được sắp đặt của một người ngoại tộc. Người thực hiện điều này chính là một gian hàng bậc nhất, tài năng và quyết liệt bậc nhất của thời đại ấy: thái sư Trần Thủ Độ. Đại Việt sử ký toàn thư vì thế mới chép: “Thái Tông lấy được thiên hạ đều là màu sắc của Thủ Độ cả, cho nên quốc gia phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua.”

Người đời sau vì quá yêu những Công tích vĩ đại của Hưng Đạo Đại Vương nên hầu như cũng chỉ biết mỗi ông và xem ông là đệ nhất quần thần. Tuy nhiên thực tế thì trước Trần Quốc Tuấn còn bốn người nữa có đóng góp cũng cực kỳ quan trọng cho vương triều nhà Trần, đó là: Trần Tự Khánh, Tô Trung Từ, Trần Thị Dung và Trần Thủ Độ. Bốn con người này chính là khai quốc công của vương triều Trần. Đã có rất nhiều máu đổ xung quanh hai cái tên là Trần Tự Khánh và Tô Trung Từ để giúp sáng lập nên một triều đại của họ Trần chỉ bằng một cuộc hôn nhân êm thấm.

Vào thời buổi suy vi của nhà Lý, Lý Cao Tông nghe lời gian thần Phạm Du, giết trung thần Phạm Binh Di. Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc khởi binh báo thù cho chủ, đánh vào kinh thành Thăng Long. Vua Cao Tông chạy lên Quy Hóa, thái tử Sảm (sau này là vua Lý Huệ Tông) cùng mẹ và hai em gái chạy về Hải Ấp (Thái Bình). Vừa khéo chính nơi đây thuộc địa bàn của Trần Lý (là ông của Thái Tông Trần Cảnh). Trần Lý có một người con gái tên Trần Thị Dung (chính là Linh Từ Quốc Mẫu) rất có nhan sắc, thái tử Sảm lấy làm thích, liền đem về làm phi. Tô Trung Từ khi đó bàn với Trần Lý, cùng nhau đưa thái tử Sảm làm vua, tôn xưng là Thắng Vương. Nhân đó Trần Lý được phong làm minh tự, Tô Trung Tự làm điện tiền chỉ huy sứ. Sau khi xong đâu đó, hai người khởi binh về Thăng Long, đánh bại Quách Bốc, Trần Lý chết trận, triều chính lại nằm hết cả vào tay Tô Trung Từ. Tại Thăng Long, một tay Tô Trung Từ đưa thái tử Sảm lên ngôi, đánh dẹp hết các cuộc chống đối của cựu thần nhà Lý và nắm hết triều chính.

Đúng vào lúc này, lịch sử bỗng xuất hiện một người phụ nữ mà theo những gì bà tạo ra (dù chỉ một cách gián tiếp) có thể khẳng định xứng đáng với bốn chữ “hồng nhan họa thủy”. Người con gái ấy là công chúa Thiên Cực. Sử cũ ghi lại: “Năm Tân Tỵ (1211), tháng Sáu, Tô Trung Từ ban đêm sang nhà ở Gia Lâm để cùng với công chúa Thiên Cực tư thông, bị chồng của Công chúa làm Quan nội hầu là Vương Thượng giết chết.” Theo luật pháp nhà Lý khi đó, nếu nam nữ tư thông mà bị bắt quả tang thì người chồng có thể giết tình địch mà không bị tội. Vậy là Tô Trung Từ, bậc kiêu hùng nắm giữ triều chính, dẹp loạn hết mọi cựu thần nhà Lý, cuối cùng lại chết bởi một mỹ nhân. Lùi lại trước đó, Đại Việt sử lược chép: “Biết đã đến lúc dân ở vùng Hồng đi đón rước mà Phạm Du còn cùng với công chúa Thiên Cực tư thông...” Phạm Du chính là người được lệnh của vua Cao Tông đi liên hệ với họ Đoàn nhằm tấn công Trần Lý và Tô Trung Từ sau sự việc tự ý đưa thái tử Sảm lên ngôi. Nhưng vì bận đắm say với công chúa Thiên Cực mà lỡ hết việc lớn. Vậy công chúa Thiên Cực đẹp đến thế nào mà một mình có thể khiến hai quyền thần phải đắm say mà dẫn đến cái chết vậy?

Cái chết của Tô Trung Từ tạo điều kiện cho đệ nhất khai quốc công thần của nhà Trần là Trần Tự Khánh bước lên vũ đài lịch sử. Từ Hải An, ông đưa binh đến Thăng Long. Khác với cách mà người cậu Tô Trung Từ hay người anh Trần Thừa có được binh quyền nhờ loạn lạc, Trần Tự Khánh lại có được uy quyền bằng tài năng đánh trận trên lưng ngựa. Chỉ bằng một đạo quân, ông đánh tan quần hùng khắp mọi nơi. Đi lên từ vùng Hải Ấp của nhà Trần, Trần Tự Khánh kiểm soát được cả miền Lý Nhân (Hà Nam), chiếm cứ sông Lô, sông Thiên Đức (sông Đuống), rồi chiếm luôn đồng bằng hạ lưu sông Hồng và sông Đáy, phát triển thể lực lên đến Quốc Oai và cuối cùng đánh đến kinh đô. Lý Huệ Tông quyết không theo Trần Tự Khánh mà chọn họ Đoàn (là một gia tộc lớn giai đoạn này) để nương nhờ.

Lúc ấy, loạn cát cứ nổi lên khắp nơi, xét ra SO với thời “12 sứ quân” cũng không chịu kém. Trần Tự Khánh nổi bật lên như một tướng quân tài ba nhất, thắng các sứ quân khác như chẻ tre. Sự tàn bạo và quyết liệt của Trần Tự Khánh lớn tới mức sẵn sàng vây và đốt cháy cả Thăng Long. Cuối cùng Lý Huệ Tông nhận thấy chỉ có Tự Khánh là đáng nương nhờ, đành phải theo về. Có Lý Huệ Tông làm cớ danh chính ngôn thuận, trong khoảng thời gian 4 năm (1217 - 1220), Trần Tự Khánh đánh đông dẹp bắc, thu về một mối cả bốn thể lực chống đối.

Cuối năm 1923, Trần Tự Khánh qua đời ở Phù Liệt, thọ 49 tuổi. Quyền bính trong triều được giao cho em họ ông là Trần Thủ Độ - người sẽ đạo diễn cuộc hôn nhân chính trị đưa thiên hạ về cho nhà Trần sau này. Điều Trần Thủ Độ làm được đương nhiên là vì mưu sâu kế hiểm của một gian thần, cũng là sự góp sức quan trọng của Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung trong việc dẹp yên nội trị ở cung cấm, nhưng đầu tiên chính là nhờ người anh họ Trần Tự Khánh đã “tiền trạm” cho ông vậy. Trần Thủ Độ cũng không kém anh, để giữ vững cơ nghiệp cho nhà Trần, ông sẵn sàng “nhổ cỏ tận gốc”. Lý Huệ Tông sau khi nhường ngôi thì làm sư, xưng là Huệ Quang. Năm 1226, Trần Thủ Độ sợ lòng dân nhớ vua cũ, bèn chuyển Huệ Quang vào chùa Chân Giáo. Một lần Thủ Độ thấy Huệ Tông nhổ cỏ ở vườn, Thủ Độ nói: “Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ sâu.” Huệ Tông nói: “Điều người nói, ta hiểu rồi.” Sau đó, Lý Huệ Tông tự tử ở sau vườn.

1.2. Tính cách Mông Cổ, tính cách Đông A

Khúc tráng ca này muốn đi từ cái gốc tạo nên nhà Trần để tất cả chúng ta hiểu rằng, những năm cuối thời Lý không hề yên ả như cuộc hôn nhân chính trị giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh mà giống như cuộc chiến “Loạn 12 sứ quân” năm nào ở khúc ca số 3. Đấy là một dữ kiện quan trọng để hậu nhân đọc lịch sử biết rằng: Đức tính tàn bạo và quyết liệt, mềm mỏng và bao dung, chính trị dày dạn và dũng mãnh trên chiến trường của “hào khí Đông A” đã có từ ngày lập quốc chứ không phải đến cuộc chiến chống Nguyên Mông mới xuất hiện.

Nếu người Mông Cổ tự hào với truyền thuyết về nguồn gốc sói thảo nguyên của mình thì Nhà Trần và Đại Việt cũng là giống kinh nghê, cùng truyền thuyết tiên rồng. Người Mông Cổ xuất thân từ “sói”. “Sói thảo nguyên” đã “sinh” ra Thành Cát Tư Hãn, cho ông ta những đức tính tàn bạo và quyết liệt, thông minh, cơ trí, kiêu hùng và nhẫn nại, dũng cảm, liều mình, khôn ngoan và cả binh pháp của sói. Còn nhà Trần, gốc của họ là nghề chài lưới, họ cũng săn bắn nhưng là săn bắn trên sông và trên biển. Những người con đầu tiên đều lấy tên các loại cá, chẳng hạn Trần Thừa (tên tục là Dưa), Trần Tự Khánh (Ngạnh) và Trần Thị Dung (Ngừ). Công cuộc tiếp xúc với máu hằng ngày và cuộc đấu tranh giành giật kế sinh nhai trên sông biển, những âm mưu để tồn tại và chứng kiến quy luật “cá lớn nuốt cá bé” cũng đã dạy cho dòng tộc họ Trần tính cách của loại cá kình” - loại cá được mệnh danh là “chó sói của biển cả”.

Trên thảo nguyên mênh mông, người Mông Cổ là dân tộc du mục và săn bắn, bởi là một dân tộc săn bắn, họ có sức mạnh và sự táo bạo để tiêu diệt nền văn minh nông canh. Trên sông nước, những người con nhà Trần, người dân Đại Việt cũng săn bắn, đương đầu với sóng dữ, hiểm họa và những loại cá hung tợn. Mông Cổ là khắc tinh của các nước khác, nhưng không phải là khắc tinh của nhà Trần, ngược lại, họ giống nhau trong tính cách tồn tại.

Thành Cát Tư Hãn và An Sinh Vương Trần Liễu (cha của Hưng Đạo Đại Vương) đều từng bị... cướp vợ. Rồi cả An Sinh Vương và Thành Cát Tư Hãn đều cầm gươm đứng dậy mà cướp lại vợ chứ không chịu cúi đầu trước kẻ mạnh hơn. An Sinh Vương có thể thất bại, nhưng trước khi chết, vẫn trăn trối lại với con mình là Trần Quốc Tuấn: “Con không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết dưới suối vàng cũng không thể nhắm mắt.” Thế giới “mạnh được yêu thua” đã sinh ra những con người như Trần Tự Khánh, như Thành Cát Tư Hãn, tất cả những vị tướng ấy đều vùng lên để giành lấy quyền lợi cho dòng họ. Trần Khánh Dư, tôn thất nhà Trần cũng từng nói một câu rất tàn bạo: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì lạ?” Cuộc chiến giữa Mông Cổ và Đông A vốn là cuộc quyết chiến của hai đối thủ có khá nhiều điểm tương đồng của “sói” và “kình”.

2. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Để miêu tả về sức mạnh quân Mông Cổ, một nhà sử học thời Tống bên Trung Quốc đã viết: “Hoặc xa hoặc gần, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc hợp lại hoặc tản ra, hoặc ẩn hoặc hiện, đến thì như trên trời rơi xuống, đi thì nhanh như chớp giật. Kẻ địch chia ra thì họ chia ra, kẻ địch hợp lại thì họ hợp lại. Họ mà thắng thì đuổi theo quân địch chém giết, không để trốn thoát. Họ mà thua thì chạy rất nhanh, đuổi theo không kịp.”

Đoạn miêu tả ấn tượng ấy giúp ta thấy sức mạnh khủng khiếp của binh đoàn này, nhưng đây là điểm mạnh mà cũng là điểm yếu của quân lính Mông Cổ. Chính vì sống trên lưng ngựa, đánh thắng trên lưng ngựa nên ngựa trở thành điểm chính yếu cho sự tồn tại của kỵ binh. Tốc độ hành quân quá nhanh dẫn đến lương thảo thường không theo kịp, quân sĩ bởi vậy thường mang theo lượng lương thảo tinh giảm và gọn nhẹ nhất, chủ yếu sẽ là “tự cung tự cấp”, chém giết các điểm đến để lấy thức ăn cho người và ngựa. Sinh thời, Thành Cát Tư Hãn cũng đã từng nói: “Phải chinh phạt kẻ thù, phải bắt kịp kẻ thù, phải cướp bóc tài sản của bọn chúng...” Nhưng nếu không có gì để mà cướp thì sao? “Vườn không nhà trống” của Đại Việt chính là lời hồi đáp cho câu hỏi đó. Việc này khiến quân thiết kỵ Mông Cổ chưng hửng. Cướp phá chẳng được gì, lương thực thì cạn kiệt. Đến một thời điểm nhất định, chỉ cần dùng đại quân đã được ém kỹ, lấy sức nhàn đánh quân mệt, nổ một phát sấm sét là coi như thành công. Kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258 hoàn toàn là theo tính toán này. Khi đó quân Mông Cổ tiến vào Đại Việt theo đường Đại Lý. Đích thân vua Trần Thái Tông và thái tử Trần Hoàng dẫn quân lên nghênh địch tại Bình Lệ Nguyên (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phúc). Không quá khó hiểu khi quân Đại Việt thất bại. Vai trò của Lê Phụ Trần chính là đã ngăn cản vua Trần Thái Tông nướng quân ở Bình Lệ Nguyên mà tham mưu lại với Trần Thủ Độ để chuyển sang thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”, giải tán toàn bộ vật lực trong thành khiến quân Mông gặp phải khó khăn về lương thực. Trong vòng 10 ngày khi quân Mông cạn kiệt lương thực và đang chán nản, vua Trần và thái tử lại dẫn quân phản công, trên Đông Bộ Đầu (nay là quận Ba Đình, Hà Nội), quân dân Đại Việt thắng một trận tưng bừng, đuổi quân Mông Cổ chạy một mạch về Trung Quốc. Dọc đường quân Mông Cổ còn bị dân tộc thiểu số miền núi Tây Bắc do Hà Bổng chỉ huy tập kích càng thêm hao tổn.

Như đã nói ở phần 1 của bài viết, người đời vì yêu thương và ngưỡng vọng Đức Thánh Trần mà hễ nhắc đến nhà Trần, nhắc đến “ba lần thắng quân Nguyên Mông” là đều nói về Trần Quốc Tuấn. Nhưng nếu xét riêng về dòng tộc, đóng góp của Trần Quốc Tuấn dưới Trần Tự Khánh, Tô Trung Từ hay Trần Thủ Độ. Nếu xét về công lao đánh giặc thì cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất vào năm 1958, công lao lớn nhất là ở Lê Phụ Trần, người khuyên vua Trần rút quân ở trận Bình Lệ Nguyên, còn vai trò của Trần Quốc Tuấn khi đó là giữ biên giới phía Bắc. Sân khấu của Hưng Đạo Đại Vương thực ra là ở cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288), với vai trò chỉ huy quân đội.

Tháng 1 năm 1285, Thoát Hoan đưa quân tràn sang nước ta, thể giặc như gió cuốn. Hội nghị Diên Hồng được tổ chức, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thượng hoàng triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão đều nói “đánh”, muôn người cùng hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng.” Đây được xem như hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nơi mà các phụ lão có thể coi là đại biểu của dân. Sau hội nghị, chính các phụ lão là người truyền đạt lại chủ trương của chính quyền đến người dân. Nhà Trần chiến thắng bởi có lòng dân đồng nhất từ trên xuống dưới vậy. Bản thân người chỉ huy Hưng Đạo Vương thì tâu: “Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng!”

Về Vạn Kiếp, Hưng Đạo Đại Vương làm hai việc quan trọng. Đầu tiên, vị quốc công tiết chế soạn thảo bộ Binh thư yếu lược - bộ binh pháp đầu tiên của nước ta - để huấn luyện quân sĩ và các tướng. Tiếp đó, ngài tuyên truyền Hịch tướng sĩ trong 20 vạn quân dưới trướng để khích lệ binh lính chiến đấu, những câu văn đến giờ khi đọc lên vẫn khiến hậu nhân hừng hực khí thế như đang sống ở thời kỳ Đông A: “Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sự ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước, có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bạn không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào!” Binh sĩ nghe xong lời hịch, sĩ khí dâng lên, lấy mực xăm vào tay hai chữ: “Sát Thát”, cùng nhau hết lòng chiến đấu chống giặc.

Thu phục được lòng người về một mối rồi, Hưng Đạo Đại Vương vận dụng binh pháp “Kiên thủ chờ suy” rút quân chủ lực vào Thiên Trường Tam Điệp, Thanh Hóa, đồng thời tăng cường quân địa phương chặn đánh nhỏ phía trước, triệt hậu cần phía sau, cốt giữ giặc ở lâu trong đất lạ, hạn chế đánh giáp lá cà. Tháng 5 năm 1285, Trần Hưng Đạo cho quân tổng phản công từ hai hướng Chương Dương và Giang Khẩu. Một mình chỉ huy đánh thắng trận đầu ở A Lỗ, điều binh ở các điểm Hàm Tử, Chương Dương và Tây Kết. Hào khí Đông A dâng cao nhất trong chiến thắng tại Hàm Tử. Người chỉ huy trận đánh đó chính là nhà ngoại giao tài ba của nhà Trần, một trong những nhân vật được yêu mến nhất lịch sử: Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, người mà cách đó 5 năm từng một mình một ngựa, cười nói thản nhiên, uống rượu trong trường của Trịnh Giác Mật giữa hai hàng đao phủ thủ để chiêu dụ tù trưởng phía Bắc. Sau khi Trần Nhật Duật thắng ở Hàm Tử thì đến lượt Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải tấn công ở Chương Dương. Thoát Hoan cuối cùng phải bỏ chạy khỏi Thăng Long vì không chịu nổi sức ép. Cùng thời điểm, tướng Toa Đô từ phía nam tiến lên. Cánh quân Toa Đô đóng ở sông Thiên Mạc đợi liên lạc với Thoát Hoan. Được ít ngày, tin bại trận của Thoát Hoan báo đến, Toa Đô hoảng hốt lui về Tây Kết, không ngờ gặp đúng quân nhà Trần, trận này, Toa Đô chết.

Nói về Thoát Hoan, khi đó đang rút chạy về phía bắc Sông Hồng thì đến ngày 10 tháng 6 năm 1285, Hưng Đạo Vương đích thân lên lưng ngựa, phó tướng Trần Tung dẫn hơn 2 vạn quân tấn công Thoát Hoan ở bờ Bắc sông Hồng, đánh bại Lưu Thế Anh, đuổi Thoát Hoan đến sông Như Nguyệt (sông Cầu). Vừa đến sông, lại khéo gặp ngay Trần Quốc Toản. Quân Nguyên bị vị tướng trẻ với lá cờ thêu sáu chữ vàng này đánh bại, không sang sống được, phải chạy về phía Vạn Kiếp. Chạy đến sông Sách, quân Nguyên bắc cầu phao định vượt sông, nhưng Hưng Đạo Đại Vương đánh ập vào, xé ngang quân Nguyên khiến chúng xô nhau chạy, cầu phao đất, chết đuối hết mấy phần. Vất vả lắm mới vượt qua sông Sách, quân Nguyên chạy về Vĩnh Bình, gặp Trần Quốc Nghiễn (con trai của Hưng Đạo Đại Vương) chỉ huy. Tướng của Thoát Hoan là Lý Hằng bị trúng tên độc tử trận. Thoát Hoan sợ hãi quá, chui ngay vào ống đồng, để cho quân lính khiêng, chạy một mạch về nước.

3 năm sau, năm 1288, quân Nguyên Mông trở lại một lần nữa. Lúc này, vua Trần Nhân Tông hỏi vị quốc công tiết chế của mình: “Năm nay đánh giặc thế nào?” Trần Hưng Đạo cười đáp: “Năm nay đánh giặc nhàn.” Cái tuyệt luân của Hưng Đạo Đại Vương là ở chỗ đấy. Khi nào cần rút lui, khi nào cần phản công, khi nào thấy sự đáng sợ của giặc để phải dùng Hịch tướng sĩ, khi nào ung dung, tự tin phá giặc. Để chứng minh cho điều này, lần thứ ba, quân nhà Trần không dùng chiêu cũ là “vườn không nhà trống” nữa mà tự tin giữ thành Thăng Long. Thoát Hoan vây thành suốt một tháng mà không biết rằng đây chỉ là kế “Dương đông kích tây”. Trong khi Thoát Hoan tổn thất bao nhiêu thì ở ngoài Vân Đồn, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư lập được công to khi đánh tan đội thuyền lương của Trương Văn Hổ, trận đánh này sẽ có bước ngoặt rất lớn bởi sau khi có tin từ Trần Khánh Dư, quân dân Đại Việt lại rút khỏi Thăng Long. Thoát Hoan có Thăng Long nhưng không có lương thực của Trương Văn Hổ tiếp tế. Vậy là lần thứ ba đánh Đại Việt, lần thứ ba bị đói, triệt lương thực và dịch bệnh. Có lẽ một đời Thoát Hoan chẳng bao giờ quên được những ngày ác mộng này. Trước tình hình đó, Thoát Hoan rút quân khỏi Thăng Long quay về Vạn Kiếp, sai tướng A Bát Xích đi tiên phong mở đường. Nhưng đến Vạn Kiếp lại bị tập kích hằng ngày. Cuối cùng, phải chia quân mà rút về. Một cánh đường thủy do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy và một cánh bộ binh do Thoát Hoan chỉ huy. Kết quả trên sông Bạch Đằng huyền thoại, đích thân Trần Hưng Đạo ra tay, bắt sống Ô Mã Nhi ngay tại trận bằng kế sách mà Ngô Quyền để lại năm nào: cắm cọc nhọn. Trên đường bộ, Thoát Hoan gặp hai, ba lần phục kích, tướng A Bát Xích[3] bị bắn chết, cuối cùng, mới trốn được về nước.

Hai lần oanh liệt đánh bại quân Nguyên Mông khi đứng ở vị trí tổng chỉ huy quân đội, Hưng Đạo Đại Vương trở thành vị tướng quân xuất chúng nhất của thời đại Đông A. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần khi bàn về Trần Hưng Đạo đã đúc kết nghệ thuật quân sự của Đại Vương, tựu chung có ba điểm chính:

Thứ nhất, lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ít thắng nhiều, đánh phục kích bất ngờ.

Thứ hai, nêu cao tinh thần đoàn kết, đoàn kết trên thượng tầng lãnh đạo, đoàn kết trong quân, đoàn kết trong dân, gạt bỏ tình riêng để cùng chiến đấu vì lợi ích chung của cả quốc gia dân tộc.

Thứ ba, điểm quan trọng nhất là: “lấy dân làm gốc”, dựa vào dân để chiến đấu, để chiến thắng, để bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia, để làm nền tảng tồn tại của chế độ.

Nhưng vượt lên trên thời đại và suy nghĩ của một quý tộc nhà Trần, Hưng Đạo Đại Vương là một người yêu nước thương dân và lo cho dân, đặt vận mệnh đất nước hơn mọi tham vọng cá nhân thông thường. Chẳng hạn như việc bỏ qua lời trăn trối của cha là An Sinh Vương Trần Liễu về việc giành lấy ngôi báu.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “26 tháng Chạp năm Giáp thân (1284) giặc Nguyên đánh tan quân ta ở Nội Bàng. Hưng Đạo Đại Vương dự định di chuyển bằng đường núi, nhưng gia thần của ông là Dã Tượng nói rằng nếu Yết Kiêu chưa gặp Vương thì nhất định không đưa thuyền rời bến. Hưng Đạo Vương nghe lời, đến bến đò Bãi, quả thấy chỉ còn độc nhất chiếc thuyền của Yết Kiêu đang ở đó để chờ Vương tới cùng đi.”

Hình ảnh Hưng Đạo Đại Vương bỏ đường núi an toàn để đi đường thủy vì tin rằng Yết Kiêu sẽ chờ mình. Hình ảnh Yết Kiêu một mình một thuyền cô đơn giữa lằn ranh sống - chết vẫn đứng đợi người chủ. Đó là một chi tiết của tinh thần trung liệt, tin tưởng vào nhau. Hôm đó, Trần Hưng Đạo nói: “Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi.” Câu nói cùng hình ảnh Yết Kiêu chống thuyền chờ chủ là biểu trưng của một tinh thần lớn lao hơn nhiều: mối quan hệ giữa người lãnh đạo và quần chúng nhân dân, điều mà Trần Quốc Tuấn đã nhìn ra và làm theo suốt thế kỷ XIII. Trước khi là một tướng tài, Trần Quốc Tuấn là một lãnh tụ an dân, không xa cách tướng sĩ, yêu dân như con. Ngày ông ốm nặng, vua tới thăm và hỏi nếu quân phương Bắc tràn xuống thì sao? Hưng Đạo Đại Vương đã kể rất nhiều bài học về giữ nước của các bậc tiền nhân từ thời Đinh, Tiền Lê, nhà Lý, cuối cùng ông trả lời: “Khoan thứ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.” Hình ảnh Đức Thánh Trần vì thế sống mãi trong nhân gian, là biểu tượng để lòng dân hướng về, là tấm gương mà rất nhiều vua quan hay lãnh đạo anh minh các thời kỳ của dân tộc Việt Nam đã noi gương và đi theo để được dân yêu, dân quý.

Trong lịch sử dân tộc, hiếm có ai văn võ song toàn như Trần Quốc Tuấn. Cũng hiếm ai được tấm lòng nhân hậu như Trần Quốc Tuấn. Cũng chẳng mấy ai cả về chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, tấm lòng vì dân vì nước đều đạt đến mức tột đỉnh như ông. Nhân tài như vậy phải mấy trăm năm mới xuất hiện một lần. May cho nhà Trần, may cho Đại Việt là ông sinh ra vào đúng giai đoạn này. Bởi người như vậy mới có thể làm quốc công tiết chế lãnh đạo được toàn dân đạp nát vó ngựa quân Mông Cổ.

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một thiên tài quân sự, một tấm gương chiếu soi cả sử xanh, một con người bất diệt với non sông dân tộc. Ngài bất tử trong lòng người dân, không chỉ bởi sự vĩ đại của một con người kiệt xuất văn võ song toàn mà còn cả một tấm lòng yêu dân vô hạn. Ngài là Đức Thánh Trần của dân tộc Việt Nam.

Một chút về Yết Kiêu:

Trong cuộc kháng chiến vĩ đại này, có những nhân vật đã xuất hiện, khiến nhân dân yêu quý, rồi bỏ ngỏ cái kết trong sử sách khiến hậu thế ngơ ngác. Đó có thể là vị tướng với lá cờ “Phá cường địch báo hoàng ân” Trần Quốc Toản, với cái chết ít được nhắc đến. Đó cũng có thể là An Tư công chúa, người con gái đã chấp nhận bản thân mình cho giặc vì lợi ích quốc gia. An Tư công chúa sau khi gả cho Thoát Hoan trong kháng chiến lần thứ hai đi đâu, về đâu, không thấy ai nói đến. Và còn có Yết Kiêu, gia nô trung thành của Hưng Đạo Vương, người lặn xuống dưới sâu, đâm thủng thuyền giặc. Trong cuốn sách này, tác giả đã được một người bạn ở Hải Dương cho nghe một giai thoại liên quan đến Yết Kiêu, xin kể hầu bạn đọc:

“Yết Kiêu khi bị giặt bắt lần thứ nhất, đã trốn thoát được như trong sử chép. Nhưng lần thứ hai bị bắt, quân Mông Nguyên dụ hàng không được, đã chém đầu ông. Đầu của ông trôi xuôi về hạ lưu, rồi dừng ở một điểm tả ngạn tại Bắc Ninh. Người dân đã chôn đầu ông ở đó rồi dựng nên một đền thờ, gọi là đền Tam. Một điều cực kỳ đặc biệt, mỗi năm lụt lên, xung quanh ngập cả, nhưng đền Tam thì không hề ngập. Đó có phải vì nơi ấy đã chôn cất một trong những “thủy thần” của dân tộc này?”

❀ ❀ ❀

[1] Tatar, hay còn gọi là Thát Đát (phiên âm Hán Việt).

[2] Nghĩa là giết quân Mông Cổ.

[3] Abaci.

Thực hiện ebook: BSapien. Cuốn sách này dành tặng mẹ tôi
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Dũng Phan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.