1.1. Diệt Nguyễn

Sử Việt - 12 Khúc Tráng Ca

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 12 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Khúc Ca 11:khúc Quân Hành Sấm Sétquang Trung - Nguyễn Huệ, Thiên Tài Quân Sự .
1. Đánh Dẹp Đàng Trong

❊ ❊ ❊

Giữa một thế kỷ XVIII chia cắt và loạn lạc, trong cuộc đối đầu không hồi kết giữa Trịnh và Nguyễn, trong giai đoạn bắt đầu có sự du nhập tuy dè dặt nhưng đầy ảnh hưởng của nhà buôn phương Tây và giáo sĩ đạo Thiên Chúa, trong quãng thời gian mà Hoa Kiều, cướp biển, Xiêm La, Java và cả đế quốc Thanh cùng tham gia vào bàn cờ chính trị Việt Nam... ngài bỗng nổi bật lên giữa thời đại hỗn mang đó. Quang Trung - Nguyễn Huệ giống như một tiếng sét giữa trời quang, gây khiếp sợ cho tất cả, san dọn mặt bằng nguyên một dải đất chữ S, đẩy hết đi những tàn tích cũ, đánh đuổi những kẻ xâm lăng. Thế rồi, sáng sớm mai tỉnh giấc, ngài ra đi đầy đột ngột, sống rực rỡ chết cũng rực rỡ, để lại niềm thống hận cho những ngưỡng vọng say mê ngài.

Trong khúc ca số 12, chương cuối cuốn sách này, chúng ta sẽ biết lý do vì sao xuất hiện cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Bởi thế với cái tên Nguyễn Huệ nên bắt đầu câu chuyện vào một ngày tháng 3 năm Đinh Dậu (1777), thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc lệnh cho người em trai của mình là Nguyễn Huệ hành quân vào Gia Định, đánh thẳng vào cứ điểm trú ẩn cuối cùng của nhà Nguyễn. Năm đó, Nguyễn Huệ 25 tuổi, trực tiếp chỉ huy trận đánh quan trọng đầu tiên trong đời mình và lập tức thể hiện chí anh hào của một thiên tài quân sự. Rồi đây, sau trận đánh, Cơ đồ Tây Sơn sẽ được chuyển giao hoàn toàn cho con người này.

Vào trận, Nguyễn Huệ lập tức chia hai cánh quân đánh phủ đầu Nguyễn Phúc Thuần và Đỗ Thanh Nhơn ở Tranh Giang, đánh Nguyễn Phúc Dương và Trương Phúc Thận ở Tài Phụ. Đuổi dài một trong “Gia Định tạm hùng” là Đỗ Thanh Nhơn chạy một mạch về Cần Thơ cầu viện Tổng binh Hà Tiên Mạc Thiên Tử, con trai của Mạc Cửu. Mạc Thiên Tử cũng là một tay anh hùng, từng đánh bại không biết bao nhiêu quân Chân Lạp, lấy bao nhiêu đất về cho chúa Nguyễn, vậy mà vừa ra trận đã bị Nguyễn Huệ phá tan. Đến tháng 9 năm 1777, Nguyễn Huệ mang quân bao vây tấn công Ba Việt, bắt sống vị chúa thứ mười của nhà Nguyễn là Tân Chánh Vương Nguyễn Phúc Dương và toàn bộ quân tướng. Sau đó hành quân thần tốc đến Long Xuyên, bắt luôn vị chúa cuối cùng của nhà Nguyễn là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần ngay trên bến thuyền. Vậy là trong vòng 7 tháng, Nguyễn Huệ đã san dọn hoàn toàn mặt bằng Đàng Trong, tiêu diệt chính quyền Chúa Nguyễn. Bằng chiến thắng này, quân Tây Sơn từ thể bị ép hai đầu Trịnh - Nguyễn, đã làm chủ một dải đất rộng lớn từ Nam Trung Bộ vào tới Nam Bộ.

Từ Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, xưng là Thái Đức, ban cho em trai mình tước hiệu Long Nhượng tướng quân. Rồi đây, ba chữ “Ông Long Nhương” sẽ trở thành ác mộng hàng đêm của quân Gia Định, cho tới năm 1792, ngày “Ông Long Nhượng” mất. Sử gia Tạ Chí Đại Trường có chép lại hai bức thư của những nhà thám hiểm người Pháp nội dung như sau. Bức thư thứ nhất của J. Liot ở Tân Triệu chép: “Tháng Bảy năm 1792, ở Gia Định, người ta còn hoảng hốt vì tên giặc ở Huế mạnh hơn bao giờ hết và chắc chắn hắn sẽ bóp chết vua (chỉ Nguyễn Ánh).” Nhưng rồi đến tháng Bảy năm 1793, trong bức thư của Lavoue, ông kể: “Cả Gia Định người ta kháo nhau trong vui mừng vì kẻ thù vẫn còn những lực lượng họ yếu kém thấy rõ.”

Sau khi tiêu diệt xong chính quyền họ Nguyễn, Long Nhượng tướng quân rút đại quân về. Nguyễn Ánh trở lại Gia Định, mộ quân, xây dựng chính quyền như cũ. Thái Đức Hoàng đế đưa quân vào đánh, không những không thắng mà còn mất thêm Bình Thuận. Năm 1782, Nguyễn Huệ quay vào Gia Định, đánh bại Nguyễn Ánh, khiến Nguyễn Ánh chạy dạt qua tận khu rừng Romdoul bên Chân Lạp (phía bắc tỉnh Svay Rieng bây giờ). Đó sẽ là một kịch bản kéo dài cho tới ngày Nguyễn Huệ mất: Nguyễn Huệ vào đánh, Nguyễn Ánh thoát nạn trong gang tấc. Nguyễn Huệ rút quân về, Nguyễn Ánh lại vùng lên, đánh bại Tây Sơn Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc. Rồi Nguyễn Huệ phải vào xử lý, Nguyễn Ánh lại thua chạy. Cứ thế lặp đi lặp lại khoảng ba lần vào các đợt 1777, 1782 và 1786. Kết quả chiến trường như chứng minh rằng, Nguyễn Ánh chẳng thua ai ở Tây Sơn, chỉ thua mình Nguyễn Huệ.

Trong chiến dịch năm 1782 trình bày ở trên, Nguyễn Ánh nhờ mối quan hệ với Bá Đa Lộc đã đưa được một lực lượng quân phương Tây bao gồm người Pháp và người Bồ Đào Nha vào tham chiến. Thủy quân của các tàu buôn phương Tây rất tự hào với hỏa lực trên biển. Thế nhưng khi đụng trận, bị Nguyễn Huệ đánh cho “hồn xiêu phách lạc”. Quân Tây Sơn với súng trường và hỏa hổ đánh bại ngay súng trường phương Tây ở trên biển, khiến cai có người Pháp là Manuel (Mạn Hòe) chết trận. Năm ấy, Nguyễn Huệ 29 tuổi, hệt như một Alexander Đại đế của Hy Lạp cổ đại.

1.2. Đuổi quân Xiêm

Trận Rạch Gầm - Xoài Mút là một kiểu chiến thuật khác. Trận này thực ra rất phức tạp vì thủy - bộ phải hợp đồng tác chiến nhưng càng nhấn mạnh thêm cái đáng sợ của Nguyễn Huệ khi kết hợp nhuần nhuyễn giữa thủy quân và bộ binh. Hai mặt trận này, Nguyễn Huệ đánh đâu cũng giỏi. Khi Nguyễn Ánh dẫn quân Xiêm vào, quân Xiêm đóng ở Sa Đéc - Đồng Tháp. Nguyễn Huệ sắp đặt công tác chuẩn bị, nắm hết các ngả tiến quân của quân Xiêm qua đường sông (vào Gia Định) và đường bộ (nhằm đánh thẳng vào An Khê thủ phủ Tây Sơn) nên Nguyễn Huệ đã dụ quân Xiêm tới một địa điểm có thể cho quân mai phục, đấy là Rạch Gầm - Xoài Mút, một cửa sông đủ rộng, đủ dài cho một hạm đội và đủ lau sậy để bố trí mai phục. Sau đó ông dùng chiến tranh tâm lý. Biết quân Xiêm ngoài miệng khoác lác, nổ vang trời nên Nguyễn Huệ càng tung hứng lên, bằng cách cho một hạm đội ra hò hét khiêu chiến rồi giả thua bỏ chạy. Quân Xiêm thừa thắng đuổi theo liền, kéo cả lực lượng tái Rạch Gầm - Xoài Mút. Khi toàn bộ quân Xiêm vào hẳn trong tầm đạn, hàng trăm chiến thuyền được giấu kín từ các hòn đảo nhỏ túa ra chém giết, đánh thốc vào giữa hai hàng và hàng trăm khẩu pháo binh từ hai bên bờ nã ầm ầm vào thuyền quân Xiêm - Nguyên. Tài ba là ở chỗ, những đợt pháo chỉ trúng quân Xiêm, không trúng quân Tây Sơn. Đây không đơn thuần vì quân Nguyễn Huệ ném hỏa hổ tinh thuần mà vì Tây Sơn luyện binh bằng trống hiệu. Những tiếng trống hiệu Tây Sơn sẽ giúp phân biệt địch - ta trong đêm tối. Cần lưu ý rằng, cả trận Rạch Gầm - Xoài Mút lẫn trận Đống Đa đều đánh vào ban đêm. Khi Nguyễn Huệ mất, nghệ thuật đánh trận này cũng trở thành âm hưởng. Kết quả cuối cùng, 300 chiến thuyền bị tiêu diệt, 20000 quân chỉ có 2000 quân chạy thoát. Những viên tướng Nguyễn khác như Nguyễn Văn Thành, Tôn Thất Huy, Tôn Thất Hội... thì lúc này mỗi người cũng chỉ còn được dăm ba chục quân chạy loạn đi tìm Nguyễn Ánh.

Những sử gia nhà Nguyễn dù viết với quan điểm ủng hộ Nguyễn Ánh, phê phán Nguyễn Huệ nhưng trong Đại Nam thực lực không thể không chép miệng mà bình rằng: “Quân Xiêm từ sau khi thua trận Rạch Gầm - Xoài Mút tuy ngoài miệng thì nói khoác nhưng trong bụng thì sợ Nguyễn Huệ như sợ cọp.”

Giỏi đến mức dù kẻ thù căm ghét cũng phải thừa nhận, đó là Nguyễn Huệ.

2. Tiêu diệt Đàng Ngoài

2.1. Diệt Trịnh

Nếu như khủng hoảng của chúa Nguyễn là do quyền thần Trương Phúc Loan sưu cao thuế nặng, gây phẫn nộ trong nhân dân, khiến Tây Sơn nổi lên và khởi nghĩa năm 1771 thì bên kia sông Gianh, phía Đàng Ngoài, nội loạn xảy ra chính bởi vì nền kinh tế yếu kém và lạc hậu của chủ nghĩa Nho gia bảo thủ cùng sự suy vi của chế độ phong kiến. Khủng hoảng xã hội và kinh tế trầm trọng đã tạo nên các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu, Lê Duy Mật trong thế kỷ XVIII khiến nhà Trịnh phải vất vả đánh dẹp. Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút kể về giai đoạn này ở ngoài Bắc: “Đồng ruộng biến thành đất hoang, kẻ sống sót phải sống bằng vỏ cây và thịt chuột.” Tai ương nhiều, sống phụ thuộc vào nông nghiệp, trong khi giai cấp lãnh đạo hưởng thụ xa hoa đã khiến khủng hoảng xã hội tăng lên. Rồi Trịnh Sâm mất, thứ phi Đặng Thị Huệ dùng mưu đưa Con trai là Trịnh Cán lên. Những người lính Thanh Nghệ không chấp nhận, loạn tiêu binh xảy ra, Trịnh Khải lên thay. Các cuộc thanh trừng nội bộ trong Phủ chúa diễn ra liên tục. Sự việc nối nhau xảy ra đã làm lung lay đến tận rễ chính quyền Đàng Ngoài đồng thời đẩy đi một kẻ tham vọng và xuất sắc hàng đầu của xứ sở Bắc Hà là Nguyễn Hữu Chỉnh đến với Tây Sơn. Nguyễn Hữu Chỉnh bằng sự khôn khéo của mình đã thuyết phục được Nguyễn Nhạc tấn công Bắc Hà, vô tình mở đường cho Nguyễn Huệ lập tiếp kỳ công thứ hai: quét sạch phía Bắc.

Năm 1786, Nguyễn Nhạc ra lệnh cho Nguyễn Huệ tấn công xứ Thuận Hóa. Trước khi tấn công, có một chi tiết nhỏ để chúng ta thấy được Nguyễn Huệ không chỉ giỏi đánh trận mà còn giỏi bày mưu trong trường. Tướng giữ thành Thuận Hóa tên là Phạm Ngô Cầu, vốn là một doanh nhân thích buôn bán hơn là một tướng cầm quân, do đó rất mê tín. Nguyễn Huệ biết vậy nên sai một thủ hạ người Hoa giả làm thầy bói tới Phú Xuân ra mắt Phạm Ngô Cầu, vị thầy bói giả uốn ba tấc lưỡi khuyên Cầu nên lập đàn giải hạn. Phạm Ngô Cầu răm rắp nghe theo, bèn lập đàn chay ở chùa Thiên Mụ trong 7 ngày 7 đêm. Trong lúc Cầu đang cầu đàn thì ngày 25 tháng 5 năm 1786, thủy quân Nguyễn Huệ âm thầm tập kích đèo Hải Vân, dễ dàng đánh bại tướng giữ thành là Hoàng Nghĩa Hồ, rồi đánh thẳng xuống Phú Xuân.

Quân Tây Sơn tốc hành đánh chiếm nhiều đồn lũy. Vậy mà Phạm Ngô Cầu vẫn đang cầu cúng ở chùa Thiên Mụ. Đến khi tàn quân về báo Hoàng Nghĩa Hồ tử trận mới biết mắc mưu, vội lệnh cho quân sĩ về thành chuẩn bị đối phó, nhưng tướng sĩ bận phục dịch đàn cũng nên đã quá mệt mỏi. Lúc này, Nguyễn Huệ thực hiện mưu kể thứ hai, lần này theo sự tư vấn của Nguyễn Hữu Chỉnh thực hiện kế ly gián. Gửi thư dụ hàng Hoàng Đình Thể, song lại sai người cố ý đưa thư nhầm cho Phạm Ngô Cầu. Phạm Ngô Cầu nhận được thư, thế là nghi ngờ Đình Thể không hết lòng chiến đấu. Đến khi đại quân Nguyễn Huệ kéo đến, Phạm Ngô Cầu bàn nên hàng, còn Hoàng Đình Thể muốn đánh. Cầu bèn để cho Thể đánh, còn mình khư khư ở trong thành Phú Xuân. Trong khi Thể đang liều chết ngoài của thành thì oái oăm sao bên trên, Cầu đa nghi treo cờ trắng. Vậy là ngày 22 tháng 6 năm 1786, Nguyễn Huệ chiếm được Phú Xuân. Cùng thời điểm ấy, quân của Nguyễn Lữ cũng đã chinh phục xong Lũy Thầy (Lũy Đào Duy Từ), như vậy Tây Sơn có hoàn toàn đất cũ của chúa Nguyễn và trực tiếp uy hiếp Bắc Hà.

Theo lệnh Nguyễn Nhạc thì Nguyễn Huệ sẽ dừng ở đây, nhưng hai kẻ kiêu hùng là Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Huệ thì đã nhìn tới Thăng Long. Nhưng ai hơn ai? Đoạn đối thoại trong Hoàng Lê nhất thống chí sẽ cho ta thấy điều đó.

“Nguyễn Hữu Chỉnh tới trại Nguyễn Huệ, và nói:

- Ngài vâng mệnh ra lấy Thuận Hóa, đánh một trận mà xong, oai danh lừng lẫy khắp thiên hạ. Phép dùng binh có ba điều cốt yếu, một là “thời”, hai là “thế”, ba là “cơ”; ba điều ấy đều có cả thì đánh đâu cũng thắng. Nay ở Bắc Hà, tướng lười binh kiêu, triều đình không còn kỷ cương gì cả, ta thừa thế mà đánh lấy, như trong sách đã nói: “Chiếm nước yếu, đánh nước ngu, lấy nước loạn, lấn nước suy vong.” Cơ và thời ấy không nên bỏ lỡ!

Nguyễn Huệ đáp:

- Bắc Hà là một nước lớn, có nhiều người tài. Lời xưa có nói: “Con ong có nọc”, há có thể khinh thường được ư?

Chỉnh nói:

- Người tài ở Bắc Hà chỉ có một Chỉnh này mà thôi. Nay tôi đã đi rồi, ấy là cái nước rỗng không, xin ngài chớ nghi ngại!

Nguyễn Huệ cười mỉm:

- Về những người khác thì tôi không lo, chỉ lo mình ông thôi.

Chỉnh tái mặt:

- Sở dĩ tôi tự nêu cái ngu hèn của mình như thế, chẳng qua cũng chỉ muốn nói quá rằng nước tôi tuyệt nhiên không có người tài mà thôi!

Nguyễn Huệ an ủi mấy câu, rồi tiếp:

- Một nước đã trải bốn trăm năm, nay bỗng chốc mình đến cướp lấy, người ta sẽ gọi đạo quân ấy là đạo quân gì?

Chỉnh đáp:

- Nước tôi có vua lại có chúa, đó là một việc hết sức trái ngược xưa nay. Chúa Trịnh tiếng rằng phò Lê, thực ra chỉ là ăn hiếp thiên tử. Người trong nước vốn không phục. Trước đây các bậc anh hùng mỗi khi nổi dậy, chưa từng có ai không lấy danh nghĩa phò Lê. Nếu ngài lấy cớ “diệt Trịnh phò Lê” mà kéo quân ra, thiên hạ không ai là không hưởng ứng!

Nguyễn Huệ nói:

- Đó là việc rất hay! Nhưng nay ta vang mệnh đi đánh Thuận Hóa, không phải vâng mệnh đi đánh nước người. Tự ý thay đổi mệnh lệnh của nhà vua như thế thì ra làm sao?

Chỉnh đáp:

- Trong kinh Xuân Thu có nói: “Thay đổi nhỏ mà công lao lớn, ấy là có công!” Huống hồ, ngài há chẳng nghe nói câu “tướng ở ngoài, mệnh vua có khi không cần phải theo” đấy ư?

Nguyễn Huệ vốn thông minh, quyết đoán, đã có ý từ trước. Nay được lời Chỉnh nói trúng với ý mình, tức thì cho đem đội quân tiên phong vượt vào cửa biển Đại An, đánh lấy kho lương Vị Hoàng (xã Vị Hoàng, sau là tỉnh lỵ Nam Định) trước; còn tự mình thì dẫn thủy binh theo sau, lại hẹn với Chỉnh hễ đến được Vị Hoàng thì phải đốt lửa lên làm hiệu.”

Nếu ai nói rằng Nguyễn Huệ là nông dân chân đất, hẳn phải xem lại nhận định đó khi nghe đoạn đối thoại trên, cái thâm trầm, sâu sắc ấy thực sự là của một nho sĩ hàng đầu. Nguyễn Huệ có được điều này không phải vì tập luyện hay vì đọc sách mà đây là bản năng của một bậc để vương đang nằm dưới lốt của một vị tướng. Sau này, khi đánh được họ Trịnh rồi, những gì Quang Trung làm tại Thăng Long thật sự khiến những sĩ phu Bắc Hà phải nể ngại. Mọi hành động của Bắc Bình Vương tại Thăng Long đều rào trước đón sau đây suy tính. Hoàng Lê nhất thống chi chép lời của Trần Công Xán: “người huyền bí khó lường”. Còn tất cả những sĩ phu Bắc Hà đối đầu với Nguyễn Huệ đều phải công nhận “Bắc Bình Vương là một tay anh hùng”. Các quan viên dưới Phủ chúa thì gọi Nguyễn Huệ: “Bắc Bình Vương rất quỷ quyệt, hay dùng trí thuật lao lung người khác, trong lúc bàn luận, khi xuống lại nâng lên thật không biết đâu mà dò”.

Sau khi Tây Sơn chiếm được Thanh Hóa - Nghệ An, quân Trịnh rất hoảng hốt, vì đây là tiền đồn quan trọng, liền huy động một lực lượng lớn ra chặn Tây Sơn ở khúc sông Vị Hoàng. Lợi dụng đêm tối, Nguyễn Huệ dùng mưu, cho năm chiếc thuyền chở người nộm bằng rơm tiến lên, hò hét đánh trống trận ầm ĩ và đón nhận hỏa lực cực mạnh của quân Trịnh. Quân Trịnh bắn say sưa cho đến khi hết đạn. Khi hỏa lực yếu dần, Nguyễn Huệ lúc ấy mới mở đợt tấn công cực mạnh, đánh bại toàn bộ quân Trịnh. Tướng tài cầm quân phải “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, vào cái đêm không trăng không sao, đưa người CỎ ra nhận hỏa lực. Đó là Nguyễn Huệ. Sau chiến thắng ở Vị Hoàng, Nguyễn Huệ kéo tốc quân tới Thăng Long. Chúa Trịnh bỏ thành Thăng Long chạy và bị dân bắt đem nộp Tây Sơn. Trên đường áp giải, Trịnh Tông đã tự sát. Phủ chúa chấm dứt sau 20 năm tồn tại.

Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn nghe tin em trai đã lấy luôn được Bắc Hà hoảng quá, sợ không kiềm chế được Nguyễn Huệ là một, lại vì suy nghĩ hẹp nên chỉ dám mơ tưởng đến Thuận Hóa là hai, vội vàng hành quân ra kinh sư. Hoàng Lê nhất thống chí miêu tả đoàn quân của chúa Tây Sơn khi đến Thăng Long: “chỉ còn là một lũ nửa người nửa ngợm, mặt mũi hốc hác, coi không ra bộ quân của vua chúa nữa” như để nêu bật lại cái khí vũ hiên ngang của Nguyễn Huệ bên cạnh ông anh ốm o Nguyễn Nhạc. Ở lại Thăng Long một thời gian, quân Tây Sơn lặng lẽ rút về trong đêm, để Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Bắc Hà. Chỉnh làm loạn, muốn làm chúa Bắc Hà chống Tây Sơn. Nguyễn Huệ liền sai Vũ Văn Nhậm giết Chỉnh, giết được Chính, Nhậm lại làm loạn. Nguyễn Huệ cực kỳ đau đầu và tức giận. Bởi tình hình Tây Sơn lúc này là lưỡng đầu thọ địch, khi ở Gia Định, Nguyễn Ánh lại vùng lên. Ông quyết định phải xử lý mặt Bắc trước. Ông thân hành ra Bắc dẹp Vũ Văn Nhậm. Hoàng Lê nhất thống chí miêu tả những việc này như sau: “Nguyễn Huệ quả là bực lão thủ hung tợn và giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam thật là xuất thần quỷ nhập. Không ai có thể dò biết. Y bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Vũ Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám trông thẳng vào mặt. Nghe lệnh y, ai cũng mất cả hồn vía, sợ hơn cả sấm sét...”

Rút kinh nghiệm hai lần trước, Nguyễn Huệ quyết định cải tổ lại bộ máy cai trị Bắc Hà. Dùng uy tín và sự nhún nhường của của mình với các danh sĩ hàng đầu của Bắc Hà là Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm giúp sức, lại trao việc quân cho Ngô Văn Sở. Sau đó ông mới rút về Phú Xuân lo việc mặt Nam.

2.2. Đánh quân Thanh

Khi đang chuẩn bị Nam tiến thì tin dữ lại ập đến. Lê Chiêu Thống đã khẩn cầu Càn Long đưa quân qua giúp lấy lại ngôi vương. Nguyễn Huệ quyết định phải xử lý ngoại xâm trước. Ông hành quân ra Bắc một lần nữa. Những chuyến hành quân liên tục như phủ xung quanh Bắc Bình Vương một huyền thoại bất khả chiến bại. Nguyễn Huệ giỏi không chỉ bởi tài năng đánh trận mà còn tầm nhìn chính trị tuyệt vời. Bắc Bình Vương là người cực kỳ linh mẫn với chính trị. Năm 1786, khi đưa quân ra Bắc lần thứ nhất, ngài lấy danh nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh” vì ngài biết nhà Lê đã ăn sâu bén rễ trong lòng người dân đã lâu và ngài từ phương xa tới, là quân của nước Đàng Trong, chưa thể lấy được lòng dân nên cần một lá bài chính thống. Tuy nhiên vào năm 1789, khi đưa quân ra Bắc lần thứ hai thì ngài giường cao khẩu hiệu: “Lê Chiêu Thống bán nước, đánh đuổi quân xâm lược”. Người Việt Nam với tinh thần dân tộc rất cao đã đi theo ngài, ủng hộ ngài. Và dù không như vậy, họ cũng dễ dàng thấy chính nghĩa nằm ở đâu! Chắc chắn không phải là kẻ đã đưa chục vạn quân Thanh vào uống rượu Thăng Long, mà phải ở người đánh bại quân xâm lăng. Ngày 22 tháng 12 năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, niên niệu là Quang Trung. Sau đó hành quân ra Bắc, cuộc hành quân thần tốc giờ vẫn là bí ẩn của kẻ hậu nhân. Cuốn sách này xin mạn phép đưa ra một giả thiết theo quan điểm cá nhân của tác giả:

Đã có rất nhiều giả thiết được đưa ra, tiêu biểu nhất là câu chuyện hành quân “tập thể di chuyển liên tục ngày đêm, cá nhân luân phiên nghỉ dưỡng sức”. Có nghĩa đạo quân khổng lồ đó luôn luôn phải di chuyển 24/24, nhưng những người lính sẽ thay phiên nhau nghỉ và đi. Quang Trung lập nhóm ba người một đội, hai người khiêng võng cho một người ngủ, cứ thế thay phiên nhau và tuyển quân dọc đường để bổ sung hao hụt. Nhưng vấn đề ở chỗ, việc khiêng thêm một người, chưa kể các quân trang, quân dụng khác. Ban đầu sẽ rất khỏe, nhưng thời gian càng dài hao mòn càng lớn và sự yếu ớt càng lúc càng nặng theo thời gian. Nếu hành quân theo kiểu này thì bộ binh rất dễ bỏ mạng dọc đường vì nó đã vượt quá ngưỡng sinh lý của con người Việt Nam thời điểm đó. Chưa kể vấn đề nằm võng cũng không sung sướng gì vì địa hình, sông ngòi, đồi núi, rừng rậm của Việt Nam thời điểm đó. Giả thiết thứ hai, Vua Quang Trung đã chuẩn bị sẵn quân ở Tam Điệp trước. Mạng lưới tình báo đã nắm được thông tin xuất binh của nhà Thanh nên đã có chuẩn bị. Việc hành quân từ Phú Xuân ra Bắc (700 km) mang động thái nghi binh nhiều hơn. Đội hình hành quân chủ yếu là binh lính già, còn quân tinh nhuệ thì đã đến trước và cái khéo của vua là giấu được thông tin của cánh quân này trước trinh sát địch. Giả thiết này có hai vấn đề lớn. Đầu tiên, kỵ binh không phải là điểm mạnh của quân Tây Sơn. Điểm mạnh của quân Tây Sơn là thủy quân chứ không phải cưỡi ngựa. Thứ hai, cần nhìn vào hoàn cảnh dân tộc thời điểm đó. Lúc này, đất nước vừa mới chấm dứt việc chia đôi Đàng Trong - Đàng Ngoài. Phía Bắc Hà vẫn ủng hộ nhà Lê chứ không ủng hộ vua Quang Trung. Đây là lý do mà Ngô Thì Nhậm và Ngô Văn Sở lui binh về Tam Điệp đợi Quang Trung. Khi ấy Ngô Văn Sở chủ động muốn chia quân mai phục các nơi nhưng Ngô Thì Nhậm can lại: “Lúc này lòng dân chưa phục. Nếu ngài chọn cách phục binh, mai phục Lê Chiêu Thống và Tôn Sĩ Nghị thì e rằng ngài trú quân ở chỗ nào, dân còn nhớ nhà Lê lại chỉ chỗ cho quân địch biết ngay chỗ mai phục đó.” Điều này cho thấy lực lượng đồn trú mạnh mẽ ở Tam Điệp không thể có sẵn được. Kể cả việc ém quân lẫn việc chiêu quân đối với Tây Sơn thời điểm đó đều là bất khả thi.

Vậy Quang Trung đã hành quân ra làm sao? Chúng ta hãy xem về lịch trình hành quân của vua Quang Trung trên con đường đi đến Thắng Long ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu:

Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), hoàng đế Quang Trung xuất quân tiến ra Bắc Hà. Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An. Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của hoàng đế Quang Trung đã ra đến Tam Điệp. Đêm 30 tháng Chạp (25 tháng 1 năm 1789), quân Tây Sơn đánh diệt đồn Gián Khẩu của các tướng Lê Chiêu Thống, đây là tiền đồn cửa ngõ phía nam để bảo vệ kinh đô của triều đình Thăng Long. Chiều mồng 4 Tết (tức 30 tháng 1 năm 1789), Quang Trung tiến đánh Ngọc Hồi - Đống Đa.

Chúng ta có những con số sau đây:

Ngày 22 tháng 12 rời Phú Xuân. Ngày 26 tháng 12 đến Nghệ An: mất 5 ngày, đi được 400 km (quãng đường từ Huế tới Nghệ An). Ngày 5 tháng 1 rời Nghệ An (vì mất 10 ngày tuyển quân), ngày 15 tháng 1 đến Tam Điệp: mất 10 ngày để đi quãng đường 200 km (quãng đường từ Nghệ An tới Ninh Bình).

Câu hỏi được đặt ra: Điều gì đã xảy ra, khi đi 400 km mất có 5 ngày còn đi 200 km mất tới 10 ngày? Câu trả lời là: Từ Huế ra Nghệ An và từ Nghệ An tới Ninh Bình đã đi hai phương tiện khác nhau!

Ngày 15 tháng 1 rời Tam Điệp, ngày 25 tháng 1 tới cửa ngõ Thăng Long. 10 ngày cho quãng đường 80 km. Nếu tính luôn cả thời gian tuyển thêm quân và tấn công các đồn địch trên đường thì quãng thời gian 80 km cũng phải mất 5 ngày. Có nghĩa 5 ngày đi 80 km đúng bằng thời gian đi 400 km từ Huế ra Nghệ An?

THUYỀN!

Sức mạnh của vua Quang Trung là thủy quân. Kinh nghiệm của vua Quang Trung trong hai lần kéo quân ra Bắc trước đó đều đi bằng thuyền. Kinh nghiệm và sức mạnh đã có hà cớ gì bỏ qua vấn đề hành quân bằng phương tiện này để đỡ tốn sức lực binh sĩ, mà lại nhanh chóng? Câu trả lời về cuộc hành quân thần tốc của vua Quang Trung chính là đường thủy. Nhà vua đã đi đường thủy từ Phú Xuân ra Nghệ An, trước khi chuyển qua đường bộ từ Nghệ An đi thẳng lên Thăng Long đánh đòn vỗ mặt.

Hãy đi vào trận chiến vinh quang nhất của Tây Sơn, cũng là rực rỡ nhất của vua Quang Trung: Trần Ngọc Hồi - Đống Đa. Điều tiên quyết nhất cho chiến thắng này nằm ở hai điểm. Thứ nhất là cách dụng binh thần tốc. Thiên tài Nguyễn Huệ nằm ở chữ “nhanh”. Ông là chuyên gia đánh đòn sấm sét, xuất quỷ nhập thần. Vua Quang Trung rất ưa dùng cách đánh bất ngờ. Bắt Vũ Văn Nhậm khi Nhậm đang ngủ say, đánh Tôn Sĩ Nghị khi Nghị đang ăn bánh chưng, bỏ Nguyễn Hữu Chỉnh sáng hôm sau dù đêm hôm trước còn hàn huyên với Chỉnh. Trong trận này cũng vậy, cả một đoàn quân trên trời rơi xuống nên tất cả các tiền đồn của Trung Quốc bị Quang Trung diệt sạch không còn một mống và kéo rắc tới Hạ Hồi ngày mồng 4 Tết. Chiêu bài tâm lý luôn đi cùng với Vua Quang Trung trong cả sự nghiệp hành quân. Lần này, khi đang âm thầm chiêu binh thì vua Quang Trung gửi thư xin Tôn Sĩ Nghị rút quân, khiến Nghị càng say sưa chè chén, đến đêm mồng 5 Tết khi khói lửa rợp trời thì quá muộn rồi. Trưa mồng 5 Tết, Quang Trung tiến vào thành Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân. Các sử gia thời nhà Nguyễn dù căm thù Tây Sơn cũng phải cúi rạp đầu kính nể: “Binh giáp của ngài, đen khói thuốc súng.”

Đi cùng với sự sụp đổ của quân Mãn Thanh là tiếng băng hà của nhà Lê, vương triều tồn tại hơn 300 năm này cuối cùng cũng sụp đổ. Vậy là Quang Trung đã quét sạch mọi tàn dư phong kiến từ Nam đến Bắc, đánh tan nhà Trịnh, đuổi cùng nhà Nguyễn, và thậm chí còn “thổi bay” cả hai đế quốc mạnh nhất khu vực giai đoạn ấy: Xiêm và Mãn Thanh. Lịch sử dân tộc từ đây sẽ mở ra một trang mới, dù một giai đoạn binh lửa ngắn ngủi khác cũng sẽ đến, lần này là từ phía Gia Định, để tạo nên diện mạo hình chữ S cho dân tộc. Nhưng mặt bằng của đất nước thì đã được Quang Trung dọn sạch sẽ rồi.

3. Tư duy đặc biệt của Vua Quang Trung

3.1. Tư duy tấn công

Khi Quang Trung tiến vào Thăng Long vào trưa mồng 5 Tết với chiếc áo bào đẫm thuốc súng và sau lưng là xác chết của Sầm Nghi Đống nằm gò Đống Đa, ngài đã làm nên một thành tích vô tiền khoáng hậu trong lịch sử chống quân xâm lược của dân tộc. Từ khi chiến dịch bắt đầu đến khi quân Thanh bị đuổi khỏi bờ cõi, tất cả chỉ trong vỏn vẹn 6 ngày. Lịch sử chống quân xâm lược phương Bắc đã từng có những anh hùng như Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo... nhưng không ai trong số đó làm được kỳ tích khủng khiếp như vua Quang Trung. Điều này có được là bởi nhà vua sở hữu hai điểm khác biệt so với các vị tướng quân khác trong lịch sử dân tộc. Quang Trung có cái hùng tâm của kẻ chinh phục, cái bạo liệt của kẻ trên lưng ngựa, ông truy cùng diệt tận kẻ thù và chém đầu tất cả những ai dưới trường mình nếu họ quay đầu lại khi tấn công, cùng một kiểu với Thành Cát Tư Hãn và Alexandre Đại đế. Điểm thứ hai, Quang Trung là vị tướng duy nhất trong lịch sử dân tộc chủ động đánh tấn công trước kẻ mạnh hơn. Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử giữ nước, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Đại Vương, Lê Lợi, Võ Nguyên Giáp... đời này kể tục đời kia, chống lại sự xâm lăng của ngoại bang. Nhưng tất cả những nhân tài quân sự kể trên đều ở thể phòng thủ, kể cả Lý Thường Kiệt cũng chỉ dùng phương án tấn công để có thời gian xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt. Quang Trung thì không, ngài áp đảo và tiêu diệt ngay từ đầu. Chiến lược của vua là chủ động đi tiêu diệt chứ không bận tâm đến việc đắp lũy và phòng thủ. Quang Trung chính là vị tướng duy nhất đã thâu gom cả dân tộc vào một bàn tay bằng đòn tấn công bão táp như mưa sa chớp giật, đã tấn công và dám tham vọng tấn công.

Bản thân quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy cũng mang tính hiện đại rất cao. Thứ nhất là việc coi trọng việc phát triển thủy quân và thứ hai là phát triển pháo binh, ông huấn luyện quân sĩ sử dụng các súng trường của châu Âu, hỏa tiễn và pháo đại bác rất tinh nhuệ và hiện đại. Bộ binh Tây Sơn dùng súng trường của phương Tây. Đặc biệt quân chủ lực của Tây Sơn còn sở hữu một thứ vũ khí là đặc sản của họ tên gọi là hỏa hổ, đấy là một loại hỏa tiễn cầm tay, rất gọn nhẹ và rất có lợi cho thực chiến. Về đốc binh, Nguyễn Huệ thi hành bàn tay sắt, dưới trướng của ông không có quân hèn, dưới trướng của ông đã vào trận là cảm tử lao lên, quay đầu lại là bị xử chém. Còn ngài thì sao? Đích thân ngài cưỡi voi ra trận, đi ngay tuyến đầu. Quân lính nhìn vào ngài mà tiến lên, còn ngài xông pha trận tiền, uy dũng lẫm liệt. Một đạo quân không chỉ dùng súng mà còn biết kết hợp thủy, bộ rất nhuần nhuyễn.

Miêu tả về Nguyễn Huệ, bởi thế cũng đầy vẻ “ngoại hạng”. Trong Tây sơn thuật lược tả: “Tóc Huệ quăn, mặt mụn đầy, có một con mắt nhỏ, nhưng mà cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu...” Sử gia Tạ Chí Đại Trường bình luận: “tóc quăn”, “mặt mụn”, “mắt nhỏ” là dấu vết thân xác, còn “chuyện trong mắt có ánh sáng phát ra, ban đêm soi sáng cả chỗ ngồi” là cảm tưởng của người nhìn khiếp sợ trước oai vũ của “Thượng công”. Chính sử nhà Nguyễn cũng mô tả: “Nguyễn Văn Huệ là em Nhạc, tiếng nói như chuông, mắt sáng như điện, giảo, kiệt, thiện chiến? Ai cũng phải sợ. Bốn lần đánh Gia Định, lúc ra trận đều đi trước, sĩ tốt hiệu lệnh nghiêm minh, thuộc hạ ai nấy dốc lòng vâng mệnh.”

3.2. Tư duy chinh phạt

Câu chuyện 1: Góc nhìn sử Việt - Quang Trung chép:

“... Một hôm Vua Quang Trung hỏi: “Trước đây có ai dám đánh quân Tàu không?” Vị cận thần tâu:

“Có, nào đức Trần Hưng Đạo đánh giặc Nguyên, nào vua Lê Thái Tổ đánh giặc Minh, chuyện xưa hãy còn nhiều lắm.”

Vua Quang Trung thêm:

“Song le, có ai dám tận Tàu mà đánh rồi chiếm lấy đất?”

Vị bầy tối tâu:

“Chưa.”

Thấy nói “chưa”, Vua Quang Trung hăng hái phán:

“Vậy thì để ta sẽ làm cho mà coi."

Chín chữ ấy, lịch sử dân tộc từ cổ chí kim không có ai dám nói.

Câu chuyện 2: Hoàng Lê nhất thống chí chép:

“Khi Ngô Văn Sở nghe lời Ngô Thì Nhậm rút quân ra Tam Điệp. Quang Trung đến hội quân, gọi hai người lại:

“Tội các ngươi đáng chết một vạn lần. Tuy nhiên Bắc Hà mới yên, lòng người chưa quy phục, khanh đã biết bảo toàn lực lượng và khiến cho địch kiêu căng, đó là một kế rất hay.

Ta đã tính sẵn rồi. Chẳng qua mười ngày có thể đuổi được người Thanh (thực tế Quang Trung chỉ cần sáu ngày). Nhưng nghĩ nó là nước lớn, gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, thật không phải phúc của dân.

Đợi mười năm nữa, ta đủ thời gian gây nuôi, nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì nó.”

10 năm đòi phá Tàu. Đó là vua Quang Trung.

Câu chuyện 3: Lịch sử Việt Nam, từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX (Lê Thành Khôi) chép:

“Quang Trung thấy rõ Nguyễn Ánh mới là mối nguy hiểm đích thực. Năm 1792, sau khi bình định xong vương quốc của mình, Quang Trung đã nghĩ tới việc loại bỏ hoàn toàn Nguyễn Ánh. Vua tiến hành bước tiếp theo: sắp xếp quân đội, kiểm tra dân số để gọi nhập ngũ. Kế hoạch đánh Nguyễn Ánh được vạch ra gồm ba mũi tiến công tập trung vào Gia Định. Gồm lực lượng của Nguyễn Nhạc đi từ Quy Nhơn, hạm đội của Quang Trung đánh từ Phú Xuân đổ bộ vào Hà Tiên, đánh úp lên Gia Định, và bộ binh kết hợp với một đơn vị Khmer, đi qua cao nguyên Chân Lạp, đánh Nguyễn Ánh ở phía tây-bắc. Chỉ đợi gió Nồm tới, đưa lời hịch tới nhân dân Quảng Ngãi và Quy Nhơn, và kế hoạch khủng khiếp này sẽ “bẻ gãy Nguyễn Ánh như một cành cây khô” (theo bản dịch của De la Bissachère, Paris, 1912).”

Trong câu chuyện thứ ba này, ta thấy hai ý đồ của Quang Trung ngoài việc tiêu diệt hoàn toàn Nguyễn Ánh. Đấy là âm thầm “mượn đường diệt Quắc”, hòng tiện đường đưa quân sang Chân Lạp để áp đặt ảnh hưởng. Đồng thời lấy luôn phần lãnh thổ của Thái Đức Nguyễn Nhạc (điều mà sau này con ông là Quang Toản đã nhân cơ hội cứu thành Quy Nhơn mà thực hiện), qua đó dọn đường đi đến thống nhất mọi cát cứ, lấy Phượng Hoàng Trung Đô làm kinh đô cho cả nước. Vậy nhưng lịch sử chọn Nguyễn Ánh, không chọn ngài. Khi số phận tới gõ cửa, ngài ra đi trong tiếc nuổi lớn lao về những dự định còn dang dở.

Trong câu chuyện 1 và câu chuyện 2 thì để nói về sự kiện Quang Trung muốn đòi Lưỡng Quảng. Vào thời điểm nhà vua có sức mạnh lớn lao như mặt trời chính ngọ, việc đầu tiên ngài làm là đòi Lưỡng Quảng về cho dân tộc này. Người hoàng đế áo vải bách chiến bách thắng ấy hệt như một Thành Cát Tư Hãn muốn thâu trọn cả thiên hạ. Quang Trung đã làm tất cả, từ ngoại giao khôn khéo, sử dụng cả Thiên Địa Hội “phản Thanh phục Minh” để phá rối Trung Quốc, đi kèm đó là giao thương buôn bán và xin đưa quân lính sang bảo vệ các thương nhân người Việt, đồng thời cầu hôn con gái vua Càn Long, song song với đó biên thư liên tục về đòi đất Lưỡng Quảng. Vua Quang Trung đã gây sức ép lên mọi mặt để có thể lấy Lưỡng Quảng về lại cố hương. Cho đến một ngày ngôi sao tắt đi, Lưỡng Quảng trở thành giấc mộng cát bụi như chính tham vọng lịch sử của vua Quang Trung.

4. Hoàng đế băng hà

Ngày 16 tháng 9 năm 1792, nhà vua mất đột ngột, Tây Sơn gãy đi cây cột chống trời. Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài Ai tư vãn để bày tỏ nỗi đau khổ. Từ bên Bắc Kinh, đô đốc Võ Văn Dũng khi đó đang đi sứ cũng làm bài thơ viếng ngài, trong đó có hai câu thơ: “Trời để vua ta thêm chục tuổi? Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng”. Những câu thơ đầy hùng tâm và đầy đau đớn.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc Tây Sơn sụp đổ quá nhanh, cũng có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến Nguyễn Ánh chiến thắng. Nhưng tất cả đều hội tụ về một giao điểm: Quang Trung mất sớm.

Từ xưa tới nay, các cuộc khởi nghĩa nông dân thường nhanh chóng bị dập tắt là bởi người nông dân tuy có nhiệt huyết nhưng chỉ mang cái manh mún, tuy có sự dũng cảm nhưng lại thiếu cái chuyên nghiệp. Trước khi khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra đã xuất hiện một số cuộc khởi nghĩa của nhà sư Nguyễn Dương Hùng ở Sơn Tây, khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu ở ven biển Đồ Sơn, khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương ở phía tây Thăng Long... nhưng tất cả đều bị quân Trịnh đàn áp. Còn Tây Sơn thì chiến thắng, thậm chí người lãnh đạo còn đăng cơ làm hoàng đế. Ấy là bởi Tây Sơn có Nguyễn Huệ, người không chỉ đào tạo cho binh sĩ Tây Sơn trở nên thiện chiến, huy hoàng và vô địch mà còn vượt trên tầm suy nghĩ thông thường. Chúng ta có thể gặp cái hạn chế của khởi nghĩa nông dân ngay trong lòng Tây Sơn qua nhân vật Nguyễn Nhạc.

Quang Trung mang đủ cái thâm trầm, cái sâu sắc và cái nhạy cảm chính trị cùng một tầm nhìn đế vương hùng tài đại lược. Dưới trướng ngài bởi vậy không phải là sự bùng phát nông dân mà là một vương triều được xây dựng kỹ lưỡng đủ cả văn lẫn võ. Về võ có “Tây Sơn thất hổ tướng”: Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Trần Quang Diệu, Nguyễn Văn Tuyết, Lê Văn Hưng, Lý Văn Bưu và Nguyễn Văn Lộc. Văn thì có Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp... Tây Sơn Nguyễn Huệ có một bộ máy hoàn chỉnh, một kinh đô Phượng Hoàng đang chuẩn bị xây dựng. Nhưng ông trời thì đâu có cho ngài thời gian để ngài kiện toàn chứ! Để rồi, khi ngài chết đi, mọi thứ như những quân cờ thay nhau đổ ngã.

Kể từ lần đầu xuất hiện vào năm 18 tuổi đến khi đăng cơ năm 36 tuổi và mất năm 19 tuổi, qua hơn 20 năm trên lưng ngựa, Quang Trung bách chiến bách thắng, đã ra trận là tiêu diệt kẻ thù, đánh cho đối phương tuyệt không còn mảnh giáp, “đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng”... Trong toàn cõi Đông Dương khi ấy và kể cả Đông Á, không ai uy dũng hơn ngài.

Lời đầu Hoa Bằng có đoạn:

“Ôi, là người đồng thời và ngang hàng với Nã Phá Luân[1], Quang Trung cũng có thiên tài về quân sự, cũng có thủ đoạn thần tốc trong việc hành binh, cũng có chí hăng, hoài bão lớn... Vậy mà Nã được gửi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau viếng thăm ca tụng! Còn Quang Trung? Sự nghiệp oanh liệt phải vùi sâu trong vực thẳm thời gian!

Trèo lên Đống Đa, trông ra bốn mặt nào gái, nào trai, nào áo, nào mũ, nào ngựa kéo xe, trâu cày ruộng, gió bụi lưng trời mờ mịt... vua Quang Trung nào đâu?”

❀ ❀ ❀

[1] Napoleon.

Thực hiện ebook: BSapien. Cuốn sách này dành tặng mẹ tôi
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Dũng Phan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.