Một câu nói tuy đơn giản nhưng chạy suốt lịch sử, không chỉ ở Việt Nam mà cả nhân loại. Một câu thành ngữ ngắn mà tàn nhẫn lột tả rõ bản chất của những cuộc biến thiên. Nó có thể vùi một anh hùng xuống bùn đen, cũng có thể tô sáng một nhân vật trong sử sách: “Thắng làm vua, thua làm giặc”. Hậu thế đọc lịch sử đôi khi cần biết rằng “vua” đương nhiên giỏi (không giỏi sao thắng?). Nhưng đừng đánh đồng “giặc” là kém, “giặc” chưa chắc đã kém tài năng, kém bản lĩnh, chỉ là số phận không chọn họ. Hồ Quý Ly chính là một nhân vật tiêu biểu trong rất nhiều nhân vật không được thời đại và lịch sử lựa chọn như vậy.
Như chúng ta đã được đọc ở khúc ca số 7, nhà Trần và “hào khí Đông A” chính là triều đại sở hữu võ công oanh liệt nhất lịch sử Việt Nam với ba lần đánh bại giặc Nguyên Mông xâm lược. Triều đại tồn tại 175 năm với 12 đời vua này có một điều khá đặc biệt. Khi chiến thắng, họ rực rỡ nhất, còn khi thất bại, họ điêu tàn đến tận đáy. Trong thế kỷ XIII, vó ngựa Mông Cổ đánh khắp từ Âu sang Á, bất khả chiến bại và là nỗi kinh hoàng của tất cả các quốc gia, nhưng thua Đại Việt những ba lần. Kết quả, Toa Đô bị chém, Thoát Hoan chui ống đồng, Ô Mã Nhi bị bắt sống còn hạm đội quân Nguyên tan hoang trên sông Bạch Đằng. Nhưng cũng là triều đại đó, vào năm 1371, tức là gần một thế kỷ sau chiến công hiển hách trước Nguyên Mông, vua Chăm là Chế Bồng Nga, vị vua anh hùng nhất lịch sử Chăm Pa, sau những trận giao tranh thắng lợi, đã nhận thấy quân đội nhà Trần quá suy yếu, liền đưa quân vượt biển, đánh vào tận Thăng Long - Hà Nội. Cả vua lẫn quan nhà Trần thua tan tác, dắt díu nhau bỏ thành mà chạy. “Hào khí Đông A” ngày nào chỉ còn là gió thoảng, bụi mờ.
Thời điểm đó, điều hành đất nước là vua Trần Nghệ Tông. Ông là người có công lấy lại ngôi vương nhà Trần từ tay Dương Nhật Lễ, nhưng ông lại mê muội tin dùng một vị đại thần đầy dã tâm và nhiều tham vọng: Hồ Quý Ly. Dưới thời Trần Nghệ Tông, Hồ Quý Ly được trọng dụng tới mức mà theo Đại Việt sử ký toàn thư chép lại thì dù việc chuyển quyền và cắt đặt vây cánh đã rõ mà vẫn trao cho Hồ Quý Ly một thanh gươm và một lá cờ đề: “Văn võ toàn tài, quân thần đồng đức”. Nếu lịch sử là bài học của tiền nhân thì Trần Nghệ Tông chính là bài học về cách nhìn người. Ông trọng dụng Nguyễn Nhiên, một người không học thức, chỉ vì có công can gián ông trong lúc chính biến mà thăng lên chức hành khiển (chức vụ Nguyễn Trãi về sau từng nắm) dù Nguyễn Nhiên không biết chữ. Ông tin tưởng Hồ Quý Ly đến mù quáng mà sẵn sàng giết cả vua Trần Phế Đế và nhiều người cùng họ chống đối Hồ Quý Ly, dù cho lúc đó ông vẫn còn thực quyền trong tay. Việc Hồ Quý Ly phế truất nhà Trần vào năm 1400 đương nhiên là vì tham vọng của Hồ Quý Ly muốn lên ngôi cửu đỉnh, nhưng chính Trần Nghệ Tông đã đặt vào tay Hồ Quý Ly thanh gươm “thay triều đổi đại” ấy .
Tháng 3 năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu là Đại Ngu (hàm ý tự xưng mình là dòng dõi vua Thuấn trong huyền sử Trung Quốc). Chưa được 1 năm, theo cách nhà Trần, ông nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương, làm thái Thượng hoàng nhưng vẫn tự mình quyết đoán mọi công việc. Giang sơn từ nay thuộc về nhà Hồ. Nhưng lòng dân thì không ở họ Hồ. Một người tên là Trần Thiêm Bình, gia nô của tôn thất nhà Trần là Trần Tông có tên thật là Nguyễn Khang, đã bỏ trốn sang Ai Lao rồi đi theo đường Vân Nam chạy sang Trung Quốc. Trần Thiên Bình đến Yên Kinh, ra mắt với Minh Thành Tổ, tự nhận là con của Trần Nghệ Tông xin vua Minh qua đánh nhà Hồ báo thù. Tại sao lại là Trung Quốc? Lý do cho việc này bởi một mối quan hệ uyên nguyên sâu xa giữa Việt Nam và Trung Quốc thời phong kiến. Trung Quốc được ví như là thiên triều, còn Việt Nam là nước nhỏ bên cạnh, dù độc lập nhưng vẫn phải triều cống. Khi có một hoàng đế Việt Nam đăng cơ, thường phải qua thông báo với Trung Quốc. Nếu như Trung Quốc đồng ý thì mới trở thành vua hợp pháp và sẽ có ấn tín của thiên triều. Trong trường hợp có sự nổi loạn ở trong lòng Việt Nam, Trung Quốc luôn nhân danh chính nghĩa thiên triều để phán xét. Bởi thường thì tôn thất của vương triều trước sẽ qua cầu cứu thiện triều. Trong trường hợp này, sức mạnh của triều đại mới sẽ quyết định là hợp pháp hay không hợp pháp trước thiên triều.
Đáng tiếc, quân sự là điểm yếu của Hồ Quý Ly. Ngay từ thời Trần Nghệ Tông, dẫu ở chức vị cao, Hồ Quý Ly vẫn là một vị tướng đánh đến đâu thua đến đấy, Chăm Pa nhỏ yếu là thế mà từng đuổi ông ngay tại đất Thăng Long, và nếu không nhờ may mắn cùng sự xuất sắc của Trần Khát Chân, người giữ tinh thần Đông A cuối cùng, thì có lẽ Hồ Quý Ly đã bị vua Chăm là Chế Bồng Nga hạ sát ngay tại đường trường. Bởi vậy ông càng không phải là đối thủ của 20 vạn quân Minh. Ông đã thua ngay từ cái tầm rồi. So với một Lê Hoàn mai phục, một Quang Trung thần tốc, một Lý Thường Kiệt táo bạo thì Hồ Quý Ly càng thể hiện sự yếu đuối của mình trên bề mặt quân sự. Đối thủ của Hồ Quý Ly không may lại chính là Trương Phụ và cùng với Mã Viện là hai trong những vị tướng giỏi nhất Trung Quốc từng tấn công Việt Nam.
Tháng 9 năm 1406, Trương Phụ cùng các cánh quân của Mộc Thạnh bắt đầu tấn công Đại Ngu. Lực lượng mạnh mẽ, lại thêm sự ủng hộ của một bộ phận người Việt đã giúp cho binh đoàn này đánh một mạch tới thành Đa Bang chỉ sau 4 tháng. Thành Đa Bang chính là cứ điểm phòng thủ cuối cùng và cũng quan trọng nhất của Đại Ngu. Trận chiến quyết định là ở nơi này, cả Mộc Thạnh và Trương Phụ đều quyết hạ thành. Mộc Thạnh dùng thang máy đánh lên mặt thành, nhà Hồ phản công dữ dội, quân bị giết xác chất cao như núi nhưng quân Minh vẫn không ngừng tấn công, bu lên thành như kiến. Đúng lúc ấy, tướng nhà Hồ là Nguyễn Tông Đỗ có một sai lầm cực kỳ nghiêm trọng, ông đục thành, lùa voi ra đánh. Điểm yếu của voi chính là sợ lửa, quân Minh cho bắn tên lửa, bắn súng nhắm vào voi, khiến voi sợ quá chạy ngược vào trong thành. Quân Minh bám theo voi, đuổi theo vào trong, nhà Hồ thua to, các tướng nhà Hồ là Lương Dân Hiến và Thái Bá Nhạc tử trận. Quân Minh đánh chiếm được thành Đa Bang cùng 12 voi chiến và vô số binh khí. Thua trận quyết định ở Đa Bang, quân nhà Hồ chạy dài về Tây Đô, bao nhiêu lần phản công là bấy nhiêu lần thất bại. Trong những thất bại, có một trận tại Hàm Tử, nơi mà hơn một thế kỷ trước, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đã đánh bại quân phương Bắc, thế mà hôm nay, tình thế đã đổi ngược.
Ngày 23 tháng 4 năm 1407 (Âm lịch), quân Minh đã đánh đến Lỗi Giang. Quân nhà Hồ không đánh mà tan. Ngày 29, quân Minh tấn công vào cửa biển Điển Canh, thủy quân nhà Hồ tự tan vỡ. Hai cha con họ Hồ bơ vơ không biết lánh đến đâu, trong khi đó ở mặt trận phía Nam, quân Chiêm Thành cũng nhận “cháy nhà hội của” đánh ngược lên, lấy lại các vùng đất năm xưa cống nạp cho Đại Việt. Tướng Ngụy Thức rơi nước mắt xin hai cha con họ Hồ tự thiêu: “Nước đã sắp mất, bậc vương giả không chết bởi tay kẻ khác!”
Nhưng Hồ Quý Ly không có khí khái tuấn tiết ấy, ông tiếp tục chạy về Hà Tĩnh. Tại đó, lần lượt ông và hai con Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương bị bắt.
Vậy là mất nước.
1.2. Bài học của tiền nhân
Nhận định về thất bại của Hồ Quý Ly có lẽ cần nhìn ở rất nhiều mặt. Ngoài lý do về hạn chế quân sự mà ta đã được thấy ở trên kia, còn một lý do quan trọng nữa, đây là lòng dân không theo. Trước khi chiến tranh xảy ra, Hồ Nguyên Trừng nói: “Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không theo mà thôi.” 600 năm rồi, câu nói ấy vẫn chứa đựng bao nhiêu uẩn ức. Xưa nay, kẻ đế vương khi tranh đoạt thường chỉ lấy máu quân sĩ để tưới dưới chân thành chứ đâu để ý lòng dân trước một trận đánh. Nhưng Hồ Nguyên Trừng lại thốt lên câu đó, vì cha đẻ của súng thần công này đã nhìn thấy 20 vạn quân Minh được sự hậu thuẫn của một lượng lớn người Nam. Chẳng hạn, khi Trường Phụ tiến đến sông Phú Lương, quân nhà Hồ chặn giữ. Trương Phụ chưa biết tính ra sao thì có hai hàng tướng người Việt là Mạc Thúy và Đặng Nguyên vẽ bán đồ địa hình xin làm hướng đạo, Trương Phụ đánh thẳng vào, nhà Hồ bại trận.
Thất bại của Hồ Quý Ly là bài học mất nước mà dân tộc không được quên. Ở đây Trần Thiêm Bình là người đã cho giặc Minh cái cớ chính thống để “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống hầm tại vạ”, nhưng Trần Thiêm Bình chỉ là đại diện của một tầng lớp quý tộc nhà Trần sa cơ, trong cơn khủng hoảng hồng cứu lấy vị trí lãnh đạo của mình mà sẵn sàng đánh đổi cả chủ quyền dân tộc. Bi kịch hơn cả, chính là một bộ phận người Việt đã bị nhà Minh thu phục được nhân tâm theo cái cách biến Hồ Quý Ly thành nhân vật phản diện, đưa chính nghĩa về tay họ như một người anh cả đang lấy lại công bằng cho tiền triều. Với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, quân Minh thậm chí còn được sự hỗ trợ bởi một số lực lượng người Việt, như Đèo Cát Hãn, thể ty châu Ninh Viễn (nay là Lai Châu), xin dẫn 4000 bộ thuộc theo đánh giúp. Ngày đánh bại nhà Hồ, việc đầu tiên người Trung Quốc làm là đăng cáo thị gọi tất cả tôn thất nhà Trần đến. Những kẻ vì danh vọng, vì quyền lợi bản thân mà quên đi dân tộc đã xuất hiện với hy vọng nhận chức tước và ngôi báu. Nhưng điều họ nhận được thật quá đau đớn, khi tất cả phải ký vào một văn bản của nhà Minh với nội dung: “Vì đất An Nam vốn là đất Giao Châu ngày trước, nay xin đặt quận huyện như cũ.” Những chí sĩ của nhà Trần đến tận ngày cuối khi phát hiện ra bộ mặt thật của nhà Minh, vì quá phẫn uất và hối hận, đã gieo mình xuống sông tự vẫn. Có lẽ họ đã cứu vãn được một chút danh dự cuối cùng.
2. Cải cách mang tên Hồ Quý Ly
Lòng dân và thể cuộc quân sự đều không theo Hồ Quý Ly, nhưng nhìn lại di sản ngắn ngủi của ông trong 7 năm có thể chúng ta sẽ có những kiến giải khác. . .
2.1. Thiên tài kỹ thuật Hồ Nguyễn Trừng
Hãy bắt đầu bằng cái tên Hồ Nguyên Trừng, người con cả của Hồ Quý Ly. Không đơn thuần là tướng quân, ông còn là một nhà khoa học, nhà kỹ thuật quân sự, một kỹ sư - kiến trúc sư xây dựng lỗi lạc, chưa kể còn là một nhà văn tài năng. Về văn học, Hồ Nguyên Trừng là ông tổ của thể loại hồi ký trong văn xuôi tự sự Việt Nam. Về quân sự, ông là người đã sáng chế và chỉ đạo chế tác súng thần cơ (hỏa pháo cải tiến) và thuyền cổ lâu (thuyền chiến lớn có hai tầng). Cần phải nhắc lại rằng, với súng thần cơ và thuyền cổ lâu, sức mạnh quân sự của Đại Việt nhờ cải tiến khoa học của Hồ Nguyên Trừng mà hoàn toàn vượt trội so với quân Đại Minh ở cả trên bộ lẫn trên sông. Song khi một vương triều không có được lòng dân thì cơ đồ đó sẽ là một cơ đồ nghiêng ngả, bất kể có trong tay những vũ khí tiên tiến nhất. Hồ Nguyên Trừng còn là tổng công trình sư của thành nhà Hồ và đặc biệt cũng là tổng công trình sư của hệ thống để điều khu vực miền Bắc trong giai đoạn nhà Hồ cải cách.
Trí tuệ Hồ Nguyên Trừng được thể hiện qua công trình thành nhà Hồ đến hôm nay còn di tích. Trong tài liệu sử học tỉnh Thanh Hóa, phần di tích thành nhà Hồ, đã chép như sau:
“Toàn bộ mặt ngoài tường thành và bốn cổng chính được xây bằng những phiến đá vôi xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau. Các bức tường thành được ghép từ những khối đá lớn, có phiến dài tới hơn 6 mét, ước nặng 20 tấn. Tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20000 mét khối và gần 100000 mét khối đất được đào đắp công phu. Các phiến đá được đẽo vuông vức, công phu xếp đan xen theo hình múi bưởi để tránh rung chấn lớn như động đất. Giữa các phiến đá xây thành không có bất kỳ chất kết dính nào nhưng tòa thành vẫn đứng vững hơn 600 năm qua dù chịu rất nhiều tác động của địa chấn và bom đạn tàn phá. Điều đặc biệt là công trình kiến trúc đồ sộ, vững chắc như vậy mà quá trình xây dựng chỉ vỏn vẹn ba tháng (từ tháng Một năm 1397 đến tháng Ba năm 1397).
Thời ấy chưa có công nghệ vận chuyển hay ghép đá gắn xi măng, vậy làm sao để những bức tường thành được xếp vuông vắn, thẳng đứng và tồn tại đến ngày nay? Điều gì đã giúp người thợ xưa với công cụ thô sơ lại có thể vận chuyển và xây nên tường thành bằng những phiến đá khổng lồ như vậy?”
Sau này các nhà khảo cổ học đã tìm được những viên đá bi tròn, chứng minh Hồ Nguyên Trừng đã sử dụng kỹ thuật tời (ròng rọc) trong xây dựng hiện đại để vận chuyển đá.
Hồ Nguyên Trừng chính là thiên tài khoa học kỹ thuật trăm năm hiếm có của đất nước Việt Nam. Không những vậy ông còn là một thiên tài toàn bích với đủ các mặt từ văn học đến quân sự, xây dựng. Điều đặc sắc của Hồ Nguyên Trừng đó là ông là một người coi trọng thực hành và các môn toán, lý theo hướng tự nhiên, một nhà khoa học chứ không phải thi tài văn phú như các nho sĩ đương thời. Chỉ có điều, người đàn ông đó đã sinh nhầm thời đại!
2.2. Tầm nhìn Hồ Quý Ly
Hồ Quý Ly là một nhà cải cách vượt tầm phong kiến. Vào giai đoạn mà những nhà nho xem việc ra câu đối, đáp qua đáp lại là văn hóa đường thời, các cuộc thi Hương, thi Hội, thi Đình như làm bài phú vịnh hoa sen, hoa huệ sẽ được dùng để chọn người tài ra làm quan thì Hồ Quý Ly đã đưa toán học vào đề thi. Ông phê phán Nho giáo chuộng hình thức, ông đẩy mạnh việc thực hành nhiều hơn. Đây là một điều kỳ lạ của thế kỷ XV.
Có những nỗi oan của Hồ Quý Ly mà hậu nhân có lẽ cần phải luận giải cho rõ ràng. Theo sử sách, Hồ Quý Ly gốc Chiết Giang (Trung Quốc). Tên nước Đại Ngu cũng là có ý hướng về Trung Quốc (Nghiêu - Thuấn). Nhưng nếu vậy thì sao ông cương quyết không chịu hàng mà đánh đến cùng như thế, và người Nam phản bội ông chứ nào phải ông không giữ đất đâu? Nếu bảo là Hồ Quý Ly hướng về Trung Quốc thì khi cải cách sao Hồ Quý Ly không ca ngợi Nho giáo mà ngược lại còn hết mực phê phán, không dùng tiếng Hán mà lại muốn Việt Nam tự lực tự cường, bằng cách đưa chữ Nôm vào dạy phổ thông (việc làm mà sau này chính Quang Trung, Nguyễn Trãi cũng rất tích cực ủng hộ)? Thời đại ngắn ngủi của Hồ Quý Ly, lớp học miễn phí được dựng nên tại các lỵ sở, phủ. Còn trước đó, chỉ Thăng Long mới có trường học công lập. Xã hội của Hồ Quý Ly là xã hội chỉ dành cho người tài và người công tâm, những kẻ bất tài vô dụng đều bị loại bỏ. Trong khúc ca số 6 về Lý Thường Kiệt có nhắc đến hoạn quan Nguyễn An, tổng công trình sư xây dựng Tử Cấm Thành Bắc Kinh. Nguyễn An chính là người sinh ra trong giai đoạn Hồ Quý Ly cải tổ này, cùng với Hồ Nguyên Trừng là hai nhân tài kỹ thuật đã mất của dân tộc ta.
Cải cách của Hồ Quý Ly còn nằm ở y tế. Ông lập ra một bộ phận gọi là y tỳ để coi sóc việc thuốc thang, đấy chính bệnh viện thời nay. Hồ Quý Ly còn mạnh tay cải tiến bộ luật hình sự và cải tổ thuế. Người không có đất, đàn bà góa và kẻ mồ côi được miễn thuế. Ông hạn chế số nô tỳ trong các điền trang (chính là điều đã gây đụng chạm đến tầng lớp quý tộc nhà Trần). Đặc biệt, về kinh tế Hồ Quý Ly có một quyết sách rất táo bạo. Ở khúc ca số 3, chúng ta biết được rằng, đồng tiền “Thái Bình hàng bảo” dưới thời Đinh Bộ Lĩnh được coi là đồng tiền xưa nhất Việt Nam. Nhưng chỉ sau năm thế kỷ, Hồ Quý Ly đã tạo ra tiền giấy. Quan điểm của Hồ Quý Ly, đồng là dùng cho quân sự, kỹ thuật, không phải để giao dịch hàng hóa. Đây chẳng phải là tư duy của thế kỷ XIX, thế kỷ XX?
Hồ Quý Ly cũng sinh nhầm thời đại.
Lịch sử của các nước Á Đông luôn nhắc về Duy Tân Minh Trị của Nhật Bản với sự ngưỡng mộ. Nhưng thực tế thì lịch sử Việt Nam đã từng có một Minh Trị từ thế kỷ XV rồi. Có điều do hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh thời đại, mà trên tất cả là cái bóng khổng lồ của nền văn minh Trung Hoa đang cường thịnh đã phủ lên dân tộc Việt Nam giai đoạn ấy. Để rồi sự cải tổ như mặt trời của Hồ Quý Ly hóa ra chỉ là vệt đom đóm giữa đêm đen hoang mạc. Hãy hiểu cho rằng, trong cái thời đại mà nho sĩ còn đông đảo như thế, trong cái thời đại mà người dân còn bỡ ngỡ với những điều mới mẻ, trách sao được khi người dân không hiểu cho nhà Hồ! Nhà Hồ không có lòng dân không phải vì nhà Hồ không nghĩ cho dân, mà vì dân không hiểu những cải tổ của họ. Thời đại ấy, giai đoạn ấy, cả Đông Nam Á, cả châu Á, cả Nhật Bản đều không theo kịp tầm nhìn của ông chứ nói gì một Việt Nam bé nhỏ. Hồ Quý Ly thua không phải vì ông kém, mà vì tầm chính trị của ông quá vượt trội, nó không rơi vào đúng thời đại. Để cuối cùng ông phải dùng cái “sở đoản” (quân sự) đi đường cự quân Minh, không một tướng tài nào cũng bày mưu tính kế, bởi họ coi ông là kẻ bạo chúa vô đạo, đáng phải quy hàng.
Bi kịch vậy đấy! Thống hận vậy đấy!